Soạn Bài Ánh Trăng Ngữ Văn 9

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Vội Vàng Của Xuân Diệu, Ngữ Văn Lớp 11
  • Giáo Án Bài Vội Vàng (Xuân Diệu)
  • Giáo Án Dạy Ngữ Văn 11 Tiết 79, 80: Vội Vàng
  • Soạn Bài Vội Vàng Của Xuân Diệu
  • Soạn Bài Vội Vàng Ngắn Nhất
  • Soạn bài Ánh Trăng Ngữ văn 9

    Bài làm Bố cục của bài:

    – Phần 1 (ngay ở hai khổ thơ đầu): Thể hiện được tình cảm gắn bó với vầng trăng chính trong những tháng ngày khó khăn và vô cùng gian khổ.

    – Phần 2 (Ở khổ thơ tiếp theo): Hình ảnh của ánh trăng với người xa lạ trong những tháng ngày sống ở thành phố thật

    – Phần 3 (Các khổ thơ còn lại): Hình ảnh con người và trăng hội ngộ với nhau khi đèn điện thình lình tắt.

    Bài thơ có bố cục ba phần, ở mỗi phần có sự thay đổi giọng thơ:

    – Phần 1: Ngay ở ba khổ thơ đầu, giọng kể thế rồi cũng chính nhịp thơ trôi chảy bình thường.

    – Phần 2: Ngay ở khổ thơ thứ tư: Ta như nhận tháy được chính giọng thơ đột ngột rất cao, mang lại một sự ngỡ ngàng với bước ngoặt của sự việc, của sự xuất hiện vầng trăng vẫn cứ sáng trong như xưa không hề thay đổi

    – Phần 3: Ở khổ năm và sáu: Ta như nhận thấy được chính giọng thơ thiết tha rồi trầm lắng cùng với những cảm xúc và cũng thạt suy tư lặng lẽ.

    Câu 2: Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng ý nghĩa. Hãy phân tích điều ấy. Khổ thơ nào trong bài thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triết lí của tác phẩm?

    a. Có lẽ rằng cũng chính hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng lớp ý nghĩa. Thế rồi cũng chính vầng trăng trước hết là trăng của thiên nhiên, vầng trăng của đất trời. Hình ảnh của ánh trăng cũng chính là biểu tượng cho những gì gắn bó với con người lúc gian khổ và vô cùng khó khăn. Hình ảnh của ánh trăng được đánh giá cũng chính là tình cảm quá khứ hồn nhiên và vô cùng tươi đẹp. Ánh trăng thực sự được xem là phần trong sáng, đó cũng chính là một phần tốt đẹp trong con người luôn soi rọi. Khi mà ánh chiếu sáng những góc khuất hay đó còn là những góc tối mới nảy sinh khi con người lúc này đang sống với nhà lầu, cửa gương, với những tiện nghi vật chất đầy đủ.

    b. Ta xét với khổ thơ cuối dường như cũng đã lại thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng. Thông qua đây ta nhận được một chiều sâu tư tưởng mang tính triết lý của tác phẩm vô cùng độc đáo:

    Trăng cứ tròn vành vạnh Kể chi kẻ vô tình Ánh trăng im phăng phắc Khiến cho ta giật mình

    Ánh trăng cứ tròn vành vạnh thực sự cũng như tượng trưng cho quá khứ đẹp dẽ, nguyên vẹn chẳng thể phai mờ. Không những thế mà chính quá khư đẹp đẽ vĩnh hằng trong vũ trụ thì hình ảnh của ánh trăng im phăng phắc trông nó cũng thật như một người bạn, giống như một nhân chứng nghĩa tình mà cũng vô cùng nghiêm khắc. Có lẽ rằng cũng chính cái im lặng ấy như đang nhắc nhở nhà thơ, như cũng đang nhắc nhở tất cả chúng ta. Và chúng ta cũng biết dược rằng con người có thể vô tình con người cũng có thể lãng quên nhưng thiên nhiên nghĩa tình lắm, đã vậy quá khứ thì luôn tròn đầy luôn luôn bất diệt, hồn hậu và rộng lượng như cũ.

    Soạn bài Ánh Trăng Ngữ văn 9

    Thông qua đây ta như nhận thấy được cũng chính tác phẩm có kết cấu độc đáo. Bài thơ thực sự cũng giống như một chuyện nhỏ mà cũng lại được phát triển theo thời gian. Trong bài thơ cho thấy được quá khứ hồn nhiên, cũng lại vô cùng trần trụi với thiên nhiên luôn luôn thân thiết với vầng trăng. Thế rồi còn hiện tại, về thành phố, sống với các tiện nghi hiện đại có cửa gương, điện sáng. Lúc này đây thì chính vầng trăng bị lu mờ coi chẳng khác gì như người dưng qua đường. Cũng chính nhờ mất điện mà gặp lại vầng trăng, con người lúc này đây dường như cũng đã giật mình về thái độ sống vô tình của mình trong quãng thời gian về thành phố. Sự giật mình được đánh giá là một yếu tố quan trọng, đồng thời nó cũng chính là một sự bừng thức để có thể soi lại bản thân. Đồng thời lại còn là một các để có thể xét lại cách sống như vô tình, vô hình, dửng dưng khi quay lưng lại với quý khứ tốt đẹp tình nghĩa.

    Tác giả Nguyễn Duy thật tài tình biết bao nhiêu khi sử dụng giọng điệu tâm tình bằng thể thơ năm chữ, hơn nữa lại được kết hợp bởi nhịp thơ khi tuôn chảy tự nhiên, luôn luôn nhịp nhàng theo nhịp kể, khi ngân nga. Đã vậy lại còn có khi trầm lắng suy tư. Thực sự ta nhận thấy được tất cả những điều đó góp phần quan trọng trong chính những việc bộc lộ những cảm xúc sâu xa của một người lính khi nghĩ về chiến tranh, về quá khứ của chính mình.

    Chúng ta đều biết được rằng chính bài thơ viết năm 1978 sau hòa bình ba năm. Ta như nhận thấy được cũng chính với những người kháng chiến gian khổ ở rừng núi đã trở về thành phố. Những người lính này họ cũng đã có một cuộc sống mới thời bình. Dễ dàng nhận thấy nhất cũng chính là các phương tiện sống khác xa thời chiến tranh. Thực sự cũng chính câu chuyện riêng này được đánh giá cũng chính là lời tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, về cả tình cảm đối với quá khứ gian lao mà vô cùng tình nghĩa biết bao nhiêu đối với thiên nhiên, đất nước cũng thật bình dị hồn hậu.

    Bài thơ “Ánh trăng” không chỉ là chuyện của riêng nhà thơ mà nó lại còn mang được một ý nghĩa đối với cả một thế hệ. Không chỉ dừng lại ở đó ta nhận thấy được được bài thơ có ý nghĩa với nhiều người cũng lại có ý nghĩa với nhiều thời. Lý do chính bởi vì nó đặt ra vấn đề thái độ với quá khứ, thái độ với người đã khuất, với cả chính mình nữa.

    Tóm lại ta nhận thấy được bài thơ nằm trong mạch cảm xúc “Uống nước nhớ nguồn” gợi đạo lý thủy chung tình nghĩa. Thực sự đó cũng chính là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ta từ xưa cho đến nay.

    Chúc các em học tốt!

    Minh Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ánh Trăng Sbt Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Mây Và Sóng Ngữ Văn 9 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Mây Và Sóng, Soạn Văn Lớp 9 Trang 88 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 2, Giá
  • Soạn Văn 9: Mây Và Sóng
  • Soạn Bài Mây Và Sóng (Siêu Ngắn)
  • Soạn Văn 9 Bài Ánh Trăng Vnen

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 9 Vnen Bài 12: Ánh Trăng
  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ Của Tô Hoài, Ngữ Văn Lớp 12
  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ Ngắn Gọn Nhất
  • Soạn Văn 12 Bài Vợ Chồng A Phủ
  • Soạn Công Nghệ 8 Bài 4 Ngắn Nhất: Bản Vẽ Các Khối Đa Diện
  • A. Hoạt động khởi động

    Kể tên những bài thơ viết về ánh trăng mà em đã được học. Nêu cảm nhận về hình ảnh trăng trong một bài thơ.

    Những bài thơ viết về ánh trăng đã học:

    • “Cảnh khuya” – Hồ Chí Minh
    • “Rằm tháng giêng” – Hồ Chí Minh
    • “Ngắm trăng” – Hồ Chí Minh

    Cảm nhận về hình ảnh trăng trong bài thơ “Cảnh khuya” của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

    “Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.”

    Hai câu đầu bài thơ “Cảnh khuya” miêu tả cảnh trăng sáng trong đêm khuya. Giữa đêm rừng Việt Bắc thanh vắng, yên ả vang lên tiếng suối chảy róc rách, trong trẻo “như tiếng hát xa”. Bao trùm cả bức tranh là ánh trăng sáng hòa quyện, gần gũi và tràn đầy sức sống “Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa”. Ánh trăng soi chiếu xuống cây cổ thụ làm in trên mặt đất những mảng màu sắc sáng tối, tạo nên cảnh chập chùng của ánh trăng. Hình ảnh “Trăng lồng cổ thụ” mang nét đẹp cổ điển của ánh trăng trong thơ cổ, khi kết hợp với hoa, hình ảnh ấy đã tạo nên vẻ đẹp đầm ấm, quấn quýt của thiên nhiên. Hai từ “lồng” liên kết ba sự vật riêng biệt, khác hẳn nhau nhưng lại không hề tương phản mà dường như chúng lại hòa quyện, đan xen tạo nên một bức tranh sống động và vô cùng gợi cảm. Cảnh trong hai câu thơ đầy thơ mộng, trong trẻo, dịu dàng và thật ấm áp.

    B. Hoạt động hình thành kiến thức

    1. Đọc văn bản “Ánh trăng”

    2. Tìm hiểu văn bản

    a) Dựa vào mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình, hãy chỉ ra bố cục của bài thơ.

    Mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình:

    Bài thơ mang dáng dấp một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian, từ quá khứ đến hiện tại với các mốc sự kiện trong cuộc đời con người. Dòng cảm nghĩ trữ tình của nhà thơ cũng men theo dòng tự sự này mà bộc lộ và cuối cùng đọng lại trong cái “giật mình” ở cuối bài thơ.

    Dựa theo mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình, bài thơ có thể chia theo bố cục 3 phần:

    Phần 1 (hai khổ đầu): kỉ niệm của tác giả gắn bó với vầng trăng, nhịp thơ là lời tự sự nhẹ nhàng về quá khứ.

    Phần 2 (hai khổ tiếp): Sự lãng quên vầng trăng khi sống trong môi trường mới và bất ngờ gặp lại vầng trăng khi đột ngột mất điện. Giọng thơ thể hiện sự đột ngột, ngỡ ngàng

    Phần 3 (hai khổ cuối): Sự đối diện với vầng trăng và suy ngẫm về những ngày đã sống cùng vầng trăng. Giọng điệu trở nên trầm lắng và tha thiết hơn.

    b) Trong khoảng thời gian từ hồi nhỏ cho đến “thời chiến tranh ở rừng”, nhân vật trữ tình và vầng trăng có mối quan hệ như thế nào?

    Trong khoảng thời gian từ hồi nhỏ cho đến “thời chiến tranh ở rừng”, nhân vật trữ tình và vầng trăng là những người bạn tri kỉ của nhau.

    Cuộc sống vất vả, gian lao nhưng con người gần gũi và gắn bó với thiên nhiên, với “đồng”, “sông”, “bể”, “rừng”,… Điệp từ “với” được lặp lại ba lần nhằm diễn tả sự gắn bó chan hòa của con người với thiên nhiên, với những điều tươi đẹp của tuổi thơ. Trong những năm tháng gian lao, ác liệt của “hồi chiến tranh ở rừng”, vầng trăng đã trở thành người bạn thân thiết, tri âm tri kỉ, là đồng chí, đồng đội cùng chia sẻ những vui buồn trong chiến trận với người lính.

    Trăng hiện diện như là hình ảnh của quá khứ tươi đẹp và chan hòa tình nghĩa: “Trần trụi với thiên nhiên/ Hồn nhiên như cây cỏ”. Phép liên tưởng và so sánh cho ta thấy được vẻ đẹp bình dị, mộc mạc, trong sáng, rất đỗi vô tư, hồn nhiên của vầng trăng.

    Bài làm:

    d) Điều gì khiến nhân vật trữ tình giật mình nhận ra sự thay đổi của mình?

    Khi con người đã coi vầng trăng “như người dưng qua đường”, thì bỗng:

    “Thình lình đèn điện tắt phòng buyn-đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn.”

    Khi “thình lình”, đột ngột “đèn điện tắt” là lúc ánh sáng hiện đại, nhân tạo mất đi. Con người “vội bật tung cửa sổ” theo bản năng, như một thói quen. Và trong khoảnh khắc từ bóng tối bước ra ánh sáng, con người đã không khỏi ngỡ ngàng khi gặp lại, đối diện với vầng trăng tròn khi xưa. Chính cái khoảnh khắc bất ngờ, đột ngột ấy đã tạo nên bước ngoặt trong mạch cảm xúc của nhà thơ.

    Con người lặng lẽ đối diện với vằng trăng trong tư thế có phần thành kính:

    “Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng. “

    Đối diện với ánh trăng là sự đối diện với chính mình, với con người hiện tại và cả với con người trong quá khứ. Chính thứ ánh sáng dung dị đôn hậu đó của trăng đã chiếu tỏ nhiều kỉ niệm thân thương, đánh thức bao tâm tình vốn tưởng chừng ngủ quên trong góc tối tâm hồn người lính. Dù con người đã đổi thay thì vầng trăng vẫn “tròn vành vạnh”. “Ánh trăng im phăng phắc” như một lời nhắc nhở, trách cứ đầy nghiêm khắc khiến con người bừng tỉnh và “giật mình” nhận ra sự thay đổi bạc bẽo của mình. Con người “giật mình” trước ánh trăng là sự bừng tỉnh của nhân cách, là sự đấu tranh với chính mình để sống tốt đẹp hơn.

    Bài làm:

    C. Hoạt động luyện tập

    1. Luyện tập đọc hiểu

    a) Đọc văn bản “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” b) Tìm hiểu văn bản

    (1) Bài thơ mang hình thức lời hát ru những em bé dân tộc Tà – ôi ở chiến khu Trị – Thiên khi cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra quyết liệt. Em hãy cho biết lời hát ru chia thành mấy khúc? Mỗi khúc được nhận ra bằng dấu hiệu nào?

    Lời hát ru được chia làm 3 khúc, mỗi khúc có 2 khổ thơ:

    • Khúc thứ nhất: Khúc hát ru của người mẹ thương con, thương bộ đội.
    • Khúc thứ hai: Khúc hát ru của người mẹ thương con, thương dân làng.
    • Khúc thứ ba: Khúc hát ru của người mẹ thương con, thương đất nước.

    Mỗi khúc được nhận ra bằng dấu hiệu:

    Từng khúc đều được mở đầu bằng hai câu: “Em Cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi – Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ” và kết thúc bằng lời ru trực tiếp của người mẹ: “Ngủ ngoan A-kay ơi, ngủ ngoan A-kay hỡi.”

    Bài làm:

    Bài làm:

    (4) Em có nhận xét gì về ngôn ngữ, giọng điệu bài thơ?

    Cấu trúc lặp đi lặp lại của lời ru tạo giọng điệu trữ tình, tha thiết, vừa mở rộng, vừa xoáy sâu vào trong lòng người đọc sự ngọt ngào, trìu mến.

    2. Tổng kết từ vựng

    a) Đọc bài ca dao và thực hiện yêu cầu “Nước non lận đận một mình Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay Ai làm cho bể kia đầy Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?”

    (Ca dao)

    (1) Trong hai từ “nước non” và “lận đận”, từ nào là từ láy?

    Trong hai từ “nước non” và “lận đận”, từ “lận đận” là từ láy.

    (2) Tìm các từ thuộc trường từ vựng chỉ thiên nhiên.

    Các từ thuộc trường từ vựng chỉ thiên nhiên: nước non, thác, ghềnh, bể, ao.

    (3) Chỉ ra và nêu tác dụng của các cặp từ trái nghĩa.

    Các cặp từ trái nghĩa:

    lên – xuống: nhấn mạnh sự vất vả, gian truân trong cuộc đời.

    đầy – cạn: nhấn mạnh cảnh đời ngang trái, loạn lạc, bể đầy, ao cạn.

    b) Từ “chân” trong câu thơ nào sau đây được dùng theo nghĩa chuyển? Chỉ ra phương phức chuyển nghĩa của từ?

    (1) Cỏ non xanh tận chân trời.

    (Nguyễn Du – Truyện Kiều)

    (2) Miệng cười buốt giá

    Chân không giày

    Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

    (Chính Hữu – Đồng chí)

    Từ “chân” trong câu thơ “Cỏ non xanh tận chân trời” được dùng theo nghĩa chuyển.

    Phương thức chuyển nghĩa là phương thức ẩn dụ.

    c) Bằng hiểu biết về trường từ vựng, em hãy phân tích nét độc đáo về nghệ thuật trong bài thơ sau:

    Áo đỏ em đi giữa phố đông

    Cây xanh như cũng ánh theo hồng

    Em đi lửa cháy trong bao mắt

    Anh đứng thành tro, em biết không?

    (Vũ Quần Phương, Áo đỏ)

    Trong đoạn thơ, tác giả đã xây dựng hai trường từ vựng:

    Trường từ vựng chỉ màu sắc: đỏ, xanh, hồng, tro.

    Trường từ vựng chỉ lửa và những sự vật, hiện tượng có quan hệ liên tưởng với lửa: lửa, cháy, tro.

    Các từ thuộc hai trường từ vựng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhờ nghệ thuật dùng từ, bài thơ đã xây dựng được những hình ảnh gây ấn tượng mạnh với người đọc. Qua đó thể hiện độc đáo một tình yêu mãnh liệt và cháy bỏng.

    d) Đọc bài thơ và thực hiện yêu cầu

    Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,

    Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.

    Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,

    Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

    Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

    Nước còn cau mặt với tang thương.

    Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,

    Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

    (Bà Huyện Thanh Quan, Thăng Long thành hoài cổ)

    (1) Chỉ ra những từ Hán Việt và nhận xét về cách dùng từ trong bài thơ.

    Những từ Hán Việt trong bài thơ: hí trường, tinh sương, thảo, tịch dương, tuế nguyệt, tang thương, đoạn trường.

    Việc vận dụng các từ Hán Việt một cách linh hoạt đã mang đến cho bài thơ màu sắc cổ điển, trang trọng, làm nên giá trị của “Thăng Long thành hoài cổ” và đóng dấu phong cách riêng của nữ sĩ thành Thăng Long so với các nhà thơ trung đại khác cùng thời.

    Bài làm:

    e) Phân tích hiệu quả của biện pháp nghệ thuật so sánh và điệp ngữ trong những câu thơ miêu tả tiếng đàn của Thúy Kiều: Trong như tiếng hạc bay qua, Đục như tiếng suối mới sa nửa vời. Tiếng khoan như gió thoảng ngoài, Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.

    ( Nguyễn Du, Truyện Kiều)

    Biện pháp nghệ thuật so sánh và điệp ngữ được sử dụng rất đặc sắc và tinh tế, giúp diễn tả một cách sống động và gợi cảm âm thanh tiếng đàn của Thúy Kiều. Từ những tính chất vô hình và trừu tượng như “đục” và “trong”, “khoan”, “mau”, qua biện pháp so sánh đã được cụ thể hóa, chi tiết hóa, nghệ thuật hóa một cách đặc sắc.

    3. Luyện tập về sử dụng yếu tố nghị luận trong văn tự sự

    a) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu

    ( Lỗi lầm và sự biết ơn – sgk trang 100)

    (1) Trong đoạn văn trên, yếu tố nghị luận thể hiện ở những câu văn nào?

