Tóm Tắt Soạn Bài Văn Bản Ôn Dịch Thuốc Lá Ngữ Văn Lớp 8?

--- Bài mới hơn ---

  • Bài 12. Ôn Dịch, Thuốc Lá
  • Soạn Bài Lớp 8: Ôn Dịch, Thuốc Lá
  • Soạn Bài Ôn Dịch, Thuốc Lá Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Bài 1 Trang 121 Sgk Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Giáo Án Văn 8 Bài Ôn Dịch Thuốc Lá
    • Về tác giả: Bác sĩ Nguyễn Khắc Việt là người am hiểu về rất nhiều lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học zã hội, đặc biệt là y học, O6ng có rất nhiều bài viết nói đến việc phòng bệnh và chữa bên cho con người.
    • Về cơ bản: Giống như ôn dịch nạn nghiện thuốc lá rất dễ lây lan và gây những tổn thất to lớn cho sức khỏe và tính mạng con người.Song nạn nghiện thuốc lá còn nguy hiểm hơn cả ôn dịch: nó gặm nhấm sức khỏe con người nên không dễ kịp thời nhận biết, nó gây tác hại nhiều mặt đối với cuộc sống gia đình và xã hội.Bởi vậy, muốn chống lại nó, cần phải có quyết tâm cao hơn và biện pháp triệt để hơn là phòng chống ôn dịch.

    Bố cục bài ôn dịch thuốc lá

    – Bộ cục của bài ôn dịch thuốc lá gồm có 3 phần như sau

    a. Từ đầu – “…còn nặng hơn cả AIDS”

    Nội dung: Thông báo về nạn dịch thuốc lá.

    b. Tiếp theo -“…con đường phạm pháp”

    Ngội dung: Tác hại của thuốc lá.

    c. Phần còn lại

    Nội dung: Kiến nghị chống hút thuốc lá. Dịch hạch thổ tả, hàng vạn, hàng triệu người chết. Cuối thế kỉ này lại xuất hiện những ôn dịch khác.Cả thế giới đang lo âu về nạn AIDS.

    Ôn dịch thuốc lá đe dọa sức khỏe và tính mạng loài người còn nặng hơn cả AIDS, Bệnh dịch hạch, Bệnh thổ tả. Ôn dịch thuốc lá đe dọa sức khỏe và tính mạng loài người còn nặng hơn cả AIDS.

    Tóm tắt văn bản ôn dịch thuốc lá ngữ văn lớp 8?

    “Hút thuốc lá là có hại cho sức khoẻ”. Thông điệp ấy được ghi trên hầu hết các vỏ bao thuốc lá, những người hút thuốc lá đều biết nhưng không phải ai cũng ý thức được tác hại nhiều mặt của thuốc lá đối với cộng đồng.

    Ngay từ nhan đề của văn bản: Ôn dịch, thuốc lá đã cho thấy tính chất nghiêm trọng và bức xúc của vấn đề. Thuốc lá ở đây là nói đến tệ nghiện thuốc lá. Nó được ví một cách rất thoả đáng với ôn dịch, xem như một thứ bệnh nguy hiểm đến tính mạng của con người và rất dễ lây lan. Hơn nữa, từ ôn dịch còn mang sắc thái biểu cảm. Nghiện thuốc lá được nói đến trong một cảnh báo gay gắt, đến mức nó đáng trở thành một đối tượng để nguyền rủa.

    Có thể hình dung bố cục của bài viết này theo bốn phần. Phần thứ nhất (từ đầu cho đến “nặng hơn cả AIDS”), tác giả nêu vấn đề đồng thời với nhận định về tầm quan trọng và tính nghiêm trọng của vấn đề: “Ôn dịch thuốc lá đe doạ sức khoẻ và tính mạng loài người còn nặng hơn cả AIDS”.

    Tác giả bắt đầu phần thứ hai bằng cách dẫn lời Trần Hưng Đạo bàn về cách đánh giặc (từ “Ngày trước”… cho đến “tổn hao sức khoẻ”). So sánh việc chống hút thuốc lá với đánh giặc ngoại xâm, tác giả đã tạo ra một ấn tượng mạnh trước khi tiến hành phân tích y học về tác hại của thuốc lá. Những kết quả nghiên cứu của y học trở thành hệ thống luận cứ rõ ràng, thuyết phục tuyệt đối.

    Thuốc lá gặm nhấm sức khoẻ của con người tựa như tằm ăn dâu. Nguy hiểm, đáng sợ hơn, sự gặm nhấm của thuốc lá lại vô hình, không nhìn thấy ngay được. Chỉ có hậu quả của nó, những căn bệnh hiểm nghèo là sờ sờ trước mắt chúng ta. Và, không chỉ có thế, tác giả tiến hành phân tích cả những ảnh hưởng thiệt hại của thuốc lá đến đời sống kinh tế của con người, dù chỉ là bệnh viêm phế quản…

    Từ những tác hại trực tiếp đến sức khoẻ của con người, của người hút thuốc lá, đến phần ba (Từ “Có người bảo” đến “con đường phạm pháp”). Tác giả đặt ra vấn đề mang tính xã hội. Bằng giả định: “Có người bảo: Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi!”, tác giả tiến tới lập luận về tác hại của thuốc lá đối với cả những người không hề hút thuốc lá. Phủ nhận nhận định trong giả định, chứng cứ khoa học cho thấy hút thuốc lá chủ động và hút thuốc lá bị động đều dẫn đến nguy hại cho sức khoẻ. Chống hút thuốc lá không còn là vấn đề chỉ của riêng cá nhân mà, vì nó trực tiếp làm hại cả cộng đồng, cho nên, chống thuốc lá là việc của toàn xã hội.

    Ôn dịch, thuốc lá là một văn bản nghị luận khoa học sắc sảo, nghệ thuật lập luận và thuyết minh đạt đến một trình độ điêu luyện. Vì thế nó mang tính thuyết phục cao, truyền tải được ở mức tối ưu thông điệp chống nạn bệnh hút thuốc lá.

    Cảm nghĩ về ôn dịch thuốc lá

    Nguyễn Khắc Viện là một trí thức Tây học, đỗ bác sĩ tại Pháp trong thập niên bốn mươi của thế kỉ XX. Ông là nhà hoạt động văn hóa, nhà hoạt động xã hội rất nổi tiếng, ở nước ta. Bài “Ôn dịch, thuốc lá” thể hiện cái tâm và cách viết, cách nói sắc sảo, độc đáo của Nguyền Khắc Viện.

    Nhan đề rất độc đáo: “Ôn dịch, thuốc lá”. Độc đáo ở hai chữ “ôn dịch”, độc đáo về cách dùng dấu pháy ở đây, dấu phẩy tạo nên ngữ điệu, gợi lên một tình huống nguy cấp, phải báo động, gây ấn tượng mạnh cho người đọc, người nghe. Cách dùng dấu phẩy ở nhan đề đã thể hiện một lối nói, lối viết theo văn phong châu Âu hiện đại.

    Nếu viết: “ôn dịch thuốc lá” hoặc “Thuốc lá là một loại ôn dịch” đều được, nhưng viết như thế thì “bằng phẳng quá”, ” hiền lành quá” không hấp dẫn, không phù hợp với nội dung văn bản (Chú ý, ở cuối bài tác giả có viết: “… Lại còn thêm ôn dịch thuốc lá này”).

    Mở đầu, tác giả dùng phép so sánh – đối chiếu để lôi kéo, thu hút người đọc: Dịch hạch, thổ tả, những dịch bệnh khủng khiếp từng gây ra và làm chết hàng vạn. hàng triệu người. Nhờ tiến bộ y học mà những dịch khủng khiếp ấy “đã diệt trừ được”.

    Cuối thế kỉ XX, loài người lại “lo âu về nạn AIDS” mà “chưa tìm ra giải pháp” thì “ôn dịch thuốc lá đang (đe dọa sức khỏe và tính mạng loài người còn nặng hơn cả AIDS”. Sự thật khủng khiếp được nhiều nhà bác học, sau mấy chục năm và hơn năm vạn công trình nghiên cứu lớn tiếng báo động. Đúng là con số biết nói!

    Phần thứ hai bài văn, Nguyễn Khắc Viện phân tích và chứng minh rằng, ôn dịch thuốc lá gây ra bao tệ nạn kinh khủng. Trước hết, ộng nhắc lại một câu nói nổi tiếng của Trần Hưng Đạo căn dặn nhà vua: “Nếu giặc đánh như vũ bão thì không đáng sợ, đúng sợ là giặc gặm nhấm như tằm ăn dâu” để chỉ rõ ôn dịch thuốc lá giết dần giết mòn con nghiện, gây ra bao tai hại ghê gớm trong cộng đồng là nguyêo nhân, nguồn gốc của mọi tệ nạn xã hội khác.

    Dẫn câu nói của Trần Hưng Đạc không chỉ làm tiền đề cho lập luận, làm cho luận cứ và luận chứng thêm phần sắc bén, chặt chẽ mà còn tạo cho người đọc bao liên tường đầy thuyết phục về “ôn dịch, thuốc lá”. Thuốc lá là ôn dịch, là một thứ giặc rất đáng sợ vì nó “gặm nhấm” con nghiện và xã hội.

    Khói thuốc lá rất độc, chất hắc ín sẽ “làm tê liệt” những lông rung, lông mao của những tế bào niêm mạc ở nơi vòm họng, ở phế quản, ở nang phổi; chất hắc ín ấy “tích tụ lại” gây ho hen, đờm dãi, và sau nhiều năm gây viêm phế quản. Người nghiện thuốc lá sẽ bị chất ô-xít các-bon trong khói thuốc lá thấm vào máu… làm cho sức khỏe “ngày càng sút kém”.

    Tác giả nêu lên những số liệu để chứng minh ” ôn dịch, thuốc lá” rất đáng sợ. 80% bệnh nhân ung thư vòm họng và ung thư phổi ở bệnh viện K là do thuốc lá. Các bệnh huyết áp cao, tắc động mạch, nhồi máu cơ tim đều do chất ni-cô-tin của thuốc lá gây ra. Những cái chết đột tử do nhồi máu cơ tim, những khối ung thư ghê tởm của con bệnh 40-50 tuổi đều cho thấy “tác hại ghê gớm của thuốc lá”.

    Hàng triệu người bị viêm phế quản làm mất bao nhiêu ngày lao động và tổn hao sức khỏe đều do thuốc lá gây ra. Những số liệu ấy đầy sức thuyết phục vì đó là những căn cứ khoa học, là ý kiến của bác sĩ viện trưởng bệnh viện K, của bác sĩ viện trưởng viện nghiên cứu các bệnh tim mạch nêu lên.

    Nguy hại hơn nữa là kẻ nghiện thuốc lá “đã đầu độc” những người xung quanh do khói thuốc lá. Vợ con… bị nhiễm độc, nhất là những thai nhi. Hiện tượng đẻ non, đẻ ra đã suy yếu… đều do bị nhiềm độc bởi khói thuốc lá. Câu văn: “Hút thuốc lá cạnh một người đàn bà cỏ thai quả là một tội ác” vang lên như một lời kết tội nghiêm khắc.

    Về mặt đạo đức, người lớn (bố, anh, chú, bác…) nghiên thuốc lá “không những đầu độc con em mà còn nêu gương xấu”. Cho nên câu nói: “Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi!” chỉ là lời lẽ gàn bướng của con nghiện!

    Phần cuối, tác giả cho biết nghiện thuốc lá là nguyên nhân của các tệ nạn khác như ma túy, trộm cắp. ở Việt Nam ta, một nước thuộc diện “nghèo” mà tỉ lệ thanh thiếu niên hút thuốc ở các thành phố lớn “ngang với tỉ lệ các thành phố Âu – Mỹ”.

    Trái lại, ở Việt Nam, một nơi có nhiều bệnh như sốt rét, bệnh phong, lao, ỉa chảy chưa thanh toán được, ‘lại ôm thêm ôn dịch thuốc lá này”. Tệ nạn ấy “nghĩ đến mà kinh!”. Bằng tấm lòng của người thầy thuốc, Nguyền Khắc Viện thiết tha kêu gọi mọi người Việt Nam “phải đứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch” – thuốc lá.

    “Ôn dịch, thuốc lá” là một văn bản thuyết minh được viết bằng một văn phong hiện đại, độc đáo. Các lí lẽ và dẫn chứng được tác giả nêu lên qua sự phân tích sắc bén, qua sự so sánh liên tưởng đầy sức thuyết phục. Bài văn đã thể hiện sư quan tâm và lo lắng của Nguyễn Khắc Viện trước tệ nạn ” ôn dịch, thuốc lá”.

    Bài văn đã nâng cao nhận thức cho mỗi chúng ta nhất là các bạn trẻ biết về những tác hại ghê gớm về thuốc lá. Và hãy coi chừng ôn dịch, thuốc lá.

    Một cảm nhận khác về bài ôn dịch thuốc lá

    Nhan đề bài viết của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện là ‘Ôn dịch thuốc lá’. Đọc nhan đề bài viết ta đã cảm nhận được tác hại của việc hút thuốc lá.

    Có một lần bạn tôi tranh luận. ‘Đã gọi là thuốcthì nhất định nó có tác dụng nào đó trong việc chữa bệnh’. Bạn tôi còn viện dẫn trường hợp của cha và anh nó nghiện thuốc lá đã bao lâu rồi mà có thấy làm sao đâu! Thậm chí anh nó nói rằng không hút thuốc lá người sẽ béo phì ra nữa!

    Nhưng vừa rồi, bố bạn tôi phải vào viện chữa bệnh tắc nghẽn động mạch phổi vì hút thuốc lá. Anh nó thì ho sù sụ suốt ngày đêm vì viêm họng mãn tính do hút thuốc lá.

    Bây giờ thì bạn tôi không cãi hộ cho cha và anh nữa mà chính bạn ấy thỉnh thoảng cũng ‘phì phèo’ một vài hơi thuốc lá.

    Trong khói thuốc lá có chất oxít cacbon, chất này thấm vào máu, bám chặt lấy hồng cầu không cho chúng tiếp cận với oxi nữa. Vì vậy sức khỏe của người nghiện ngày một sút kém. Nguy hại hơn nữa, chất hắc ín thường gây ra bệnh ung thư. Bác sĩ Viện trưởng bệnh viện K cho biết 80% ung thư vòm họng và ung thưphổi là do thuốc lá gây nên.

    Bác sĩ viện trưởng tim mạch cũng cho biết: chất nicôtintrong thuốc lá làm cho động mạch co thắt lại, gây những bệnh nghiêm trọng như ‘huyết áp cao’, ‘tắc nghẽn động mạch’, gây ‘nhồi máu cơ tim’… Có bệnh nhân phải cắt dần từng ngón chân, ngón tay thậm chí cả bàn chân vì tắc động mạch. Và không biết bao nhiêu người đã đột tử vì nhồi máu cơ tim khi mới 40-50 tuổi.

    Kẻ nghiện thuốc lá còn đầu độc những người xung quanh bằng khói thuốc lá. Hiện tượng sinh non, trẻ mới sinh ra đã suy yếu đều có thể do bị nhiễm độc từ khói thuốc lá.

    Sau khi đọc xong bài ‘Ôn dịch thuốc lá’ bạn tôi thẫn thờ khi nghĩ đến hậu quả của việc hút thuốc lá. Nếu không sớm được học bài này thì bạn tôi cũng có thể đi theo vết xe của cha, anh.

    Từ đó, tôi thấy bài viết có tác dụng rất lớn trong việc ngăn chặn, đưa ra lời cảnh báo kịp thời để chúng tôi, những người trẻ tuổi, những người học sinh thấy được tác hại của ‘ôn dịch thuốc lá ‘

    Soạn bài ôn dịch, thuốc lá của ngữ văn lớp 8

    Câu 1. Phân tích ý nghĩa của việc dùng dấu phẩy trong đầu đề của văn bản Ôn dịch, thuốc lá.

    • Tên gọi của văn bản này không chí có nghĩa là một thứ bệnh dễ lan truyền rộng. Ở đây tác giả dùng từ “ôn dịch”, một từ có ý nghĩa chửi rủa và bắt đầu dấy phẩy ngăn cách giữa hai từ “ôn dịch” và “thuốc lá”, là sử dụng theo lối tu từ để nhấn mạnh sắc thái biểu cảm (vừa căm tức vừa ghê tởm).
    • Ta có thể diễn ý tên gọi văn ản một cách khác là Thuốc là một loại ôn dịch.

    Câu 2. Vì sao tác giả dẫn lời Trần Hưng Đạo Bàn về việc đánh giặc trước khi phân tích tác hại của thuốc lá? Điều đó có tác dụng gì trong lập luận?

    • Tác giả dẫn lời Trần Hưng Đạo bàn về việc đánh giặc trước khi phân tích tác hại của thuốc lá nhằm mục đích lấy lối so sánh rất hay của nhà quân sự thiên tài để thuyết minh một vấn đề ý học.
    • Nói một cách đơn giản, khói thuốc không làm cho người “lăn đùng ra chết ngay” mà nó gặm nhấm dần sức khỏe của người như tằm ăn lá dâu, nghĩa là người hút không thấy ngay tác hại cua nó… Điều này có tác dụng rất sắc sảo trong lập luận.

    Câu 3. Tác giả đã nêu lên tác hại của thuốc lá như thế nào đối với con người?

      Bằng những cứ liệu khoa học, bằng sự giải thích, phân tích tường tận của một nhà khoa học, tác giả chứng minh cho mọi người thấy được tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe của con người nó gây ra những căn bệnh nan y: Viêm phế quản, ung thư phổi và ung thư vòm họng làm tắc động mạch, làm nhồi máu cơ tim… khiến cho người đọc phải rùng mình kinh sợ.

    Câu 4. Vì sao tác giả đặt giả định “Có người bảo: Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi!” trước khi nêu lên những tác hại về phương diện xã hội của thuốc lá?

    • Bằng cách này, tác giả bác bỏ lối chống chế thường gặp ở những người hút thuốc. Người hút thuốc trực tiếp bị chất độc nicôtin, oxit cacbon gây tác hại, nhưng còn gây tác hại cho những người xung quanh phải ngửi mùi thuốc (nhất là trẻ con và phụ nữ mang thai).
    • Để chỉ rõ sự ôn dịch của thuốc là nó không chỉ ảnh hưởng tới một người hút mà nó còn ảnh hưởng, còn đầu độc tới mọi người xung quanh (những người làm việc cùng phòng, vợ, con, đặc biệt là thai nhi bé bỏng dẫn tới việc sinh non rất nguy hiểm).
    • Thể hiện thái độ phê phán nghiêm khắc với những người hút thuốc là và đề nghị những người hút thuốc lá phải có ý thức ra hành lang hoặc ngoài sân để không ảnh hưởng đến người khác.
    • Tác giả so sánh tình hình hút thuốc của nước ta với các nước Âu-Mĩ trước khi đưa ra kiến nghị là để cho thấy hậu quả của việc hút thuốc lá ở nước ta còn nghiêm trọng hơn ở các nước đó. Ta nghèo hơn nhưng lại “xài” thuốc lá tương đương với các nước đó.
    • Đây là điều không thể chấp nhận. Điều thứ hai là cho thấy các nước đã tiến hành những chiến dịch, thực hiện những biện pháp ngăn ngừa, hạn chế thuốc lá quyết liệt hơn ta.

    Câu 6. Nghệ thuật.

    • Với phong cách ngôn ngữ báo chí, bằng phương pháp liệt kê, phân tích chứng minh… văn bản đã làm sáng tỏ, đầy sức thuyết phục về tác hại của thuốc lá, kêu gọi mọi người hãy đứng lên ngăn ngừa, chặn đứng nạn ôn dịch thuốc lá.
    • Các lí lẽ và dẫn chứng được tác giả nêu lên qua sự phân tích sâu sắc và so sánh liên tưởng rất thực tế, đầy tính thuyết phục.

    Câu 7. Ý nghĩa

    • Giống như ôn dịch, nạn nghiện thuốc lá rất dễ lây lan và gây ra những tổn hại to lớn cho sức khỏe và tính mạng con người. Song, nạn nghiện thuốc lá còn nguy hiểm hơn cả ôn dịch: nó gặm nhấm sức khỏe con người nên không dễ kịp thời nhận biết, nó gây tác hại nhiều mặt đối với gia đình và xã hội. Cần quyết tâm phòng chống ôn dịch thuốc lá.
    • Hãy đáp lại tấm lòng của người thầy thuốc, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, thiết tha kêu gọi mọi người, nhất là thanh niên, hãy đứng lên ngăn ngừa, chặn đứng nạn ôn dịch thuốc lá.

    II. Luyện tập.

    Câu 1. Tìm hiểu tinh trạng hút thuốc lá ở một số người thân và dựa vào cách lập bảng thống kê để phân loại nguyên nhân.

    • Lứa tuổi 20 – 25 tuổi.
    • Vui bạn, nể bạn 30%.
    • Bắt chước 60%.
    • Vì lịch sự, xã giao 10%.

    Câu 2. Ghi lại cảm nghĩ sau khi đọc bản tin của báo Sài Gòn tiếp thị.

      Hãy ghi lại cảm nghĩ chân thực của mình về cái chết thảm không phải là của người nghèo khổ mà là một tỷ phú ở Mỹ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 8: Nước Đại Việt Ta
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Câu Nghi Vấn (Tiếp Theo) Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Văn 8 Ngắn Nhất Bài: Câu Nghi Vấn
  • Soạn Bài Câu Nghi Vấn (Tiếp Theo
  • Soạn Văn 8 Ngắn Nhất Bài: Câu Nghi Vấn (Tt)
  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 19: Tức Cảnh Pác Bó

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tức Cảnh Pắc Bó Của Hồ Chí Minh
  • Soạn Bài: Tức Cảnh Pác Bó
  • Soạn Bài Tức Cảnh Pác Bó Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Unit 15 Lớp 8: Read
  • Giáo Án Anh Văn 8 (Từ Bài 1
  • Soạn văn 8 VNEN Bài 19: Tức cảnh Pác Bó

    A. Hoạt động khởi động

    (trang 18, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Em đã được học bài thơ nào của Bác Hồ viết ở chiến khu Việt Bắc? Hãy đọc và nêu cảm nhận của em về hình ảnh Bác trong bài thơ đó.

    Trả lời:

    Bài thơ “Rằm tháng giêng” (Nguyên tiêu) được Bác Hồ viết vào năm 1948 tại chiến khu Việt Bắc:

    Phiên âm:

    Nguyên tiêu

    Kim dạ nguyền tiêu nguyệt chính viên Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên Yên ba thâm xứ đàm quân sự Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền Dịch thơ:

    Rằm tháng giêng

    Rằm xuân lồng lộng trăng soi Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân Giữa dòng bàn bạc việc quân Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

    Cảnh sắc trong bài thơ là trăng xuân, cảnh trăng trên sông, con thuyền nhỏ, không gian bát ngát tràn sức xuân. Bài thơ còn biểu hiện tâm hồn thơ mộng, yêu thiên nhiên, say đắm, hòa mình vào ánh trăng núi rừng. Thể hiện phong thái ung dung, tinh thần lạc quan của Bác.

    B. Hoạt động hình thành kiến thức

    1. (trang 19, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Đọc văn bản “Tức cảnh Pác Bó”.

    2. (trang 19, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Tìm hiểu văn bản.

    a. Em hiểu thế nào về hai chữ “tức cảnh” trong nhan đề bài thơ?

    b. Đọc hiểu hai câu thơ mở đầu và thực hiện các yêu cầu:

    (1) Tìm và nêu tác dụng của các từ trái nghĩa trong câu thơ đầu. Những hình ảnh như hang, bờ suối gợi lên mối quan hệ như thế nào giữa con người với thiên nhiên?

    (2) Theo em, hình ảnh nhân vật trữ tình trong hai câu thơ đầu có nét gần gũi với kiểu hình tượng nào sau đây trong thơ ca trung đại?

    A – Hình tượng chinh phu, tráng sĩ bày tỏ chí hướng, hoài bão.

    B – Hình tượng ẩn sĩ vui thú lâm tuyền.

    C – Hình tượng lữ khách mang tâm trạng nhớ quê.

    D – Hình tượng người tài tử chán ghét công danh.

    c. Câu thơ thứ ba tạo nên bước chuyển về cảm xúc thơ như thế nào?

    d. Vì sao trong câu thơ cuối, nhân vật trữ tình cảm nhận cuộc đời cách mạng “thật là sang”? Câu thơ hé mở điều gì về tâm hồn, lẽ sống của Bác.

    e. Nhận xét về giọng điệu của bài thơ.

    Trả lời:

    a. Hai chữ “tức cảnh” trong nhan đề bài thơ: Người viết bất chợt bắt gặp một sự việc, một cảnh tượng cụ thể mà nảy sinh cảm hứng sáng tác nên bài thơ.

    b. Đọc hiểu hai câu thơ mở đầu

    (1) Các từ trái nghĩa trong hai câu thơ đầu:

    Các cặp từ trái nghĩa kết hợp với nhịp thơ linh hoạt diễn tả lối sống nhịp nhàng, đều đặn, nề nếp của Bác Hồ.

    Những hình ảnh như hang, bờ suối gợi lên mối quan hệ hòa hợp, gắn bó giữa con người với thiên nhiên, sự ung dung, thoải mái giữa cuộc sống núi rừng.

    (2) Chọn B – Hình tượng ẩn sĩ vui thú lâm tuyền.

    c. Câu thơ thứ ba tạo nên bước chuyển về cảm xúc thơ vì hai câu thơ trên đang thể hiện tâm hồn khoáng đạt, giao cảm với thiên nhiên. Câu 3 này lại chuyển sang sự trang nghiêm, trang trọng, lớn lao của cuộc đời, sự nghiệp Cách mạng. Ý thơ từ chất thi sĩ chuyển sang chất chiến sĩ.

    d.Trong câu thơ cuối, nhân vật trữ tình cảm nhận cuộc đời cách mạng “thật là sang” bởi vì:

    + Bác đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên hàng đầu.

    + Niềm vui lớn nhất của Người là tìm ra đường giải phóng nước nhà.

    + “sang” Người sống hòa hợp, vui vẻ với tự nhiên.

    → Câu thơ hé mở sự hi sinh thầm lặng của Người- một Nhân cách vĩ đại, cao khiết.

    e. Nhận xét về giọng điệu của bài thơ:

    Giọng điệu chung của bài thơ là vui, pha chút hóm hỉnh, hài hước

    – Tâm trạng của Bác Hồ ở Pác Bó :

    + “sáng ra bờ suối, tối vào hang” → cuộc sống tự tại, hòa hợp với tự nhiên

    + “cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng” → thiếu thốn, đói khổ nhưng vẫn yêu đời, vui vẻ.

    + “bàn đá chông chênh” → sự khó khăn gian khổ của hoàn cảnh sống cũng chính là gian khổ của cuộc chiến đấu chống ngoại xâm.

    → Trải qua rất nhiều khó khăn, gian khổ khi sống ở Pác Bó nhưng Bác vẫn sống ung dung, tự tại và hòa hợp với tự nhiên.

    3. (trang 20, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Tìm hiểu về câu cầu khiến

    a. Chỉ ra câu cầu khiến trong những đoạn trích sau:

    (1) Ông lão chào con cá và nói: – Mụ vợ tôi lại nổi cơn điên rồi. Nó không muốn làm bà nhất phẩm phu nhân nữa, nó muốn làm nữ hoàng. Con cá trả lời: – Thôi đừng lo lắng. Cứ về đi. Trời phù hộ lão. Mụ già sẽ là nữ hoàng.

    (Ông lão đánh cá và con cá vàng)

    (2) Tôi khóc nấc lên. Mẹ tôi từ ngoài đi vào. Mẹ vuốt tóc tôi và nhẹ nhàng dắt tay em Thuỷ: – Đi thôi con.

    (Theo Khánh Hoài, Cuộc chia tay của những con búp bê)

    b. Cách đọc câu “Mở cửa.” và “Mở cửa!” trong những trường hợp sau có gì khác nhau? Câu nào là câu cầu khiến? Tại sao?

    (1) – Anh làm gì đấy?

    – Mở cửa. Hôm nay trời nóng quá.

    (2) Đang ngồi viết thư, tôi bõng nghe tiếng ai đó vọng vào:

    – Mở cửa!

    c. Theo em, câu cầu khiến thường có những từ ngữ nào? Câu cầu khiến được dùng để làm gì? Khi viết câu cầu khiến thường kết thúc bằng dấu hiệu gì?

    Trả lời:

    a.Câu cầu khiến trong các đoạn trích:

    (1) – Thôi đừng lo lắng. Cứ về đi.

    (2) – Đi thôi con.

    b. Khi đọc câu “Mở cửa” trong trường hợp (1), ta đọc với giọng đều và bình thường. Còn với câu “Mở cửa!” trong trường hợp (2) ta cần đọc với sự nhấn giọng, thể hiện thái độ (bực bội hoặc đe dọa …)

    Câu “Mở cửa!” (2) là câu cầu khiến.

    Vì câu “Mở cửa.” ở trường hợp (1) nhằm trần thuật, giải thích. Còn câu “Mở cửa!” ở trường hợp (2) là nhằm ra lệnh, cầu khiến.

    c. Câu cầu khiến thường có những từ ngữ như: hãy, đừng, chớ, đi, thôi, nào…

    Câu cầu khiến được dùng để ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khuyên bảo…

    Khi viết, câu cầu khiến thường kết thúc bằng dấu chấm than.

