Soạn Văn Lớp 8 Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 7: Văn Nghị Luận Ngắn Gọn Hay Nhất

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 8 Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 7
  • Bài Viết Số 7 Lớp 8 Bài Hay
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 7 Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8
  • Soạn Anh 8: Unit 1. Communication
  • Tiếng Anh 8 Mới Unit 4 Looking Back
  • Soạn văn lớp 8 bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận ngắn gọn hay nhất : Đề 2 Chứng minh rằng văn học của dân tộc ta luôn ca ngợi những ai biết “Thương người như thể thương thân ” và nghiêm khắc phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn. Đề 3 Nói lên những suy nghĩ của em về các tệ nạn như: cờ bạc, tiêm chích ma túy, hoặc tiếp xúc với văn hoá phẩm không lành mạnh

    Soạn văn lớp 8 bài Chương trình địa phương (phần văn )

    Soạn văn lớp 8 trang 128 tập 2 bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận ngắn gọn hay nhất

    Câu hỏi bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận tập 2 trang 128

    Đề 1 Hãy nêu lên những suy nghĩ của em về câu nói sau đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh: … “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập.

    Đề 2 Chứng minh rằng văn học của dân tộc ta luôn ca ngợi những ai biết “Thương người như thể thương thân ” và nghiêm khắc phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn.

    Đề 3 Nói lên những suy nghĩ của em về các tệ nạn như: cờ bạc, tiêm chích ma túy, hoặc tiếp xúc với văn hoá phẩm không lành mạnh

    Sách giải soạn văn lớp 8 bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận

    Trả lời câu 1 soạn văn bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận trang 128

    Dàn ý

    Mở bài: Đặt vấn đề, nêu vai trò của tuổi trẻ đối với tương lai của đất nước. Có thể trích dẫn câu nói nổi tiếng về tuổi trẻ.

    Thân bài:

    – Khái niệm tuổi trẻ:

    + Tuổi trẻ là lứa tuổi thanh niên, thiếu niên. Lứa tuổi được học hành, đang còn ngồi trên ghế nhà trường.

    + Tuổi trẻ là những năm tháng tươi đẹp nhất trong cuộc đời.

    – Nhấn mạnh tầm quan trọng của tuổi trẻ với đất nước:

    + Tuổi trẻ là lúc nhiều sức khỏe và thời gian nhất trong cuộc đời mỗi người.

    + Tuổi trẻ là tuổi có nhiều ước mơ, khát vọng và dám nghĩ dám làm.

    + Là tuổi có sức bật mạnh mẽ nhất.

    + Tuổi trẻ là tuổi cống hiến được nhiều nhất cho xã hội.

    → Với những lợi thế trên, tuổi trẻ trở thành nguồn nhân lực hàng đầu trong công cuộc xây dựng đất nước phát triển, cường thịnh.

    – Nhiệm vụ của tuổi trẻ

    + Tuổi trẻ cần tập trung trau dồi kiến thức, rèn luyện phẩm chất đạo đức để trở thành người có nhân cách, năng lực.

    + Xây dựng kế hoạch và mục tiêu sống kiên định.

    + Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phải tập trung học tập.

    + Tích cực tham gia những hoạt động tình nguyện vì cộng đồng.

    + Tránh xa các tệ nạn xã hội.

    + Đặt ra những mục tiêu và phương pháp học tập đúng đắn.

    + Kết hợp giữa học và thực hành để lý thuyết được áp dụng hiệu quả vào thực tiễn cuộc sống.

    → Phát triển bản thân chính là phát triển sức mạnh của đất nước.

    Kết bài: Khẳng định rằng tuổi trẻ chính là tương lai của đất nước. Xây dựng và bảo vệ đất nước là nhiệm vụ chung thiêng liêng của mỗi cá nhân trong quốc gia đó, vì vậy thế hệ trẻ cần tích cực trau dồi kiến thức, rèn luyện đạo đức xứng đáng là công dân có ích cho xã hội.

    Nói về đất nước ta trước năm 1945, thật là những cuộc sống tối tăm:

    “Ôi nhớ những đêm nào thuở trước

    Xóm làng ta xơ xác héo hon

    Nửa đêm thuế thúc trống dồn

    Sân đình máu chảy, làng thôn lính đầy”….

    Những mảnh đời như lão Hạc, chị Dậu và cái Tí thật chẳng có lối thoát, không còn hi vọng gì, còn con trai lão Hạc thì:

    “Bán thân đổi mấy đổng xu

    Thịt xương vùi góc cao su mấy tầng …”

    Kiếp sống của nhân dân lao động thì tăm tối, bị chà đạp về nhân phẩm và quyền sống; kiếp sống của những người trí thức cũng chẳng có tương lai: những ông giáo của Nam Cao cũng hệt như con hổ nhớ rừng: “Nay sa cơ chịu nhục nhằn tù hãm”…

    Nhưng Bác Hồ đã tiên đoán được tiềm năng của dân tộc Việt chúng ta. Năm 1921, người đã viết: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến”.

    Với ý nghĩa “tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội, thực sự thanh niên là lực lượng hùng hậu, có sức khỏe. Có học vấn và tiềm năng sáng tạo, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học hiện đại. Trong giai đoạn cách mạng mới, trước xu thế toàn cầu hóa về kinh tế và bối cảnh thế giới biến động phức tạp, Đảng ta đã khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xung kích cách mạng, là nguồn nhân lực quyết định thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng đất nước ta trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thanh niên chiếm 1/3 dân số, là lực lượng xung kích, là người chủ hiện tại và tương lai của đất nước ta. Hiện nay, thanh niên ta đang đứng trước những thời cơ là:

    – Sự nghiệp đổi mới của Đảng, sự đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự quan tâm của nhà nước và các cấp chính quyền và các ngành mở ra cho thanh niên nhiều cơ hội để phát huy tài năng, cống hiến và trưởng thành.

    – Các chính sách của nhà nước như phát triển giáo dục, nâng cao trình độ học vấn và tay nghề, các chính sách khuyến khích đầu tư và phát triển kinh tế nhiều thành phần …là cơ hội để thanh niên vươn lên làm giàu chính đáng.

    Trong những năm 1920, Bác viết bài “Gửi thanh niên An Nam” như sau:

    “Thanh niên chúng ta đang làm gì? Nói ra thì buồn, buồn lắm: họ khồng làm gì cả. Những thanh niên không có phương tiện thì không dám rời quê nhà;; những người có phương tiện thì lại chìm ngập trong sự biếng nhác; còn những kẻ xuất dương thì chỉ nghĩ đến việc thỏa mãn tính tò mò của tuổi trẻ mà thôi! Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên của người không sớm hồi sinh!”. Cùng thời lúc ấy, nhà cách mạng Phan Bội Châu cũng mượn tiếng gà gáy để đánh thức tuổi trẻ.

    “Dậy Dậy! Dậy!

    Bên án, một tiếng gà vừa gáy.

    Chim trên cây cũng tỏ ý chào mừng

    Xuân ơi xuân, em có biết cho chăng?

    Ba mươi năm lẻ đã từng chua với xót…!!”

    Rồi từ đó, nhà chí sĩ kêu gọi thanh niên:

    Chẳng thèm chơi, chẳng thèm mặc, chẳng thèm ăn

    Đúc gan sắt để dời non lấp bể

    Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ…

    Mới thế này là mới! Hỡi chư quân!”…

    Bao nhiêu năm trôi qua từ những năm 1920 ấy, bao anh hùng đã đỗ máu xương xuống mảnh đất này! Bây giờ, trong những thanh niên thế kỉ XXI, ai là người còn nhớ đến những người lãnh tụ chịu tù tội, ai đếm được những máu xương nhuộm thắm quê hương để giành độc lập tự do? Nếu bạn có một hoái bão cao đẹp dựng xây đất nước, xin hãy đi lên bằng nghị lực của mình và một trí tuệ được thụ hưởng có chọn lọc thời mờ cửa của thế kỉ XXI. Mong sao những thanh niên như thế có một tưorng lai tươi sáng khi bạn biết đi lên, sống xây dựng và cống hiến. bạn sẽ có một tương lai tươi sáng giữa một góc quê hương giàu đẹp!

    Nhưng nếu bạn là một trong những bạn trẻ đang rong chơi thay cho việc vùi đầu vào nghiên cứu và học tập? Nếu bạn ăn chơi và vô tình sa chân vào con đường nghiện ngập, khó thoát ra? Vậy thì tương lai của nhũng người như bạn đưa đất nước quê hương về đâu? Bạn đưa gia đình thân thích bạn đi đến nơi nào nếu nơi bạn đến là bệnh viện chữa AIDS? Nếu thanh niên chúng ta không là gánh nặng cho gia đình, xã hội, mà là chỗ dựa cho người thân yêu, thì đó là “con hơn cha là nhà có phước”. Đất nước càng nhiều người như thế, càng giàu mạnh hùng cường.

    Bài văn mẫu 2

    Trong cuộc sống hằng ngày, ai cũng biết rằng tuổi trẻ là một thành phần, yếu tố quan trọng , ảnh hưởng đến tương lai đất nước, vì thế mà Bác đã căn dặn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt nam có bước đến đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần ở công học tập của các em”. Chúng ta cùng tìm hiểu vai trò của tuổi trẻ với tương lai đất nước.

    Tuổi trẻ là những công dân ở lứa tuổi vị thành niên, thanh niên… là thế hệ “măng non”, hoặc đã sắp thành “tre”, là người đã đủ điều kiện, đủ ý thức để nhận biết vai trò của mình đối với bản thân, xã hội. Tuổi trẻ của mỗi thời đại là niềm tự hào dân tộc, là lớp người tiên phong trong công cuộc xây dựng, đổi mới, phát triển đất nước. Tương lai đất nước là vận mệnh, là số phận của đất nước mà mỗi công dân sẽ góp phần xây dựng, phát triển, trong đó quan trọng nhất là thế hệ trẻ. Thế kỉ 21, thế kỉ của sự phát triển, không ngừng nâng cao trình độ văn hoá kinh tế, đất nước. Để có thể bắt kịp đà phát triển của những nước lớn mạnh thì đòi hỏi sự chung sức đồng lòng của tất cả mọi người mà lực lượng chủ yếu là tuổi trẻ. Bởi đó là lực lượng nồng cốt, là chủ nhân tương lai, là nhân vật chính góp phần tạo nên cái thế, cái dáng đứng cho non sông Tổ quốc.

    Tuổi trẻ hôm nay là tôi, là bạn, là những anh chị đang có mặt trên giảng đường Đại học, đang hoạt động bằng cả tâm huyết để cống hiến sức trẻ với những đam mê cùng lòng nhiệt tình bốc lửa. Tuổi trẻ tốt thì xã hội tốt, còn xã hội tốt sẽ tạo điều kiện cho tầng lớp trẻ phát triển toàn diện, sinh ra những người con có ích cho đất nước, đó là điều tất yếu, hiển nhiên mà ai cũng biết.

    Mỗi người chúng ta cũng đi qua thời tuổi trẻ – tuổi của sức mạnh phi thường, của cái tuổi không chịu khuất phục trước khó khăn và sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn. Sức mạnh vô sông của tuổi trẻ ” sông kia phải chuyển, núi kia phải dời”. Chúng ta chỉ có một lần trong đời là tuổi trẻ vì vậy cần phải nắm bắt, cần đóng góp sức lực cho đất nước. Việc xây dựng đất nước là trách nhiệm của mọi người, mọi công dân chứ không phải của riêng ai. Nhưng với số lượng đông đảo hàng chục triệu người thì lẽ nào tuổi trẻ lại không thể xây dựng đất nước. Chẳng lẽ chúng ta để cho những cụ già đi khuân vác, lao động nặng, những phụ nữ phải ngày đêm làm việc trong các nhà xưởng đầy khói bụi, những trẻ em phải phụ giúp gia đình ngay còn nhỏ mà “quên” đi việc học hành, lúc đó chúng ta sẽ “làm” gì? Chẳng lẽ ngồi không như một “người bị liệt”. Vì vậy chúng ta phải cố gắng xây dựng đất nước như lời dặn của Bác: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Sinh ra ở đời ai cũng khao khát được sống hạnh phúc, sung sướng. Mỗi người luôn tìm cho mình một lẽ sống hay nói đúng hơn là lý tưởng sống. Là chủ nhân tương lai thì chúng ta phải xác định cho mình lý tưởng sống phù hợp, đúng đắn. Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá như hiện nay thì tuổi trẻ chúng ta lại đứng trước một câu hỏi lớn: “Sống như thế nào là đúng đắn là có ích cho xã hội?” Vì lý tưởng sống của chúng ta là động lực thúc đẩy đất nước phát triển. Và thời nào cũng vậy, thế hệ trẻ luôn là lực lượng tiên phong, xông pha vào những nơi gian khổ mà không ngại khó. Điều đó đã được thể hiện rất rõ trong thời kì kháng chiến. Những người con đất nước như: Kim Đồng, Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám… đã hiến dâng cả tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc. Đây là những thanh niên của hơn 40 năm trước còn lớp thanh niên ngày nay thì sao?

    Các bạn ạ! Chúng ta nên biết một điều: những thế hệ trước đã dâng hiến xương máu để ngày sau độc lập thì chúng ta phải biết “cùng nhau giữ nước” và nối tiếp, kế thừa truyền thống cao đẹp đó. Và một điều quan trọng là các bạn đừng nghĩ đó là nghĩa vụ để rồi miễn cưỡng thực hiện. Chúng ta phải hiểu rằng: được sinh ra là một hạnh phúc và sống tự do, no đủ là một món quà quý báu, vô giá mà quê hương xã hội đã ban tặng. Hạnh phúc không tự nhiên mà có mà đó là xương máu, tâm huyết của biết bao người con của đất nước. Mỗi thời đại, mỗi hoàn cảnh lịch sử mà thanh niên nuôi dưỡng những ước vọng, suy nghĩ riêng. Chúng ta không được bác bỏ, phũ nhận quá khứ hay công sức của những anh hùng dân tộc. Đơn giản là vì mỗi thế hệ đều có sứ mệnh riêng, nhận thức riêng mà chúng ta không nên so bì, tính toán. Vì vậy: “Không có chuyện lớp trẻ ngày nay quay lưng với quá khứ” (như tổng bí thư Đỗ Mười nói). Nhưng tuổi trẻ chúng ta có điều kiện gì để xây dựng đất nước? Vâng, đó chính là học tập. Nói đến tuổi trẻ hôm nay là nói đến việc học hành. Trong cuộc sống ta gặp không ít trường hợp xem việc học là việc khổ sai chỉ do cha mẹ, thầy cô thúc ép, chứ không ham học. Họ xem đi học như một hình thúc giải khuây cho vui nên không cần học tập, coi học học tập là một nỗi nhọc nhằn. Có người lại coi việc học là để ứng phó với đời, để không xấu hổ với mọi người, để có “bằng cấp” mà hãnh diện với đời, dù đó chỉ là “hàng giả” mà thực lực không làm được. Chúng chẳng những không đưa nước ta “sánh kịp với cường quốc năm châu” mà còn đưa nước ta về lạc hậu, lụn bại. Cách duy nhất là phải học chân chính, học bằng khả năng của mình. Bước vào thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì ai nắm được tri thức thì mới có thể xây dựng đất nước, lèo lái chiếc thuyền số phận của non sông Tổ quốc. Và nhiệm vụ của chúng ta phải học, học nũa, học mãi. Nhà nước phải tạo mọi điều kiện để chúng ta dễ dàng tiếp cận tri thức thì tương lai dân tộc mới sáng lạn, lấp lánh hào quang.

    Tóm lại, tuổi trẻ là người sẽ quyết định tương lai đất nước sau này. Tuổi trẻ nước ta đầy rẫy nhân tài sẽ góp phần cho dáng hình sứ sở. Ngay từ hôm nay, tôi, bạn và tất cả mọi người phải cố gắng học tập để sau này có thể giúp nước ta tiến nhanh trên con đường xây dựng và phát triển nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh.

    Bài văn mẫu 3

    “Tre già măng mọc” quy luật ngàn đời nay vẫn thế. Cũng như cuộc sống con người, thế hệ trước cống hiến, hi sinh cũng sẽ đến lúc nhường bước cho thế hệ trẻ vươn lên làm chủ vận mệnh của đất nước. Và tuổi trẻ chính là tương lai của đất nước, tuổi trẻ sẽ quyết định sự tồn vong, hưng vượng của một quốc gia.

    Tuổi trẻ không ai khác chính là lứa tuổi thanh thiếu niên, những bạn độ tuổi học sinh sinh viên, họ được trang bị kĩ lưỡng về tri thức và kĩ năng để chuẩn bị hành trang vững chắc bước vào cuộc sống, bước vào hành trình xây dựng đất nước.

    Vậy vì sao tuổi trẻ và chỉ có tuổi trẻ mới là tương lai, mới là sự phát triển của đất nước? Trước hết, theo đúng như quy luật đã nói ban đầu, tre già măng mọc, cây già ngã xuống cây non sẽ đứng lên tiếp bước. Con người ta không ai có thể trường tồn mãi mãi, mà cũng sẽ có lúc phải nghỉ ngơi, và để xã hội tiếp tục phát triển các thế hệ sau sẽ kế tục. Thứ hai thế hệ trẻ được trang bị đầy đủ, kĩ lưỡng trên tất cả các phương diện: sức khỏe, tri thức, đạo đức để đem những điều mình đã được học phục vụ cuộc sống bản thân và xã hội khi đã trưởng thành. Sự ảnh hưởng của thế hệ trẻ đến tương lai của đất nước còn thể hiện ở sự phát triển của đất nước khi thế hệ đó kế tục. Một thế hệ giỏi giang, cần mẫm, sống có đạo đức của ngày hôm nay chính là dấu hiệu cho tương lai vững bền, tươi sáng của đất nước trong tương lai. Không chỉ vậy, thế giới không ngừng phát triển, khoa học công nghệ đưa văn minh nhân loại đến những bước tiến ngoài sức tưởng tượng, mà thế hệ trẻ lại là thế hệ có sức trẻ, có nhiệt huyết, thông minh và sáng tạo dễ dàng tiếp thu và đưa vào thực tiễn các tri thức mới. Bởi vậy, họ chính là chủ nhân tương lai của đất nước.

    Vai trò của thế hệ trẻ, không phải chỉ đến bây giờ mới được xác định, mà hàng trăm năm trước đây đã được minh chứng bằng những vị anh hùng đã lưu danh sử sách. Lý Công Uẩn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,… đều là những người có học thức uyên bác, tuổi trẻ cần cù, chăm chỉ lại thêm thiên phú trời ban đã lập nên những chiến công hiển hách, đã để lại sự nghiệp văn chương vĩ đại cho muôn đời sau. Gần hơn ta có thể kể đến chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người thanh niên trẻ tuổi, thông minh, hiếu học, đã sẵn sàng rời quê nhà ra đi tìm đường cứu nước. Trong quá trình bôn ba hải ngoại vẫn không ngừng học hỏi, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, để tìm ra con đường cứu nước đúng đăn cho dân tộc. Gần hơn chút nữa, chắc hẳn các bạn vẫn không quên cậu bé Đỗ Nhật Nam, tuy nhỏ tuổi nhưng rất thông minh, xuất chúng, đây chính là mầm mon sẽ gánh vác sự phát triển của đất nước sau này.

    Nhìn vào thực tiễn lịch sử, từ xưa đến nay thế hệ trẻ luôn là thế hệ đi đầu, tiên phong, sẵn sàng xông vào khó khăn hiểm nguy. Trong thời chiến ta vẫn nhớ những vị anh hùng trẻ tuổi như Lê Văn Tám,… đến thời bình những chiếc áo xanh tình nguyên khoác trên mình khẩu hiệu, “Đâu cần thanh niên có. Việc khó có thanh niên” đem sức trẻ đi giúp đỡ mọi người trên khắp mọi miền đất nước. Vậy ta mới thấy, tuổi trẻ có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển của đất nước.

    Để phát huy sức trẻ, chúng ta, thế hệ học sinh cần chăm chỉ học tập hơn nữa, không chỉ bồi đắp tri thức mà còn rèn đạo đức, luyện kĩ năng, để có đầy đủ công cụ cần thiết, sẵn sàng bước vào cuộc sống và cống hiến. Bên cạnh đó nhà nước cũng cần có các chính sách ưu tiên hơn nữa khuyến khích việc học, phát triển tài năng…

    Thế hệ trẻ chính là tương lai đất nước, là cội rễ cho sự phát triển của dân tộc. Là một học sinh, chúng ta cần không ngừng nỗ lực, cố gắng, xây dựng cho bản thân một mục đích, mục tiêu rõ ràng, không ngừng phấn đấu để đạt được những mục tiêu mình đã đề ra.

    Trả lời câu 2 soạn văn bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận trang 128

    Dàn ý

    Mở bài: Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận: văn học và tình thương. Chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa phạm trù này.