    Yếu tố nghị luận thể hiện ở những câu văn:

    “Những điều viết lên cát sẽ mau chóng xoá nhoà theo thời gian, nhưng không ai có thể xoá được những điều tốt đẹp đã được ghi tạc trên đá, trong lòng người.”

    “Vậy mỗi chúng ta hãy học cách viết những nỗi đau buồn, thù hận lên cát và khắc ghi những ân nghĩa lên đá”.

    (2) Nêu tác dụng của các yếu tố nghị luận trong đoạn văn.

    Yếu tố nghị luận có tác dụng khiến câu chuyện trở nên sâu sắc và có ý nghĩa.

    ……………………………………………………………..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Bài Ánh Trăng
  • Soạn Bài Ánh Trăng Trang 155 Sgk Văn 9
  • Soạn Bài Lớp 9: Ánh Trăng
  • Soạn Bài: Ánh Trăng (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Ánh Trăng Ngữ Văn 9 Trang 155 (Ngắn Gọn): Em Có Nhận Xét Gì Về Bố Cục Của Bài Thơ?
  • Soạn Văn 9 Vnen Bài 12: Ánh Trăng

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ Của Tô Hoài, Ngữ Văn Lớp 12
  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ Ngắn Gọn Nhất
  • Soạn Văn 12 Bài Vợ Chồng A Phủ
  • Soạn Công Nghệ 8 Bài 4 Ngắn Nhất: Bản Vẽ Các Khối Đa Diện
  • Bài 18. Vật Liệu Cơ Khí
  • Soạn văn 9 VNEN Bài 12: Ánh trăng

    A. Hoạt động khởi động

    Kể tên những bài thơ viết về ánh trăng mà em đã được học. Nêu cảm nhận về hình ảnh trăng trong một bài thơ.

    Những bài thơ viết về ánh trăng đã học:

    – “Cảnh khuya” – Hồ Chí Minh

    – “Rằm tháng giêng” – Hồ Chí Minh

    – “Ngắm trăng” – Hồ Chí Minh

    Cảm nhận về hình ảnh trăng trong bài thơ “Cảnh khuya” của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

    “Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.”

    Hai câu đầu bài thơ “Cảnh khuya” miêu tả cảnh trăng sáng trong đêm khuya. Giữa đêm rừng Việt Bắc thanh vắng, yên ả vang lên tiếng suối chảy róc rách, trong trẻo “như tiếng hát xa”. Bao trùm cả bức tranh là ánh trăng sáng hòa quyện, gần gũi và tràn đầy sức sống “Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa”. Ánh trăng soi chiếu xuống cây cổ thụ làm in trên mặt đất những mảng màu sắc sáng tối, tạo nên cảnh chập chùng của ánh trăng. Hình ảnh “Trăng lồng cổ thụ” mang nét đẹp cổ điển của ánh trăng trong thơ cổ, khi kết hợp với hoa, hình ảnh ấy đã tạo nên vẻ đẹp đầm ấm, quấn quýt của thiên nhiên. Hai từ “lồng” liên kết ba sự vật riêng biệt, khác hẳn nhau nhưng lại không hề tương phản mà dường như chúng lại hòa quyện, đan xen tạo nên một bức tranh sống động và vô cùng gợi cảm. Cảnh trong hai câu thơ đầy thơ mộng, trong trẻo, dịu dàng và thật ấm áp.

    B. Hoạt động hình thành kiến thức

    a) Dựa vào mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình, hãy chỉ ra bố cục của bài thơ.

    Mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình:

    Bài thơ mang dáng dấp một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian, từ quá khứ đến hiện tại với các mốc sự kiện trong cuộc đời con người. Dòng cảm nghĩ trữ tình của nhà thơ cũng men theo dòng tự sự này mà bộc lộ và cuối cùng đọng lại trong cái “giật mình” ở cuối bài thơ.

    Dựa theo mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình, bài thơ có thể chia theo bố cục 3 phần:

    Phần 1 (hai khổ đầu): kỉ niệm của tác giả gắn bó với vầng trăng, nhịp thơ là lời tự sự nhẹ nhàng về quá khứ.

    Phần 2 (hai khổ tiếp): Sự lãng quên vầng trăng khi sống trong môi trường mới và bất ngờ gặp lại vầng trăng khi đột ngột mất điện. Giọng thơ thể hiện sự đột ngột, ngỡ ngàng

    Phần 3 (hai khổ cuối): Sự đối diện với vầng trăng và suy ngẫm về những ngày đã sống cùng vầng trăng. Giọng điệu trở nên trầm lắng và tha thiết hơn.

    b) Trong khoảng thời gian từ hồi nhỏ cho đến “thời chiến tranh ở rừng”, nhân vật trữ tình và vầng trăng có mối quan hệ như thế nào?

    Trong khoảng thời gian từ hồi nhỏ cho đến “thời chiến tranh ở rừng”, nhân vật trữ tình và vầng trăng là những người bạn tri kỉ của nhau.

    Cuộc sống vất vả, gian lao nhưng con người gần gũi và gắn bó với thiên nhiên, với “đồng”, “sông”, “bể”, “rừng”,… Điệp từ “với” được lặp lại ba lần nhằm diễn tả sự gắn bó chan hòa của con người với thiên nhiên, với những điều tươi đẹp của tuổi thơ. Trong những năm tháng gian lao, ác liệt của “hồi chiến tranh ở rừng”, vầng trăng đã trở thành người bạn thân thiết, tri âm tri kỉ, là đồng chí, đồng đội cùng chia sẻ những vui buồn trong chiến trận với người lính.

    Trăng hiện diện như là hình ảnh của quá khứ tươi đẹp và chan hòa tình nghĩa: “Trần trụi với thiên nhiên/ Hồn nhiên như cây cỏ”. Phép liên tưởng và so sánh cho ta thấy được vẻ đẹp bình dị, mộc mạc, trong sáng, rất đỗi vô tư, hồn nhiên của vầng trăng.

    d) Điều gì khiến nhân vật trữ tình giật mình nhận ra sự thay đổi của mình?

    Khi con người đã coi vầng trăng “như người dưng qua đường”, thì bỗng:

    “Thình lình đèn điện tắt phòng buyn-đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn.”

    Khi “thình lình”, đột ngột “đèn điện tắt” là lúc ánh sáng hiện đại, nhân tạo mất đi. Con người “vội bật tung cửa sổ” theo bản năng, như một thói quen. Và trong khoảnh khắc từ bóng tối bước ra ánh sáng, con người đã không khỏi ngỡ ngàng khi gặp lại, đối diện với vầng trăng tròn khi xưa. Chính cái khoảnh khắc bất ngờ, đột ngột ấy đã tạo nên bước ngoặt trong mạch cảm xúc của nhà thơ.

    Con người lặng lẽ đối diện với vằng trăng trong tư thế có phần thành kính:

    “Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng. “

    Đối diện với ánh trăng là sự đối diện với chính mình, với con người hiện tại và cả với con người trong quá khứ. Chính thứ ánh sáng dung dị đôn hậu đó của trăng đã chiếu tỏ nhiều kỉ niệm thân thương, đánh thức bao tâm tình vốn tưởng chừng ngủ quên trong góc tối tâm hồn người lính. Dù con người đã đổi thay thì vầng trăng vẫn “tròn vành vạnh”. “Ánh trăng im phăng phắc” như một lời nhắc nhở, trách cứ đầy nghiêm khắc khiến con người bừng tỉnh và “giật mình” nhận ra sự thay đổi bạc bẽo của mình. Con người “giật mình” trước ánh trăng là sự bừng tỉnh của nhân cách, là sự đấu tranh với chính mình để sống tốt đẹp hơn.

    C. Hoạt động luyện tập

    a) Đọc văn bản “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”

    b) Tìm hiểu văn bản

    (1) Bài thơ mang hình thức lời hát ru những em bé dân tộc Tà – ôi ở chiến khu Trị – Thiên khi cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra quyết liệt. Em hãy cho biết lời hát ru chia thành mấy khúc? Mỗi khúc được nhận ra bằng dấu hiệu nào?

    Lời hát ru được chia làm 3 khúc, mỗi khúc có 2 khổ thơ:

    – Khúc thứ nhất: Khúc hát ru của người mẹ thương con, thương bộ đội.

    – Khúc thứ hai: Khúc hát ru của người mẹ thương con, thương dân làng.

    – Khúc thứ ba: Khúc hát ru của người mẹ thương con, thương đất nước.

    Mỗi khúc được nhận ra bằng dấu hiệu:

    Từng khúc đều được mở đầu bằng hai câu: “Em Cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi – Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ” và kết thúc bằng lời ru trực tiếp của người mẹ: “Ngủ ngoan A-kay ơi, ngủ ngoan A-kay hỡi.”

    (4) Em có nhận xét gì về ngôn ngữ, giọng điệu bài thơ?

    a) Đọc bài ca dao và thực hiện yêu cầu

    “Nước non lận đận một mình

    Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay

    Ai làm cho bể kia đầy

    Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?”

    (Ca dao)

    (1) Trong hai từ “nước non” và “lận đận”, từ nào là từ láy?

    (2) Tìm các từ thuộc trường từ vựng chỉ thiên nhiên.

    (3) Chỉ ra và nêu tác dụng của các cặp từ trái nghĩa.

    Các cặp từ trái nghĩa:

    lên – xuống: nhấn mạnh sự vất vả, gian truân trong cuộc đời.

    đầy – cạn: nhấn mạnh cảnh đời ngang trái, loạn lạc, bể đầy, ao cạn.

    b) Từ “chân” trong câu thơ nào sau đây được dùng theo nghĩa chuyển? Chỉ ra phương phức chuyển nghĩa của từ?

    (1)

    Cỏ non xanh tận chân trời. (Nguyễn Du – Truyện Kiều)

    (2)

    Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. (Chính Hữu – Đồng chí)

    Từ “chân” trong câu thơ “Cỏ non xanh tận chân trời” được dùng theo nghĩa chuyển.