    4. (trang 20, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh

    Đọc bài viết sau và trả lời câu hỏi:

    HỒ HOÀN KIẾM VÀ ĐỀN NGỌC SƠN

    Nếu tính từ khi hồ Hoàn Kiếm còn là một đoạn của dòng cũ sông Hồng để lại sau khi sông chuyển dòng thì tới nay hồ đã có đến vài nghìn tuổi. Nhưng cái tên Hoàn Kiếm thì mới có từ năm thế kỉ nay. Trước đó, hồ có tên là Lục Thủy vì nước hồ bốn mùa xanh ngắt. Tới thế kỉ XV có tên Hoàn Kiếm do sự tích Lê Lợi trả gươm. Truyện kể rằng Lê Lợi khi còn ở Lam Sơn có bắt được một thanh gươm. Gươm ấy luôn ở bên ông trong suốt mười năm chinh chiến. Khi dẹp xong giặc Minh, vua Lê về Thăng Long, một hôm ngự thuyền dạo chơi trên hồ Lục Thủy, bỗng một con rùa nổi lên, ông rút gươm ra trỏ thì rùa liền đớp ngay thanh gươm mà lặn xuống. Như vậy là vua trả gươm cho trời. Vì vậy, hồ có tên là Hoàn Kiếm, gọi nôm na là Hồ Gươm. Sau thủy quân dùng hồ làm nơi luyện tập nên có thêm tên là hồ Thủy Quân.

    Theo truyền thuyết thì đời Lê Thánh Tông (nửa sau thế kỉ XV) chỗ này là gò Tháp Rùa từng là Điếu Đài tức là nơi vua đến ngồi câu cá. Đến thời Vĩnh Hựu, chúa Trịnh Giang lập cung Khánh Thụy ở đảo Ngọc làm nơi hóng gió ngày hè. Đầu thế kỉ XIX, một ngôi chùa được dựng lên trên nền cung Khánh Thụy cũ và có tên chùa Ngọc Sơn. Ít lâu sau, nơi đây không thờ Phật nữa mà thờ thánh Văn Xương (chủ về văn chương, khoa cử) và Đức thánh Trần (tức anh hùng Trần Quốc Tuấn), do vậy được đổi gọi là đền Ngọc Sơn. Năm 1864, Nguyễn Văn Siêu, nhà văn hóa lớn của Hà Nội thời đó, đã đứng ra sửa sang lại toàn cảnh. Trên gò Ngọc Bội, ông xây một ngọn tháp hình bút lông, thân tháp có tạc ba chữ Tả thanh thiên (có nghĩa là viết lên trời xanh). Đó là Tháp Bút. Đi qua Tháp Bút tới một cửa cuốn gọi là Đài Nghiên vì trên có đặt một cái nghiên mực bằng đá. Qua Đài Nghiên đến cầu Thê Húc (có nghĩa là nơi ánh mặt trời đậu lại). Cầu dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn. Đền có ba nếp, nếp ngoài là bái đường, nếp giữa là nơi thờ Văn Xương và nếp sau thờ Trần Hưng Đạo. Trước mặt bái đường là Trấn Ba Đình (đình chắn sóng). Nhìn thẳng về hướng nam là Tháp Rùa. Tháp chỉ mới có từ cuối thế kỉ XIX nhưng đã trở thành biểu tượng quen thuộc của Hồ Gươm Hà Nội.

    Ngày nay khu vực quanh hồ đã thành tên là Bờ Hồ, là nơi nhân dân thủ đô dạo chơi ngày hè, nơi đón giao thừa, lại còn là nơi tổ chức hội hoa đăng – đèn hoa – pháo hoa – trong những dịp lễ tết hằng năm.

    (Theo Lịch văn hóa tổng hợp 1987 – 1990 )

    a. Bài viết giới thiệu hai danh thắng cảnh nào của Thủ đô Hà Nội?

    b. Bài viết được sắp xếp theo bố cục, trình tự nào? Bài viết còn có chỗ nào chưa hoàn chỉnh về bố cục?

    c. Bài viết đã sử dụng phương pháp thuyết minh nào?

    Trả lời:

    d. Muốn viết được bài giới thiệu về một danh lam thắng cảnh, em cần phải làm gì?

    a. Bài viết giới thiệu hai danh thắng cảnh của Thủ đô Hà Nội là: Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn

    b. Bài viết được sắp xếp theo bố cục sau:

    Mở bài: Giới thiệu chung về hai thắng cảnh hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn.

    – Thân bài:

    + Giới thiệu về hồ Hoàn Kiếm

    + Giới thiệu đền Ngọc Sơn

    – Kết bài: Giới thiệu về các danh lam thắng cảnh xung quanh hồ.

    c. Bài viết đã sử dụng phương pháp thuyết minh là: phân tích, liệt kê.

    d. Muốn viết được bài giới thiệu về một danh lam thắng cảnh, em cần:

    + Sự quan sát và trải nghiệm thực tiễn

    + Tìm hiểu kiến thức thông qua sách vở, lịch sử, tích truyện dân gian, truyền thống văn hóa của vùng đất được thuyết minh.

    → Kết hợp hai nguồn kiến thức trên để bài viết sinh động, chân thực, có chiều sâu.

    C. Hoạt động luyện tập

    1. (trang 21, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Nhận xét về câu thơ thứ 2 của bài thơ “Tức cảnh Pác Bó”, có ý kiến cho rằng từ “sẵn sàng” chỉ sự có sẵn của “cháo bẹ rau măng”, nhưng ý kiến khác lại cho rằng đó là sự “sẵn sàng” của tinh thần cách mạng. Em đồng ý với ý kiến nào? Vì sao?

    Cả hai ý kiến trên đều đúng, bởi vì:

    + Thứ nhất, trong điều kiện sống giữa núi rừng chiến khi Việt Bắc, những sản vật như “bẹ”, như “rau”, như “măng” rất đầy đủ và lúc nào cũng có “sẵn”.

    + Thứ hai, ở đây ta còn có thể hiểu câu thơ này là, dẫu trong điều kiện gian khổ, thiếu thốn về vật chất nhưng người chiến sĩ cách mạng lúc nào cũng “sẵn sàng” để phục vụ cho cách mạng, phục vụ cho lợi ích dân tộc.

    2. (trang 21, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Luyện tập về câu cầu khiến

    (1) Hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên vương.

    a. Gạch dưới những từ ngữ cầu khiến trong các câu sau và thử thêm, bớt hoặc thay đổi chủ ngữ xem ý nghĩa của câu thay đổi như thế nào.

    (2) Ông giáo hút trước đi.

    (Bánh chưng, bánh giầy)

    (3) Nay chúng ta đừng làm gì nữa, thử xem lão Miệng có sống được không.

    (Nam Cao, Lão Hạc)

    (Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng)

    (1) Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi. Đào tổ nông thì cho chết!

    b. Gạch dưới câu cầu khiến trong những đoạn trích sau. Nhận xét sự khác nhau về hình thức biểu hiện ý nghĩa cầu khiến giữa các câu đó.

    (2) Ông đốc tươi cười nhẫn nại chờ chúng tôi: – Các em đừng khóc. Trưa nay các em được về nhà cơ mà. Và ngày mai lại được nghỉ cả ngày nữa.

    (Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí)

    (3) Có anh chàng nọ tính tình rất keo kiệt. Một hôm đi đò qua sông, anh chàng khát nước bèn cúi xuống, lấy tay vục nước sông uống. Chẳng may quá đà, anh ta lộn cổ xuống sông. Một người ngồi cạnh thấy thế, vội giơ tay hét lên: – Đưa tay cho tôi mau! Anh chàng sắp chìm nghỉm nhưng vẫn không chịu nắm tay người kia. Bỗng một người có vẻ quen biết anh chàng chạy lại, nói: – Cầm lấy tay tôi này! Tức thì, anh ta cố ngoi lên, nắm chặt lấy tay người nọ và được cứu thoát […].

    (Thanh Tịnh, Tôi đi học)

    (Theo Ngữ văn 6, tập một)

    (1) Thầy em hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột. (2) Hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột!

    c. So sánh hình thức và ý nghĩa của hai câu sau:

    Trả lời:

    (Ngô Tất Tố, Tắt đèn)

    a. Những từ cầu khiến trong câu:

    (1) Hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên vương.

    (2) Ông giáo hút trước đi.

    (3) Nay chúng ta đừng làm gì nữa, thử xem lão Miệng có sống được không.

    Khi thêm, bớt hoặc thay đổi chủ ngữ, nghĩa của câu có những sự thay đổi nhất định:

    (1) Thêm chủ ngữ: Con hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên vương.

    Nghĩa của câu về cơ bản không thay đổi nhưng giúp cho đối tượng tiếp nhận được xác định rõ hơn và đồng thời sắc thái của lời yêu cầu những nhẹ nhàng, tình cảm hơn.

    (2) Bớt chủ ngữ: Hút trước đi.

    Nghĩa của câu thay đổi: Lời đề nghị trở nên sỗ sàng, bất lịch sự và khiếm nhã.

    (3) Thay đổi chủ ngữ: Nay các anh đừng làm gì nữa, thử xem lão Miệng có sống được không?

    Nghĩa của câu thay đổi: người nói đã bị loại ra khỏi những đối tượng tiếp nhận lời đề nghị.

    b. Câu cầu khiến:

    (1) Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi.

    (2) – Các em đừng khóc.

    (3) – Đưa tay cho tôi mau!

    – Cầm lấy tay tôi này!

    Sự khác nhau về hình thức biểu hiện ý nghĩa cầu khiến giữa các câu:

    Câu (1): có từ cầu khiến: đi; không có chủ ngữ.

    Câu (2): có từ cầu khiến: đừng, có chủ ngữ: Các em.

    Câu (3): Không có chủ ngữ và từ ngữ cầu khiến, chỉ có ngữ điệu cầu khiến.

    c. So sánh hình thức và ý nghĩa của hai câu:

    Câu (1) có chủ ngữ Thầy em, ngược lại câu (2) không có chủ ngữ

    ⇒ Ý nghĩa cầu khiến của câu (1) nhẹ nhàng, ân cần và tình cảm hơn.

    3. (trang 21, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Luyện tập về văn bản thuyết minh

    a. Lập bảng so sánh đặc điểm của văn bản thuyết minh với các loại văn bản đã học trong chương trình (tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận) theo mẫu sau:

    b. Lập dàn bài cho các đề bài sau:

    (1) Giới thiệu một đồ dùng học tập hoặc đồ dùng sinh hoạt.

    (2) Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê hương em.

    Trả lời:

    (3) Giới thiệu về một văn bản mà em đã học.

    a. Lập bảng so sánh

    Loại văn bản Văn bản tự sự Văn bản miêu tả Văn bản biểu cảm Văn bản nghị luận Văn bản thuyết minh

    Mục đích (Đặc điểm)

    kể lại, thuật lại sự việc

    Vẽ lại sự vật, sự việc bằng ngôn ngữ một cách sinh động

    Bày tỏ suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc của người viết

    Bày tỏ quan điểm, nhận xét, đánh giá về một vấn đề

    Giới thiệu sự vật, hiện tượng; giúp cho người đọc hiếu rõ đặc điểm, tính chất, nguyên nhân và có cái nhìn khách quan về sự vật, hiện tượng đó.

    (1) Giới thiệu một đồ dùng học tập hoặc đồ dùng sinh hoạt.

    b. Lập dàn bài:

    Mở bài: Giới thiệu về đồ dùng thuyết minh (thước kẻ, bút chì, bút máy…)

    Thân bài:

    – Nguồn gốc, xuất xứ của đồ dùng : hãng sản xuất

    – Hình dáng: Màu sắc, kích thước

    – Cấu tạo:

    + Gồm mấy phần?

    + Gồm những bộ phận nào?

    + Các bộ phận được sắp xếp ra sao? Công dụng của từng bộ phận

    – Cách sử dụng

    – Cách bảo quản

    (2) Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê hương em.

    Kết luận: Giá trị, tầm quan trọng hữu ích của đồ dùng đó trong học tập

    Mở bài: Giới thiệu chung về thắng cảnh tại quê hương

    Thân bài:

    – Vị trí địa lý

    + Diện tích ( lớn, nhỏ )

    + Đến đó bằng phương tiện gì thuận tiện?

    + Cảnh vật xung quanh thắng cảnh đó như thế nào?

    – Nguồn gốc ( hình thành và phát triển)

    + Lịch sử hình thành: có từ bao giờ, ai là người khởi công xây dựng…

    + Hiện tại thắng cảnh đó trong tình trạng nào? ( cần tu sửa nâng cấp, đã được sửa sang kiên cố…)

    + Quy mô

    – Nhìn toàn cảnh:

    + Nhìn tổng thể từ xa

    + Nổi bật nhất là điều gì

    + Kiến trúc nổi bật bên trong: Cách trang trí, sắp xếp, bố cục…

    – Giá trị văn hóa lịch sử của địa danh

    + Địa danh tô điểm đẹp cho vùng quê như thế nào?

    + Thu hút lượng khách du lịch

    (3) Thuyết minh về một văn bản, một thể loại văn học mà em được học

    Kết bài: Tình cảm, cảm nghĩ chung về đối tượng

    Mở bài: Giới thiệu chung về thể loại văn học mà em chọn thuyết minh ( văn học dân gian, văn học trung đại, văn học hiện đại)

    Thân bài:

    – Khái quát chung:

    + Đưa ra khái niệm về thể loại văn học đó

    – Các đặc trưng của thể loại:

    + Chỉ ra các đặc điểm cơ bản

    + Nhấn mạnh vào đặc điểm nổi bật có giá trị khu biệt

    – Dẫn ra các tác phẩm văn học tiêu biểu của thể loại

    Kết bài: Cảm nghĩ chung về thể loại văn học đó.

    D. Hoạt động vận dụng

    Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai Côn Sơn có đá rêu phơi Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm Trong ghềnh thông mọc như nêm, Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. Trả lời:

    1. (trang 23, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) So sánh hình ảnh Bác Hồ trong bài thơ Tức cảnh Pác Bó và hình ảnh Nguyễn Trãi trong đoạn trích Bài ca Côn Sơn sau đây:

    Thú vui “lâm tuyền” của Hồ Chí Minh và Nguyễn Trãi:

    – Giống nhau:

    + Đều sống hòa hợp, vui vẻ, chan hòa với tự nhiên.

    + Thuận theo tự nhiên, lấy tự nhiên là nhà.

    – Khác nhau:

    + Nguyễn Trãi: bất lực trước thực tại nên lui về ở ẩn, “lánh đục về trong”, tự tìm đến cuộc sống ẩn sĩ “an bần lạc đạo”.

    + Hồ Chí Minh: ở giữa thiên nhiên do điều kiện cách mạng bắt buộc, Bác thiếu thốn mọi thứ từ đồ dùng, thực phẩm, cho tới nhà ở. Người hoạt động cách mạng, tìm đường hướng cứu nước giúp đời.

    Trả lời:

    2. (trang 23, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Dựa vào những gợi ý ở mục 3, Hoạt động luyện tập, hãy viết bài văn giới thiệu một đồ dùng học tập/ sinh hoạt hoặc giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê hương em hay giới thiệu một văn bản mà em đã học.

    “Mặt Hồ Gươm vẫn lung linh mây trời, càng toả mát hương hoa thơm Thủ đô…”. Nhắc đến Hà Nội là nhắc đến hình ảnh Hồ Gươm trong xanh và bóng Tháp Rùa nghiêng nghiêng soi dáng. Hồ Gươm cùng quần thể kiến trúc của nó đã trở thành một biểu tượng đẹp đẽ và thiêng liêng về Hà Nội – trái tim hồng của cả nước.

    Hồ Gươm đã tồn tại từ rất lâu. Cách đây khoảng 6 thế kỷ, theo những địa danh hiện nay, hồ gồm hai phần chạy dài từ phố Hàng Đào, qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt tới phố Hàng Chuối, thông với sông Hồng. Nước hồ quanh năm xanh biếc nên hồ Gươm cũng được gọi là hồ Lục Thuỷ.

    Vào thế kỷ XV, hồ được đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm. Sự kiện ấy gắn liền với truyền thuyết trả gươm thần cho Rùa Vàng của vị vua khai triều nhà Hậu Lê – người anh hùng của khởi nghĩa Lam Sơn chống lại giặc Minh (1417 – 1427), Lê Lợi. Truyền thuyết kể rằng khi Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, có người dân mò được một lưỡi gươm, sau đó chính ông nhặt được một cái chuôi ở trong rừng. Khi lưỡi gắn vào chuôi gươm thì thân gươm ánh lên hai chữ “Thuận Thiên” – “Thuận theo ý trời”. Gươm báu này đã theo Lê Lợi trong suốt thời gian kháng chiến chống giặc Minh. Khi lên ngôi về đóng đô ở Thăng Long, trong một lần nhà vua đi chơi thuyền trên hồ Lục Thuỷ, bỗng một con rùa xuất hiện. Rùa vươn đầu cất tiếng nói: “Xin bệ hạ hãy hoàn lại gươm cho Long Quân”. Lê Thái Tổ hiểu ra sự việc bèn rút gươm khỏi vỏ, giơ gươm ra thì gươm bay về phía con rùa. Rùa ngậm gươm lặn xuống đáy hồ, và từ đó hồ Lục Thuỷ có tên gọi mới là hồ Hoàn Kiếm (trả gươm) hay hồ Gươm. Chính truyền thuyết đặc sắc này đã khẳng định tấm lòng yêu chuộng hoà bình, ghét chiến tranh của người dân Thăng Long – Hà Nội nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung. Câu chuyện này đã được nhấn mạnh trong ngày lễ Hà Nội đón nhận danh hiệu “Thành phố Vì hoà bình”

    Sau đó, cũng vào thời Lê, hồ còn được dùng làm nơi tập luyện của thuỷ quân nên có lúc được gọi là hồ Thuỷ Quân.

    Hồ Hoàn Kiếm là một thắng cảnh nổi tiếng của Hà Nội. Quanh hồ trồng nhiều loại hoa và cây cảnh. Đó là những hàng liễu rủ thướt tha, những nhành lộc vừng nghiêng nghiêng đổ hoa soi bóng dưới lòng hồ. Giữa hồ có tháp Rùa, cạnh hồ có đền Ngọc Sơn có “Đài Nghiên Tháp Bút chưa sờn”… Hình ảnh hồ Gươm lung linh giống như một tấm gương xinh đẹp giữa lòng thành phố đã đi vào lòng nhiều người dân Hà Nội. Người dân Hà Nội sống ở khu vực quanh hồ có thói quen ra đây tập thể dục vào sáng sớm, đặc biệt là vào mùa hè. Họ gọi các khu phố nằm quanh hồ là Bờ Hồ.

    “Hà Nội có Hồ Gươm Nước xanh như pha mực Bên hồ ngọn Tháp Bút Viết thơ lên trời cao”

    Không phải là hồ nước lớn nhất trong Thủ đô, song với nguồn gốc đặc biệt, hồ Hoàn Kiếm đã gắn liền với cuộc sống và tâm tư của nhiều người. Hồ nằm ở trung tâm một quận với những khu phố cổ chật hẹp, đã mở ra một khoảng không đủ rộng cho những sinh hoạt văn hóa bản địa. Hồ có nhiều cảnh đẹp. Và hơn thế, hồ gắn với huyền sử, là biểu tượng khát khao hòa bình (trả gươm cầm bút), đức văn tài võ trị của dân tộc (thanh kiếm thiêng nơi đáy hồ và tháp bút viết lên trời xanh). Do vậy, nhiều văn nghệ sĩ đã lấy hình ảnh Hồ Gươm làm nền tảng cho các tác phẩm của mình. Nhà thơ Trần Đăng Khoa từng viết:

    Và như thế, Hồ Gươm sẽ mãi sống trong tiềm thức mỗi người dân Thủ đô nói riêng và người dân cả nước nói chung như một biểu tượng thiêng liêng về lịch sử và truyền thống văn hóa dân tộc.

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    Loạt bài Soạn văn 8 VNEN ngắn nhất của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sách Hướng dẫn học Ngữ văn 8 Tập 1, Tập 2 chương trình mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 8 Bài Tức Cảnh Pác Bó Vnen
  • Bài 20. Tức Cảnh Pác Bó
  • Giáo Án Văn 8 Bài Tức Cảnh Pắc Bó
  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 29: Chương Trình Địa Phương
  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 14: Chương Trình Địa Phương
  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 14: Chương Trình Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 29: Chương Trình Địa Phương
  • Giáo Án Văn 8 Bài Tức Cảnh Pắc Bó
  • Bài 20. Tức Cảnh Pác Bó
  • Soạn Văn 8 Bài Tức Cảnh Pác Bó Vnen
  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 19: Tức Cảnh Pác Bó
  • Soạn văn 8 VNEN Bài 14: Chương trình địa phương

    A. Hoạt động khởi động

    (trang 99, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Đọc diễn cảm một đoạn thơ/ đoạn văn/ bài ca dao về địa phương em và nêu một vài nét đặc sắc về nội dung hoặc nghệ thuật của đoạn thơ/ đoạn văn/ bài ca dao đó.

    B. Hoạt động hình thành kiến thức

    1. (trang 99, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Chương trình địa phương

    a. Lập danh sách những nhà văn, nhà thơ ở thành phố/ tỉnh nơi em đang sinh sống theo mẫu sau:

    Địa phương:………………………….

    b. Chép lại một đoạn thơ/ đoạn văn viết về quê hương giới thiệu tóm tắt về tác giả, tác phẩm (hoàn cảnh sáng tác, giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật)

    Trả lời:

    a. Lập danh sách những nhà văn, nhà thơ ở thành phố/ tỉnh nơi em đang sinh sống:

    Địa phương: Nam Định

    b. Chép lại một đoạn thơ/ đoạn văn viết về quê hương giới thiệu tóm tắt về tác giả, tác phẩm (hoàn cảnh sáng tác, giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật):

    + Tác giả: NGUYỄN BÍNH

    * Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh năm 1918 tại xã Đồng Đội, Huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam Định (hiện nay đã được đổi lại là Hà Nam Ninh); ông lấy bút hiệu Nguyễn Bính.

    * Năm 1947, Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở Miền Nam. Đến

    * Năm 1954, khi Hiệp định Genève chia đôi đất nước, Nguyễn Bính tập kết về Bắc năm 1955 và được bố trí phục vụ trong Hội Nhà văn ở Hà Nội một thời gian.

    * Năm 1956, Ông được giao nhiệm vụ phụ trách tờ TRĂM HOA (nguyên văn trong tài liệu của Hội Nhà văn);

    * Đến năm 1958, Nguyễn Bính chuyển về tỉnh nhà Nam Định và phục vụ trong Ty Văn Hoá Nam Định cho đến ngày ông từ giã cõi đờị

    * Nguyễn Bính chết ngày 20-1-1966, những ngày cuối năm Ất Tị.

    + Trích dẫn bài thơ: LỠ BƯỚC SANG NGANG:

    Đêm qua mưa gió đầy giời

    Mà trong hồn chị có người đi qua

    Em về thương lấy mẹ già

    Đừng mong ngóng chị nữa mà uổng công

    Chị giờ sống cũng bằng không

    Coi như chị đã ngang sông đắm đò

    + Thông tin về bài thơ:

    * Bài thơ kể về câu chuyện của một người con gái: Cô bị mẹ cha bán gả cho người mà mình không yêu, phải lên xe hoa từ năm mười bảy tuổi. Bỏ lại sau lưng mối tình đầu vừa chớm nở, bỏ lại vườn dâu, bỏ lại mẹ già, người con gái ấy đi một chuyến đi định mệnh “Rồi đây sóng gió ngang sông/Đầy thuyền hận, chị lo không tới bờ”.

    * Bài thơ này đã được nhạc sĩ Song Ngọc phổ nhạc thành bài hát cùng tên.

    2. (trang 100, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Tìm hiểu dấu ngoặc kép

    (1) Ngày mồng một đầu năm hiện lên trên tử thi em bé ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn. Mọi người bảo nhau: “Chắc nó muốn sưởi cho ấm!.” Nhưng chẳng ai biết những cái kỳ diệu em đã trông thấy, nhất là cảnh huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón lấy những niềm vui đầu năm. “

    (2) Hàng loạt vở kịch như “tay người đàn bà”, “giác ngộ”,” bên kia sông đuống” ra đời .

    b. Chỉ ra ý nghĩa của dấu ngoặc kép trong các câu sau:

    (1) Tre với người như thế đã mấy nghìn năm.một thế kỉ “văn minh”,”khai hóa”của thực dân cũng không lm ra được một tấc sắt. Tre vẫn phải còn vất vả mãi vs người.

    (2) Có người cho rằng: Bài toán dân số……….. “sáng mắt ra”…

    Dấu ngoặc kép dùng để đánh dấu từ, ngữ, câu, đoạn dẫn…………………; đánh dấu từ ngữ được hiểu theo nghĩa …………………….có hàm ý mỉa mai; đánh dấu tên tác phẩm, tờ báo, tập san………….

    Trả lời:

    a. Tác dụng của dấu ngoặc kép:

    (1) Đánh dấu lời dẫn trực tiếp của mọi người

    (2) Đánh dấu tên các vở kịch

    b. Chỉ ra ý nghĩa của dấu ngoặc kép trong các câu:

    (1) Ý nghĩa của dấu ngoặc kép trong đoạn văn: Đánh dấu từ ngữ được hiểu theo nghĩa đặc biệt mang hàm ý mỉa mai

    (2) Ý nghĩa của dấu ngoặc kép trong đoạn văn: Đánh dấu từ ngữ được hiểu theo nghĩa đặc biệt thể hiện sự giác ngộ, thông suốt

    c. Điền các từ ngữ trực tiếp, đặc biệt, được dẫn vào đoạn:

    Dấu ngoặc kép dùng để đánh dấu từ, ngữ, câu, đoạn dẫn trực tiếp; đánh dấu từ ngữ được hiểu theo nghĩa đặc biệt có hàm ý mỉa mai; đánh dấu tên tác phẩm, tờ báo, tập san… được dẫn.

    C. Hoạt động luyện tập

    1. (trang 101, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Luyện nói: thuyết minh về một thứ đồ dùng

    a. Lập dàn ý cho một trong hai văn thuyết minh

    Đề 1: Thuyết minh về cái phích nước

    Đề 2: Thuyết minh về cây bút máy

    Trả lời:

    Học sinh tham khảo bài mẫu tại link sau:

    Đề 1: Thuyết minh về cái phích nước: https://vietjack.com/van-mau-lop-8/thuyet-minh-ve-cai-phich-nuoc.jsp

    Đề 2: Thuyết minh về cây bút máy: https://vietjack.com/van-mau-lop-8/thuyet-minh-ve-chiec-but-bi.jsp

    b. Trò chơi

    2. (trang 101, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Chỉ ra tác dụng của dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép và dấu hai chấm trong các đoạn trích sau:

    a. Người ta cấm hút thuốc ở tất cả những nơi công cộng, phạt nặng những người vi phạm (ở Bỉ , từ năm 1987 , vi phạm lần thứ nhất phạt 40 đô la , tái phạm phạt 500 đô la) . Khắp nơi , những tài liệu , khẩu hiệu ………….. Chỉ trong vài năm chiến dịch chống thuốc lá nàu dã làm giảm hẳn số người hút , và người ta đã thấy triển vọng có thể nêu lên khẩu hiệu cho những năm cuối thế kỉ XX : ” Một châu Âu ko còn thuốc lá ”

    b, có ý kiến cho rằng : ” Nguyễn Khuyến là một trong nhữn nhà thơ đặc biệt của làng cảnh Việt Nam ” . Điều đó thể hiện rất rõ qua những sáng tác về thiên nhiên , nhất là qua chùm thơ : ” Thu vịnh ” , ” Thu điếu ” , ” Thu ẩm ”.

    Trả lời:

    a) Tác dụng:

    * Dấu ngoặc đơn: Dùng để dánh dấu phần bổ sung.

    * Dấu hai chấm: Đánh dấu (báo trước) lời dẫn trực tiếp (dùng với dấu ngoặc kép).

    * Dấu ngoặc kép: Đánh dấu từ ngữ, câu, đoạn dẫn trực tiếp.

    b) Tác dụng của dấu hai chấm:

    * Thứ nhất: Đánh dấu (báo trước) lời dẫn trực tiếp (dùng với dấu ngoặc kép).

    * Thứ hai: Đánh dấu (báo trước) phần giải thích, thuyết minh cho một phần trước đó.

    Tác dụng của dấu ngoặc kép:

    * Thứ nhất: Đánh dấu từ ngữ, câu, đoạn dẫn trực tiếp.

    * Thứ hai: Đánh dấu tên tác phẩm, tờ báo, tập san… được dẫn.

    3. (trang 102, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Đặt câu về các sản phẩm của một nhà văn địa phương trong danh sách em đã sưu tầm được trong đó có sử dụng dấu ngoặc kép

    Trả lời:

    – Hàng loạt tác phẩm như ” Bỉ vỏ”, “Những ngày thơ ấu”, “Trời xanh”,… đã làm nên tên tuổi của Nguyên Hồng.