    Bất kì tác phẩm văn học nào cũng xuất phát từ tình thương và làm lan tỏa tình thương tới cộng đồng.

    Thân bài:

    – Khái niệm về văn học: Văn học là những sáng tác nghệ thuật mà người sáng tác dùng ngôn từ để truyền tải tư tưởng, tình cảm của mình tới người đọc.

    – Tình thương: là sự thương yêu, quan tâm, đồng cảm, chia sẻ giữa người với người

    – Văn học gắn liền với tình thương

    + Tình yêu quê hương đất nước, lòng tự tôn dân tộc.

    + Có nhiều tác phẩm gắn liền với tình yêu đất nước, sự tự hào dân tộc như: Nam Quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt), Bình Ngô đại cáo ( Nguyễn Trãi), Làng (Kim Lân ). Quê hương (Tế Hanh).

    – Văn học gắn liền với tình cảm gia đình, sự thương yêu đùm bọc lẫn nhau.

    + Tình cha con, tình mẫu tử, tình anh em, tình cảm vợ chồng, tình bà cháu… đều được phản ánh trong các tác phẩm văn học.

    – Văn học phản ánh tình yêu thương giữa con người với con người với nhau.

    + Con người sống chung trong một xã hội có các mối quan hệ xã hội phức tạp. Ngoài những tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước, còn có tình cảm của con người dành cho con người, những số phận đáng được thương cảm, thấu hiểu.

    + Dẫn ra những tác phẩm như Chí Phèo ( Nam Cao), Truyện Kiều ( Nguyễn Du), Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Thương vợ (Tú Xương)….

    → Như vậy văn học xuất phát từ tình thương, và mang tình thương truyền tải tới người đọc. Khơi dậy trong mỗi cá nhân những nguồn tình cảm thiêng liêng, tốt đẹp.

    Kết bài: Khẳng định vai trò của văn học và tình thương đối với cuộc sống. Nhờ có tình thương con người sống với con người chan hòa, hạnh phúc hơn. Nhờ văn học đời sống tinh thần của con người phong phú, tình thương được nhen nhóm và lan tỏa.

    Bài văn mẫu 1

    Nhà phê bình Hoài Thanh trong văn bản “Ý nghĩa văn chương” từng viết: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có”. Nhận định ấy đã nêu lên những tác động cơ bản của văn học đối với tình cảm con người. Không dừng lại ở đó, giữa văn học và tình thương còn có những mối quan hệ sâu sắc.

    M.Gooc-ki đã nói “Văn học là nhân học”. Đối tượng mà văn học hướng đến là con người với “chữ người được viết hoa”. Có nghĩa là, văn học hướng về, đề cao, ca ngợi và bồi đắp “chữ người viết hoa” ấy mọi thời đại để nó ngày một đẹp hơn, hoàn thiện hơn. Và trong rất nhiều nét đẹp của chữ viết hoa ấy phải kể đến tình thương, lòng nhân ái. Bởi thế ta thấy có sự đồng nhất giữa văn học và tình thương. Tình thương vốn là một trong những đức tính của con người. Nó xuất phát từ tấm lòng, trái tim mỗi con người. Nó mang tính hướng thiện, nhân đạo và nhìn sự việc bằng sự gắn bó với những tư tưởng hay giá trị đạo đức được xã hội công nhận. Là cơ sở gắn kết những mối quan hệ xung quanh, làm cho khoảng cách giữa con người gần hơn. Từ xưa đến nay, dân tộc Việt Nam ta luôn đề cao tư tưởng nhân ái, một đạo lí cao đẹp, truyền thống “lá lành đùm lá rách” cũng được phát huy qua nhiều thế hệ. Những tình cảm cao quý ấy được kết tinh, hội tụ và phản ánh qua những tác phẩm văn học dân tộc.

    Nói văn học luôn ca ngợi lòng nhân ái và tình yêu thương giữa người và người quả không sai. Từ xưa trong văn học dân gian các cụ đã đề cao tình yêu thương con người. Ai trong chúng ta cũng thuộc lòng những câu ca dao như:

    “Bầu ơi thương lấy bí cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

    Hoặc câu:

    “Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng”

    Rồi truyền thuyết “con Rồng cháu Tiên” giúp ta hiểu rõ hơn về từ “đồng bào”. Mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân đã sinh ra một trăm trứng và nở ra trăm con, năm mươi người con xuống biển sau này trở thành người miền xuôi, còn năm mươi người con khác lên núi sau này trở thành các dân tộc miền núi. Trước khi đi, Lạc Long Quân có dặn Âu Cơ rằng: sau này có gì khó khăn thì giúp đỡ nhau. Điều đó, cho thấy người xưa còn nhắc nhở con cháu phải biết thương yêu, đoàn kết, tương trợ nhau. Ta còn bắt gặp rất nhiều những câu chuyện về lòng yêu thương, tư tưởng nhân đạo của dân tộc trong văn học dân gian qua hình ảnh chàng Thạch Sanh đại diện cho chính nghĩa, hiền hậu, vị tha, dũng cảm, sẵn sàng tha thứ cho mẹ con Lý Thông, người đã bao lần tìm cách hãm hại mình. Rồi khi mười tám nước chư hầu kéo quân sang đánh Thạch Sanh nhằm cướp lại công chúa, chàng đã sử dụng cây đàn thần của mình để thức tỉnh binh lính, làm cho binh lính lần lượt xếp giáp quy hàng mà không cần động đến đao binh. Chàng lại mang cơm thiết đãi họ trước khi rút về nước. Ta còn biết đến một cô út dũng cảm làm vợ chàng Sọ Dừa kì dị. Câu chuyện về bông cúc trắng, bông hoa của tình yêu thương mãnh liệt đã làm nên điều kì diệu trong cuộc sống. Còn biết bao câu ca, câu chuyện thấm đẫm tình thương trong văn học dân gian ta không thể nào kể hết.

    Đọc văn học trung đại ta lại thấy sự tiếp nối làm đẹp truyền thống đó. Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi với tư tưởng nhân đạo cao cả:

    “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn

    Lấy chí nhân để thay cường bạo”

    Chính là tư tưởng xuyên suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Chúng ta cũng từng đọc Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du và hẳn vẫn giữ Truyện Kiều trong đáy sâu thẳm tâm linh, để luôn tự mình được trăn trở, chiêm nghiệm. Truyện Kiều, không chỉ là bản cáo trạng tội ác của bọn quan lại phong kiến, còn là một quyển kinh về tình thương. Tình thương cha, tình thương mẹ, thương chị em ruột thịt, thương người… như thể thương thân của nàng Kiều, đã in dấu ấn rất rõ tình thương mênh mông… của thi hào Nguyễn Du với thân phận những người phụ nữ.

    Đến văn học hiện đại ta lại bắt gặp tình yêu thương rất con người đó. Hình ảnh cậu bé Hồng trong tác phẩm “Những ngày thơ ấu”, đã cho chúng ta thấy rằng: “tình mẫu tử là nguồn thiêng liêng và kì diệu, là mối dây bền chặt không gì chia cắt được”. Cậu bé Hồng phải sống trong cảnh mồ côi, chịu sự hành hạ của bà cô, cha mất, mẹ phải đi tha hương, ấy vậy mà cậu không hề oán giận mẹ mình, ngược lại vô cùng kính yêu, nhớ thương mẹ. Câu chuyện đã làm rung động biết bao trái tim của độc giả. Không chỉ phản ánh tình mẫu tử, văn học còn cho ta thấy một tình cảm vô cùng đẹp đẽ, sâu sắc không kém, đó là tình cảm vợ chồng. Tiểu thuyết “Tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố là minh chứng rõ nét nhất cho điều này. Nhân vật chị Dậu được tác giả khắc họa thành một người phụ nữ điển hình nhất trong văn học hiện thực Việt Nam. Chị là một người vợ thương chồng, yêu con, luôn ân cần, nhẹ nhàng chăm sóc cho chồng dù trong hoàn cảnh khó khăn, nguy khốn. Chị Dậu đã liều mình: đánh trả tên người nhà lí trưởng để bảo vệ cho chồng, một việc mà ngay cả đàn ông trong làng cũng chưa dám làm. Đọc truyện “Cuộc chia tay của những con búp bê” ta rưng rưng cảm động khi chứng kiến cảnh anh em Thành và Thủy chia tay nhau đầy nước mắt. Tác giả muốn gửi đến chúng ta thông điệp về tình cảm và sự gắn bó giữa anh em với nhau trong gia đình mà các cụ xưa đã từng đúc kết:

    “Anh em như thể tay chân

    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần”

    Bên cạnh việc ca ngợi những con người “thương người như thể thương thân”, văn học cũng phê phán những kẻ ích kỉ, vô lương tâm. Trong truyện cổ tích “Tấm Cám”, chúng ta sẽ thấy được thái độ căm ghét của mọi người đối với mẹ con Cám. Cái chết ở cuối câu chuyện đã lên án gay gắt: những kẻ ác phải bị trừng phạt. Đáng ghê sợ hơn nữa là những người cạn tình máu mủ. Điển hình là nhân vật bà cô trong truyện “Những ngày thơ ấu”, một người độc ác, nham hiểm “giết người không dao”. Bà ta nói xấu, sỉ nhục mẹ bé Hồng trước mặt bé, đứa cháu ruột của mình, đứa cháu mồ côi tội nghiệp lẽ ra bà phải yêu thương để bù đắp lại những mất mát mà bé phải hứng chịu. Hay trong tiểu thuyết “Tắt đèn”, nhà văn Ngô Tất Tố đã cho chúng ta thấy sự tàn ác, bất nhân của tên cai lệ và người nhà lí trưởng. Chúng thẳng tay đánh đập những người thiếu sưu, đến những người phụ nữ chân yếu tay mềm như chị Dậu mà chúng cũng không tha. Rồi ông quan trong “Sống chết mặc bay” tiêu biểu cho tầng lớp thống trị, quan lại ngày xưa. Trong cảnh nguy cấp, nhân dân đội gió, tắm mưa cứu đê thì quan lại ngồi ung dung đánh tổ tôm. Ngay cả khi có người vào báo đê vỡ hắn vẫn thét lính đuổi ra và khi quan lớn ù ván bài to thì cũng là lúc cả làng ngập nước, nhà cửa lúa má bị cuốn trôi hết, tình cảnh thật thảm sầu. Chính sự việc cao trào đó đã lên án gay gắt tên quan hộ đê, hay chính là đại diện cho tầng lớp thống trị, dửng dưng trước sinh mạng của biết bao người. Văn học không chỉ viết về tình thương, ca ngợi tình thương. Văn học còn khơi dậy tình thương trong lòng chúng ta, muốn chúng ta sẻ chia, cảm thông với những con người bất hạnh. Không ai dửng dưng, cầm lòng khi đọc truyện “Cô bé bán diêm” tội nghiệp và cảnh cô bé chết trong đêm giao thừa lòng thầm hỏi trong cuộc sống này còn bao người sẽ chết như thế trước sự thờ ơ đến vô cảm của người đời? Cũng bao lần ta nhỏ lệ khi đọc đoạn trích “Một cảnh mua bán” trong Tắt đèn khi Ngô Tất Tố kể về cái Tí với bát cơm thừa của chó nhà Nghị Quế. Ta cũng chẳng thể dửng dưng trước nỗi truân chuyên của người con gái tài sắc Thuý Kiều mà Nguyễn Du đã bao lần nhỏ lệ khóc thương trong tác phẩm của mình. Rồi cảnh anh em Thành Thuỷ chia tay cùng những con búp bê làm lòng ta nhói đau khi chứng kiến những bất hạnh của tuổi thơ và nỗi bất hạnh mà các em phải gánh chịu quá sớm. Từ việc khơi dậy tình yêu thương ấy, văn học gửi đến chúng ta thông điệp: Hãy dâng tặng tình yêu thương cho mọi người, ta lại cũng được đón nhận nó.

    Văn nghị luận: Văn học và tình thương luôn đồng hành tạo nên giá trị đích thực cho mỗi tác phẩm đồng thời giúp con người vươn tới chân – thiện – mĩ, hoàn thiện nhân phẩm và nhân cách con người. Và ở bất kì thời đại nào, giá trị lớn lao nhất của văn chương vẫn là “gây cho ta những tình cảm ta chưa có, luyện cho ta những tình cảm ta sẵn có”.

    Bài văn mẫu 2

    Ai-mai-tốp đã từng nhận xét rằng: “Nhà văn phải biết khơi lên ở con người niềm trắc ẩn, ý thức phản kháng cái ác; cái khát vọng khôi phục và bảo vệ những cái tốt đẹp” . Văn chương có những ý nghĩa, vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi con người, có những tác động sâu sắc đến đời sống tình cảm của mỗi chúng ta. Giữa văn học và tình thương có mối quan hệ gắn bó khăng khít.

    Văn học là một khái niệm rộng lớn, bao gồm thơ ca, truyện, kịch, hò, vè,… phản ánh đời sống hiện thực, tâm tư, tình cảm của con người. Không chỉ phản ánh, mà văn chương còn đem đến cho ta những bài học ý nghĩa trong cuộc sống, giúp ta biết nâng, niu trân trọng những tình cảm đẹp đẽ.

    Nhân dân ta có một kho tàng ca dao hết sức phong phú, phản ánh nhiều phương diện trong cuộc sống như: tình cảm gia đình, sự đoàn kết tình yêu thương và không thể không nhắc đến những bài ca dao ca ngợi vẻ đẹp quê hương, đất nước:

    “Đường vô xứ Huế quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

    Ai vô xứ Huế thì vô”

    Hay:

    Bắc Kan có suối đãi vàng

    Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh

    Khung cảnh thiên nhiên hiện lên thật đẹp đẽ, qua đó bộc lộ được tình yêu quê hương đất nước nồng nàn tha thiết của ông cha ta xưa với những nơi mình được sinh ra.

    Đến với văn học hiện đại, mỗi tác phẩm lại đem đến cho người đọc những tình cảm, cảm xúc riêng. Là tình cảm mẫu tử thiêng liêng, bât diệt của cậu bé Hồng với người mẹ đáng thương của mình. Bố mất, mẹ bỏ đi, để lại Hồng sống cùng với bà cô nanh nọc, độc ác, luôn tìm cách đay nghiến, chì chiết mẹ cậu để cậu ghét bỏ mẹ. Nhưng bằng một tình yêu thương sắt đá Hồng không để những ý nghĩ rắp tâm ấy làm vấy bẩn hình ảnh mẹ trong lòng mình. Giây phút hai mẹ con gặp lại nhau gây niềm xúc động to lớn đối với người đọc. Hồng nằm gọn trong lòng mẹ, ôm ấp và cảm nhận hơi thở ấm áp, thơm tho mùi trẩu phả ra từ khuôn miêng xinh xắn của mẹ.

    Với Cuộc chia tay của những con búp bê, chúng ta lại nghẹn ngào xúc động về tình cảm anh em thắm thiết sâu nặng giữa Thành và Thủy. Vì cha mẹ không thể sống được cùng nhau mà buộc hai anh em phải mỗi người phải chia lìa đôi ngả. Những giọt nước mắt nghẹn ngào khi Thủy bước lên xe, còn Thành ở lại, làm ta không khỏi rưng rưng xúc động. Đọc đến cuối tác phẩm ta càng trân trọng và có ý thức giữ gìn hơn nữa tổ ấm, hạnh phúc gia đình.

    Bạn đến chơi nhà lại đem đến cho người đọc một cảm xúc khác về ý nghĩa của tình bạn. Nguyễn Khuyến tiếp đãi bạn thật nhiều điều thú vị, bất ngờ, tưởng là có mà hóa ra lại không có gì. Nhưng để từ chỗ không ấy, Nguyễn Khuyến đã đưa ra một kết luận đầy bất ngờ:

    Bác đến chơi đây ta với ta

    Câu thơ đề cao tình bạn chân thành, không màng danh lợi, vật chất tầm thường. Cụm từ ta với ta cho thấy sự hòa quyện, hai mà là một. Đây mới chính là một tình bạn đẹp đẽ, cao cả mà bất cứ ai cũng cần hướng đến.

    Ngoài ra, các tác phẩm văn chương còn khơi dậy tình làng nghĩa xóm đậm đà, thắm thiết. Ông cha ta vẫn thường có câu:

    Bán anh em xa mua láng giềng gần

    Để nói lên ý nghĩa tầm quan trọng của tình làng nghĩa xóm trong đời sống con người. Bà cụ trong đoạn trích Tức nước vỡ bờ chẳng phải là minh chứng tiêu biểu nhất đó sao. Gia cảnh khốn cùng của chị Dậu khiến bà không khỏi thương cảm, xót xa, ngay khi thấy anh Dậu về đã cho nắm gạo để nấu cháo, rồi còn bày cách để trốn lũ tay sai. Rồi đến ông giáo trong tác phẩm Lão Hạc, người bạn, người hàng xóm thân thiết của lão Hạc. Ông là người để lão Hạc phơi trải mọi nỗi lòng, tâm sự, cũng như gửi gắm những gì quý giá nhất của mình để lại cho con trai. Nếu không có ông giáo cuộc đời lão Hạc sẽ cô đơn và lẻ loi biết bao.

    Chỉ với những phân tích hết sức ngắn gọn ta cũng có thể thấy mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa văn học và tình thương. Văn học giúp con người sống Người hơn, nhân văn hơn, biết yêu thương và quý trọng những người xung quanh, biết sống chân thành, không vụ lợi, giả dối. Mục đích lớn nhất của văn chương chính là giúp con người hướng thiện, hướng con người đến cái đích chân – thiện – mĩ.

    Trả lời câu 3 soạn văn bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận trang 128

    Dàn ý

    Mở bài: Đặt vấn đề cần nghị luận.

    – Trong cuộc sống bên cạnh những điều tốt đẹp còn có nhiều tệ nạn có hại, hủy hoại con người và xã hội.

    – Nhiều thói quen có sức cám dỗ con người như cờ bạc, thuốc lá, ma túy, “truyền thông đen”…

    – Nếu con người không có bản lĩnh sẽ dần đi đến sa ngã vào những tệ nạn nguy hiểm trên. Vì vậy hãy nói “không” với tệ nạn xã hội.

    Thân bài:

    – Giải thích tệ nạn xã hội là gì:

    + Là những hành vi sai trái không đúng với chuẩn mực xã hội, phạm trù đạo đức, pháp luật. Tệ nạn xã hội là mối nguy hại , phá vỡ sự văn minh của xã hội.

    – Những biểu hiện cụ thể của tệ nạn xã hội.

    + Tệ nạn xã hội diễn ra ở nhiều nơi, ngay cả làng quê (nơi vốn được coi là yên bình.

    + Tệ nạn xã hội có thể xảy ra ở mọi đối tượng không riêng gì một cá nhân nào.

    + Tệ nạn xã hội xảy ra ở nhiều thời điểm, lứa tuổi, đối tượng khác nhau.

    – Tác hại của tệ nạn xã hội gây ra đối với đời sống của con người.

    + Dẫn ra tác hại về vật chất: làm tổn hại tới tài chính, kinh tế.

    + Tác hại về sức khỏe, tinh thần.

    + Tác hại về đạo đức, nhân cách sống.

    + Tác hại tệ nạn gây ra đối với xã hội, cộng đồng là rất lớn.

    – Cách phòng chống tệ nạn xã hội

    + Vơi cá nhân: cần trang bị đầy đủ các kiến thức về tệ nạn xã hội, phải hình thành lối sống lành mạnh, suy nghĩ tích cực…

    + Với gia đình: Cần giáo dục con cái sống tích cực, quản lí tốt thời gian, tiền bạc, nêu gương của người lớn…

    + Với xã hội: cần tuyên truyền, đưa ra khung pháp lý nghiêm.

    + Phòng chống tệ nạn xã hội phải được chú trọng bởi nó có ý nghĩa quan trọng với mỗi quốc gia, dân tộc, mang lại cuộc sống yên bình cho cộng đồng.

    + Tránh xa những tệ nạn xã hội con người có điều kiện và môi trường tích cực để phát triển bản thân.

    → Cần nói “không” với các tệ nạn xã hội, phải tìm hiểu kiến thức chung về tệ nạn xã hội và các biện pháp tránh xa tệ nạn xã hội.

    Kết bài: Mọi người đặc biệt là người trẻ cần tránh xa và kiên quyết nói “không” với tệ nạn xã hội. Nếu lỡ mắc phải thì cần quyết tâm từ bỏ, làm lại cuộc đời. Cần xây dựng lối sống và môi trường sống lành mạnh để phát triển cá nhân.

    Tuổi thanh thiếu niên chúng em là lứa tuổi đẹp nhất của đời người. Có nhiều thành ngữ, tục ngữ ca ngợi tuổi này như “Tuổi trăng tròn”, “Tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu”. Đó là lứa tuổi mà thể lực phát triển đến mức tối đa, đầu óc chứa đầy những ước mơ cao đẹp, khao khát cống hiến, hi sinh.

