Top 17 # Xem Nhiều Nhất Tự Học Về It / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Techcombanktower.com

Bàn Về Tự Chủ Đại Học / 2023

Tự chủ đại học:  từ “Nhà nước kiểm soát” đến “Nhà nước giám sát” Trao quyền tự chủ cho các trường đại học là điều không có gì mới ở các nước phương Tây, nhưng cũng không phải là một hiện tượng phổ biến ở mọi nơi. Theo báo cáo về quản trị đại học trên thế giới của World Bank năm 2008, hiện vẫn đang tồn tại 4 mô hình quản trị đại học với các mức độ tự chủ khác nhau, từ mức độ hoàn toàn không tự chủ là mô hình Nhà nước kiểm soát (state control) ở Malaysia, đến các mô hình tự chủ ngày càng nhiều là bán tự chủ (semi-autonomous) ở Pháp và New Zealand, mô hình bán độc lập (semi-independent) ở Singapore, và mô hình độc lập (independent) ở Anh, Úc [1]. Mặt khác, cũng theo báo cáo này, xu hướng chung trên toàn cầu hiện nay là thay đổi từ mô hình Nhà nước kiểm soát sang các mô hình có mức độ tự chủ cao hơn – một sự thay đổi có tên gọi là sự chuyển dịch từ mô hình Nhà nước kiểm soát (state control) sang mô hình Nhà nước giám sát (state supervision) [2]. Chuyển đổi từ mô hình Nhà nước kiểm soát sang các mô hình tự chủ là điều không dễ dàng. Đối với những quốc gia đang phát triển, có hai lý do thường được đưa ra để giải thích cho sự duy trì vai trò tuyệt đối của Nhà nước; đó là (1) yêu cầu kiểm soát chất lượng, và (2) mục tiêu công bằng xã hội. Tuy nhiên, trước những thay đổi lớn trong bối cảnh hiện nay như sự gia tăng nhu cầu học tập ở bậc đại học của người học, sự phát triển cả về số lượng lẫn loại hình của các trường đại học-cao đẳng, đòi hỏi ngày càng cao của thị trường nhân lực, cũng như sự phát triển vũ bão của các ngành khoa học-kỹ thuật, thì phương pháp quản lý bằng sự kiểm soát tuyệt đối của Nhà nước ngày càng tỏ ra kém hữu hiệu. Cũng vậy, không thể tạo ra sự công bằng thông qua việc áp dụng cùng một phương pháp quản lý cho tất cả mọi trường đại học khi chúng có các sứ mạng, điều kiện, và bối cảnh hoạt động khác xa nhau. Vì vậy, việc tiếp tục duy trì mô hình Nhà nước kiểm soát sẽ chỉ có tác dụng cản trở sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học của mỗi quốc gia. Không thể tạo ra sự công bằng thông qua việc áp dụng cùng một phương pháp quản lý cho tất cả mọi trường đại học khi chúng có các sứ mạng, điều kiện, và bối cảnh hoạt động khác xa nhau. Vì vậy, việc tiếp tục duy trì mô hình Nhà nước kiểm soát sẽ chỉ có tác dụng cản trở sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học của mỗi quốc gia. Khi xem xét các dự án cải cách giáo dục được tiến hành trên thế giới trong thời gian vừa qua, trong đó bao gồm cả việc xây dựng mới và ban hành luật giáo dục đại học lần đầu tiên, hoặc điều chỉnh bổ sung các đạo luật mới cho giáo dục đại học, có thể thấy vấn đề tự chủ luôn được xem là một trong những vấn đề cốt lõi nhất cần giải quyết trước khi có thể quyết định những khía cạnh cụ thể khác [3]. Với việc xây dựng luật giáo dục đại học lần đầu tiên tại Việt Nam hiện nay, chúng ta đang có cơ hội hiếm có để tạo ra một thiết kế tổng quát có tính hội nhập và hướng đến sự phát triển cho nền giáo dục đại học của Việt Nam trong tương lai. Việc bỏ qua không đề cập đến vấn đề tự chủ đại học trong bản dự thảo Luật Giáo dục đại học hiện nay quả là một thiếu sót không nên có. “Danh xưng” của các cơ sở giáo dục  và các mức độ tự chủ Nên trao quyền tự chủ cho các trường đại học của Việt Nam như thế nào, khi hiện nay chúng ta đã có hơn 400 trường đại học và cao đẳng với các đặc điểm rất khác nhau? Những trường