    Chú thích: Quê của nhà văn Nguyên Hồng ở Hải Phòng.

    – ” Lão Hạc” là tác phẩm tiêu biểu về đề tài người nông dân trước CMT8 của Nam Cao

    Chú thích: Quê của nhà văn Nam Cao là ở Hà Nam.

    D. Hoạt động vận dụng

    (trang 102, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Viết bài tập làm văn số 3

    Chọn 1 trong các đề văn sau để làm bài văn thuyết minh (làm tại lớp)

    Đề 1: Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam

    Đề 2: Thuyết minh về chiếc kính đeo mắt

    Đề 3: Thuyết minh về một đồ vật mà em yêu thích

    Trả lời:

    Học sinh tham khảo bài mẫu tại link sau:

    * Đề 1: Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam

    Link 1: https://vietjack.com/van-mau-lop-8/dan-y-thuyet-minh-ve-ao-dai.jsp

    Link 2: https://vietjack.com/van-mau-lop-8/thuyet-minh-ve-ao-dai.jsp

    Link 3: https://vietjack.com/van-mau-lop-8/gioi-thieu-ve-chiec-ao-dai-viet-nam.jsp

    Link 4: https://vietjack.com/van-mau-lop-8/thuyet-minh-ve-chiec-ao-dai-viet-nam.jsp

    * Đề 2: Thuyết minh về chiếc kính đeo mắt: https://vietjack.com/van-mau-lop-8/thuyet-minh-ve-kinh-deo-mat.jsp

    * Đề 3: Thuyết minh về một đồ vật mà em yêu thích: https://vietjack.com/van-mau-lop-8/thuyet-minh-ve-do-dung-hoc-tap-sinh-hoat.jsp

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    Loạt bài Soạn văn 8 VNEN ngắn nhất của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sách Hướng dẫn học Ngữ văn 8 Tập 1, Tập 2 chương trình mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 9 Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Văn 9 Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính Violet
  • Soạn Bài: Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính Ngữ Văn 9 Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính (Siêu Ngắn)
  • Soạn Văn 9 Vnen Bài 3: Tuyên Bố Thế Giới Về Sự Sống Còn, Quyền Được Bảo Vệ Và Sự Phát Triển Của Trẻ Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 3
  • Giáo Án Bài Nói Với Con
  • Soạn Bài Tập Làm Thơ Tám Chữ
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Các Thành Phần Biệt Lập (Tiếp Theo) Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Chuẩn Bị Hành Trang Vào Thế Kỉ Mới Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn văn 9 VNEN Bài 3: Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và sự phát triển của trẻ em

    A. Hoạt động khởi động

    Trẻ em có những quyền gì? Bản thân em và các bạn đã và đang được hưởng những quyền đó như thế nào?

    Pháp luật Việt Nam quy định một số quyền cơ bản của trẻ em như sau:

    Điều 12. Quyền sống

    Điều 13. Quyền được khai sinh và có quốc tịch

    Điều 14. Quyền được chăm sóc sức khỏe

    Điều 15. Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng

    Điều 16. Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu

    Điều 17. Quyền vui chơi, giải trí

    Điều 19. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

    Điều 25. Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục

    Điều 22. Quyền được sống chung với cha, mẹ

    Điều 26. Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động

    Điều 27. Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc

    Bản thân em và các bạn đều đang được hưởng đúng những quyền lợi của mình

    B. Hoạt động hình thành kiến thức

    a) Các mục 1 và 2 của Tuyên bố nêu lên vấn đề gì?

    Các mục 1 và 2 của Tuyên bố nêu lên mục đích và tuyên bố chung của hội nghị là lời kêụ gọi toàn thể nhân loại: Hãy đảm bảo cho tất cả trẻ em một tương lai tốt đẹp hơn.

    b) Ngoài hai mục trên, văn bản được chia thành mấy phần? Nội dung chính của mỗi phần là gì?

    c) Cuộc sống cực khổ của nhiều trẻ em trên thế giới được tái hiện như thế nào? Hãy nêu suy nghĩ của em về vấn đề này.

    Cuộc sống cực khổ của nhiều trẻ em trên thế giới được tái hiện:

    – Trẻ em trở thành nạn nhân của hiểm hoạ chiến tranh và bạo lực, của sự phân biệt chủng tộc, của sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính của nước ngoài;

    – Trẻ em là nạn nhân của đói nghèo và khủng hoảng kinh tế, của nạn vô gia cư, dịch bệnh, mù chữ, môi trường xuống cấp;

    – Tình trạng trẻ em chết do suy dinh dưỡng và bệnh tật, ma tuý. Điều 6, tác giả đã nêu lên một con số đáng sợ: mỗi ngày trên thế giới có 40.000 trẻ em chết vì suy dinh dưỡng, bệnh tật, hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), hoặc do điều kiện sông quá tồi tệ.

    Những thông tin bản Tuyên bố đưa ra gợi lên trong lòng chúng ta sự xót thương cho nỗi bất hạnh của vô số trẻ em không may mắn trên thế giới. Thực trạng cuộc sống của trẻ em đặt ra những nhiệm vụ cấp bách cho từng quốc gia và cộng đồng quốc tế.

    d) Phần Cơ hội cho thấy việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em có những điều kiện thuận lợi gì? Theo em điều kiện nào là thuận lợi nhất trong bối cảnh hiện nay?

    Bối cảnh quốc tế hiện nay có những điều kiện thuận lợi cơ bản để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Những điều kiện thuận lợi này được chỉ ra trong phần Cơ hội, cụ thể là:

    – Sự liên kết giữa các nước có thể tạo ra đủ các phương tiện, kiến thức để bảo vệ, chăm sóc trẻ em.

    – Sự hợp tác và đoàn kết quốc tế mở ra những khả năng giải quyết những vấn đề về phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, ngăn chặn dịch bệnh, giải trừ quân bị, tăng cường phúc lợi trẻ em.

    – Công ước về quyền trẻ em ra đời đã tạo cơ hội mới để cho quyền và phúc lợi của trẻ em được thực sự tôn trọng.

    Theo em, việc Công ước quốc tế về quyền trẻ em đã được nhiều nước cùng kí kết và thực hiện sẽ là điều kiện thuận lợi nhất. Bởi đây sẽ là cơ sở pháp lí hữu hiệu để các nước trên thế giới cùng quan tâm, tôn trọng đến quyền và phúc lợi của trẻ em.

    e) Bản Tuyên bố đã nêu lên mấy nhiệm vụ của cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em? Chỉ ra tính toàn diện của các nhiệm vụ này.

    Dựa trên tình hình thực tế, trong phần Nhiệm vụ, bản Tuyên bố đã đề ra 8 nhiệm vụ cụ thể cho từng quốc gia và cộng đồng quốc tế vì sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em:

    1. Tăng cường sức khoẻ và chế độ dinh dưỡng của trẻ em.

    2. Quan tâm săn sóc nhiều hơn đến trẻ em bị tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh sống đặc biệt khó khăn.

    3. Đảm bảo quyền bình đẳng nam – nữ (đối xử bình đẳng với các em gái).

    4. Bảo đảm cho trẻ em được học hết bậc giáo dục cơ sở.

    5. Cần nhấn mạnh trách nhiệm kế hoạch hoá gia đình.

    6. Cần giúp trẻ em nhận thức được giá trị của bản thân.

    7. Bảo đảm sự tăng trưởng, phát triển đều đặn nền kinh tế.

    Những nội dung này thể hiện tính toàn diện trong việc định hướng hành động. Mỗi một mục tương ứng với một phương diện cần quan tâm: từ việc chăm sóc sức khoẻ, chế độ dinh dưỡng, giảm tỉ lệ tử vong, quan tâm đến trẻ em tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, bình đẳng trai – gái, xoá mù chữ, quan tâm đến sức khoẻ sinh sản của phụ nữ, kế hoạch sinh nở đến việc chú ý tạo môi trường văn hoá xã hội lành mạnh, phát triển kinh tế…

    3. Tìm hiểu về các phương châm hội thoại (tiếp theo)

    a) Quan hệ giữa phương châm hội thoại với tình huống giao tiếp

    Đọc truyện cười sau và trả lời câu hỏi

    CHÀO HỎI

    Anh chàng nọ ở nhà vợ tại một vùng quê, được người nhà dặn là phải luôn chào hỏi mọi người xung quanh.

    Một hôm, anh ta ra đường và thấy một người đang đốn cành trên một cây cao, liền ra dấu gọi.

    Người kia dừng việc, lật đật trèo xuống, hỏi:

    – Có việc gì thế?

    – Có việc gì đâu! Bác làm việc vất vả lắm phải không?

    (Theo Truyện cười dân gian Việt Nam)

    (1) Nhân vật chàng rể đã tuân thủ đúng phương châm lịch sự. Dẫn chứng nào trong câu chuyện cho em biết điều đó?

    (2) Việc tuân thủ phương châm lịch sự trong tình huống này có nên hay không? Vì sao?

    (3) Qua câu chuyện trên, em có thể rút ra bài học gì về việc vận dụng các phương châm hội thoại?

    b) Những trường hợp không tuân thủ phương châm hội thoại

    (1) Đọc các ví dụ và trả lời câu hỏi

    * Ví dụ 1

    Bà cô ở quê nói chuyện với người cháu ở thành phố về chơi:

    – Nhà mày có ăn rau muống không thì về cô cắt cho. Rau cô trồng ở bờ sông, chẳng bón phân, phun thuốc gì đâu!

    – Ừ, cô sẽ cắt hết một lượt. Chắc cũng được nhiều đấy!

    – Cô cho cháu vừa vừa thôi. Cô còn để mà ăn chứ!

    – Mày mà không lấy thì cô cũng chỉ để cho lợn chứ nhà cô có ăn hết được đâu!

    – Lời nói của người cô cho thấy phương châm hội thoại nào đã không được tuân thủ? Chỉ ra dấu hiệu nhận biết sự không tuân thủ phương châm hội thoại đó.

    – Theo em, việc không tuân thủ phương châm hội thoại đó có thể là do nguyên nhân nào?

    * Ví dụ 2

    Mai và Khanh đang chuẩn bị cho chương trình đố vui trong ngày hội đọc sách của trường. Mai nói với bạn:

    – Ừ, hỏi như vậy được đấy! Đúng yêu cầu của cô giáo là vấn đề phải mới nhưng không được xa lạ với các bạn.

    – Bộ truyện này xuất bản lần đầu vào năm nào nhỉ?

    – Khoảng cuối thế kỉ XX.

    – Câu trả lời của Khanh có đáp ứng điều Mai muốn biết hay không? Vì sao?

    – Có phương châm hội thoại nào không được tuân thủ? Vì sao người nói không tuân thủ phương châm hội thoại đó?

    (2) Khi bác sĩ nói bệnh nhân mắc bệnh nan y về tình trạng sức khỏe của người đó thì phương châm hội thoại nào có thể không được tuân thủ? Mục đích của bác sĩ khi làm như vậy là gì? Theo em điều đó có cần thiết không?

    (3) Khi nói “Tiền bạc chỉ là tiền bạc” thì người nói có tuân thủ phương châm về lượng không? Cần hiểu ý câu nói này như thế nào?

    (4) Từ kết quả của các bài tập trên, em hãy cho biết : Việc không tuân thủ các phương châm hội thoại có thể bắt nguồn từ các nguyên nhân nào?

    4. Tìm hiểu về xưng hô trong hội thoại

    a) Chỉ ra cách dùng của một số từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt và cho ví dụ cụ thể

    b) Đọc các đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu

    (1) Dế Choắt nhìn tôi mà rằng:

    – Anh đã nghĩ thương em như thế thì hay là anh đào giúp cho em một cái ngách sang bên nhà anh, phòng khi tắt lửa tối đèn có đứa nào đến bắt nạt thì em chạy sang…

    Chưa nghe hết câu, tôi đã hếch răng lên, xì một hơi rõ dài. Rồi, với bộ điệu khinh khỉnh, tôi mắng:

    – Hức! Thông ngách sang nhà ta? Dễ nghe nhỉ! Chú mày hôi như cú mèo thế này, ta nào chịu được. Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi. Đào tổ nông thì cho chết!

    Tôi về, không chút bận tâm.

    (2) Choắt không dậy được nữa, nằm thoi thóp. Thấy thế, tôi hốt hoảng quỳ xuống, nâng đầu Choắt lên mà than rằng:

    – Nào tôi đâu biết cơ sự lại ra nông nỗi này! Tôi hối lắm! Tôi hói hận lắm. Anh mà chết là chỉ tại cái tội ngông cuồng dại dột của tôi. Tôi biết làm thế nào bây giờ?

    Tôi không ngờ Dế Choắt nói với tôi một câu thế này:

    – Thôi, tôi ốm yếu quá rồi, chết cũng được. Nhưng trước khi nhắm mắt, tôi khuyên anh: ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn rồi cũng mang vạ vào mình đấy.

    (Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí)

    – Xác định những từ ngữ xưng hô trong đoạn trích trên.

    – Chỉ ra sự thay đổi về cách xưng hô của Dế mèn và Dế Choắt trong hai đoạn trích. Giải thích lí do của sự thay đổi đó.

    – Những từ ngữ xưng hô trong đoạn trích: Tôi, ta, chú mày, anh, em

    – Dế Mèn xưng hô với Dế Choắt:

    + Đoạn trích (1) ta – chú mày

    + Đoạn trích (2) tôi – anh

    Dế Mèn đã hối hận về tội lỗi của mình cho nên cách xưng hô của Dế Mèn với Dê Choắt thay đổi hẳn. Đó là cách xưng hô tôn trọng nhau, thể hiện sự bình đẳng.

    – Dế Choắt xưng hô với Dế Mèn:

    + Đoạn trích (1) em – anh

    + Đoạn trích (2) tôi – anh

    Khi này, Dế Choắt không còn là kẻ phải nhờ vả nên nói với Dế Mèn như một người bạn, lời khuyên chân thành của một người bạn.

    c) Chọn một mục ở cột A ghép với một mục ở cột B (ghi vào vở) để có được những lưu ý đúng về xưng hô trong hội thoại.

    1 – b: Hệ thống từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt rất phong phú, tinh tế, giàu sắc thái biểu cảm.

    2 – a: Cần căn cứ vào đối tượng và đặc điểm của tình huống giao tiếp để xưng hô cho phù hợp.

    (2) Khi bác sĩ nói bệnh nhân mắc bệnh nan y về tình trạng sức khỏe của người đó thì phương châm hội thoại nào có thể không được tuân thủ? Mục đích của bác sĩ khi làm như vậy là gì? Theo em điều đó có cần thiết không?

    (3) Khi nói “Tiền bạc chỉ là tiền bạc” thì người nói có tuân thủ phương châm về lượng không? Cần hiểu ý câu nói này như thế nào?

    (4) Từ kết quả của các bài tập trên, em hãy cho biết: Việc không tuân thủ các phương châm hội thoại có thể bắt nguồn từ các nguyên nhân nào?

    C. Hoạt động luyện tập

    1. Luyện tập đọc hiểu văn bản Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và sự phát triển của trẻ em.

    a) Vẽ sơ đồ tư duy tóm tắt nội dung chính của văn bản Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em.

    Trong số 8 nhiệm vụ mà bản Tuyên bố nêu ra, theo em nhiệm vụ Tăng cường sức khỏe và chế độ dinh dưỡng của trẻ em, cứu vãn sinh mệnh trẻ em, giảm tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh là nhiệm vụ quan trọng nhất.

    Để được hưởng thụ, thực hiện các quyền khác thì điều kiện trước hết là các em phải được sống, được lớn lên khỏe mạnh. Điều 6 trong bài Tuyên bố đã nêu lên những số liệu đáng sợ: mỗi ngày trên thế giới có 40.000 trẻ em chết vì suy dinh dưỡng, bệnh tật, hội chứng AIDS, hoặc do điều kiện sống: thiếu nước sạch, thiếu vệ sinh, và do tác động của vấn đề ma túy. Những số liệu khủng khiếp này đã cho thấy nhiệm vụ quan trọng trước hết là phải bảo vệ được sức khỏe và sinh mệnh của trẻ em trên toàn thế giới.

    2. Luyện tập về các phương châm hội thoại và xưng hô trong hội thoại

    a) Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi

    Bốn người hăm hở đến nhà lão Miệng. Chẳng chào chẳng hỏi gì cả, cậu Chân, cậu Tay nói thẳng:

    – Chúng tôi hôm nay đến đây không phải để thăm hỏi, trò chuyện gì với ông đâu mà nói thẳng cho ông biết: Từ nay, chúng tôi không làm để nuôi ông nữa. Lâu nay, chúng tôi cực khổ, vất vả vì ông nhiều rồi!

    (Chân, tay, Tai, Mắt, Miệng)

    Thái độ và lời nói của các nhân vật Chân, Tay đã vi phạm phương châm nào trong giao tiếp? Việc không tuân thủ phương châm ấy có lí do chính đáng không? Vì sao?

    b) Minh nhận được tin nhắn mời dự đám cưới của bạn là một cô gái người Anh đang học Tiếng Việt: Thứ bảy tuần sau, chúng ta làm lễ thành hôn, mời anh tới dự.

    Lời mời trên có sự nhầm lẫn trong cách dùng từ ngữ xưng hô như thế nào? Vì sao có sự nhầm lẫn đó?

    Lời mời trên có sự nhầm lẫn trong cách dùng từ ngữ xưng hô chúng ta và chúng tôi/ chúng em.

    – chúng ta: gồm cả người nói và người nghe

    – chúng tôi/chúng em: không gồm người nghe

    Cô bạn người Anh đã dùng từ xưng hô chúng ta nhầm lẫn – dễ gây hiểu lầm: mai cô và Minh sẽ làm lễ thành hôn.

    Cần thay từ chúng ta bằng từ: chúng em hoặc chúng tôi.

    Sự nhầm lẫn là do cô gái mới học Tiếng Việt, chưa hiểu rõ và cặn kẽ được cách dùng từ chính xác.

    c) Nhận xét về cách dùng từ ngữ xưng hô và thái độ của người nói trong câu chuyện sau

    Chuyện kể rằng có một danh tướng trên đường kinh lí, một hôm đi ngang qua trường học cũ của mình, ông ghé vào thì gặp lại người thầy từng dạy ông ở lớp một. Ông kính cẩn thưa:

    – Thưa thầy, thầy còn nhớ em không? Em là…

    Người thầy giáo già hoảng hốt:

    – Thưa ngài, ngài là…

    – Thưa thầy, với thầy, em vẫn là đứa học trò cũ. Em có được những thành công hôm nay là nhờ sự giáo dục của thầy ngày nào…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Unit 10 Lớp 9: Speak
  • Soạn Anh 9: Unit 6. Speak
  • Unit 4 Lớp 9: Skills 1
  • Soạn Anh 9: Unit 4. Write
  • Soạn Anh 9: Unit 4. Speak
  • Soạn Văn 11 Ngắn Nhất Bài: Tràng Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 7 Ngắn Nhất Bài: Sài Gòn Tôi Yêu
  • Soạn Bài: Sài Gòn Tôi Yêu (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài: Sài Gòn Tôi Yêu (Siêu Ngắn)
  • Soạn Văn 7 Ngắn Nhất Bài: Tiếng Gà Trưa
  • Soạn Văn 9 Siêu Ngắn: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Câu 1: Anh (chị) hiểu thế nào về câu thơ đề từ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài? Đề từ đó có mối liên hệ gì với bức tranh thiên nhiên và tâm trạng của tác giả trong bài thơ?

    Câu 2: Nêu cảm nghĩ về âm điệu chung của toàn bài thơ.

    Câu 3: Vì sao nói bức tranh thiên nhiên trong bài thơ đậm màu sắc cổ điển mà vẫn gần gũi, thân thuộc?

    Câu 4: Tình yêu thiên nhiên ở đây có thấm đượm lòng yêu nước thầm kín không? Vì sao?

    Câu 5: Phân tích những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ.

    Luyện tập

    Câu 1: Cách cảm nhận không gian và thời gian của bài thơ có gì đáng chú ý?

    Câu 2: Vì sao câu thơ cuối “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” lại làm cho người đọc liên tưởng đến hai câu thơ trong bài “Lầu Hoàng Hạc” của Thôi Hiệu?

    Câu 2: Nhà thơ Huy Cận đã từng viết: “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm.”

    Em hãy làm rõ điều này thông qua việc phân tích tác phẩm “Tràng giang” của Huy Cận

    Câu 3: Bức tranh tâm trạng trong bài thơ “Tràng giang”

    Câu 1: Câu thơ đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”:

    “bâng khuâng” thể hiện được nỗi niềm của nhà thơ là cảm giác buồn sầu trước dòng sông rộng lớn. “

    Trời rộng” được nhân hóa nhớ sông dài hay chính là ẩn dụ cho nỗi nhớ của nhà thơ

    Mối lên hệ với bức tranh thiên nhiên và tâm trạng nhà thơ:

    • Định hướng cảm xúc chủ đạo của bài thơ nỗi buồn sầu lan tỏa, nhẹ nhàng mà sâu lắng.
    • Tạo nên vẻ đẹp hài hòa, vừa cổ điển vừa hiện đại của chàng thanh niên thời thơ mới.

    Câu 2: Cảm nghĩ về âm điệu chung của toàn bài thơ:

    Âm điệu buồn lặng lẽ, bâng khuâng, man mác da diết, sầu lặng – đều đều, dập dềnh như sông nước

    Nhịp thơ 2/2/3 tạo ra âm điệu đều đều, tựa như dập dềnh trên sông và sóng biển

    Thanh điệu có sự hoán vị bằng trắc đều đặn, cấu trúc đăng đối giữa các câu thơ tạo ra cảm giác mênh mông của dòng sông,cùng với đó là vị buồn man mác.

    Câu 3: Bức tranh thiên nhiên:

    Không gian : mênh mông, bao la, rộng lớn. Thể hiện qua các từ ngữ “trời rộng”, “sông dài”.

    Cảnh vật hiu quạnh, hoang vắng, đơn lẻ, hiu hắt buồn.

    Hình ảnh mang đậm sắc màu cổ điển

    Câu 4: Tình yêu thiên nhiên ở đây có thấm đượm lòng yêu nước thầm kín, bởi vì:

    ” Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

    Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.

    Lòng quê dợn dợn vời con nước,

    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

    • Những hình ảnh ước lệ, cổ điển như: mây, chim tạo nên một bức tranh chiều tà đẹp, hùng vĩ và vô cùng thơ mộng.
    • Nhưng câu thơ mang đến cho người đọc những cảm giác thân thuộc, gần gũi để rồi từ những cảnh quê ấy mà nói đến tình yêu và nỗi nhớ quê trong hai câu thơ sau.
    • Huy Cận không cần đến thiên nhiên, tạo vật mà nó tìm ẩn và bộc phát tự nhiên.

    Câu 5: Nghệ thuật đặc sắc của bài thơ:

    Kết hợp hài hòa những thi liệu mang nét cổ điển của văn học cổ điện với văn học hiện đại.

    Nghệ thuật đối, bút pháp tả cảnh giàu tính tạo hình, hệ thống từ láy giàu giá trị biểu cảm.

    Cách ngắt nhịp 2/2/3 tạo nên những âm điệu buồn, man mác thể hiện rõ nét tâm trạng bâng khuâng của nhà thơ.

    Thể thơ thất ngôn: tạo nên không khí trầm mặc, cổ kính của thơ đường.

    Luyện tập

    Câu 1: Cách cảm nhận không gian và thời gian của bài thơ:

    Cảm nhận không gian:

    • Mang cảm hứng vũ trụ (qua câu đề từ) mang cảm giác bao la, rộng lớn.
    • Không gian ba chiều xuất hiện trong thơ (khổ 2)
    • Không gian buồn, hiu hắt, con sông không bóng người (Khổ 3)
    • Không gian vừa hùng vĩ, vừa cô đơn (khổ cuối)

    Cảm nhận thời gian:

    • Vào buổi chiều tà
    • Thời gian vừa cụ thể, vừa gợi cảm lại thể hiện đúng tâm trạng buồn hiu hắt tác giả.

    Câu 2: Câu thơ cuối “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” lại làm cho người đọc liên tưởng đến hai câu thơ trong bài “Lầu Hoàng Hạc” của Thôi Hiệu vì Huy Cận có mượn ý thơ của Thôi Hiệu:

    Trong thơ Thôi Hiệu: có khói và sóng là những hình ảnh thiên nhiên thì mới gợi lên nỗi nhớ nhà

    Trong thơ Xuân Diệu: những hình ảnh thiên nhiên đó luôn thường trực và tự nhiên bộc phát cho nên nỗi nhớ của Huy Cận da diết và sâu lắng hơn

    Bài viết tham khảo

    Từ năm 1930, văn học Việt Nam bắt đầu có những bước chuyển mình mạnh mẽ với sự xuất hiện của làn sóng thơ mới cùng những cá tính sáng tác độc đáo. Các nhà thơ say sưa thể hiện cái tôi cá nhân và không còn bị gò bó trong khuôn sáo cũ kĩ của văn thơ trung đại. Nếu Xuân Diệu luôn mang trong mình nỗi ám ảnh về thời gian thì người bạn tri kỉ của ông, Huy Cận lại luôn chìm đắm trong cảm thức về không gian vũ trụ. Huy Cận tỏ ra rất nhạy cảm với không gian rộng lớn và thời gian vĩnh hằng. Những điều ấy được thể hiện rõ nét trong “Tràng giang”, một trong những bài thơ xuất sắc nhất của ông.

    Vào khoảng những năm 1939, Huy Cận theo học tại một trường ở Hà Nội. Ông có thói quen đạp xe dọc đê vào mỗi buổi chiều thứ bảy để hóng gió và ngắm cảnh sông Hồng. Bài “Tràng giang” ra đời trong một buổi chiều như thế. Đứng ở bãi Chèm, nhìn cảnh sông nước mênh mông, nỗi nhớ quê hương, nỗi sầu lo, thương cảm về đất nước về kiếp người cuộn tràn trong tâm trí nhà thơ. Ngay hôm ấy ông đã cho ra đời một bài thơ lục bát, lấy tiêu đề là “Chiều trên sông”. Sau này, Huy Cận đổi tên thành “Tràng giang” và viết lại theo thể thất ngôn tự do, in trong tập Lửa thiêng.

    Nhan đề “Tràng giang” là từ Hán – Việt gợi lên sắc thái trang trọng và cổ kính. Điệp vần “ang” tạo ấn tượng về một dòng sông rộng lớn, mênh mang, vô tận. Chỉ qua nhan đề, tác giả không chỉ gợi được chiều dài mà còn cả chiều rộng và chiều sâu của dòng sông.

    Câu thơ đề từ mở ra một không gian rộng lớn mang tầm vũ trụ: có chiều rộng bát ngát của bầu trời, chiều dài vô tận của dòng chảy, chiều cao giữa trời và nước. Chính giữa không gian rợn ngợp như thế làm con người ta cảm thấy cô đơn, nhỏ nhoi, nhung nhớ một điều gì đó xa xôi

    Khổ thơ thứ nhất là nét bút chấm phá vẽ lên bức tranh sông nước rộng mênh mang nhưng buồn vắng. “Sóng và thuyền” không có gì đáng buồn nhưng chính cụm từ “buồn điệp điệp” đã làm cho cảnh trở nên mênh mông và xa vắng. Từ “điệp điệp” từ xưa đến nay thường dùng để hình dung, miêu tả những hình ảnh thiên nhiên như sóng, núi giờ đây được Huy Cận dùng để nói về nỗi buồn. Điều này làm cho nỗi buồn không còn vô hình mà trở nên hữu hình, cụ thể. Đó là nỗi buồn dai dẳng, triền miên, thường trực trong tâm trí. Câu thơ đã bộc lộ tâm trạng của nhân vật trữ tình khi đứng trước cảnh trời rộng sông dài. Câu thơ mang âm hưởng cổ kính của thơ Đường với nghệ thuật đối từ, đối ý: sóng – thuyền; điệp điệp – song song. Tuy vậy, xét đến cùng, sức mạnh của hai câu thơ đầu tiên không phải ở nghệ thuật miêu tả mà ở nghệ thuật khơi gợi – khơi gợi được cả cảm xúc và ấn tượng về một nỗi buồn triền miên kéo dài theo không gian (tràng giang) và thời gian (điệp điệp).