    Tuổi chúng em cũng là lứa tuổi có sức tiếp thu nhạy bén, ham tìm hiểu khoa học kĩ thuật nước ngoài, thích cái mới. Nhưng ngược lại, tuổi thanh niên cũng có những khuyết điểm như ham vui, dễ sa ngã, thân thiết với bạn bè, nhưng không biết phân biệt kẻ tốt người xấu.

    Chính vì thế mà có những nguy cơ đang rình rập, nhiều cạm bẫy đang chờ đợi chúng em. Đó là hiểm họa cờ bạc, ma tuý, và văn hóa phẩm không lành mạnh. Vậy, chúng ta hãy thử đi vào tìm hiểu vấn đề này!

    Cờ bạc là những trò chơi dựa vào sự may rủi, người chơi cờ bạc ban đẩu xuất phát từ giải trí nhưng sau đỏ bị “máu tham” nổi lên,không thể nào dừng lại được nữa! Hình thức của cờ bạc là sử dụng những lá bài tây, hoặc dựa vào xổ số để ghi đề, có người lại dựa vào những trận bóng đá hay những trận đua ngựa để “cá cược”. Tất cả đều là những hình thức khác nhau của cờ bạc mà thôi! Cờ bạc ngày xưa có hình thức đơn giản hơn, nhưng cũng làm cho bao người khánh kiệt, nhà tan cửa nát. Con mất cha, vợ mất chòng, cổ tích Việt Nam còn kể về những người đàn ông mê cờ bạc, mất hết tiền của, nhà đất rồi còn đem vợ đẹp ra mà đánh bạc!! Xem thế mới thấy cờ bạc có một “ma lực” thật đáng sợ! Người xưa có câu:

    “Cờ bạc là bác thằng bần

    Áo quần bán hết, tra chân vào cùm”

    Các học sinh, thanh niên chúng em nên lánh xa trò cờ bạc, vì trong giới này còn những tay chơi chuyên nghiệp, luôn lừa gạt những người mới vào để lấy tiền kẻ ngây thơ. Đó là loại người “cờ gian bạc lận” mà không thể nào chúng ta thắng nổi họ!

    Gần đây, thanh niên lại phải đối đầu với nguy cơ mới trên toàn thế giới: Ma túy!

    “Ma” là cây gai, nghĩa bóng còn chỉ thói quen không thể chừa được. “Tuý” là say. Ma tuý là chất gây say, gây nghiện, không thể chừa bỏ được khi đã vướng vào. Nó là một danh từ chỉ chung các chất: cần sa, cocain, á phiện, hêrôin vàcác chất kích thích khác như xì cọt, bồ đà, thuốc lắc… Theo lời những nạn nhân đã mắc vào ma túy thì nó có sức hấp dẫn một cách đáng sợ vì khi hút vào, nó làm người hút có một cảm giác lâng lâng kì lạ. Nhưng cạm bẫy tai hại của ma túy là khi đã hút vài lần thì không thể nào bỏ được nữa. Con nghiện bị cồn cào, cơn ghiện hành hạ thể xác đến độ mất hết lương tri, bằng mọi cách, người nghiện phải có thuốc, dù cho phải ăn cắp, cướp giựt hay là giết người, lừa gạt thân nhân để kiếm tiền hút chích! Họ có thể hành hung nhưng người xung quanh, người thân của chính mình mà không có ý thức. Căn bệnh ghiền ma túy ấy đã làm mất đi lí trí của người con ngoan, người anh tốt trong cộng đồng để trờ thành con nghiện nguy hiểm.

    Trong lúc chính quyền các nước và bao tổ chức an ninh chống buôn bán ma túy thì các con buôn thế giới sẵn sàng bỏ bao nhiêu tỉ đô la và súng đạn, giết bao nhiêu người để buôn ma túy, vì số tiền lời là khổng lồ!

    Con nghiện thường dùng nó dưới hình thức hút, chích để thỏa mãn cơn nghiện. Những kẻ khi đã nghiện thì đê mê, mất tỉnh táo về tinh thần, làm mất những kháng thể trong cơ thể, từ đó cơ thể suy nhược chỉ vì những chứng bệnhrất thông thường. Sự thiếu thuốc làm cho con nghiện mất hết lí trí, bị vật vã dữ dội và phải tìm mọi cách có tiền để thỏa mãn cơn nghiện bằng cách xin, mượn, lừa đảo, ăn cắp. Các thanh niên, học sinh khi đã đi vào con đường nghiện ngập sẽ đi cướp giật của người khác, thậm chí không ngần ngại hành hung người thân quen quanh mình để có được tiền đi hút. Việt Nam ta là một nước đang phát triển nên ma túy vẫn còn hoành hành khắp Bắc Nam… Mới đây ở Thị Nghè một thanh niên đang trong cơn nghiện đòi tiền của mẹ để đi hút, người mẹ không cho, con nghiện đã đốt nhà và trong lúc sơ sảy hắn đã bị điện giật chết trên nóc nhà mình. Đó là một trường hợp đau lòng đã xảy ra.

    Trong thời gian tiêm chích người bệnh sẽ bị suy nhược cơ thể, đánh mất nhân cách đạo đức và nguy hiểm nhất là có khả năng lây nhiễm cho người khác, làm lây lan dịch AIDS. Đối tượng học sinh là mục tiêu hàng đầu của những kẻ dụ dỗ buôn bán ma túy. Và cũng vì tính tò mò hiếu kì mà các em rất dễ sa ngã.

    Các lí do khác khiến thanh niên dễ sa vào ma tuý là họ có một lối sống thiếu lí tưởng, thừa tiền bạc, cha mẹ nuông chiều, thả lỏng, giải trí không lành mạnh và cặp kè với bạn xấu. Vì vậy Nhà nước ta cũng đã tuyên truyền, giáo dục học sinh và thực hiện các biện pháp nghiêm khắc với những học sính có hành vi tuyên truyền buồn bán ma tuý.

    Cai nghiện hêrôin không phải là dễ dàng vì ý chí con người dễ bị tàn lụi, không thể chống lại những cơn vật vã khổ cực của cơn đói thuốc (vã mồ hôi, co giật, cảm thấy như ngàn mũi kim đâm vào thịt, như triệu con giòi bò lúc nhúc trong thịt). Những người cai nghiện được sáu tháng, một năm, biết sự nguy hiểm của hẻroin đã làm khổ mình, gia đình mình hết sức, nhưng về nhà lại tái nghiện vì ý chí bị suy sụp.

    Tác hại lớn nhất của hêrôin là dẫn đến HIV/AIDS: bao nhiêu người dùng một ống tiêm (chích) chỉ cần một người nhiễm HIV chích chung sẽ làm lây nhiễm quađường máu cho kẻ khác một cách dễ dàng. Tuổi thọ của người nghiện hêrôin chỉ đếm được trên mấy đầu ngón tay, có người chích xong lăn đùng ra chết. Làm sao mà không chết khi đưa chất độc với những tạp chất (pha chế thêm) vào mình. Nểu người nghiện hêrôin nhiễm HIV thì sẽ nhanh chóng chuyển sang giai đoạn AIDS vì cơ thể suy sụp. HIV nhân bản mỗi ngày 10 tỉ siêu vi khuẩn, chỉ cần vài tuần con người đã trở thành “con vật HIV”. Nếu có thời gian theo dõi báo chí, chúng ta sẽ lo sợ biết bao trước hiểm họa của ma túy. Những số liệu thanh niên nghiện hút ngày càng tăng. Nhiều tội phạm buôn bán ma tuý đã bị bắt. Nhiều tổ chức tốt hươngs dẫn; giúp đỡ thanh thiếu niên đã được lập ra như: trung tâm cai nghiện Bình Triệu, trung tâm tư vấn sức khỏe cộng đồng, những tổ chức y tế dự phòng.

    Điều nguy hiểm hơn nữa là các văn hóa phẩm không lành mạnh như những phim ảnh thiếu đạo đức, nhiều án mạng hoặc nhiều kích thích về bản năng thấp hèn đang được lưu truyền rộng rãi. Trước nó lan truyền vào việt Nam bằng những cuộn băng đĩa xách tay từ nước ngoài, bây glờ lan truyền bằng con đường Internet!

    Ngay cả nhưng trò chơi có vẻ hết sức “lành mạnh” là game online, nếu các học sinh biết sử dụng đúng mức là một sự thư giãn vui vẻ, tập cho trí tuệ sắc sảo. Nhưng nếu các học sinh nhịn tiền quà bánh, trốn thầy cô, cha mẹ vào một tiệm “game online” thường xuyên, mỗi ngày hai đến bốn giờ đồng hồ, thì kết quả học tập sẽ thế nào? Sức khỏe các em ấy sẽ ra sao nếu không phải là những gương mặt tiều tụy thiếu trí nhớ lúc kiểm tra bàỉ và thiếu, ngủ thường xuyên?

    Mong sao em và các bạn của mình tránh xa được các tệ nạn cờ bạc, ma túy AIDS và những văn hóa phẩm tồi tệ! Ước gì các học sinh chúng ta luôn yêu thích giải trí lành mạnh như là thể thao ca nhạc, du lịch, xem phim hoặc đọc sách. Những thứ giải trí ấy vừa hấp dẫn, vừa bổ ích, vừa nâng cao kiến thức và đưa em đến những chân trời tuyệt diệu.

    Tags: soạn văn lớp 8, soạn văn lớp 8 tập 2, giải ngữ văn lớp 8 tập 2, soạn văn lớp 8 bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận ngắn gọn , soạn văn lớp 8 bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận siêu ngắn

    --- Bài cũ hơn ---

  • 2 Bài Văn Mẫu Viết Bài Tập Làm Văn Số 7 Lớp 8 Đề 3: Nói Không Với Tệ Nạn Xã Hội Hay Nhất.
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8
  • Soạn Viết Bài Tập Làm Văn Số 6 Siêu Ngắn
  • Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Lớp 8 Văn Tự Sự Kết Hợp Với Miêu Tả Và Biểu Cảm Hay Nhất
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Cảm Xúc Mùa Thu Ngắn Gọn Nhất Văn 10: Bài Thơ Có Thể Chia Làm Mấy Phần?

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Cảm Xúc Mùa Thu Ngắn Gọn Lớp 10
  • Soạn Bài Cảm Xúc Mùa Thu Lớp 10 Ngắn Nhất
  • Top 3 Soạn Bài Lao Xao Ngắn Nhất.
  • Soạn Bài: Lao Xao (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài: Qua Đèo Ngang
  • Soạn bài Cảm xúc mùa thu (ngắn gọn) – Đỗ Phủ Văn 10. Câu 1: Sở dĩ chia bài thơ thành hai phần như vậy bởi lẽ; Hai phần này có tính độc lập nhất định (4 câu đầu thiên về tả cảnh, 4 câu sau thiên về tả tình)…

    Câu 1. Bài thơ có thể chia làm mấy phần? Vì sao lại chia như vậy? Hãy xác định nội dung của mỗi phần

    – Bài thơ có thể chia làm 2 phần

    + Phần 1 (4 câu đầu): miêu tả cảnh mùa thu

    + Phần 2 (4 câu thơ sau): cảm hứng của thi nhân khi cảnh thu về trên đất khách

    Sở dĩ chia bài thơ thành hai phần như vậy bởi lẽ; Hai phần này có tính độc lập nhất định (4 câu đầu thiên về tả cảnh, 4 câu sau thiên về tả tình). Chính bởi lí do này nên dù đây là một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật nhưng ta vẫn có thể chia làm hai phần để phân tích, tìm hiểu.

    Câu 2. Nhận xét về tầm nhìn của nhà thơ trong bốn câu thơ đầu và bốn câu thơ cuối. Vì sao có sự thay đổi ấy?

    – Tầm nhìn từ bốn câu đầu đến bốn câu sau có sự thay đổi:

    + Bốn câu đầu: là không gian trong tầm nhìn xa (rừng phong), là cảnh thu “ngậm” (hàm) tình thu

    + Bốn câu sau: từ không gian xa rút về không gian cận kề (khóm cúc, con thuyền) để rồi sau đó thực cảnh nhập vào tâm cảnh.

    – Lí giải sự thay đổi ấy: do sự thay đổi của thời gian nên tầm nhìn có sự thay đổi. chiều dần buông, tầm nhìn con người sẽ bị thu hẹp. Thêm vào đó, để phù hợp với tứ thơ lần từ cảnh đến tình thì không gian từ bao la, rộng lớn cũng rút về thành thứ không gian nội tâm.

    Câu 3. – Mối quan hệ giữa bốn câu đầu và bốn câu sau: cả hai cùng góp phần tạo nên một bức tranh mùa thu trầm hùng bi tráng, bốn câu thơ đầu miêu tả cảnh thu ở một không gian rộng, bốn câu sau là miêu tả cảnh thu ở một không gian hẹp. Nó cũng thể hiện mối quan hệ trong sự vận hành của tứ thơ là đi từ cảnh đến tình, cảnh khởi sinh tình và tình thấm sâu vào cảnh.

    II. Luyện tập

    – Mối quan hệ giữa toàn bài với nhan đề: Bài thơ có nhan đề là Thu hứng (cảm xúc mùa thu). Do đó toàn bộ bài thơ, từ hình ảnh đến câu chữ đều chuyển tải tình cảm của thi nhân trước cảnh sắc mùa thu. Bốn câu thơ đầu dù miêu tả cảnh thu nhưng hàm ẩn trong đó là nỗi u uất của lòng thi nhân, bốn câu sau tâm sự của thi nhân lại thấm đẫm vào cảnh, từ tình mà cảm cảnh tạo nên hai hình ảnh gợi buồn đến ám ảnh.

    Câu 1. So sánh bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ với phần phiên âm và dịch nghĩa.

    Bản dịch thơ cơ bản đã thể hiện được khá sắc sảo tinh thần của bài thơ. Bản dịch có thể coi là khá đạt. Song cũng có chỗ không sát thậm chí có phần khác hẳn so với bản phiên âm và dịch nghĩa. Ở câu đầu, bản dịch thơ chưa chuyển tải được ý nghĩa của từ “điêu thương” – đây là một tính từ đã được động từ hóa (làm tiêu điều). Vì vậy ở trong bản phiên âm nó mang nghĩa rất mạnh – chỉ sự tàn phá khắc nghiệt của sương móc đối với rừng phong. Chữ “thẳm” trong câu ba (bản dịch) chưa thật sát nghĩa. Đồng thời nó còn làm cho âm hưởng thơ trầm xuống. Câu 5, bản dịch bỏ mất chữ “lưỡng khai” – là một từ quan trọng của bản phiên âm – nhấn mạnh số lần lặp lại. Cũng vậy ở câu 6, chữ “cô” chưa dịch được làm cho câu thơ chưa thật sự thể hiện được nỗi lòng của kẻ li hương.

    Câu 2. Chữ “lệ” trong câu 5 chỉ nước mắt của nhà thơ hay nước mắt của “khóm cúc”.

    Chữ “lệ” trong câu thơ thứ 5 có rất nhiều cách hiểu. Ta có thể hiểu là nước mắt hoa cúc nhưng trong nguyên tác chữ Hán hoa cúc nở hai lần, tác giả so sánh những cánh hoa cúc với những giọt nước mắt nên nói hoa cúc hai lần nhỏ lệ. Ta cũng có thể hiểu hai lần hoa cúc nở cũng là hai lần nhà thơ nhỏ lệ (nhà thơ đã xa quê hương hai năm).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Cảm Xúc Mùa Thu
  • Soạn Chiều Xuân Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Chiều Xuân Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Vội Vàng Siêu Ngắn
  • Soạn Văn Lớp 11 Bài Vội Vàng Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Văn Lớp 11 Bài Vội Vàng Ngắn Gọn Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Vội Vàng Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Chiều Xuân Ngắn Nhất
  • Soạn Chiều Xuân Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Cảm Xúc Mùa Thu
  • Soạn Bài Cảm Xúc Mùa Thu Ngắn Gọn Nhất Văn 10: Bài Thơ Có Thể Chia Làm Mấy Phần?
  • Soạn văn lớp 11 bài Vội vàng ngắn gọn hay nhất : Câu 2 (trang 23 SGK Ngữ văn 11 tập 2) Xuân Diệu cảm nhận về thời gian như thế nào? Vì sao nhà thơ có tâm trạng vội vàng, cuống quýt trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian? Câu 3 (trang 23 SGK Ngữ văn 11 tập 2) Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc được tác giả cảm nhận và diễn tả như thế nào? Hãy chỉ ra những nét mới trong quan niệm của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc.

    Câu 1 (trang 23 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

    Bài thơ có thể chia làm mấy đoạn? Nêu ý chính của từng đoạn.

    Câu 2 (trang 23 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

    Xuân Diệu cảm nhận về thời gian như thế nào? Vì sao nhà thơ có tâm trạng vội vàng, cuống quýt trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian?

    Câu 3 (trang 23 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

    Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc được tác giả cảm nhận và diễn tả như thế nào? Hãy chỉ ra những nét mới trong quan niệm của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc.

    Câu 4 (trang 23 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

    Hãy nhận xét về đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ và nhịp điệu của đoạn thơ cuối bài. Nhà thơ đã sáng tạo được hình ảnh nào mà anh (chị) cho là mới mẻ, độc đáo nhất?

    Sách giải soạn văn lớp 11 bài Vội vàng

    Bài thơ chia thành 3 phần:

    – Đoạn 1 ( 13 câu thơ đầu): bộc lộ tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết

    – Đoạn 2 ( câu 14 tới câu 29): thể hiện sự nuối tiếc về kiếp người và thời gian

    – Đoạn 3 (còn lại): giục giã cuống quýt, vội vàng để tận hưởng tuổi trẻ và cuộc đời.

    Tác giả cảm nhận thời gian tự nhiên, thời gian khách quan muôn đời vẫn như thế. Nhưng quan niệm về thời gian, cảm nhận về thời gian thì mỗi thời đại, mỗi con người lại khác nhau

    Cảm nhận thời gian thông qua lăng kính của Xuân Diệu chưa nhiều triết lý nhân sinh sâu sắc.

    – Thời gian của thi nhân gắn liền với mùa xuân và tuổi trẻ của một người yêu cuộc sống tha thiết, đắm say, nên mang nét riêng biệt của Xuân Diệu

    Thời gian và mùa xuân

    – Người xưa quan niệm thời gian: tuần hoàn vĩnh cửu, con người gắn chặt với cộng đồng nên chết vẫn chưa là hết hẳn, vẫn cùng tồn tại với trời đất.

    – Xuân Diệu có quan điểm ngược lại, thời gian tuyến tính, một đi không trở lại.

    Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

    Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

    – Nhà thơ lo sợ khi vũ trụ còn mãi, thời gian vô tận mà đời người lại hữu hạn, tuổi trẻ “chẳng hai lần thắm lại”

    – Thời gian trong cảm nhận của nhà thơ đầy nuối tiếc, mất mát, chia lìa

    → Cách cảm nhận thời gian là sự thức tỉnh sâu sắc “cái tôi” cá nhân, sự tồn tại có ý nghĩa mỗi cá nhân trên đời nên nâng niu, trân trọng, từng giây phút của cuộc đời.

    Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc qua lăng kính độc đáo của tác giả

    – Thiên nhiên sự sống gợi lên gần giũi, tình tứ. Nhà thơ phát hiện vẻ đẹp kì diệu của tự nhiên, và thổi vào đó tình yêu rạo rực, say đắm.

    + Này đây tuần tháng mật

    + Đồng nội xanh rì

    + Cành tơ phơ phất

    + Khúc tình si…

    – Thiên nhiên nhuốm màu chia li, mất mát ” mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi” → hình ảnh thiên nhiên và cuộc sống qua lăng kính thời gian trôi nhanh chóng, không bao giờ trở lại

    – Tác giả nhìn thiên nhiên qua lăng kính tuổi trẻ, tình yêu, cảnh vật nhuốm màu tình tứ, tràn ngập xuân tình

    – Lấy con người làm thước đo cho vẻ đẹp của thiên nhiên: đây là cách nhìn mới mẻ, đậm chất Xuân Diệu

    – Qua đó nhà thơ thể hiện quan niệm mới về cuộc sống, tuổi trẻ, hạnh phúc .

    + Đối với Xuân Diệu thế giới đẹp nhất khi con người ở tuổi trẻ và tình yêu: hạnh phúc lớn nhất của con người là tình yêu, thời gian quý giá nhất của mỗi người là tuổi trẻ

    → Biết hưởng thụ những điều chính đáng cho cuộc sống dành cho mình, sống mãnh liệt, hết mình những năm tháng tuổi trẻ

    Đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu của đoạn thơ:

    + Hình ảnh trong đoạn thơ thứ ba gần gũi, quen thuộc, tươi mới, giàu sức sống, đầy tính quyến rũ, tình tứ nhưng cũng mới mẻ, đột phá

    + Ngôn ngữ gần với ngôn từ đời thường, được nâng lên tầng nghệ thuật

    + Cảm xúc chân thành, dạt dào, mãnh liệt đã tạo nên những làn sóng ngôn từ đan vào nhau, vừa cộng hưởng với nhau theo chiều tăng tiến.