này thuộc các địa phương, các ngành nghề, các loại hình trường khác nhau, với bề dày lịch sử và điều kiện hoạt động vô cùng đa dạng đến độ có thể không có bất kỳ đặc điểm gì chung, vậy liệu có thể giao quyền tự chủ cho tất cả các trường này hay chăng? Thực ra, việc trao quyền tự chủ cho các trường không nhất thiết phải xảy ra đồng đều trong toàn bộ một hệ thống giáo dục đại học. Trên thế giới hiện nay, có thể thấy trong cùng một quốc gia vẫn tồn tại nhiều hơn một mô hình quản trị được áp dụng. Ngay cả ở những nước phát triển, nơi có nhiều trường được hoàn toàn độc lập (mô hình 4), vẫn có thể có những trường bị kiểm soát hoàn toàn (mô hình 1). Mức độ tự chủ của cơ sở giáo dục đại học ở một số nước trên thế giới được biểu hiện rõ ràng thông qua tên gọi của từng cơ sở giáo dục đại học, trong đó không phải bất kỳ một trường nào có đào tạo cấp bằng cử nhân trở lên cũng có thể được gọi là “university” (dịch sang tiếng Việt là “đại học”), mà còn có nhiều danh xưng khác như “college”1, “academy”2, “institute” 3 – những từ này hiện khó dịch sang tiếng Việt một cách chính xác do chúng ta chưa phân biệt rõ các loại hình cơ sở giáo dục đại học khác nhau. Ở nhiều nước có nền giáo dục đại học phát triển cao, việc cho phép một cơ sở giáo dục được công nhận “danh xưng đại học” (tạm dịch cụm từ “university status” trong tiếng Anh) là một quy định rất chặt chẽ ở mức độ cao nhất là mức độ lập pháp, có nghĩa là được ghi rõ trong luật giáo dục. Và một khi một trường đã được hệ thống giáo dục đại học của một nước công nhận “danh xưng đại học” thì trường đó cũng đồng thời được trao cho mức độ tự chủ cao nhất trong hệ thống đó. Quay trở lại việc áp dụng các mức độ tự chủ khác nhau tại các loại trường khác nhau (với những danh xưng khác nhau), có thể nói đây là biện pháp duy nhất khả thi để có thể giải quyết bài toán lớn của giáo dục đại học ngày nay, đó là: Làm thế nào vừa mở rộng tiếp cận giáo dục đại học cho mọi đối tượng nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng để đạt được mục tiêu phát triển nhân lực và tính cạnh tranh quốc gia. Khi giao quyền tự chủ cho những trường đã có đủ điều kiện về năng lực, Nhà nước sẽ có nhiều điều kiện hơn để có thể kiểm soát chặt chẽ và hữu hiệu những trường chưa có đủ điều kiện để tạo ra chất lượng. Trong khi đó, những trường được tự chủ cũng sẽ có điều kiện phát huy tính sáng tạo của mình để đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường nhân lực, và tồn tại thành công trước thách thức của sự cạnh tranh từ các trường đại học trên thế giới. Nói cách khác, nó giải quyết cả hai vấn đề chất lượng và công bằng đã nêu ở phần trên. Góp ý cho Dự thảo Luật giáo dục đại học Việt Nam về vấn đề tự chủ Để Luật Giáo dục đại học của Việt Nam có thể đạt được những mục tiêu như phát biểu của GS Đào Trọng Thi, chủ nhiệm Ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh thiếu niên nhi đồng của Quốc hội trong bài viết trên báo Tuổi trẻ ngày 21/4/2011, là “phải giải quyết được hai vấn đề lớn. Một là chất lượng đào tạo – vấn đề đang gây bức xúc lớn trong xã hội, hai là giải quyết vấn đề công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục ĐH”, rõ ràng vấn đề tự chủ đại học (ở các mức độ khác nhau cho các loại hình trường khác nhau) phải được đưa vào luật. Nhưng đưa như thế nào? Chúng tôi xin đề nghị: Ở nhiều nước có nền giáo dục đại học phát triển cao, việc cho phép một cơ sở giáo dục được công nhận “danh xưng đại học” (tạm dịch cụm từ “university status” trong tiếng Anh) là một quy định rất chặt chẽ ở mức độ cao nhất là mức độ lập pháp, có nghĩa là được ghi rõ trong luật giáo dục. Và một khi một trường đã được hệ thống giáo dục đại học của một nước công nhận “danh xưng đại học” thì trường đó cũng đồng thời được trao cho mức độ tự chủ cao nhất trong hệ thống đó. Trong Chương 1, “Những quy định chung”, cần có thêm phần giải thích ý nghĩa và các đặc điểm phân biệt của các “danh xưng” hiện đang được sử dụng tại Việt Nam để chỉ các loại hình trường khác nhau như “đại học” (trong các cụm từ “đại học quốc gia”, “đại học vùng”), “trường đại học”, “trường thành viên” (“học viện”, “trường cao đẳng”, “trường cao đẳng nghề”, vv. Đồng thời, cần xác định các từ tương đương của các từ này trong tiếng Anh; đây cũng sẽ là căn cứ để dịch các văn bằng, chứng chỉ của Việt Nam ra tiếng nước ngoài một cách chính xác và thống nhất. Những định nghĩa này cần giúp phân biệt rõ những đặc điểm của một cơ sở giáo dục có thể được công nhận “danh xưng đại học” (university status) với những loại hình trường khác thấp hơn về quy mô, về trình độ đào tạo, hoặc về năng lực triển khai các hoạt động đào tạo và nghiên cứu. Điều 3 Danh xưng “đại học” (university) được sử dụng để gọi một cơ sở giáo dục có cơ cấu tổ chức phù hợp và đủ điều kiện để đào tạo cấp bằng tiến sĩ cho ít nhất là 12 chuyên ngành, trong đó có tối thiểu 2 chuyên ngành về các ngành khoa học nhân văn, khoa học xã hội hoặc thần học, toán học, vật lý, khoa học công trình và công nghệ, khoa học tự nhiên, khoa học kinh tế, luật học. […] Danh xưng “đại học kỹ thuật” (technical university) để gọi một cơ sở giáo dục có cơ cấu tổ chức phù hợp và đủ điều kiện để đào tạo cấp bằng tiến sĩ cho ít nhất 12 chuyên ngành, trong đó có ít nhất 8 chuyên ngành về khoa học công nghệ (technological sciences) và công trình (engineering). Danh xưng “học viện”(academy)  được sử dụng để gọi một cơ sở giáo dục có cơ cấu tổ chức phù hợp và đủ điều kiện đào tạo cấp bằng tiến sĩ cho ít nhất hai ngành học (disciplines). Điều 4 Các cơ sở giáo dục đại học được quyền tự chủ trong mọi mặt hoạt động của mình, nhưng phải tuân thủ những quy định nêu trong đạo luật (act) này. Mọi hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học được hướng dẫn bởi các nguyên tắc tôn trọng tự do trong giảng dạy, tự do trong nghiên cứu khoa học, và tự do trong sáng tạo nghệ thuật. […] Điều 6 1. Các trường đại học có các quyền hạn sau: (i) ra quyết định về các điều kiện tuyển sinh, kể cả số lượng sinh viên sẽ tuyển, trừ trường hợp tuyển sinh cho ngành Y; (iii) kiểm tra kiến thức và kỹ năng của sinh viên; (iv) cấp phát văn bằng chứng chỉ phù hợp khi sinh viên đã hoàn tất việc học ở các trình độ đào tạo chuyên nghiệp, tiến sĩ, cũng như các chứng chỉ sau đại học và các chứng chỉ đào tạo bồi dưỡng khác. […] [4] —————- Tài liệu tham khảo 1. Fielden, J.  (2008) Global Trends in University Governance. Education Working Paper Series, number 9. Washington, D. C.: World Bank. Tải xuống ngày 22/4/2011 từ trang thông tin điện tử của World Bank. Địa chỉ truy cập: http://siteresources.worldbank. org/EDUCATION/Resources/278200-1099079877269/547664109907 9956815/Global_Trends_University_ Governance_webversion. pdf 2. Act of 27 July 2005. Law on Higher Education Law. Tải xuống ngày 22/4/2011 từ trang thông tin điện tử của Hiệp hội hiệu trưởng các trường đại học Ba Lan (KRASP). Địa chỉ truy cập: http://www.krasp.org.pl/en/documents/ documents Các chú dẫn: [1] Fielden 2008, trang 13 [2] Fielden 2008, trang 15 [3] Fielden 2008, trang 18 [4] Poland’s Law on Higher Education, trang 3-4

