Soạn Văn 9 Ngắn Nhất Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 9 Ngắn Nhất Bài: Con Cò
  • Soạn Bài Con Cò (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Con Cò Siêu Ngắn
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Cách Dẫn Trực Tiếp Và Cách Dẫn Gián Tiếp Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Văn 9 Ngắn Nhất Bài: Những Đứa Trẻ
  • Câu 1: Tìm đại ý và bố cục đoạn trích

    Câu 2: Qua đoạn trích tác phẩm, em cảm nhận hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ như thế nào? Theo em, nguồn cảm hứng nào đã chi phối ngòi bút tác giả khi tạo dựng hình ảnh người anh hùng dân tộc này?

    Câu 3: Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân đã được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về lối văn trần thuật ở đây?

    Câu 4: Nêu nhận xét về nghệ thuật trần thuật của đoạn trích này.

    Luyện tập

    Câu 1: Dựa theo tác phẩm, hãy viết một đoạn văn ngắn miêu tả lại chiến công thần tốc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung từ tối 30 Tết đến ngày mồng 5 tháng giêng năm Kỉ Dậu (1789)

    Phần tham khảo mở rộng

    Câu 1: Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật văn bản Hoàng Lê nhất thống chí.

    Câu 2: Sự khác biệt của tác giả khi miêu tả hai cuộc tháo chạy (một của quân tướng nhà Thanh và một của vua tôi Lê Chiêu Thống)? Giải thích vì sao có sự khác biệt đó?

    Câu 1: Đại ý và bố cục đoạn trích:

    Đoạn 1: từ đầu đến “năm Mậu Thân (1788).”: Được tin báo quân Thanh đã chiếm Thăng Long, vua Lê thụ phong, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, tự mình đốc suất đại binh ra Bắc dẹp giặc.

    Đoạn 2: “…tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành…”: cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung đối với quân Thanh.

    Đoạn 3: còn lại: Thất bại thảm hại của quân Tôn Sĩ Nghị và sự thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống.

    Câu 2: Hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ:

    Tài dụng binh chiêu quân: cuộc hành quân thần tốc do vua Quang Trung chỉ huy đến nay vẫn còn làm chúng ta kinh ngạc.

    Tài năng quân sự, điều binh khiển tướng tài tình: Sáng suốt nhận định tình hình, quyết định tiến quân ra Bắc tiêu diệt giặc.

    Hành động mạnh mẽ và quyết đoán: Nhận được tin báo quân Thanh chiếm đóng Thăng Long, liền họp các tướng sĩ, đích thân cầm quân đi ngay.

    Câu 3: Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống:

    Quân tướng nhà Thanh lúc ra đi thì “binh hùng tướng mạnh” sau đó “Chúng đã không còn hồn vía nào để nghĩ đến chuyện chống trả”.

    Tướng Tôn Sĩ Nghị bất tài, hèn nhát nhưng lại kiêu căng tự mãn, trễ nải quân cơ.

    Vua tôi Lê Chiêu Thống Đớn hèn, nhục nhã trước quân Thanh, tháo chạy thục mạng, cướp cả thuyền của dân mà qua sông.

    Câu 4: Nghệ thuật trần thuật của đoạn trích:

    Cảnh tháo chạy của quân tướng nhà Thanh được miêu tả dưới cái nhìn hả hê, mãn nguyện của người thắng trận trước sự thất bại thảm hại của kẻ thù cướp nước: âm hưởng nhanh, gợi tả sự tán loạn, tan tác…

    Cảnh bỏ chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống được miêu tả dài hơn, âm hưởng chậm hơn, toát lên vẻ chua xót, ngậm ngùi.

    Luyện tập

    Câu 1: Đoạn văn tham khảo

    Ngày 30 tháng tháng chạp, vua Quang Trung hạ lệnh tiến quân. Binh linh đều nghiêm chỉnh đội ngũ mà đi. Khi đến núi Tam Điệp, Sở và Lân ra đón xin chịu tội. Vua Quang Trung phân xử xong thì cho mở tiệc khao quân, hẹn đến ngày mồng 7 sẽ vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng chiến thắng. Vua Quang Trung cho chia quân thành 5 đạo, đúng ngày gióng trống khua chiêng lên đường ra Bắc. Khi quân ra đến sông Gián, nghĩa binh trấn thủ ở đó tan vỡ chạy trước. Khi đến sông Thanh Quyết, quân Thanh do thám đi từ xa thấy bóng cũng chạy nốt, vua cho người đuổi theo đến Phú Xuyên thì bắt sống được hết không để tên nào chạy thoát nên quân Thanh ở Hà Hồi và Ngọc Hồi vẫn không hay biết gì. Nửa đêm ngày mồng 3 tháng Giêng năm Kỉ Dậu (1789), vua Quang Trung tiến đánh đồn Hà Hồi. Ông cho quân vây kín bốn xung quanh rồi bắc loa truyền gọi. Tiếng quân lính luân phiên dạ ran vang vọng khắp không gian khiến quân số của ta như có thêm hàng vạn người. Khí thế quân Tây Sơn mạnh hơn bội phần khiến cho địch rụng rời sợ hãi, liền xin ra hàng, vũ khí bị quân ta lấy hết. Vua Quang Trung chiếm được thành Hà Hồi mà không cần phải khởi dụng binh đao. Tiến vào trận Ngọc Hồi, vua Quang Trung sai người lấy sáu chục tấm ván, ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất thảy được hai mươi bức rồi chọn những người lính khỏe mạnh nhất, cứ mười người khênh một bức, lưng giắt dao ngắn, hai mươi người khác cầm binh khí theo sát phía sau, dàn trận thành chữ nhất. Vua cưỡi voi đốc thúc sát phía sau, đến mồng 5 tháng giêng thì đến sát thành Ngọc Hồi. Quân ta khí thế ngút trời, ai nấy đều quyết tâm cao độ tiến vào trận chiến sống mái với kẻ thù. Cuộc chiến ngay từ mở đầu đã vô cùng căng thẳng. Quân Thanh từ trong thành Thăng Long cho nổ súng bắn ra, nhằm vào đội quân nhưng không trúng người nào. Nhân có gió bắc, quân Thanh đã dùng ống phun khói lửa ra, khói tỏa mù trời, cách trong gang tấc không nhìn thấy gì hòng làm quân ta rối loạn, mất tinh thần. Nhưng đúng lúc ấy, trời lại nổi gió nam, thánh ra quân Thanh lại lãnh đủ, tự làm hại mình. Quân Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của vua Quang Trung, gấp rút tiến quân, vừa che chắn, vừa xông thẳng lên phía trước. Khi hai bên đã chạm nhau thì quăng ván xuống đất, cầm dao ngắn xông lên chém bừa, những bính linh theo sát phía sau cũng nhất tề xông tới mà đánh. Tiếng gươm giáo va nhau, tiếng người vang đội, tiếng hò hét vang trời. Vua Quang Trung sừng sững ngồi trên voi chỉ huy trận đánh, tiếng vua vang rền như tiếng sấm khiến cho quân ta càng thêm vững vàng, xông tới mà đánh. Quân Thanh không chống đỡ nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Tên thái thú lúc bấy giờ là Sầm Nghi Đống tự thắt cổ mà chết. Quân Tây Sơn được thế chém giết lung tung, thây nằm đầy đống, mái chảy thành suối, quân Thanh đại bại. Giữa trưa hôm ấy, vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long rồi kéo quân vào thành. Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao, rồi nhằm hướng bắc mà chạy. Vua tôi Lê Chiêu Thống cũng hốt hoảng chạy trốn.

    Phần tham khảo mở rộng

    Câu 1:

    Nội dung:

    Lịch sử hào hùng của dân tộc ta.

    Hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh.

    Sự thảm hại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống.

    Nghệ thuật:

    Kể chuyện xen kẽ miêu tả một cách sinh động cụ thể, gây được ấn tượng.

    Khắc họa hình tượng Nguyễn Huệ một cách rõ nét, mang đậm màu sắc sử thi.

    Kể lại các sự kiện một cách rành mạch, chân thực, khách quan, kết hợp yếu tố miêu tả với biện pháp nghệ thuật so sánh, đối lập.

    Miêu tả hành động, lời nói của nhân vật, từng trận đánh và những mưu lược tính toán, thế đối lập giữa hai đội quân một cách cụ thể.

    Câu 2:

    Câu 1: Bố cục đoạn trích được chia làm 3 phần: “từ đầu đến “năm Mậu Thân (1788).” (Được tin báo quân Thanh đã chiếm Thăng Long, vua Lê thụ phong, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, tự mình đốc suất đại binh ra Bắc dẹp giặc); “…tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành…” (cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung đối với quân Thanh) và đoạn còn lại (Thất bại thảm hại của quân Tôn Sĩ Nghị và sự thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống)

    Câu 2: Hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ: “cuộc hành quân thần tốc”, ” Sáng suốt nhận định tình hình, quyết định tiến quân ra Bắc”, “lên ngôi hoàng đế, đốc suất đại binh ra Bắc dẹp giặc”

    Câu 3: Đoạn văn miêu tả chân thực tình cảnh khốn quẫn của vua Lê Chiêu Thống và sự bại của quân tướng nhà Thanh là lúc ra đi thì “binh hùng tướng mạnh”, “không còn hồn vía nào để nghĩ đến chuyện chông trả” (Tướng nhà Thanh) và Tháo chạy thục mạng, cướp cả thuyền của dân mà qua sông (Vua Lê Chiêu Thống).

    Câu 4: Tác giả thuật lại một cách rất chân thực sâu sắc cho người đọc thấy được như mình đang ở trong cuộc chiến đó, trong niêm vui chiến thắng và cũng cho thấy được nỗi căm phẫn khi đất nước rơi vào tay những kẻ bất đức qua “Cảnh tháo chạy của quân tướng nhà Thanh và Cảnh bỏ chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống”.

    Luyện tập

    Câu 1: Các ý chính tham khảo

    Ngày 30 tháng tháng chạp, vua Quang Trung hạ lệnh tiến quân

    Khi đến núi Tam Điệp, Sở và Lân ra đón xin chịu tội. Vua Quang Trung phân xử xong thì cho mở tiệc khao quân, hẹn đến ngày mồng 7 sẽ vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng chiến thắng.

    Chia quân thành 5 đạo, đúng ngày gióng trống khua chiêng lên đường ra Bắc.

    Khi quân ra đến sông Gián, nghĩa binh trấn thủ ở đó tan vỡ chạy trước

    Khi đến sông Thanh Quyết, quân Thanh do thám đi từ xa thấy bóng cũng chạy nốt, vua cho người đuổi theo đến Phú Xuyên thì bắt sống được hết không để tên nào chạy thoát nên quân Thanh ở Hà Hồi và Ngọc Hồi vẫn không hay biết gì.

    Nửa đêm ngày mồng 3 tháng Giêng năm Kỉ Dậu (1789), vua Quang Trung tiến đánh đồn Hà Hồi. Ông cho quân vây kín bốn xung quanh rồi bắc loa truyền gọi.

    Đến mồng 5 tháng giêng thì đến sát thành Ngọc Hồi. Cuộc chiến ngay từ mở đầu đã vô cùng căng thẳng. Quân Thanh từ trong thành Thăng Long cho nổ súng bắn ra, nhằm vào đội quân nhưng không trúng người nào.

    Quân Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của vua Quang Trung, gấp rút tiến quân, vừa che chắn, vừa xông thẳng lên phía trước.

    Quân Thanh không chống đỡ nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Tên thái thú lúc bấy giờ là Sầm Nghi Đống tự thắt cổ mà chết. Quân Tây Sơn được thế chém giết lung tung, thây nằm đầy đống, mái chảy thành suối, quân Thanh đại bại.

    Giữa trưa hôm ấy, vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long rồi kéo quân vào thành.

    Phần tham khảo mở rộng

    Câu 1: Nội dung: lịch sử hào hùng của dân tộc ta, tái hiện chân thực hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, sự thảm hại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống.

    Nghệ thuật: Kể chuyện xen kẽ miêu tả, Khắc họa hình tượng Nguyễn Huệ một cách rõ nét, mang đậm màu sắc sử thi, kể lại các sự kiện một cách rành mạch, chân thực, miêu tả hành động, lời nói của nhân vật.

    Câu 2: Tuy cùng miêu tả cuộc tháo chạy, các chi tiết đều là tả thực nhưng âm hưởng khác nhau, cuộc tháo chạy của quân tướng nhà Thanh nhanh, mạnh, hối hả (hả hê, sung sướng), vua tôi Lê Chiêu Thống có nhịp điệu chậm rãi (ngậm ngùi, chua xót)

    Câu 1: Bố cục 3 phần:

    1. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, tự mình đốc suất đại binh ra Bắc dẹp giặc (từ đầu đến “năm Mậu Thân (1788)”)

    2. Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung đối với quân Thanh (“…tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành…”)

    3. Thất bại thảm hại của quân Tôn Sĩ Nghị và sự thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống

    Câu 2: Vua Quang Trung – Nguyễn Huệ được xây dựng chân thực, sinh động với hình ảnh người anh hùng vừa có trí tuệ sáng suốt, nhạy bén có tài dùng binh như thần, là một người đóng góp công lao vô cùng to lớn cho đất nước.

    Câu 3: Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân cho thấy sự thất bại, bất tài, hèn nhát cùng tình cảnh khốn quẫn của vua Lê Chiêu Thống khi phải cướp cả thuyền của dân mà qua sông, tháo chạy thục mạng.

    Luyện tập

    Câu 1: Bài văn tham khảo

    Sau khi nghe tin xong thì tức giận lắm, ông giận đến nỗi mắt ông có thể đốt cháy mọi vật. Ông họp các tướng sĩ lại và tự mình thân chinh đi đánh giặc. Ngày 30 tháng tháng chạp, vua Quang Trung hạ lệnh tiến quân. Quang Trung hạ lệnh xuất quân, tự mình đốc suất binh lính. Đêm 30 Tết, quân ta vượt sông Gián tiêu diệt toàn bộ quân địch, không để cho tên nào chạy thoát nên những đạo quân Thanh đóng ở Thăng Long và Ngọc Hồi không hay biết gì. Nửa đêm ngày mồng 3 Tết, sau khi đi được hai ngày ba đêm thì đã tới làng Ngọc Hồi. Mờ sáng ngày mồng 5, quân ta tiến sát đến Hà Hồi. Đây là đồn quan trọng nhất của địch với khoảng hai mươi vạn quân tinh nhuệ . Cuộc chiến ngay từ mở đầu đã vô cùng căng thẳng. Quân Thanh từ trong thành Thăng Long cho nổ súng bắn ra, nhằm vào đội quân nhưng không trúng người nào.

    Quân Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của vua Quang Trung, gấp rút tiến quân, vừa che chắn, vừa xông thẳng lên phía trước. Quân Thanh không chống đỡ nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Tên thái thú lúc bấy giờ là Sầm Nghi Đống tự thắt cổ mà chết. Quân Tây Sơn được thế chém giết lung tung, thây nằm đầy đống, mái chảy thành suối, quân Thanh đại bại. Giữa trưa hôm ấy, vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long rồi kéo quân vào thành. Tôn Sĩ Nghị nghe tin cấp báo thì bàng hoàng mất vía, thật là tướng từ trên trời rơi xuống, quân chui dưới đất lên. Sợ mất mặt, Tôn Sĩ Nghị vội vã bỏ trốn quân sĩ nghe tin thì hoảng hốt tranh nhau qua cầu, xô đẩy nhau rơi xuống nước mà chết. Vua tôi Lê Chiêu Thống cũng hốt hoảng chạy trốn.

    Phần tham khảo mở rộng

    Câu 1: Nội dung và nghệ thuật

    Câu 2: Tác giả là những cựu thần của nhà Lê, trước sự sụp đổ của một vương triều mình từng phụng thờ nay đã sụp đổ, dù biết đây là kết cục không thể tránh khỏi nhưng cũng không tránh khỏi sự mủi lòng, thương cảm. Vì vậy đã miêu tả cuộc tháo chạy khác nhau:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Ngắn Nhất)
  • Bài Soạn Siêu Ngắn: Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • Soạn Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Đoàn Thuyền Đánh Cá (Siêu Ngắn Gọn)
  • Soạn Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Hồi Thứ Mười Bốn)
  • Soạn Bài Lớp 9: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Ánh Trăng Của Nguyễn Duy
  • Soạn bài Hoàng Lê nhất thống chí (Hồi thứ mười bốn – Ngô gia văn phái)

    Bố cục:

    + Phần 1 (từ đầu đến 25 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788): quân Thanh kéo vào xâm lược nước ta

    + Phần 2 (tiếp… rồi kéo vào thành): chiến thắng thần tốc của đạo quân dưới sự dẫn dắt tài ba, trí lược của vua Quang Trung.

    + Phần 3 (còn lại): Quân Thanh đại bại và tình cảnh thảm hại vua Lê Chiêu Thống

    Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1 (trang 72 sgk ngữ văn 9 tập 1)

    Đại ý: Vua Nguyễn Huệ thần tốc tiến quân ra Bắc dẹp giặc Thanh, vua tôi Lê Chiêu Thống bán nước bỏ chạy theo giặc.

    – Đoạn 1 (từ đầu… năm Mậu Thân): Được tin báo quân Thanh chiếm Thăng Long, Nguyễn Huệ lên ngôi vua, thân chinh cầm quân dẹp giặc.

    – Đoạn 2: (tiếp… nỗi kéo vào thành): Cuộc hành quân thần tốc, chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung

    – Đoạn 3 (còn lại): sự đại bại của quân Thanh và tình cảnh thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống

    + Biết dùng người đúng sở trường, ở đoản, đối đãi công bằng.

    Câu 2 (trang 72 sgk ngữ văn 9 tập 1)

    Hình tượng Quang Trung- Nguyễn Huệ được xây dựng chân thực, sinh động với hành động trí tuệ, tài điều binh khiển tướng, mưu lược của vị anh hùng dân tộc

    – Hành động mạnh mẽ, dứt khoát:

    + Nhận được tin báo quân Thanh chiếm đóng Thăng Long, liền họp tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay

    + Lên ngôi hoàng đế, đốc xuất đại binh ra Bắc dẹp giặc

    + Trưng cầu ý kiến của người hiền tài (hỏi Nguyễn Thiếp)

    + Tuyển mộ quân lính ở Nghệ An, duyệt binh, ra phủ dụ, chỉ ra kế hoạch đánh giặc

    – Trí tuệ sáng suốt, mẫn cán, điều binh khiển tướng tài tình

    + Chỉ ra tình thế, quyết định tiến quân tiêu diệt giặc

    + Lời lẽ chặt chẽ, sắc bén, kích thích được tinh thần tự tôn dân tộc của tướng sĩ

    + Vạch kế hoạch đánh giặc, sử dụng chiến lược, chiến thuật hợp lí, độc đáo (cách hành quân thần tốc, cách chống lại súng giặc…)

    + Biết dùng người dùng sở trường, ở đoản, đối đãi công bằng

    – Ý chí độc lập, tầm nhìn xa trông rộng: mạnh bạo, tự tin trong kế sách đánh giặc

    – Hình tượng vua Quang Trung được miêu tả với đầy đủ phẩm chất của vị anh hùng, mang vẻ đẹp oai phong lẫm liệt

    Tác giả Ngô gia trung thành với nhà Lê, nhưng vẫn ca ngợi vua Quang Trung bởi tinh thần dân tộc, sự tài tình, tấm lòng yêu nước của Nguyễn Huệ

    Câu 4 (trang 72 sgk ngữ văn 9 tập 1)

    Bút pháp của tác giả khi miêu tả hai cuộc tháo chạy (của quân tướng nhà Thanh, của vua tôi Lê Chiêu Thống)

    + Cảnh tháo chạy của quân tướng nhà Thanh: thảm hại, hèn hạ trước sự miêu tả dưới cái nhìn hả hê, mãn nguyện của người thắng trận

    + Âm hưởng nhanh, dồn dập gợi tả chiến thắng vang dội trước quân giặc khiến chúng tan tác, thảm hại…

    + Cảnh bỏ chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống được miêu tả dài hơn, âm hưởng chậm hơn, toát lên vẻ chua xót, ngậm ngùi

    – Có sự khác biệt là do: sự tôn trọng tính khách quan khi viết sử, nhưng cũng không thể phủ nhận thái độ chủ quan khi quan sát, nhìn nhận với quân tướng nhà Thanh

    + Tác giả miêu tả với tâm thế khác với khi miêu tả cuộc tháo chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống- đó là vương triều mình phụng thờ

    Luyện tập

    Sau khi lên ngôi vua, vào tối 30 Tết vua Quang Trung đã lập tức lên đường ra Bắc. Quân ra đến sông Gián làm tan vỡ nghĩa binh trấn thủ. Nửa đêm mồng 3 tháng giêng, nghĩa quân bao vây Hà Hồi. Mờ sáng mồng 5 tiến sát đồn Ngọc Hồi đánh bại quân Thanh làm nên chiến thắng oanh liệt.