    + Sử dụng nhiều động từ mạnh, tăng tiến, chỉ sự đắm say mãnh liệt, nồng cháy, cộng với những danh từ chỉ vẻ đẹp của tuổi trẻ; nhiều tính từ chỉ xuân sắc

    + Nhịp điệu thơ sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt.

    Câu hỏi Phần Luyện Tập bài Vội vàng lớp 11 tập 2 trang 23

    Trong Nhà văn hiện đại, nhà phê bình, nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan đã viết: “Với những nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”.

    Sách giải soạn văn lớp 11 bài Phần Luyện Tập

    Trả lời câu soạn văn bài Phần Luyện Tập trang 23

    Nhận định của Vũ Ngọc Phan chủ yếu nói về lòng yêu đời, yêu cuộc sống mãnh liệt trong thơ Xuân Diệu

    – Đó là giọng điệu thấm thía. Lòng yêu đời đó xuất phát từ hai nguồn cảm hứng mới, đó là đề tài xuyên suốt trong thơ Cách mạng của Xuân Diệu

    – Tác giả chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa tuổi trẻ với tình yêu, giữa thời gian với cuộc đời con người

    – Dù ở tâm trạng nào, thơ Xuân Diệu cũng bộc lộ lòng yêu đời, yêu người trong thơ của mình

    – Sự hối hả, sự khao khát sống, khao khát yêu đương đã thôi thúc nhà thơ

    Tags: soạn văn lớp 11, soạn văn lớp 11 tập 2, giải ngữ văn lớp 11 tập 2, soạn văn lớp 11 bài Vội vàng ngắn gọn , soạn văn lớp 11 bài Vội vàng siêu ngắn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Vội Vàng (Ngắn Gọn)
  • Soạn Văn 11 Ngắn Nhất Bài: Vội Vàng
  • Soạn Bài Tương Tư Ngắn Gọn Nhất
  • Soạn Bài Tương Tư (Nguyễn Bính)
  • Soạn Tương Tư Siêu Ngắn
  • Soạn Văn 11 Ngắn Nhất Bài: Vội Vàng

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Vội Vàng (Ngắn Gọn)
  • Soạn Văn Lớp 11 Bài Vội Vàng Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Vội Vàng Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Chiều Xuân Ngắn Nhất
  • Soạn Chiều Xuân Siêu Ngắn
  • Câu 1: Bài thơ có thể chia làm mấy đoạn? Nêu ý chính của từng đoạn.

    Câu 2: Xuân Diệu Cảm nhận về thời gian như thế nào? Vì sao nhà thơ có tâm trạng vội vàng, cuống quýt trước sự thay đổi nhanh chóng của thời gian?

    Câu 3: Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc được tác giả cảm nhận và diễn tả như thế nào? Hãy chỉ ra những nét mới trong quan niệm của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc.

    Câu 4: Hãy nhận xét về đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu trong đoạn thơ cuối của bài thơ. Nhà thơ đã sáng tạo được hình ảnh nào mà anh (chị) cho là mới mẻ, độc đáo nhất?

    Luyện tập

    Câu 1: Trong “Nhà văn hiện đại”, nhà phê bình, nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan đã viết: “Với nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng du thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”.

    Qua phân tích bài thơ Vội vàng anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

    Câu 2: Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật trong Vội vàng của Xuân Diệu

    Câu 3: Tâm thế sống của Xuân Diệu qua bài thơ “Vội vàng”

    Câu 1: Bài thơ có thể chia làm 3 đoạn:

    Đoạn 1 (13 câu đầu): tình yêu tha thiết đối với cuộc sống.

    Đoạn 2 (câu 14 – 29): tâm trạng băn khoăn của tác giả trước giới hạn của cuộc đời.

    Đoạn 3 (đoạn còn lại): lời giục giã hối hả, cuồng nhiệt đến với cuộc sống.

    Câu 2: Cảm nhận của Xuân Diệu về thời gian:

      Thời gian gắn liền với mùa xuân và tuổi trẻ của một con người yêu cuộc sống thiết tha, say đắm

    Nhà thơ có tâm trạng vội vàng, cuống quýt trước sự thay đổi nhanh chóng của thời gian vì:

    Thời gian tuyến tính, thời gian trôi qua rất nhanh và như một dòng chảy xuyên suốt không bao giờ trở lại

    Tác giả thể hiện tình yêu với mùa xuân, tuổi trẻ, cuộc đời

    Tác giả yêu tha thiết cuộc sống này nên thời gian trôi qua nhanh làm tác giả vô cùng luyến tiếc.

    Câu 3: Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc được cảm nhận:

    Quan niệm hạnh phúc không ở đâu xa mà đó chính là hạnh phúc ở quanh ta.

    Hạnh phúc khi được cảm nhận một bức tranh thiên nhiên đẹp của hoa lá đồng nội, của ong bướm, chim chóc.

    Phải biết giữ lấy hạnh phúc, giữ lại những vẻ đẹp của cuộc sống cho mình bằng những ý tưởng thật táo bạo.

    Nét mới trong quan niệm của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc:

    Xuân Diệu yêu tuổi trẻ và biết quý tuổi trẻ, xem đó là khoảng thời gian đẹp và đáng sống nhất

    Mùa xuân của đất trời còn có thể tuần hoàn, nhưng tuổi xuân của đời ng nếu đã trôi qua đi thì mất đi vĩnh viễn

    Hãy nâng niu trân trọng từng giây phút của cuộc đời, nhất là những năm tháng của tuổi trẻ.

    Câu 4: Trong đoạn thơ cuối này, hàng loạt hình ảnh tiếp tục làm nổi bật vẻ quyến rũ của sự sống đầy sắc hương nhưng không phải để tả mà chủ yếu để diễn đạt sự cuồng nhiệt, vội vàng tận hưởng của tác giả.

    Hàng loạt động từ tăng dần mức độ sự vồ vập, đắm say: ôm, riết, say, thâu, chếnh choáng, đã đầy, no nê, cắn, Thủ pháp điệp được sử dụng đa dạng, Nét độc đáo về nghệ thuật của đoạn thơ đó là những làn sóng ngôn từ đan xen, cộng hưởng theo chiều tăng tiến đã diễn tả rất thành công khao khát mãnh liệt của tác giả.

    Luyện tập

    Câu 1: “Với nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng du thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”

    Câu nói của Vũ Ngọc Phan là một nhận định chung, mang tính khái quát về Xuân Diệu và thơ Xuân Diệu. Nhận định đó có hai ý:

    Thơ Xuân Diệu có hai nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân.

    Dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía

    Lời giục giã thế hệ trẻ sống vội vàng, sống cuống quít để hưởng thụ hết những gì đẹp đẽ nhất của cuộc đời

    Thế hiện lòng ham sống mãnh liệt của cái tôi Xuân Diệu rất hiện đại cùng với một quan niệm sống mới mẻ về thời gian, tuổi trẻ và hạnh phúc

    Khao khát sống mãnh liệt và một tâm thế chủ động, sẵn sàng hưởng thụ, sẵn sàn đến với hạnh phúc của mình

    Giá trị nghệ thuật:

    Cách liên tưởng, so sánh mới lạ với những hình ảnh thơ độc đáo, giàu sức gợi cảm, gợi hình

    Thủ pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác

    Một loạt những hình ảnh nhân hóa, biện pháp điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc và các động từ mạnh đã tạo ra nhịp điệu cuống quít, hối hả, rộn rã

    Câu 3: Tâm thế sống của Xuân Diệu qua bài thơ “Vội vàng”

    Bài viết tham khảo

    Hồn thơ Xuân Diệu là nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết”. Những lời bình phẩm sâu sắc ấy của Hoài Thanh dành cho Xuân Diệu có lẽ đã đủ nói về một nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” – một hồn thơ lúc nào cũng “thiết tha, rạo rực, băn khoăn”. Xuân Diệu là một cây bút có sức sáng tạo mãnh liệt, dồi dào và bền bỉ trong nền văn học Việt Nam. Ông đã đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo. Trong số những bài thơ làm nên tên tuổi của ông hoàng thơ Mới này thì “Vội vàng” được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất thể hiện cá tôi cá nhân và quan điểm sống đầy mới mẻ của nhà thơ.

    Bài thơ là dòng cảm xúc mãnh liệt, dào dạt tuôn trào nhưng vẫn theo mạch lập luận, bố cục vô cùng chặt chẽ. Qua từng khổ thơ, tác giả đã bộc lộ một niềm khao khát sống mãnh liệt và quan niệm vô cùng độc đáo về thời gian và tuổi trẻ.

    Ngay từ khổ thơ đầu tiên, Xuân Diệu đã thể hiện một tình yêu cuộc sống nồng nhiệt và thiết tha. Điệp từ “tôi muốn” kết hợp cùng các động từ mạnh bộc lộ mong muốn, khát vọng mãnh liệt của tác giả: điều khiển tự nhiên. Đây là ước muốn táo bạo và phi thực tế, bởi từ xưa đến nay, nào ai có thể chi phối sự vận hành của thiên nhiên vạn vật, nào ai có thể níu giữ dòng chảy thời gian? Tuy nhiên, Xuân Diệu vẫn can đảm nói lên khát vọng muốn “tắt nắng”, “buộc gió”, bởi ông hiểu được, sắc thắm nào rồi cũng nhạt, hương nồng nào rồi cũng phai, mùa xuân và tuổi trẻ chẳng thể dừng lại mãi. Xuân Diệu yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thiết tha nên luôn muốn níu kéo thời gian ở lại.

    Sang khổ thơ thứ hai, tác giả vẽ nên một bức tranh thiên đường nơi trần thế. Hình ảnh thiên nhiên vạn vật quen thuộc qua cái nhìn độc đáo của nhà thơ trở nên thật mới lạ và hấp dẫn. Hai chữ “Này đây” được nhắc đến nhiều lần không gợi sự thừa thãi trong câu chữ mà tô đậm không gian và thời gian thơ. Xuân Diệu khẳng định, nơi đẹp đẽ nhất không ở đâu xa xôi mà chính là cuộc đời trần thế. Nơi đây có ong bướm dập dìu, yến anh tình tự và sắc xanh đồng nội. Nơi đây còn có âm thanh của khúc tình si, có ánh sáng ban mai trong trẻo.

    Hình ảnh thiên nhiên và sự sống được Xuân Diệu vẽ lên vừa gần gũi, quen thuộc, vừa quyến rũ, đầy tình tứ. Nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó một tình yêu rạo rực, say đắm. Có thể thấy, Xuân Diệu đã nhìn thiên nhiên vạn vật dưới lăng kính của tình yêu, qua đôi mắt của tuổi trẻ. Nhờ vậy, tất cả đều như ngập trong xuân tình ngọt ngào và đẹp đẽ.

    Từ giọng điệu đắm say, rạo rực của khổ thơ thứ hai, sang khổ ba, giọng điệu chuyển sang bàng hoàng, lo lắng. Xuân Diệu trở nên hoài nghi, chán nản, hoảng hốt, lo lắng trước bước đi vùn vụt của thời gian. Mùa xuân tươi đẹp, rực rỡ nhưng mùa xuân cũng chính là dự cảm về bước đi vùn vụt của thời gian. Mùa xuân qua đi kéo theo tuổi trẻ và tình yêu, cái quý giá nhất của đời người. Bởi thiên nhiên tươi đẹp là vĩnh hằng còn đời người lại hữu hạn.

    Tâm trạng đau khổ tuyệt vọng của thi nhân dường như bao trùm lên cả thiên nhiên khiến cảnh vật mất đi vẻ vô tư của nó, cũng buồn, cũng sợ hãi, cũng thảng thốt. Tất cả hiện vật, sự vật trên thế gian đều đượm nỗi buồn chia li, xa cách: núi sông buông lời than tiễn biệt, gió chim mang nỗi nợ phải bay đi,… Cảm nhận rất rõ được điều ấy, thi sĩ thốt lên trong sự tiếc nuối: “Chẳng bao giờ, ôi, chẳng bao giờ nữa…”, để rồi ngay sau đó là lời giục giã: “Mau đi thôi. Mùa chưa ngả chiều hôm”.

    “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!” là hình ảnh vô cùng mạnh mẽ, táo bạo. Ở đây, sự đam mê nồng nhiệt, đắm say dường như đã được đẩy lên đến cực điểm. Phải yêu cuộc sống đến mức nào, nhà thơ mới có thể thốt lên câu thơ đầy táo bạo và thiết tha như thế?

    Có thể nói, “Vội vàng” là một thông điệp sống đầy ý nghĩa của một hồn thơ yêu đời nồng nhiệt: hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây từng phút của cuộc đời mình, nhất là những năm tháng tuổi trẻ quý giá của đời người. Nó được gửi gắm qua những hình ảnh, ngôn ngữ thơ độc đáo, đầy sáng tạo cùng giọng điệu say mê, cuồng nhiệt, sôi nổi. Chính lòng yêu cuộc sống thiết tha, khát vọng sống mãnh liệt cùng nỗi sợ hãi, lo lắng trước cái hữu hạn của đời người đã khiến thi nhân phải sống vội vàng, sống cuống quýt. Nhưng đó là sống vội vàng một cách có ý thức, là sống một cách hết mình cho từng phút từng giây của cuộc đời, sao cho mỗi thời khắc trôi qua đều mang ý nghĩa, đều không phí phạm.

    Câu 1: Bài thơ gồm có 3 đoạn lần lượt như sau: tình yêu tha thiết đối với cuộc sống (13 câu đầu); tâm trạng băn khoăn của tác giả trước giới hạn của cuộc đời (câu 14 – 29) và lời giục giã hối hả, cuồng nhiệt đến với cuộc sống (đoạn còn lại).

    Câu 2: Cảm nhận về thời gian cùa Xuân Diệu được nói đến trong 11 câu mang ý vị triết lí nhân sinh sâu sắc. Cảm nhận về thời gian của thi nhân ở đây gắn liền với mùa xuân và tuổi trẻ của một con người yêu cuộc sống thiết tha, say đắm

    Câu 3: Xuân Diệu quan niệm hạnh phúc không ở đâu xa mà đó chính là hạnh phúc ở quanh ta, là sự sống quen thuộc của trần thế. Hạnh phúc khi được cảm nhận một bức tranh thiên nhiên đẹp của hoa lá đồng nội, của ong bướm, chim chóc

    Ở đây quan niệm của tác giả về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc có nhiều điểm mới: nhà thơ đă có một cách sống vội vàng để tận hưởng hạnh phúc của tuổi trẻ, hãy nâng niu trân trọng từng giây phút của cuộc đời, nhất là những năm tháng của tuổi trẻ.

    Câu 4: Nhận xét về đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu trong đoạn thơ cuối của bài thơ:

    Hàng loạt động từ tăng dần mức độ sự vồ vập, đắm say: ôm, riết, say, thâu, chếnh choáng, đã đầy, no nê, cắn

    Thủ pháp điệp được sử dụng đa dạng: điệp cú pháp; điệp từ, ngữ; điệp cảm xúc theo lối tăng tiến

    Những làn sóng ngôn từ đan xen, cộng hưởng theo chiều tăng tiến đã diễn tả rất thành công khao khát mãnh liệt của tác giả.

    Luyện tập

    Câu 1: Câu nói của Vũ Ngọc Phan “Với nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng du thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”

    Qua Thơ Xuân Diệu, ta thấy có hai nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân. Dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía.

    – Lúc vui: đều ru thanh niên bằng giọng yêu đời thắm thiết

    – Lúc buồn: Ngay cả khi lo sợ thời gian trôi nhanh cướp mất tuổi xuân của mình, nhà thơ băn khoăn lo lắng, nhưng trong cái băn khoăn đó vẫn bộc lộ niềm yêu đời, yêu cuộc sống của mình.

    Câu 2: Giá trị nội dung của bài tời giục giã thế hệ trẻ sống vội vàng, sống cuống quít để hưởng thụ hết những gì đẹp đẽ nhất của cuộc đời và khao khát sống mãnh liệt và sống hết mình với tuổi trẻ

    Giá trị nghệ thuật: cách liên tưởng, so sánh mới lạ với những hình ảnh thơ độc đáo, giàu sức gợi cảm, gợi hình, thủ pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác và một loạt những hình ảnh nhân hóa, biện pháp điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc và các động từ mạnh đã tạo ra nhịp điệu cuống quít, hối hả, rộn rã

    Câu 3: Tâm thế sống của Xuân Diệu qua bài thơ “Vội vàng”

    Bài viết tham khảo

    “Vội vàng” được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất thể hiện cá tôi cá nhân và quan điểm sống đầy mới mẻ của nhà thơ Xuân Diệu. Bài thơ là dòng cảm xúc mãnh liệt, dào dạt tuôn trào nhưng vẫn theo mạch lập luận, bố cục vô cùng chặt chẽ. Qua từng khổ thơ, tác giả đã bộc lộ một niềm khao khát sống mãnh liệt và quan niệm vô cùng độc đáo về thời gian và tuổi trẻ.

    Ngay từ khổ thơ đầu tiên, Xuân Diệu đã thể hiện một tình yêu cuộc sống nồng nhiệt và thiết tha. Điệp từ “tôi muốn” kết hợp cùng các động từ mạnh bộc lộ mong muốn, khát vọng mãnh liệt của tác giả: điều khiển tự nhiên. Đây là ước muốn táo bạo và phi thực tế, bởi từ xưa đến nay, nào ai có thể chi phối sự vận hành của thiên nhiên vạn vật, nào ai có thể níu giữ dòng chảy thời gian? Tuy nhiên, Xuân Diệu vẫn can đảm nói lên khát vọng muốn “tắt nắng”, “buộc gió”, bởi ông hiểu được, sắc thắm nào rồi cũng nhạt, hương nồng nào rồi cũng phai, mùa xuân và tuổi trẻ chẳng thể dừng lại mãi. Xuân Diệu yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thiết tha nên luôn muốn níu kéo thời gian ở lại.

    Sang khổ thơ thứ hai, tác giả vẽ nên một bức tranh thiên đường nơi trần thế. Hình ảnh thiên nhiên vạn vật quen thuộc qua cái nhìn độc đáo của nhà thơ trở nên thật mới lạ và hấp dẫn. Hai chữ “Này đây” được nhắc đến nhiều lần không gợi sự thừa thãi trong câu chữ mà tô đậm không gian và thời gian thơ. Xuân Diệu khẳng định, nơi đẹp đẽ nhất không ở đâu xa xôi mà chính là cuộc đời trần thế. Nơi đây có ong bướm dập dìu, yến anh tình tự và sắc xanh đồng nội. Nơi đây còn có âm thanh của khúc tình si, có ánh sáng ban mai trong trẻo.

    Hình ảnh thiên nhiên và sự sống được Xuân Diệu vẽ lên vừa gần gũi, quen thuộc, vừa quyến rũ, đầy tình tứ. Nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó một tình yêu rạo rực, say đắm. Có thể thấy, Xuân Diệu đã nhìn thiên nhiên vạn vật dưới lăng kính của tình yêu, qua đôi mắt của tuổi trẻ. Nhờ vậy, tất cả đều như ngập trong xuân tình ngọt ngào và đẹp đẽ.

    Từ giọng điệu đắm say, rạo rực của khổ thơ thứ hai, sang khổ ba, giọng điệu chuyển sang bàng hoàng, lo lắng. Xuân Diệu trở nên hoài nghi, chán nản, hoảng hốt, lo lắng trước bước đi vùn vụt của thời gian. Mùa xuân tươi đẹp, rực rỡ nhưng mùa xuân cũng chính là dự cảm về bước đi vùn vụt của thời gian. Mùa xuân qua đi kéo theo tuổi trẻ và tình yêu, cái quý giá nhất của đời người. Bởi thiên nhiên tươi đẹp là vĩnh hằng còn đời người lại hữu hạn.

    Tâm trạng đau khổ tuyệt vọng của thi nhân dường như bao trùm lên cả thiên nhiên khiến cảnh vật mất đi vẻ vô tư của nó, cũng buồn, cũng sợ hãi, cũng thảng thốt. Tất cả hiện vật, sự vật trên thế gian đều đượm nỗi buồn chia li, xa cách: núi sông buông lời than tiễn biệt, gió chim mang nỗi nợ phải bay đi,… Cảm nhận rất rõ được điều ấy, thi sĩ thốt lên trong sự tiếc nuối: “Chẳng bao giờ, ôi, chẳng bao giờ nữa…”, để rồi ngay sau đó là lời giục giã: “Mau đi thôi. Mùa chưa ngả chiều hôm”.