Những Điều Cần Biết Về Tự Học Autocad / 2023

9:46 11-12-2020 Bac Nguyen

Autocad là phần mềm CAC hàng đầu, ứng dụng với hàng trăm ngành công nghiệp mỗi ngày. Vậy tự học autocad có được không? Có nên tự học autocad

1. Làm quen với phần mềm autocad

Autocad là phần mềm ứng dụng khá rộng trong ngành thiết kế, phổ biến nhất là ngành kiến trúc, cơ khí,…. Dù hiện nay có rất nhiều phần mềm tiến bộ nhưng vơi autocad là một phần mềm dễ dùng và có độ tùy biến cao. Autocad 2017 thay thế cho autocad R12 for Dos đã đem đến cho người dùng trải nghiệm ít lõi và chạy nhẹ nhất.

Ý nghĩa trên giao diện của chức năng autocad 2017 như sau:

– Menu bar: là trình đơn dùng để truy xuất và thiết lập các lệnh trong autocad

– Standard bar: dùng để truy xuất nhanh các lệnh và các thiết lập trong autocad

– Tool bar: dùng để truy xuất nhanh các công cụ lệnh vẽ và hiệu chỉnh trong autocad

– Dash board: là 1 bảng tập hợp các lệnh vẽ và hiệu chỉnh được chia theo từng mục 2d hoặc 3d, có thể dùng đẻ hiệu chỉnh các thông số của các đối tượng ACAD qua bảng Properties hoặc quản lý file thư viện qua bảng Design center,…

– Status bar: là tình trạng ghi lại tọa độ di chuyển của con trỏ chuột, đồng thời để bật tắt các phím chức năng truy bắt điểm trong Autocad.

– Drawing area: là vùng vẽ thường mặc định là màu đen cho dễ thấy, bạn có thể chỉnh màu tùy thích trong phần Option.

– Ucs Icon: gồm 2 trục X và Y trong Autocad, trục X hướng từ trái sang phải là chiều dương và ngược lại là chiều âm khi ta vẽ đối tượng từ phải sang trái. trục Y từ dưới lên trên là chiều dương và ngược lại từ trên xuống dưới là chiều âm. Ngoài ra còn có một trục Z thẳng đứng chỉ thấy khi ta xem đối tượng ACAD ở chế độ 3D.

– Command line: là dòng lệnh để ta nhập lệnh vào (thường là gõ tắt). Dòng lệnh chính là ưu điểm nhất của phần mềm Autocad, giúp bạn vẽ nhanh hơn so với các phần mềm đồ họa vẽ vector khác. Nhưng nó cũng là rắc rối nhất cho bạn nào không hiểu tiếng Anh. Nhưng khi bạn vẽ quen tay thì bạn hầu như không bao giờ nhìn nó nữa.

2. Tự học autocad có được không?

– Tự học autocad có được không? Phần mềm cài đặt ở đâu bán và có sách hướng dẫn không? luôn là đề tài trao đổi của nhiều bạn ngành kỹ thuật.

– Bạn có thể tự học autocad với mục đích là học để biết, không cần học để có thể xử lý bản vẽ tốt vì autocad rất dễ học, không có yêu cầu cao về xử lý bản vẽ. Bạn cần mua sách là tự học được. Tuy nhiên, khoảng trên 90% các bạn tự học autocad đều cảm thấy lan man, kiến thức không đủ và chắc, mất rất nhiều thời gian tìm hiểu tự học.

Chính vì vậy, để học tốt được autocad bạn nên tìm một người hướng dẫn để định hướng và có thời gian học tập nhanh nhất. Những người hướng dẫn bạn là người từng trải có nhiều kinh nghiệm hơn nữa còn được học tập thực tế giúp bạn nhanh chóng phát huy tài năng của mình.

Phương pháp học autocad bạn có thể tham khảo như hãy lập một thời gian biểu riêng cho việc học này và không nên dồn quá nhiều cùng một lúc để tránh bỏ lỡ thời gian dài không tiếp xúc. Autocad là một phần mềm cần tư duy và thực hành. Tư duy dựng hình và khả năng nhớ lệnh của bạn sẽ được nâng cao qua những lần bạn thực hành vẽ bài tập.

Nghị Luận Về Tinh Thần Tự Giác Trong Học Tập Của Học Sinh / 2023

Nghị luận về tinh thần tự giác trong học tập – Sưu tầm và tuyển chọn những bài văn mẫu hay nghị luận về tinh thần tự giác của học sinh trong học tập.

Đề bài: Trình bày suy nghĩ của em về tinh thần tự giác trong học tập của học sinh hiện nay.

***

“Tự giác” là một hình thức rèn luyện bản thân có chọn lọc, tạo nên những thói quen mới trong cách nghĩ, cách hành động và diễn thuyết nhằm mục đích nâng cao bản thân và hướng đến thành công. Tự giác trong học tập là tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập một cách tốt nhất, tự mình xây dựng kế hoạch học tập, tự mình xác định mục đích học tập đựa trên sự hướng dẫn của cha mẹ và thầy cô giáo.