    Phương thức chuyển nghĩa là phương thức ẩn dụ.

    c) Bằng hiểu biết về trường từ vựng, em hãy phân tích nét độc đáo về nghệ thuật trong bài thơ sau:

    Áo đỏ em đi giữa phố đông Cây xanh như cũng ánh theo hồng Em đi lửa cháy trong bao mắt Anh đứng thành tro, em biết không? (Vũ Quần Phương, Áo đỏ)

    Trong đoạn thơ, tác giả đã xây dựng hai trường từ vựng:

    Trường từ vựng chỉ màu sắc: đỏ, xanh, hồng, tro.

    Trường từ vựng chỉ lửa và những sự vật, hiện tượng có quan hệ liên tưởng với lửa: lửa, cháy, tro.

    Các từ thuộc hai trường từ vựng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhờ nghệ thuật dùng từ, bài thơ đã xây dựng được những hình ảnh gây ấn tượng mạnh với người đọc. Qua đó thể hiện độc đáo một tình yêu mãnh liệt và cháy bỏng.

    d) Đọc bài thơ và thực hiện yêu cầu

    Tạo hóa gây chi cuộc hí trường, Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương. Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương. Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, Nước còn cau mặt với tang thương. Ngàn năm gương cũ soi kim cổ, Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

    (Bà Huyện Thanh Quan, Thăng Long thành hoài cổ)

    (1) Chỉ ra những từ Hán Việt và nhận xét về cách dùng từ trong bài thơ.

    Những từ Hán Việt trong bài thơ: hí trường, tinh sương, thảo, tịch dương, tuế nguyệt, tang thương, đoạn trường.

    Việc vận dụng các từ Hán Việt một cách linh hoạt đã mang đến cho bài thơ màu sắc cổ điển, trang trọng, làm nên giá trị của “Thăng Long thành hoài cổ” và đóng dấu phong cách riêng của nữ sĩ thành Thăng Long so với các nhà thơ trung đại khác cùng thời.

    e) Phân tích hiệu quả của biện pháp nghệ thuật so sánh và điệp ngữ trong những câu thơ miêu tả tiếng đàn của Thúy Kiều:

    Trong như tiếng hạc bay qua, Đục như tiếng suối mới sa nửa vời. Tiếng khoan như gió thoảng ngoài, Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa. (Nguyễn Du, Truyện Kiều) 3. Luyện tập về sử dụng yếu tố nghị luận trong văn tự sự

    a) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu

    (Lỗi lầm và sự biết ơn – sgk trang 100)

    (1) Trong đoạn văn trên, yếu tố nghị luận thể hiện ở những câu văn nào?

    Yếu tố nghị luận thể hiện ở những câu văn:

    “Những điều viết lên cát sẽ mau chóng xoá nhoà theo thời gian, nhưng không ai có thể xoá được những điều tốt đẹp đã được ghi tạc trên đá, trong lòng người.”

    “Vậy mỗi chúng ta hãy học cách viết những nỗi đau buồn, thù hận lên cát và khắc ghi những ân nghĩa lên đá”.

    (2) Nêu tác dụng của các yếu tố nghị luận trong đoạn văn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 9 Bài Ánh Trăng Vnen
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Ánh Trăng
  • Soạn Bài Ánh Trăng Trang 155 Sgk Văn 9
  • Soạn Bài Lớp 9: Ánh Trăng
  • Soạn Bài: Ánh Trăng (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Lớp 9: Ánh Trăng

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ánh Trăng Trang 155 Sgk Văn 9
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Ánh Trăng
  • Soạn Văn 9 Bài Ánh Trăng Vnen
  • Soạn Văn 9 Vnen Bài 12: Ánh Trăng
  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ Của Tô Hoài, Ngữ Văn Lớp 12
  • Soạn bài lớp 9: Ánh trăng

    Soạn bài: Ánh trăng

    Nguyễn Duy

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

    1. Ánh trăng của Nguyễn Duy mang sức sáng nối liền quá khứ – hiện tại, là tấm gương trăng để soi lòng. Con người của gốc lúa bờ tre, của nắng nỏ trời xanh, của lời ru trọn kiếp người không đi hết, của “Nước chè tươi rót vàng mơ” ấy thường hay giật mình giữa chốn đô hội ồn ào:

    tôi giật mình cái âm thanh của rừng lạc về thành phố Chợt hiện về thăm thẳm núi non kia” (Nghe tắc kè kêu trong thành phố)

    2. Những năm tháng “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đã trở thành nguồn mạch hồi ức thường trực trong tâm hồn nhà thơ. Cho nên chỉ một tiếng tắc kè kêu cũng đủ khơi cho nguồn mạch ấy dào dạt chảy. Thì ra, người vốn thiết tha với đồng quê bình dị, say sưa với ca dao hò vè cũng là người ân tình với quá khứ gian lao, nặng lòng với núi rừng một thủa. Với Ánh trăng, Nguyễn Duy lại thêm một cái “giật mình”.

    Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình.

    Mạch cảm xúc đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái “giật mình” cuối bài thơ. Trăng hiện diện trong quá khứ, đột ngột sáng trong hiện tại và mặc nhiên vằng vặc trong suy ngẫm nhân tình.

    Vầng trăng tình nghĩa sáng trong không gian và thời gian kí ức:

    Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa

    Con người và thiên nhiên hài hoà trong mối kết giao tri kỉ, thuỷ chung. Từ những năm tháng tuổi thơ bươn trải nhọc nhằn gắn bó với đồng, với sông rồi với bể cho đến những năm tháng chiến tranh gian khổ sống với rừng, bao giờ trăng cũng gần gũi, thân thiết. Giữa con người với thiên nhiên, với trăng là mối quan hệ chung sống, quan hệ thâm tình khăng khít. Trăng là người bạn đồng hành trên mỗi bước đường gian lao nên trăng hiện diện như là hình ảnh của quá khứ, là hiện thân của kí ức chan hoà tình nghĩa. Người ta cứ đinh ninh về sự bền chặt của mối giao tình ấy, nhưng:

    Từ hồi về thành phố quen ánh điện, cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường

    Cuộc sống hiện đại với ánh sáng chói loà của ánh điện, cửa gương đã làm lu mờ ánh sáng của vầng trăng. Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa hình ảnh vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa trong quá khứ và vầng trăng “như người dưng qua đường” trong hiện tại. Sự đối lập này diễn tả những đổi thay trong tình cảm của con người. Thủa trước, ta hồn nhiên sống với đồng, với sông, với bể, với gian lao “ở rừng”, khi ấy trăng chan hoà tình nghĩa, thiên nhiên và con người gần gũi, hoà hợp. Bây giờ, thói quen cuộc sống phương tiện đủ đầy khiến ta không còn thấy trăng là tri kỉ, nghĩa tình nữa. Nhà thơ nói về trăng là để nói thế thái, nhân tình.

    Tuy nhiên, cuộc sống hiện đại luôn có những bất trắc. Và chính trong những bất trắc ấy, ánh sáng của quá khứ, của ân tình lại bừng tỏ, là lúc người ta nhận thấy giá trị của quá khứ gian lao mà tình nghĩa, thiếu thốn mà đủ đầy:

    3. Không chỉ là sự thay thế đúng lúc của ánh trăng cho ánh điện, ở đây còn là sự thức tỉnh, bừng ngộ về ý nghĩa của những ngày tháng đã qua, của những cái bình dị của cuộc sống, của tự nhiên, là sức sống vượt ra ngoài không gian, thời gian của tri kỉ, nghĩa tình. Các từ “bật tung”, “đột ngột” diễn tả trạng thái cảm xúc mạnh mẽ, bất ngờ. Có cái gì như thảng thốt, lo âu trong hình ảnh “vội bật tung cửa sổ”. Vầng trăng tròn đâu phải khi “đèn điện tắt” mới có? Cũng như những tháng năm quá khứ, vẻ đẹp của đồng, sông, bể, rừng không hề mất đi. Chỉ có điều con người có nhận ra hay không mà thôi. Và thế là trong cái khoảnh khắc “thình lình” đối diện với trăng ấy, ân tình xưa “rưng rưng” sống dậy, thổn thức lòng người:

    Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng

    Đối diện với trăng là đối diện với chính mình, với con người hiện tại và cả với con người trong quá khứ. Sự đồng hiện thời gian – không gian/trăng – người được thể hiện bằng ngôn ngữ lập thể. Vầng trăng mang ý nghĩa biểu tượng. Mặt trăng đối diện với mặt người, mặt trăng cũng là mặt người, là quá khứ đang sáng trong thực tại, trăng là tri kỉ, ân tình xưa,…

    4. Từ khổ thơ đầu là vầng trăng (4 lần) đến khổ thơ cuối bài là ánh trăng. Ánh trăng bất chợt soi chiếu, thản nhiên và độ lượng, sự im lặng của ánh trăng là sự im lặng của chân lí. Bình dị, mộc mạc nhưng đủ khiến “ta giật mình”. Cái chân lí giản đơn đã thành đạo lí: “Uống nước nhớ nguồn”.

    II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

    1. Hình ảnh thơ trong bài có tính biểu tượng. Hiểu được ý nghĩa của hình ảnh ánh trăng, mới hiểu được cảm xúc ân tình với quá khứ gian lao, tình nghĩa của tác giả và từ đó rút ra bài học về cách sống cho bản thân.

    2. Khi đọc, cần chú ý sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố trữ tình và yếu tố tự sự trong bố cục, giữa ý nghĩa cụ thể và ý nghĩa khái quát của hình tượng thể hiện trong bài thơ.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Ánh Trăng (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Ánh Trăng Ngữ Văn 9 Trang 155 (Ngắn Gọn): Em Có Nhận Xét Gì Về Bố Cục Của Bài Thơ?
  • Các Đề Văn Về Bài Ánh Trăng Của Nguyễn Duy
  • Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Ánh Trăng
  • Đóng Vai Người Lính Trong Bài Thơ Ánh Trăng Kể Lại Câu Chuyện
  • Soạn Bài Ánh Trăng Siêu Ngắn

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ánh Trăng Lớp 9
  • Soạn Bài Ánh Trăng Môn Văn Lớp 9 Chi Tiết
  • Soạn Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy
  • Soạn Bài Thơ Ánh Trăng Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Ánh Trăng Tác Giả Nguyễn Duy Ngữ Văn 9
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Câu 1 Trả lời câu 1 (trang 157 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

    – Bố cục (3 phần)

    + Phần 1 ( hai khổ thơ đầu): Cảm nghĩ về vầng trăng trong quá khứ.