    Đến khổ thơ thứ hai, dường như nỗi buồn vắng, đìu hiu càng lan tỏa và thấm sâu. Đến hai câu thơ này, không gian như được mở rộng ra cả ba chiều. Từ “cao” chỉ độ cao vật lý của bầu trời, nó thuần tuý tả cảnh; còn từ “sâu” vừa tả cảnh vừa tả tình và hàm súc hơn. Huy Cận đã giải thích về cụm từ “sâu chót vót” như thế này: “Từng vạt nắng từ trên cao rơi xuống tạo nên một khoảng sâu thăm thẳm trên bầu trời. Tôi dùng chữ “sâu” chứ không dùng chữ “cao”, bởi vì “cao chót vót” thì thường quá. Ở đây không gian được mở ra ba chiều….tạo nên một vũ trụ rộng lớn và thể hiện một nỗi buồn tưởng như vô tận”.(Về bài thơ “Tràng giang” – Huy Cận)

    Trong mạch cảm xúc gợi ra từ hai khổ đầu ấy, sang đến khổ 3, nỗi buồn càng được khắc sâu hơn. Trên khung cảnh vắng lặng một cách tuyệt đối ấy chỉ có. Ở câu thơ thứ nhất, ta thấy xuất hiện 1 hình ảnh rất quen thuộc, đó là hình ảnh những cánh bèo trôi dạt lênh đênh. Ta thấy trong ca dao, dân ca, và thơ trung đại hình ảnh cánh bèo cũng hay được sử dụng khi nói về thân phận người phụ nữ: “Thân em như lá bèo trôi”, “Nghĩ mình mặt nước cánh bèo/ Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân”,…

    Hình ảnh ẩn dụ những cánh bèo không biết trôi dạt về đâu và những bờ xanh bãi vàng nối tiếp nhau lặng lẽ gợi cho người đọc liên tưởng đến thân phận nhỏ bé của con người trong xã hội. Cùng với hình ảnh cành củi khô lạc mấy dòng ở khổ một, nó cho thấy sự hoang mang của Huy Cận trong việc tìm ra con đường đi cho mình. Đứng trước cảnh vũ trụ cao rộng và hoang vắng ấy con người càng rợn ngợp trong nỗi cô đơn triền miên.

    Toàn cảnh sông dài, trời rộng mà tuyệt nhiên không có bóng dáng con người. Ngay đến những vật để nối đôi bờ như cầu, như đò cũng chẳng có (“Không một chuyến đò”, “không cầu gợi chút niềm thân mật”), mà chỉ có thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên. Không có cầu, là không có sự trao đổi, không tìm thấy dù chỉ một chút niềm thân mật của tình người. Ta thấy, nhân vật trữ tình ở đây không chỉ cô đơn khi đứng trước thiên nhiên rợn ngợp, mà còn cô đơn trong chính xã hội mà ở đó, con người chán nản vì mất đi chủ quyền, tự giam hãm bản thân mà không có sự giao lưu, chia sẻ với nhau.Vì thế, nỗi buồn của bài thơ không chỉ là nỗi buồn mênh mông trước trời rộng sông dài mà còn là nỗi buồn nhân thế

    Sang đến khổ thơ thứ tư. Trong văn chương Việt Nam cánh chim là một thi tứ quen thuộc để miêu tả buổi chiều. Nhưng trong “Tràng giang”, dường như cánh chim ấy có phần nhỏ bé và cô đơn hơn bởi nhà thơ đã đặt nó trong một không gian rộng lớn và bao la của vũ trụ. Cánh chim nhỏ là biểu hiện của sự sống và khát vọng. Tuy nhiên, sự xuất hiện của nó vẫn không làm cho không gian vơi đi niềm quạnh vắng. Cánh chim nhỏ nhoi, bé bỏng cô đơn và mông lung hơn trước cảnh sông nước mây trời bao la.

    “Dợn dợn” là từ láy vô cùng sáng tạo, gợi cảm giác về một nỗi buồn miên man, vô hạn. Nếu ở “Hoàng Hạc lâu”, Thôi Hiệu cần mượn khói sóng để bộc lộ nỗi nhớ quê hương thì ở đây, Huy Cận “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Có thể thấy, nỗi nhớ dường như trở nên thường trực và cháy bỏng hơn.

    Như vậy, đi suốt bài thơ là một nỗi buồn triền miên, vô tận. Nỗi buồn của bài thơ này cũng như phần nhiều nỗi buồn của các nhà thơ mới trong những năm thời thuộc Pháp. Về nội dung, bài thơ đem đến người đọc bức tranh thiên nhiên sông nước gần gũi quen thuộc nhưng vắng lặng và bức tranh tâm trạng mang trĩu nặng nỗi sầu. Cùng với đó là niềm khát khao giao cảm với cuộc đời, lòng yêu nước tuy thầm kín nhưng không kém phần thiết tha của nhà thơ. Về nghệ thuật, bài thơ đặc sắc ở chỗ nó có sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp cổ điển và hiện đại. Cổ kính, trang nghiêm, đậm chất Đường thi nhưng “Tràng giang” vẫn là bài thơ mang nét hiện đại khi sử dụng những hình ảnh gần gũi, tầm thường để qua đó bộc lộ cảm xúc, nỗi niềm của nhân vật trữ tình. Đây cũng là nét độc đáo điển hình trong phong cách thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám.

    Câu 2: Nhà thơ Huy Cận đã từng viết: “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm.”

    Em hãy làm rõ điều này thông qua việc phân tích tác phẩm “Tràng giang” của Huy Cận.

    Bài viết tham khảo

    Thơ Huy Cận sau Cách mạng Tháng Tám là một hồn thơ dạt dào nhựa sống thời đại, nó mang dấu ấn từ truyền thống dân tộc đến những tầng sâu văn hóa của đời sống con người Việt chúng tôi nhìn về bản thân thời trẻ, Huy Cận từng viết: “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm.” Và nỗi sầu của Huy Cận đã được nhà thơ thể hiện vô cùng tha thiết thông qua tác phẩm “Tràng giang”.

    Nói về cảm hứng viết nên bài thơ “Tràng giang”, Huy Cận chia sẻ rằng vào khoảng những năm 1939, Huy Cận theo học tại một trường ở Hà Nội. Ông có thói quen đạp xe dọc đê vào mỗi buổi chiều thứ bảy để hóng gió và ngắm cảnh sông Hồng. Bài “Tràng giang” ra đời trong một buổi chiều như thế. Đứng ở bãi Chèm, nhìn cảnh sông nước mênh mông, nỗi nhớ quê hương, nỗi sầu lo, thương cảm về đất nước về kiếp người cuộn tràn trong tâm trí nhà thơ. Ngay hôm ấy ông đã cho ra đời một bài thơ lục bát, lấy tiêu đề là “Chiều trên sông”. Sau này, Huy Cận đổi tên thành “Tràng giang” và viết lại theo thể thất ngôn tự do, in trong tập Lửa thiêng.

    Câu thơ đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã dẫn dắt ta vào bài thơ, cũng là dẫn dắt vào nỗi buồn mênh mang theo chiều không gian rộng lớn của dòng sông.

    Khổ thơ thứ nhất là nét bút chấm phá vẽ lên bức tranh sông nước rộng mênh mang nhưng buồn vắng “Sóng và thuyền” không có gì đáng buồn nhưng chính cụm từ “buồn điệp điệp” đã làm cho cảnh trở nên mênh mông và xa vắng. Từ “điệp điệp” từ xưa đến nay thường dùng để hình dung, miêu tả những hình ảnh thiên nhiên như sóng, núi giờ đây được Huy Cận dùng để nói về nỗi buồn. Điều này làm cho nỗi buồn không còn vô hình mà trở nên hữu hình, cụ thể. Đó là nỗi buồn dai dẳng, triền miên, thường trực trong tâm trí. Câu thơ đã bộc lộ tâm trạng của nhân vật trữ tình khi đứng trước cảnh trời rộng sông dài. Câu thơ mang âm hưởng cổ kính của thơ Đường với nghệ thuật đối từ, đối ý: sóng – thuyền; điệp điệp – song song. Tuy vậy, xét đến cùng, sức mạnh của hai câu thơ đầu tiên không phải ở nghệ thuật miêu tả mà ở nghệ thuật khơi gợi – khơi gợi được cả cảm xúc và ấn tượng về một nỗi buồn triền miên kéo dài theo không gian (tràng giang) và thời gian (điệp điệp).

    Nếu như các phép đối ý, đối xứng cùng với các thi liệu, hình ảnh quen thuộc như con thuyền, sóng nước làm cho khổ thơ phảng phất hương vị cổ điển của Đường thi thì việc xuất hiện hình ảnh một cành củi khô nhỏ nhoi, tầm thường ở câu thứ tư đã thổi vào làn gió mới, khẳng định rằng đây là một bài thơ Mới. Bởi ở văn thơ trung đại, khi sáng tác, người ta chỉ tập trung nói đến những hình ảnh trang nhã, đẹp đẽ như tùng, cúc, trúc, mai, trăng, gió… chứ không đề cập tới những hình ảnh dân dã, tầm thường như cành củi khô. Sự đối lập giữa cành củi khô và dòng sông làm người đọc liên tưởng đến thân phận con người trong xã hội đương thời. Có thể thấy nỗi buồn của Huy Cận ở đây không chỉ là nỗi buồn cá nhân mà đó là nỗi buồn của cả một thế hệ thanh niên không tìm ra lối thoát cho đời mình. Đồng thời, chỉ thông qua khổ thơ thứ nhất, chúng ta cũng đã thấy được phần nào nét cổ điển cũng như hiện đại trong thơ Huy Cận.

    Đến khổ thơ thứ hai, dường như nỗi buồn vắng, đìu hiu càng lan tỏa và thấm sâu.

    Hơn nữa, cặp từ láy “lơ thơ” và “đìu hiu” càng gợi lên sự buồn bã, quạnh vắng, cô đơn của không gian vũ trụ. Câu “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” xưa nay vẫn tồn tại hai cách hiểu xuất phát từ cách hiểu từ “đâu” (có và không có tiếng chợ chiều). Tuy vậy, dẫu hiểu theo cách nào thì hình ảnh chợ chiều đã vãn trong câu thơ cũng gợi thêm một nét buồn vắng, thê lương cho cảnh sắc.

    Đến hai câu thơ này, không gian như được mở rộng ra cả ba chiều. Từ “cao” chỉ độ cao vật lý của bầu trời, nó thuần tuý tả cảnh; còn từ “sâu” vừa tả cảnh vừa tả tình và hàm súc hơn. Huy Cận đã giải thích về cụm từ “sâu chót vót” như thế này: “Từng vạt nắng từ trên cao rơi xuống tạo nên một khoảng sâu thăm thẳm trên bầu trời. Tôi dùng chữ “sâu” chứ không dùng chữ “cao”, bởi vì “cao chót vót” thì thường quá. Ở đây không gian được mở ra ba chiều….tạo nên một vũ trụ rộng lớn và thể hiện một nỗi buồn tưởng như vô tận” (Về bài thơ “Tràng giang” – Huy Cận)

    Tính từ “chót vót” tô đậm thêm cảm giác mênh mông của vũ trụ. Đứng trước khung cảnh ấy con người dường như nhỏ bé và cảm thấy cô liêu. Hai câu thơ thể hiện cuộc sống quạnh quẽ trong xã hội đương thời mà mỗi người là một ốc đảo hoang vắng cô liêu.

    Trong mạch cảm xúc gợi ra từ hai khổ đầu ấy, sang đến khổ 3, nỗi buồn càng được khắc sâu hơn. Trên khung cảnh vắng lặng một cách tuyệt đối ấy chỉ có:

    Ở câu thơ thứ nhất, ta thấy xuất hiện 1 hình ảnh rất quen thuộc, đó là hình ảnh những cánh bèo trôi dạt lênh đênh. Ta thấy trong ca dao, dân ca, và thơ trung đại hình ảnh cánh bèo cũng hay được sử dụng khi nói về thân phận người phụ nữ: “Thân em như lá bèo trôi”, “Nghĩ mình mặt nước cánh bèo/ Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân”,…

    Hình ảnh ẩn dụ những cánh bèo không biết trôi dạt về đâu và những bờ xanh bãi vàng nối tiếp nhau lặng lẽ gợi cho người đọc liên tưởng đến thân phận nhỏ bé của con người trong xã hội. Cùng với hình ảnh cành củi khô lạc mấy dòng ở khổ một, nó cho thấy sự hoang mang của Huy Cận trong việc tìm ra con đường đi cho mình.

    Đứng trước cảnh vũ trụ cao rộng và hoang vắng ấy con người càng rợn ngợp trong nỗi cô đơn triền miên.

    Toàn cảnh sông dài, trời rộng mà tuyệt nhiên không có bóng dáng con người. Ngay đến những vật để nối đôi bờ như cầu, như đò cũng chẳng có (“Không một chuyến đò”, “không cầu gợi chút niềm thân mật”), mà chỉ có thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên. Không có cầu, là không có sự trao đổi, không tìm thấy dù chỉ một chút niềm thân mật của tình người. Ta thấy, nhân vật trữ tình ở đây không chỉ cô đơn khi đứng trước thiên nhiên rợn ngợp, mà còn cô đơn trong chính xã hội mà ở đó, con người chán nản vì mất đi chủ quyền, tự giam hãm bản thân mà không có sự giao lưu, chia sẻ với nhau.Vì thế, nỗi buồn của bài thơ không chỉ là nỗi buồn mênh mông trước trời rộng sông dài mà còn là nỗi buồn nhân thế.

    Sang đến khổ thơ thứ tư, nỗi nhớ quê hương của nhà thơ hiện lên trong cảnh thiên nhiên rợn ngợp. Từ “buồn điệp điệp”, “sầu trăm ngả” ở những khổ thơ trên, đến đây nỗi sầu thi sĩ đã dâng lên trùng trùng, “lớp lớp” tràn ngập cả bầu trời. Huy Cận đã mượn một số cách diễn đạt của thơ Đường để rồi từ đó sáng tạo nên ý thơ của mình. Hình ảnh ước lệ, cổ điển: mây, chim… vẽ lên bức tranh chiều tà đẹp tráng lệ và thơ mộng. “Mây” nhiều, vô số tầng bậc, chữ “đùn” tạo cảm giác áng mây chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Và, trên cảnh mây trời, sông nước buồn vắng nhưng đẹp đẽ, hùng vĩ ấy, đột nhiên xuất hiện con chim “nghiêng cánh” bay như hút lấy nắng hoàng hôn cùng “bóng chiều”, tạo cảm giác như chỉ cần bóng chim khẽ chao nghiêng là cả bóng chiều sẽ sa xuống vậy.

    Trong văn chương Việt Nam cánh chim là một thi tứ quen thuộc để miêu tả buổi chiều. Nhưng trong “Tràng giang”, dường như cánh chim ấy có phần nhỏ bé và cô đơn hơn bởi nhà thơ đã đặt nó trong một không gian rộng lớn và bao la của vũ trụ. Cánh chim nhỏ là biểu hiện của sự sống và khát vọng. Tuy nhiên, sự xuất hiện của nó vẫn không làm cho không gian vơi đi niềm quạnh vắng. Cánh chim nhỏ nhoi, bé bỏng cô đơn và mông lung hơn trước cảnh sông nước mây trời bao la. “Dợn dợn” là từ láy vô cùng sáng tạo, gợi cảm giác về một nỗi buồn miên man, vô hạn. Nếu ở “Hoàng Hạc lâu”, Thôi Hiệu cần mượn khói sóng để bộc lộ nỗi nhớ quê hương thì ở đây, Huy Cận “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Có thể thấy, nỗi nhớ dường như trở nên thường trực và cháy bỏng hơn.

    Cùng là những nhà thơ của phong trào Thơ Mới, nhưng nếu Vội vàng của Xuân Diệu là một thi giới mạnh mẽ, mãnh liệt, nồng nàn thì “Tràng giang” của Huy Cận lại được các nhà phê bình đánh giá là hồn thơ thuộc về nỗi sầu nhân thế cố hữu, phảng phất âm vị thơ cổ điển. Nỗi sầu ấy tràn ngập trong thơ Huy Cận đến mức, sau này nhìn lại, Huy Cận đã nhìn nhận phong cách của bản thân giai đoạn Trước Cách mạng Tháng Tám rằng: “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm.”

    Câu 3: Bức tranh tâm trạng trong bài thơ “Tràng giang”

    Bài viết tham khảo

    Từ năm 1930, văn học Việt Nam bắt đầu có những bước chuyển mình mạnh mẽ với sự xuất hiện của làn sóng thơ mới cùng những cá tính sáng tác độc đáo. Các nhà thơ say sưa thể hiện cái tôi cá nhân và không còn bị gò bó trong khuôn sáo cũ kĩ của văn thơ trung đại. Nếu Xuân Diệu luôn mang trong mình nỗi ám ảnh về thời gian thì người bạn tri kỉ của ông, Huy Cận lại luôn chìm đắm trong cảm thức về không gian vũ trụ. Huy Cận tỏ ra rất nhạy cảm với không gian rộng lớn và thời gian vĩnh hằng. Những điều ấy được thể hiện rõ nét trong “Tràng giang”, một trong những bài thơ xuất sắc nhất của ông.

    Vào khoảng những năm 1939, Huy Cận theo học tại một trường ở Hà Nội. Ông có thói quen đạp xe dọc đê vào mỗi buổi chiều thứ bảy để hóng gió và ngắm cảnh sông Hồng. Bài “Tràng giang” ra đời trong một buổi chiều như thế. Đứng ở bãi Chèm, nhìn cảnh sông nước mênh mông, nỗi nhớ quê hương, nỗi sầu lo, thương cảm về đất nước về kiếp người cuộn tràn trong tâm trí nhà thơ. Ngay hôm ấy ông đã cho ra đời một bài thơ lục bát, lấy tiêu đề là “Chiều trên sông”. Sau này, Huy Cận đổi tên thành “Tràng giang” và viết lại theo thể thất ngôn tự do, in trong tập Lửa thiêng.

    Có thể thấy rằng chính lời đề từ tuy nằm ngoài bài thơ, nhưng lại đúc kết nội dung tư tưởng và ý đồ nghệ thuật của tác giả đó chính là ‘Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Có thể coi cảm xúc trong câu thơ này là nguồn thi hứng để thi sĩ sáng tác nên bài thơ “Tràng giang” bất hủ. Dường như nó cũng đã khiến cho không chỉ “cái tôi trữ tình” nặng trĩu nhớ nhung, mà đất trời sông núi cũng tràn ngập bâng khuâng, nhung nhớ. Có lẽ cái độc đáo của câu thơ này chính là sự giao thoa của cả hai nghĩa ấy. Nhà thơ tài năng Huy Cận đã triển khai cảm hứng nêu ở câu thơ để từ một cách hoàn hảo trong suốt thi phẩm của mình.

    Nếu như những câu thơ trên mở ra với hình ảnh những lớp sóng tiếp nối nhau điệp điệp thì ở câu dưới nó lại được đặc tả qua hình ảnh con thuyên xuôi mái theo những luồng nước song song rong ruổi về mãi cuối trời. “Sóng và thuyền” không có gì đáng buồn nhưng chính cụm từ “buồn điệp điệp” đã làm cho cảnh trở nên mênh mông và xa vắng. Từ “điệp điệp” từ xưa đến nay thường dùng để hình dung, miêu tả những hình ảnh thiên nhiên như sóng, núi giờ đây được Huy Cận dùng để nói về nỗi buồn. Điều này làm cho nỗi buồn không còn vô hình mà trở nên hữu hình, cụ thể. Đó là nỗi buồn dai dẳng, triền miên, thường trực trong tâm trí. Câu thơ đã bộc lộ tâm trạng của nhân vật trữ tình khi đứng trước cảnh trời rộng sông dài.

    Sự đối lập giữa cành củi khô và dòng sông làm người đọc liên tưởng đến thân phận con người trong xã hội đương thời. Có thể thấy nỗi buồn của Huy Cận ở đây không chỉ là nỗi buồn cá nhân mà đó là nỗi buồn của cả một thế hệ thanh niên không tìm ra lối thoát cho đời mình.

    Và rồi cho đến khổ thơ thứ hai, bức tranh tràng giang có thêm cảnh, thêm người nhưng nỗi buồn không vơi mà như càng thấm sâu vào cảnh vật. Huy Cận dường như cũng đã tập trung tất cả hình ảnh, nhạc điệu để làm nổi bật lên nỗi buồn thấm thía của con người trước sông dài trời rộng. Có thể thấy rằng nỗi buồn được gợi lên từ mặt nước mênh mông, đôi bờ hoang vắng, từ một cồn nhỏ lơ thơ heo hút, dăm bụi cây phơ phất trong gió lạnh đìu hiu.

    Hơn nữa, cặp từ láy “lơ thơ” và “đìu hiu” càng gợi lên sự buồn bã, quạnh vắng, cô đơn của không gian vũ trụ. Từ làng xa vẳng lại tiếng chợ chiều đang vãn, tuy có hơi hướng con người nhưng âm thanh mong manh mơ hồ như từ cõi nào vọng lại làm dấy lên trong lòng lữ khách nỗi khát khao được gặp gỡ và chia sẻ tâm tình.

    Có lẽ nỗi buồn đã và đang lan toả ra hết chiều cao, chiều rộng của bến bãi, mặt nước, bầu trời. Ở đây, người đọc bắt gặp những cảm nhận hết sức tinh tế, kì diệu của nhà thơ đó là cách cảm nhận về độ cao, độ sâu đến rợn ngợp của bầu trời và khoảng cách vô tận giữa trời và nước. Cách dùng từ “sâu chót vót” tạo nên ấn tượng sông thêm dài, trời thêm rộng và bến sông vốn đã vắng vẻ lại càng cô liêu hơn, quạnh quẽ hơn.

    Cảnh vật vẫn hết sức quạnh vắng. Toàn cảnh sông nước trời rộng tuyệt nhiên không có bóng dáng của con người: “không một chuyến đò” và cũng không có lấy một nhịp cầu nối giữa đôi bờ tạo nên sự gần gũi giữa con người với con người mà chỉ có thiên nhiên với thiên nhiên xa vắng hoang vu. Vì vậy, nỗi buồn của bài thơ này không chỉ là nỗi buồn trước trời rộng, sông dài mà còn là nỗi buồn về nhân thế, về cuộc đời.

    Sang đến khổ thơ thứ tư, từ “buồn điệp điệp”, “sầu trăm ngả” ở những khổ thơ trên, đến đây nỗi sầu thi sĩ đã dâng lên trùng trùng, “lớp lớp” tràn ngập cả bầu trời. Trong văn chương Việt Nam cánh chim là một thi tứ quen thuộc để miêu tả buổi chiều. Nhưng trong “Tràng giang”, dường như cánh chim ấy có phần nhỏ bé và cô đơn hơn bởi nhà thơ đã đặt nó trong một không gian rộng lớn và bao la của vũ trụ. Cánh chim nhỏ là biểu hiện của sự sống và khát vọng. Tuy nhiên, sự xuất hiện của nó vẫn không làm cho không gian vơi đi niềm quạnh vắng. Cánh chim nhỏ nhoi, bé bỏng cô đơn và mông lung hơn trước cảnh sông nước mây trời bao la. “Dợn dợn” là từ láy vô cùng sáng tạo, gợi cảm giác về một nỗi buồn miên man, vô hạn. Nếu ở “Hoàng Hạc lâu”, Thôi Hiệu cần mượn khói sóng để bộc lộ nỗi nhớ quê hương thì ở đây, Huy Cận “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Có thể thấy, nỗi nhớ dường như trở nên thường trực và cháy bỏng hơn.

    Như vậy, đi suốt bài thơ là một nỗi buồn triền miên, vô tận. Nỗi buồn của bài thơ này cũng như phần nhiều nỗi buồn của các nhà thơ mới trong những năm thời thuộc Pháp. Về nội dung, bài thơ đem đến người đọc bức tranh thiên nhiên sông nước gần gũi quen thuộc nhưng vắng lặng và bức tranh tâm trạng mang trĩu nặng nỗi sầu. Cùng với đó là niềm khát khao giao cảm với cuộc đời, lòng yêu nước tuy thầm kín nhưng không kém phần thiết tha của nhà thơ. Về nghệ thuật, bài thơ đặc sắc ở chỗ nó có sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp cổ điển và hiện đại. Cổ kính, trang nghiêm, đậm chất Đường thi nhưng “Tràng giang” vẫn là bài thơ mang nét hiện đại khi sử dụng những hình ảnh gần gũi, tầm thường để qua đó bộc lộ cảm xúc, nỗi niềm của nhân vật trữ tình. Đây cũng là nét độc đáo điển hình trong phong cách thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám.

    Câu 1: Qua câu thơ đề từ ta thấy được nỗi niềm của nhà thơ là cảm giác buồn sầu trước dòng sông rộng lớn, đồng thời cảm nhận được nỗi nhớ da diết của tác giả.

    Mối lên hệ với bức tranh thiên nhiên và tâm trạng nhà thơ là nỗi buồn sầu lan tỏa, nhẹ nhàng mà sâu lắng đồng thời tạo nên vẻ đẹp hài hòa, vừa cổ điển vừa hiện đại.

    Câu 2: Âm điệu chung của bài thơ là âm điệu buồn lặng lẽ, bâng khuâng, man mác da diết, sầu lặng. Nổi bật trong suốt bài thơ là âm điệu buồn – đều đều, dập dềnh như sông nước ở trên sông chủ yếu là nhịp thơ 2/2/3 và thanh điệu có sự hoán vị bằng trắc đều đặn, cấu trúc đăng đối giữa các câu thơ.

    Câu 3: Bức tranh thiên nhiên không gian mênh mong, cảnh vật hiu quạnh hình ảnh mang đậm sắc màu cổ điển. Tuy nhiên, bức tranh Tràng Giang vẫn gần gũi, thân thuộc vì: cành củi khô, tiếng làng xa vãn chợ chiều. Hình ảnh, âm thanh giản dị, gần gũi, thanh đạm của cuộc sống, con người Việt Nam.

    Câu 4: Tình yêu thiên nhiên ở đây có thấm đượm lòng yêu nước thầm kín qua bốn câu thơ cuối với những hình ảnh bức tranh chiều tà đẹp, hùng vĩ và vô cùng thơ mộng mang đến cho người đọc những cảm giác thân thuộc, gần gũi để rồi từ những cảnh quê. Huy Cận không cần đến thiên nhiên, tạo vật mà nó tìm ẩn và bộc phát tự nhiên chính vì thế nên nỗi nhớ quê càng da diết, sâu sắc hơn. Và cứ như thế nỗi buồn sâu lắng, nỗi nhớ quê da diết cứ chầm chậm chảy trên bề mặt khổ thơ cuối.

    Câu 5: Bài thơ được tái hiện với nghệ thuật đặc sắc qua sự kết hợp hài hòa những thi liệu mang nét cổ điển với hiện đại, bút pháp tả cảnh giàu tính tạo hình, hệ thống từ láy giàu giá trị biểu cảm, nghệ thuật đối, cách ngắt nhịp 2/2/3 và thể thơ thất ngôntạo nên không khí trầm mặc, cổ kính của thơ đường.

    Luyện tập

    Câu 1: Cách cảm nhận không gian: Mang cảm hứng vũ trụ, cảm giác bao la, rộng lớn với không gian 3 chiều, không gian buồn hiu hắt, con sông không bóng người và vừa hùng vĩ, vừa cô đơn.

    Cảm nhận thời gian: Thời gian ở đây là buổi chiều tà, cảm nhận thời gian vừa cụ thể, vừa gợi cảm lại thể hiện đúng tâm trạng buồn hiu hắt tác giả.

    Câu 2: Rõ ràng Huy Cận có mượn ý thơ của Thôi Hiệu, tuy nhiên trong thơ Thôi Hiệu phải có khói và sóng là những hình ảnh thiên nhiên thì mới gợi lên nỗi nhớ nhà. Trong khi đó, trong thơ Xuân Diệu những hình ảnh thiên nhiên đó luôn thường trực và tự nhiên bộc phát cho nên nỗi nhớ của Huy Cận da diết và sâu lắng hơn.

    Bài viết tham khảo

    Từ năm 1930, văn học Việt Nam bắt đầu có những bước chuyển mình mạnh mẽ với sự xuất hiện của làn sóng thơ mới cùng những cá tính sáng tác độc đáo. Các nhà thơ say sưa thể hiện cái tôi cá nhân và không còn bị gò bó trong khuôn sáo cũ kĩ của văn thơ trung đại. Nếu Xuân Diệu luôn mang trong mình nỗi ám ảnh về thời gian thì người bạn tri kỉ của ông, Huy Cận lại luôn chìm đắm trong cảm thức về không gian vũ trụ. Huy Cận tỏ ra rất nhạy cảm với không gian rộng lớn và thời gian vĩnh hằng. Những điều ấy được thể hiện rõ nét trong “Tràng giang”, một trong những bài thơ xuất sắc nhất của ông.

    Vào khoảng những năm 1939, Huy Cận theo học tại một trường ở Hà Nội. Ông có thói quen đạp xe dọc đê vào mỗi buổi chiều thứ bảy để hóng gió và ngắm cảnh sông Hồng. Bài “Tràng giang” ra đời trong một buổi chiều như thế. Đứng ở bãi Chèm, nhìn cảnh sông nước mênh mông, nỗi nhớ quê hương, nỗi sầu lo, thương cảm về đất nước về kiếp người cuộn tràn trong tâm trí nhà thơ. Ngay hôm ấy ông đã cho ra đời một bài thơ lục bát, lấy tiêu đề là “Chiều trên sông”. Sau này, Huy Cận đổi tên thành “Tràng giang” và viết lại theo thể thất ngôn tự do, in trong tập Lửa thiêng.

    Nhan đề “Tràng giang” là từ Hán – Việt gợi lên sắc thái trang trọng và cổ kính. Điệp vần “ang” tạo ấn tượng về một dòng sông rộng lớn, mênh mang, vô tận. Chỉ qua nhan đề, tác giả không chỉ gợi được chiều dài mà còn cả chiều rộng và chiều sâu của dòng sông.