    “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!” là hình ảnh vô cùng mạnh mẽ, táo bạo. Ở đây, sự đam mê nồng nhiệt, đắm say dường như đã được đẩy lên đến cực điểm. Phải yêu cuộc sống đến mức nào, nhà thơ mới có thể thốt lên câu thơ đầy táo bạo và thiết tha như thế?

    Có thể nói, “Vội vàng” là một thông điệp sống đầy ý nghĩa của một hồn thơ yêu đời nồng nhiệt: hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây từng phút của cuộc đời mình, nhất là những năm tháng tuổi trẻ quý giá của đời người. Nó được gửi gắm qua những hình ảnh, ngôn ngữ thơ độc đáo, đầy sáng tạo cùng giọng điệu say mê, cuồng nhiệt, sôi nổi. Chính lòng yêu cuộc sống thiết tha, khát vọng sống mãnh liệt cùng nỗi sợ hãi, lo lắng trước cái hữu hạn của đời người đã khiến thi nhân phải sống vội vàng, sống cuống quýt. Nhưng đó là sống vội vàng một cách có ý thức, là sống một cách hết mình cho từng phút từng giây của cuộc đời, sao cho mỗi thời khắc trôi qua đều mang ý nghĩa, đều không phí phạm.

    Câu 1: Bài thơ gồm 3 đoạn:

    Câu 2: Cảm nhận về thời gian cùa Xuân Diệu là cảm nhận về thời gian của thi nhân ở đây gắn liền với mùa xuân và tuổi trẻ. Thời gian trôi đi nhanh chóng và không bao giờ trở lại được nữa, thời gian trôi đi còn mang theo cả sự phôi pha, phai tàn của vạn vật vậy nên tác giả mới cuống quýt, vội vàng để tuổi trẻ của mình trôi qua không uổng phí.

    Câu 3: Hạnh phúc khi cảm nhận bức tranh thiên nhiên đẹp của hoa lá đồng nội, của ong bướm, chim chóc, tác giả yêu tuổi trẻ và biết quý tuổi trẻ, của mình bởi đây là khoảng thời gian đẹp và đáng sống nhất, hãy nâng niu trân trọng từng giây phút của cuộc đời,

    Câu 4: Đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu trong đoạn thơ cuối của bài thơ:

    Luyện tập

    Câu 1: “Với nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng du thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”

    Qua vội vàng ta thấy nhận định của Vũ Ngọc Phan về Xuân Diệu là ông có 2 nguồn cảm hứng ((yêu đương và tuổi xuân) và dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía.

    Câu 2: Nội dung: lời giục giả thế hệ trẻ hãy sống vội vàng, niềm khao khát hãy sống hết mình với tuổi trẻ của tác giả qua nghệ thuật liên tưởng, so sánh, thủ pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác và loạt những hình ảnh nhân hóa, biện pháp điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc và các động từ mạnh.

    Câu 3: Tâm thế sống của Xuân Diệu qua bài thơ “Vội vàng”

    Dàn ý tham khảo 1. Mở bài:

    Giới thiệu về nhà thơ Xuân Diệu và bài thơ “Vội vàng”

    2. Thân bài:

    – Khổ 1: Khát vọng lưu giữ thời gian:

    * Điệp từ “tôi muốn” + động từ mạnh

    * Xuân Diệu yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thiết tha nên luôn muốn níu kéo thời gian ở lại.

    – Khổ 2: Bức tranh thiên đường nơi trần thế:

    – Khổ 3: Nỗi lo âu, sợ hãi:

    * Nỗi niềm hoài nghi, chán nản, hoảng hốt, lo lắng trước bước đi vùn vụt của thời gian.

    – Khổ 4: Mong muốn sống vội vàng, sống hết mình của tác giả.

    3. Kết bài:

    Khẳng định giá trị của bài thơ “Vội vàng” và vị trí của nhà thơ Xuân Diệu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Tương Tư Ngắn Gọn Nhất
  • Soạn Bài Tương Tư (Nguyễn Bính)
  • Soạn Tương Tư Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Tương Tư Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Tương Tư (Nguyễn Bính
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Lớp 6 Bài Bài Học Đường Đời Đầu Tiên Ngắn Nhất Baocongai.com

    --- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt Bài Học Đường Đời Đầu Tiên Hay Nhất, Ngắn Nhất (4 Mẫu).
  • Soạn Bài: Bài Học Đường Đời Đầu Tiên (Tô Hoài)
  • Soạn Bài Nhân Hóa (Siêu Ngắn)
  • Top 3 Soạn Bài Nhân Hóa Ngắn Nhất.
  • Soạn Bài Nhân Hóa Siêu Ngắn
  • Hướng dẫn soạn văn lớp 6 bài Bài học đường đời đầu tiên ngắn nhất : Câu 3 (trang 11 sgk Ngữ Văn 6 Tập 2): Thái độ của Dế Mèn đối với Dế Choắt: Coi thường, trịch thượng. – Lời lẽ, giọng điệu bề trên, xưng hô “chú mày”. – Cư xử: Ích kỷ, không thông cảm, bận tâm gì về việc giúp đỡ Choắt. Câu 4 (trang 11 sgk Ngữ Văn 6 Tập 2): Tâm lí và thái độ Dế Mèn…

    Hướng dẫn soạn văn lớp 6 bài Bài học đường đời đầu tiên ngắn nhất : Câu 3 (trang 11 sgk Ngữ Văn 6 Tập 2): Thái độ của Dế Mèn đối với Dế Choắt: Coi thường, trịch thượng. – Lời lẽ, giọng điệu bề trên, xưng hô “chú mày”. – Cư xử: Ích kỷ, không thông cảm, bận tâm gì về việc giúp đỡ Choắt. Câu 4 (trang 11 sgk Ngữ Văn 6 Tập 2): Tâm lí và thái độ Dế Mèn trong việc trêu Cốc:

    Đoạn trích là bài học về tính kiêu căng, xốc nổi của chàng Dế Mèn khỏe mạnh, cường tráng, tính tình kiêu căng, tự phụ. Vì bày trò trêu chọc Cốc mà dẫn đến cái chết oan của Dế Choắt. Từ đây Mèn rút ra bài học đường đời đầu tiên.

    a. Truyện kể bằng lời nhân vật Dế Mèn.

    Bố cục:

    – Đoạn 1 (Từ đầu … sắp đứng đầu thiên hạ rồi): Vẻ ngoài, tính tình của Dế Mèn.

    Câu 2 (trang 10 sgk Ngữ Văn 6 Tập 2):

    – Đoạn 2 (Còn lại): Bài học đường đời đầu tiên của Dế Mèn.

    Bảng đưa ra những chi tiết miêu tả hình dáng, hành động, tính cách của Dế Mèn. Các tính từ được in nghiêng trong bảng.

    + Ưa nhìn: Cường tráng, càng mẫm bóng (mập mạp), vuốt cứngnhọn hoắt, thân hình bóng mỡ(đậm) và ưa nhìn, cánh dài kín

    + Dữ tợn: Đầu… tonổi từng tảng, răng đen nhánh, râu dàiuốn cong

    + Co cẳng, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ, dáng điệu tỏ vẻ con nhà võ.

    + Cà khịa với bà con trong xóm.

    + Bướng, hùng dũng, hãnh diện, trịnh trọng, khoan thai, oai vệ, tợn (bạo), giỏi, xốc nổi (bốc đồng), ghê gớm…

    a. Kết hợp miêu tả ngoại hình với hành động làm bộc lộ nét tính cách của Mèn.

    b. Các từ đồng nghĩa nếu thay thế vào đoạn văn sẽ không biểu hiện được ý nghĩa chính xác, tinh tế như những từ được tác giả sử dụng.

    Câu 3 (trang 11 sgk Ngữ Văn 6 Tập 2):

    c. Tính cách Dế Mèn: Điệu đàng, kiêu căng, xốc nổi, hung hăng, thích ra oai.

    Thái độ của Dế Mèn đối với Dế Choắt: Coi thường, trịch thượng.

    – Lời lẽ, giọng điệu bề trên, xưng hô “chú mày”.

    Câu 4 (trang 11 sgk Ngữ Văn 6 Tập 2):

    – Cư xử: Ích kỷ, không thông cảm, bận tâm gì về việc giúp đỡ Choắt.

    Tâm lí và thái độ Dế Mèn trong việc trêu Cốc:

    Từ thái độ hung hăng, coi thường, sau khi chứng kiến cảnh chị Cốc đánh Choắt, Mèn đã thấy sợ hãi, khiếp đảm.

    Câu 5 (trang 11 sgk Ngữ Văn 6 Tập 2):

    Bài học: “Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết suy nghĩ, sớm muộn rồi cũng mang vạ vào mình đấy”

    Hình ảnh những con vật được miêu tả trong truyện với thực tế khá giống nhau. Bởi tác giả đã miêu tả chúng qua mắt nhìn hiện thực. Tô Hoài đã sử dụng những đặc điểm của con người để gán cho chúng như: Biết suy nghĩ, đi đứng, nói năng, … đây chính là biện pháp nghệ thuật nhân hóa.

    Những tác phẩm viết về loài vật tương tự: Khỉ và rùa, Cây khế…

    Câu 1 (trang 11 sgk Ngữ Văn 6 Tập 2):

    Trả lời Bài học đường đời đầu tiên phần luyện tập

    Đoạn văn cần làm nổi bật nội dung: Tâm trạng thương cảm người bạn đã chết do lỗi của mình, ăn năn, hối hận về việc làm dại dột đã gây ra.

    Có thể tham khảo đoạn văn sau:

    Câu 2 (trang 11 sgk Ngữ Văn 6 Tập 2):

    Tôi hối hận lắm. Người hàng xóm ốm yếu mà tôi vẫn coi khinh, vẫn dửng dưng nay tại tôi mà phải chết oan, tại cái thói huênh hoang, hống hách của tôi. Tôi giận mình lắm. Nếu như tôi nghe lời can ngăn không bày trò trêu chị Cốc, nếu như trước đó tôi biết thông cảm giúp đỡ anh Choắt thì có lẽ cơ sự đã không như thế này. Tôi dại quá. Hung hăng, hống hách láo chỉ tổ đem thân mà trả nợ cho những cử chỉ ngu dại của mình thôi. Tôi sẽ không quên bài học này, bài học được đánh đổi bằng cả mạng sống bạn bè.

    Học sinh tự chia nhóm phân vai đọc.

    • Sách giải vở bài tập toán lớp 3 trang 3 câu 1, 2, 3, 4, 5 tập 1 đúng nhất
    • Sách giải vở bài tập toán lớp 3 trang 4 câu 1, 2, 3, 4, 5 tập 1 đúng nhất
    • Sách giải vở bài tập toán lớp 3 trang 5 câu 1, 2, 3, 4, 5 tập 1 đúng nhất
    • Sách giải vở bài tập toán lớp 3 trang 6 câu 1, 2, 3, 4, 5 tập 1 đúng nhất
    • Sách giải vở bài tập toán lớp 3 trang 7 câu 1, 2, 3, 4, 5 tập 1 đúng nhất

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 6 Ngắn Nhất Bài: Bài Học Đường Đời Đầu Tiên
  • Soạn Bài: Bài Học Đường Đời Đầu Tiên (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Lớp 9 Ngắn Gọn
  • Soạn Văn 9 Siêu Ngắn: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Văn 7 Ngắn Nhất Bài: Tiếng Gà Trưa
  • Soạn Địa 9 Bài 7 Ngắn Nhất: Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Sự Phát Triển Và Phân Bố Nông Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 9 Bài Các Phương Châm Hội Thoại Tiếp Theo Ngắn Nhất
  • Bài 1 Trang 9 Sgk Ngữ Văn 7
  • Trả Lời Câu 2 Trang 33
  • Giải Sinh Lớp 9 Bài 15: Adn
  • Lý Thuyết Sinh 9: Bài 15. Adn
  • Mục tiêu bài học

    – Phân tích được các nhân tố tự nhiên và kinh tế-xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp ở nước ta.

    Tổng hợp lý thuyết Địa 9 Bài 7 ngắn gọn

    Nước ta có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới đa dạng.

    a. Tài nguyên đất

    – Đất là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không thể thay thế của ngành nông nghiệp.

    – Tài nguyên đất đa dạng, gồm 2 nhóm chính: đất phù sa và đất feralit

    + Đất phù sa: khoảng 3 triệu ha, tập trung tại các đồng bằng, thích hợp nhất với cây lúa nước, các loại cây ngắn ngày.

    + Đất feralit: trên 6 triệu ha, tập trung chủ yếu ở miền núi, cao nguyên thích hợp trồng cây công nghiệp lâu năm (cà phê, cao su, cây ăn quả) và một số cây ngắn ngày.

    + Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp là hơn 9 triệu ha. Sử dụng hợp lí tài nguyên đất có ý nghĩa to lớn đối với phát triển nông nghiệp nước ta.

    – Thuận lợi: Cơ cấu cây trồng đa dạng; Nơi đất tập trung hình thành vùng chuyên môn hóa.

    – Hạn chế: Diện tích đất nông nghiệp dần thu hẹp. Đất ngập mặn, nhiễm mặn, nhiễm phèn cần cải tạo lớn.

    b. Tài nguyên khí hậu

    – Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Phân hoá rõ rệt theo chiều bắc – nam, theo mùa và theo độ cao.

    – Thuận lợi:

    + Cây trồng phát riển quanh năm.

    + Cơ cấu cây trồng đa dạng: cây nhiệt đới, cận nhiệt và ôn đới.

    – Hạn chế:

    + Sâu bệnh dễ phát sinh, phát triển.

    + Khó khăn cho thu hoạch, …

    + Gây ngập úng, sương muối, rét hại, hạn hán…

    c. Tài nguyên nước

    – Nguồn nước phong phú và có giá trị về thủy lợi: mạng lưới sông ngòi, ao hồ dày đặc, nước ngầm khá dồi dào.

    – Thuận lợi: Cung cấp nguồn nước trồng lúa, nước tưới quan trọng.

    – Hạn chế: lũ lụt vào mùa mưa, hạn hán thiếu nước vào mùa khô cần xây dựng hệ thống thủy lợi hợp lí.

    d. Tài nguyên sinh vật

    Động, thực vật phong phú là cơ sở để thuần dưỡng, lai tạo nên các giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng tốt.

    2. Các nhân tố kinh tế – xã hội

    Các điều kiện kinh tế – xã hội ngày càng được cải thiện, có vai trò quyết định tạo nên những thành tựu to lớn trong nông nghiệp.

    a. Dân cư và lao động nông thôn

    – Lao động tập trung chủ yếu trong ngành nông nghiệp, khoảng 60% (năm 2003).

    – Lao động nông thôn giàu kinh nghiệm, gắn bó với đất đai, cần cù, sáng tạo trong lao động.

    b. Cơ sở vật chất – kĩ thuật

    – Cơ sở vật chất – kĩ thuật ngày càng hoàn thiện.

    – Công nghiệp chế biến nông sản phát triển và góp phần tăng giá trị và khả năng cạnh tranh hàng nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất, đẩy mạnh phát triển các vùng chuyên canh.

    c. Chính sách phát triển nông nghiệp

    Là cơ sở động viên nông dân vươn lên làm giàu, thúc đẩy nông nghiệp phát triển.

    Ví dụ như: phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, nông nghiệp hướng ra xuất khẩu…

    d. Thị trường trong và ngoài nước

    – Thị trường được mở rộng thúc đẩy sản xuất, đa dạng hóa về cơ cấu cây trồng.

    – Khó khăn:

    + Sức mua thị trường trong nước còn hạn chế.

    + Biến động của thị trường xuất khẩu làm tăng tính rủi ro, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển một số cây trồng, vật nuôi quan trọng.

    Hướng dẫn Soạn Địa 9 Bài 7 ngắn nhất

    Câu hỏi Địa Lí 9 Bài 7 trang 24: Dựa vào kiến thức đã học ở lớp 8, hãy trình bày đặc điểm khí hậu ở nước ta.

    – Khí hậu nhiệt đới gió mùa với nguồn nhiệt cao, độ ẩm lớn

    + Nhiệt độ trung bình năm trên 20oC.

    + Lượng mưa trung bình năm: 1500mm – 2000mm mưa tập trung theo mùa

    + Độ ẩm cao trên 80%

    – Khí hậu chia làm 2 mùa:

    + Miền bắc: mùa nóng và mùa lạnh

    + Miền nam: mùa mưa và mùa khô.

    – Khí hậu thay đổi từ bắc vào nam, từ đông sang tây, theo độ cao.

    Câu hỏi Địa Lí 9 Bài 7 trang 25: Kể tên một số loại rau quả đặc trưng theo mùa hoạc tiêu biểu theo địa phương.

    – Vào mùa đông ở miền Bắc có: xà lách, su hào, xúp lơ, bắp cải,…

    – Các loại rau quả đặc trưng cho địa phương: nhãn lồng Hưng Yên, Bưởi Đoan Hùng, Cam Cao Phong- Hòa Bình, Vải- Bắc Giang,….

    Câu hỏi Địa Lí 9 Bài 7 trang 25: Tại sao thủy lợi là biện pháp hàng đầu trong thâm canh nông nghiệp ở nước ta?

    Khí hậu nước ta mưa nhiều nhưng lại tập trung theo mùa nên các công trình thủy lợi có vai trò rất quan trọng trong thâm canh nông nghiệp ở nước ta, giúp cung cấp nước về mùa khô, tiêu và thoát nước về mùa mưa.

    Câu hỏi Địa Lí 9 Bài 7 trang 26: Kể tên một số cơ sở vật chất – kĩ thuật trong nông nghiệp để minh họa rõ hơn sơ đồ trên.

    Tên một số cơ sở vật chất – kĩ thuật trong nông nghiệp: Hệ thuống kênh mương thủy lợi, các trung tâm giống vật nuôi cây trồng, các cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi, các trung tâm dịch vụ giống bảo vệ thực vật, các máy móc như máy cày, bừa, …

    Soạn Bài 1 Phân tích những thuận lợi của tài nguyên thiên nhiên để phát triển nông nghiệp ở nước ta.

    Những thuận lợi của tài nguyên thiên nhiên để phát triển nông nghiệp ở nước ta

    – Tài nguyên đất: đa dạng gồn 2 nhóm chủ yếu là đất feralit thích hợp trồng các cây công nghiệp lâu năm và đất phù sa thích hợp trồng cây lương thực, rau đậu và cây công nghiệp ngắn ngày.

    – Tài nguyên khí hậu: khí hậu nhiệt đới gio mùa với nguồn nhiệt cao, độ ẩm lớn thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng vật nuôi. Khí hậu thay đổi từ bắc vào nam làm cho cơ cấu mùa vụ của các vùng có sự khác nhau, ở miền bắc có thể trồng các cây vụ đông.

    – Tài nguyên nước phong phú, cung cấp nước cho phát triển nông nghiệp.

    – Tài nguyên sinh vật phong phú, là cơ sở để thuần dưỡng, tạo nên các cây trồng, vật nuôi; nguồn lợi thủy hải sản phong phú,…

    Soạn Bài 2 Phát triển và phân bố công nghiệp chế biến có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp.

    Sự phát triển và phân bố công nghiệp chế biến có ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp:

    – Nâng cao chất lượng sản phẩm nông sản, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

    – Tăng giá trị và khả năng cạnh tranh của hàng nông sản.

    – Thúc đẩy xuất khẩu, mở rộng thị trường xuất khẩu, có thể xâm nhập vào thị trường khó tính như EU.

    – Thúc đẩy sự phát triển các vùng chuyên canh với quy mô lớn.

    – Nhờ sự hỗ trợ tích cực của công nghiệp chế biến, ngành nông nghiệp nước ta trở thành ngành sản xuất hàng hoá.

    Soạn Bài 3 trang 27 ngắn nhất: Cho những ví dụ cụ thể để thấy rõ vai trò của thị trường đối với tình hình sản xuất nông sản ở địa phương em.

    Thị trường có vai trò trong điều tiết sản xuất nông nghiệp, giúp thúc đẩy quy mô mở rộng sản xuất, ngược lại những tác động tiêu cự từ phía tị trường cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp:

    Ví dụ:

    – Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long xuất khẩu cá tra, cá ba sa sang các thị trường trong và ngoài nước, nhờ thị trường này càng mở rộng nên diện tích nuôi trồng cá tra cá ba sa của vùng tăng lên rất nhanh. Tuy nhiên những yêu cầu về nhu cầu chất lượng ở các thị trường khó tính như Nhật Bản, Eu cũng ảnh hưởng lớn đến đến việc sản xuất cá tra, cá ba sa của vùng.

    Câu hỏi củng cố kiến thức Địa 9 Bài 7 hay nhất

    Câu 1. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp ở nước ta.

    a) Các nhân tố tự nhiên

    Sự phát triển và phân bố nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào các tài nguyên: đất, khí hậu, nước và sinh vật.

    * Tài nguyên đất

    – Đất là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không thể thay thê được của ngành nông nghiệp.