    Bài giảng: Hoàng Lê nhất thống chí – Cô Nguyễn Dung (Giáo viên VietJack)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Phong Cách Hồ Chí Minh (Lê Anh Trà)
  • Soạn Bài Lớp 9: Đồng Chí Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 9 Học Kì I
  • Soạn Bài Đồng Chí Lớp 9
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Đồng Chí
  • Soạn Bài Lớp 9: Cảnh Ngày Xuân
  • Soạn Văn 9 Siêu Ngắn: Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Lớp 9 Ngắn Gọn
  • Soạn Bài: Bài Học Đường Đời Đầu Tiên (Ngắn Nhất)
  • Soạn Văn 6 Ngắn Nhất Bài: Bài Học Đường Đời Đầu Tiên
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Lớp 6 Bài Bài Học Đường Đời Đầu Tiên Ngắn Nhất Baocongai.com
  • Tóm Tắt Bài Học Đường Đời Đầu Tiên Hay Nhất, Ngắn Nhất (4 Mẫu).
  • Ngoài 2 bản Soạn bài Chi tiết và Ngắn nhất, các thầy cô giáo tại TOPLOIGIAi giới thiệu đến các bạn thêm bản Soạn bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh siêu ngắn gọn, hi vọng bản soạn văn 9 siêu ngắn sẽ giúp các bạn chuẩn bị bài trước khi đến lớp và nắm vững nội dung bài học dễ dàng nhất

    Soạn bài: Hoàng Lê nhất thống chí (siêu ngắn gọn)

    Ý nghĩa nhan đề

    Hướng dẫn Soạn bài

    Phần 1 (từ đầu … năm Mậu Thân (1788)): Nguyễn Huệ cầm quân ra Bắc giết giặc khi nghe tin quân Thanh sang Thăng Long cướp thành

    Phần 2( tiếp theo…rồi kéo vào thành): Cuộc chiến đấu thần tốc và thắng lợi vẻ vang của Quang Trung

    Phần 3 phần còn lại : thất bại tê tái của nhà Thanh và sự nhục nhã của vua tôi Lê Chiêu Thống

    Nguyễn Huệ:

    + Là vị tướng quyết đoán, mạnh mẽ, hành động dứt khoát, không chút do dự:

    – Nghe tin giặc đến chiếm Thăng Lỏng, không tỏ ra sợ hãi, nao núng ý chí mà câm quân ra trận

    – Lên ngôi vua để trấn an lòng dân, chiêu mộ binh sĩ

    – Tế cáo trời đất, gặp gỡ cống sĩ

    – Tiến hành duyệt binh tại Nghệ An, ra phủ dụ, kiên quyết thực hiện hoạch

    định

    + Là vị tướng có trí tuệ anh minh, nhạy bén, sáng suốt:

    – Có khả năng phân tích rõ ưu thế của ta và đich, biết nhìn nhận tình hình, nắm chắc thời cuộc

    – Lời phủ dụ có lý, có tình, cảm kích quân dân

    – Biết cách dùng người, chọn người

    + Biết nhìn xa trông rộng:

    – lập các kế hoạch tiến đánh để thực hiện

    + Vị tướng lẫm liệt, dũng cảm:

    – xông pha chiến trận không sợ hãi

    – tinh thần, khí thế và sức mạnh của nghĩa quân khiến giặc lung lay

    – giành chiến thắng thần tốc

    Nguồn cảm hứng từ việc tôn trọng sự thật lịch sử và lòng tự hào về người hùng dân tộc.

    + Nhà Thanh thất bại thảm hại:

    – Sầm Nghi Đống chọn tự vẫn, sắt cổ chết để kết liễu đời mình

    – Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy, sợ mất mật

    – Quan lính thì tan tác, chết khắp nơi, máu chảy thành suối, bỏ chạy trong sợ hãi, khổ sở

    + Vua tôi Lê Chiêu Thống:

    – Vì lợi ích riêng mà bán đứng quốc gia mình

    – Vội vàng đưa thái hậu chạy trốn bán sống bán chết

    – Cướp thuyền dân mà qua sông, nhịn đói mấy ngày liền

    – Cạo đầu đổi dạng để trốn chui, trốn lủi

    – Chết nhục nhã nơi xứ người

    + Cuộc tháo chạy của tướng sĩ nhà Thanh được miêu tả bằng nhịp điệu nhanh mạnh, thể hiện sự hối hả, dồn dập, trong từng lời cảm nhận được sự hả hê đầy sung sướng của tác giả trước thạm bại của quân cướp nước

    + Cuộc chạy trốn của vua tôi Lê Chiêu Thống, nhịp điệu có phần chậm hơn thể hiện sự chua xót, ngậm ngùi của tác giả trước kết cục bi thương của vương triều từng phụng sự.

    Nghệ thuật:

    + Miêu tả sinh động, cụ thể, chân thực, ngôn ngữ chọn lọc

    + Hình ảnh đặc sắc, chị tiết tinh tế, gợi cảm

    + Kết hợp tự sự, miêu tả

    + Giọng điệu linh hoạt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 7 Ngắn Nhất Bài: Tiếng Gà Trưa
  • Soạn Bài: Sài Gòn Tôi Yêu (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài: Sài Gòn Tôi Yêu (Ngắn Nhất)
  • Soạn Văn 7 Ngắn Nhất Bài: Sài Gòn Tôi Yêu
  • Soạn Văn 11 Ngắn Nhất Bài: Tràng Giang
  • Bài Soạn Lớp 9: Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Chương Trình Ngữ Văn 9
  • Soạn Bài Lớp 9: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Bài Soạn Lớp 9: Tổng Kết Về Từ Vựng (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Lớp 9: Tổng Kết Về Từ Vựng
    • Ngô gia văn phái – Nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì, hai tác giả chính là: Ngô Thì Chí và Ngô Thì Du.

    2. Tác phẩm:

    • Hồi thứ 14 của tác phẩm.
    • Tác phẩm viết bằng chữ Hán ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh trả lại Bắc Hà cho vua Lê
    • Tác phẩm có thể được xem là cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo lối chương hồi ( 17 hồi ).
    • Thể loại: Tiểu thuyết lịch sử
    • Phương thức biểu đạt: Tự sự
    • Bố cục: 3 phần
      • Phần 1: Từ đầu…ra Bắc: Quang Trung chẩn bị tiến quân ra Bắc
      • Phần 2: Tiếp đó…vào thành: Quang Trung đại phá quân Thanh
    • Tóm tắt bài viết:

    Quân Thanh kéo vào Thăng Long, tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở lui quân về vùng núi Tam Điệp. Được tin Quang Trung rất giận, bèn họp tướng sĩ định thân chinh cầm quân đi ngay. Nhưng nghe mọi người đến họp khuyên Ông đã lên ngôi vua ở Phú Xuân, tự đốc xuất đại binh nhằm ngày 25 tháng Chạp năm 1788 tiến quân ra Bắc diệt Thanh. Dọc đường vua Quang Trung cho kén thêm quân lính, mở cuộc duyệt binh lớn, chia quân thành các đạo, chỉ dụ tướng lĩnh, mở tiệc khao quân vào ngày 30 tháng Chạp. Hẹn đến ngày mùng 7 Tết thắng giặc mở tiệc ăn mừng ở Thăng Long. Đội quân của Quang Trung đánh đến đâu thắng đến đấy, khiến quân Thanh đại bại. Ngày mùng 3 Tết quân Tây Sơn công phá đồn Hà Hồi, sáng sớm ngày mùng 5 tiến sát đồn Ngọc Hồi, trưa mùng 5 Tết tiến binh đến Thăng Long. Tướng Thanh là Tôn Sĩ Nghị vội vã tháo chạy về nước, vua Lê Chiêu Thống cùng gia quyến vội vã chạy trốn theo.

    Trả lời:

    • Đại ý của bài là: Đoạn trích miêu tả chiến thắng lừng lẫy của vua Quang Trung, sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận lũ vua quan phản nước, hại dân.
    • Bố cục đoạn trích:
      • Phần 1: Từ đầu…ra Bắc: Quang Trung chẩn bị tiến quân ra Bắc
      • Phần 2: Tiếp đó…vào thành: Quang Trung đại phá quân Thanh

    Qua đoạn trích tác phẩm, em cảm nhận hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ như thế nào? Theo em, nguồn cảm hứng nào đã chi phối ngòi bút tác giả khi tạo dựng hình ảnh người anh hùng dân tộc này?

    Trả lời:

    Hình tượng Quang Trung – Nguyễn Huệ được xây dựng chân thực, sinh động với hành động, trí tuệ, tài điều binh khiển tướng, mưu lược… của một vị anh hùng dân tộc:

    • Hành động mạnh mẽ, quyết đoán:
      • Tiếp được tin báo quân Thanh chiếm đóng Thăng Long, liền họp các tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay.
      • Lên ngôi hoàng đế, đốc suất đại binh ra Bắc dẹp giặc.
      • Gặp Nguyễn Thiếp để hỏi cơ mưu.
      • Tuyển mộ quân lính ở Nghệ An, duyệt binh, phủ dụ quân sĩ, lên kế hoạch tiến quân đánh giặc.
    • Trí tuệ sáng suốt, mẫn cán, điều binh khiển tướng tài tình:
      • Phân tích tình hình, quyết định tiến quân tiêu diệt giặc.
      • Lời lẽ sắc bén, chặt chẽ, kích thích được tinh thần tự tôn dân tộc của tướng sĩ: lời phủ dụ.
      • Vạch kế hoạch đánh giặc, sử dụng chiến lược, chiến thuật hợp lí, độc đáo (cách hành quân thần tốc, cách chống lại súng của giặc, chiến thuật nghi binh…)
      • Biết dùng người đúng sở trường, ở đoản, đối đãi công bằng.
    • Ý chí quyết chiến quyết thắng, tầm nhìn xa trông rộng: mạnh bạo, tự tin trong kế sách đánh giặc, tính toán trước sau chu toàn (trước khi đánh giặc đã tính đến cả đối sách với giặc sau khi chiến thắng)…

    Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân đã được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về lối văn trần thuật ở đây?

    Trả lời:

    Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân đã được miêu tả:

    • Tôn Sĩ Nghị “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặt áo giáp chuồn trước qua cầu phao”
      • Quân lính “run rời sợ hãi, bỏ chạy tán loạn, xéo lên nhau mà chết”
      • “Quân sĩ các doanh – nghe tin hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu, xô đẩy nhau rơi xuống sông… nước sông Nhị Hà tắc nghẽn không chạy được nữa…”.
    • Số phận của bọn vua tôi phản dân, hại nước cũng thảm hại không kém:
      • Lê Chiêu Thống vì lợi ích của dòng họ, vị thế nhà Lê mà trở thành những kẻ phản động, cõng rắn cắn gà nhà, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc.
      • Đớn hèn nhục nhã trước quân Thanh.
      • “chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền dân qua sông, mấy ngày không ăn”

    Đoạn văn miêu tả chân thực tình cảnh khốn quẫn của vua Lê Chiêu Thống, nhưng tác giả gửi gắm ở đó một chút cảm xúc ngậm ngùi của người bề tôi cũ.

    Trả lời:

    Nghệ thuật trần thuật của đoạn trích này thể hiện như sau:

    Cảnh tháo chạy của quân tướng nhà Thanh được miêu tả dưới cái nhìn hả hê, mãn nguyện của người thắng trận trước sự thất bại thảm hại của kẻ thù cướp nước: âm hưởng nhanh, gợi tả sự tán loạn, tan tác…

    Cảnh bỏ chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống được miêu tả dài hơn, âm hưởng chậm hơn, toát lên vẻ chua xót, ngậm ngùi.

    Việc tác giả ở đây thuật lại một cách rất chân thực sâu sắc cho người đọc thấy được như mình đang ở trong cuộc chiến đó, trong niêm vui chiến thắng và cũng cho thấy được nỗi căm phẫn khi đất nước rơi vào tay những kẻ bất đức. Cách thuật lại một cách rất thật như vậy cho thấy ngòi bút của tác giả không né tránh những điều đau thương hay thất bại của quân dân mà nhìn thẳng vào đó để biết được thực tế và có cách đối diện với thực tế đó. Đó cũng là tình cảm chân thực của tác giả thể hiện qua từng câu văn.