    Câu thơ đề từ mở ra một không gian rộng lớn mang tầm vũ trụ: có chiều rộng bát ngát của bầu trời, chiều dài vô tận của dòng chảy, chiều cao giữa trời và nước. Chính giữa không gian rợn ngợp như thế làm con người ta cảm thấy cô đơn, nhỏ nhoi, nhung nhớ một điều gì đó xa xôi

    Khổ thơ thứ nhất là nét bút chấm phá vẽ lên bức tranh sông nước rộng mênh mang nhưng buồn vắng. “Sóng và thuyền” không có gì đáng buồn nhưng chính cụm từ “buồn điệp điệp” đã làm cho cảnh trở nên mênh mông và xa vắng. Từ “điệp điệp” từ xưa đến nay thường dùng để hình dung, miêu tả những hình ảnh thiên nhiên như sóng, núi giờ đây được Huy Cận dùng để nói về nỗi buồn. Điều này làm cho nỗi buồn không còn vô hình mà trở nên hữu hình, cụ thể. Đó là nỗi buồn dai dẳng, triền miên, thường trực trong tâm trí. Câu thơ đã bộc lộ tâm trạng của nhân vật trữ tình khi đứng trước cảnh trời rộng sông dài. Câu thơ mang âm hưởng cổ kính của thơ Đường với nghệ thuật đối từ, đối ý: sóng – thuyền; điệp điệp – song song. Tuy vậy, xét đến cùng, sức mạnh của hai câu thơ đầu tiên không phải ở nghệ thuật miêu tả mà ở nghệ thuật khơi gợi – khơi gợi được cả cảm xúc và ấn tượng về một nỗi buồn triền miên kéo dài theo không gian (tràng giang) và thời gian (điệp điệp).

    Đến khổ thơ thứ hai, dường như nỗi buồn vắng, đìu hiu càng lan tỏa và thấm sâu. Đến hai câu thơ này, không gian như được mở rộng ra cả ba chiều. Từ “cao” chỉ độ cao vật lý của bầu trời, nó thuần tuý tả cảnh; còn từ “sâu” vừa tả cảnh vừa tả tình và hàm súc hơn. Huy Cận đã giải thích về cụm từ “sâu chót vót” như thế này: “Từng vạt nắng từ trên cao rơi xuống tạo nên một khoảng sâu thăm thẳm trên bầu trời. Tôi dùng chữ “sâu” chứ không dùng chữ “cao”, bởi vì “cao chót vót” thì thường quá. Ở đây không gian được mở ra ba chiều….tạo nên một vũ trụ rộng lớn và thể hiện một nỗi buồn tưởng như vô tận”.(Về bài thơ “Tràng giang” – Huy Cận)

    Trong mạch cảm xúc gợi ra từ hai khổ đầu ấy, sang đến khổ 3, nỗi buồn càng được khắc sâu hơn. Trên khung cảnh vắng lặng một cách tuyệt đối ấy chỉ có. Ở câu thơ thứ nhất, ta thấy xuất hiện 1 hình ảnh rất quen thuộc, đó là hình ảnh những cánh bèo trôi dạt lênh đênh. Ta thấy trong ca dao, dân ca, và thơ trung đại hình ảnh cánh bèo cũng hay được sử dụng khi nói về thân phận người phụ nữ: “Thân em như lá bèo trôi”, “Nghĩ mình mặt nước cánh bèo/ Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân”,…

    Hình ảnh ẩn dụ những cánh bèo không biết trôi dạt về đâu và những bờ xanh bãi vàng nối tiếp nhau lặng lẽ gợi cho người đọc liên tưởng đến thân phận nhỏ bé của con người trong xã hội. Cùng với hình ảnh cành củi khô lạc mấy dòng ở khổ một, nó cho thấy sự hoang mang của Huy Cận trong việc tìm ra con đường đi cho mình. Đứng trước cảnh vũ trụ cao rộng và hoang vắng ấy con người càng rợn ngợp trong nỗi cô đơn triền miên.

    Toàn cảnh sông dài, trời rộng mà tuyệt nhiên không có bóng dáng con người. Ngay đến những vật để nối đôi bờ như cầu, như đò cũng chẳng có (“Không một chuyến đò”, “không cầu gợi chút niềm thân mật”), mà chỉ có thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên. Không có cầu, là không có sự trao đổi, không tìm thấy dù chỉ một chút niềm thân mật của tình người. Ta thấy, nhân vật trữ tình ở đây không chỉ cô đơn khi đứng trước thiên nhiên rợn ngợp, mà còn cô đơn trong chính xã hội mà ở đó, con người chán nản vì mất đi chủ quyền, tự giam hãm bản thân mà không có sự giao lưu, chia sẻ với nhau.Vì thế, nỗi buồn của bài thơ không chỉ là nỗi buồn mênh mông trước trời rộng sông dài mà còn là nỗi buồn nhân thế

    Sang đến khổ thơ thứ tư. Trong văn chương Việt Nam cánh chim là một thi tứ quen thuộc để miêu tả buổi chiều. Nhưng trong “Tràng giang”, dường như cánh chim ấy có phần nhỏ bé và cô đơn hơn bởi nhà thơ đã đặt nó trong một không gian rộng lớn và bao la của vũ trụ. Cánh chim nhỏ là biểu hiện của sự sống và khát vọng. Tuy nhiên, sự xuất hiện của nó vẫn không làm cho không gian vơi đi niềm quạnh vắng. Cánh chim nhỏ nhoi, bé bỏng cô đơn và mông lung hơn trước cảnh sông nước mây trời bao la.

    “Dợn dợn” là từ láy vô cùng sáng tạo, gợi cảm giác về một nỗi buồn miên man, vô hạn. Nếu ở “Hoàng Hạc lâu”, Thôi Hiệu cần mượn khói sóng để bộc lộ nỗi nhớ quê hương thì ở đây, Huy Cận “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Có thể thấy, nỗi nhớ dường như trở nên thường trực và cháy bỏng hơn.

    Như vậy, đi suốt bài thơ là một nỗi buồn triền miên, vô tận. Nỗi buồn của bài thơ này cũng như phần nhiều nỗi buồn của các nhà thơ mới trong những năm thời thuộc Pháp. Về nội dung, bài thơ đem đến người đọc bức tranh thiên nhiên sông nước gần gũi quen thuộc nhưng vắng lặng và bức tranh tâm trạng mang trĩu nặng nỗi sầu. Cùng với đó là niềm khát khao giao cảm với cuộc đời, lòng yêu nước tuy thầm kín nhưng không kém phần thiết tha của nhà thơ. Về nghệ thuật, bài thơ đặc sắc ở chỗ nó có sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp cổ điển và hiện đại. Cổ kính, trang nghiêm, đậm chất Đường thi nhưng “Tràng giang” vẫn là bài thơ mang nét hiện đại khi sử dụng những hình ảnh gần gũi, tầm thường để qua đó bộc lộ cảm xúc, nỗi niềm của nhân vật trữ tình. Đây cũng là nét độc đáo điển hình trong phong cách thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám.

    Câu 2: Nhà thơ Huy Cận đã từng viết: “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm.”

    Em hãy làm rõ điều này thông qua việc phân tích tác phẩm “Tràng giang” của Huy Cận.

    Bài viết tham khảo

    Thơ Huy Cận sau Cách mạng Tháng Tám là một hồn thơ dạt dào nhựa sống thời đại, nó mang dấu ấn từ truyền thống dân tộc đến những tầng sâu văn hóa của đời sống con người Việt chúng tôi nhìn về bản thân thời trẻ, Huy Cận từng viết: “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm.” Và nỗi sầu của Huy Cận đã được nhà thơ thể hiện vô cùng tha thiết thông qua tác phẩm “Tràng giang”.

    Nói về cảm hứng viết nên bài thơ “Tràng giang”, Huy Cận chia sẻ rằng vào khoảng những năm 1939, Huy Cận theo học tại một trường ở Hà Nội. Ông có thói quen đạp xe dọc đê vào mỗi buổi chiều thứ bảy để hóng gió và ngắm cảnh sông Hồng. Bài “Tràng giang” ra đời trong một buổi chiều như thế. Đứng ở bãi Chèm, nhìn cảnh sông nước mênh mông, nỗi nhớ quê hương, nỗi sầu lo, thương cảm về đất nước về kiếp người cuộn tràn trong tâm trí nhà thơ. Ngay hôm ấy ông đã cho ra đời một bài thơ lục bát, lấy tiêu đề là “Chiều trên sông”. Sau này, Huy Cận đổi tên thành “Tràng giang” và viết lại theo thể thất ngôn tự do, in trong tập Lửa thiêng.

    Câu thơ đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã dẫn dắt ta vào bài thơ, cũng là dẫn dắt vào nỗi buồn mênh mang theo chiều không gian rộng lớn của dòng sông.

    Khổ thơ thứ nhất là nét bút chấm phá vẽ lên bức tranh sông nước rộng mênh mang nhưng buồn vắng “Sóng và thuyền” không có gì đáng buồn nhưng chính cụm từ “buồn điệp điệp” đã làm cho cảnh trở nên mênh mông và xa vắng. Từ “điệp điệp” từ xưa đến nay thường dùng để hình dung, miêu tả những hình ảnh thiên nhiên như sóng, núi giờ đây được Huy Cận dùng để nói về nỗi buồn. Điều này làm cho nỗi buồn không còn vô hình mà trở nên hữu hình, cụ thể. Đó là nỗi buồn dai dẳng, triền miên, thường trực trong tâm trí. Câu thơ đã bộc lộ tâm trạng của nhân vật trữ tình khi đứng trước cảnh trời rộng sông dài. Câu thơ mang âm hưởng cổ kính của thơ Đường với nghệ thuật đối từ, đối ý: sóng – thuyền; điệp điệp – song song. Tuy vậy, xét đến cùng, sức mạnh của hai câu thơ đầu tiên không phải ở nghệ thuật miêu tả mà ở nghệ thuật khơi gợi – khơi gợi được cả cảm xúc và ấn tượng về một nỗi buồn triền miên kéo dài theo không gian (tràng giang) và thời gian (điệp điệp).

    Nếu như các phép đối ý, đối xứng cùng với các thi liệu, hình ảnh quen thuộc như con thuyền, sóng nước làm cho khổ thơ phảng phất hương vị cổ điển của Đường thi thì việc xuất hiện hình ảnh một cành củi khô nhỏ nhoi, tầm thường ở câu thứ tư đã thổi vào làn gió mới, khẳng định rằng đây là một bài thơ Mới. Bởi ở văn thơ trung đại, khi sáng tác, người ta chỉ tập trung nói đến những hình ảnh trang nhã, đẹp đẽ như tùng, cúc, trúc, mai, trăng, gió… chứ không đề cập tới những hình ảnh dân dã, tầm thường như cành củi khô. Sự đối lập giữa cành củi khô và dòng sông làm người đọc liên tưởng đến thân phận con người trong xã hội đương thời. Có thể thấy nỗi buồn của Huy Cận ở đây không chỉ là nỗi buồn cá nhân mà đó là nỗi buồn của cả một thế hệ thanh niên không tìm ra lối thoát cho đời mình. Đồng thời, chỉ thông qua khổ thơ thứ nhất, chúng ta cũng đã thấy được phần nào nét cổ điển cũng như hiện đại trong thơ Huy Cận.

    Đến khổ thơ thứ hai, dường như nỗi buồn vắng, đìu hiu càng lan tỏa và thấm sâu.

    Hơn nữa, cặp từ láy “lơ thơ” và “đìu hiu” càng gợi lên sự buồn bã, quạnh vắng, cô đơn của không gian vũ trụ. Câu “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” xưa nay vẫn tồn tại hai cách hiểu xuất phát từ cách hiểu từ “đâu” (có và không có tiếng chợ chiều). Tuy vậy, dẫu hiểu theo cách nào thì hình ảnh chợ chiều đã vãn trong câu thơ cũng gợi thêm một nét buồn vắng, thê lương cho cảnh sắc.

    Đến hai câu thơ này, không gian như được mở rộng ra cả ba chiều. Từ “cao” chỉ độ cao vật lý của bầu trời, nó thuần tuý tả cảnh; còn từ “sâu” vừa tả cảnh vừa tả tình và hàm súc hơn. Huy Cận đã giải thích về cụm từ “sâu chót vót” như thế này: “Từng vạt nắng từ trên cao rơi xuống tạo nên một khoảng sâu thăm thẳm trên bầu trời. Tôi dùng chữ “sâu” chứ không dùng chữ “cao”, bởi vì “cao chót vót” thì thường quá. Ở đây không gian được mở ra ba chiều….tạo nên một vũ trụ rộng lớn và thể hiện một nỗi buồn tưởng như vô tận” (Về bài thơ “Tràng giang” – Huy Cận)

    Tính từ “chót vót” tô đậm thêm cảm giác mênh mông của vũ trụ. Đứng trước khung cảnh ấy con người dường như nhỏ bé và cảm thấy cô liêu. Hai câu thơ thể hiện cuộc sống quạnh quẽ trong xã hội đương thời mà mỗi người là một ốc đảo hoang vắng cô liêu.

    Trong mạch cảm xúc gợi ra từ hai khổ đầu ấy, sang đến khổ 3, nỗi buồn càng được khắc sâu hơn. Trên khung cảnh vắng lặng một cách tuyệt đối ấy chỉ có:

    Ở câu thơ thứ nhất, ta thấy xuất hiện 1 hình ảnh rất quen thuộc, đó là hình ảnh những cánh bèo trôi dạt lênh đênh. Ta thấy trong ca dao, dân ca, và thơ trung đại hình ảnh cánh bèo cũng hay được sử dụng khi nói về thân phận người phụ nữ: “Thân em như lá bèo trôi”, “Nghĩ mình mặt nước cánh bèo/ Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân”,…

    Hình ảnh ẩn dụ những cánh bèo không biết trôi dạt về đâu và những bờ xanh bãi vàng nối tiếp nhau lặng lẽ gợi cho người đọc liên tưởng đến thân phận nhỏ bé của con người trong xã hội. Cùng với hình ảnh cành củi khô lạc mấy dòng ở khổ một, nó cho thấy sự hoang mang của Huy Cận trong việc tìm ra con đường đi cho mình.

    Đứng trước cảnh vũ trụ cao rộng và hoang vắng ấy con người càng rợn ngợp trong nỗi cô đơn triền miên.

    Toàn cảnh sông dài, trời rộng mà tuyệt nhiên không có bóng dáng con người. Ngay đến những vật để nối đôi bờ như cầu, như đò cũng chẳng có (“Không một chuyến đò”, “không cầu gợi chút niềm thân mật”), mà chỉ có thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên. Không có cầu, là không có sự trao đổi, không tìm thấy dù chỉ một chút niềm thân mật của tình người. Ta thấy, nhân vật trữ tình ở đây không chỉ cô đơn khi đứng trước thiên nhiên rợn ngợp, mà còn cô đơn trong chính xã hội mà ở đó, con người chán nản vì mất đi chủ quyền, tự giam hãm bản thân mà không có sự giao lưu, chia sẻ với nhau.Vì thế, nỗi buồn của bài thơ không chỉ là nỗi buồn mênh mông trước trời rộng sông dài mà còn là nỗi buồn nhân thế.

    Sang đến khổ thơ thứ tư, nỗi nhớ quê hương của nhà thơ hiện lên trong cảnh thiên nhiên rợn ngợp. Từ “buồn điệp điệp”, “sầu trăm ngả” ở những khổ thơ trên, đến đây nỗi sầu thi sĩ đã dâng lên trùng trùng, “lớp lớp” tràn ngập cả bầu trời. Huy Cận đã mượn một số cách diễn đạt của thơ Đường để rồi từ đó sáng tạo nên ý thơ của mình. Hình ảnh ước lệ, cổ điển: mây, chim… vẽ lên bức tranh chiều tà đẹp tráng lệ và thơ mộng. “Mây” nhiều, vô số tầng bậc, chữ “đùn” tạo cảm giác áng mây chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Và, trên cảnh mây trời, sông nước buồn vắng nhưng đẹp đẽ, hùng vĩ ấy, đột nhiên xuất hiện con chim “nghiêng cánh” bay như hút lấy nắng hoàng hôn cùng “bóng chiều”, tạo cảm giác như chỉ cần bóng chim khẽ chao nghiêng là cả bóng chiều sẽ sa xuống vậy.

    Trong văn chương Việt Nam cánh chim là một thi tứ quen thuộc để miêu tả buổi chiều. Nhưng trong “Tràng giang”, dường như cánh chim ấy có phần nhỏ bé và cô đơn hơn bởi nhà thơ đã đặt nó trong một không gian rộng lớn và bao la của vũ trụ. Cánh chim nhỏ là biểu hiện của sự sống và khát vọng. Tuy nhiên, sự xuất hiện của nó vẫn không làm cho không gian vơi đi niềm quạnh vắng. Cánh chim nhỏ nhoi, bé bỏng cô đơn và mông lung hơn trước cảnh sông nước mây trời bao la. “Dợn dợn” là từ láy vô cùng sáng tạo, gợi cảm giác về một nỗi buồn miên man, vô hạn. Nếu ở “Hoàng Hạc lâu”, Thôi Hiệu cần mượn khói sóng để bộc lộ nỗi nhớ quê hương thì ở đây, Huy Cận “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Có thể thấy, nỗi nhớ dường như trở nên thường trực và cháy bỏng hơn.

    Cùng là những nhà thơ của phong trào Thơ Mới, nhưng nếu Vội vàng của Xuân Diệu là một thi giới mạnh mẽ, mãnh liệt, nồng nàn thì “Tràng giang” của Huy Cận lại được các nhà phê bình đánh giá là hồn thơ thuộc về nỗi sầu nhân thế cố hữu, phảng phất âm vị thơ cổ điển. Nỗi sầu ấy tràn ngập trong thơ Huy Cận đến mức, sau này nhìn lại, Huy Cận đã nhìn nhận phong cách của bản thân giai đoạn Trước Cách mạng Tháng Tám rằng: “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm.”

    Câu 3: Bức tranh tâm trạng trong bài thơ “Tràng giang”

    Bài viết tham khảo

    Từ năm 1930, văn học Việt Nam bắt đầu có những bước chuyển mình mạnh mẽ với sự xuất hiện của làn sóng thơ mới cùng những cá tính sáng tác độc đáo. Các nhà thơ say sưa thể hiện cái tôi cá nhân và không còn bị gò bó trong khuôn sáo cũ kĩ của văn thơ trung đại. Nếu Xuân Diệu luôn mang trong mình nỗi ám ảnh về thời gian thì người bạn tri kỉ của ông, Huy Cận lại luôn chìm đắm trong cảm thức về không gian vũ trụ. Huy Cận tỏ ra rất nhạy cảm với không gian rộng lớn và thời gian vĩnh hằng. Những điều ấy được thể hiện rõ nét trong “Tràng giang”, một trong những bài thơ xuất sắc nhất của ông.

    Vào khoảng những năm 1939, Huy Cận theo học tại một trường ở Hà Nội. Ông có thói quen đạp xe dọc đê vào mỗi buổi chiều thứ bảy để hóng gió và ngắm cảnh sông Hồng. Bài “Tràng giang” ra đời trong một buổi chiều như thế. Đứng ở bãi Chèm, nhìn cảnh sông nước mênh mông, nỗi nhớ quê hương, nỗi sầu lo, thương cảm về đất nước về kiếp người cuộn tràn trong tâm trí nhà thơ. Ngay hôm ấy ông đã cho ra đời một bài thơ lục bát, lấy tiêu đề là “Chiều trên sông”. Sau này, Huy Cận đổi tên thành “Tràng giang” và viết lại theo thể thất ngôn tự do, in trong tập Lửa thiêng.

    Có thể thấy rằng chính lời đề từ tuy nằm ngoài bài thơ, nhưng lại đúc kết nội dung tư tưởng và ý đồ nghệ thuật của tác giả đó chính là ‘Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Có thể coi cảm xúc trong câu thơ này là nguồn thi hứng để thi sĩ sáng tác nên bài thơ “Tràng giang” bất hủ. Dường như nó cũng đã khiến cho không chỉ “cái tôi trữ tình” nặng trĩu nhớ nhung, mà đất trời sông núi cũng tràn ngập bâng khuâng, nhung nhớ. Có lẽ cái độc đáo của câu thơ này chính là sự giao thoa của cả hai nghĩa ấy. Nhà thơ tài năng Huy Cận đã triển khai cảm hứng nêu ở câu thơ để từ một cách hoàn hảo trong suốt thi phẩm của mình.

    Nếu như những câu thơ trên mở ra với hình ảnh những lớp sóng tiếp nối nhau điệp điệp thì ở câu dưới nó lại được đặc tả qua hình ảnh con thuyên xuôi mái theo những luồng nước song song rong ruổi về mãi cuối trời. “Sóng và thuyền” không có gì đáng buồn nhưng chính cụm từ “buồn điệp điệp” đã làm cho cảnh trở nên mênh mông và xa vắng. Từ “điệp điệp” từ xưa đến nay thường dùng để hình dung, miêu tả những hình ảnh thiên nhiên như sóng, núi giờ đây được Huy Cận dùng để nói về nỗi buồn. Điều này làm cho nỗi buồn không còn vô hình mà trở nên hữu hình, cụ thể. Đó là nỗi buồn dai dẳng, triền miên, thường trực trong tâm trí. Câu thơ đã bộc lộ tâm trạng của nhân vật trữ tình khi đứng trước cảnh trời rộng sông dài.

    Sự đối lập giữa cành củi khô và dòng sông làm người đọc liên tưởng đến thân phận con người trong xã hội đương thời. Có thể thấy nỗi buồn của Huy Cận ở đây không chỉ là nỗi buồn cá nhân mà đó là nỗi buồn của cả một thế hệ thanh niên không tìm ra lối thoát cho đời mình.

    Và rồi cho đến khổ thơ thứ hai, bức tranh tràng giang có thêm cảnh, thêm người nhưng nỗi buồn không vơi mà như càng thấm sâu vào cảnh vật. Huy Cận dường như cũng đã tập trung tất cả hình ảnh, nhạc điệu để làm nổi bật lên nỗi buồn thấm thía của con người trước sông dài trời rộng. Có thể thấy rằng nỗi buồn được gợi lên từ mặt nước mênh mông, đôi bờ hoang vắng, từ một cồn nhỏ lơ thơ heo hút, dăm bụi cây phơ phất trong gió lạnh đìu hiu.

    Hơn nữa, cặp từ láy “lơ thơ” và “đìu hiu” càng gợi lên sự buồn bã, quạnh vắng, cô đơn của không gian vũ trụ. Từ làng xa vẳng lại tiếng chợ chiều đang vãn, tuy có hơi hướng con người nhưng âm thanh mong manh mơ hồ như từ cõi nào vọng lại làm dấy lên trong lòng lữ khách nỗi khát khao được gặp gỡ và chia sẻ tâm tình.

    Có lẽ nỗi buồn đã và đang lan toả ra hết chiều cao, chiều rộng của bến bãi, mặt nước, bầu trời. Ở đây, người đọc bắt gặp những cảm nhận hết sức tinh tế, kì diệu của nhà thơ đó là cách cảm nhận về độ cao, độ sâu đến rợn ngợp của bầu trời và khoảng cách vô tận giữa trời và nước. Cách dùng từ “sâu chót vót” tạo nên ấn tượng sông thêm dài, trời thêm rộng và bến sông vốn đã vắng vẻ lại càng cô liêu hơn, quạnh quẽ hơn.

    Cảnh vật vẫn hết sức quạnh vắng. Toàn cảnh sông nước trời rộng tuyệt nhiên không có bóng dáng của con người: “không một chuyến đò” và cũng không có lấy một nhịp cầu nối giữa đôi bờ tạo nên sự gần gũi giữa con người với con người mà chỉ có thiên nhiên với thiên nhiên xa vắng hoang vu. Vì vậy, nỗi buồn của bài thơ này không chỉ là nỗi buồn trước trời rộng, sông dài mà còn là nỗi buồn về nhân thế, về cuộc đời.

    Sang đến khổ thơ thứ tư, từ “buồn điệp điệp”, “sầu trăm ngả” ở những khổ thơ trên, đến đây nỗi sầu thi sĩ đã dâng lên trùng trùng, “lớp lớp” tràn ngập cả bầu trời. Trong văn chương Việt Nam cánh chim là một thi tứ quen thuộc để miêu tả buổi chiều. Nhưng trong “Tràng giang”, dường như cánh chim ấy có phần nhỏ bé và cô đơn hơn bởi nhà thơ đã đặt nó trong một không gian rộng lớn và bao la của vũ trụ. Cánh chim nhỏ là biểu hiện của sự sống và khát vọng. Tuy nhiên, sự xuất hiện của nó vẫn không làm cho không gian vơi đi niềm quạnh vắng. Cánh chim nhỏ nhoi, bé bỏng cô đơn và mông lung hơn trước cảnh sông nước mây trời bao la. “Dợn dợn” là từ láy vô cùng sáng tạo, gợi cảm giác về một nỗi buồn miên man, vô hạn. Nếu ở “Hoàng Hạc lâu”, Thôi Hiệu cần mượn khói sóng để bộc lộ nỗi nhớ quê hương thì ở đây, Huy Cận “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Có thể thấy, nỗi nhớ dường như trở nên thường trực và cháy bỏng hơn.

    Như vậy, đi suốt bài thơ là một nỗi buồn triền miên, vô tận. Nỗi buồn của bài thơ này cũng như phần nhiều nỗi buồn của các nhà thơ mới trong những năm thời thuộc Pháp. Về nội dung, bài thơ đem đến người đọc bức tranh thiên nhiên sông nước gần gũi quen thuộc nhưng vắng lặng và bức tranh tâm trạng mang trĩu nặng nỗi sầu. Cùng với đó là niềm khát khao giao cảm với cuộc đời, lòng yêu nước tuy thầm kín nhưng không kém phần thiết tha của nhà thơ. Về nghệ thuật, bài thơ đặc sắc ở chỗ nó có sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp cổ điển và hiện đại. Cổ kính, trang nghiêm, đậm chất Đường thi nhưng “Tràng giang” vẫn là bài thơ mang nét hiện đại khi sử dụng những hình ảnh gần gũi, tầm thường để qua đó bộc lộ cảm xúc, nỗi niềm của nhân vật trữ tình. Đây cũng là nét độc đáo điển hình trong phong cách thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám.

    Câu 1: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”

    Câu 2: Âm điệu chung của toàn bài thơ:

    – Chủ yếu là nhịp thơ 2/2/3

    – Thanh điệu có sự hoán vị bằng trắc đều đặn, cấu trúc đăng đối giữa các câu thơ

    Câu 3: Sự đối lập giữa bao la, mênh mông của đất trời với vạn vật nhỏ nhoi tạo nên cảm giác con người lạc lõng, cô đơn nên bài thơ mang đậm màu sắc cổ điển.

    “Cành củi khô, tiếng làng xa vãn chợ chiều” là hình ảnh, âm thanh giản dị, gần gũi, thanh đạm của cuộc sống, con người Việt Nam

    Câu 4: Những hình ảnh ước lệ, cổ điển như: mây, chim tạo nên một bức tranh chiều tà đẹp, hùng vĩ và vô cùng thơ mộng. Bóng chiều vốn vô hình nhưng ở đây lại được miêu tả như hữu hình. Chỉ bằng hai câu thơ đầu nhà thơ đã mang đến cho người đọc những cảm giác thân thuộc, gần gũi để rồi từ những cảnh quê ấy mà nói đến tình yêu và nỗi nhớ quê.

    Câu 5: Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ thể hiện qua thể thơ, cách ngắt nhịp, nghệ thuật đối, từ láy, bút phát tả cảnh,…

    Nghệ thuật đối, bút pháp tả cảnh giàu tính tạo hình

    Hệ thống từ láy

    Cách ngắt nhịp 2/2/3 và thể thơ thất ngôn

    Luyện tập

    Câu 1: Cách cảm nhận không gian và thời gian của bài thơ đáng chú ý là

    – Không gian được cảm nhận qua cả 4 khổ thơ mang cảm hứng vũ trụ, không gian ba chiều, buồn hiu hắt và cũng vừa hùng vĩ, vừa cô đơn

    – Thời gian: buổi chiều tà vừa cụ thể, vừa gợi cảm

    Câu 2: Câu thơ cuối “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” lại làm cho người đọc liên tưởng đến hai câu thơ trong bài “Lầu Hoàng Hạc” của Thôi Hiệu:

    – Thôi Hiệu: khói và sóng là những hình ảnh thiên nhiên thì mới gợi lên nỗi nhớ nhà

    – Xuân Diệu: những hình ảnh thiên nhiên đó luôn thường trực và tự nhiên bộc phát

    Dàn ý tham khảo 1. Mở bài

    Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận đã khắc họa thành công hai vẻ đẹp: cổ điển và hiện đại.

    2. Thân bài

    – Trước hết, ta thấy vẻ đẹp cổ điển và hiện đại được hiện lên qua hoàn cảnh sáng tác và nhan đề bài thơ.

    * Linh hồn của nó là một nỗi buồn đìu hiu, mênh mang, cô đơn bao trùm.

    * Nhan đề “Tràng giang” xuất phát từ sự biến đổi lại từ “trường giang”, hai âm Hán – Việt và vần “ang” đi liền với nhau làm cho con sông trong thơ bỗng trở nên dài rộng hơn, mệnh mang, rợn ngợp hơn trong tâm tưởng người đọc.