    – Tài nguyên đất ở nước ta khá đa dạng. Hai nhóm đất chiếm diện tích lớn nhất là đất phù sa và đất feralit.

    + Đất phù sa có diện tích khoảng 3 triệu ha thích hợp nhất với cây lúa nước và nhiều loại cây ngắn ngày khác, tập trung ở đồng bằng sông Hồng, đồng hằng sông Cửu Long và các đồng bằng ven biển miền Trung.

    + Đất feralit chiếm diện tích trên 16 triệu ha, tập trung chủ yếu ở trung du và miền núi, thích hựp cho việc trồng cây công nghiệp lâu năm như cà phê, chè, cao su, cây ăn quả và một số cây ngắn ngày như sắn, ngô, đậu tương,…

    – Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp ở nước ta là hơn 9 triệu ha.

    * Tài nguyên khí hậu

    – Nước ta có khí hậu nhiệt đới giổ mùa ẩm. Nguồn nhiệt ẩm phong phú làm cho cây cối xanh tươi quanh năm, sinh trưởng nhanh, có thể trồng từ hai đến ba vụ lúa và rau, màu trong một năm; nhiều loại cây công nghiệp và cây ăn quả phát triển tốt.

    – Khí hậu nước ta có sự phân hoá rõ rệt theo chiều bắc – nam, theo mùa và theo độ cao. Vì vậy, ở nước ta có thể trồng được từ các loại cây nhiệt đđi cho đến một số cây cận nhiệt và ôn đới. Cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây ưồng cũng khác nhau giữa các vùng.

    – Tuy nhiên bão, gió Tây khô nóng, sự phát triển của sâu bệnh trong điều kiện khí hậu nóng ẩm và các thiên tai khác như sửđng muối, rét hại,… gây tổn thất không nhỏ cho nông nghiệp.

    * Tài nguyên nước

    – Nước ta có mạng lưới sông ngòi, ao hồ dày đặc. Các hệ thống sông đều có giá trị đáng kể về thuý lợi. Nguồn nước ngầm cũng khá dồi dào. Đây là nguồn nước iưới rất quan Irọng, nhâl là vào mùa khô; điển hình là ở các vùng chuyên canh cây công nghiệp của Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.

    – Tuy nhiên ở nhiều lưu vực sông, lũ lụt gây thiệt hại lớn về mùa màng, tính mạng và tài sản của nhân dân; còn về mùa khô lại thường bị cạn kiệt, thiếu nước tưđi.

    * Tài nguyên sinh vật

    Nước ta có tài nguyên thực động vật phong phú, là cơ sỡ đổ nhân dân ta thuần dưỡng, lạo nên các giống cây trồng, vật nuôi; trong đó nhiều giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng tốt, thích nghi với các điều kiện sinh thái của từng địa phương.

    b) Các nhân tố kinh tế- xã hệi

    * Dân cư và tao động nông thôn

    – Năm 2003, nước ta có khoảng 74% dân số sống ở vùng nông thôn và trên 60% tao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp.

    – Người nông dân Việt Nam giàu kinh nghiệm sản xuâl nông nghiệp, gắn bó với đất đai; khi có chính sách thích hợp khuyến khích sản xuấl ihì người nông dân phát huy được bản chất cần cù, sáng tạo của mình.

    * Cơ sở vật chất – kĩ thuật

    – Các cơ sở vật chất – kĩ thuật phục vụ trồng trọi, chăn nuôi ngày càng được hoàn thiện. Đó là hệ thống thuý lợi, hệ thống dịch vụ Irồng trọt, hệ thống dịch vụ chăn nuôi,…

    – Công nghiệp chế biến nông sản được phát triển và phân bố rộng khắp đã góp phần tăng giá trị và khả năng cạnh tranh của hàng nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất, ổn định và phát triển các vùng chuyên canh.

    * Chính sách phát triển nông nghiệp

    Những chính sách mới của Đảng và Nhà nước là cơ sở để động viên nông dân vươn lên làm giàu, thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp. Một số chính sách cụ thể là: phát triển kinh lế hệ gia đình, kinh tế trang trại, nông nghiệp hướng ra xuất khẩu,…

    * Thị trường trong và ngoài nước

    Thị trường được mở rộng đã thúc đẩy sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên, do sức cạnh tranh của thị trường trong nước còn hạn chê ncn việc chuyển đổi cơ câu nông nghiệp ở nhiều vùng còn khó khăn. Biến động của thị trường xuất khẩu nhiều khi ảnh hưởng xâu tới sự phát triển mộl số cây trồng quan trọng như cà phô, cao su, rau quả,… một số thuý hải sản,…

    Câu 2. Nêu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa đến sản xuất nông nghiệp ở nước ta.

    a) Thuận lợi

    – Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Nguồn nhiệt ẩm phong phú làm cho cây côi xanh tươi quanh năm, sinh trưởng nhanh, có Ihể trồng từ hai đến ba vụ lúa và rau, màu trong một năm; cây trồng, vật nuôi đa dạng.

    – Khí hậu nước ta có sự phân hoá rõ rệt theo chiều bắc – num, Iheo mùa và theo độ cao. Vì vậy, ở nước ta có thể trồng đưực từ các loại cây nhiệt đới cho đến một số cây cận nhiệt và ôn đới. Cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng cũng khấc nhau giữa các vùng.

    b) Khó khăn

    – Nhiều thiên tai thường xuyên xảy ra (bão, lũ lụt, hạn hán, gió Tây khô nóng, sương muối,…) gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp.

    – Khí hậu nóng ẩm tạo điều kiện cho sâu bệnh, dịch bệnh, nấm mốc phát triển gây hại cho cây trồng, vật nuôi.

    Trắc nghiệm Địa 9 Bài 7 tuyển chọn

    Câu 1: Tài nguyên sinh vật có ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp vì:

    A. Cây trồng và vật nuôi là đối tượng hoạt đọng của nông nghiệp.

    B. Sinh vật là tư liệu sản xuất không thể thay thế được của nông nghiệp.

    C. Đây là nguồn cung cấp hữu cơ để tăng độ phì cho đất.

    D.Thực vật là nguồn thức ăn quan trọng phục vụ chăn nuôi.

    Câu 2: Tư liệu sản xuất không thể thay thế được của ngành nông nghiệp là:

    A. Đất đai

    B.Khí hậu

    C. Nước

    D. Sinh vật

    Câu 3: Nhân tố quyết định đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp là:

    A. nhân tố kinh tế – xã hội

    B. Sự phát triển công nghiệp

    C. Yếu tố thị trường

    D. Tất cả các yếu tố trên.

    Câu 4: Loại đất chiếm diện tích lớn nhất nước ta là:

    A. Phù sa

    B. Mùn núi cao

    C. Feralit

    D. Đất cát ven biển.

    Câu 5: Biện pháp quan trọng hàng đầu trong thâm canh nông nghiệp nước ta là:

    A. Chọn lọc lai tạo giống

    B. Sử dụng phân bón thích hợp

    C. Tăng cường thuỷ lợi

    D. Cải tạo đất, mở rộng diện tích.

    Câu 6: Nước ta có thể trồng từ 2 đến 3 vụ lúa và rau trong môt năm là nhờ:

    A. Có nhiều diện tích đất phù sa.

    B. Có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa.

    C. Có mạng lưới sông ngòi, ao,hồ dày đặc.

    D. Có nguồn sinh vật phong phú.

    Câu 7: Khu vực có diện tích đất phù sa lớn nhất nước ta là

    A.Các vùng trung du và miền núi

    B. Vùng Đồng bằng Sông Hồng

    C. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

    D. Các đồng bằng ở duyên hải miền trung.

    Câu 8: Tài nguyên nước ở nước ta có một nhược điểm lớn là

    A. Chủ yếu là nước trên mặt, nguồn nước ngầm không có.

    B. Phân bố không đều giữa các vùng lãnh thổ.

    C. Phân bố không đều trong năm gây lũ lụt và hạn hán.

    D. Khó khai thác để phục vụ nông nghiệp vì hệ thóng đê ven sông.

    Câu 9: Thủy lợi là biện pháp hàng đầu trong thâm canh nông nghiệp ở nước ta vì:

    A. Nông nghiệp nước ta mang tính chất mùa vụ.

    B. Nguồn nước phân bố không đồng đều trong năm.

    C. Nông nghiệp nước ta chủ yếu là trồng lúa.

    D. Tài nguyên nước của nước ta hạn chế, không đủ cho sản xuất.

    Câu 10: Nhân tố đóng vai trò quan trọng đến sự phát triển nông nghiệp là

    A. Nhân tố kinh tế – xã hội

    B. Nhân tố tự nhiên

    C. Nhân tố thị trường

    D. Dân cư – lao động

    Vậy là chúng ta đã cùng nhau soạn xong Bài 7: Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp trong SGK Địa lí 9. Mong rằng bài viết trên đã giúp các bạn nắm vững kiến thức lí thuyết, soạn được các câu hỏi trong nội dung bài học dễ dàng hơn qua đó vận dụng để trả lời câu hỏi trong đề kiểm tra để đạt kết quả cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đa Dạng Của Ngành Ruột Khoang Sinh Học 7 Bài 9
  • Bài 5 Trang 33 Sgk Ngữ Văn 9
  • Bài 18: Vận Chuyển Máu Qua Hệ Mạch. Vệ Sinh Hệ Tuần Hoàn
  • Lý Thuyết Sinh Học Lớp 8 Bài 18: Vận Chuyển Máu Qua Hệ Mạch
  • Giáo Án Môn Sinh Vật 7 Bài 18: Trai Sông
  • Soạn Văn 9 Bài Chương Trình Địa Phương Tổng Kết Phần Văn Bản Nhật Dụng Vnen

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 10 Bài: Văn Bản Văn Học
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Bản Thuyết Minh Ngắn Gọn Nhất
  • Soạn Văn Bài: Tìm Hiểu Chung Về Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Bản Thuyết Minh Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Bản Thuyết Minh Ngắn Gọn Hay Nhất
  • A. Hoạt động khởi động

    1. Đọc truyện cười sau và thực hiện yêu cầu:

    Anh học trò bước vào cổng, thấy con chó chạy ra sủa, nhe răng dữ tợn nên hoảng sợ định đi ra. Chủ nhà thấy vậy nói với anh: – Anh sợ nó à? Con chó nhà tui, không có răng mô! Anh học trò ngạc nhiên nói: – Tôi thấy nó nhe nguyên cả hai hàm răng mà sao anh lại bảo là nó không có răng.

    a) Chỉ ra từ ngữ địa phương trong câu chuyện.

    b) Vì sao câu chuyện gây cười?

    a) Từ ngữ địa phương trong câu chuyện: tui, răng mô.

    b) Câu chuyện gây cười do sự hiểu nhầm trong hội thoại giữa anh học trò và chủ nhà.

    Chủ nhà nói không răng mô tức là không sao đâu.

    Anh học trò lại hiểu nhầm là chủ nhà nói con chó không răng (bộ phận cứng, sắc, nhọn dùng để nhai, cắn thức ăn ở trong miệng).

    B. Hoạt động hình thành kiến thức

    1. Luyện tập về chương trình địa phương

    Đọc đoạn trích và thực hiện yêu cầu:

    a) Mỗi lần bị xúc động, vết thẹo dài bên má phải lại đỏ ửng lên, giần giật, trông rất dễ sợ. Với vẻ xúc động ấy và hai tay vẫn đưa về phía trước, anh chầm chậm bước tới, giọng lặp bặp run run: (Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà) b) Nghe mẹ nó bảo gọi ba vào ăn cơm thì nó bảo lại: – Thì má cứ kêu đi. Mẹ nó đâm nổi giận, quơ đũa bếp dọa đánh, nó phải gọi nhưng lại nói trổng: Anh Sáu vẫn ngồi im, giả vờ không nghe, chờ nó gọi “ba vô ăn cơm”. Con bé – Cơm chín rồi! – Anh cũng không quay lại. Con bé bực quá, quay lại mẹ và – Con kêu rồi mà người ta không nghe. (Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà) c) Bữa sau, đang nấu cơm thì mẹ nó chạy đi mua thức ăn. Mẹ nó dặn, ở nhà có gì cần thì gọi ba giúp cho. Nó không nói không rằng, cứ lui cui dưới bếp. Nghe nồi cơm sôi, nó giở nắp, lấy đũa bếp sơ qua – nồi cơm hơi to, nhắm không thể nhắc xuống để chắt nước được, đến lúc đó nó mới nhìn lên anh Sáu. Tôi nghĩ thầm, con bé đang bị dồn vào thế bí, chắc nó phải gọi ba thôi. Nó nhìn dáo dác một lúc rồi kêu lên: – Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái! – Nó cũng lại nói trổng. (Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà) d) Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời. (Thanh Hải, Một mùa xuân nho nhỏ) bảo: cứ đứng trong bếp nói vọng ra:

    (1) Điền từ ngữ địa phương trong các đoạn trích trên và từ ngữ toàn dân tương ứng vào bảng sau:

    2) Có nên để cho nhân vật Thu trong truyện Chiếc lược ngà dùng từ ngữ toàn dân không? Tại sao?

    Không nên để nhân vật Thu dùng từ ngữ toàn dân vì tuổi em còn nhỏ. Em chưa được đi nhiều, tiếp xúc và biết nhiều những từ ngữ địa phương nên ngôn ngữ của em vẫn đậm đà chất Nam Bộ – địa phương em sinh sống. Bên cạnh đó, việc dùng từ địa phương sẽ giúp cho cô bé trở nên đáng yêu và đậm chất Nam Bộ hơn.

    (3) Tại sao trong lời kể chuyện của tác giả cũng có những từ ngữ địa phương?

    Vì bối cảnh câu chuyện là một vùng quê Nam Bộ với nhân vật là những con người thuộc vùng quê ấy nên việc trong lời kể chuyện của tác giả cũng có những từ ngữ địa phương giúp cho câu chuyện mang đậm sắc thái Nam Bộ hơn, trở nên gần gũi, chân thực hơn.

    2. Luyện tập về văn bản nhật dụng

    a) Chương trình Ngữ văn THCS đã xác định rõ: “Khái niệm văn bản nhật dụng không phải là khái niệm thể loại, cũng không chỉ kiểu văn bản. Nó chỉ đề cập tới chức năng, đề tài và tính cập nhật của nội dung văn bản mà thôi.”

    Hãy cho biết thế nào là tính cập nhật của văn bản nhật dụng?

    Tính cập nhật của văn bản nhật dụng là tính kịp thời trong việc đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của cuộc sống hằng ngày, cuộc sống hiện đại, thể hiện rõ ở chức năng, đề tài. Các đề tài có tính cập nhật đó là phải gắn với cuộc sống bức thiết hằng ngày, gắn với những vấn đề cơ bản của cộng đồng. Cái thường nhật gắn với cái lâu dài của sự phát triển lịch sử xã hội.

    b) Hoàn thiện bảng sau về các văn bản nhật dụng đã học trong chương trình Ngữ văn THCS:

    3. Luyện tập về thơ

    a) Phân tích ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh con cò trong bài thơ cùng tên của Chế Lan Viên.

    Đoạn 1: Qua những lời ru quen thuộc, thắm thiết của mẹ, hình ảnh “con cò” đã đến với tâm hồn tuổi ấu thơ một cách vô thức. Những câu ca dao thể hiện ý nghĩa phong phú của biểu tượng con cò: đó là hình ảnh bình dị đặc trưng của làng quê Việt Nam.

    Đoạn 2: Con cò trở thành biểu tượng của lòng mẹ bền bỉ, dịu dàng với con. Cánh cò trở thành người bạn đồng hành suốt cuộc đời con từ khi trong nôi cho đến lúc con trưởng thành.

    Đoạn 3: Hình tượng con cò được khai thác ở ý nghĩa tượng trưng cho tấm lòng người mẹ lúc nào cũng theo sát bên con. Dù là ở đâu, dù là lúc nào, dù là cuộc sống có nhọc nhằn ra sao thì mẹ vẫn luôn ở bên con. Hình tượng ấy được nhà thơ nhấn mạnh, khái quát thành một quy luật sâu sắc, bền vững của tình mẫu tử.

    b) Nêu ý nghĩa của các hình ảnh ẩn dụ: mặt trời, vầng trăng, tràng hoa trong bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương.

    • Hình ảnh mặt trời: “mặt trời trong lăng” là hình ảnh ẩn dụ đầy sáng tạo ngầm chỉ Bác Hồ kính yêu. Bác Hồ chính là nguồn ánh sáng, nguồn sức mạnh lớn lao và vĩ địa của dân tộc Việt Nam. Bác đã đem đến ánh sáng của Đảng, của cách mạng để soi đường dẫn lối cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do, thống nhất đất nước. Thông qua hình ảnh ẩn dụ đó, tác giả vừa ca ngợi sự vĩ đại, vừa thể hiện lòng kính yêu của nhân dân đối với Bác.
    • Hình ảnh vầng trăng: “vầng trăng sáng dịu hiền” là hình ảnh ẩn dụ cho tâm hồn sáng trong, thanh cao, đẹp đẽ và cao cả của Bác. Đồng thời hình ảnh vầng trăng còn gợi ta nhớ đến những bài thơ tràn ngập ánh trăng của Người.
    • Hình ảnh tràng hoa đã trở thành hình ảnh ẩn dụ cho tấm lòng, cho sự kính yêu, niềm ngưỡng vọng lãnh tụ. Cuộc đời mỗi người đã nở hoa dưới ánh sáng của Bác.

    c) Phân tích những từ ngữ, hình ảnh thể hiện sự cảm nhận tinh tế của Hữu Thỉnh về những chuyển biến của đất trời lúc giao mùa trong bài Sang thu.

    • Động từ “phả” được sử dụng hết sức đặc sắc và có hồn giúp gợi hương ổi chín như đang quyện lại, nồng nàn và lan toa trong không gian.
    • Nghệ thuật nhân hóa qua từ láy “chùng chình” khiến cho làn sương mùa thu dường như cũng mang theo tâm trạng. Màn sương nửa đi, nửa ở như đang chờ đợi ai hay lưu luyến điều gì.
    • Nghệ thuật nhân hóa qua từ láy “dềnh dàng” khiến dòng sông mùa thu như đang trầm xuống, đang ngẫm nghĩ, suy tư. Dòng sông trở nên thật có tình.
    • Những cụm từ “vẫn còn”, “đã vơi dần”, “cũng bớt”,… là một cách nói mơ hồ thể hiện một sự nhạy cảm đầy tinh tế của tác giả.
    • Hình ảnh Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu là một sự liên tưởng thú vị – một hình ảnh đầy chất thơ của tác giả. Đông từ “vắt” được sử dụng hết sức tinh tế và đắt giá để gợi ra hình ảnh đám mây như đang mải mê lấn sang màu thu nhưng vẫn còn chút gì đó vấn vương mùa hạ. Cái cách “vắt nửa mình” thật thi vị. Hình ảnh “đám mây” vắt ngang trên bầu trời tựa như một cây cầu bắc ngang hai bến hạ – thu.

    Tay bưng đĩa muối mà lầm

    Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng

    Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.

    3. Viết bài tập làm văn số 7 – Nghị luận văn học

    Đề bài tham khảo

    Đề 1: Lấy nhan đề “Tình đời trong chiếc lá”, em hãy viết bài nêu suy nghĩ của mình về đoạn trích truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ri.

    Đề 2: Vẻ đẹp mộng mơ và ý nghĩa sâu sắc của bài thơ Mây và sóng của Ta – go.

    Đề 3: Phân tích hình ảnh bếp lửa trong bài thơ cùng tên của Bằng Việt.

    Đề 3: Phân tích hình ảnh bếp lửa trong bài thơ cùng tên của Bằng Việt.

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

    Tuổi thơ của mỗi người dù có qua thì vẫn sẽ luôn để lại trong ta những dư âm khó phai mờ. Với nhà thơ Xuân Quỳnh, cái dư âm ấy là “Tiếng gà trưa”, với tác giả Tế Hanh, dư âm ấy lại là dòng sông quê êm ả. Còn đối với nhà thơ Bằng Việt, lắng đọng sâu xa trong tâm khảm của ông chính là hình ảnh bếp lửa đơn sơ mà thân thuộc, gắn liền với những kỉ niệm xúc động về người bà yêu dấu. Từ hình ảnh khó quên ấy của tuổi thơ, Bằng Việt đã viết nên bài thơ “Bếp lửa” đầy xúc động.

    Hình ảnh bếp lửa đã khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà của tác giả:

    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.