    + Phần 2 (hai khổ tiếp): Cảm nghĩ về vầng trăng trong hiện tại.

    + Phần 3 (hai khổ cuối): Suy ngẫm của tác giả về trăng.

    – Nhận xét: bố cục bài thơ diễn ra theo trình tự thời gian, sự việc nào diễn ra trước kể trước, sự việc nào diễn ra sau kể sau.

    – Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng lớp ý nghĩa:

    + Vầng trăng của thiên nhiên.

    + Biểu tượng cho quá khứ đẹp đẽ.

    Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 157 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

    + Trăng là biểu tượng cho tình nghĩa, cho tình cảm gắn bó.

    – Khổ thơ cuối thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng của tác phẩm. Con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng vầng trăng nghĩa tình, quá khứ thì luôn tròn đầy, nguyên vẹn và bất diệt. Ánh trăng như muốn nhắc nhở con người về quá khứ thiêng liêng, về sự bội bạc.

    – Hai khổ thơ đầu: hình ảnh vầng trăng trong quá khứ.

    Câu 4 Trả lời câu 4 (trang 157 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

    – Hai khổ thơ sau: suy ngẫm của tác giả như một sự hối hận, tự vấn.

    – Giọng điệu tâm tình, nhịp thơ khi tuôn chảy tự nhiên, nhịp nhàng theo nhịp kể, khi ngân nga, khi trầm lắng suy tư.

    ND chính

    – Bài thơ được viết năm 1978, sau hòa bình ba năm.

    chúng tôi

    – Chủ đề: bài thơ không chỉ là chuyện của riêng nhà thơ mà có ý nghĩa đối với cả một thế hệ bởi vì nó đặt ra vấn đề về thái độ với quá khứ, với người đã khuất, với cả chính mình.

    Với tôi trăng như người bạn tri kỉ cùng tôi đi qua những năm tháng cuả tuổi thơ. Ngày ấy, tôi và trăng rất gần gũi, hồn nhiên, vô tư với nhau. Khi lớn lên, tôi tham gia chiến tranh, trăng cũng theo tôi vào ở rừng. Trong những ngày tháng gian lao ấy, trăng đã trở thành người bạn đồng hành cùng tôi qua những thăng trầm cuộc đời. Rồi hòa bình lập lại, tôi trở về thành phố với cuộc sống hiện đại, tiên nghi. Đắm chìm trong cuộc sống ấy, tôi vô tình đã lãng quên vầng trăng và quên đi cả lời hứa năm xưa của mình. Tôi đã quay lưng lại với vầng trăng, quay lưng lại với quá khứ, với thiên nhiên và chính mình. Trong một lần mất điện, tôi đã gặp lại vầng trăng. Trăng vẫn thế, vẫn tròn đầy, thủy chung và không trách cứ tôi nhưng tôi thấy thật ăn năn và hối hận vì sự vô tâm, bạc bẽo của mình.

    Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ sống ” Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luyện Từ Và Câu Lớp 5 Tuần 3: Luyện Tập Về Từ Đồng Nghĩa
  • Luyện Từ Và Câu: Luyện Tập Về Từ Đồng Nghĩa Trang 32
  • Soạn Bài Từ Đồng Nghĩa Lớp 7 Môn Văn Chi Tiết
  • Giải Vbt Sinh Học 8 Bài 6: Phản Xạ
  • Soạn Văn 6 Vnen Bài 9: Thứ Tự Kể Trong Văn Tự Sự
  • Soạn Bài: Ánh Trăng – Ngữ Văn 9 Tập 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Văn Bản: Ánh Trăng
  • Giáo Án Ngữ Văn 9 Tiết 59: Văn Bản: Ánh Trăng (Nguyễn Duy)
  • Giáo Án Lớp 8 Môn Công Nghệ
  • Giải Bt Công Nghệ 8 Vnen
  • Boa Esporte Clube Team Details, Competitions And Latest Matches
  • I. Tác giả, tác phẩm

    1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Nguyễn Duy trong SGK Ngữ văn 9 Tập 1).

    2. Tác phẩm

    * Xuất xứ: Bài thơ Ánh trăng được Nguyễn Duy viết vào năm 1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi đô thị của cuộc sống tiện nghi, hiện đại, nơi những người lính từ trận đánh trở về đã để lại sau lưng cuộc chiến tranh gian khổ mà nghĩa tình.

    * Thể thơ: Bài thơ được viết theo thể thơ ngũ ngôn.

    * Bố cục: Văn bản có thể được chia làm 3 phần:

    • Phần 1: 2 khổ thơ đầu: Vầng trăng quá khứ gắn bó với tuổi thơ
    • Phần 2: 2 khổ thơ tiếp: Vầng trăng hiện tại và sự bội bạc của con người trong cuộc sống hiện đại
    • Phần 3: 2 khổ cuối: Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng.

    II. Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1:

    * Bài thơ được bố cục theo trình tự từ quá khứ đến hiện tại.

    Câu 2:

    * Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng ý nghĩa:

    • Là vầng trăng của thiên nhiên, đất trời tươi đẹp, khoáng đạt
    • Trăng là biểu tượng cho những gì gắn bó với con người lúc gian khổ
    • Là tình cảm trong quá khứ, luôn hồn nhiên, tươi đẹp, sáng rọi khắp nhân gian
    • Trăng là phần trong sáng, tốt đẹp của con người, chiếu sáng những góc khuất mới nảy sinh khi con người sống trong nhà lầu, xe hơi, sống trong những ánh sáng của đèn điện, trong vật chất tiện nghi.

    * Khổ thơ trong bài thơ thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triết lí của tác phẩm là khổ cuối cùng.

    Câu 3:

    * Nhận xét về kết cấu, giọng điệu của bài thơ:

    • Kết cấu bài thơ độc đáo, được phát triển theo trình tự thời gian. Từ quá khứ hồn nhiên, thân thiết với vầng trăng cho đến hiện tại, trong một thành phố, một cuộc sống đầy đủ tiện nghi, vầng trăng đã bị lãng quên, bị coi như người dưng qua đường. Nhờ mất điện mà con người gặp lại vầng trăng và giật mình về thái độ sống vô tình của mình, tự soi xét lại bản thân.
    • Giọng điệu của bài thơ tâm tình nhờ thể thơ 5 chữ, nhịp thơ tuôn chảy tự nhiên, nhịp nhàng theo nhịp kể, khi ngân nga, trầm lắng, suy tư.

    Câu 4:

    * Thời điểm ra đời của bài thơ: sau đại thắng mùa xuân vào năm 1975, người lính từ chiến khu trở về thành phố, họ có một cuộc sống trong thời hòa bình, phương tiện sống hiện đại hơn, khác xa với thời chiến tranh.

    * Chủ đề của bài thơ: Nhắc về những năm tháng gian lao trong cuộc đời của người lính.

    * Bài thơ Ánh trăng nằm trong mạch cảm xúc “Uống nước nhớ nguồn” gợi đạo lí thủy chung tình nghĩa. Đó cũng là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.

    5

    /

    5

    (

    2

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 9: Thứ Tự Kể Trong Văn Tự Sự (Trang 57 Sgk Ngữ Văn 6 Tập 1 Vnen)
  • Tổng Hợp Các Bài Tập Vật Lý 10 Nâng Cao
  • Bài 6 – Tiết 2. Kinh Tế Hoa Kì (Địa Lý 11)
  • Giáo Án Môn Tin Học 11
  • Giáo Án Sinh Khối 12 Bài 6: Đột Biến Số Lượng Nhiễm Sắc Thể
  • Soạn Bài Ánh Trăng Lớp 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ánh Trăng Môn Văn Lớp 9 Chi Tiết
  • Soạn Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy
  • Soạn Bài Thơ Ánh Trăng Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Ánh Trăng Tác Giả Nguyễn Duy Ngữ Văn 9
  • Soạn Bài: Ánh Trăng Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • SOẠN BÀI ÁNH TRĂNG LỚP 9.

    I. Tìm hiểu chung

    1. Tác giả

    Nguyễn Duy sinh năm 1948 tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ. Quê ở Đông Vệ, Thanh Hóa.

    Năm 1966, ông gia nhập quân đội, vào binh chủng Thông tin, tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường. SAu 1975, ông chuyển về làm báo Văn nghệ giải phóng. Từ 1977, Nguyễn Duy là đại diện thường trú báo Văn nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

    Ông được trao giải Nhất cuộc thi của báo Văn nghệ năm 1972 – 1973. Trở thành gương mặt tiêu bieru trong lớp nhà thơ trẻ tuổi thời chống Mĩ cứu nước và tiếp tục bền bỉ sáng tác

    2. Tác phẩm

    Tập thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy được tặng giải A của Hội nhà văn Việt Nam năm 1984. Bài thơ “Ánh trăng” trích từ tập ầy và được sáng tác năm 1978 ở Thành phố Hồ Chí Minh.