Có thể bạn cũng quan tâm: Top 5+ bài nghị luận hay bàn về tính tự lập

Top 3+ bài văn hay nghị luận về tinh thần tự giác trong học tập của học sinh ngày nay

Học tập không bao giờ là dễ dàng đối với mỗi người. Con đường học tập rất dài và đầy những gian nan. Để có thể đi trên con đường đó thì chúng ta phải cố gắng học thật tốt. Có ý thức tự giác trong học tập và rèn luyện nó trở thành một thói quen không thể bỏ của bản thân. Để có thể làm được việc đó thì cần phải hiểu rõ trình độ học tập và trách nhiệm của bản thân trong học tập.

Tự giác trong học tập là tự mình tiến hành công việc học tập và rèn luyện mà không đợi người khác nhắc nhở hay giúp đỡ. Muốn xây dựng tính tự giác, ta phải lập một thời khóa biểu học tập thời gian hợp lí và rõ ràng. Cần siêng năng học tập, làm đầy đủ những yêu cầu thầy cô đưa ra, soạn bài mới trước khi đến lớp. Tăng cường đọc nhiều sách và kiên trì nghiên cứu học tập để có thể hiểu biết thêm.

Không chỉ trong học tập mà ngay cả công việc hay đời sống hàng ngày cũng rất cần ý thức tự giác. Đối với học sinh chúng ta, tự giác học vô cùng quan trọng. Tự giác cũng là một trong những bậc thang dẫn đến thành công. Nếu ta biết tự giác học tập thì sẽ luôn được thầy cô và cha mẹ quý mến. Siêng năng cần cù làm theo lịch học và vui chơi của bản thân đặt ra. Hãy tự giác ngay bây giờ, đừng để chần chừ sang ngày mai và rồi ngày kia và ngày kia nữa, vẫn mãi không thể làm được.

Ngày nay, ý thức tự giác của học sinh đang ngày càng giảm sút bởi những thứ như mạng xã hội hay trò chơi điện tử đang dần lấy đi tuổi trẻ và làm sao lãng việc học của học sinh. Phụ huynh và giáo viên cũng góp phần rất quan trọng cho tính tự giác của trẻ nhỏ. Học sinh cũng không nên học quá nhiều và cũng không nên chơi quá nhiều, vì vậy cần phải lập một kế hoạch giữa chơi và học hợp lí và kiên trì làm theo mỗi ngày.

Để có thể tự giác thì trước tiên là nên hiểu ý nghĩa của việc học rồi mới có thể tự học. Hậu quả của việc không làm theo kế hoạch và không tự giác học đó chính là học sinh không thể sáng tạo trong việc học dẫn đến tình trạng học thuộc nhưng không hiểu bài giảng, cảm thấy nhàm chán khi học và kết quả học tập giảm sút, thất bại trong học tập.

Nếu chúng ta có ý thức tự giác học tập thì chúng ta chắc chắn sẽ thành công và nâng cao được tri thức của bản thân. Tự học giúp cho chúng ta có thể mở rộng tương lai của chính mình.

Học tập là một nhiệm vụ gian nan và dài lâu. Nếu không tự giác học tập, không có ý chí vững vàng, chúng ta sẽ bỏ dở giữa chừng. Bởi thế, nếu lười biếng trong học tập nhất định chúng ta sẽ thất bại, trở thành người tầm thường trong cuộc sống.

Tự giác có nghĩa là tự mình nhận thức về trách nhiệm, tự mình làm những công việc cần làm mà không cần ai nhắc nhở. Tự giác trong học tập là tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập một cách tốt nhất, tự mình xây dựng kế hoạch học tập, tự mình xác dịnh mục đích học tập đựa trên sự hướng dẫn của cha mẹ và thầy cô giáo.

Học sinh có ý thức tự giác trong học tập lúc nào cũng chủ động trong nhiệm vụ học tập. Họ luôn đúng giờ, luôn hoàn thành kịp thời và tốt nhất công việc học tập như: học thuộc bài, làm đủ bài tập, thực hiện trách nhiệm đối với trường lớp, giúp đỡ bạn bè cùng tiến bộ,… Người tự giác trong học tập luôn là người năng động, sáng tạo, tích cực trong công việc của tập thể.

