Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Soạn Văn Bài Cảnh Ngày Xuân Trích Truyện Kiều Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Like | Techcombanktower.com

Soạn Văn Bài: Cảnh Ngày Xuân (Trích Truyện Kiều)

Soạn Bài Cảnh Ngày Xuân ( Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du)

Soạn Bài Lớp 11: Tự Tình

Soạn Văn Lớp 11 Bài Tự Tình 2 Ngắn Gọn Hay Nhất

Soạn Bài Tự Tình Ngắn Nhất

Soạn Bài Tự Tình Siêu Ngắn

Đánh giá bài viết Soạn văn bài: Cảnh ngày xuân (Trích Truyện Kiều) – Nguyễn Du Đọc hiểu văn bản Câu 1: Bốn câu thơ đầu gợi tả khung cảnh thiên nhiên với vẻ đẹp riêng của mùa xuân. Đó là hình ảnh chim én chao liệng như thoi đưa giữa bầu trời xuân trong sáng, thảm cỏ non xanh mượt mà của bức tranh xuân điểm xuyết một vài bông hoa lê …

Soạn văn bài: Cảnh ngày xuân (Trích Truyện Kiều) – Nguyễn Du

Đọc hiểu văn bản

Câu 1:

Bốn câu thơ đầu gợi tả khung cảnh thiên nhiên với vẻ đẹp riêng của mùa xuân. Đó là hình ảnh chim én chao liệng như thoi đưa giữa bầu trời xuân trong sáng, thảm cỏ non xanh mượt mà của bức tranh xuân điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng. Màu sắc có sư hài hòa tới mức tuyệt diệu. Tất cả hòa quyện, gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân mới mẻ, tinh khôi, tràn trề sức sống (cỏ non), khoáng đạt, trong trẻo (xanh tận chân trời), nhẹ nhàng, thanh khiết (trắng điểm một vài bông hoa). Chữ “điểm” làm cho cảnh vật trở nên sinh động, có tâm hồn, không tĩnh tại. Trong đoạn thơ cùng với bút pháp ước lệ vừa gợi thời gian vừa gợi không gian mùa xuân, tác giả còn dùng nhiều từ ngữ giàu chất tạo hình gợi tả màu sắc, đường nét, cái hồn của cảnh vật.

Câu 2: Khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh Minh được gợi tả trong tám câu thơ tiếp:

Phong tục tảo mộ (viếng mộ, sửa sang phần mộ của người thân) và du xuân (hội đạp thanh)

Không khí rộn ràng của lễ hội mùa xuân được gợi lên bởi hàng loạt các từ ghép tính từ, danh từ, động từ:

Từ ghép danh từ: yến anh, chị em, tài tử, giai nhân.

Từ ghép động từ: sắm sửa, dập dìu.

Từ ghép tính từ: gần xa, nô nức.

Câu 3:

Sáu câu cuối gợi tả cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về. Cảnh vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân nắng nhạt, khe nước nhỏ, một nhịp cầu như bắc ngang. Mọi chuyển động đều nhẹ nhàng. Mặt trời từ từ ngả bóng về tây, bước chân người thơ thần, dòng nước uốn quanh. Tuy nhiên, cái không khí nhộn nhịp, rộn ràng của lễ hội không còn nữa, tất cả đang nhạt dần, lắng dần. Cảnh thay đổi bởi không gian, thời giant hay đổi, và cảnh lúc này được cảm nhận qua tâm trạng. Những từ láy: “tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao” không chỉ gợi ta sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người. Từ “nao nao” như nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật. Đó là cảm giác bâng khuâng xao xuyến, thấm đượm một nỗi buồn man mác dịu nhẹ.

Câu 4:

Đoạn trích Cảnh ngày xuân có bố cục cân đối, hợp lí. Mặc dù không thật rõ ràng nhưng cũng có thể nói đến kết cấu ba phần: mở đầu, diễn biến và kết thúc.

Tác giả đã sử dụng nhiều từ ngữ giàu chất tạo hình những từ láy gợi hình, tình tứ tả màu sắc, từ ghép… Tác giả kết hợp tài tình bút pháp tả cụ thể, chi tiết và bút pháp gợi có tính chất chấm phá, điểm xuyết.

Nguyễn Du đã cho thấy một nghệ thuật miêu tả thiên nhiên điêu luyện, sắc sảo.