    II. Hướng dẫn soạn bài Ánh trăng đọc hiểu chi tiết

    Câu 1 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

    Nhận xét bố cục: Bố cục bài thơ đi theo trình tự từ quá khứ đến hiện tại như một câu chuyện bao gồm 3 phần:

    • Phần 1 (2 khổ đầu): thời quá khứ trăng cùng người gắn bó
    • Phần 2 (2 khổ giữa): thời hiện tại con người bội bạc với vầng trăng
    • Phần 3 (2 khổ cuối): sự ăn năn của con người khi gặp lại vầng trăng tình nghĩa

    Câu 2 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

    Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang những tầng nghĩa sau:

    • Là thiên nhiên tươi đẹp: trăng vừa là trăng nhưng đồng thời trăng cũng là sông, là bể, là đồng, là thiên nhiên bao dung gần gũi, gắn bó với cuộc sống con người như một phần không thể thiếu
    • Là tuổi thơ ngọt ngào: trăng là biểu tượng cho quá khứ, cái thời còn được ngụp lặn trong dòng sông tuổi thơ, được “trần trụi với thiên nhiên, hồn nhiên như cây cỏ”
    • Là quá khứ của thời chiến đấu: đó là thời ” hồi chiến tranh ở rừng” trăng và người gắn bó thân thiết, quan hệ thân tình khăng khít, mấy ai có thể quên
    • Là tình nghĩa thủy chung: đây là điều được tập trung thể hiện ở khổ thơ cuối bài, nó làm cho bài thơ có chiều sâu về triết lí và tư tưởng

    “Trăng cứ tròn vành vạnh

    Kể chi người vô tình

    Ánh trăng im phăng phắc

    Đủ cho ta giật mình”

    Câu 3 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

    Tác phẩm có kết cấu độc đáo. Bài thơ như một chuyện nhỏ, phát triển theo thời gian. Quá khứ hồn nhiên, trần trụi với thiên nhiên, thân thiết với vầng trăng. Hiện tại, về thành phố sống với các tiện nghi, cửa gương, điện sáng. Vầng trăng bị lu mờ coi như người dưng qua đường. Nhờ mất điện mà gặp lại vầng tẳng, giật mình về thái độ sống vô tình của mình. Chính sự giật mình là một yếu tố quan trọng. nó là sự bừng thức để soi lại bản thân, xét lại cách sống vô tình, dửng dưng quay lưng với quá khứ tốt đẹp, tình nghĩa.

    Giọng điệu tâm tình bằng thể thơ năm chữ, nhịp thơ khi tuôn chảy tự nhiên, nhịp nhàng theo nhịp kể, khi ngân nga, khi trầm lắng suy tư. Tất cả những điều đó góp phần quan trọng trong việc bộc lộ những cảm xúc sâu sa của một người lính khi nghĩ về chiến tranh về quá khứ.

    Câu 4 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

    • Thời điểm ra đời của bài thơ: căn cứ nội dung bài thơ ta có thể xác định được thời điểm bài thơ ra đời là khoảng thời gian gần sau đại thắng 1975

    III. Luyện tập bài Ánh trăng

    Câu 1 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

    Đọc diễn cảm bài thơ

    Câu 2 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

    Gợi ý: sử dụng ngôi kể hợp lí và diễn cảm bằng cảm xúc chân thật và logic với mạch trong bài.

    Nguồn Internet

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ánh Trăng Siêu Ngắn
  • Luyện Từ Và Câu Lớp 5 Tuần 3: Luyện Tập Về Từ Đồng Nghĩa
  • Luyện Từ Và Câu: Luyện Tập Về Từ Đồng Nghĩa Trang 32
  • Soạn Bài Từ Đồng Nghĩa Lớp 7 Môn Văn Chi Tiết
  • Giải Vbt Sinh Học 8 Bài 6: Phản Xạ
  • Soạn Bài Ánh Trăng Trang 155 Sgk Văn 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Bài Ánh Trăng
  • Soạn Văn 9 Bài Ánh Trăng Vnen
  • Soạn Văn 9 Vnen Bài 12: Ánh Trăng
  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ Của Tô Hoài, Ngữ Văn Lớp 12
  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ Ngắn Gọn Nhất
  • Soạn bài Ánh trăng trang 155 SGK Văn 9

    2. Hình ảnh vầng trăng củng cảm xúc của nhà thơ. Hình ảnh vầng trăng trong bai thơ là một hình tượng đa nghĩa.

    1. Bố cục bài thơ là tâm trạng của tác giả được kể theo trình tự thời gian.

    – Ba khổ đầu: Kề về sự gắn bó của tác giả với vầng trăng.

    – Khổ thứ tư: Sự xuất hiện của vầng trăng.

    – Khổ thứ năm và khổ thứ sáu: Cảm xúc và suy tư lặng lẽ của tác giả

    Nhận xét về sự kết hợp giữa tự sự với trữ tình trong bài thơ:

    – Dòng cảm nghĩ trữ tình của nhà thơ cũng men theo dòng tự sự này mà bộc lộ. Ở quãng thời gian quá khứ đã có một biến đổi, một sự thực đáng chú ý: hồi nhỏ rồi hồi chiến tranh sống hồn nhiên, gần gũi với thiên nhiên đến tưởng không bao giờ quên “cái vầng trăng tình nghĩa” ấy thế mà “từ hồi về thành phố” quen sống cùng những tiện nghi hiện lại, vầng trăng tình nghĩa đã như người dưng qua đường”.

    – Trong dòng diễn biến theo thời gian, sự việc bất thường ở khổ thơ thứ tư chính là bước ngoặt đê từ đó tác giả bộc lộ cảm xúc, thế hiện chủ ý của tác phẩm (chú ý các từ thinh linh, vội, đột ngột), vầng trăng tròn ngoài kia, trên kia đối lập với “phòng buyn-đinh tối om”. Chính vì xuất hiệnn đột ngột trong bối cảnh ấy. vầng trăng bất ngờ mà tự nhiên gợi lại bao kỷ niệm nghĩa tình.

    2. Hình ảnh vầng trăng cùng cảm xúc của nhà thơ

    Hình ảnh vầng trăng trong bai thơ là một hình tượng đa nghĩa.

    – Trước hết, vầng trăng là một hình ảnh của thiên nhiên khoáng đạt, tự nhiên, tươi mát. Trong hai khổ thơ đầu, vầng trăng hiện ra trong không gian của ruộng đồng, sóng biển, núi rừng. Đó là vầng trăng của hồi nhỏ sống với đồng” và sau này là “hồi chiến tranh ở rừng”. Lúc ấy, người sông giản dị “trần trụi với thiên nhiên – hồn nhiên như cây cỏ ” Vầng trăng trở thành người bạn tri kỉ, thành “vầng trăng tình nghĩa” gắn bó trong suốt những năm tháng từ thuở ấu thơ ở quê nhà đến chiến tranh sông ở rừng.

    Đến khi về thành phố, sống giữa những tiện nghi hiện đạị, “quen ánh cửa gương”, con người bỗng quên đi cái vầng trăng “ngỡ không bao giờ quên” kia, bỗng vô tình với “cái vầng trăng tình nghĩa” kia. Sự vô tâm đến mức tàn nhẫn:

    Vầng trăng đi qua ngỗ như người dưng qua đường.

    Rồi đến một đêm nào đó:

    Thình lình đèn điện tất phòng buyn-đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn.

    Con người đã quen với đèn điện nên quên trăng, vầng trăng vẫn có nhưng “như người dưng qua đường”. Phải đến khi đèn điện tắt, con người mới lại nhìn thấy và nhận ra vầng trăng. Phải đột ngột như thế, bất ngờ như thế, vầng trâng mới làm thức dậy trong tâm trí con người bao cảm xúc.

    Ngửa mặt lên nhìn mặt

    Có cái gì rưng rưng

    như là đồng là bể như là sông là rừng

    “Ngửa mặt lên nhìn mặt”, mặt người và mặt trăng đôi diên nhau. là khoảnh khắc bất ngờ gặp lại cố nhân. Khoảnh khắc gặp gỡ đó khiến hồn người “rưng rưng” cảm xúc. vầng trăng làm ùa dậy trong tâm tri những hình ảnh của thiên nhiên, của quê hương đất nước.

    – Vầng trăng trong bài thơ còn có ý nghĩa biểu tượng: biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, biểu tượng cho vẻ đẹp bình dị và vĩnh hằng của đời sống.

    Vầng trăng đâu chỉ làm ùa dậy trong tâm trí những hình ảnh của thiên nhiên, của quê hương đất nước, mà còn đánh thức trong tâm tri con người bao kỉ niệm hồn nhiên của thời tuổi nhỏ, bao kỉ niệm nghĩa tình của một thời gian lao chiến đấu.

    Khổ thơ cuối cùng là nơi tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng:

    Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình.

    Mặc cho con người vô tình, “trăng cứ tròn vành vạnh”. Đó là hình ảnh tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ. “Ảnh trăng im phăng phắc” – phép nhân hóa khiến hình ảnh vầng trăng hiện ra như một con người cụ thể, một người bạn, một nhân chứng, rất nghĩa tình nhưng cũng vô cùng nghiêm khắc đang nhắc nhở con người đừng quên quá khứ. “Ánh trăng im phăng phắc” nhưng đủ để làm con ngườ: “giật mình” nhận ra sự vô tình không nên có, sự lãng quên đáng trách của mình. Con người có thể vô tình, có thể lãng quên, nhưng thiên nhiên và nghĩa tình quá khứ thì vẫn nguyên vẹn, vĩnh hằng.

    3. Nhận xét về kết cấu, về giọng điệu của bài thơ

    – Qua một câu chuyện riêng, bằng sự kết hợp hài hòa, tự nhiên giữa tự sự và trữ tình.

    – Giọng điệu tâm tình bằng thể thơ năm chữ. Nhịp thơ khi thì trôi chảy tự nhiên, nhịp nhàng theo lời kể, khi thì ngân nga thiết tha cảm xúc (khổ 5), lúc lại trầm lắng biểu hiện suy tư (khổ cuối).

    – Ánh trăng không chỉ là chuyện riêng của nhà thơ, chuyện của một người mà có ý nghĩa với cả mòt thế hệ thế hệ từng trải qua những năm tháng dài gian khổ của chiến tranh, từng gắn bó với thiên nhiên, nhân dân tình nghĩa giờ được sống trong hòa bình, được tiếp xúc với nhiều tiện nghi hiện đại. Hơn thế bài thơ còn có ý nghĩa với nhiều người, nhiều thời bởi nó đặt ra vấn đề thái độ với quá khứ, những người đã khuất và đối với cả chính mình.