Kiến thức được học ở trường lớp chỉ là một phần rất nhỏ của kho tàng tri thức nhân loại. Đó là những kiến thức căn bản, cần thiết cho sự tồn tại của con người, giúp con người có thể hòa hợp với cuộc sống và tìm kiếm thành cong ở một mức độ nhất định. Quá trình học tập của con người ở trường lớp cũng chỉ diễn ra một giai đoạn trong đời người. Nghĩa là, con người cần phải tự mình nỗ lực để tiếp nhận và chiếm lĩnh nhiều hơn nữa tri thức, kéo dài lâu hơn nữa quá trình học tập, làm tăng lên cơ hội thành công trong cuộc sống. Và không có cái gì khác có thể giúp con người thực hiện được điều đó tốt nhất ngoài ý thức tự giác học tập.

Học hành là nhiệm vụ gian khó. Việc tiếp thu kiến thức và nắm vững kiến thức không phải là dễ dàng. Học tập còn là một hoạt động tự nguyện. Quá trình học tập có mang lại thành quả gì hay không là chính do sự nỗ lực ở mỗi con người. Không phải tri thức nào cũng cần thiết và hữu ích cho tất cả mọi người. Hãy luôn sống có mục đích, có lý tưởng, hoài bão lớn lao. Bằng việc học, hãy bồi đắp và biến ước mơ thành hiện thực. Bởi thế, không có lí do gì để ta phải dựa dẫm hay phụ thuộc vào những gì mà ta không cần. Điều quan trọng là phải luôn biết tự giác học tập, tự lựa chọn tri thức nâng cao cần thiết và phù hợp với bản thân.

Không ai chịu trách nhiệm về cuộc đời của bạn ngoài chính bạn. bạn sẽ thành công hay thất bại ở tương lai là chính do cách bạn chuẩn bị ở ngày hôm nay. Hãy biết rằng “Tri thức là sức mạnh. Ai có tri thức người đó có sức mạnh” (Lenin). Tri thức chỉ phát huy sức mạnh chỉ khi bạn kết nối chúng với nhau ở mức độ đủ lớn để thực hiện sức mạnh của nó. Tự giác trong học tập giúp bạn chủ động, sáng tạo hơn và không ngừng tiến bộ trên con đường học thức.

Cha mẹ, thầy cô và những người có trách nhiệm với bạn ngoài việc giáo dục bạn còn phải lo bao nhiêu công việc khác. Không ai có thể ở bên cạnh để nhắc nhở bạn học tập mọi lúc mọi nơi. Tự mình học tập, tự mình làm việc là một quá trình tất yếu nếu bạn khát vọng làm được những những điều lớn lao trong cuộc sống này.

Tự giác trong học tập còn thể hiện tính tự lập, tự chủ, ý chí kiên cường, bền bỉ và những phẩm chất tốt đẹp khác của con người. Có thể thấy rằng kiến thức sẽ làm đẹp con người. Từ sự tự giác của bản thân làm nảy nở và kiện toàn hầu hết các phẩm chất cao quý khác có ở con người. Càng học tập bạn càng nhận rõ đúng sai, phải trái, càng nhận rõ trách nhiệm của bản thân đối với gia đình, xã hội và đất nước. Từ đó, không ngại ngần đem sức mình xây dựng sự nghiệp, đóng góp phát triển cuộc sống chung của con người.

Tự giác trong học tập, bạn sẽ được mọi người tin tưởng, yêu mến và giúp đỡ. Bởi chính ý thức tự giác của bạn sẽ trở thành động lực để người khác noi theo. Người khác sẽ luôn đặt niềm tin tưởng vào bạn, xem bạn là chỗ dựa vững chắc, là cơ sở của thành công.

Trước hết, học sinh phải có ý thức rõ ràng và đúng đắn về vai trò của việc học đối với cuộc sống con người. Không được đi học là thiệt thòi lớn của con người. Nhưng có cơ hội để học tập mà không chịu học tập đến nơi đến chốn là phụ lòng biết bao nhiêu người. Đi học mà than khó than khổ là chưa biết quý trọng tri thức, chưa có tinh thần tự giác. Phải biết rằng nỗi khổ nhọc trong việc học chỉ là tạm thời, nỗi khổ đau vì không chịu học sẽ là mãi mãi.

Tiếp đến là thực hiện việc học một cách nghiêm túc và hiệu quả. Luôn đi học đúng giờ, mỗi ngày đến lớp là một ngày vui. Luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập mà không cần ai nhắc nhở. Không những thế, phải năng động, sáng tạo, khám phá không ngừng để làm tăng lên vốn hiểu biết của mình.