Soạn Bài: Cảnh Ngày Xuân (Trích Truyện Kiều)

Soạn Văn 9 Vnen Bài 6: Truyện Kiều

Soạn Văn 9 Bài Truyện Kiều

Top 3 Soạn Bài Truyện Kiều

Soạn Văn Bài: Truyện Kiều

Soạn Bài: Cảnh Ngày Xuân (Trích Truyện Kiều)

Soạn Văn Bài: Cảnh Ngày Xuân (Trích Truyện Kiều)

Soạn Bài Cảnh Ngày Xuân ( Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du)

Soạn Bài Lớp 11: Tự Tình

Soạn Văn Lớp 11 Bài Tự Tình 2 Ngắn Gọn Hay Nhất

Soạn Bài Tự Tình Ngắn Nhất

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

Đoạn trích nằm ở phần đầu của truyện (từ câu số 39 đến câu số 56).

Nội dung tả cuộc đi chơi xuân của chị em Thúy Kiều. Chính tại cuộc đi chơi này, Thúy Kiều đã thắp hương cho Đạm Tiên và gặp gỡ Kim Trọng.

Đoạn thơ Cảnh ngày xuân là bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng được gợi lên qua từ ngữ, bút pháp miêu tả giàu chất tạo hình của Nguyễn Du.

II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

1. Những chi tiết gợi lên khung cảnh mùa xuân : ánh sáng đẹp, có chim én, có hoa nở, có cỏ xanh. Thời gian đã qua hai phần ba mùa xuân. Chim én xuất hiện khi mùa xuân về, và thấm thoắt như thoi đưa, đã hơn sáu mươi ngày. Đã bước sang độ cuối xuân, cỏ xanh tận chân trời. Màu cỏ tràn một không gian rộng lớn. Và trên cái nền xanh ấy, một vài bông hoa lê nở trắng, như điểm tô thêm cho bức tranh đơn sơ mà lộng lẫy.

Nguyễn Du tả cảnh với một vài nét đặc tả, chọn lọc. Từ ngữ bình dị. Đặc biệt nhất là sự sắp xếp trật tự từ để làm nổi bật màu trắng của hoa lê ở câu thơ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

2. Những câu thơ tiếp theo gợi tả lễ hội thanh minh. Có lễ tảo mộ. Có hội đạp thanh. Đây là một dịp tốt cho những trai tài, gái sắc được gặp gỡ, hẹn hò. Hội đạp thanh là hội của những người trẻ tuổi. Những người đi dự hội thật đông : nô nức, dập dìu, như nước, như nêm. Họ rắc vàng vó, họ đốt tiền cho người đã khuất khi tảo mộ. Công việc tảo mộ xong, họ sẽ đi chơi xuân, cả một ngày để tham gia hội đạp thanh. Không khí của lễ hội thật nô nức, nhộn nhịp, dập dìu. Trong số những trai tài gái sắc ấy, có chị em nhà Thúy Kiều “phong lưu rất mực hồng quần”.

3. Sáu câu thơ cuối tả cảnh chị em Thúy Kiều chuẩn bị ra về. Thời gian lúc này đã về chiều, cảnh được miêu tả thu hẹp lại quanh một dòng suối nhỏ, với dòng nước uốn quanh, với nhịp cầu nho nhỏ. Vẫn là cảnh mùa xuân nhưng là cảnh chiều, cảnh sau khi mọi người đã có một ngày tham gia lễ hội. Cảnh vật thanh thanh, nao nao như cũng mang tâm trạng của con người. Chỉ sau đó ít phút thôi, Kiều sẽ gặp nấm mộ Đạm Tiên và thắp hương, thương khóc cho số phận một người tài hoa, bạc mệnh. Và sau đó là cuộc gặp gỡ và mối tình sét đánh “tình trong như đã mặt ngoài còn e” giữa Kiều và Kim Trọng.

II – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Cảnh mùa xuân trong câu thơ cổ Trung Quốc được miêu tả cô đọng và gợi hình. Cỏ thơm như liền với trời biếc, cành lê có vài bông hoa. Nguyễn Du đã từ câu thơ đó mà sáng tạo nên câu lục bát:

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Người Trung Quốc chú ý đến hương vị cỏ (cỏ thơm), còn Nguyễn Du chú ý đến màu sắc (cỏ non xanh). Người Trung Quốc chú ý đến sự giao nhau, tiếp giáp giữa cỏ với trời. Còn Nguyễn Du chú ý đến cái mênh mông của cỏ kéo dài đến tận chân trời. Về cành hoa lê, Nguyễn Du làm bật cái màu trắng lên trước để nó hài hoà với màu xanh non của cỏ ở câu thơ trước (Trong khi người Trung Quốc không chú ý đến màu cỏ và màu hoa). Nguyễn Du dùng chữ “điểm” một vài bông hoa, từ “điểm” được dùng như là động từ, chỉ sự điểm tô, trang trí của bàn tay thiên nhiên. Trong khi đó, câu thơ chữ Hán, chữ “điểm” chỉ là lượng từ chỉ hoa.

Soạn Văn 9 Vnen Bài 6: Truyện Kiều

Soạn Văn 9 Bài Truyện Kiều

Top 3 Soạn Bài Truyện Kiều

Soạn Văn Bài: Truyện Kiều

Soạn Văn Truyện Kiều Thề Nguyền Lớp 10 Của Nguyễn Du

Soạn Bài Cảnh Ngày Xuân ( Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du)

Soạn Bài Lớp 11: Tự Tình

Soạn Văn Lớp 11 Bài Tự Tình 2 Ngắn Gọn Hay Nhất

Soạn Bài Tự Tình Ngắn Nhất

Soạn Bài Tự Tình Siêu Ngắn

Soạn Bài: Tự Tình 2 (Hồ Xuân Hương)

Soan bai Canh ngay xuan – Đề bài: Soạn bài Cảnh ngày xuân ( Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) 1. Những chi tiết gợi lên đặc điểm riêng của mùa xuân: + “Ngày xuân” + “Thiều quang” + “Con én” + “Cỏ non” + “Cành lê” Nhà thơ Nguyễn Du đã sử dụng những từ ngữ có chức năng gợi tả mùa xuân, đó là nhữn sự vật, những hiện tượng đi liền, báo hiệu mùa xuân đến. Nhà thơ đã sử dụng những hình ảnh của tự nhiên để …

– Đề bài:

1. Những chi tiết gợi lên đặc điểm riêng của mùa xuân:

+ “Ngày xuân”

+ “Thiều quang”

+ “Con én”

+ “Cỏ non”

+ “Cành lê”

Nhà thơ Nguyễn Du đã sử dụng những từ ngữ có chức năng gợi tả mùa xuân, đó là nhữn sự vật, những hiện tượng đi liền, báo hiệu mùa xuân đến. Nhà thơ đã sử dụng những hình ảnh của tự nhiên để vẽ nên một bức tranh mùa xuân đầy tươi đẹp, tràn đầy sức sống, đó là những cánh chim én chao liệng, những đám cỏ non xanh mướt kéo dài đến tận chân trời, những cánh lê trắng điểm làm cho bức tranh mùa xuân thêm rực rỡ, sống động. Điều đặc biệt trong bức tranh mùa xuân này, đó là sự chuyển động của thời gian, bằng cách so sánh đầy thú vị, Nguyễn Du đã mang đến mạch vận động nhanh chóng của ngày xuân, đó là những tháng ngày đẹp nhất trong năm nhưng cũng chảy trôi tựa như con thoi trên khung cửi của người thợ may.

2. Những từ ghép là tính từ trong tám câu thơ tiếp là:

+ “Nô nức”

+ “Sắm sửa”

+ “Thơ thẩn”

Những từ ghép là động từ:

+”Ngổn ngang”

+ “Dập dìu”

Những từ ghép là danh từ:

+ “Tài tử giai nhân”

+ “Thoi vàng vó”

+ “Tiền giấy”

Những từ ghép này góp phần làm cho không khí ngày xuân thêm rộn rã, náo nức tươi vui. Không chỉ không gian tươi đẹp, sắc trời tươi xanh mà chính sự xuất hiện của con người càng làm cho bức tranh ấy trở nên sống động, rộn rã hơn.

