Hướng Dẫn Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Xây Dựng Đoạn Văn Trong Văn Bản Trang 34 Sgk Ngữ Văn 8, Tập 1
  • Phòng Khám Bình Minh
  • 16 Cách Đơn Giản Để Giải Tỏa Stress Và Sự Buồn Chán (Phần 2)
  • Hướng Dẫn Xoay Rubik 3X3X3 Theo Cách Đơn Giản Nhất
  • Stress Học Đường – Dấu Hiệu Và Cách Giải Quyết
  • (Trích tiểu thuyết Tắt đèn – Ngô Tất Tố) I. TÁC GIẢ – TÁC PHẨM 1. Tác giả:

    Nhà văn Ngô Tất Tố (1893-1954) quê ở làng Lộc Hà (nay thuộc huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội).

    – Trước 1945, Ngô Tất Tố làm nhiều nghề: dạy học, bốc thuốc, làm báo, viết văn. Ông từng cộng tác với nhiều tờ báo: An Nam tạp chí, Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phổ thông, Đông Phương, Công dân, Hải Phòng tuần báo, Hà Nội tân văn, Thực nghiệp, Tương lai, Thời vụ, Con ong, Việt nữ, Tiểu thuyết thứ ba,…

    – Trong Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia Uỷ ban Giải phóng xã (Lộc Hà). Năm 1946: gia nhập Hội Văn hoá Cứu quốc và lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp, Nhà văn từng là Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ Việt Bắc, hoạt động ở Sở Thông tin khu XII, tham gia viết các báo: Cứu quốc khu VII, Thông tin khu VII, Tạp chí Văn nghệ và báo Cứu quốc Trung ương… và viết văn. Ông đã là Uỷ viên Ban chấp hành Hội văn nghệ Việt Nam (trong Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ I – 1948).

    – Tác phẩm đã xuất bản: Ngô Việt xuân thu (dịch, 1929); Hoàng Hoa Cương (dịch, 1929); Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ (truyện kí lịch sử, 1935); Đề Thám (truyện kí lịch sử, viết chung, 1935); Tắt đèn (tiểu thuyết, báo Việt Nữ, 1939; Mai Lĩnh xuất bản, 1940); Lều chõng (phóng sự tiểu thuyết, 1940; đăng báo Thời vụ, 1941; Mai Lĩnh xuất bản, 1952); Thơ và tình (dịch thơ Trung Quốc, 1940); Đường Thi (sưu tầm, chọn và dịch, 1940); Việc làng (phóng sự, báo Hà Nội tân văn, 1940; Mai Lĩnh xuất bản, 1941); Thi văn bình chú (tuyển chọn, giới thiệu, 1941); Văn học đời Lí(tập I) và Văn học đời Trần (tập II, trong bộ Việt Nam văn học – nghiên cứu, giới thiệu, 1942); Lão Tử(soạn chung, 1942); Mặc Tử (biên soạn, 1942); Hoàng Lê nhất thống chí (dịch, tiểu thuyết lịch sử, 1942; báo Đông Pháp, 1956); Kinh dịch (chú giải, 1953); Suối thép (dịch, tiểu thuyết, 1946); Trước lửa chiến đấu (dịch, truyện vừa, 1946); Trời hửng (dịch, truyện ngắn, 1946); Duyên máu (dịch, truyện ngắn, 1946); Doãn Thanh Xuân (dịch, truyện ngắn, 1946, 1954); Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác (chèo, 1951).

    Tác phẩm của Ngô Tất Tố sau này được tập hợp trong tuyển tập: Ngô Tất Tố và tác phẩm, gồm 2 tập, do Nhà Xuất bản Văn học ấn hành, 1971 – 1976.

    – Nhà văn đã được nhận hai giải thưởng trong giải thưởng văn nghệ 1949 -1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam: Giải ba dịch (Trời hửng, Trước lửa chiến đấu) và giải khuyến khích (vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (năm 1996).