    Dựa theo tác phẩm, hãy viết một đoạn văn ngắn miêu tả lại chiến công thần tốc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung từ tối 30 Tết đến ngày mồng 5 tháng giêng năm Kỉ Dậu (1789)

    Trả lời:

    Chỉ trong vòng chưa tới mười ngày mà năm đạo quân dưới sự chỉ đạo của vua Quang Trung đã tạo nên chiến thắng thần tốc, dẹp tan quân Thanh, khiến vua tôi Lê Chiêu Thống phải bỏ trốn trong tình cảnh thảm hại. Trước tiên, quân của vua Quang Trung tấn công nghĩa binh trấn thủ ở sông Gián, bắt sống không để sót một tên, ngăn chúng báo tin cho những đạo quân Thanh ở Hà Hồi và Ngọc Hồi. Nửa đêm ngày mồng 3 tháng Giêng năm Kỉ Dậu, vua Quang Trung cùng binh lính vây chiếm làng Hà Hội mà không cần đổ máu, tước hết khí giới và lương thực của kẻ thù. Mờ sáng ngày mồng 5, vua Quang Trung cho quân dàn trận chữ nhất, phòng thủ, tấn công đều chặt chẽ, cộng với kế nghi binh, bủa vây tứ phía, tiến sát đồn Ngọc Hồi. Nhờ vào trí lược bày binh bố trận của vua Quang Trung, sự đồng lòng, dũng cảm của binh lính, cùng với sự giúp sức của trời đất, quân Thanh đại bại. Giữa trưa hôm ấy, vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành, vua tôi nhà Lê bất ngờ, tháo chạy trong tình cảnh tủi nhục, thảm hại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Unit 3 Lớp 9: Language Focus
  • Giáo Án Anh Văn Lớp 9
  • Unit 1 Lớp 9: Language Focus
  • Soạn Văn 9 Ngắn Nhất Bài: Truyện Kiều Của Nguyễn Du
  • Soạn Văn 9: Chiếc Lược Ngà
  • Soạn Bài Lớp 9: Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Văn Ánh Trăng Của Nguyễn Duy
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Ánh Trăng (Nguyễn Duy)
  • Soạn Văn 9: Truyện Kiều Của Nguyễn Du
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 17 Bài 72, 73, 74
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 18 Bài 80, 81, 82
  • Soạn bài: Hoàng Lê nhất thống chí

    Soạn bài Hoàng Lê nhất thống chí thuộc môn ngữ văn lớp 9, học kì 1 do Ngô gia văn phái sáng tác. Soạn bài mẫu môn ngữ văn lớp 9 này được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về nội dung và ý nghĩa của hồi thứ mười bốn Hoàng Lê nhất thống chí để chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất.

    (Hồi thứ mười bốn)

    Ngô gia văn phái

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

    1. Hồi thứ mười bốn là một trong những phần hay nhất của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí. Qua hồi này, tác giả đã dựng lên hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ và sự thất bại thảm hại tất yếu của bọn xâm lược và lũ vua quan phản nước, hại dân một cách chân thực, sinh động. Nội dung này được cụ thể bằng những ý chính trong ba đoạn sau:

    • Đoạn từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân (1788).”: Được tin báo quân Thanh đã chiếm Thăng Long, vua Lê thụ phong, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, tự mình đốc suất đại binh ra Bắc dẹp giặc.
    • Đoạn từ “Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh” cho đến “vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành…”: cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung đối với quân Thanh.
    • Đoạn từ “Lại nói, Tôn Sĩ Nghị và vua Lê” cho đến hết: Thất bại thảm hại của quân Tôn Sĩ Nghị và sự thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống.

    2. Hình tượng Quang Trung – Nguyễn Huệ được xây dựng chân thực, sinh động với hành động, trí tuệ, tài điều binh khiển tướng, mưu lược… của một vị anh hùng dân tộc:

    Hành động mạnh mẽ, quyết đoán:

    • Tiếp được tin báo quân Thanh chiếm đóng Thăng Long, liền họp các tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay;
    • Lên ngôi hoàng đế, đốc suất đại binh ra Bắc dẹp giặc;
    • Gặp Nguyễn Thiếp để hỏi cơ mưu;
    • Tuyển mộ quân lính ở Nghệ An, duyệt binh, phủ dụ quân sĩ, lên kế hoạch tiến quân đánh giặc;

    Trí tuệ sáng suốt, mẫn cán, điều binh khiển tướng tài tình:

    • Phân tích tình hình, quyết định tiến quân tiêu diệt giặc;
    • Lời lẽ sắc bén, chặt chẽ, kích thích được tinh thần tự tôn dân tộc của tướng sĩ: lời phủ dụ;
    • Vạch kế hoạch đánh giặc, sử dụng chiến lược, chiến thuật hợp lí, độc đáo (cách hành quân thần tốc, cách chống lại súng của giặc, chiến thuật nghi binh…);
    • Biết dùng người đúng sở trường, ở đoản, đối đãi công bằng.

    Ý chí quyết chiến quyết thắng, tầm nhìn xa trông rộng: mạnh bạo, tự tin trong kế sách đánh giặc, tính toán trước sau chu toàn (trước khi đánh giặc đã tính đến cả đối sách với giặc sau khi chiến thắng)…

    Hình tượng vua Quang Trung đã được miêu tả với đầy đủ những phẩm chất của một vị anh hùng, mang vẻ đẹp oai phong lẫm liệt. Tác giả Ngô gia văn phái vốn trung thành với nhà Lê mà vẫn viết về vua Quang Trung đầy tinh thần ngợi ca như vậy là vì họ đứng trên tinh thần dân tộc mà phản ánh. Nhờ vậy, càng tạo ra cho tác phẩm sức thuyết phục, tính chân thực cao, chứng tỏ tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử. Đây cũng là điểm đặc sắc của thể loại tiểu thuyết lịch sử.

    3. Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân:

    Quân tướng nhà Thanh:

    • Tôn Sĩ Nghị bất tài, không nắm được tình hình thực tế, kiêu căng tự mãn, trễ nải quân cơ: “chỉ chăm chú vào yến tiệc, vui mừng, không hề lo chi đến việc bất trắc; khi quân Tây Sơn đánh đến thì “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao”…
    • Quân tướng hèn nhát, thảm bại: khi nghe tiếng quân Tây Sơn, quân Thanh ở trong đồn Hạ Hồi “ai nấy rụng rời sợ hãi, liền xin ra hàng”; ở đồn Ngọc Hồi quân thì “bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết”, tướng thì tự thắt cổ chết; thấy nghi binh thì “đều hết hồn hết vía, vội trốn”; khi nghe tin Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy “đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều. Lát sau cầu lại bị đứt, quân lính đều rơi xuống nước, đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa.”…

    Vua tôi Lê Chiêu Thống:

    • Vì lợi ích của dòng họ, vị thế nhà Lê mà trở thành những kẻ phản động, cõng rắn cắn gà nhà, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc;
    • Đớn hèn, nhục nhã trước quân Thanh;
    • Tháo chạy thục mạng, cướp cả thuyền của dân mà qua sông, khi đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị thì “nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt”, rồi chấp nhận phận vong quốc, sau này phải cạo đầu tết tóc như người Mãn Thanh…

    4. Về bút pháp của tác giả khi miêu tả hai cuộc tháo chạy (một của quân tướng nhà Thanh, một của vua tôi Lê Chiêu Thống):

    Cảnh tháo chạy của quân tướng nhà Thanh được miêu tả dưới cái nhìn hả hê, mãn nguyện của người thắng trận trước sự thất bại thảm hại của kẻ thù cướp nước: âm hưởng nhanh, gợi tả sự tán loạn, tan tác…

    Cảnh bỏ chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống được miêu tả dài hơn, âm hưởng chậm hơn, toát lên vẻ chua xót, ngậm ngùi.

    Sở dĩ có sự khác biệt đó là vì: mặc dù tôn trọng tính khách quan trong phản ánh, song không thể chối bỏ được thái độ chủ quan khi quan sát, nhìn nhận; đối với quân tướng nhà Thanh, tác giả miêu tả với một tâm thế khác với khi miêu tả cuộc tháo chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống – dẫu sao thì cũng là vương triều mình đã từng phụng thờ.

    II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

    Văn bản này được trích từ Hồi 14 – tiểu thuyết chương hồi của Ngô gia văn phái – tái hiện lại những diễn biến quan trọng trong cuộc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung – Nguyễn Huệ. Mặc dù là một tiểu thuyết lịch sử nhưng Hoàng Lê nhất thống chí (biểu hiện cụ thể ở đoạn trích này) không chỉ ghi chép lại các sự việc, sự kiện mà đã tái hiện khá sinh động hình ảnh của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, sự thảm bại của quân xâm lược cùng với số phận bi đát của đám vua tôi nhà Lê phản dân, hại nước.

    Khi đọc, chú ý giọng đối thoại và giọng của tiểu thuyết chương hồi.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Hồi Thứ Mười Bốn)
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Bài Phong Cách Hồ Chí Minh (Lê Anh Trà)
  • Soạn Văn 9 Vnen Bài 5: Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Luyện Tập Viết Hợp Đồng Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Soạn Bài Lớp 9: Luyện Tập Viết Hợp Đồng Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 9 Học Kì Ii
  • Soạn Bài Thuật Ngữ Ngữ Văn 9 Trang 87 Ngắn Gọn: Cho Biết Mỗi Thuật Ngữ Vừa Tìm Được Thuộc Lĩnh Vực Khoa Học Nào
  • Soạn Bài Lớp 9: Tập Làm Thơ Tám Chữ
  • Soạn Bài Lớp 9: Kiểm Tra Phần Tiếng Việt
  • Soạn văn 9 VNEN Bài 5: Hoàng Lê nhất thống chí – Hồi thứ mười bốn

    A. Hoạt động khởi động

    1. Có ý kiến cho rằng cuộc tấn công đại phá quân Thanh của vua Quang Trung là cuộc tấn công thần tốc trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của Việt Nam.

    Hãy tìm một số dẫn chứng lịch sử tiêu biểu để khẳng định điều đó và nêu lên suy nghĩ của em.

    Lời giải:

    Cuộc tiến công ra Bắc tiêu diệt quân xâm lược nhà Thanh chỉ trong khoảng 5 ngày từ đêm 30 tháng Chạp năm Mậu Thân (tức ngày 25/1/1789 dương lịch) đến chiều mồng 5 Tết Kỷ Dậu (30/1/1789), quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy tài tình của vua Quang Trung, đã đánh tan 29 vạn quân Thanh, hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ giải phóng kinh thành Thăng Long, giải phóng đất nước.

    B. Hoạt động hình thành kiến thức

    1. Đọc văn bản 2. Tìm hiểu văn bản

    a) Tìm đại ý và bố cục của đoạn trích

    Đại ý: Hồi thứ mười bốn là một trong những phần hay nhất của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí, dựng lên hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ và sự thất bại thảm hại tất yếu của bọn xâm lược và lũ vua quan phản nước, hại dân một cách chân thực, sinh động.

    Nội dung này được cụ thể bằng những ý chính trong ba đoạn sau:

    – Đoạn 1: từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân (1788)”: Được tin báo quân Thanh đã chiếm Thăng Long, vua Lê thụ phong, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, tự mình đốc suất đại binh ra Bắc dẹp giặc.

    – Đoạn 2: từ “Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh” cho đến “vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành…”: cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung đối với quân Thanh.

    – Đoạn 3: từ “Lại nói, Tôn Sĩ Nghị và vua Lê” cho đến hết: Thất bại thảm hại của quân Tôn Sĩ Nghị và sự thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống.

    b) Trước khi tiến ra Thăng Long, vua Quang Trung đã làm những việc gì? Điều đó cho thấy ông là người như thế nào?