    * Lời đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”.

    – Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ còn được gợi từ đề tài, cảm hứng sáng tác và chất liệu thi ca.

    – Thể loại và bút pháp cũng là một điểm đặc biệt Huy Cận đã vận dụng để thể hiện vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ.

    * “Tràng giang” mang đậm phong vị cổ điển với cách ngắt nhịp, gieo vần, bút pháp đối lập, bút pháp tả cảnh ngụ tình, mang tính chất gợi hơn là tả.

    * “Tràng giang” lại cũng rất mới qua xu hướng giãi bày trực tiếp “cái tôi cá nhân” qua vận dụng thể thơ bảy chữ (buồn diệp điệp, sầu trăm ngả, không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà…), qua những từ ngữ sáng tạo mang dấu ấn xúc cảm cá nhân của tác giả (sâu chót vót, niềm thân mật, dợn dợn…).

    3. Kết bài

    Khẳng định bài thơ “Tràng giang” là kết tinh, là thành công tiêu biểu cho sự kết hợp hài hòa giữa nét cổ điển và lãng mạn

    Câu 2: Nhà thơ Huy Cận đã từng viết: “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm.”

    Dàn ý tham khảo 1. Mở bài

    Giới thiệu về Huy Cận và tác phẩm “Tràng giang”

    2. Thân bài

    – Cảm hứng sáng tác bài thơ

    – Khổ thơ thứ nhất là nét bút chấm phá vẽ lên bức tranh sông nước rộng mênh mang nhưng buồn vắng:

    * Cụm từ “buồn điệp điệp” đã làm cho cảnh trở nên mênh mông và xa vắng.

    * Câu thơ mang âm hưởng cổ kính của thơ Đường với nghệ thuật đối từ, đối ý: sóng – thuyền; điệp điệp – song song.

    * Xuất hiện hình ảnh một cành củi khô nhỏ nhoi, tầm thường

    * Nỗi buồn của Huy Cận ở đây không chỉ là nỗi buồn cá nhân mà đó là nỗi buồn của cả một thế hệ thanh niên không tìm ra lối thoát cho đời mình

    – Đến khổ thơ thứ hai, dường như nỗi buồn vắng, đìu hiu càng lan tỏa và thấm sâu:

    * Cặp từ láy “lơ thơ” và “đìu hiu” càng gợi lên sự buồn bã, quạnh vắng, cô đơn của không gian vũ trụ

    * Không gian như được mở rộng ra cả ba chiều

    * Cuộc sống quạnh quẽ trong xã hội đương thời mà mỗi người là một ốc đảo hoang vắng cô liêu.

    – Khổ thứ thứ ba, nỗi buồn càng được khắc sâu hơn.

    * Hình ảnh những cánh bèo trôi dạt lênh đênh

    * Toàn cảnh sông dài, trời rộng mà tuyệt nhiên không có bóng dáng con người

    * Nỗi buồn của bài thơ không chỉ là nỗi buồn mênh mông trước trời rộng sông dài mà còn là nỗi buồn nhân thế.

    – Sang đến khổ thơ thứ tư, nỗi nhớ quê hương của nhà thơ hiện lên trong cảnh thiên nhiên rợn ngợp:

    * Hình ảnh ước lệ, cổ điển: mây, chim… vẽ lên bức tranh chiều tà đẹp tráng lệ và thơ mộng.

    * Nếu ở “Hoàng Hạc lâu”, Thôi Hiệu cần mượn khói sóng để bộc lộ nỗi nhớ quê hương thì ở đây, Huy Cận “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

    3. Kết bài

    Khẳng định nỗi sầu nhân thế cố hữu trong thơ Huy Cận trước Cách mạng Tháng Tám.

    Câu 3: Bức tranh tâm trạng trong bài thơ “Tràng giang”

    Dàn ý tham khảo 1. Mở bài:

    Giới thiệu bài thơ “Tràng giang”

    2. Thân bài:

    – Khổ 1:

    – Khổ 2:

    * Hai câu thơ đầu: nỗi buồn được gợi lên từ mặt nước mênh mông, đôi bờ hoang vắng, từ một cồn nhỏ lơ thơ heo hút, dăm bụi cây phơ phất trong gió lạnh đìu hiu; âm thanh mong manh mơ hồ như từ cõi nào vọng lại làm dấy lên trong lòng lữ khách nỗi khát khao được gặp gỡ và chia sẻ tâm tình.

    * Hai câu thơ cuối: nỗi buồn đã và đang lan toả ra hết chiều cao, chiều rộng của bến bãi, mặt nước, bầu trời.

    3. Kết bài:

    Khẳng định giá trị của bài thơ Tràng giang.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Hoán Dụ (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Sọ Dừa Lớp 6
  • Soạn Bài Sọ Dừa Lớp 6 Ngắn Gọn
  • Soạn Bài Sọ Dừa Lớp 6 Ngắn Gọn Nhất Hay
  • Soạn Bài Sọ Dừa (Siêu Ngắn)
  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 20: Ngắm Trăng

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 8 Tiết 85 Ngắm Trăng, Đi Đường
  • Bài 21. Ngắm Trăng (Vọng Nguyệt)
  • Soạn Bài Ngắm Trăng Ngữ Văn Lớp 8 Tập 2
  • Soạn Bài Tình Thái Từ (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Tình Thái Từ Siêu Ngắn
  • Soạn văn 8 VNEN Bài 20: Ngắm trăng – Đi đường

    A. Hoạt động khởi động

    (trang 24, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Đọc phần giới thiệu tập thơ Nhật kí trong tù và nêu cảm nhận của em về 4 câu thơ đề từ của tập nhật kí:

    Tháng 8 – 1942, Hồ Chí Minh từ Pác Bó (Cao Bằng) bí mật lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ quốc tế cho cách mạng Việt Nam. Khi đến thị trấn Túc Vinh thì Người bị chính quyền địa phương bắt giữ, rồi bị giải tới giải lui gần 30 nhà giam của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, bị đày đọa cực khổ hơn một năm trời. Trong những ngày tháng đó, Người đã viết Nhật kí trong tù bằng thơ chữ Hán, gồm 133 bài, phần lớn là thơ tứ tuyệt. Ngoài bìa tập thơ, Người viết mấy câu đề từ: Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao; Muốn nên sự nghiệp lớn, Tinh thần phải càng cao. Tuy Bác Hồ viết Nhật kí trong tù chỉ để “ngâm ngợi cho khuây” trong khi đợi tự do, tập thơ vẫn cho thấy rõ tâm hồn cao đẹp, ý chí cách mạng phi thường và tài năng thơ xuất sắc của Người. Có thể nói Nhật kí trong tù là một viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân tộc. Trả lời:

    Bài thơ đề từ cho thấy tâm hồn cao đẹp, ý chí cách mạng phi thường của Bác trong hoàn cảnh gian khổ. Nhật kí trong tù là một viên ngọc quý trong kho tàng văn học Việt Nam. Cho dù không chủ định làm thơ để lưu truyền hậu thế, hay muốn mình trở thành một nghệ sĩ, nhưng những vần thơ trong tù của Hồ Chí Minh không chỉ là cách để người giải khuây, vượt qua đau khổ của chốn lao từ, mà còn thể hiện được tài năng thi sĩ của người.

    B. Hoạt động hình thành kiến thức

    1. (trang 24, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Đọc văn bản “Ngắm trăng”

    2. (trang 25, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Tìm hiểu văn bản

    a. Bác ngắm trăng trong hoàn cảnh đặc biệt như thế nào?

    b. Trong hai câu thơ đầu, tâm trạng của thi nhân trước cảnh đẹp đêm trăng được bộc lộ ra sao?

    c. Hình ảnh nhà thơ và vầng trăng có mối giao hòa như thế nào (chú ý sự sắp xếp vị trí các từ nhânthi gia, song, nguyệtminh nguyệt cũng như phép đối trong hai câu thơ)?

    d. Chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ.

    Trả lời:

    a. Hoàn cảnh ngắm trăng thật đặc biệt của nhà thơ:

    – Trong tù không rượu cũng không hoa nhằm nói lên cảm giác thiếu thốn hoa của người tù, nhớ tới rượu và hoa là muốn thưởng thức trọn vẹn cái đẹp.

    → Người ngắm trăng trong hoàn cảnh đặc biệt: chốn ngục tù thiếu thốn, tối tăm.

    b. Trong hai câu thơ đầu, tâm trạng của thi nhân trước cảnh đẹp đêm trăng được bộc lộ rất sâu sắc: Trước cảnh trăng đẹp Người bối rối, xốn xang “Đối thử lương tiêu nại nhược hà?”

    + Người yêu thiên nhiên say mê, rung cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp của tạo hóa.

    → Tâm hồn người tù không bị vướng bận bởi những ách vật chất nặng nề, tâm hồn vẫn tự do, ung dung thưởng trăng đẹp.

    + Không chỉ là nhà cách mạng, chiến sĩ yêu nước mà Người còn là nghệ sĩ đích thực với những rung động của tâm hồn thi nhân nhạy cảm trước vẻ đẹp của tự nhiên.

    c. Hình ảnh nhà thơ và vầng trăng có mối giao hòa đặc biệt. Điều đó được thể hiện qua hai câu thơ cuối với sự đăng đối về mặt nội dung và và hình thức:

    + Chữ “song” (cửa sổ) ở giữa cặp từ nhân/ nguyệt- minh nguyệt/ thi gia: người tù vượt qua song sắt, qua sự kìm kẹp để hướng ra ngoài ngắm trăng.

    + Trăng cũng nhòm qua khe cửa ngắm nhà thơ: sự giao hòa giữa trăng với người, người và trăng.

    + Biện pháp nhân hóa: trăng trở thành người bạn tri âm tri kỷ từ rất lâu của người tù.

    → Cả người và trăng đều chủ động gặp gỡ tự do, vượt qua những rào cản cửa sắt nhà tù. Cuộc ngắm trăng này trở nên thi vị khi hai tâm hồn tri kỉ tìm đến với nhau: người- trăng.

    d. Những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ: Bài thơ vừa mang màu sắc cổ điển, lại vừa mang tinh thần hiện đại.

    + Chất cổ điển được thể hiện ở đề tài (Vọng nguyệt), thi liệu (rượu, hoa, trăng), thể thơ tứ tuyệt, cấu trúc đăng đối (hai câu cuối).

    + Còn tinh thần, màu sắc hiện đại thể hiện ở tâm hồn lạc quan, luôn ngập tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống và bản lĩnh phi thường luôn hướng về ánh sáng của người chiến sĩ cộng sản…

    – Thể thơ tứ tuyệt giản dị mà hàm súc.

    3. (trang 25, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Tìm hiểu về câu cảm thán

    a. Gạch dưới câu cảm thán trong những đoạn trích sau:

    (1) Hỡi ơi lão Hạc! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều như ai hết… Một người như thế ấy!… Một người đã khóc vì trót lừa một con chó!… Một người nhịn ăn để tiền lại làm ma, bởi không muốn liên luỵ đến hàng xóm, láng giềng… Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư? Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn…

    (Nam Cao, Lão Hạc)

    (2) Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

    Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

    Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

    Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?

    Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,

    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

    Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,

    Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

    – Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

    (Thế Lữ , Nhớ rừng)

    b. Khi viết đơn, biên bản, hợp đồng hay trình bày kết quả giải một bài toán,… có thể dùng câu cảm thán được không? Vì sao?

    c. Câu cảm thán thường có những từ ngữ cảm thán nào? Câu cảm thán dùng để làm gì? Khi viết, câu cảm thán thường kết thúc bằng dấu hiệu gì?

    Trả lời:

    a. Gạch dưới câu cảm thán: Câu cảm thán:

    (1) Hỡi ơi lão Hạc!

    (2) Than ôi!

    b. Khi viết đơn, biên bản, hợp đồng hay trình bày kết quả giải một bài toán,… ta không sử dụng câu cảm thán.

    Vì ngôn ngữ trong các văn bản hành chính – công vụ nói chung và trong trình bày kết quả một bài toán là ngôn ngữ “duy lí”, ngôn ngữ của tư duy lô-gíc cần sự chính xác và khách quan, không được sử dụng những câu có yếu tố cảm xúc, tình cảm như tỏng văn bản nghệ thuật.

    c. Câu cảm thán có từ ngữ cảm thán như ôi, than ôi, hỡi ơi, chao ôi, trời ơi, thay, biết hao, xiết bao, biết chừng nào…

    Câu cảm thán dùng để bộc lộ trực tiếp cảm xúc của người nói (viết).

    Khi viết, câu cảm thán thường kết thúc bằng dấu chấm than.

    4. (trang 26, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Tìm hiểu về câu trần thuật

    Đọc các đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu:

    a. Lịch sử ta có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta. Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung,… Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng.

    (Hồ Chí Minh, Tinh thần yêu nước của nhân dân ta)

    b. Thốt nhiên một người nhà quê, mình mẩy lấm láp, quần áo ướt đầm, tất tả chạy xông vào, thở không ra hơi: – Bẩm… quan lớn… đê vỡ mất rồi!

    (Phạm Duy Tốn, Sống chết mặc bay)

    c. Cai Tứ là một người đàn ông thấp và gầy, tuổi độ bốn lăm, năm mươi. Mặt lão vuông nhưng hai má hóp lại.

    (Lan Khai, Lầm than)

    d. Ôi Tào Khê! Nước Tào Khê làm đá mòn đấy! Nhưng dòng nước Tào Khê không bao giờ cạn chính là lòng chung thuỷ của ta!

    (Nguyên Hồng, Một tuổi thơ văn)

    (1) Gạch dưới những câu không có đặc điểm hình thức của câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán.

    (2) Những câu đó dùng để làm gì?

    (3) Những dấu hiệu nào về hình thức giúp ta nhận biết câu trần thuật? Vì sao câu trần thuật được dùng phổ biến nhất trong giao tiếp?

    Trả lời:

    (1) Trong các đoạn trích trên, ngoại trừ câu ‘Ôi Tào Khê!” trong đoạn trích (d) mang đặc điểm hình thức của câu cảm thán, thì những câu còn lại đều là những câu không có đặc điểm hình thức của câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán.

    (2) Những câu trên dùng để:

    Đoạn a: câu thứ nhất và câu thứ hai dùng để bày tỏ những suy nghĩ của người viết về truyền thống yêu nước của dân tộc; câu thứ ba nêu mong muốn, yêu cầu của người viết.

    Đoạn b: câu thứ nhất dùng để kể, câu thứ hai để thông báo.

    Đoạn c: cả hai câu dùng để miêu tả ngoại hình.

    Đoạn d: câu thứ nhất là câu cảm thán, câu thứ hai dùng để nhận định, câu thứ ba dùng để bộc lộ tình cảm.

    (3) Về dấu hiệu hình thức, câu trần thuật không có dấu hiệu hình thức đặc trưng như các kiểu câu cầu khiến, cảm thán.

    Câu trần thuật được dùng phổ biến nhất trong giao tiếp vì đây là kiểu câu cơ bản nhất và nó đảm nhận nhiều chức năng khác nhau như : kể, tả, yêu cầu, đề nghị, bộc lộ tình cảm… dùng để thực hiện nhiều mục đích giao tiếp khác nhau của con người.

    C. Hoạt động luyện tập

    1. (trang 27, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Đọc bài thơ sau và thực hiện yêu cầu:

    ĐI ĐƯỜNG (Hồ Chí Minh)

    Yêu cầu:

    a. Dựa vào kết cấu của bài thơ Đi đường (khai – thừa – chuyển – hợp), mối liên hệ lô – gic giữa các câu thơ và vị trí của câu thơ thứ ba, hãy hoàn thành bảng sau:

    b. Nêu ý nghĩa khái quát của bài thơ.

    Trả lời:

    a. Hoàn thành bảng:

    Câu thứ nhất

    Câu khai mở ra ý thơ: Có đi đường mới biết đường khó đi, ý thơ thấm thía từ sự trải nghiệm của người đang trên hành trình gian nan.

    Câu thứ hai

    Câu thừa mở rộng, triển khai, cụ thể hoá ý đã được mở ra ở câu khai: Hết lớp núi này lại tiếp lớp núi khác. Câu thơ khắc họa rõ nét những khó khăn gian khổ, những chông gai trên đường mà người tù phải trải qua

    Câu thứ ba

    Câu chuyển, chuyển ý, câu này rất quan trọng trong việc bộc lộ tứ thơ: Khi đã vượt hết các lớp núi lên đến đỉnh cao chót vót. Hàm ý của bài tứ tuyệt bộc lộ bất ngờ ở câu này.

    Câu thứ tư

    Câu hợp, quan hệ chặt chẽ với câu chuyển thành một cặp câu thể hiện rõ ý chuyển và thâu tóm lại ý tứ của toàn bài : Thì muôn dặm nước non thu cả vào trong tầm mắt.

    b. Ý nghĩa khái quát của bài thơ:

    Nếu như câu 2 tập trung vẽ ra cảnh núi non trùng điệp kéo dài bao la qua thủ pháp điệp ngữ thì câu 4 vẽ ra tư thế đĩnh đạc, đường hoàng cũng như tâm thế sảng khoái bay bổng của thi nhân. Dường như ta bắt gặp nhà thơ đang dang rộng bàn tay như muốn ôm cả non sông đất trời, đón nhận cảnh sắc thiên nhiên bao la, khoáng đạt trong niềm sung sướng của một con người vừa vượt qua một chẳng đường đi vất vả. Hình tượng nhân vật trữ tình trong câu 4 vững chãi và kì vĩ giữa cái bao la của đất trời.

    Song hai câu thơ không chỉ có ý nghĩa miêu tả mà còn là một bài học thấm thía, sâu sắc mà ngắn gọn về đường đời: nếu kiên trì, chịu khó vượt qua gian lao chồng chất, nhất định sẽ tới thắng lợi vẻ vang.

    2. (trang 28, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Luyện tập về câu cảm thán

    a. Xác định câu cảm thán trong những đoạn trích sau và cho biết vì sao ta nhận biết được đó là câu cảm thán:

    (1) Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê không sao cự lại được với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này hỏng mất.

    (Phạm Duy Tốn, Sống chết mặc bay)

    (2) Chao ôi, có biết đâu rằng: hung hăng, hống hách láo chỉ tổ đem thân mà trả nợ cho những cử chỉ ngu dại của mình thôi. Tôi đã phải trải cảnh như thế. Thoát nạn rồi, mà còn ân hận quá, ân hận mãi.

    (Tô Hoài, Dế mèn phiêu lưu ký)

    b. Những câu sau có thể xếp vào kiểu câu cảm thán được không? Vì sao? Nêu nội dung của mỗi câu.

    (1) Ai làm cho bể kia đầy

    Cho ao kia cạn cho gầy cò con?

    (Chế Lan Viên, Xuân)

    (3) Anh mà chết là chỉ tại cái tội ngông cuồng dại dột của tôi. Tôi biết làm thế nào bây giờ?

    (Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí)

    c. Đặt hai câu bộc lộ cảm xúc:

    (1) Trước tình cảm của một người thân dành cho em.

    (2) Khi em nhìn thấy mặt trời mọc.

    d. Hệ thống hóa các đặc điểm về hình thức và chức năng của các kiểu câu: nghi vấn, cầu khiến, cảm thán mẫu:

    Trả lời:

    a. Xác định câu cảm thán:

    (1) Than ôi!; Lo thay!; Nguy thay!

    Dấu hiệu nhận biết: có chứa từ cảm thán : ôi, thay và kết thúc câu bằng dấu chấm than.

    (2) Chao ôi,có biết đâu rằng: hung hăng, hống hách láo chỉ tổ đem thân mà trả nợ cho những cử chỉ ngu dại của mình thôi.

    Dấu hiệu nhận biết: có chứa từ cảm thán: ôi.

    b. Những câu trên dù mục đích đều để bộc lộ tình cảm, cảm xúc nhưng không thuộc kiểu câu cảm thán vì chúng không mang dấu hiệu hình thức của câu cảm thán.

    Nội dung của mỗi câu:

    (1) Lời than thân của người nông dân xưa.

    (2) Tâm trạng buồn rầu, bế tắc của người thi sĩ trước cuộc sống

    (3) Sự ân hận của Dế Mèn sau khi trót gây ra cái chết của Dế Choắt.

    c. Đặt hai câu bộc lộ cảm xúc:

    (1) Trước tình cảm của một người thân dành cho em: Con rất bất ngờ khi bố mẹ vẫn nhớ và tổ chức sinh nhật cho con vui đến vậy!

    (2) Khi em nhìn thấy mặt trời mọc: Chao ôi, mặt trời lên đẹp quá!

    d. Hệ thống hóa các đặc điểm về hình thức và chức năng của các kiểu câu: nghi vấn, cầu khiến, cảm thán:

    3. (trang 29, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Luyện tập về câu trần thuật

    a. Xác định kiểu câu và chức năng của những câu sau đây:

    (1) Thế rồi Dế Choắt tắt thở. Tôi thương lắm. Vừa thương vừa ăn năn tội mình.

    (Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí)

    (2) Mã Lương nhìn cây bút bằng vàng sáng lấp lánh, em sung sướng lên:

    – Cây bút đẹp quá! Cháu cảm ơn ông! Cảm ơn ông!

    (Cây bút thần)

    b. Những sau đây thuộc kiểu câu nào và được sử dụng để làm gì? Hãy nhận xét về sự khác biệt về ý nghĩa giữa chúng?

    (1) Anh tắt thuốc lá đi!

    (2) Anh có thể tắt thuốc lá được không?

    (3) Xin lỗi, ở đây không được hút thuốc lá.

    c. Đặt câu trần thuật để thể hiện lời hứa hẹn, xin lỗi, chúc mừng, cảm ơn, cam đoan.

    d. Viết đoạn văn giới thiệu về một bài thơ của Bác Hồ. Trong đoạn văn có sử dụng ít nhất 2 trong 4 kiểu câu đã học (trần thuật, cảm thán, nghi vấn, cầu khiến).

    Trả lời:

    a. Xác định kiểu câu và chức năng

    (1) Cả ba câu đều thuộc kiểu câu trần thuật.

    Chức năng:

    Câu thứ nhất dùng để kể. hai câu tiếp theo dùng để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của Dế Mèn trước cái chết của Dế Choắt.

    (2) Câu thứ nhất là câu trần thuật – Chức năng: kể

    Câu thứ hai là câu cảm thán – bộc lộ cảm xúc

    Hai câu tiếp là câu trần thuật – bộc lộ sự biết ơn của Mã Lương.

    b. Câu (1) là câu cầu khiến.

    Câu (2) là câu nghi vấn.

    Câu (3) là câu trần thuật.

    Mục đích của cả ba câu dùng để cầu khiến, tuy nhiên, mức độ, sắc thái cầu khiến ở ba câu khác nhau (hai câu sau có ý cầu khiến nhẹ nhàng và lịch sự hơn câu đầu).

    c. Đặt câu:

    Hứa hẹn: Em hứa từ nay sẽ không đi học muộn nữa.

    Xin lỗi: Em chân thành xin lỗi cô.

    Chúc mừng : Em chúc cô có một ngày Phụ nữ Việt Nam vui vẻ.

    d. Viết đoạn văn

    “Đi đường” là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt số 30 trong “Nhật kí trong tù”. Lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh đã bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giải lui giải tới qua nhiều nhà tù trên tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Phải chăng, trải qua bao cay đắng thử thách nặng nề, Người gửi gắm bao suy nghĩ, cảm xúc của minh vào bài thơ “Tẩu lộ” này? (Câu nghi vấn) Bài thơ “Đi đường” cho ta bài học về đường đời nhiều khó khăn nguy hiểm, bài học về quyết tâm, vượt khó, vươn lên giành thắng lợi trên con đường đời. Mỗi cuộc đời là một trăm năm, ai cũng phải một trăm năm đi đường. Có con đường lao động mưu sinh, có con đường công danh lập nghiệp. Tuổi trẻ còn có con đường học tập. Bài thơ “Đi đường” trở thành hành trang cho mỗi chúng ta sức mạnh để vươn lên thực hiện ước mơ của mình. (Câu trần thuật)

    D. Hoạt động vận dụng

    (trang 29, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Viết bài tập làm văn số 5 – Văn thuyết minh (làm tại lớp).

    Học sinh lựa chọn một trong những đề bài sau để viết bài văn thuyết minh:

    a. Thuyết minh về một văn bản, một thể loại văn học mà em đã học.

    b. Giới thiệu về một loài hoa hay một loài cây mà em yêu thích.

    c. Thuyết minh về một giống vật nuôi mà em yêu thích.

    d. Giới thiệu về một người bạn nước ngoài về một sản phẩm, một trò chơi dân gian mang bản sắc Việt Nam.

    Trả lời:

    Học sinh có thể tham khảo bài văn mẫu và dàn ý tại link sau đây:

    a. Dàn ý mẫu: Thuyết minh về một thể loại văn học

    b. Dàn ý mẫu: Thuyết minh về loài hoa mà em yêu thích

    c. Dàn ý mẫu: Thuyết minh về giống vật nuôi

    d. Dàn ý mẫu: Thuyết minh về món đồ chơi tuổi thơ mà em yêu thích

    E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

    (trang 29, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Sưu tầm thêm một số bài thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên của Bác Hồ.

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    Loạt bài Soạn văn 8 VNEN ngắn nhất của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sách Hướng dẫn học Ngữ văn 8 Tập 1, Tập 2 chương trình mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Văn Lớp 8 Học Kì 2: Dòng Nào Nói Đúng Về Tác Giả Và Thời Gian Sáng Tác Bài Thơ Nhớ Rừng!
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 2 Ngữ Văn Lớp 8 Bài Nhớ Rừng
  • Soạn Bài Nhớ Rừng (Ngắn Gọn)
  • Giáo Án Bài Chiếu Dời Đô
  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Phú Sông Bạch Đằng Ngữ Văn Lớp 10

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Và Soạn Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu
  • Soạn Bài Tự Tình Sbt Ngữ Văn Lớp 11 Tập 1
  • Soạn Bài Lớp 11: Nghĩa Của Câu
  • Soạn Văn Lớp 11 Bài Nghĩa Của Câu (Tiếp Theo) Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Văn Bài: Nghĩa Của Câu (Tiếp Theo)
  • Đề bài: Em hãy soạn bài Phú sông Bạch Đằng ngữ văn lớp 10

    I. Tìm hiểu chung

    -Trương Hán Siêu mất năm 1354, chưa rõ năm sinh. Tên tự của ông là Thăng Phủ, người huyện Yên Ninh. Ông vốn là môn khách của Trần Hưng Đạo, ông được các vua Trần tin cậy và giao cho nhiều chức vụ cao trong triều đình, khi ông mất được thờ ở Văn Miếu

    – Trương Hán Siêu là người có học vấn uyên thâm, đỉnh đạt,

    – Tác phẩm của ông hiện nay chỉ còn lại 4 bài thơ và 3 bài văn trong đó tác phẩm Phú sông Bạch Đằng là một tác phẩm nổi tiếng, đặc sắc nhất

    -Hoàn cảnh ra đời: Trong một lần ông dạo chơi trên Sông Bạch Đằng, sau 50 năm kháng chiến chống quân Mông Nguyên thắng lợi.

    – Phú theo thể loại văn vần hoặc văn xuôi kết hợp

    II. Phân tích.

    1. Hình tượng nhân vật khách:

    – Khách đi sâu vào miêu tả cụ thể khoảng không gian và phong cảnh đặc trưng tại sông Bạch Đằng với: Những sóng kình, với thướt tha đuôi trĩ, đất trời một sắc, phong cảnh ba thu, hay những cơn sóng chìm, gò đầy sương…Nhưng qua đó ta lại thấy được một nổi lòng vừa tự hào vừa buồn nuối tiếc của nhân vật trữ tình.

    2. Sự hồi tưởng của các Bô lão về sông Bạch Đằng:

    -Các bô lão họ là những người dân địa phương, những tập thể xuất hiện nhằm tạo ra một màn đối đáp tự nhiên để dẫn dắt câu chuyện, để kể cho nhân vật “khách” nghe.

    – Qua sự hồi tưởng của các bô lão, chiến tích trên sông Bạch Đằng hiện lên thật oanh liệt với:

    + Với trận đánh Ngô chúa phá Hoàng Thao, Trưng Hùng nhị Thánh bắt Ô Mã….mang đậm chất thư hùng.

    +Những trận đánh kinh thiên động địa, những trận thủy chiến đầy mãnh liệt hùng dũng.

    + Nguyên nhân chiến thắng: Đó không chỉ là sự anh mình của vua Trần với tài thao lược, tầm nhìn xa trông rộng được muôn đời ca ngợi, mà nó còn dựa vào thiên chính là sự giúp đỡ của trời, địa chính là thiên nhiên ban tặng cho ta có một địa thế hiểm trở, và nhân những tướng sĩ, nhưng người lính anh dũng, những nhân vật xuất chúng họ sẵn sàng gánh vác trên vai gánh nặng non sông, dân tộc giao phó

    Một thái độ tự hào, giọng điệu đầy nhiệt huyết, lời kể cô động, súc tích nhưng đủ để gợi lại diễn biến, không khí trận đấu hết sức sinh động.

    – Cảm xúc trữ tình nhưng mang đầy bản sắc anh hùng ca đầy nhuệ khí.