    2. Tác phẩm:

    Tóm tắt:

    Gia đình chị Dậu đã dứt ruột bán con mà chưa đủ tiền nộp sưu. Anh Dậu đang ốm cũng bị bọn tay sai lôi ra đình, đánh cho dở sống dở chết. Được bà hàng xóm cho bát gạo, chị Dậu vừa nấu xong nồi cháo thì cai lệ và người nhà lí trưởng ập đến. Mặc dầu chị Dậu hết lời van xin, cai lệ vẫn toan hành hạ anh Dậu. Chị Dậu xông vào đỡ tay, bị cai lệ đánh, và chị đã túm cổ đẩy tên này ngã chổng quèo. Người nhà lí trưởng sấn sổ giơ gậy định đánh thì bị chị Dậu túm tóc lẳng cho một cái ngã nhào ra thềm.

    II. TRẢ LỜI CÂU HỎI 1- Tên cai lệ:

    * Cai lệ là một viên cai chỉ huy một tốp lính ở nông thôn thời trước CM, thường được bọn quan lại cho phép sử dụng bạo lực để dàn áp người dân theo lệnh của chính quyền.

    * Thuế sưu là thứ thuế mà người đàn ông là dân thường tuổi từ 18-60 hằng năm phải nộp cho nhà nước phong kiến thực dân.

    * – Gõ đầu roi xuống đất, cai lệ thét bằng giọng khàn khàn … : Thằng kia…

    – Trợn ngược hai mắt hắn quát: Mày định nói…

    – Giọng vẫn hầm hè: Nếu không có tiền nộp sưu cho ông bây giờ …

    – Tha này! Tha này! Vừa nói hắn vừa bịch …

    * Tàn bạo, không chút tính người là bản chất , tính cách của hắn. Tên cai lệ mang tính cách dã thú đó là một trong những hiện thân sinh động của trật tự thực dân phong kiến đương thời .

    2. Phân tích tình thế của chị Dậu khi bọn tay sai xông đến.

    * Anh Dậu ốm nặng ,bị đánh, trói, cùm kẹp. Chị Dậu phải bán con, ổ chó tưởng đủ nộp sưu cho chồng. Nào ngờ lại còn cả suất sưu người chết. Anh rũ người như một xác chết, bọn hào lí sai khiêng trả anh về nhà. Anh vừa được cứu tỉnh, cai lệ và người nhà lí trưởng xông vào – chị Dậu đứng trước tình thế mạng sống của chồng rất mong manh.

    3. Diễn biến tâm lí, hành động chị Dậu.

    – “van xin tha thiết”

    -“liều mạng cự lại” cư lại” bằng lí lẽ – quyết ra tay đấu lực với chúng.

    – (tìm các từ ngữ thể hiện ngôn ngữ của chị Dậu )

    * Ban đầu chị cố khơi gợi từ tâm và lương tri của “ông cai”. Tức quá không thể chịu được chị mới liều mạng cự lại, bằng lý lẽ đứng dậy với lòng căm thù ngùn ngụt bốc cao, trừng trị chúng.

    – Với cai lệ ”lẻo khoẻo”, chị: ”túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa”, hắn đã ”ngã chỏng quèo trên mặt đất” ! Đến tên người nhà lí trưởng, ”hai người giằng co nhau, du đẩy nhau, rồi ai nấy đều buông gậy ra, áp vào vật nhau”, kết cục anh chàng ”hầu cận ông lí” yếu hơn chị chàng con mọn, hắn bị chị túm tóc lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm ” !

    – Sức mạnh ghê gớm và tư thế ngang tàng của chị Dậu, đối lập với hình ảnh, bộ dạng thảm hại hết sức hài hước của hai tên tay sai

    Đoạn văn đặc biệt sống động và toát lên một không khí hào hứng rất thú vị ”làm cho đọc giả hả hê một chút sau khi đọc những trang rất buồn thảm”

    Do đâu chị Dậu có được sức mạnh như thế ?

    – Sức mạnh của lòng căm hờn – đó cũng là sức mạnh của lòng yêu thương.

    – Chị Dậu mộc mạc, hiền dịu, đầy vị tha, sống khiêm nhường, biết nhẫn nhục chịu đựng, nhưng vẫn có một sức sống mạnh mẽ, một tinh thần phản kháng tiềm tàng; một thái độ bất khuất.

    Kết thúc cảnh này, anh Dậu nói: “U nó không được thế ! Người ta đánh mình không sao, mình đánh người ta thì mình phải tù, phải tội” còn chị Dậu lại nói : ” Thà ngồi tù để chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được…” Vì sao có ý kiến khác nhau như thế ?