    Trước khi tiến ra Thăng Long, vua Quang Trung đã làm những việc:

    – Nhận được tin báo quân Thanh chiếm đóng Thăng Long, liền họp các tướng sĩ, đích thân cầm quân đi ngay; lên ngôi hoàng đế, đốc suất đại binh ra Bắc dẹp giặc; gặp Nguyễn Thiếp để hỏi cơ mưu; tuyển mộ quân lính ở Nghệ An, duyệt binh, phủ dụ quân sĩ; biết dùng người, đối đãi công bằng

    – Sáng suốt nhận định tình hình, quyết định tiến quân ra Bắc tiêu diệt giặc; lời lẽ sắc bén, kích thích được tinh thần tự tôn dân tộc của tướng sĩ, có tư tưởng nhân đạo,…; lên kế hoạch đánh giặc, sử dụng chiến lược, chiến thuật hợp lí, độc đáo (cách hành quân thần tốc, cách chống lại súng của giặc, chiến thuật nghi binh,…)

    – Trước khi đánh giặc đã tính đến cả đối sách với giặc sau khi chiến thắng

    Hình tượng vua Quang Trung đã được miêu tả với đầy đủ những phẩm chất của một vị anh hùng, mang vẻ đẹp oai phong lẫm liệt.

    c) Tìm một số hình ảnh chi tiết tiêu biểu thể hiện những chiến thắng vang dội của nghĩa quân Tây Sơn. Em có nhận xét gì về nghệ thuật trần thuật và cảm xúc của tác giả khi nói về những chiến thắng đó.

    Một số hình ảnh chi tiết tiêu biểu thể hiện những chiến thắng vang dội của nghĩa quân Tây Sơn chính là sự thất bại thảm hại của lũ bè bọn bán nước, cướp nước:

    + Khi quân Tây Sơn đánh đến nơi, tướng thì sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp… chuồng trước qua cầu phao, quân thì lúc lâm trận “ai nấy đều rụng rời, sợ hãi, xin ra hàng hoặc bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết”, “quân sĩ các doanh nghe thấy đều hoảng hốt, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều”, “đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa”. Cả đội binh hùng, tướng mạnh, chỉ quen diễu võ dương oai bây giờ chỉ còn biết tháo chạy, mạnh ai nấy chạy, “đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi”.

    + Quân Thanh tan rã, Lê Chiêu Thống vội vã cùng mấy bề tôi thân tín “đưa thái hậu ra ngoài”, chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền dân để qua sông, “luôn mấy ngày không ăn”. May gặp người thổ hào thương tình đón về cho ăn và chỉ đường cho chạy trốn. Đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị, vua tôi chỉ còn biết nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt, và sau khi sang đến Trung Quốc phải cạo đầu, tết tóc, ăn mặc giống người Mãn Thanh và cuối cùng gửi nắm xương tàn nơi đất khách quê người.

    Nhận xét về nghệ thuật trần thuật:

    Nghệ thuật trần thuật chân thực, sinh động cùng với cảm xúc tự hào dân tộc, lòng kính phục của tác giả khi nói tới những chiến thắng đó . Cụ thể: Việc tác giả ở đây thuật lại một cách rất chân thực sâu sắc cho người đọc thấy được như mình đang ở trong cuộc chiến đó, trong niêm vui chiến thắng và cũng cho thấy được nỗi căm phẫn khi đất nước rơi vào tay những kẻ bất đức. Cách thuật lại một cách rất thật như vậy cho thấy ngòi bút của tác giả không né tránh những điều đau thương hay thất bại của quân dân mà nhìn thẳng vào đó để biết được thực tế và có cách đối diện với thực tế đó. Đó cũng là tình cảm chân thực của tác giả thể hiện qua từng câu văn.

    d) Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống được khắc họa như thế nào? Giọng điệu trần thuật của tác giả có sự khác biệt gì khi nói về hai cuộc tháo chạy này.

    – Quân tướng nhà Thanh:

    + Tôn Sĩ Nghị bất tài, không nắm được tình hình thực tế, kiêu căng tự mãn, trễ nải quân cơ: “chỉ chăm chú vào yến tiệc, vui mừng, không hề lo chi đến việc bất trắc; khi quân Tây Sơn đánh đến thì “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao”…

    + Quân tướng hèn nhát, thảm bại: khi nghe tiếng quân Tây Sơn, quân Thanh ở trong đồn Hạ Hồi “ai nấy rụng rời sợ hãi, liền xin ra hàng”; ở đồn Ngọc Hồi quân thì “bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết”, tướng thì tự thắt cổ chết; thấy nghi binh thì “đều hết hồn hết vía, vội trốn”; khi nghe tin Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy “đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều. Lát sau cầu lại bị đứt, quân lính đều rơi xuống nước, đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa.”…

    – Vua tôi Lê Chiêu Thống:

    + Vì lợi ích của dòng họ, vị thế nhà Lê mà trở thành những kẻ phản động, cõng rắn cắn gà nhà, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc;

    + Đớn hèn, nhục nhã trước quân Thanh;

    + Tháo chạy thục mạng, cướp cả thuyền của dân mà qua sông, khi đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị thì “nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt”, rồi chấp nhận phận vong quốc, sau này phải cạo đầu tết tóc như người Mãn Thanh…

    Giọng điệu trần thuật của tác giả có sự khác biệt khi nói về hai cuộc tháo chạy này:

    + Cảnh tháo chạy của quân tướng nhà Thanh nhịp điệu nhanh, mạnh, hối hả, ngòi bút miêu tả khách quan nhưng vẫn hả hê sung sướng của người thắng trận trước sự thảm bại của lũ cướp nước.

    +Cảnh bỏ chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống nhịp điệu chậm hơn, miêu tả tỉ mỉ giọt nước mắt của người thổ hào, nước mắt tủi hổ của vua tôi nhà Lê… Âm hưởng có phần ngậm ngùi, chua xót.

    – Sở dĩ có sự khác biệt đó là vì: mặc dù tôn trọng tính khách quan trong phản ánh, song không thể chối bỏ được thái độ chủ quan khi quan sát, nhìn nhận. Vì các tác giả đều là những cựu thần của nhà Lê, nên không thể không có sự thương xót, ngậm ngùi cho tình cảnh của vua tôi Lê Chiêu Thống. Đấy là điều tạo nên sự khác biệt trong thái độ và cách miêu tả hai cuộc tháo chạy.

    3. Tìm hiểu về sự phát triển của từ vựng (tiếp theo)

    a) Hãy tìm những từ ngữ phù hợp với phần giải thích sau:

    • Chợ nhỏ, không cố định ở một chỗ, có thể giải tán nhanh

    • Trên thị trường hết sạch một sản phẩm nào đó mọi người mua quá nhiều.

    • Nói say sưa, huyên thuyên, không có cơ sở chắc chắn về một điều gì đó.

    • Sự phản đối kịch liệt của nhiều người bằng những câu nói mỉa mai, miệt thị.

    b) Có thể tạo nên những từ ngữ mới nào trên cơ sở ghép các từ sau: điện thoại, kinh tế, di động, sở hữu, tri thức, đặc khu, trí tuệ? Giải thích nghĩa của những từ ngữ đó.

    Có thể ghép thành các từ: điện thoại di động; kinh tế tri thức; đặc khu kinh tế; sở hữu trí tuệ.

    Giải nghĩa:

    • Điện thoại di động: điện thoại vô tuyến nhỏ mang theo người, được sử dụng trong vùng phủ sóng của cơ sở thuê bao.
    • Kinh tế tri thức: nền kinh tế chủ yếu dựa vào việc sản xuất, lưu thông, phân phối các sản phẩm có hàm lượng tri thức cao.
    • Đặc khu kinh tế: khu vực dành riêng để thu hút vốn và công nghệ nước ngoài với những chính sánh ưu đãi.
    • Sở hữu trí tuệ: quyền sở hữu đối với các sản phẩm do hoạt động trí tuệ đem lại, được pháp luật bảo hộ như quyền tác giả, quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghệ..

    c) Em hãy cho biết ngoài cách phát triển nghĩa của từ trên cơ sở nghĩa gốc thì còn cách nào khác để phát triển từ vựng?

    ngoài cách phát triển nghĩa của từ trên cơ sở nghĩa gốc thì còn có thể tạo thêm từ mới để phát triển từ vựng

    • Bệnh mất khả năng miễn dịch gây tử vong.

    • Nghiên cứu có hệ thống các điều kiện để tiêu thụ hàng hóa.

    • Hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau.

    Nguồn gốc: Từ mượn của các ngôn ngữ châu Âu

    g) Từ các câu d và e, em hãy cho biết có thể phát triển từ vựng tiếng Việt bằng cách nào?

    Có thể phát triển từ vựng tiếng Việt bằng cách:

    + Tạo từ ngữ mới

    + Mượn từ ngữ của tiếng nước ngoài

    C. Hoạt động luyện tập

    1. Luyện tập đọc hiểu văn bản Hoàng Lê nhất thống chí – Hồi thứ mười bốn

    a) Đoạn trích sau đây gợi nhớ đến những câu thơ nào đã học? Điểm chung mà các tác giả thể hiện trong đoạn trích và trong những câu thơ đó là gì?

    Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải người, mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc.

    Đoạn trích gợi nhớ đến những câu thơ trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi:

    “Như nước Đại Việt ta từ trước,

    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,

    Núi sông bờ cõi đã chia,

    Phong tục Bắc Nam cũng khác;

    Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập;

    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên xưng đế một phương;

    Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

    Song hào kiệt thời nào cũng có.

    Vậy nên:

    Lưu Cung tham công nên thất bại;

    Triệu Tiết chí lớn phải vong thân;

    Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô

    Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã

    Việc xưa xem xét.

    Chứng cứ còn ghi.”

    Cả hai đoạn trích đều mạnh mẽ khẳng định nền độc lập, chủ quyền của đất nước Đại Việt. Đồng thời tái hiện lại những trang sử vàng hào hùng của dân tộc, những chiến công chống giặc ngoại xâm vẻ vang thuộc về chính nghĩa còn quân xâm lược luôn phải chuốc thất bại thảm hại.

    b) Theo em, nguồn cảm hứng nào đã chi phối ngòi bút tác giả khi tạo dựng hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ? Chia sẻ với các bạn trong lớp về suy nghĩ của em.

    Hình tượng vua Quang Trung đã được miêu tả với đầy đủ những phẩm chất của một vị anh hùng, mang vẻ đẹp oai phong lẫm liệt. Tác giả Ngô gia văn phái vốn trung thành với nhà Lê mà vẫn viết về vua Quang Trung đầy tinh thần ngợi ca như vậy là vì họ đứng trên tinh thần dân tộc mà phản ánh, tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử. Có thể thấy, tác phẩm đi theo quan niệm văn sử bất phân – một nét đặc thù của văn học trung đại Việt Nam. Nhờ vậy, càng tạo ra cho tác phẩm sức thuyết phục, tính chân thực cao, chứng tỏ tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử. Đây cũng là điểm đặc sắc của thể loại tiểu thuyết lịch sử.

    X + tặc (Ví dụ: hải tặc)

    X + hóa (Ví dụ: đô thị hóa)

    X + điện tử (Ví dụ: thư điện tử)

    X + tặc: lâm tặc, sơn tặc, tin tặc, …

    X + hóa: hiện đại hóa, lão hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa, công nghiệp hóa, thương mại hóa…

    X + điện tử: thiết bị điện tử, trò chơi điện tử, báo điện tử,…

    c) Cùng bạn tìm ra một số từ ngữ mới được sử dụng phổ biến gần đây và giải thích nghĩa của những từ ngữ đó.