    Tác giả nói “một bếp lửa” là nhắc đến một điều rất riêng tư đã khắc sâu một dấu ấn không bao giờ phai mờ trong kí ức của mình. Bếp lửa là một hình ảnh rất thân thuộc, gần gũi với mỗi gia đình Việt. Ba tiếng “một bếp lửa” được nhắc lại hai lần, trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điệu sâu lắng, như gợi lên dòng cảm xúc nghẹn ngào đang trào dâng trong lòng tác giả. Hình ảnh “Bếp lửa chờn vờn sương sớm” gợi tả một bếp lửa có thật, được cảm nhận bằng thị giác, ẩn hiện trong làn sương sớm mờ ảo. Đó là một hình ảnh rất thực và đẹp, một vẻ đẹp lung linh nhưng vẫn rất gần gũi. “Bếp lửa ấp iu nồng đượm” gợi lên sự thân thương, ấp ủ. Từ láy “ấp iu” gợi bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm lửa, lại rất chính xác với công việc nhóm bếp cụ thể. Hình ảnh bếp lửa đã đánh thức rất tự nhiên dòng hồi tưởng của cháu về bà: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”. Tình thương tràn đầy của cháu đã được bộc lộ một cách trực tiếp và giản dị. Cụm từ “biết mấy nắng mưa” gợi lên cuộc sống lam lũ, vất vả, cực nhọc của người bà. Đọng lại trong lòng người đọc chính là chữ “thương” đầy sự thấu hiểu và biết ơn của người cháu. Ba câu thơ mở đầu đã diễn tả cảm xúc đang dâng lên cùng với những kí ức, hồi tưởng của tác giả về bếp lửa, về bà, là sự khái quát tình cảm của người cháu với cuộc đời lam lũ của người bà.

    Hình ảnh bếp lửa luôn gắn liền với hình ảnh người bà cùng những kỉ niệm khó phai của tuổi thơ tác giả. Những kí ức tuổi thơ ùa về trong tâm trí, nhà thơ Bằng Việt như thấy lại cả một khoảng trời thơ ấu bên cạnh bà với một cuộc sống có nhiều gian khổ, thiếu thốn nhọc nhằn nhưng chứa chan tình bà cháu:

    Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa Tu hú kêu trên những cánh đồng xa Tu hú kêu bà con nhớ không bà? Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế! Mẹ cùng cha công tác bận không về Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    Lẽ thường, vui thì người ta cũng nhớ, nhưng những kỉ niệm buồn thường sâu đậm hơn nhiều. Tuổi thơ ấy có bóng đen ghê rợn, đau buồn của nạn đói năm 1945. Đó là năm “đói mòn đói mỏi”, “bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy”. Cụm từ “đói mòn đói mỏi” đã diễn tả chân thật những cực khổ của hai bà cháu trong thời kì tăm tối của dân tộc ấy. Đứa trẻ đã sớm có ý thức tự lập và phải sống trong sự cưu mang của người bà. Giọng thơ lúc này như trầm xuống, nao nao lòng người. Những kí ức ấy đã in dấu sâu đậm trong lòng nhà thơ để bây giờ nghĩ lại “sống mũi còn cay”.

    Tiếp theo là những kỉ niệm suốt tám năm cháu ở cùng bà. Vẫn là hình ảnh bếp lửa thân thuộc ấy gắn liền với hình ảnh người bà và theo suốt tuổi thơ:

    “Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh”

    Những hình ảnh của quá khứ hiện về thật sống động, tất cả như đang diễn ra ngay trước mắt người cháu. Khi nhớ về những kỉ niệm, dòng hổi tưởng của tác giả gắn với âm thanh của tiếng chim tu hú – âm thanh quen thuộc của chốn đồng quê mỗi dịp hè về. Nó cứ vang vọng trong lời thơ và cuộn trào lên trong lòng người xa xứ. “Tám năm ròng cháu sống cùng bà” – tám năm cháu nhận được sự yêu thương, che chở, dưỡng nuôi tâm hồn từ tấm lòng của bà. Tám năm ấy, cháu sống cùng bà vất vả, khó khăn nhưng đầy tình yêu thương. Các từ ngữ “bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” diễn tả một cách sâu sắc và thấm thía tấm lòng đôn hậu, yêu thương của người bà với đứa cháu nhỏ. Bà hiện lên như một bà tiên trong truyện cổ tích. Bà đã nuôi dưỡng cả thể xác và tâm hồn của cháu.

    Mày có viết thư chớ kể này kể nọ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên

    Dòng hồi tưởng vẫn tiếp tục trôi chảy đến những kỉ niệm về những năm kháng chiến, khi giặc đốt làng “cháy tàn cháy rụi”

    Trong hoàn cảnh ấy, hình ảnh người bà hiện lên lại càng sáng rõ những phẩm chất cao quý, trở thành hậu phương vững chắc để người công tác xa được yên lòng:

    Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

    Bà không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương vững chắc cho cả tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc. Tình cảm bà cháu hòa quyện trong tình yêu quê hương, Tổ quốc.

    Trong suốt hành trình của tuổi thơ, những kỉ niệm về người bà luôn gắn liền với hình ảnh bếp lửa. Bếp lửa gắn với cái “đói mòn đói mỏi”, với cuộc sống khó khăn của hai bà cháu, gắn liền với tình yêu thương cao cả của bà. Và từ đây, bếp lửa đã trở thành một biểu tượng:

    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ.

    Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể ở câu trên, tác giả chuyển thành hình ảnh ngọn lửa trong lòng bà. “Ngọn lửa” ấy mang ý nghĩa ẩn dụ, biểu tượng cho sức sống, cho tình thương, cho niềm tin của bà trong cuộc sống của hai bà cháu, của gia đình và của cả dân tộc. “Ngọn lửa” là biểu tượng của sự sống muôn đời bất diệt, không chỉ riêng bà mà còn của cả toàn dân tộc ta. Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể, bài thơ đã gợi đến ngọn lửa với ý nghĩa trừu tượng, khái quát. Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa – ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.

    Từ những hồi tưởng về kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà, người cháu đã suy ngẫm về bà, về hình ảnh bếp lửa:

    Giờ cháu đã đi xa, có ngọn khói trăm tàu, Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả, Nhưng vẫn chẳng bao giờ quên nhắc nhở: – Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

    Cả cuộc đời bà đã giành để hy sinh cho con, cho cháu “mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ”. Và hình ảnh nhọc nhằn, vất vả ấy của bà vân luôn gắn liền với hình ranh bếp lửa. Điệp ngữ “nhóm” được nhắc lại bốn lần với những ý nghĩa phong phú, gợi nhiều liên tưởng. Bà nhóm “niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi” dạy cho cháu tình yêu xóm làng, yêu mảnh đất quê hương nghèo khổ. Bà nhóm “nồi xôi gạo mới sẻ chung” vui dạy cho cháu biết yêu thương, san sẻ với mọi người. Cuối cùng bà “nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ” để giáo dục, thức tỉnh, truyền cho cháu niềm tin và mơ ước để mai sau khôn lớn nên người. Ở đây, người bà không chỉ là biểu tượng của người “nhóm lửa”, “giữ lửa” mà còn là biểu tượng cho thế hệ cha anh “truyền lửa” – ngọn lửa của sự sống, lòng lạc quan, yêu đời, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp. Trong tâm trí nhà thơ, bếp lửa và bà là những gì tuy thật bình dị, song ẩn giấu điều cao quý thiêng liêng. Cảm xúc dâng trào, tác giả đã phải thốt lên: “Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”. Từ ngọn lửa của bà, cháu nhận ra một niềm tin dai dẳng, cháu hiểu được linh hồn của cả một dân tộc gian lao nhưng tình nghĩa. Hình ảnh bà và hình ảnh bếp lửa sáng đẹp lung linh trong tâm hồn nhà thơ.

    Từ những suy ngẫm về cuộc đời bà và bếp lửa, bài thơ khép lai bằng những dòng tự bạch của người cháu đi xa khi đã trưởng thành:

    Khoảng cách về không gian, thời gian và cả khoảng cách về sự văn minh, hiện địa cũng chẳng thể khiến người cháu lãng quên đi ánh sáng và hơi ấm từ bếp lửa cùng tình thương của bà. Cháu sẽ không bao giờ quên và chẳng thể nào quên được vì đó chính là nguồn cội, là nơi mà tuổi thơ của cháu được nuôi dưỡng để lớn lên từ đó. Đó là đạo lí thủy chung, tình nghĩa mà người Việt Nam được nuôi dưỡng từ thuở ấu thơ.

    Trong hành trình cuộc đời của mỗi con người có những ngày tháng, những kỷ niệm và những con người không thể nào quên được. Hình ảnh bếp lửa “ấp iu nồng đượm” cùng tình thương sâu sắc của bà chính là những cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn của nhà thơ. Hình ảnh bếp lửa ấy sẽ luôn khắc khoải, luôn cháy mãi không chỉ trong lòng tác giả, trong lòng người đọc và còn trong cả những trang thơ của văn học Việt Nam.

    Một anh chàng ngoài Bắc vào Huế, thấy cô lái đò xinh đẹp nên muốn làm quen, sau lời chào cô gái hỏi:

    – Răng anh ở chỗ ni?

    Anh chàng bực mình nghĩ cô gái có vấn đề nên đáp:

    – Răng tôi ở trong mồm chứ ở đâu?

    2. Trao đổi về những vấn đề có tính thời sự trong nhà trường hiện nay có thể làm đề tài để viết một văn bản nhật dụng.

    Tham khảo một số đề tài sau:

    • Bệnh thành tích trong giáo dục
    • Bạo lực học đường (từ phía học sinh – học sinh hoặc giáo viên – học sinh)
    • Giáo dục giới tính trong nhà trường
    • Trầm cảm ở giới trẻ hiện nay
    • Tệ nạn xã hội trong học đường

    ……………………………………………………………..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Góp Một Cách Dạy Văn Bản Nhật Dụng Trong Chương Trình Ngữ Văn Bậc Thcs Soạn Và Dạy Văn Bản “bài Toán Dân Số” (Ngữ Văn 8
  • Soạn Bài Trợ Từ Thán Từ Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Trợ Từ, Thán Từ Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Trường Từ Vựng Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Trường Từ Vựng Sách Bài Tập Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Văn Lớp 7 Bài Dấu Gạch Ngang Ngắn Gọn Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Câu Nghi Vấn (Tiếp Theo) (Chi Tiết)
  • Câu Nghi Vấn (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài: Nhớ Rừng (Siêu Ngắn Gọn)
  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Bức Tranh Của Em Gái Tôi Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Mẹ Tôi (Ngắn Gọn)
  • Soạn văn lớp 7 bài Ôn tập phần văn ngắn

    Soạn văn lớp 7 trang 129 tập 2 bài Dấu gạch ngang ngắn gọn hay nhất

    Câu hỏi bài Công dụng của dấu gạch ngang tập 2 trang 129

    Câu hỏi (trang 129 SGK Ngữ văn 7 tập 2)

    Trong mỗi câu sau, dấu gạch ngang được dùng để làm gì?

    a) Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu […].

    (Vũ Bằng)

    b) Có người khẽ nói:

    – Bẩm, dễ có khi đê vỡ!

    Ngài cau mặt, gắt rằng:

    – Mặc kệ!

    (Phạm Duy Tốn)

    c) Dấu chấm lửng được dùng để:

    – Tỏ ý còn nhiều sự vật, hiện tượng tương tự chưa liệt kê hết;

    – Thể hiện chỗ lời nói bỏ dở hay ngập ngừng, ngắt quãng;

    – Làm giãn nhịp điệu câu văn, chuẩn bị cho sự xuất hiện của một từ ngữ biểu thị nội bất ngờ hay hài ước, châm biếm.

    (Ngữ văn 7, tập hai)

    d) Một nhân chứng thứ hai của cuộc hội kiến Va-ren – Phan Bội Châu (xin chẳng dám nêu tên nhân chứng này) lại quả quyết rằng (Phan) Bội Châu đã nhổ vào mặt Va-ren; cái đó thì cũng có thể.

    (Nguyễn Ái Quốc)

    Sách giải soạn văn lớp 7 bài Công dụng của dấu gạch ngang

    Trả lời câu soạn văn bài Công dụng của dấu gạch ngang trang 129

    a, Dấu gạch ngang được dùng để chú thích

    b, Dấu gạch ngang dùng trước trích dẫn lời nói của nhân vật

    c, Dấu gạch ngang dùng để liệt kê

    d, Dấu gạch ngang để nối các từ

    Câu hỏi bài Phân biệt dấu gạch ngang với dấu gạch nối tập 2 trang 130

    Câu hỏi (trang 130 SGK Ngữ văn 7 tập 2)

    1. Trong ví dụ (d) ở mục I, dấu gạch nối giữa các tiếng trong từ Va-ren được dùng làm gì?

    2. Cách viết dấu gạch nối có gì khác với dấu gạch ngang?

    Sách giải soạn văn lớp 7 bài Phân biệt dấu gạch ngang với dấu gạch nối

    Trả lời câu 1 soạn văn bài Phân biệt dấu gạch ngang với dấu gạch nối trang 130

    Dấu gạch nối giữa tiếng Va- ren được dùng để tách âm đọc, trong tên riêng nước ngoài của nhân vật

    Trả lời câu 2 soạn văn bài Phân biệt dấu gạch ngang với dấu gạch nối trang 130

    Dấu gạch nối này khác với dấu gạch ngang. Dấu gạch nối không phải là dấu câu, nó chỉ dùng để nối các tiếng trong từ mượn

    Câu hỏi Phần Luyện Tập bài Dấu gạch ngang lớp 7 tập 2 trang 130

    Câu 1 (trang 130 SGK Ngữ văn 7 tập 2)

    Hãy nêu công dụng của dấu gạch ngang trong những câu

    a) Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhận kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng…

    (Vũ Bằng)

    b) Chỉ có anh lính dõng An Nam bồng súng chào ở cửa ngục là cứ bảo rằng, nhìn qua chấn song, có thấy một sự thay đổi nhẹ trên nét mặt người tù lừng tiếng. Anh quả quyết – cái anh chàng ranh mãnh đó – rằng có thấy đôi ngọn râu mép người tù nhếch lên một chút rồi lại hạ xuống ngay, và cái đó chỉ diễn ra có một lần thôi.

    (Nguyễn Ái Quốc)

    c) – Quan có cái mũ hai sừng trên chóp sọ! – Một chú bé con thầm thì.

    – Ồ! Cái áo dài đẹp chửa! – Một chị con gái thốt ra.

    (Nguyễn Ái Quốc)

    d) Tàu Hà Nội – Vinh khởi hành lúc 21 giờ.

    e) Thừa Thiên – Huế là một tỉnh giàu tiềm năng kinh doanh du lịch.

    – Các con ơi, đây là lần cuối cùng thầy dạy các con. Lệnh từ Béc-lin là từ nay chỉ dạy tiếng Đức ở các trường vùng An-dát và Lo-ren…

    (An-phông-xơ Đô-đê-)

    Câu 3 (trang 131 SGK Ngữ văn 7 tập 2)

    Đặt câu có dùng dấu gạch ngang:

    a. Nói về một nhân vật trong vở chèo Quan Âm Thị Kính.

    b. Nói về cuộc gặp mặt của đại diện học sinh cả nước.

    Sách giải soạn văn lớp 7 bài Phần Luyện Tập

    Trả lời câu 1 soạn văn bài Phần Luyện Tập trang 130

    Công dụng của dấu gạch ngang:

    a, Dùng để đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích

    b, Dùng để đánh dấu bộ phận chú thích

    c, Dùng để trích dẫn lời nói trực tiếp của nhân vật/ Dùng để đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích

    d, Dùng để nối các bộ phận trong liên danh ( Hà Nội- Vinh)

    e, Dùng để nối các bộ phận trong liên danh ( Thừa Thiên- Huế)

    Trả lời câu 2 soạn văn bài Phần Luyện Tập trang 131

    – Dấu gạch nối được sử dụng trong từ mượn Béc- lin, An- dát, Lo-ren ( Các từ chỉ đơn vị địa danh nước ngoài)

    – Công dụng của dấu gạch nối: tách biệt âm đọc của một từ tiếng nước ngoài.

    Trả lời câu 3 soạn văn bài Phần Luyện Tập trang 131

    a, Thị Kính- nhân vật chính trong vở chèo cổ Quan Âm Thị Kính- là người phụ nữ hiền dịu, nết na nhưng chịu nhiều oan khiên ngang trái.

    b, Những gương mặt học sinh tiêu biểu trên cả nước- tổ chức tại Hà Nội- diễn ra trong niềm hân hoan, phấn khởi.

    Tags: soạn văn lớp 7, soạn văn lớp 7 tập 2, giải ngữ văn lớp 7 tập 2, soạn văn lớp 7 bài Dấu gạch ngang ngắn gọn , soạn văn lớp 7 bài Dấu gạch ngang siêu ngắn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 5 Trang 30 Sgk Ngữ Văn 11
  • Soạn Bài: Hoán Dụ (Ngữ Văn Lớp 6)
  • Soạn Bài Hoán Dụ Lớp 6 Hay Nhất Đầy Đủ
  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Cô Tô Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Hoán Dụ Ngắn Nhất Ngữ Văn Lớp 6
  • Soạn Công Nghệ 7 Bài 9 Ngắn Nhất: Cách Sử Dụng Và Bảo Quản Các Loại Phân Bón Thông Thường

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Sinh 9 Bài 28 Ngắn Nhất: Phương Pháp Nghiên Cứu Di Truyền Người
  • Bài 36. Các Phương Pháp Chọn Lọc
  • Sinh Học 9 Bài 48: Quần Thể Người
  • Lý Thuyết Sinh 9: Bài 48. Quần Thể Người
  • Lý Thuyết Sinh 9: Bài 49. Quần Xã Sinh Vật
  • Mục tiêu cần đạt được của bài học:

    – HS hiểu được các cách bón phân, cách sử dụng các loại phân bón thông thường

    – Biết cách bảo quản các loại phân bón

    Hướng dẫn Soạn Công nghệ 7 Bài 9 ngắn nhất

    Câu hỏi Công nghệ 7 Bài 9 trang 20:

    1. Cây dễ sử dụng.

    2. Phân bón không bị chuyển thành chất khó tan do không tiếp xúc với đất.

    3. Phân bón có thể bị chuyển thành chất khó tan do có tiếp xúc với đất.

    4. Phân bón dễ bị chuyển than chất khó tan do tiếp xúc nhiều với đất.

    5. Tiết kiệm phân bón.

    6. Dễ thực hiện, cần ít công lao động.

    7. Chỉ bón được lượng nhỏ phân bón.

    8. Cần có dụng cụ, máy móc phức tạp.

    9. Chỉ cần dụng cụ đơn giản.

    – Ưu điểm: Cây dễ sử dụng, chỉ cần dụng cụ đơn giản

    – Nhược điểm: Phân bón có thể bị chuyển thành chất khó tan do có tiếp xúc với đất

    – Ưu điểm: Cây dễ sử dụng, chỉ cần dụng cụ đơn giản

    – Nhược điểm: Phân bón có thể bị chuyển thành chất khó tan do có tiếp xúc với đất

    – Ưu điểm: Dễ thực hiện, ít công thực hiện; chỉ cần dụng cụ đơn giản

    – Nhược điểm: Phân bón dễ bị chuyển thành chất khó tan do tiếp xúc nhiều với đất

    – Ưu điểm: Cây dễ sử dụng; phân bón không bị chuyển thành chất khó tan do không tiếp xúc với đất

    – Nhược điểm: Cần có dụng cụ, máy móc phức tạp

    Câu hỏi Công nghệ 7 Bài 9 trang 22:

    Soạn Bài 1 trang 22 ngắn nhất:

    Thế nào là bón lót, bón thúc?

    – Bón lót là bón phân vào đất trước khi gieo trồng (do phân cần thời gian phân hủy thành chất hòa tan thì cây mới hấp thụ được) nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây con ngay khi nó mới mọc, mới bén rễ.

    – Bón thúc là bón phân trong thời gian sinh trưởng của cây (phân thường ở dạng dễ hòa tan nên cây hấp thụ được ngay) nhằm đáp ứng kịp nhu cầu dinh dưỡng của cây theo từng thời kì tạo điều kiện cho cây sinh trưởng phát triển tốt

    Soạn Bài 2 trang 22 ngắn nhất:

    Phân hữu cơ, phân lân thường dùng để bón lót hay bón thúc? Vì sao?

    Phân hữu cơ, phân lân dùng để bón lót vì các chất dinh dưỡng trong phân thường ở dạng khó tiêu (không hòa tan) cây không sử dụng được ngay, phải có thời gian để phân bón phân hủy thành các chất hòa tan cây mới sử dụng được. Nên phải bon vào đất trước khi gieo trồng.

    Soạn Bài 3 trang 22 ngắn nhất:

    Phân đạm, phân kali thường dùng để bón lót hay bón thúc? Vì sao?

    Phân đạm và phân kali thường dùng để bón thúc vì nó dễ hòa tan, thường sử dụng được ngay nên người ta thường bón thúc (bón trong thời gian sinh trưởng, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cây trong từng thời kì) để kích thích cây trồng sinh trưởng.