Hãy xây dựng cho bạn một kế hoạch học tập phù hợp và tham khảo ý kiến người lớn về kế hoạch ấy. Bởi học tập mà không có một kế hoạch cụ thể giống như việc bạn đi vào khu rừng mà không có la bàn chỉ hướng. Bạn sẽ mau chóng lạc vào khu rừng tri thức, không biết nên học cái gì và học như thế nào. Việc mất mục tiêu định hướng trong học tập còn nguy hại hơn là không học tập. Nó sẽ khiến ta mất nhiều sức lực mà chẳng thu về lợi ích nào.

Luôn rèn luyện và bồi dưỡng ước mơ, khát vọng, sống có lý tưởng, hoài bão lớn lao, gắn mình với gia đình, xã hội và đất nước. Bạn nên nhớ rằng việc học không chỉ cho tương lai của chính bạn mà còn học vì gia đình bạn, đất nước bạn. Khát vọng như con tàu đưa bạn đến mọi nơi trên trái đất này.

Biết vâng lời cha mẹ, thầy cô giáo – những người đã chăm lo và đồng hành cùng ta học tập biết bao ngày tháng. Lắng nghe những lời dạy bảo quý báu để trưởng thành, làm người tốt đẹp, hữu ích trong cuộc sống. Chỉ khi trở thành người hữu ích, trở thành người thành công, bạn mới thực sự cảm nhận được hạnh phúc trong cuộc đời này, cảm thấy những nỗ lực của bạn trong học tập là không hề uổng phí.

Luôn thực hiện tốt nhất trách nhiệm của mình đối với trường học, lớp học. Hãy giúp đỡ bạn bè cùng tiến bộ bởi bạn bè là người cùng bạn đi hết quãng đời học sinh và tiếp tục gặp gỡ trong cuộc sống. Bạn cũng có thể học tập từ bạn bè những điều hay mà bản thân bạn có thể chưa biết.

Đã có rất nhiều người biết tự giác trong học tập và thành công trong cuộc sống. Họ trở thành tấm gương sáng ngời để mọi người tự hào, học tập và noi theo.

Thế nhưng, trong cuộc sống vẫn còn có nhiều người không có ý thức tự giác trong học tập. Họ đến lớp chỉ vì bị gia đình ép buộc. Họ học đối phó, chán nản, không chịu tiếp nhận bài học và không thực hiện các yêu cầu luyện tập của thầy cô. Ở nhà, họ chỉ biết vui chơi, ít khi quan tâm đến sách vở, không lắng nghe lời khuyên bảo của người lớn. họ xem thường việc học, xem thường tri thức, sống ích kỉ, không có ước mơ, khát vọng. Bởi thế mà, kết quả học tập thường yếu kém. Những người như thế thật đáng chê trách.

Người xưa từng khuyên: “Nhỏ mà không lo học tập, lớn lên chẳng làm được điều gì lớn lao”. Không những không làm được gì lớn lao mà cả bản thân cũng chẳng lo được. Bởi thế, ngay từ hôm nay, mỗi học sinh phải biết tự giác học tập, nỗ lực không ngừng để trưởng thành hơn.

Học tập là nhiệm vụ rất là quan trọng trong cuộc sống của mỗi người. Học là chìa khóa đưa ta đến thành trong cuộc sống. Nếu bạn lười học thì sẽ chuốc lấy thất bại.

Trong học tập, tự học là cách tốt nhất để đạt được kết quả tốt. Và khi nói đến vấn đề này thì phải hiểu ý nghĩa thế nào là ý thức tự giác học tập và tầm quan trọng của việc học ngày nay. Tự giác trong học tập là khi mình đã bắt đầu vào việc học thì mình phải cố gắng hoàn thành bài, tự mình hoàn thành việc được giao mà không cần ai phải nhắc nhở hoài. Tự giác không phải kỹ năng bẩm sinh cũng không phải là có sẵn. Những hành vi tự giác phụ thuộc vào gia đình bạn bè môi trường ta đang sống.

Ý thức tự giác sẽ không có hoài nếu không chịu rèn luyện và không bị ảnh hưởng bởi tác nhân xấu. Rèn luyện ý thức tự giác là một nhiệm vụ trong cuộc sống của mỗi người nó là kết quả đưa ta đến thành công. Vai trò của học tập cũng rất quan trọng nếu bây giờ lười biếng không chịu cố gắng rèn luyện tính tự giác cho bản thân thì tương lai sau này sẽ thất bại.