    Cơm bụi: cơm giá rẻ, thường bán trong những hàng quán nhỏ, tạm bợ.

    Hết đát: (hàng hoá) hết hạn sử dụng.

    Đường cao tốc: đường xây dựng theo tiêu chuẩn đặc biệt dành riêng cho các loại xe cơ giới chạy với tốc độ cao.

    Quá cảnh:thời gian giữa các điểm dừng này dùng để tiếp nhiên liệu cho máy bay, hoặc dừng để đón thêm khách và hàng hóa.

    Bàn tay vàng”: bàn tay tài giỏi, khéo léo, hiếm có trong lao động.

    D. Hoạt động vận dụng

    1. Giả sử có một đoàn khách du lịch muốn tìm hiểu về cuộc tiến công thần tốc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung, nhóm em sẽ thuyết trình giới thiệu như thế nào? Lập dàn ý cho bài thuyết trình đó.

    Lời giải: Mở bài

    Giới thiệu người anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ: một vị vua văn võ song toàn, có công lớn trong sự nghiệp đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập cho dân tộc.

    Giới thiệu Hoàng Lê nhất thống chí:

    • Được viết bằng chữ Hán, theo lối chương hồi.

    • Đoạn trích này phần lớn nằm ở hồi thứ 14.

    • Đoạn trích kể về chiến thắng vẻ vang của Quang Trung trong trận đại phá quân Thanh.

    Thân bài:

    Giới thiệu qua về vua Quang Trung:

    • Quang Trung là một vị vua yêu nước, thương dân.

    • Là người luôn muốn khẳng định chủ quyền của dân tộc và muốn trực tiếp cầm quân đánh đuổi giặc ngoại xâm.

    • Đích thân hạ lệnh xuất quân ra Bắc.

    • Thân chinh lãnh đạo quân đội thu phục Bắc Hà.

    • Quang Trung có tài thao lược và dụng binh: Đẩy mạnh công tác tuyển duyệt binh lính.

    • Động viên binh lính trước ngày lên đường.

    Diễn biến chính:

    • Trước thế mạnh của giặc, quân Tây Sơn ở Thăng Long, rút quân về Tam Điệp và cho người vào Phủ Xuân cấp báo với Nguyễn Huệ.

    • Nhận được tin ngày 24/11, Nguyễn Huệ liền tổ chức lại lực lượng chia quân làm hai đạo thuỷ – bộ.

    • Ngày 25 tháng Chạp, làm lễ lên ngôi lấy hiệu là Quang Trung, trực tiếp chỉ đạo hai đạo quân tiến ra Bắc.

    • Ngày 29 tháng Chạp, quân Tây Sơn ra đến Nghệ An, Quang Trung cho dừng lại một ngày, tuyển thêm hơn 1 vạn tinh binh, mở một cuộc duyệt binh lớn.

    • Ngày 30, quân của Quang Trung ra đến Tam Điệp, hội cùng Sở và Lân. Quang Trung đã khẳng định: “Chẳng quá mười ngày có thể đuổi được người Thanh”. Cũng trong ngày 30, giặc giã chưa yên, binh đao hãy còn mà ông đã nghĩ đến kế sách xây dựng đất nước mười năm sau chiến tranh. Ông còn mở tiệc khao quân, ngầm hẹn mùng 7 sẽ có mặt ở thành Thăng Long mở tiệc lớn. Ngay đêm đó, nghĩa quân lại tiếp tục lên đường. Khi quân Tây Sơn ra đến sông Thanh Quyết gặp đám do thám của quân Thanh, Quang Trung ra lệnh bắt hết không để sót một tên.

    • Rạng sáng ngày 3 Tết, nghĩa quân bí mật bao vây đồn Hạ Hồi và dùng mưu để quân Thanh đầu hàng ngay, hạ đồn dễ dàng.

    • Rạng sáng ngày mùng 5 Tết, nghĩa quân tấn công đồn Ngọc Hồi. Quân giặc chống trả quyết liệt, dùng ống phun khói lửa ra nhằm làm ta rối loạn, nhưng gió lại đổi chiều thành ra chúng tự hại mình. Cuối cùng, quân Thanh phải chịu đầu hàng, thái thú Điền châu Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử.

    • Trưa mùng 5 Tết, Quang Trung đã dẫn đầu đoàn quân thắng trận tiến vào Thăng Long. Đám tàn quân của giặc tìm về phía đê Yên Duyên gặp phục binh của ta, trốn theo đường Vịnh Kiều lại bị quân voi ở Đại áng dồn xuống đầm Mực giày xáo, chết hàng vạn tên. Một số chạy lên cầu phao, cầu phao đứt, xác người ngựa chết làm tắc cả khúc sông Nhị Hà. Mùng 4 Tết nghe tin quân Tây Sơn tấn công, Tôn Sỹ Nghị và Lê Chiêu Thống đã vội vã bỏ lên biên giới phía bắc. Khi gặp lại nhau, Nghị có vẻ xấu hổ nhưng vẫn huyênh hoang. Cả hai thu nhặt tàn quân, kéo về đất Bắc.

    Kết bài: Chiến thắng đị thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn là chiến thắng vẻ vang của dân tộc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Chuyện Người Con Gái Nam Xương Của Nguyễn Dữ
  • Soạn Bài Luyện Tập Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh Sbt Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh Sbt Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Luyện Tập Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Hồi Thứ Mười Bốn)
  • Soạn Bài Lớp 9: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Ánh Trăng Của Nguyễn Duy
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Ánh Trăng (Nguyễn Duy)
  • Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài

    1. Hồi thứ mười bốn là một trong những phần hay nhất của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí. Qua hồi này, tác giả đã dựng lên hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ và sự thất bại thảm hại tất yếu của bọn xâm lược và lũ vua quan phản nước, hại dân một cách chân thực, sinh động. Nội dung này được cụ thể bằng những ý chính trong ba đoạn sau:

    – Đoạn từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân (1788).”: Được tin báo quân Thanh đã chiếm Thăng Long, vua Lê thụ phong, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, tự mình đốc suất đại binh ra Bắc dẹp giặc.

    – Đoạn từ “Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh” cho đến “vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành…”: cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung đối với quân Thanh.

    – Đoạn từ “Lại nói, Tôn Sĩ Nghị và vua Lê” cho đến hết: Thất bại thảm hại của quân Tôn Sĩ Nghị và sự thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống.

    2. Hình tượng Quang Trung – Nguyễn Huệ được xây dựng chân thực, sinh động với hành động, trí tuệ, tài điều binh khiển tướng, mưu lược… của một vị anh hùng dân tộc:

    – Hành động mạnh mẽ, quyết đoán:

    + tiếp được tin báo quân Thanh chiếm đóng Thăng Long, liền họp các tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay;

    + lên ngôi hoàng đế, đốc suất đại binh ra Bắc dẹp giặc;

    + gặp Nguyễn Thiếp để hỏi cơ mưu;

    + tuyển mộ quân lính ở Nghệ An, duyệt binh, phủ dụ quân sĩ, lên kế hoạch tiến quân đánh giặc;

    – Trí tuệ sáng suốt, mẫn cán, điều binh khiển tướng tài tình:

    + Phân tích tình hình, quyết định tiến quân tiêu diệt giặc;

    + Lời lẽ sắc bén, chặt chẽ, kích thích được tinh thần tự tôn dân tộc của tướng sĩ: lời phủ dụ;

    + Vạch kế hoạch đánh giặc, sử dụng chiến lược, chiến thuật hợp lí, độc đáo (cách hành quân thần tốc, cách chống lại súng của giặc, chiến thuật nghi binh…);

    + Biết dùng người đúng sở trường, ở đoản, đối đãi công bằng.

    – Ý chí quyết chiến quyết thắng, tầm nhìn xa trông rộng: mạnh bạo, tự tin trong kế sách đánh giặc, tính toán trước sau chu toàn (trước khi đánh giặc đã tính đến cả đối sách với giặc sau khi chiến thắng)…

    Hình tượng vua Quang Trung đã được miêu tả với đầy đủ những phẩm chất của một vị anh hùng, mang vẻ đẹp oai phong lẫm liệt. Tác giả Ngô gia văn phái vốn trung thành với nhà Lê mà vẫn viết về vua Quang Trung đầy tinh thần ngợi ca như vậy là vì họ đứng trên tinh thần dân tộc mà phản ánh. Nhờ vậy, càng tạo ra cho tác phẩm sức thuyết phục, tính chân thực cao, chứng tỏ tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử. Đây cũng là điểm đặc sắc của thể loại tiểu thuyết lịch sử.

    3. Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân:

    + Tôn Sĩ Nghị bất tài, không nắm được tình hình thực tế, kiêu căng tự mãn, trễ nải quân cơ: “chỉ chăm chú vào yến tiệc, vui mừng, không hề lo chi đến việc bất trắc; khi quân Tây Sơn đánh đến thì “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao”…

    + Quân tướng hèn nhát, thảm bại: khi nghe tiếng quân Tây Sơn, quân Thanh ở trong đồn Hạ Hồi “ai nấy rụng rời sợ hãi, liền xin ra hàng”; ở đồn Ngọc Hồi quân thì “bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết”, tướng thì tự thắt cổ chết; thấy nghi binh thì “đều hết hồn hết vía, vội trốn”; khi nghe tin Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy “đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều. Lát sau cầu lại bị đứt, quân lính đều rơi xuống nước, đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa.”…

    + Vì lợi ích của dòng họ, vị thế nhà Lê mà trở thành những kẻ phản động, cõng rắn cắn gà nhà, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc;

    + Đớn hèn, nhục nhã trước quân Thanh;

    + Tháo chạy thục mạng, cướp cả thuyền của dân mà qua sông, khi đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị thì “nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt”, rồi chấp nhận phận vong quốc, sau này phải cạo đầu tết tóc như người Mãn Thanh…

    4. Về bút pháp của tác giả khi miêu tả hai cuộc tháo chạy (một của quân tướng nhà Thanh, một của vua tôi Lê Chiêu Thống):

    – Cảnh tháo chạy của quân tướng nhà Thanh được miêu tả dưới cái nhìn hả hê, mãn nguyện của người thắng trận trước sự thất bại thảm hại của kẻ thù cướp nước: âm hưởng nhanh, gợi tả sự tán loạn, tan tác…

    – Cảnh bỏ chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống được miêu tả dài hơn, âm hưởng chậm hơn, toát lên vẻ chua xót, ngậm ngùi.

    Sở dĩ có sự khác biệt đó là vì: mặc dù tôn trọng tính khách quan trong phản ánh, song không thể chối bỏ được thái độ chủ quan khi quan sát, nhìn nhận; đối với quân tướng nhà Thanh, tác giả miêu tả với một tâm thế khác với khi miêu tả cuộc tháo chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống – dẫu sao thì cũng là vương triều mình đã từng phụng thờ.

    Văn bản này được trích từ Hồi 14 – tiểu thuyết chương hồi của Ngô gia văn phái – tái hiện lại những diễn biến quan trọng trong cuộc đại phá quân Thanh của vua Q- Nguyễn Huệ. Mặc dù là một tiểu thuyết lịch sử nhưng uang Trung Hoàng Lê nhất thống chí (biểu hiện cụ thể ở đoạn trích này) không chỉ ghi chép lại các sự việc, sự kiện mà đã tái hiện khá sinh động hình ảnh của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, sự thảm bại của quân xâm lược cùng với số phận bi đát của đám vua tôi nhà Lê phản dân, hại nước.