– Ngày xuân thường gắn liền với một hoạt động lễ hội truyền thống của dân tộc. Đó là tiết thanh minh với hai hoạt động diễn ra song song là phần lễ và phần hội. Đây là một nét văn hóa đẹp và độc đáo của Việt Nam, bởi vào tiết Thanh minh, mọi người sẽ đi Tảo mộ, đốt hương và giấy vàng như sự biết ơn, lời tri ân với ông bà tổ tiên. Đồng thời, tiết thanh minh cũng là một dịp để nam thanh nữ tú, tài tử giai nhân đi chơi xuân, đốt nên những khát vọng thầm kín của tuổi trẻ, đó là khát vọng kết bạn, khát vọng tình yêu, tuổi trẻ.

3. Nếu như những câu thơ đầu, nhà thơ Nguyễn Du mở ra không khí ngày xuân đầy tấp nập, rộn rã với cảnh sắc tràn đầy nhựa sống, người qua kẻ lại đông vui, nhộn nhịp thì trong 6 câu thơ cuối không khí lại trầm xuống, cảnh vật dường như thấm đượm tâm trạng của con người mà nhuốm màu buồn bã, lưu luyến.

– Những từ “tà tà”, “thanh thanh” “nao nao” là những từ láy diễn tả tâm trạng lắng sâu của con người, đó là sự luyến tiếc trước cảnh ngày xuân khi chiều buông, cũng là lúc kết thúc không khí của lễ hội.

– Sáu câu thơ cuối dường như có sự hòa nhịp, đồng điệu giữa tâm trạng con người và cảnh vật.

4. Thành công về nghệ thuật của bài thơ “Cảnh ngày xuân”

+ Nhà thơ đã lựa chọn được những hình ảnh, màu sắc, âm thanh tiêu biểu, đặc trưng của ngày xuân để làm chất liệu xây dựng lên bức tranh ngày xuân đầy sống động, chân thực.

+ Dùng hệ thống những từ láy để làm nổi bật nên tâm trạng vui vẻ, náo nức của con người đi chơi mùa xuân, cũng như nhấn mạnh tâm trạng muộn phiền, lưu luyến khi ngày tàn, lễ hội kết thúc.

+ Bút pháp miêu tả giàu tính tạo hình, giàu nhạc điệu.

Soạn Văn Bài: Cảnh Ngày Xuân (Trích Truyện Kiều)

Soạn Bài: Cảnh Ngày Xuân (Trích Truyện Kiều)

Soạn Văn 9 Vnen Bài 6: Truyện Kiều

Soạn Văn 9 Bài Truyện Kiều

Top 3 Soạn Bài Truyện Kiều

Soạn Văn Bài: Chị Em Thúy Kiều (Trích Truyện Kiều)

Soạn Bài Chị Em Thúy Kiều Trích Truyện Kiều

Soạn Bài Truyện Kiều Của Nguyễn Du.

Soạn Bài Truyện Kiều Phần 1 Tác Giả

Soạn Văn 10 Bài: Truyện Kiều

Soạn Bài Truyện Kiều Phần Một: Tác Giả

Đánh giá bài viết Soạn văn bài: Chị em Thúy Kiều (trích Truyện Kiều) Đọc hiểu tác phẩm Câu 1: Tìm hiểu kết cấu đoạn trích: Bốn câu thơ đầu: giới thiệu về khái quát về hai chị em Thuý Kiều. Bốn câu thơ tiếp: vẻ đẹp của Thuý Vân. Mười sáu câu thơ còn lại: vẻ đẹp của Thuý Kiều. …

Đọc hiểu tác phẩm

Câu 1:

Tìm hiểu kết cấu đoạn trích:

Bốn câu thơ đầu: giới thiệu về khái quát về hai chị em Thuý Kiều.

Bốn câu thơ tiếp: vẻ đẹp của Thuý Vân.

Mười sáu câu thơ còn lại: vẻ đẹp của Thuý Kiều.

Trình tự miêu tả các nhân vật theo kết cấu đoạn trích là miêu tả từ khái quát đến cụ thể.

Câu 2:

Nét riêng về nhan sắc và tính cách của Thuý Vân được gợi tả trong bốn câu thơ:

Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

Tác giả đã dùng những hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ để gợi tả vẻ đẹp ấy. Đó là những hình ảnh quá quen thuộc trong văn học trung đại: khuôn mặt tròn trịa đầy đặn như mặt trăng, lông mày sắc nét đậm như con ngài, miệng cười tươi thắm như hoa, giọng nói trong veo như ngọc, mái tóc đen óng ả tựa mây, làn da trắng mịn màng hơn tuyết… Đó là vẻ đẹp phúc hậu, quý phái của người thiếu nữ.