    -Chúng ta cũng thấy được chiến công trên sông Bạch Đằng không chỉ lừng danh với thời đại mà còn mang ý nghĩa mãi mãi với thời gian, với lịch sử. Lời ca như có giá trị của một bản tuyên ngôn

    3. Ý nghĩa của lời ca

    -Lời ca của Khách: đó là sự ca ngợi sự anh minh, vai trò của hai vị vua Trần, ca ngợi những chiến tích của sông Bạch Đằng, đồng thời đề cao giá trị con người mang tính nhân văn sâu sắc. Thể hiện niềm tự hào tự tôn dân tộc.

    -Lời ca của bô lão: laị là sự nhấn mạnh lẽ đời: bất nghĩa sẽ bị tiêu vong còn người anh hùng thì mãi mãi lưu danh sử sách.

    III. Tổng kết:

    1. Về Nội dung: Phú sông Bạch Đằng tái hiện lại không khí chiến thắng hùng tráng đồng thời là bài ca về niềm tự hào dân tộc, bài ca của lòng yêu nước, thể hiện tư tưởng nhân văn cao cả, ca ngợi và đề cao vai trò con người.

    – Nhà thơ bộc lộ tư tưởng nhân văn sâu sắc tiến bộ: vinh và nhục, thắng và bại, tiêu vong và trường tồn,…

    2. Nghệ thuật:

    -Bài phú sử dụng nhiều điển tích, hình ảnh có chọn lọc, mang đậm dấu ấn lịch sử.

    -Kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình hoài cổ và tự sự tráng ca, hình thức đối đáp tài tình, hợp lý

    – Xây dựng hình tượng nhân vật hợp lý, làm toát lên trong đó là hình ảnh của tác giả

    – Ngôn ngữ sử dụng tráng lệ, đậm tính nhân văn, trữ tình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Phú Sông Bạch Đằng Sbt Ngữ Văn 10 Tập 2
  • Soạn Bài Phú Sông Bạch Đằng Của Tác Giả Trương Hán Siêu Ngữ Văn 10
  • Bài 2 Trang 7 Sgk Ngữ Văn 10
  • Bài 2 Luyện Tập Trang 7 Sgk Ngữ Văn 10
  • Soạn Bài Ếch Ngồi Đáy Giếng Môn Văn Lớp 6
  • Soạn Văn 9 Bài Chương Trình Địa Phương Tổng Kết Phần Văn Bản Nhật Dụng Vnen

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 10 Bài: Văn Bản Văn Học
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Bản Thuyết Minh Ngắn Gọn Nhất
  • Soạn Văn Bài: Tìm Hiểu Chung Về Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Bản Thuyết Minh Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Bản Thuyết Minh Ngắn Gọn Hay Nhất
  • A. Hoạt động khởi động

    1. Đọc truyện cười sau và thực hiện yêu cầu:

    Anh học trò bước vào cổng, thấy con chó chạy ra sủa, nhe răng dữ tợn nên hoảng sợ định đi ra. Chủ nhà thấy vậy nói với anh: – Anh sợ nó à? Con chó nhà tui, không có răng mô! Anh học trò ngạc nhiên nói: – Tôi thấy nó nhe nguyên cả hai hàm răng mà sao anh lại bảo là nó không có răng.

    a) Chỉ ra từ ngữ địa phương trong câu chuyện.

    b) Vì sao câu chuyện gây cười?

    a) Từ ngữ địa phương trong câu chuyện: tui, răng mô.

    b) Câu chuyện gây cười do sự hiểu nhầm trong hội thoại giữa anh học trò và chủ nhà.

    Chủ nhà nói không răng mô tức là không sao đâu.

    Anh học trò lại hiểu nhầm là chủ nhà nói con chó không răng (bộ phận cứng, sắc, nhọn dùng để nhai, cắn thức ăn ở trong miệng).

    B. Hoạt động hình thành kiến thức

    1. Luyện tập về chương trình địa phương

    Đọc đoạn trích và thực hiện yêu cầu:

    a) Mỗi lần bị xúc động, vết thẹo dài bên má phải lại đỏ ửng lên, giần giật, trông rất dễ sợ. Với vẻ xúc động ấy và hai tay vẫn đưa về phía trước, anh chầm chậm bước tới, giọng lặp bặp run run: (Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà) b) Nghe mẹ nó bảo gọi ba vào ăn cơm thì nó bảo lại: – Thì má cứ kêu đi. Mẹ nó đâm nổi giận, quơ đũa bếp dọa đánh, nó phải gọi nhưng lại nói trổng: Anh Sáu vẫn ngồi im, giả vờ không nghe, chờ nó gọi “ba vô ăn cơm”. Con bé – Cơm chín rồi! – Anh cũng không quay lại. Con bé bực quá, quay lại mẹ và – Con kêu rồi mà người ta không nghe. (Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà) c) Bữa sau, đang nấu cơm thì mẹ nó chạy đi mua thức ăn. Mẹ nó dặn, ở nhà có gì cần thì gọi ba giúp cho. Nó không nói không rằng, cứ lui cui dưới bếp. Nghe nồi cơm sôi, nó giở nắp, lấy đũa bếp sơ qua – nồi cơm hơi to, nhắm không thể nhắc xuống để chắt nước được, đến lúc đó nó mới nhìn lên anh Sáu. Tôi nghĩ thầm, con bé đang bị dồn vào thế bí, chắc nó phải gọi ba thôi. Nó nhìn dáo dác một lúc rồi kêu lên: – Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái! – Nó cũng lại nói trổng. (Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà) d) Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời. (Thanh Hải, Một mùa xuân nho nhỏ) bảo: cứ đứng trong bếp nói vọng ra:

    (1) Điền từ ngữ địa phương trong các đoạn trích trên và từ ngữ toàn dân tương ứng vào bảng sau:

    2) Có nên để cho nhân vật Thu trong truyện Chiếc lược ngà dùng từ ngữ toàn dân không? Tại sao?

    Không nên để nhân vật Thu dùng từ ngữ toàn dân vì tuổi em còn nhỏ. Em chưa được đi nhiều, tiếp xúc và biết nhiều những từ ngữ địa phương nên ngôn ngữ của em vẫn đậm đà chất Nam Bộ – địa phương em sinh sống. Bên cạnh đó, việc dùng từ địa phương sẽ giúp cho cô bé trở nên đáng yêu và đậm chất Nam Bộ hơn.

    (3) Tại sao trong lời kể chuyện của tác giả cũng có những từ ngữ địa phương?

    Vì bối cảnh câu chuyện là một vùng quê Nam Bộ với nhân vật là những con người thuộc vùng quê ấy nên việc trong lời kể chuyện của tác giả cũng có những từ ngữ địa phương giúp cho câu chuyện mang đậm sắc thái Nam Bộ hơn, trở nên gần gũi, chân thực hơn.

    2. Luyện tập về văn bản nhật dụng

    a) Chương trình Ngữ văn THCS đã xác định rõ: “Khái niệm văn bản nhật dụng không phải là khái niệm thể loại, cũng không chỉ kiểu văn bản. Nó chỉ đề cập tới chức năng, đề tài và tính cập nhật của nội dung văn bản mà thôi.”

    Hãy cho biết thế nào là tính cập nhật của văn bản nhật dụng?

    Tính cập nhật của văn bản nhật dụng là tính kịp thời trong việc đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của cuộc sống hằng ngày, cuộc sống hiện đại, thể hiện rõ ở chức năng, đề tài. Các đề tài có tính cập nhật đó là phải gắn với cuộc sống bức thiết hằng ngày, gắn với những vấn đề cơ bản của cộng đồng. Cái thường nhật gắn với cái lâu dài của sự phát triển lịch sử xã hội.

    b) Hoàn thiện bảng sau về các văn bản nhật dụng đã học trong chương trình Ngữ văn THCS:

    3. Luyện tập về thơ

    a) Phân tích ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh con cò trong bài thơ cùng tên của Chế Lan Viên.

    Đoạn 1: Qua những lời ru quen thuộc, thắm thiết của mẹ, hình ảnh “con cò” đã đến với tâm hồn tuổi ấu thơ một cách vô thức. Những câu ca dao thể hiện ý nghĩa phong phú của biểu tượng con cò: đó là hình ảnh bình dị đặc trưng của làng quê Việt Nam.

    Đoạn 2: Con cò trở thành biểu tượng của lòng mẹ bền bỉ, dịu dàng với con. Cánh cò trở thành người bạn đồng hành suốt cuộc đời con từ khi trong nôi cho đến lúc con trưởng thành.

    Đoạn 3: Hình tượng con cò được khai thác ở ý nghĩa tượng trưng cho tấm lòng người mẹ lúc nào cũng theo sát bên con. Dù là ở đâu, dù là lúc nào, dù là cuộc sống có nhọc nhằn ra sao thì mẹ vẫn luôn ở bên con. Hình tượng ấy được nhà thơ nhấn mạnh, khái quát thành một quy luật sâu sắc, bền vững của tình mẫu tử.

    b) Nêu ý nghĩa của các hình ảnh ẩn dụ: mặt trời, vầng trăng, tràng hoa trong bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương.

    • Hình ảnh mặt trời: “mặt trời trong lăng” là hình ảnh ẩn dụ đầy sáng tạo ngầm chỉ Bác Hồ kính yêu. Bác Hồ chính là nguồn ánh sáng, nguồn sức mạnh lớn lao và vĩ địa của dân tộc Việt Nam. Bác đã đem đến ánh sáng của Đảng, của cách mạng để soi đường dẫn lối cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do, thống nhất đất nước. Thông qua hình ảnh ẩn dụ đó, tác giả vừa ca ngợi sự vĩ đại, vừa thể hiện lòng kính yêu của nhân dân đối với Bác.
    • Hình ảnh vầng trăng: “vầng trăng sáng dịu hiền” là hình ảnh ẩn dụ cho tâm hồn sáng trong, thanh cao, đẹp đẽ và cao cả của Bác. Đồng thời hình ảnh vầng trăng còn gợi ta nhớ đến những bài thơ tràn ngập ánh trăng của Người.
    • Hình ảnh tràng hoa đã trở thành hình ảnh ẩn dụ cho tấm lòng, cho sự kính yêu, niềm ngưỡng vọng lãnh tụ. Cuộc đời mỗi người đã nở hoa dưới ánh sáng của Bác.

    c) Phân tích những từ ngữ, hình ảnh thể hiện sự cảm nhận tinh tế của Hữu Thỉnh về những chuyển biến của đất trời lúc giao mùa trong bài Sang thu.

    • Động từ “phả” được sử dụng hết sức đặc sắc và có hồn giúp gợi hương ổi chín như đang quyện lại, nồng nàn và lan toa trong không gian.
    • Nghệ thuật nhân hóa qua từ láy “chùng chình” khiến cho làn sương mùa thu dường như cũng mang theo tâm trạng. Màn sương nửa đi, nửa ở như đang chờ đợi ai hay lưu luyến điều gì.
    • Nghệ thuật nhân hóa qua từ láy “dềnh dàng” khiến dòng sông mùa thu như đang trầm xuống, đang ngẫm nghĩ, suy tư. Dòng sông trở nên thật có tình.
    • Những cụm từ “vẫn còn”, “đã vơi dần”, “cũng bớt”,… là một cách nói mơ hồ thể hiện một sự nhạy cảm đầy tinh tế của tác giả.
    • Hình ảnh Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu là một sự liên tưởng thú vị – một hình ảnh đầy chất thơ của tác giả. Đông từ “vắt” được sử dụng hết sức tinh tế và đắt giá để gợi ra hình ảnh đám mây như đang mải mê lấn sang màu thu nhưng vẫn còn chút gì đó vấn vương mùa hạ. Cái cách “vắt nửa mình” thật thi vị. Hình ảnh “đám mây” vắt ngang trên bầu trời tựa như một cây cầu bắc ngang hai bến hạ – thu.

    Tay bưng đĩa muối mà lầm

    Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng

    Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.

    3. Viết bài tập làm văn số 7 – Nghị luận văn học

    Đề bài tham khảo

    Đề 1: Lấy nhan đề “Tình đời trong chiếc lá”, em hãy viết bài nêu suy nghĩ của mình về đoạn trích truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ri.

    Đề 2: Vẻ đẹp mộng mơ và ý nghĩa sâu sắc của bài thơ Mây và sóng của Ta – go.

    Đề 3: Phân tích hình ảnh bếp lửa trong bài thơ cùng tên của Bằng Việt.

    Đề 3: Phân tích hình ảnh bếp lửa trong bài thơ cùng tên của Bằng Việt.

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

    Tuổi thơ của mỗi người dù có qua thì vẫn sẽ luôn để lại trong ta những dư âm khó phai mờ. Với nhà thơ Xuân Quỳnh, cái dư âm ấy là “Tiếng gà trưa”, với tác giả Tế Hanh, dư âm ấy lại là dòng sông quê êm ả. Còn đối với nhà thơ Bằng Việt, lắng đọng sâu xa trong tâm khảm của ông chính là hình ảnh bếp lửa đơn sơ mà thân thuộc, gắn liền với những kỉ niệm xúc động về người bà yêu dấu. Từ hình ảnh khó quên ấy của tuổi thơ, Bằng Việt đã viết nên bài thơ “Bếp lửa” đầy xúc động.

    Hình ảnh bếp lửa đã khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà của tác giả:

    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.

    Tác giả nói “một bếp lửa” là nhắc đến một điều rất riêng tư đã khắc sâu một dấu ấn không bao giờ phai mờ trong kí ức của mình. Bếp lửa là một hình ảnh rất thân thuộc, gần gũi với mỗi gia đình Việt. Ba tiếng “một bếp lửa” được nhắc lại hai lần, trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điệu sâu lắng, như gợi lên dòng cảm xúc nghẹn ngào đang trào dâng trong lòng tác giả. Hình ảnh “Bếp lửa chờn vờn sương sớm” gợi tả một bếp lửa có thật, được cảm nhận bằng thị giác, ẩn hiện trong làn sương sớm mờ ảo. Đó là một hình ảnh rất thực và đẹp, một vẻ đẹp lung linh nhưng vẫn rất gần gũi. “Bếp lửa ấp iu nồng đượm” gợi lên sự thân thương, ấp ủ. Từ láy “ấp iu” gợi bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm lửa, lại rất chính xác với công việc nhóm bếp cụ thể. Hình ảnh bếp lửa đã đánh thức rất tự nhiên dòng hồi tưởng của cháu về bà: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”. Tình thương tràn đầy của cháu đã được bộc lộ một cách trực tiếp và giản dị. Cụm từ “biết mấy nắng mưa” gợi lên cuộc sống lam lũ, vất vả, cực nhọc của người bà. Đọng lại trong lòng người đọc chính là chữ “thương” đầy sự thấu hiểu và biết ơn của người cháu. Ba câu thơ mở đầu đã diễn tả cảm xúc đang dâng lên cùng với những kí ức, hồi tưởng của tác giả về bếp lửa, về bà, là sự khái quát tình cảm của người cháu với cuộc đời lam lũ của người bà.

    Hình ảnh bếp lửa luôn gắn liền với hình ảnh người bà cùng những kỉ niệm khó phai của tuổi thơ tác giả. Những kí ức tuổi thơ ùa về trong tâm trí, nhà thơ Bằng Việt như thấy lại cả một khoảng trời thơ ấu bên cạnh bà với một cuộc sống có nhiều gian khổ, thiếu thốn nhọc nhằn nhưng chứa chan tình bà cháu:

    Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa Tu hú kêu trên những cánh đồng xa Tu hú kêu bà con nhớ không bà? Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế! Mẹ cùng cha công tác bận không về Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    Lẽ thường, vui thì người ta cũng nhớ, nhưng những kỉ niệm buồn thường sâu đậm hơn nhiều. Tuổi thơ ấy có bóng đen ghê rợn, đau buồn của nạn đói năm 1945. Đó là năm “đói mòn đói mỏi”, “bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy”. Cụm từ “đói mòn đói mỏi” đã diễn tả chân thật những cực khổ của hai bà cháu trong thời kì tăm tối của dân tộc ấy. Đứa trẻ đã sớm có ý thức tự lập và phải sống trong sự cưu mang của người bà. Giọng thơ lúc này như trầm xuống, nao nao lòng người. Những kí ức ấy đã in dấu sâu đậm trong lòng nhà thơ để bây giờ nghĩ lại “sống mũi còn cay”.

    Tiếp theo là những kỉ niệm suốt tám năm cháu ở cùng bà. Vẫn là hình ảnh bếp lửa thân thuộc ấy gắn liền với hình ảnh người bà và theo suốt tuổi thơ:

    “Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh”

    Những hình ảnh của quá khứ hiện về thật sống động, tất cả như đang diễn ra ngay trước mắt người cháu. Khi nhớ về những kỉ niệm, dòng hổi tưởng của tác giả gắn với âm thanh của tiếng chim tu hú – âm thanh quen thuộc của chốn đồng quê mỗi dịp hè về. Nó cứ vang vọng trong lời thơ và cuộn trào lên trong lòng người xa xứ. “Tám năm ròng cháu sống cùng bà” – tám năm cháu nhận được sự yêu thương, che chở, dưỡng nuôi tâm hồn từ tấm lòng của bà. Tám năm ấy, cháu sống cùng bà vất vả, khó khăn nhưng đầy tình yêu thương. Các từ ngữ “bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” diễn tả một cách sâu sắc và thấm thía tấm lòng đôn hậu, yêu thương của người bà với đứa cháu nhỏ. Bà hiện lên như một bà tiên trong truyện cổ tích. Bà đã nuôi dưỡng cả thể xác và tâm hồn của cháu.

    Mày có viết thư chớ kể này kể nọ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên

    Dòng hồi tưởng vẫn tiếp tục trôi chảy đến những kỉ niệm về những năm kháng chiến, khi giặc đốt làng “cháy tàn cháy rụi”

    Trong hoàn cảnh ấy, hình ảnh người bà hiện lên lại càng sáng rõ những phẩm chất cao quý, trở thành hậu phương vững chắc để người công tác xa được yên lòng:

    Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

    Bà không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương vững chắc cho cả tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc. Tình cảm bà cháu hòa quyện trong tình yêu quê hương, Tổ quốc.

    Trong suốt hành trình của tuổi thơ, những kỉ niệm về người bà luôn gắn liền với hình ảnh bếp lửa. Bếp lửa gắn với cái “đói mòn đói mỏi”, với cuộc sống khó khăn của hai bà cháu, gắn liền với tình yêu thương cao cả của bà. Và từ đây, bếp lửa đã trở thành một biểu tượng:

    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ.

    Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể ở câu trên, tác giả chuyển thành hình ảnh ngọn lửa trong lòng bà. “Ngọn lửa” ấy mang ý nghĩa ẩn dụ, biểu tượng cho sức sống, cho tình thương, cho niềm tin của bà trong cuộc sống của hai bà cháu, của gia đình và của cả dân tộc. “Ngọn lửa” là biểu tượng của sự sống muôn đời bất diệt, không chỉ riêng bà mà còn của cả toàn dân tộc ta. Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể, bài thơ đã gợi đến ngọn lửa với ý nghĩa trừu tượng, khái quát. Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa – ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.

    Từ những hồi tưởng về kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà, người cháu đã suy ngẫm về bà, về hình ảnh bếp lửa:

    Giờ cháu đã đi xa, có ngọn khói trăm tàu, Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả, Nhưng vẫn chẳng bao giờ quên nhắc nhở: – Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

    Cả cuộc đời bà đã giành để hy sinh cho con, cho cháu “mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ”. Và hình ảnh nhọc nhằn, vất vả ấy của bà vân luôn gắn liền với hình ranh bếp lửa. Điệp ngữ “nhóm” được nhắc lại bốn lần với những ý nghĩa phong phú, gợi nhiều liên tưởng. Bà nhóm “niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi” dạy cho cháu tình yêu xóm làng, yêu mảnh đất quê hương nghèo khổ. Bà nhóm “nồi xôi gạo mới sẻ chung” vui dạy cho cháu biết yêu thương, san sẻ với mọi người. Cuối cùng bà “nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ” để giáo dục, thức tỉnh, truyền cho cháu niềm tin và mơ ước để mai sau khôn lớn nên người. Ở đây, người bà không chỉ là biểu tượng của người “nhóm lửa”, “giữ lửa” mà còn là biểu tượng cho thế hệ cha anh “truyền lửa” – ngọn lửa của sự sống, lòng lạc quan, yêu đời, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp. Trong tâm trí nhà thơ, bếp lửa và bà là những gì tuy thật bình dị, song ẩn giấu điều cao quý thiêng liêng. Cảm xúc dâng trào, tác giả đã phải thốt lên: “Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”. Từ ngọn lửa của bà, cháu nhận ra một niềm tin dai dẳng, cháu hiểu được linh hồn của cả một dân tộc gian lao nhưng tình nghĩa. Hình ảnh bà và hình ảnh bếp lửa sáng đẹp lung linh trong tâm hồn nhà thơ.

    Từ những suy ngẫm về cuộc đời bà và bếp lửa, bài thơ khép lai bằng những dòng tự bạch của người cháu đi xa khi đã trưởng thành:

    Khoảng cách về không gian, thời gian và cả khoảng cách về sự văn minh, hiện địa cũng chẳng thể khiến người cháu lãng quên đi ánh sáng và hơi ấm từ bếp lửa cùng tình thương của bà. Cháu sẽ không bao giờ quên và chẳng thể nào quên được vì đó chính là nguồn cội, là nơi mà tuổi thơ của cháu được nuôi dưỡng để lớn lên từ đó. Đó là đạo lí thủy chung, tình nghĩa mà người Việt Nam được nuôi dưỡng từ thuở ấu thơ.

    Trong hành trình cuộc đời của mỗi con người có những ngày tháng, những kỷ niệm và những con người không thể nào quên được. Hình ảnh bếp lửa “ấp iu nồng đượm” cùng tình thương sâu sắc của bà chính là những cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn của nhà thơ. Hình ảnh bếp lửa ấy sẽ luôn khắc khoải, luôn cháy mãi không chỉ trong lòng tác giả, trong lòng người đọc và còn trong cả những trang thơ của văn học Việt Nam.

    Một anh chàng ngoài Bắc vào Huế, thấy cô lái đò xinh đẹp nên muốn làm quen, sau lời chào cô gái hỏi:

    – Răng anh ở chỗ ni?

    Anh chàng bực mình nghĩ cô gái có vấn đề nên đáp:

    – Răng tôi ở trong mồm chứ ở đâu?

    2. Trao đổi về những vấn đề có tính thời sự trong nhà trường hiện nay có thể làm đề tài để viết một văn bản nhật dụng.

    Tham khảo một số đề tài sau:

    • Bệnh thành tích trong giáo dục
    • Bạo lực học đường (từ phía học sinh – học sinh hoặc giáo viên – học sinh)
    • Giáo dục giới tính trong nhà trường
    • Trầm cảm ở giới trẻ hiện nay
    • Tệ nạn xã hội trong học đường

    ……………………………………………………………..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Góp Một Cách Dạy Văn Bản Nhật Dụng Trong Chương Trình Ngữ Văn Bậc Thcs Soạn Và Dạy Văn Bản “bài Toán Dân Số” (Ngữ Văn 8
  • Soạn Bài Trợ Từ Thán Từ Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Trợ Từ, Thán Từ Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Trường Từ Vựng Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Trường Từ Vựng Sách Bài Tập Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Ngắm Trăng Ngắn Gọn Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ngắm Trăng Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Ngắm Trăng (Siêu Ngắn Gọn)
  • Soạn Bài Ngắm Trăng (Vọng Nguyệt)
  • Bài Thơ Đập Đá Ở Côn Lôn
  • Bài Thơ: Đập Đá Ở Côn Lôn
  • Soạn văn lớp 8 bài Ngắm trăng ngắn gọn hay nhất : Câu 2 (trang 38 SGK Ngữ văn 8, tập 2) Ở bài thơ này, Bác Hồ ngắm trăng trong hoàn cảnh như thế nào? Vì sao bác lại nói đến cảnh “Trong tù không rượu cũng không hoa”? Qua hai câu đầu, em thấy Bác có tâm trạng ra sao trước cảnh trăng đẹp ngoài trời? Câu 3 (trang 38 SGK Ngữ văn 8, tập 2)

    Soạn văn lớp 8 bài Ôn tập về văn bản thuyết minh Soạn văn lớp 8 bài Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh

    Soạn văn lớp 8 trang 29 tập 2 bài Ngắm trăng ngắn gọn hay nhất

    Câu 1 (trang 38 SGK Ngữ văn 8, tập 2)

    Đọc kĩ phần phiên âm, phần dịch nghĩa và phần giải nghĩa chữ Hán để hiểu chính xác từng câu trong bài thơ. Học thuộc bản dịch thơ và nhận xét về các câu thơ dịch.

    Câu 2 (trang 38 SGK Ngữ văn 8, tập 2)

    Ở bài thơ này, Bác Hồ ngắm trăng trong hoàn cảnh như thế nào? Vì sao bác lại nói đến cảnh “Trong tù không rượu cũng không hoa”? Qua hai câu đầu, em thấy Bác có tâm trạng ra sao trước cảnh trăng đẹp ngoài trời?

    Câu 3 (trang 38 SGK Ngữ văn 8, tập 2)

    Trong hai câu thơ cuối của bài thơ chữ Hán, sự sắp xếp vị trí các từ nhân (và thi gia), song, nguyệt (và minh nguyệt) có gì đáng chú ý? Sự sắp xếp như vậy và việc đặt hai câu dưới dạng đối nhau có hiệu quả nghệ thuật như thế nào?

    Câu 4 (trang 38 SGK Ngữ văn 8, tập 2)

    Qua bài thơ, em thấy hình ảnh Bác Hồ hiện ra như thế nào?

    Câu 5* (trang 38 SGK Ngữ văn 8, tập 2)

    Nhà phê bình văn học Hoài Thanh nhận xét: “Thơ Bác đầy trăng”. Hãy chép lại những bài thơ Bác Hồ viết về trăng mà em biết (chú ý ghi rõ thời điểm sáng tác mỗi bài). Cuộc ngắm trăng trong bài Vọng nguyệt và hình ảnh trăng thể hiện trong các bài thơ khác của Bác có gì đáng chú ý?

    Sách giải soạn văn lớp 8 bài Ngắm trăng

    Trả lời câu 1 soạn văn bài Ngắm trăng trang 38

    Đối chiếu giữa các nguyên tác, bản dịch nghĩa, dịch thơ:

    – Ở câu thơ thứ hai: cụm từ “nại nhược hà?” nghĩa là “biết làm thế nào?” diễn tả sự bối rối, xốn xang của nhân vật trữ tình.

    + Nếu dịch thơ cụm từ “nại nhược hà” thành “khó hững hờ” vô hình chung đã làm mất đi sự tinh tế trong cảm nhận.

    → Gây người đọc hiểu rằng nhân vật trữ tình quá “tỉnh táo”, thậm chí “hững hờ” trước cảnh đẹp tự nhiên.

    – Ở hai câu thơ cuối, bản dịch thơ chưa thật đúng và sát với nguyên tác.

    + Hai câu cuối đăng đối trong từng câu, và giữa hai câu: chữ “song” mang lại giá trị cao. Chữ “nhân” đối với chữ “nguyệt” trong cùng một câu. Chữ “nguyệt” đối với “thi gia” ở cuối câu 4. Trong khi bản dịch thơ không đảm bảo được sự đăng đối này.

    + Trong nguyên tác, chữ “khán” nghĩa là ngắm, câu thơ thứ 2 dịch thành “nhòm” làm mất đi tính hàm súc, sự nhã nhặn của ý thơ.

    Trả lời câu 2 soạn văn bài Ngắm trăng trang 38

    Hoàn cảnh ngắm trăng thật đặc biệt của nhà thơ:

    – Trong tù không rượu cũng không hoa nhằm nói lên cảm giác thiếu thốn hoa của người tù, nhớ tới rượu và hoa là muốn thưởng thức trọn vẹn cái đẹp.

    → Người ngắm trăng trong hoàn cảnh đặc biệt: chốn ngục tù thiếu thốn, tối tăm.

    – Trước cảnh trăng đẹp Người bối rối, xốn xang “Đối thử lương tiêu nại nhược hà?”

    + Người yêu thiên nhiên say mê, rung cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp của tạo hóa.

    → Tâm hồn người tù không bị vướng bận bởi những ách vật chất nặng nề, tâm hồn vẫn tự do, ung dung thưởng trăng đẹp.

    Không chỉ là nhà cách mạng, chiến sĩ yêu nước mà Người còn là nghệ sĩ đích thực với những rung động của tâm hồn thi nhân nhạy cảm trước vẻ đẹp của tự nhiên.

    Trả lời câu 3 soạn văn bài Ngắm trăng trang 38

    Hai câu thơ cuối có sự đăng đối về mặt ý và hình thức:

    + Chữ “song” (cửa sổ) ở giữa cặp từ nhân/ nguyệt- minh nguyệt/ thi gia: người tù vượt qua song sắt, qua sự kìm kẹp để hướng ra ngoài ngắm trăng.

    + Trăng cũng nhòm qua khe cửa ngắm nhà thơ: sự giao hòa giữa trăng với người, người và trăng.

    + Biện pháp nhân hóa: trăng trở thành người bạn tri âm tri kỷ từ rất lâu của người tù.