    Khi đọc, chú ý giọng đối thoại và giọng của tiểu thuyết chương hồi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Bài Phong Cách Hồ Chí Minh (Lê Anh Trà)
  • Soạn Bài Lớp 9: Đồng Chí Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 9 Học Kì I
  • Soạn Bài Đồng Chí Lớp 9
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Đồng Chí
  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí – Ngữ Văn 9 Tập 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Sử Dụng Bảng Tương Tác Thông Minh (Mới)
  • Gia Sư Lớp 3
  • Kinh Nghiệm Soạn Giáo Án Gia Sư Lớp 1
  • Dạy Học Theo Chủ Đề
  • 4 Phần Mềm Soạn Giáo Án Điện Tử Tốt Nhất Cho Giáo Viên
  • I. Tác giả, tác phẩm

    1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu về nhóm tác giả Ngô gia văn phái trong SGK Ngữ văn 9 Tập 1).

    2. Tác phẩm

    * Xuất xứ: Văn bản Hoàng Lê nhất thống chí được trích phần lớn hồi thứ mười bốn trong tổng số 17 hồi của cuốn tiểu thuyết cùng tên, viết về sự kiện vua Quang Trung đại phá quân Thanh.

    * Thể loại: Văn bản được viết theo thể loại chí (một lối văn ghi chép sự vật, sự việc).

    II. Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1:

    Đoạn trích Hoàng Lê nhất thống chí có thể được chia làm 3 phần:

    • Phần 3: còn lại : Sự đại bại của quân Thanh và tình cảnh thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống.

    Câu 2:

    * Qua đoạn trích tác phẩm, em cảm nhận người anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ:

    • Mạnh mẽ, quyết đoán, có kiến thức, am hiểu lịch sử, bình dị, gần gũi với mọi người.
    • Là một người có tài năng quân sự: hành quân thần tốc, có phán đoán tài tình, mưu kế kì diệu.
    • Sáng suốt trong việc dùng người, có tầm nhìn xa trông rộng: ông hiểu rõ được bản chất của bọn Sở, Lân và kế lui quân của Ngô Thì Nhậm, định sẵn mưu lược, tính kế lâu dài
    • Thấu tình đạt lí: Ông tha tội cho tướng Sở, Lân mặc dù họ thua trận, đánh giặc vì đại nghĩa.

    * Theo em, nguồn cảm hứng đã chi phối ngòi bút tác giả khi tạo dựng hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ là tư tưởng trung quân của Nho giáo trong tác giả với nhà Lê. Ngô gia văn phái vốn rất trung thành với nhà Lê nhưng họ lại viết về vua Quang Trung với đầy tinh thần ngợi ca vì họ đứng trên tinh thần dân tộc mà phản ánh. Chính nhờ đó đã tạo cho tác phẩm sức thuyết phục, tính chân thực cao và tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử. Và đây cũng là đặc điểm quan trọng của một tác phẩm tiểu thuyết lịch sử.

    Câu 3:

    Sự thảm bại của quân tương nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân đã được miêu tả:

    * Quân tướng nhà Thanh:

    • Sầm Nghi Đống thắt cổ chết, Tôn Sĩ Nghị “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp chuồn trước qua cầu phao”
    • Quân lính thây nằm đầy đồng, máu chảy thành suối; tan tác chạy tranh nhau sang sông, rơi xuống nước làm sông tắc nghẽn.

    * Vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân:

    • Lê Chiêu Thống vì lợi ích của dòng họ, vị thế nhà Lê mà trở thành những kẻ phản động “cõng rắn cắn gà nhà”; cướp thuyền bỏ chạy, mấy ngày không ăn mệt lử, cuống quýt, than thở, oán giận, chảy nước mắt, đau đớn, nhục nhã trước quân Thanh.

    Ngòi bút miêu tả hai cuộc tháo chạy của quân tướng nhà Thanh và vua tôi Lê Chiêu Thống có sự khác biệt. Trong đoạn văn miêu tả cuộc tháo chạy của Lê Chiêu Thống rơi vào tình cảnh khốn quẫn, nhưng vẫn gửi gắm vào đó một chút cảm xúc ngậm ngùi của người bề tôi cũ.

    Câu 4:

    Nhận xét về nghệ thuật trần thuật của đoạn trích: Đoạn trích không ghi chép những sự kiện một cách gấp gáp qua từng mốc thời gian, mà miêu tả cụ thể hành động, lời nói. Đoạn trích đã miêu tả được thế đối lập giữa hai đội quân: xộc xệch, nhát gan với xông xáo, dũng mãnh, có tổ chức.

    4.2

    /

    5

    (

    13

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Đoàn Thuyền Đánh Cá – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài: Chị Em Thúy Kiều – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Sách Hướng Dẫn Thể Thức Và Kỹ Thuật Trình Bày, Soạn Thảo Văn Bản Hành Chính Trong Các Cơ Quan, Đơn Vị Tuyển Chọn, Tham Khảo Các Mẫu Hợp Đồng Lao Động, Kinh Tế, Dân Sự
  • Soạn Bài: Quê Hương – Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Soạn Bài: Khi Con Tu Hú – Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Trang 64 Sgk Văn 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Trang 64 Văn Lớp 9 Ngắn Gọn Nhất: Tìm Đại Ý Và Bố Cục Đoạn Trích
  • Soạn Bài Nghị Luận Về Tác Phẩm Truyện (Hoặc Đoạn Trích)
  • Soạn Bài Cách Làm Bài Nghị Luận Về Tác Phẩm Truyện (Hoặc Đoạn Trích) Văn 9 Trang 64 (Ngắn Gọn): Hãy Viết Phần Mở Bài Và Một Đoạn Phần Thân Bài
  • Soạn Bài Chương Trình Địa Phương (Phần Tiếng Việt) Sbt Ngữ Văn 9 Tập 2: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5 Trang
  • Soạn Bài Cách Làm Bài Nghị Luận Về Tác Phẩm Truyện Hoặc Đoạn Trích (Chi Tiết)
  • – Đoạn 1 từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân (1788)”: được tin báo quân Thanh đã chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế và thân chinh cầm quân dẹp giặc.

    – Đoạn 2. “Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh” đến vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành”: cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung.

    – Đoạn 3. “Lại nói, Tôn Sĩ Nghị và vua Lê” đến “củng lấy làm xấu hổ”: sự đại bại của quân tướng nhà Thanh và tình trạng thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống.

    2. Phân tích hình tượng người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ

    * Tính cách anh hùng của nhân vật:

    – Con người hành động mạnh mẽ, quyết đoán: Từ đầu đến cuối đoạn trích, Nguyễn Huệ luôn luôn là con người hành động một cách xông xáo nhanh gọn, có chủ đích và rất quả quyết. Nghe tin giặc đã đánh chiến đến tận Thăng Long, mất cả một vùng đất đai rộng lớn mà không hề nao núng “đính thân chinh cầm quân đi ngay”. Rồi chỉ trong vòng một tháng (từ 24 tháng 11 đến 30 tháng chạp). Nguyền Huệ đã làm được bao nhiêu việc lớn: “Tế cáo trời đất” lên ngôi Hoàng đế, đốc suất đại binh ” ra Bắc, gặp gỡ “người cống sĩ ở huyện La Sơn”, tuyên mộ quân lính và mở cuộc duyệt binh lớn ở Nghệ An, phủ dụ tướng sĩ, định kế hoạch hành quân, đánh giặc và cả kế hoạch đối phó với nhà Thanh sau chiến thắng.

    – Trí tuệ sáng suốt, sâu xa, nhạy bén:

    Sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc và thế tương quan chiến lược giữa ta và địch. Chú ý phân tích lời phủ dụ quân lính ở Nghệ An: khẳng định chủ quyền dân tộc của ta và hành động xâm lăng phi nghĩa, trái đạo trời của giặc (đất nào sao ấy đều đã phân biệt rõ ràng, nêu bật dã tâm của giặc (bụng dạ ất khác… giết hại nhân dân, vơ vét của cải); truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta từ xưa; kêu gọi quân lính “đồng tâm hiệp lực”; ra kỉ luật nghiêm… Lời phủ dụ có thể xem như một bài hịch rất ngắn gọn mà ý tứ thật phong phú, sâu xa, có tác động kích thích lòng yêu nước và truyền thống quật cường của dân tộc.

    Sáng suốt trong việc xét đoán và dùng người, thể hiện qua cách xử trí với các tướng sĩ tại Tam Điệp, khi Sở và Làn “đều mang gươm trên lưng và xin chịu tội”. Ông rất hiểu sở trường, sở đoản của các tướng sĩ, khen chê đều đúng người, đúng việc…

    – Ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng: mới khởi binh đánh giặc, chưa giành lại được một tấc đất nào, vậy mà vua Quang Trung đã nói chắc như đinh đóng cột “phương lược tiến đánh đã có tính sẵn”, lại còn tính dần cả kế hoạch ngoại giao sau khi chiến thắng đối với mọi nước “lớn gấp mười nước mình” để có thể dẹp “việc binh đao”, “cho tôi được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng”.

    -Tài dụng binh như thẩn: Cuộc hành quân thần tốc do vua Quang Trung chỉ huy đến nay vẫn còn làm chúng ta kinh ngạc. Ngàv 25 tháng chạp bắt đầu xuất quân ở Phú Xuân (Huế), ngày 29 đã tới Nghệ An, vươn khoảng 350km qua núi, qua đèo. Tại đây, vừa tuyển quân, tổ chức đội ngũ, vừa duyệt binh lớn, chỉ trong 1 ngày. Hôm sau tiến quân ra Tam Điệp (giáp giới Ninh Bình, Thanh Hóa cách khoảng 150km). Vậy mà đêm 30 tháng chạp đã “lập tức lên đường”, tiến quân ra Thăng Long. Mà tất cả đều là đi bộ. Từ Tam Điệp trở ra (khoảng hơn 150km), vừa hành quân, vừa đánh giặc mà vua Quang Trung hoạch định kế hoạch là mồng 7 tháng giêng sẽ vào ăn Tết ở Thăng Long, trong thực tế đã vượt mức hai ngày. Hành quân xa liên tục như vậy, nhưng cơ nào đội ấy vẫn chỉnh tề, cũng do tài tổ chức của người cầm quân: Hơn một vạn quân mới tuyên đặt ở trung quân, còn quân tinh nhuệ từ đất Thuận Quảng ra thì bao bọc ở bốn doanh tiền, hậu, tả, hữu.