Vẻ đẹp tạo sự hòa hợp êm đềm với thiên nhiên, vạn vật xung quanh. Chân dung của Thúy Vân báo hiệu một cuộc đời bình lặng, suôn sẻ sau này.

Câu 3:

Nhan sắc của Thuý Kiều được gợi tả bằng các hình ảnh mang tính ước lệ: thu thuỷ, xuân sơn, hoa, liễu. Vẻ riêng của Thuý Kiều được nói đến ở những câu thơ giới thiệu khái quát mở đầu đoạn:

Kiều càng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn:

“sắc sảo” và “mặn mà” đều có tác dụng vừa gợi tả nhan sắc, vừa gợi tả tính cách, tài trí. Về nhan sắc, mặc dù không gợi tả cụ thể như khi tả Thuý Vân, nhưng qua những hình ảnh đậm màu sắc tượng trưng, ước lệ, tác giả đã tạo được ấn tượng về một vẻ đẹp của giai nhân tuyệt thế. Đặc biệt là việc gợi tả vẻ đẹp của đôi mắt: “làn thu thuỷ”; đôi mắt trong sáng như nước mùa thu, gợi vẻ lanh lợi, sắc sảo hơn người.

Câu 4:

Khi tả Thúy Vân, tác giả chủ yếu gợi tả nhan sắc thế nhưng khi tả Thúy Kiều, nhà thơ tả sắc một phần còn dành đến hai phần để gợi tài năng. Tài của Kiều đạt tới mức lí tưởng theo quan niệm thậm mỹ phong kiến gồm đủ cả cầm, kì, thi, họa. Đặc biệt tài đàn của nàng đã là sở trường, năng khiếu đặt biệt, vượt lên trên mọi người. Cực tả cái tài của Kiều cũng là đê gợi ca cái tâm đặc biệt của nàng. Cung đàn “bạc mệnh” mà Kiều tự sáng tác chính là sự ghi lại tiếng lòng của một trái tim đa sầu, đa cảm. Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp của cả sắc, tài, tình. Tác giả dùng thành ngữ có nguồn gốc từ thi liệu Hán học “nghiêng nước nghiêng thành” (người đẹp nhìn một lần nghiêng thành người lại nhìn lần nữa nghiêng nước người) để cực tả giai nhân.

Câu 5:

Trong hai bức chân dung Thuý Vân và Thuý Kiều, bức chân dung Thuý Kiều nổi bật hơn. Điều này phù hợp với dụng ý nghệ thuật của tác giả khi sáng tạo Truyện Kiều: toàn bộ tác phẩm tập trung xoay quanh câu chuyện về cuộc đời đầy đau khổ của nàng Kiều. Điều này thể hiện ngay ở sự chênh lệch về số lượng câu thơ dành cho việc miêu tả hai nhân vật (4/12). Vẻ đẹp của Thuý Vân được gợi tả về nhan sắc, tính tình còn vẻ đẹp của Thuý Kiều được gợi tả cả về nhan sắc, tài trí, và tâm hồn. Mặc dù Thuý Vân là em nhưng lại được tả trước là vì tác giả muốn tạo ra một phông nền làm nổi bật chân dung của Kiều.

Câu 6:

Trong hai bức chân dung Thúy Vân và Thúy Kiều, thì bức chân dung Thúy Kiều nổi bật hơn. Chân dung Thúy Vân được miêu tả trước để làm nền, tạo vẻ nổi bật của chân dung Thúy Kiều sau đó. Nguyễn Du dành bốn câu thơ để gợi tả Vân, trong khi đó dành tới 12 câu thơ đề cực tả vẻ đẹp của Kiều. Vẻ đẹp của Vân chủ yếu là ngoại hình còn vẻ đẹp của Kiều là cả nhan sắc, tài năng và tâm hồn.

Top 6 Bài Soạn “truyện Kiều” Của Nguyễn Du Lớp 9 Hay Nhất 2022

Soạn Bài Truyện Kiều Của Nguyễn Du Lớp 9 Hay Đầy Đủ Nhất

Soạn Bài Lớp 9: Truyện Kiều Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 9 Học Kì I

Soạn Bài Lớp 9: Truyện Kiều

Soạn Bài Chí Khí Anh Hùng Của Nguyễn Du

🌟 Home
🌟 Top