    Ánh trăng năm trong mạch cảm xúc “uống nước nhớ nguồn”, gợi lên đạo lý sống thủy chung đã trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 9: Ánh Trăng
  • Soạn Bài: Ánh Trăng (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Ánh Trăng Ngữ Văn 9 Trang 155 (Ngắn Gọn): Em Có Nhận Xét Gì Về Bố Cục Của Bài Thơ?
  • Các Đề Văn Về Bài Ánh Trăng Của Nguyễn Duy
  • Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Ánh Trăng
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Ánh Trăng

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 9 Bài Ánh Trăng Vnen
  • Soạn Văn 9 Vnen Bài 12: Ánh Trăng
  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ Của Tô Hoài, Ngữ Văn Lớp 12
  • Soạn Bài Vợ Chồng A Phủ Ngắn Gọn Nhất
  • Soạn Văn 12 Bài Vợ Chồng A Phủ
  • ÁNH TRĂNG

    Nguyễn Duy

    1.Tác giả :

    – Nguyễn Duy sinh năm 1948, tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, quê ở thành phố Thanh Hóa.

    – 1966, ông gia nhập quân đội, vào binh chủng Thông tin,tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường.

    – Sau năm 1975, ông chuyển về làm báo Văn nghệ giải phóng. Từ năm 1977, Nguyễn Duy là đại diện thường trú báo Văn nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    – Nguyễn Duy thuộc thế hệ các nhà thơ quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc và trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu.

    – Thơ ông gần gũi với văn hóa dân gian, nhưng sâu sắc mà rất đỗi tài hoa, đi sâu vào cái nghĩa, cái tình muôn đời của con người Việt Nam.

    ” Thơ Nguyễn Duy sâu lắng, thắm thiết cái hồn cái vía của ca dao, dân ca Việt Nam.Những bài thơ của ông không cố gắng tìm kiếm những hình thức mới mà đi sâu vào cái nghĩa cái tình muôn đời của con người Việt Nam. Ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy cũng không bóng bẩy mà gần gũi, dân dã, đôi khi hơi “bụi”, phù hợp với ngôn ngữ thường nhật”. ( Theo “Văn lớp 9 không khó như bạn nghĩ”).

    – Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

    – Tác phẩm tiêu biểu: Cát trắng (1973), Mẹ và em ( 1987), Đường xa (1990), Về (1994)…

    2.Tác phẩm :

    -Nguyễn Duy viết bài thơ “Ánh trăng” vào năm 1978 ,tại thành phố Hồ Chí Minh -nơi đô thị của cuộc sống tiện nghi hiện đại, nơi những người từ trận đánh trở về đã để lại sau lưng cuộc chiến gian khổ mà nghĩa tình.

    – In trong tập thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy -tập thơ đạt giải A của Hội nhà Văn Việt Nam năm 1984.

    II. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI

    1. Ánh trăng của Nguyễn Duy mang sức sáng nối liền quá khứ – hiện tại, là tấm gương trăng để soi lòng. Con người của gốc lúa bờ tre, của nắng nỏ trời xanh, của lời ru trọn kiếp người không đi hết, của “Nước chè tươi rót vàng mơ” ấy thường hay giật mình giữa chốn đô hội ồn ào:

    Tắc kè…

    tắc kè…

    tôi giật mình

    Chợt hiện về thăm thẳm núi non kia”

    (Nghe tắc kè kêu trong thành phố)

    2. Những năm tháng “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đã trở thành nguồn mạch hồi ức thường trực trong tâm hồn nhà thơ. Cho nên chỉ một tiếng tắc kè kêu cũng đủ khơi cho nguồn mạch ấy dào dạt chảy. Thì ra, người vốn thiết tha với đồng quê bình dị, say sưa với ca dao hò vè cũng là người ân tình với quá khứ gian lao, nặng lòng với núi rừng một thủa. Với Ánh trăng, Nguyễn Duy lại thêm một cái “giật mình”.

    Trăng cứ tròn vành vạnh

    kể chi người vô tình

    ánh trăng im phăng phắc

    đủ cho ta giật mình.

    Mạch cảm xúc đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái “giật mình” cuối bài thơ. Trăng hiện diện trong quá khứ, đột ngột sáng trong hiện tại và mặc nhiên vằng vặc trong suy ngẫm nhân tình.

    Vầng trăng tình nghĩa sáng trong không gian và thời gian kí ức:

    Hồi nhỏ sống với đồng

    với sông rồi với bể

    hồi chiến tranh ở rừng

    vầng trăng thành tri kỉ

    Trần trụi với thiên nhiên

    hồn nhiên như cây cỏ

    ngỡ không bao giờ quên

    cái vầng trăng tình nghĩa

    Con người và thiên nhiên hài hoà trong mối kết giao tri kỉ, thuỷ chung. Từ những năm tháng tuổi thơ bươn trải nhọc nhằn gắn bó với đồng, với sông rồi với bể cho đến những năm tháng chiến tranh gian khổ sống với rừng, bao giờ trăng cũng gần gũi, thân thiết. Giữa con người với thiên nhiên, với trăng là mối quan hệ chung sống, quan hệ thâm tình khăng khít. Trăng là người bạn đồng hành trên mỗi bước đường gian lao nên trăng hiện diện như là hình ảnh của quá khứ, là hiện thân của kí ức chan hoà tình nghĩa. Người ta cứ đinh ninh về sự bền chặt của mối giao tình ấy, nhưng:

    Từ hồi về thành phố

    quen ánh điện, cửa gương

    vầng trăng đi qua ngõ

    như người dưng qua đường

    Cuộc sống hiện đại với ánh sáng chói loà của ánh điện, cửa gương đã làm lu mờ ánh sáng của vầng trăng. Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa hình ảnh vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa trong quá khứ và vầng trăng “như người dưng qua đường” trong hiện tại. Sự đối lập này diễn tả những đổi thay trong tình cảm của con người. Thủa trước, ta hồn nhiên sống với đồng, với sông, với bể, với gian lao “ở rừng”, khi ấy trăng chan hoà tình nghĩa, thiên nhiên và con người gần gũi, hoà hợp. Bây giờ, thói quen cuộc sống phương tiện đủ đầy khiến ta không còn thấy trăng là tri kỉ, nghĩa tình nữa. Nhà thơ nói về trăng là để nói thế thái, nhân tình.

    Tuy nhiên, cuộc sống hiện đại luôn có những bất trắc. Và chính trong những bất trắc ấy, ánh sáng của quá khứ, của ân tình lại bừng tỏ, là lúc người ta nhận thấy giá trị của quá khứ gian lao mà tình nghĩa, thiếu thốn mà đủ đầy:

    Thình lình đèn điện tắt

    phòng buyn-đinh tối om

    vội bật tung cửa sổ

    đột ngột vầng trăng tròn

    3. Không chỉ là sự thay thế đúng lúc của ánh trăng cho ánh điện, ở đây còn là sự thức tỉnh, bừng ngộ về ý nghĩa của những ngày tháng đã qua, của những cái bình dị của cuộc sống, của tự nhiên, là sức sống vượt ra ngoài không gian, thời gian của tri kỉ, nghĩa tình. Các từ “bật tung”, “đột ngột” diễn tả trạng thái cảm xúc mạnh mẽ, bất ngờ. Có cái gì như thảng thốt, lo âu trong hình ảnh “vội bật tung cửa sổ”. Vầng trăng tròn đâu phải khi “đèn điện tắt” mới có?! Cũng như những tháng năm quá khứ, vẻ đẹp của đồng, sông, bể, rừng không hề mất đi. Chỉ có điều con người có nhận ra hay không mà thôi. Và thế là trong cái khoảnh khắc “thình lình” đối diện với trăng ấy, ân tình xưa “rưng rưng” sống dậy, thổn thức lòng người:

    Ngửa mặt lên nhìn mặt

    có cái gì rưng rưng

    như là đồng là bể

    như là sông là rừng

    Đối diện với trăng là đối diện với chính mình, với con người hiện tại và cả với con người trong quá khứ. Sự đồng hiện thời gian – không gian / trăng – người được thể hiện bằng ngôn ngữ lập thể. Vầng trăng mang ý nghĩa biểu tượng. Mặt trăng đối diện với mặt người, mặt trăng cũng là mặt người, là quá khứ đang sáng trong thực tại, trăng là tri kỉ, ân tình xưa,…

    4. Từ khổ thơ đầu là vầng trăng (4 lần) đến khổ thơ cuối bài là ánh trăng. Ánh trăng bất chợt soi chiếu, thản nhiên và độ lượng, sự im lặng của ánh trăng là sự im lặng của chân lí. Bình dị, mộc mạc nhưng đủ khiến “ta giật mình”. Cái chân lí giản đơn đã thành đạo lí: “Uống nước nhớ nguồn”.

    là mong mỏi con sẽ chắp ước mơ được thấy Bác Hồ của mẹ, khao khát Tự do cho đất nước, Tự do của mẹ, Tự do cho con.

    Câu hát mỗi lúc một bay cao hơn, ước mơ của người mẹ mỗi lúc một lớn hơn, vư­ơn tới những điều đẹp đẽ, cao cả hơn, và niềm tin vững chắc, hi vọng vào t­ương lai cũng theo đó mà bay bổng, mang dáng vóc của anh hùng ca :

    – Mai sau con lớn vung chày lún sân

    – Mai sau con lớn phát mười Ka-lư­i

    – Mai sau con lớn làm người tự do.

    3. Trong sức mạnh “xẻ dọc Trường Sơn” năm xư­a, bư­ớc chân nào là bư­ớc chân của người mẹ Tà-ôi ?! Sức mạnh thần kì ấy bắt nguồn từ những nhọc nhằn, gian khó, từ những ước mơ của các mẹ đấy thôi ! Đất n­ước hài hoà nồng thắm, các mẹ lại hát ru muôn đời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ánh Trăng Trang 155 Sgk Văn 9
  • Soạn Bài Lớp 9: Ánh Trăng
  • Soạn Bài: Ánh Trăng (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Ánh Trăng Ngữ Văn 9 Trang 155 (Ngắn Gọn): Em Có Nhận Xét Gì Về Bố Cục Của Bài Thơ?
  • Các Đề Văn Về Bài Ánh Trăng Của Nguyễn Duy
  • Soạn Bài: Ánh Trăng (Ngắn Nhất)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 9: Ánh Trăng
  • Soạn Bài Ánh Trăng Trang 155 Sgk Văn 9
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Ánh Trăng
  • Soạn Văn 9 Bài Ánh Trăng Vnen
  • Soạn Văn 9 Vnen Bài 12: Ánh Trăng
  • – Nguyễn Duy tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948, quê ở làng Quảng Xá, nay thuộc phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa.