    → Cả người và trăng đều chủ động gặp gỡ tự do, vượt qua những rào cản cửa sắt nhà tù. Cuộc ngắm trăng này trở nên thi vị khi hai tâm hồn tri kỉ tìm đến với nhau: người- trăng.

    Trả lời câu 4 soạn văn bài Ngắm trăng trang 38

    – Hình ảnh Bác Hồ qua bài thơ:

    + Nổi bật tâm hồn thi sĩ lãng mạn, tinh tế.

    + Người tù- người chiến sĩ với sức mạnh tinh thần quả cảm, lạc quan.

    + Sau những vần thơ là tinh thần thép, tự do tự tại, phong thái ung dung vượt trên sự kìm kẹp của nhà tù.

    → Người tù cách mạng không màng tới những đói rét, xiềng xích… của nhà tù, trái lại, tâm hồn lãng mạn, thăng hoa cùng với vẻ đẹp của tự nhiên.

    Trả lời câu 5 soạn văn bài Ngắm trăng trang 38

    Nhà phê bình văn học Hoài Thanh nhận xét: “Thơ Bác đầy trăng”.

    – Những bài thơ về trăng của Người: Trung thu, Cảnh khuya, Rằm tháng giêng, Tin thắng trận, Đêm thu…

    – Trăng trong thơ của Bác có nhiều sắc vẻ, trạng thái khác nhau.

    + Trăng được cảm nhận ở hoàn cảnh ngục tù, hay giữa trời nước bao la, lúc bận việc quân, lúc thư nhàn…

    + Trăng hiện lên như tri âm, tri kỷ với Người

    → Người luôn hướng tới ánh sáng, sự tự do để đạt tới sự tự tại trong tâm hồn. Sự hòa quyện giữa Người với Trăng- tri kỷ- khiến cho thơ của Người luôn có sự hài hòa giữa chất cổ điển và hiện đại.

    Tags: soạn văn lớp 8, soạn văn lớp 8 tập 2, giải ngữ văn lớp 8 tập 2, soạn văn lớp 8 bài Ngắm trăng ngắn gọn , soạn văn lớp 8 bài Ngắm trăng siêu ngắn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Mã Giám Sinh Mua Kiều Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Thuật Ngữ Chi Tiết, Ngắn Gọn Nhất
  • Soạn Bài Ông Đồ (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài: Ẩn Dụ (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Câu Cảm Thán Siêu Ngắn
  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 3: Tức Nước Vỡ Bờ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Văn 8 Bài Tức Nước Vỡ Bờ
  • Tóm Tắt Tức Nước Vỡ Bờ Hay, Ngắn Nhất (6 Mẫu).
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Tức Nước Vỡ Bờ
  • Top 3 Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ Ngắn Nhất.
  • Giải Vbt Công Nghệ 8 Bài 31. Thực Hành : Truyền Và Biến Đổi Chuyển Động
  • Soạn văn 8 VNEN Bài 3: Tức nước vỡ bờ

    A. Hoạt động khởi động

    Trả lời:

    Tình cảnh của gia đình chị Dậu:

    + Gia cảnh nhà chị Dậu lâm vào cảnh cùng đường: bán con, bán chó, bánh gánh khoai, chạy vạy tiền nộp sưu cho chồng và người em chồng đã chết.

    + Người chồng đau ốm tưởng chết, lại bị đánh đến ngất đi do thiếu sưu thuế.

    + Bọn tay sai sấn sổ xông vào đòi đánh trói anh Dậu.

    B. Hoạt động hình thành kiến thức

    1. (trang 18, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Đọc văn bản sau: TỨC NƯỚC VỠ BỜ

    2. (trang 21, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Tìm hiểu văn bản

    a. Khi bọn tay sai xông vào nhà chị Dậu, tình thế của chị như thế nào?

    b. Dựa vào gợi ý từ bảng sau, hãy nhận xét về nhân vật cai lệ:

    Từ những nhận xét trên em hiểu như thế nào về chế độ xã hội đương thời? Em hãy nhận xét về nghệ thuật khắc họa nhân vật của tác giả?

    c. Phân tích diễn biến tâm lí của chị Dậu trong đoạn trích (trước và sau khi cai lệ đến) thông qua thái độ và cử chỉ, lời nói… của chị với mọi người xung quanh. Theo em sự thay đổi trong thái độ của chị Dậu có được miêu tả chân thực, hợp lí hay không. Qua đoạn trích này, em có nhận xét gì về tính cách của chị?

    d. Theo em, nhan đề Tức nước vỡ bờ cho đoạn trích này liệu có hợp lí hay không? Vì sao?

    e. Em hãy chứng minh nhận xét của nhà nghiên cứu phê bình học Vũ Ngọc Phan:” Cái đoạn chị dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo (gợi ý: tìm hiểu việc tạo dựng tình huống, việc miêu tả ngoại hình, hành động, ngôn ngữ, tâm lí nhân vật, nghệ thuật kể chuyện, ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ đối thoại..; chú ý nêu rõ những yếu tố khiến cho đoạn văn được coi là ” tuyệt khéo”)

    Trả lời:

    a. Khi bọn tay sai xông vào, tình thế của chị Dậu là:

    * Chị mới vừa rón rén bưng bát cháo cho chồng và đang hồi hộp ” chờ xem chồng chị có ăn ngon miệng không”

    * Anh Dậu vừa “run rẩy cất bát cháo anh mới kề vào đến miệng” thì hai tên tay sai đã “sầm sập tiến vào” trong tay đầy những “roi song, tay thước và dây thừng”.

    b. Nhận xét về nhân vật cai lệ

    c. Diễn biến tâm lí chị Dậu

    – Trước khi cai lệ đến:

    + Chị mới vừa rón rén bưng bát cháo cho chồng và đang hồi hộp “chờ xem chồng chị có ăn ngon miệng không”.

    + Cử chỉ, thái độ nhẹ nhàng, quan tâm chồng.

    – Khi cai lệ đến:

    + Ban đầu “van xin tha thiết”, lễ phép xưng “cháu” gọi “ông”

    + Chỉ đến khi cai lệ “bịch luôn vào ngực chị… mấy bịch rồi sấn đến trói anh Dậu” không chịu được nữa, chị mới liều mạng cự lại.

    + Đẩy tên cai lệ ngã chỏng quèo, túm tóc lẳng tên người nhà lí trưởng ngã nhào ra thềm.

    d. Nhan đề Tức nước vỡ bờ phản ánh quy luật: có áp bức sẽ có đấu tranh.

    – Xét toàn bộ nội dung tác phẩm thì Tức nước vỡ bờ là tên gọi hợp lý phù hợp với diễn biến truyện.

    – Tên nhan đề có ý nghĩa khi con người bị áp bức, bóc lột sẽ phản kháng mạnh mẽ. Sức mạnh đó bắt nguồn từ ý thức nhân phẩm, tình yêu thương gia đình.

    e. Chứng minh nhận xét của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan

    – Tác giả tạo dựng tình huống truyện gay cấn: sau khi van xin khẩn thiết, nói lí lẽ nhưng cai lệ vẫn sấn sổ tới đánh trói, chị Dậu phản kháng.

    – Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật:

    + Chị Dậu: nhẫn nhục, chịu đựng nhưng vẫn có sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ.

    + Cai lệ; hung tàn, thú tính, ngang ngược, hung hãn

    – Miêu tả ngoại hình bằng nghệ thuật đối lập:

    + Chị Dậu: lực điền, khỏe khoắn, quyết liệt

    + Bọn tay sai: sức lẻo khẻo như tên nghiện, ngã chỏng quèo…

    – Ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ đối thoại được bộc lộ sâu sắc tính cách nhân vật, phản ánh những nét diễn biến tâm lí phức tạp.

    – Đoạn miêu tả cảnh phản kháng giữa chị Dậu với bọn tay sai qua ngòi bút linh hoạt, pha chút hóm hỉnh, độc đáo.

    3. (trang 22, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Tìm hiểu về cách xây dựng đoạn văn

    a. Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: NGÔ TẤT TỐ VÀ TÁC PHẨM “TẮT ĐÈN”

    * Văn bản trên gồm mấy ý? Mỗi ý viết thành mấy đoạn văn? Em thường dựa vào những dấu hiệu hình thức nào để nhận biết đoạn văn?

    c. Đọc đoạn văn sau và lời câu hỏi:

    Các tế bào của lá cây có chứa nhiều lục lạp. Trong các lục lạp này có chứa một chất gọi là diệp lục, tức là chất xanh của lá. Sở dĩ chất diệp lục có màu xanh lục vì nó hút các tia sáng có màu khác, nhất là màu đỏ và lam, nhưng không thu nhận màu xanh lục. Như vậy, lá cây có màu xanh là do chất diệp lục chứa trong thành phần tế bào.

    * Nội dung của đoạn văn được trình bày theo trình tự nào (diễn dịch, quy nạp hay song hành)?

    Trả lời:

    a.

    – Văn bản gồm 2 ý chính:

    + Khái quát về tác giả Ngô Tất Tố

    + Tổng kết về giá trị nổi bật của tác phẩm Tắt đèn

    – Đoạn văn thứ nhất

    + Em thường dựa vào chỗ viết hoa lùi vào đầu dòng đến chỗ chấm xuống hàng.

    + Trong đoạn văn thứ nhất, từ Ngô Tất Tố, ông là, nhà văn, tác phẩm chính của ông,…là những từ ngữ có tác dụng duy trì đối tượng

    + Trong đoạn văn thứ hai, câu “Tắt đèn là tác phẩm tiêu biểu nhất của Ngô Tất Tố” là câu then chốt. Vì nó là câu mang nội dung khái quát

    b. Nội dung của đoạn văn có thể trình bày bằng nhiều cách khác nhau:

    Cách trình bày nội dung đoạn văn: đoạn văn được trình bày theo lối quy nạp.

    C. Hoạt động luyện tập

    1. (trang 23, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Các nhóm chuẩn bị (trong khoảng 5 phút) và xây dựng một đoạn văn thể hiện cảm nhận của từng nhóm sau khi đọc xong văn bản Tức nước vỡ bờ.

    Trả lời:

    Tắt đèn là một trong những tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Ngô Tất Tố, tác phẩm không chỉ mang giá trị hiện thực mà còn mang giá trị nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm có hai hình tượng trung tâm là tên cai lệ và chị Dậu. Mỗi nhân vật đại diện cho một giai cấp, một phẩm chất khác nhau, qua đó bộc lộ những suy nghĩ, quan điểm của tác giả về xã hội lúc bấy giờ. Nhân vật cai lệ là đại diện cho bộ mặt độc ác, bất nhân của những kẻ cầm quyền trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Bên cạnh tên cai lệ độc ác, bất nhân lại hiện lên hình ảnh của một chị Dậu có hoàn cảnh đáng thương nhưng giàu tình yêu thương và sức phản kháng mãnh liệt. Chị Dậu vốn là người phụ nữ mộc mạc, khiêm nhường, giàu lòng yêu thương, chịu đựng nhưng không hề yếu đuối. Trái lại chị có một tinh thần phản kháng và sức sống mãnh liệt. Chị là đại diện điển hình cho vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Khi viết tác phẩm này, Ngô Tất Tố không chỉ tố cáo bộ mặt của tầng lớp thống trị trong xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ, mà còn mang thái độ yêu thương, cảm thông cho những số phận bất hạnh và trân trọng ngợi ca vẻ đẹp phẩm chất của người nông dân.

    D. Hoạt động vận dụng

    (trang 24, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Viết bài tập làm văn số 1 (làm tại lớp) – Văn tự sự. Tham khảo các đề sau:

    Đề 1: Tôi thấy mình đã lớn khôn

    Trả lời:

    + Dàn ý:

    A. Mở bài:

    – Mỗi con người sinh ra và lớn lên đều trải qua những khoảng thời gian “giao thoa”, đánh dấu sự phát triển về cả thể chất lẫn tâm hồn

    – Khoảng thời gian tôi nhận thấy mình đã khôn lớn, là khi tôi lên lớp 6.

    B. Thân bài:

    * Đặc điểm đặc biệt về thể chất

    – Tôi nhớ khi còn đang học lớp 4, tôi chỉ có thể mở được ngăn dưới của tủ lạnh mà không thể với tới ngăn trên. Nhưng giờ tôi đã có thể mở được cả ngăn trên, thậm chí tôi đã cao gần bằng cái tủ lạnh nhà tôi.

    – Mái tóc đã dài đến ngang lưng, đây là điều tôi tự hào nhất bởi với mái tóc dài ấy, tôi thấy mình như điệu đà hơn.

    * Đặc điểm đặc biệt về tâm lý

    – Tôi bắt đầu có nhiều suy nghĩ hơn về những thứ xung quanh dù đôi khi chỉ là những suy nghĩ vẩn vơ.

    – Tôi đã bắt đầu biết đặt ra cho mình những quy định riêng và tự nhủ phải thực hiện nghiêm chỉnh. Trưởng thành chính là khi con người biết đưa mình vào khuôn khổ, và tôi đã dần làm được điều đó.

    – Tôi bắt đầu có những ước mơ, hoài bão. Khi xem chương trình “Cán cân công lý”, tôi đã thấy yêu và trọng cái nghề bảo vệ công lý: luật sư. Từ đó, dù không nói với ai nhưng tôi luôn nuôi hoài bão được trở thành một luật sư tài giỏi.

    * Kỉ niệm tôi đã khôn lớn

    – Đó là ngày khai trường vào lớp 6, ngày đầu tiên bước chân vào cấp trung học cơ sở, tôi đã tự đi một mình vì hôm đó bà nội tôi ốm nặng, bố mẹ đều phải ở trên viện chăm sóc bà.

    – Nhớ ngày khai giảng vào lớp 1, tôi đã rụt rè, e sợ biết bao nhiêu, chỉ biết bấu lấy mẹ không rời.

    – Hôm đó, tôi đã tự chuẩn bị mọi thứ, từ ăn sáng, mặc quần áo chỉnh tề, đeo khăn đỏ, cột tóc gọn gàng. Trường cách nhà tôi khoảng hơn 1km nên tôi chọn đi xe đạp – chiếc xe nhỏ bố tôi mua tặng dịp sinh nhật lần thứ 4.

    – Đóng cửa cẩn thận, tôi hít một hơi thật sâu sau đó đạp xe đến trường.

    – Cảm xúc của tôi lúc đó vô cùng hào hứng, hồi hộp, đã không còn sợ như hồi còn lớp 1, mà thay vào đó, tôi càng háo hức mong chờ giây phút khai giảng, được đứng dưới lá cờ tổ quốc hát vang bài Quốc ca, Đội ca.

    – Buổi chiều hôm đó, mẹ tôi về, tôi háo hức kể cho mẹ nghe về buổi sáng khai giảng, về tất cả những gì tôi đã suy nghĩ, cảm nhận được. Mẹ tôi âu yếm ôm tôi vào lòng và nói: “Mẹ xin lỗi vì không thể đi cùng con trong ngày tự trường quan trọng ấy. Nhưng con gái của mẹ thật sự đã khôn lớn rồi!”

    – Câu nói của mẹ làm tôi vô cùng vui sướng, hãnh diện, và tự hào về chính bản thân mình. Cảm giác khôn lớn thật tuyệt.

    C. Kết bài: – Tôi tự nhủ rằng mình sẽ phải trưởng thành hơn nữa, học tập thật tốt để báo đáp công ơn của cha mẹ.

    + Bài làm tham khảo

    Để chuẩn bị cho ngày kiểm tra chất lượng đầu năm học, hôm nay, mẹ bảo em: “Con ạ, đã gần đến ngày kiểm tra rồi, con soạn lại góc học tập cho chu đáo đi con ạ! Con gái của mẹ đã lớn rồi! Năm nay con thử sắp xếp một mình xem sao!”

    Nghe lời mẹ, em hí hoáy bắt tay vào soạn cặp, chợt rơi ra một tấm ảnh cũ của em năm lớp năm! Nhìn tấm ảnh, em ngạc nhiên vô cùng. Trời ơi, bây giờ em đã khác xưa nhiều quá, bồi hồi, em ngồi trước gương soi để so sánh mình bây giờ và mình ngày xưa ấy!

    Nhớ năm học lớp Năm, em còn là một cô bé đang sún vì thay răng sữa, mà răng mới không kịp mọc, vẫn phải đi chụp hình gấp để làm hồ sơ chuẩn bị thi tốt nghiệp cấp một. Tấm ảnh trên tay em là một cô bé có đôi mắt ngơ ngác rụt rè, pha chút ngái ngủ hay sượng sùng. Mái tóc ngắn ôm lấy hai má bầu bĩnh, trông em hệt như búp bê nhà trẻ! Mà thật sự hôm đi chụp hình ấy, em cứ lúng túng không biết làm cách nào để che đi cái răng sún, trong khi tính em lại hay cười. Lúc ấy mỉm môi lại thì cũng không được, cuối cùng… là một tấm ảnh ngộ nghĩnh này đây!

    Thế mà bây giờ trong gương lại hiện ra một cô gái trẻ, mái tóc buông dài, bóng mướt, đôi môi hồng hồng vểnh lên như sắp cười với mọi người, làm cho mỗi lần gặp ai xa lạ, em lại phải mím môi lại cho có vẻ thật nghiêm trang! Đã vậy, tay chân em vụt dài ra, làm cho đôi khi bước chân em cứ có cảm giác như là sắp ngã. Quần áo thì hệt như chú bé làng Gióng, mỗi cái áo mẹ mới may cho, em mặc chỉ được vài tháng đã sứt chỉ vị chật chội.

    Đang ngồi nghĩ ngợi mông lung thì tiếng chuông điện thoại reo vang, mẹ am nhấc máy lên nghe, rồi nói:

    – Con ơi, cô chủ nhiệm muốn gặp con bàn công tác đấy, con ạ!

    Em bồi hồi cầm điện thoại từ tay mẹ trao lại. Cô nói:

    Trước niềm tin tưởng của cô, em cảm động nói:

    – Vâng ạ, em sẽ giúp bạn hết lòng, để không phụ lòng tin tưởng của cô!

    Sau khi nhận lời, cô dặn dò em vài điều nữa rồi mới bảo em: “Cô cần gặp mẹ để trao đổi thêm!”

    Nói xong, cô bảo em trao điện thoại cho mẹ, em chuyển máy cho mẹ mà thấy lòng mình vui sướng vô cùng khi nhận được sự tin tưởng của cô giáo chủ nhiệm. Mẹ em trò chuyện với cô xong, lại gần bên em vuốt tóc em nói:

    Em vui vẻ cúi xuống “dạ” một tiếng rồi chẩy sân, sao mà cuộc sống tươi đẹp và đầy bí ẩn bất ngờ thế nhỉ! Loay hoay, đôi chân em đi nhầm một chiếc giày của mẹ, làm cho đôi chân em khập khiễng thật buồn cười!

    Đề 2: Người ấy sống mãi trong lòng tôi

    + Dàn ý (viết về bạn):

    A. Mở bài:

    – Mỗi người chúng ta đều có những kỉ niệm không bao giờ có thể quên được, và những con người “đặc biệt” – người ấy sống mãi trong lòng chúng ta.

    – Tôi cũng vậy, một trong số những người “đặc biệt” ấy đối với tôi, đó là cô bạn thân thời lớp 4,5 – bạn Thùy Chi

    B. Thân bài:

    * Ngoại hình:

    – Chi là một cô bé cao, thân hình vừa phải không gầy cũng không béo, làn da trắng trẻo.

    – Bạn có đôi mắt rất to và đen, đôi môi nhỏ chúm chím rất hay cười. Bạn cười rất duyên nhờ một chiếc má lúm đồng tiền bên trái.

    – Mái tóc dài đến eo, đen và mượt vô cùng.

    – Đặc biệt, tôi rất thích nhìn bàn tay của Chi, bàn tay dài, ngón tay búp măng như một cô công chúa.

    * Tính cách:

    – Chi là một người bạn rất tốt, hiền lành, hòa đồng và rất thích giúp đỡ người khác.

    – Chi học khá giỏi, đặc biệt bạn ấy rất giỏi Tiếng Anh – môn tôi học kém nhất. Vì vậy, Chi đã giúp tôi rất nhiều trong việc học Tiếng Anh, truyền cảm hứng và niềm yêu thích môn ngoại ngữ này cho tôi.

    * Kỉ niệm của tôi với Chi:

    – Trong ngày đầu tiên của lớp 4, khi chúng tôi còn đang đùa nghịch thì chuông reo, cô giáo chủ nhiệm bước vào, dắt thêm 1 bạn nữ nữa – đó là Chi. Không biết có phải duyên số không khi cô xếp Chi vào ngồi cạnh tôi luôn. Từ đó, tôi là người bạn đầu tiên và cũng là người bạn thân nhất của Chi.

    – Tôi và Chi rất hợp nhau, từ cách nói chuyện cho đến sở thích, chúng tôi đều có điểm chung, nhờ đó, chúng tôi chơi càng thân với nhau, giúp đỡ nhau trong học tập và chơi đùa cùng nhau, từ đó 2 gia đình cũng chơi thân với nhau luôn.

    – Đến gần hết năm lớp 4, một điều không may đã xảy ra với Chi, mẹ bạn mất do bệnh ung thư. Khi biết tin, tôi đã rất sốc bởi mẹ Chi là một người hiền lành và bác vô cùng yêu quý tôi. Lòng tôi như trùng xuống, hôm đó bố đưa tôi đến nhà Chi thăm viếng. Tôi thật sự xúc động trước hình ảnh cô bé xinh xắn với nụ cười ngày nào đang ngồi thu lu một góc, thẫn thờ nhìn về di ảnh của mẹ.

    – Vài ngày sau, Chi đến lớp, vẫn đôi mắt to đen ấy, nhưng nó đã trở nên buồn bã, lúc nào cũng long lanh, trực khóc. Mặc dù vậy, chi vẫn không khóc, bạn vẫn chăm chú nghe cô giảng, làm bài và cố gắng nở một nụ cười gượng giụ khi các bạn chơi đùa. Tôi thấy rõ đằng sau sự gồng mình, gắng gượng của bạn là một nỗi buồn, một nỗi đau khó có thể vùi lấp.

    – Tôi thấy rõ nghị lực, sự cố gắng của Chi trước nỗi mất mát lớn lao đó, có lẽ bạn đang cố sống thật tốt để mẹ bạn trên trời có thể được yên tâm an nghỉ. Sự trưởng thành đó khiến cho tôi càng khâm phục và yêu quý bạn hơn. Từ đó, tôi quan tâm đến Chi nhiều hơn, cố gắng làm mọi chuyện để bạn vui, mẹ tôi cũng vậy, mẹ tôi càng thương Chi và mong có thể giúp đỡ bạn vượt qua khỏi nỗi đau mất mát đó.

    – Đến hết lớp 5, Chi và bố bạn chuyển lên Hà Nội sống với ông bà ngoại, hôm chia tay tôi và Chi đã khóc rất nhiều. Chúng tôi đều hứa sẽ mãi mãi là bạn tốt và không bao giờ quên nhau.

    C. Kết bài:

    – Từ đó đến nay, tôi và Chi vẫn thường xuyên liên lạc qua điện thoại với nhau, cùng nhau nói chuyện chia sẻ và hứa hẹn một ngày sẽ cùng nhau đi chơi công viên ở Hà Nội.

    – Hình ảnh Chi với đôi mắt buồn bã, long lanh luôn in sâu trong tâm trí tôi.

    + Bài làm thao khảo (Viết về bà)

    Có lẽ bây giờ đã quá muộn khi tôi nói về chuyện của tuổi thơ, một câu chuyện buồn giữa tôi và bà Tám. Dù muộn nhưng tôi vẫn phải kể ra để trong tôi bớt đi nỗi ân hận ngập tràn.

    Hồi ấy, khi tôi còn là một cậu bé nghịch ngợm và bướng bỉnh, tôi đã gây ra không biết bao nhiêu là chuyện không hay cho mọi người và có lẽ bà Tám là người gánh chịu không ít những chuyện như thế.

    Hồi ấy, bà Tám đã già, ở trong một căn nhà nhỏ cạnh nhà tôi. Bà chẳng có chông con. Tôi nghe đâu ngày xưa bà bị người ta lừa. Một gã đàn ông giàu sang lịch sự đến “cướp” đi đời con gái của bà. Từ đó chẳng ai để ý, rồi bà cứ ở vậy. Tôi nghe chuyện bà chẳng động lòng thương mà ngược lại tôi còn ghét bà là đàng khác. Hàng ngày cứ thấy khuôn mặt nhăn nheo đăm chiêu của bà là tôi khó chịu. Cũng chẳng hiểu rõ vì sao tôi không có cảm tình với bà như vậy. Có lẽ vì bà sống lặng lẽ, hay lánh người láng.

    Bà chỉ sống bằng mảnh vườn nhỏ. Mảnh vườn nhỏ của bà trồng rất nhiều loại cây ăn quả mà tôi thích. Hằng ngày, bà vẫn lom khom chống gậy ra nhổ cỏ vun xới cho cây. Vì muốn chọc tức bà, tôi quyết tâm phải lấy được một thứ quả gì đó trong vườn. Tôi rình mò cả buổi chiều, chờ lúc bóng bà khuất hẳn sau bứa phên rách tôi mớ lần vào. Nhanh như cắt, tôi thoăn thoắt trèo lên cây ổi. Những trái ổi chín thơm lừng cuốn hút. Tôi bứt và bứt. Lá ổi rơi xào xào, thân cây rung rung. Nghe tiếng động con chó già tinh quái nhà bà Tám chạy ra. “Chẳng nhẽ lại bị tóm cổ sao”. Chân tay tôi đã bắt đầu run. Con chó sủa inh ỏi. Tôi với ngay quả ổi xanh nhắm mắt ném. “Ới!” Tiếng kêu chợt vanh lên. Thì ra tôi đã ném trúng bà Tám đang đứng ngay cạnh con chó lúc nào không biết. Bà ôm chặt, tuổi già sức yếu, dù một quả ổi trúng người cũng đau lắm chứ! Con chó vẫn sủa. Chân tay tôi càng run. Tôi thét lên: “Cháu không chú ý mà!”. Rắc! Rắc! Cành ổi gãy, tôi ngã nhào và không biết gì nữa. Khi tỉnh lại thì trời đã nhá nhem tối. Tôi đang nằm trong ngôi nhà quen thuộc của mình. Người đầu tiên tôi thấy là bà Tám. Trên nét mặt già nua khắc khổ của bà đầy nỗi lo âu. Tôi buột miệng kêu: “Bà!”. Bà vỗ nhẹ vào người tôi.

    – Cháu nằm yên đi, nghỉ cho lại sức.

    Tôi định ngồi dậy nhưng bị khựng lại bởi cái đau kinh khủng. Nhìn xuống thấy tay mình băng bó. Mẹ bảo tôi bị gãy tay và suốt hai ngày nay bà Tám bỏ cả ăn, ngủ đề ngồi túc trực bên tôi. Tôi nhìn bà. Vết bầm vẫn trên mặt. Tôi định nói xin lỗi nhưng không sao nói được. Nước mắt cứ muốn trào ra. Bà cũng rầu rầu:

    – Chỉ tại bà thôi cháu ạ.

    Tôi không còn biết thế nghĩa là như thế nào. Lúc ấy mẹ tôi đỡ lời:

    – Bà đừng nói vậy! Chỉ tại cháu nó nghịch dại mới nên nông nỗi này. Bây giờ cháu đã đỡ, bà cứ yên tâm về nghỉ.

    Bà Tám yên lặng. Ánh mắt già nua nhìn xa vời vợi. Ánh mắt ấy đã ám ảnh tôi suốt một thời gian dài.

    Ít lâu sau nhà tôi chuyển ra thành phố. Nhiều việc bận rộn khiến tôi không có thời gian về thăm bà. Mãi tới hôm vừa rồi tôi mới lại được trở về thăm chốn cũ. Nhưng đâu còn nữa mái nhà tranh, còn đâu nữa hình bóng bà Tám năm nào. Thay vào đó là một ngôi nhà 3 tầng đẹp đẽ. Thì ra bà Tám đã mất. Mảnh vườn của bà họ hàng đã bán cho một gia đình khác.

    Tôi đứng lặng người nghĩ lại chuyện xưa. Nghĩ về bà Tám, nước mắt tôi ứa ra lúc nào không biết.

    – Bà Tám ơi, xin bà hãy tha thứ cho cháu – Đứa trẻ nghịch ngợm này.

    E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

    (trang 24, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Tìm đọc tác phẩm Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố.

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    Loạt bài Soạn văn 8 VNEN ngắn nhất của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sách Hướng dẫn học Ngữ văn 8 Tập 1, Tập 2 chương trình mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ (Siêu Ngắn)
  • Tổng Hợp Link Giải Bài Tập Sgk Lịch Sử 8 Ngắn Nhất Của Vietjack
  • Tin Học 10 Bài Tập Và Thực Hành 8: Sử Dụng Một Số Công Cụ Trợ Giúp Soạn Thảo
  • Trả Lời Câu Hỏi Lịch Sử 7 Bài 8
  • Giải Địa Lí 10 Bài 34: Thực Hành: Vẽ Biểu Đồ Tình Hình Sản Xuất Một Số Sản Phẩm Công Nghiệp Trên Thế Giới
  • Tin tức online tv