    – Hình ảnh lẫm liệt trong chiến trận: Hoàng đế Quang Trung là một tổng chỉ huy chiến dịch thực sự: hoạch định phương lược tiến đánh, tổ chức quân sĩ, tự mình thông lĩnh một mũi tiến công, cưỡi voi đi đốc thúc, xông pha tên đạn, bày mưu tính kế… Đội quân của vua Quang Trung không phải toàn là lính thiện chiến, lại vừa trải qua những ngày hành quân cấp tốc, không có thì giờ nghỉ ngơi, vậy mà dưới tay vị tổng chỉ huy này đã đánh những trận thật đẹp, thắng áp đảo kẻ thù (bắt sống hết quân do thám của địch ở Phú Xuyên, giữ được bí mật để tạo thế bất ngờ, vây kín làng Hà Nội, “quân lính luân phiên dạ ran” làm cho lính trong đồn “ai nấy rụng rời sợ hãi”, đều xin hàng; công phá đồn Ngọc Hồi, lấy ván ghép phủ rơm dập nước để làm mộc che, dàn trận tiến đánh, khi giáp lá cà thì “quăng ván xuống đất, ai nấy cầm dao ngắn chém bừa, những người cầm binh khí theo sau củng nhất tề xông tới”…). Khí thế của đội quân này làm cho kẻ thù phải khiếp vía “Thật là tướng ở trên trời xuống, quân chui dưới đất lên” và hình ảnh người anh hùng cũng được khắc họa thật lẫm liệt. Quang Trung trong trận đánh đồn Ngọc Hồi “khói tỏa mù trời, cách gang tấc không thấy gì” nhưng nổi bật hình ảnh nhà vua “cưỡi voi đi đốc thúc”.

    * Các tác giả Ngô gia văn phái vốn trung thành với nhà Lê lại có thơ viết thực và hay về người anh hùng Nguyễn Huệ vì họ tôn trọng lịch sử và ý thức dân tộc cao.

    3. Sự thảm hại của bọn tướng lĩnh nhà Thanh

    Tôn Sĩ Nghị kéo quân sang An Nam là nhằm những lợi ích riêng, lại không muốn tốn nhiều xương máu, nên như lời người cung nhân cũ nói với Thái hậu: “… những điều họ bắt buộc mình phải đương lấy, rất là nặng nề; còn họ thì chỉ lảng vảng ở bên bờ sông, lấy thanh thế suông để dọa dẫm mà thôi”. Hơn nữa y còn là một tên tướng bất tài, cầm quân mà không biết được tình hình thực hư ra sao, lại còn kiêu căng, tự mãn, chủ quan khinh địch. Dù đã được vua tôi Lê Chiêu Thống báo trước, y vẫn không chút đề phòng, suốt mấy ngày Tết chỉ chăm chú vào yến tiệc, vui mừng không hề lo chi đến việc bất trắc”, cho quân lính mặc sức vui chơi.

    + Khi quân Tây Sơn đánh đến nơi, tướng thì “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp… chuồn trước qua cầu phao quân thì lúc làm trận “ai nấy đều rụng rời sợ hãi xin ra hàng hoặc “bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chêt”. “Quán sĩ các doanh nghe tin đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều”, đến nỗi ” nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa”. Cả đội binh hùng tướng mạnh, chi quen diễu võ giương oai giờ đây chỉ còn biết tháo chạy, mạnh ai nấy chạy “đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi”.

    – Số phận thảm hại của bọn vua tôi phản nước, hại dân:

    Lê Chiêu Thống và những bề tôi trung thành của ông ta đã vì mưu lợi ích riêng của dòng họ mà đem vận mệnh của cả dân tộc đặt vào tay kẻ thù xâm lược, lẽ tất nhiên họ phải chịu đựng nỗi sỉ nhục của kẻ đi cầu cạnh van xin, không còn đâu tư cách bậc quân vương và kết cục cũng phải chịu chung số phận bi thảm của kẻ vong quốc. Lê Chiêu Thống vội vã cùng mấy bề tôi thân tín “đưa Thái hậu ra ngoài”, chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền dân để qua sông ” luôn mấy ngày không ăn”. May gặp người thổ hào thương tình đón về cho ăn và chỉ đường cho chạy trốn. Đuổi kịp được Tôn Sĩ Nghị, vua tôi chỉ còn biết “nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt”.

    – Đoạn văn miêu tả chân thực tình cảnh khôn quẫn của vua Lê Chiêu Thống, nhưng tác giả vẫn gửi gắm ở đó một chút cảm xúc riêng của người bề tôi cũ của nhà Lê. Lòng thương cảm biểu hiện qua những giọt nước mắt và thái độ săn sóc tận tình của người thổ hào. Giọng văn cũng có phần ngậm ngùi, khác với âm hưởng sôi nổi, hào hùng ở trên.

    So sánh hai đoạn văn miêu tả hai cuộc tháo chạy, một của quân nhà Thanh và một của vua tôi Lê Chiêu Thống. Tất cả đều là tả thư: với nhừng chi tiết cụ thể, nhưng âm hưởng lại rất khác nhau. Đoạn văn lên nhịp điệu nhanh, mạnh, hối hả “ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp”, “tan tác bỏ chạy”, “tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau…”, ngòi bút miêu tả khách quan, nhưng vẫn hàm chứa vẻ hả hê, sung sướng của người thắng trận trước sự thảm bại của lũ cướp nước, ơ đoạn văn dưới, nhịp điệu có chậm hơn, tác giả dừng lại miêu ta tỉ mỉ những giọt nước mắt thương cảm của người thổ hào, nước mắt tủi hổ của vua tôi Lê Chiêu Thống, cuộc tiếp đãi thịnh tình “giết gà làm cơm” của kẻ bề tôi âm hưởng có phần ngậm ngùi, chua xót. Là những cựu thần của nhà Lê, các tác giả không thể không mủi lòng trước sự sụp đổ của một vương triều mà mình từng phụng thờ, tuy vẫn hiểu đó là kết cục không thế tránh khỏi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Tiếng Việt Lớp 5 Tập 1 Theo Chương Trình Học
  • Soạn Bài Thuật Ngữ Hay Nhất
  • Soạn Bài Thuật Ngữ Trang 89 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Thuật Ngữ Sbt Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 3
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Chương Trình Ngữ Văn 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 9: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Bài Soạn Lớp 9: Tổng Kết Về Từ Vựng (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Lớp 9: Tổng Kết Về Từ Vựng
  • Bài Viết Số 6 Ngữ Văn Lớp 9: Truyện Ngắn Làng Cho Thấy Những Chuyển Biển Trong Tình Cảm Của Người Nông Dân Việt Nam Thời Chống Pháp
  • Soạn Văn 9 : Lặng Lẽ Sa Pa
  • Hoàng Lê nhất thống chí là tác phẩm văn học trung đại có nhiều giá trị đặc sắc đã được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 9. Để giúp các em hiểu sâu hơn về tác phẩm này, hôm nay, chúng tôi sẽ hướng dẫn soạn bài Hoàng Lê nhất thống chí đầy đủ chi tiết nhất.

    I.Tìm hiểu về đoạn trích Hoàng Lê nhất thống chí

    Câu 1. Tìm dàn ý và bố cục đoạn trích?

    Trả lời

    Bố cục của đoạn trích có thể chia làm 3 phần:

    • Phần 1: Từ đầu cho đến… “năm Mậu Thân”: nhận được tin báo quân nhà Thanh đã chiếm được thành Thăng Long, Nguyễn Huệ đã lên ngôi Hoàng đế, đích thân dẫn quân dẹp giặc nhà Thanh.
    • Phần 2: tiếp theo cho đến… ” kéo vào thành”: cuộc hành quân thần tốc của đoàn quân dưới sự chỉ đạo của vua Quang Trung và chiến thắng vang dội của quân dân ta.
    • Phần 3: đoạn còn lại: sự thảm bại, thua cuộc của quân Thanh và tình cảm thảm hại của vua tôi nhà Lê

    Câu 2. Qua đoạn trích tác phẩm, em cảm nhận người anh hùng dân tộc Quang Trung-Nguyễn Huệ như thế nào? Theo em, nguồn cảm hứng nào đã chi phối ngòi bút tác giả khi tạo dựng hình ảnh người anh hùng dân tộc này?

    Trả lời

    Qua đoạn trích tác phẩm, ta thấy được hình tượng oai hùng với tài mưu lược, trí tuệ hơn người của n gười anh hùng dân tộc Quang Trung-Nguyễn Huệ

    – Những hành động quyết đoán, táo bạo:

    • Nhận được tin quân Thanh chiếm được thành Thằng Long là họp quân, dẫn binh đi đánh giặc ngay
    • Quang Trung lên ngôi với mục đích thống nhất về mặc hành chính, tổ chức quân đội
    • Gặp Nguyễn Thuyết hỏi cách bày binh, lên kế hoạch đánh giặc
    • Vừa đi ra Thăng Long vừa tuyến binh lính ở Nghệ An

    – Sự sáng suốt trong việc điều binh:

    • Phân tích tình hình ta và địch-quyết định dẫn quân đánh giặc.
    • Với lời lẽ oai hùng, khúc triết, hợp đạo lí, kích thích binh sĩ một lòng quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm.
    • Chiến thuật, kế hoạch đánh giặc hợp lí, mưu lược chu toàn
    • Cách dùng người tài rất trọng
    • Ý chí quyết thắng, quyết tâm chưa bao giờ cao đến thế

    Nguồn cảm hứng đã chi phối ngòi bút tác giả khi tạo dựng hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ đó là: triều đình của vua tôi Lê Chiêu Thống đã mục nát, dễ dàng đại bại dưới giặc ngoại xâm là quân Thanh. Quang Trung và đội quân của mình đã đại diện cho ý chí, lòng tự tôn dân tộc, quyết không chịu làm nô lệ dưới triều đình nhà Thanh.

    Câu 3. Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân đã được miêu tả như thế nào? Ngòi bút tác giả miêu tả hai cuộc tháo chạy của quân tướng nhà Thanh và vua tôi Lê Chiêu Thống có gì khác biệt? Hãy giải thích vì sao có sự khác biệt đó?

    Trả lời

    Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân đã được miêu tả:

    • Tôn Sĩ Nghị-tên tướng bất tài nhà Thanh “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặt áo giáp chuồn trước qua cầu phao”
    • Quân lính bên phe giặc tháo chạy toán loạn, xéo lên nhau mà chết
    • Quân sĩ giặc còn lại nghe tin thì “hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu, xô đẩy nhau rơi xuống sông” làm cho sông tắc mà không chảy được…
    • Vua tôi Lê Chiêu Thống mục ruỗng thối nát, bán nước mà không biết
    • Cúi đầu chịu nhục trước quân Thanh
    • Chạy bán sống bán chết, cướp thuyền, bị nhịn đói

    Ngòi bút tác giả miêu tả hai cuộc tháo chạy của quân tướng nhà Thanh và vua tôi Lê Chiêu Thống có sự khác biệt: đó chính là quân Thanh tháo chạy dành sự sống được miêu tả nhanh, cho thấy sự bại trận ê chề của quân thanh, còn vua tôi Lê Chiêu Thống được miêu tả chậm, có chút chua xót.

    Sự khác biệt đó là do tác giả còn có chút ngậm ngùi đối với vương triều cũ

    Câu 4. Nêu nhận xét về nghệ thuật trần thuật của đoạn trích này?

    Trả lời

    Nghệ thuật trần thuật của Hoàng Lê nhất thống ch í tương đối thành công, đi sâu vào tâm trí người đọc, làm cho người đọc như đang đứng ngay tại trận chiến thấy sự thảm hại tháo chạy thoát thân của của quân tướng nhà Thanh và vua tôi Lê Chiêu Thống. Ngoài yếu tố tự sự, trần thuật lại thì tác giả đã rất thành công khi sử dụng yếu tố miêu tả vô cùng chi tiết.

    II. Luyện tập

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Bài Soạn Lớp 9: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Unit 3 Lớp 9: Language Focus
  • Giáo Án Anh Văn Lớp 9
  • Unit 1 Lớp 9: Language Focus
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100