    – Năm 1965, từng làm tiểu đội trưởng tiểu đội dân quân trực chiến tại khu vực cầu Hàm Rồng, một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ trong những năm chiến tranh Việt Nam.

    2. Sự nghiệp văn học

    – Nguyễn Duy làm thơ rất sớm, khi đang còn là học sinh trường cấp 3 Lam Sơn, Thanh Hóa.

    Khái quát tác phẩm Ánh trăng

    – Phần 1: 2 khổ đầu: Hình ảnh ánh trăng gắn bó với tuổi thơ, với những năm tháng gian khổ.

    – Phần 2: 2 khổ tiếp theo: sự xa lạ giữa người và trăng khi tác giả sống ở thành phố

    – Phần 3: 2 khổ cuối: Những cảm xúc của tác giả khi bắt gặp lại trăng và cùng những suy ngẫm của tác giả

    Soạn bài: Ánh trăng (ngắn nhất)

    Câu 1 (trang 157 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1)

    Nhận xét

    Bố cục của bài thơ được sắp xếp theo trình tự thời gian, từ quá khứ đến hiện tại, từng khổ thơ ghi lại dòng thời gian chuyển tiếp từ quá khứ đến hiện tại cuộc sống của tác giả ở thành phố.

    Nhận thấy, khổ thơ làm nên bước ngoặt để tác giả bộc lộ cảm xúc là khổ thơ thứ. Đó khi đối mặt trực tiếp với ánh trăng, ngẩng mặt nhìn lên thấy bao nhiêu là hình ảnh đã từng rất gắn bó với tác giả hiện ra.

    Câu 2 (trang 157 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1)

    Vầng trăng có nhiều tầng ý nghĩa

    – Vầng trăng: vầng trăng của thiên nhiên, vũ trụ

    – Vầng trăng: là người bạn tri kỷ của con người

    – Vầng trăng: soi chiếu, chứng minh tình cảm trong sáng của con người

    Chiều sâu tư tưởng của bài thơ được thể hiện rõ nhất ở khổ thơ cuối. Hình ảnh ánh trăng cứ soi sáng, tròn vành vạnh bao lâu nay, sống, con người lại vô tình đánh mất những giá trị xưa cũ mà thay đổi theo bước đi của thời gian, của cuộc sống. Vì những sự đổi thay và tác động của nhiều yếu tố, mà con người dường như quên mất đi hình ảnh ánh trăng bao lâu nay vẫn như thế. Câu thơ, “đủ cho ta giật mình”, đó là sự nhìn lại của tác giả, như một lời gợi nhắc, ánh trăng gợi ra những liên tưởng và nhắc nhở tác giả về tình nghĩa, về quá khứ đẹp mà tác giả dường như lãng quên. Không chỉ riêng tác giả, mà hình ảnh ánh trăng mang ý nghĩa sâu sắc tình nghĩa con người, nhắc nhở con người đừng bao giờ quên đi những gì mình đã từng có về quá quá khứ tốt đẹp.

    Câu 3 (trang 157 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1)

    Bài thơ triển khai theo trình tự thời gian, từ quá khứ đến hiện tại. Ánh trăng và tác giả cùng xuất hiện trong thời gian quá khứ, và đến hiện tại, sự vật, sự việc nhiều thay đổi, nhưng chỉ con người thay đổi, còn Ánh trăng vẫn giữ trọn hình ảnh soi sáng, tròn vành vạnh như ngày nào

    Âm hưởng bài thơ biến đổi linh hoạt theo cảm xúc, trạng thái của tác giả, khi nhẹ nhàng, khi trầm tư, khi lại thức tỉnh tác giả.

    Câu 4 (trang 157 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1)

    Bài thơ được viết vào năm 1975, tức là sau cuộc kháng chiến chống Mĩ, đất nước ta giành được hòa bình. Bấy giờ, những người chiến sĩ cách mạng nơi rừng núi trở về thành phố. Thành phố, một nơi đầy đủ tiện nghi, đèn điện, con người dường như lãng quên đi những ngày tháng tối tăm gian khó khi chiến đấu ở rừng.

    Bài thơ là lời nhắc nhở, gửi gắm sâu sắc đến tất cả mọi người, đó là không bao giờ được lãng quên đi những ngày tháng vất vả gian lao để chúng ta có được ngày hôm nay. Hơn thế nữa, phải biết nhớ ơn những người đi trước, đã chiến đấu, hi sinh để cho chúng ta một cuộc sống hòa bình, tự do, đây cũng chính là biểu hiện của đạo lí sống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta

    Một thời gian khổ, vất vả trong những ngày tháng chiến đấu, ánh tráng là người bạn gắn bó, là người bạn tri kỷ tâm tình của tôi. Nhưng, kể từ ngày hòa bình đất nước, tôi trở về với phố thị đông vui, với ánh đèn điện khắp ngõ phố, dường như hình ảnh ánh trăng trở nên xa lạ với tôi. Trăng vẫn thế, vẫn ngang qua ngõ mỗi tối, vẫn soi sáng mọi nẻo đường, vẫn tròn vành vạnh và trong sáng,… Hóa ra, tôi đã quá vô tình, cuộc sống nơi thành thị đã thay đổi con người, tôi đã lãng quên đi những ngày đầu gắn bó với trăng, với rừng với núi, với những năm tháng vất vả có nhau của tôi và trăng. Ngẩng mặt nhìn trăng, tôi bỗng giật mình, tôi nhìn thấy quá khứ hiện gần, nhìn thấy tuổi thơ gần gũi, và thấy mình thật vô tình với trăng.

    Kiến thức mở rộng bài Ánh Trăng

    1. Vầng trăng trong quá khứ

    – “Hồi chiến tranh ở rừng” – những năm tháng gian khổ, ác liệt thời chiến tranh,”vầng trăng thành tri kỉ” – trăng là người bạn thân thiết, tri âm tri kỉ, là đồng chí cùng chia sẻ những vui buồn trong chiến trận với người lính – nhà thơ.

    2. Vầng trăng trong hiện tại

    – Hoàn cảnh sống: đất nước hòa bình.

    – “Vầng trăng đi qua ngõ – như người dưng qua đường”:

    + Vầng trăng bây giờ đối với người lính năm xưa giờ chỉ là dĩ vãng, dĩ vãng nhạt nhòa của quãng thời gian xa xôi nào đó.

    – Con người gặp lại vầng trăng trong một tình huống bất ngờ:

    + Tình huống: mất điện, phòng tối om.

    3. Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng

    – Từ “mặt” được dùng với nghĩa gốc và nghĩa chuyển – mặt trăng, mặt người – trăng và người cùng đối diện đàm tâm.

    – Với tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” người đọc cảm nhận sự lặng im, thành kính và trong phút chốc cảm xúc dâng trào khi gặp lại vầng trăng: “có cái gì rưng rưng”. Rưng rưng của những niềm thương nỗi nhớ, của những lãng quên lạnh nhạt với người bạn cố tri; của một lương tri đang thức tỉnh sau những ngày đắm chìm trong cõi u mê mộng mị; rưng rưng của nỗi ân hận ăn năn về thái độ của chính mình trong suốt thời gian qua. Một chút áy náy, một chút tiếc nuối, một chút xót xa đau lòng, tất cả đã làm nên cái “rưng rưng”,cái thổn thức trong sâu thẳm trái tim người lính.

    – Và trong phút giây nhân vật trữ tình nhìn thẳng vào trăng – biểu tượng đẹp đẽ của một thời xa vắng, nhìn thẳng vào tâm hồn của mình, bao kỉ niệm chợt ùa về chiếm trọn tâm tư. Kí ức về quãng đời ấu thơ trong sáng, về lúc chiến tranh máu lửa, về cái ngày xưa hồn hậu hiện lên rõ dần theo dòng cảm nhận trào dâng, “như là đồng là bể, như là sông là rừng”. Đồng, bể, sông, rừng,những hình ảnh gắn bó nơi khoảng trời kỉ niệm.

    – Hình ảnh “trăng cứ tròn vành vạnh” là tượng trưng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung, đầy đặn, bao dung, nhân hậu.

    – Hình ảnh “ánh trăng im phăng phắc” mang ý nghĩa nghiêm khắc nhắc nhở, là sự trách móc trong lặng im. Chính cái im phăng phắc của vầng trăng đã đánh thức con người, làm xáo động tâm hồn người lính năm xưa. Con người “giật mình” trước ánh trăng là sự bừng tỉnh của nhân cách, là sự trở về với lương tâm trong sạch, tốt đẹp. Đó là lời ân hận, ăn năn day dứt, làm đẹp con người.

    4. Giá trị nội dung

    – Ánh trăng của Nguyễn Duy như một lời tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu.

    – Bài thơ có ý nghĩa gợi nhắc, củng cố ở người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ.

    5. Giá trị nghệ thuật

    – Thể thơ 5 chữ, phương thức biểu đạt tự sự kết hợp với trữ tình.

    – Giọng thơ mang tính tự bạch, chân thành sâu sắc.

    – Hình ảnh vầng trăng – “ánh trăng” mang nhiều tầng ý nghĩa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ánh Trăng Ngữ Văn 9 Trang 155 (Ngắn Gọn): Em Có Nhận Xét Gì Về Bố Cục Của Bài Thơ?
  • Các Đề Văn Về Bài Ánh Trăng Của Nguyễn Duy
  • Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Ánh Trăng
  • Đóng Vai Người Lính Trong Bài Thơ Ánh Trăng Kể Lại Câu Chuyện
  • Soạn Bài Ánh Trăng (Ngắn Gọn)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100