    Trắc nghiệm Công nghệ 7 Bài 9 tuyển chọn

    Câu 1: Bón đạm cho lúa trong điều kiện thời tiết như thế nào là hợp lí:

    A. Mưa lũ

    B. Thời tiết râm mát, có mưa phùn nhỏ

    C. Mưa rào

    D. Nắng nóng

    Câu 2: Đạm Urê bảo quản bằng cách:

    A. Phơi ngoài nắng thường xuyên

    B. Để nơi khô ráo

    C. Đậy kín, để đâu cũng được

    D. Đậy kín, để nơi khô ráo thoáng mát

    Câu 3: Nhóm phân nào sau đây dùng để bón lót:

    A. Phân hữu cơ, phân xanh, phân đạm

    B. Phân xanh, phân kali, phân NPK

    C. Phân rác, phân xanh, phân chuồng

    D. Phân DAP, phân lân, phân xanh, phân vi sinh

    Câu 4: Bón thúc là cách bón:

    A. Bón 1 lần

    B. Bón nhiều lần

    C. Bón trước khi gieo trồng

    D. Bón trong quá trình sinh trưởng của cây

    Câu 5: Bón phân cho cây ngô thường sử dụng hình thức bón nào?

    A. Bón theo hốc

    B. Bón theo hàng

    C. Bón vãi

    D. Phun lên lá

    Câu 6: Để ủ phân chuồng người ta thường trát bùn hoặc đậy kỹ là nhằm:

    A. Giúp phân nhanh hoai mục

    B. Hạn chế mất đạm

    C. Giữ vệ sinh môi trường

    D. Tất cả đều đúng

    Giải thích : (Để ủ phân chuồng người ta thường trát bùn hoặc đậy kỹ là nhằm:

    + Giúp phân nhanh hoai mục

    + Hạn chế mất đạm

    + Giữ vệ sinh môi trường – SGK trang 22)

    Câu 7: Đối với phân hóa học, cần có những biện pháp bảo quản như thế nào?

    A. Đựng trong chum, vại, túi nilon kín

    B. Để nơi khô ráo, thoáng mát

    C. Không để lẫn lộn các loại phân bón với nhau

    D. Cả A, B, C đều đúng

    Giải thích : (Đối với phân hóa học, cần có những biện pháp bảo quản là:

    + Đựng trong chum, vại, túi nilon kín

    + Để nơi khô ráo, thoáng mát

    + Không để lẫn lộn các loại phân bón với nhau – SGK trang 22)

    Câu 8: Phân chuồng không bảo quản bằng cách nào?

    A. Đựng trong chum, vại

    B. Bảo quản tại chuồng nuôi

    C. Ủ thành đống, lấy bùn ao trát bên ngoài

    D. Tất cả đều sai

    Câu 9: Phân hữu cơ có đặc điểm gì?

    A. Thành phần có nhiều chất dinh dưỡng

    B. Các chất dinh dưỡng ở dạng khó tiêu, cây không sử dụng được ngay

    C. Cần thời gian để phân hủy thành các chất hòa tan

    D. Cả A, B, C đều đúng

    Giải thích : (Phân hữu cơ có đặc điểm:

    + Thành phần có nhiều chất dinh dưỡng

    + Các chất dinh dưỡng ở dạng khó tiêu, cây không sử dụng được ngay

    + Cần thời gian để phân hủy thành các chất hòa tan – Bảng, SGK trang 22)

    Câu 10: Dựa vào thời kì bón, người ta chia thành mấy cách bón phân?

    A. 2

    B. 3

    C. 4

    D. 5

    Giải thích : (Dựa vào thời kì bón, người ta chia thành 2 cách bón phân: Bón lót và bón thúc – SGK trang 20)

    Vậy là chúng ta đã cùng nhau soạn xong Bài 9: Cách sử dụng và bảo quản các loại phân bón thông thường trong SGK Công nghệ 7. Mong rằng bài viết trên đã giúp các bạn nắm vững kiến thức lí thuyết, soạn được các câu hỏi trong nội dung bài học dễ dàng hơn qua đó vận dụng để trả lời câu hỏi trong đề kiểm tra để đạt kết quả cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Sinh Học 9 Bài 55 Ô Nhiễm Môi Trường (Tiếp Theo)
  • Soạn Sinh 9 Bài 3: Lai Một Cặp Tính Trạng (Tiếp)
  • Giáo Án Sinh Học Lớp 9 Bài 31: Công Nghệ Tế Bào
  • Giáo Án Sinh 9 Bài 4: Lai Hai Cặp Tính Trạng
  • Bài 2. Lai Một Cặp Tính Trạng
  • Soạn Bài Tiếng Hát Con Tàu Ngắn Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 12: Tiếng Hát Con Tàu
  • Soạn Bài Lớp 12: Tiếng Hát Con Tàu
  • Soạn Văn Lớp 12 Bài Dọn Về Làng Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Văn Bài: Dọn Về Làng
  • Soạn Văn Lớp 12 Bài Viết Bài Làm Văn Số 3: Nghị Luận Văn Học Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Tài liệu hướng dẫn soạn bài Tiếng hát con tàu do Đọc Tài Liệu biên soạn ngay sau đây sẽ giúp các em dễ dàng tìm hiểu, tiếp cận nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên.

    Cùng tham khảo…

    Hướng dẫn soạn bài Tiếng hát con tàu ngắn gọn

    Gợi ý trả lời các câu hỏi đọc hiểu soạn bài Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên) trang 146 sách giáo khoa Ngữ văn 12 tập 1.

    Câu 1 trang 146 SGK Ngữ văn 12 tập 1

    Trong bài thơ, hình ảnh con tàu và Tây Bắc ngoài ý nghĩa cụ thể còn có ý nghĩa biểu tượng. Hãy cắt nghĩa nhan đề và 4 câu thơ đề từ.

    Trả lời:

    * Hình ảnh con tàu và Tây Bắc ngoài ý nghĩa cụ thể còn có ý nghĩa cụ thể còn mang ý nghĩa biểu tượng.

    – Nhan đề bài thơ Tiếng hát con tàu (nhân hóa) để: Biểu tượng cho tâm hồn nhà thơ đang khao khát lên đường, vượt ra khỏi cuộc sống chật hẹp, quẩn quanh để đến với cuộc đời rộng lớn (với nhân dân, với cuội nguồn sáng tạo).

    – Tây Bắc – miền đất cụ thể biểu tượng cho những nơi gian khó của đất nước.

    * Lời đề từ: “Tây bắc ư?… còn đâu”

    – Giới thiệu một cách khái quát cảm xúc bao trùm cả bài thơ: khát vọng lên đường hăm hở, mê say.

    – Đến với nhân dân, với Tây Bắc cũng chính là trở về với lòng mình, với tình cảm sâu nặng, gắn bó.

    Câu 2 trang 146 SGK Ngữ văn 12 tập 1

    Bài thơ có thể chia làm mấy đoạn? Nêu ý chính của từng đoạn. Bố cục đó thể hiện sự vận động tâm trạng của chủ thể trữ tình như thế nào?

    Trả lời:

    Bố cục bài thơ: 3 đoạn

    – Đoạn 1 (hai khổ thơ đầu): Lời giục giã, kêu gọi lên đường.

    – Đoạn 2 (chín khổ tiếp theo): Niềm hạnh phúc, gợi lại những kỉ niệm trong những năm tháng kháng chiến cùng với nhân dân

    – Đoạn ba (còn lại): Khúc hát lên đường sôi nổi, tin tưởng, say mê.

    * Bố cục bài thơ biến đổi theo diễn biến tâm trạng nhà thơ từ giục giã đến dồn dập lôi cuốn khi tìm đến ngọn nguồn cách mạng.

    Câu 3 trang 146 SGK Ngữ văn 12 tập 1

    Niềm hạnh phúc lớn lao khi gặp lại nhân dân được nhà thơ thể hiện trong khổ thơ nào? Phân tích nét đặc sắc nghệ thuật của khổ thơ đó.

    Trả lời:

    – Khổ thơ thể hiện niềm vui, hạnh phúc lớn lao khi nhân vật trữ tình gặp lại nhân dân:

    Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

    Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

    Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

    Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

    – Đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ chính là chùm so sánh, liên tưởng hết sức phong phú, độc đáo của tác giả. Qua đó làm nổi bật niềm hạnh phúc lớn lao của tác giả khi từ bỏ thế giới nhỏ hẹp của cá nhân để về với nhân dân. Đối với người con ở đây, nhân dân là nơi chan chứa tình yêu thương, che chở, cưu mang, là nguồn sống, là bầu sinh khí, tiếp sức cho anh.

    Hình ảnh nhân dân trong kỉ niệm nhà thơ được thể hiện qua những con người cụ thể nào? Phân tích những khổ thơ nói về những kỉ niệm đó để làm rõ sự gắn bó và lòng biết ơn sâu nặng của nhà thơ với nhân dân

    Trả lời:

    * Hình ảnh nhân dân trong kỉ niệm của nhà thơ được gợi lên qua hình ảnh những con người:

    + Người anh du kích

    + Thằng em liên lạc

    * Nhân dân Tây Bắc hiện lên trong hồi ức của nhà thơ qua những hình ảnh con cụ thể, một lòng một dạ chiến đấu, hi sinh cho cuộc kháng chiến chống Pháp.

    – Đó là người anh du kích: hình ảnh chiếc áo nâu vá rách – cởi lại cho con → tạo ấn tượng mạnh mẽ, gây xúc động sâu sắc về sự hi sinh cao cả, về nghĩa tình đồng đội.

    – Đó là “thằng em liên lạc”: cách xưng hô thân tình ruột thịt đã xông xáo rừng thưa, rừng rậm từ bản Na qua bản Bắc để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giao liên suốt mười năm ròng rã.

    – Đó là người mẹ nuôi quân: hình ảnh bà “mế” thức một mùa dài thể hiện tấm lòng son sắt của nhân dân Tây Bắc đối với Cách mạng. Hình ảnh bà mẹ già đêm đên bên bếp lửa hồng soi tóc bạc chăm sóc đẹp là những hình ảnh đẹp nhất của bài thơ, thể hiện ân tình sâu nặng của nhân dân đối với Cách mạng trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

    Câu 5 trang 146 SGK Ngữ văn 12 tập 1

    Hãy tìm những câu thơ thể hiện rõ nhất những chất suy tưởng và triết lí của Chế Lan Viên

    Trả lời:

    Những câu thơ mang sự suy tưởng, triết lí của nhà thơ Chế Lan Viên:

    Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

    Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

    Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

    Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương

    Đoạn thơ thể hiện chất triết lí, suy tưởng của nhà thơ: các sự vật, hiện tượng có mỗi quan hệ khăng khít với nhau, như người nghệ sĩ gắn bó với nhân dân. Tình yêu ở đây là tình cảm lớn, giữa anh- em, và tình yêu quê hương, đất nước.

    Câu 6 trang 146 SGK Ngữ văn 12 tập 1

    Nhận xét và đánh giá nghệ thuật sáng tạo hình ảnh của Chế Lan Viên trong bài thơ.

    Trả lời:

    – Hình ảnh có tính khái quát, màu sắc hiện đại, mang tính triết luận nhưng đậm chất trữ tình. Hình ảnh thường được tổ chức thành từng chuỗi liên kết, tiếp nối, bổ sung nhằm khắc sâu ý tưởng, cảm xúc.

    – So sánh liên tưởng vừa phong phú vừa sắc sảo, độc đáo.

    – Ngôn ngữ trau chuốt, gọt giũa, mang tính bác học.

    – Giọng điệu, âm hưởng lôi cuốn.

    Hướng dẫn soạn bài Tiếng hát con tàu hay nhất

    Trong bài thơ, hình ảnh con tàu và Tây Bắc ngoài ý nghĩa cụ thể còn có ý nghĩa biểu tượng. Hãy cắt nghĩa nhan đề và 4 câu thơ đề từ.

    Trả lời:

    a. Nhan đề bài thơ Tiếng hát con tàu

    – Con tàu là biểu tượng của khát vọng lên đường, khát vọng đi xa, hướng tới cuộc sống của đất nước, nhân dân đi tới chân trời của ước mơ lớn, đi tới ngọn nguồn cảm hứng của những sáng tạo nghệ thuật.

    – Tiếng hát là niềm say sưa của tâm hồn khi tìm được hướng đi và đang trên hành trình đến với nhân dân, đất nước.

    – Nhan đề bài thơ có thể hiểu là tiếng hát của tâm hồn nhà thơ – một tâm hồn tràn ngập niềm tin vào lí tưởng, vào cuộc đời. Nhà thơ đã hoá thân thành con tàu, hăm hở làm cuộc hành trình đến với Tây Bắc, đến với cuộc sống của nhân dân và đó cũng là đến với cội nguồn của cảm hứng sáng tạo nghệ thuật.

    b. Phân tích khổ thơ đề từ:

    – Khẳng định sự gắn bó của nhà thơ với Tây Bắc, một miền đất cụ thể, đã trải qua lửa đạn chiến tranh, với những khát vọng xây dựng trong cuộc sống mới, cũng là mảnh đất ươm mầm cho nhiều tác phẩm nghệ thuật nảy nở. Đây cũng chính là cuộc đời rộng lớn của nhân dân, là cuộc đời mới của những con người trẻ tuổi.

    – Thể hiện khát vọng lên đường, hoà mình vào cuộc sống rộng lớn của dân tộc, hướng vào mạch nguồn của đất nước, của nhân dân.

    Bài thơ có thể chia làm mấy đoạn? Nêu ý chính của từng đoạn. Bố cục đó thể hiện sự vận động tâm trạng của chủ thể trữ tình như thế nào?

    Trả lời:

    – Bố cục của bài thơ:

    + 2 khổ đầu: Sự trăn trở, lời mời gọi lên đường.

    + 9 khổ giữa: Khát vọng về với nhân dân, nơi khắc ghi nhiều kỉ niệm nghĩa tình trong kháng chiến.

    + 4 khổ cuối: khúc hát lên đường say mê, tin tưởng.

    – Bố cục thể hiện sự vận động của tâm trạng chủ thể trữ tình: phần đầu có sự day dứt, trăn trở. Đoạn giữa là dòng hoài niệm với cảm xúc thiết tha, biết ơn. Đoạn cuối sôi nổi, háo hức.

    Niềm hạnh phúc lớn lao khi gặp lại nhân dân được nhà thơ thể hiện trong khổ thơ nào? Phân tích nét đặc sắc nghệ thuật của khổ thơ đó.

    Trả lời:

    – Khổ thơ thể hiện niềm vui, hạnh phúc lớn lao khi nhân vật trữ tình gặp lại nhân dân:

    Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

    – Đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ chính là chùm so sánh, liên tưởng hết sức phong phú, độc đáo của tác giả. Qua đó làm nổi bật niềm hạnh phúc lớn lao của tác giả khi từ bỏ thế giới nhỏ hẹp của cá nhân để về với nhân dân. Đối với người con ở đây, nhân dân là nơi chan chứa tình yêu thương, che chở, cưu mang, là nguồn sống, là bầu sinh khí, tiếp sức cho anh.

    Hình ảnh nhân dân trong kỉ niệm nhà thơ được thể hiện qua những con người cụ thể nào? Phân tích những khổ thơ nói về những kỉ niệm đó để làm rõ sự gắn bó và lòng biết ơn sâu nặng của nhà thơ với nhân dân

    Trả lời:

    – Các hình ảnh con người cụ thể đại diện cho nhân dân Tây Bắc trong nỗi nhớ của nhà thơ:

    + Người anh du kích

    + Thằng em liên lạc

    + Người “mế” với hình ảnh “lửa hồng soi tóc bạc”.

    Đây là những hình ảnh khái quát, tượng trưng cho con người Tây Bắc trong kháng chiến, tuy nhiên đã được tác giả thể hiện bằng những con người, những câu chuyện cụ thể rất sinh động.

    – Tình cảm sâu nặng và lòng biết ơn của nhà thơ đối với nhân dân được thể hiện qua những câu chuyện, những kỉ niệm cụ thể, sâu sắc:

    + Người anh du kích trước đêm tấn công đồn địch còn để lại chiếc áo nâu cho nhân vật trữ tình.

    + Thằng em liên lạc (cách gọi thân mật): ” Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư“!

    + Người “mế” “lửa hồng soi tóc bạc”, “năm con đau (tức hồi con ốm) má thức một mùa dài”, khiến cho “trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi”.

    + Hình ảnh cô gái Tây Bắc đọng lại trong cử chỉ ấm áp “Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch”, trong hương thơm của “vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng”. Tình quân dân lâu dần thành tình đôi lứa. Nỗi nhớ được so sánh bằng những hình ảnh gợi bất ngờ, mới lạ, gợi được những tưởng tượng phong phú. ( Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét, Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng …)

    Hãy tìm những câu thơ thể hiện rõ nhất những chất suy tưởng và triết lí của Chế Lan Viên

    Trả lời:

    – Những câu thơ thể hiện rõ nhất chất suy tưởng và triết lí của thơ Chế Lan Viên:

    “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn” “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

    Văn mẫu hay: Suy tưởng triết lí và nghệ thuật sáng tạo hình ảnh trong Tiếng hát con tàu

    Nhận xét và đánh giá nghệ thuật sáng tạo hình ảnh của Chế Lan Viên trong bài thơ.

    Trả lời:

    – Hình ảnh có tính khái quát, màu sắc hiện đại, mang tính triết luận nhưng đậm chất trữ tình. Hình ảnh thường được tổ chức thành từng chuỗi liên kết, tiếp nối, bổ sung nhằm khắc sâu ý tưởng, cảm xúc.

    – So sánh liên tưởng vừa phong phú vừa sắc sảo, độc đáo.

    – Ngôn ngữ trau chuốt, gọt giũa, mang tính bác học.

    – Giọng điệu, âm hưởng lôi cuốn.

    Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm

    – Chế Lan Viên (1920 – 1989) tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, quê gốc xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị sau chuyển vào An Nhơn, Bình Định.

    – Sau khi tốt nghiệp Trung học, Chế Lan Viên đi dạy học ở trường tư, làm báo ở Sài Gòn và các tỉnh miền Trung, tham gia Cách mạng tháng Tám ở Quy Nhơn

    – Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông hoạt động văn nghệ và báo chí ở Liên khu IV và chiến trường Bình Trị – Thiên.

    – Sau năm 1954, ông về Hà Nội tiếp tục hoạt động văn học, nhiều năm tham gia lãnh đạo Hội Nhà văn Việt Nam.

    – Sau năm 1975, ông vào sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục hoạt động văn học.

    – Thơ Chế Lan Viên có phong cách độc đáo: có vẻ đẹp trí tuệ, luôn có ý thức khai thác triệt để những tương quan đối lập, giàu chất suy tưởng triết lí với thế giới hình ảnh đa dạng, phong phú, đầy sáng tạo.

    – Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

    – Bài thơ Tiếng hát con tàu rút từ tập Ánh sáng và phù sa, một tập thơ xuất sắc, kết tinh tư tưởng và nghệ thuật thơ Chế Lan Viên trên con đường thơ cách mạng.

    – Bài thơ được gợi cảm hứng từ một sự kiện kinh tế – chính trị, xã hội: cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựng kinh tế ở miền núi Tây Bắc vào những năm 1958 – 1960.

    – Ý nghĩa nhan đề: ” Tiếng hát con tàu ” là tiếng hát của một tâm hồn tràn ngập niềm tin vào lí tưởng, vào cuộc đời với khát vọng ra đi.

    – Nội dung chính: Những cảm xúc chân thành, tha thiết của tác giả trong công cuộc dựng xây đất nước, sự hòa nhập với nhân dân, với cuộc sống mới: lòng biết ơn, tình yêu và sự gắn bó, khát vọng và niềm hân hoan.

    • Tiếng hát con tàu là khúc hát về lòng biết ơn, thể hiện tình yêu và sự gắn bó, khát vọng và niềm hân hoan khi trở về với nhân dân, đất nước của một tâm hồn thơ đã tìm thấy ngọn nguồn nuôi dưỡng và chân trời nghệ thuật mới của mình ở đời sống của nhân dân và đất nước.
    • Bài thơ với hình ảnh con tàu là một hình ảnh là ẩn dụ nghệ thuật có ý nghĩa tượng trưng cho ước mơ, khát vọng vượt ra khỏi cuộc sống chật hẹp quẩn quanh để đến với cuộc sống rộng lớn của nhân vật trữ tình.

    [ĐỪNG SAO CHÉP] – Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài Tiếng hát con tàu một cách tốt nhất. “Trong cách học, phải lấy tự học làm cố” – Chỉ khi bạn TỰ LÀM mới giúp bạn HIỂU HƠN VỀ BÀI HỌC và LUÔN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ CAO.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 12 Bài Tiếng Hát Con Tàu Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Đàn Ghi Ta Của Lorca
  • Soạn Bài Đàn Ghita Của Lorca
  • Phân Tích Và Soạn Bài Đàn Ghita Của Lorca
  • Soạn Bài Đàn Ghi Ta Của Lor
  • Tin tức online tv