Thời gian là vàng là bạc những người lãng phí thời gian là kẻ điên rồ. Bây giờ không nghĩ cho tương lai một chút mà lười biếng trong việc học tập ở hiện tại thì sau này sẽ gặp nhiều khó khăn. Đừng nghĩ việc học là một cái gì đó quá khó khăn mà hãy nghĩ nó đơn giản việc học là một nhiệm vụ trong cuộc sống nếu bạn không làm bạn sẽ thua người khác.

Thế hệ ngày nay ý thức học tập kém hơn so với thế hệ trước. Không phải là do tiếp thu trí thức ít mà là do học sinh bây giờ ít quan tâm đến việc học, xem thường việc học. Học sinh trốn học, bỏ học khá phổ biến ở các trường học bởi vì học cảm thấy chán nản. Không có động lực, không có mục tiêu. Và họ không biết đi học để làm gì. Bây giờ học sinh học để lấy điểm học để lên lớp chứ không phải vì học cho tương lai sau này. Ý thức học tập thiếu sẽ dẫn đến kết quả học tập yếu kém.

Không học tập sẽ không thành người tốt. Không phấn đấu bây giờ sẽ không thành công. Mà một người vô học sẽ bị mọi người xa lánh, xã hội chê bai.

Tri thức làm đẹp con người. Thử nghĩ đi sẽ như thế nào nếu không có tri thức. Vì thế hãy say mê học tập hãy có ý thức tự giác học tập không chờ ai nhắc nhở chắc chắn sẽ đưa ta đến thành công.

Bên cạnh vấn đề tinh thần tự giác trong học tập thì mỗi học sinh ngày nay cần ý thức được tầm quan trọng của việc tự học ngoài giờ học trên lớp để nâng cao hiệu quả học tập. Bàn về vấn đề này, các em có thể tham khảo Top 6+ bài văn nghị luận hay về tinh thần tự học trong đó đã trình bày rất rõ vai trò quan trọng của việc tự học trong quá trình rèn luyện, phấn đấu.

Bạn Đã Thực Sự Hiểu Về Túi Tự Phân Hủy Sinh Học / 2023

Hiện nay, túi tự phân hủy sinh học được biết đến và sử dụng rộng rãi, tuy nhiên, không phải ai cũng có cái nhìn chính xác về loại túi thân thiện với môi trường này. Túi tự phân hủy trong tiếng anh có tên là Bio-degradable bag.

Nhựa hay túi phân hủy sinh học được tạo ra từ 3 khả năng: Khả năng 1: Thực vật như bột ngũ cốc + phụ gia.

Khả năng 2: Nhựa truyền thống như PE/PP + thực vật + phụ gia.

Khả năng 3: Nhựa truyền thống PE/PP + phụ gia.

Phụ gia có thể rất đa dạng như Alta, Chitosan hay D2W, để định hình kết cấu hoặc để phân hủy/ phân rã nhanh hơn. Về các chất phụ gia, ví dụ như Alta, Chitosan, và D2W, đã chính thức đưa vào sản xuất mặt hàng túi ni long phân hủy sinh học để phục vụ nhu cầu xuất khẩu trong nước cách đây vài năm. Nhưng cũng có thông báo cho thấy rằng các sản xuất trên chỉ là những thử nghiệm bước đầu, vẫn chưa có sản xuất thành thương phẩm đại trà với nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó giá cả chưa hợp lý thường cao hơn khoảng 15~20% so với túi thông thường, thị trường chưa chấp nhận là nguyên nhân chủ yếu. D2W thuộc nhóm tự hủy sinh học Oxo-biodegradable được sản xuất đầu tiên bởi công ty Symphony Environmental Technologies tại Anh Quốc, khi sản xuất túi phân hủy chỉ cần trộn 1% tỉ lệ D2W tuy nhiên giá thành túi vẫn thường cao hơn 10~15%. Chitosan trước đây giá thành rất cao vì khó chiết xuất dưới dạng công nghiệp bởi đòi hỏi kỹ thuật phức tạp và công nghệ chiết xuất tốt.

Túi  phân hủy sinh học đang bán trên thị trường, ngoài các hạt vi nhựa (chiếm khoảng 40 – 50%) còn có thêm thành phần khác như chất phụ gia phân hủy, hay một số thành phần tự nhiên như bột ngô, bột sắn, bột mì…. Do vậy, dù thành phần nhựa ít hơn túi ni lông thường, nhưng về bản chất, các loại túi nylon phân hủy sinh học vẫn là túi ni lông, được cho thêm chất phụ gia để đẩy nhanh quá trình phân rã.