    – Anh Dậu tuy nói đúng cái lí, cái sự thật, nhưng chị Dậu không chấp nhận cái lí vô lí đó : Câu trả lời của chị cho thấy chị không còn chịu cứ phải sống cúi đầu, mặc cho kẻ ác chà đạp. Ở chị có một tình thần phản kháng tiềm tàng mà mãnh liệt.

    4. Về nhan đề của đoạn trích : Tức nước vỡ bờ

    – Nhà văn đã cảm nhận được xu thế ”tức nước vỡ bờ” và sức mạnh to lớn khôn lường của sự ”vỡ bờ” đó. Và không phải quá lời nếu nói rằng cảnh ”Tức nước vỡ bờ” trong đoạn trích đã dự báo cơn bão táp quần chúng nông dân nổi dậy sau này. Nhà văn Nguyễn Tuân đã nói rằng Ngô Tất Tố, với Tắt đèn đã ”xui người nông dân nổi loạn” quả không sai.

    5. Giá trị nghệ thuật của đoạn trích:

    * Đoạn văn tuyệt khéo:

    – Sự dồn nén, ” tức nước” để đến ”vỡ bờ” được Ngô Tất Tố diễn tả rất tự nhiên, hợp lí.

    – Nghệ thuật diễn tả câu chuyện, hành động cũng thật tài tình, sinh động. Chú ý cách diễn tả theo lối tăng tiến động tác, lời nói của nhân vật cai lệ và chị Dậu. Đoạn văn này sống động như một màn kịch ngắn.

    Nhân vật được khắc hoạ rất chân thực, sinh động, rõ nét, thể hiện sự diễn biến tâm lí của nhân vật chi Dậu rất hợp lí.

    6. Ý nghĩa:

    – Tác phẩm đã nêu lên một hiện thực xã hội lúc bấy giờ, những hiện thực về những tên quan lại thối nát.

    – Con người đã biết đứng lên đấu tranh để đòi lại công lý.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ (Trích Tắt Đèn) Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài Vào Nhà Ngục Quảng Đông Cảm Tác (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Vào Nhà Ngục Quảng Đông Cảm Tác Của Phan Bội Châu
  • Soạn Bài Ôn Tập Về Luận Điểm Lớp 8
  • Soạn Bài: Ôn Tập Về Luận Điểm (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Ôn Tập Về Luận Điểm Lớp 8

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Vào Nhà Ngục Quảng Đông Cảm Tác Của Phan Bội Châu
  • Soạn Bài Vào Nhà Ngục Quảng Đông Cảm Tác (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ (Trích Tắt Đèn) Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ
  • Soạn Bài Xây Dựng Đoạn Văn Trong Văn Bản Trang 34 Sgk Ngữ Văn 8, Tập 1
  • Đề bài: Soạn Bài Ôn Tập Về Luận Điểm Lớp 8

    Bài Làm I. KHÁI NIỆM LUẬN ĐIỂM

    Câu 1: Luận điểm là những tư tưởng, quan điểm, chủ trương cơ bản người viết (nói) nêu ra trong bài văn nghị luận. (Đáp án c)

    Câu 2:

    a) Văn bản: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta có 4 luận điểm:

    • Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước
    • Lịch sử đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại
    • Đồng bào ta ngày nay cũng có một lòng yêu nước nồng nàn
    • Bổn phận của chúng ta với lòng yêu nước

    Trong đó, luận điểm dùng làm cơ sở là luận điểm thứ nhất: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, và luận điểm dùng làm kết luận của bài là luận điểm thứ tư: Bổn phận của chúng ta với lòng yêu nước.

    b) Một bạn cho rằng bài Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn có hai luận điểm:

    • Luậnđiểm 1: Lí do phải dời đô
    • Luận điểm 2: Lí do có thể coi thành Đại La là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.

    Xác định luận điểm như vậy là không đúng vì đó không phải là ý kiến, quan điểm mà chỉ là những vấn đề. Văn bản Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn có các luận điểm sau

    • Dời đô là việc trọng đại của các vua chúa, trên thuận ý trời, dưới theo lòng dân mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài.
    • Các nhà Đinh, Lê không chịu dời đô nên triều đại ngắn ngủi…
    • Thành Đại La xét về mọi mặt, thật xứng đáng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.
    • Vua sẽ dời đô ra đó.

    II. MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬN ĐIỂM VỚI VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN Câu 1:

    a) Vấn đề đặt ra trong bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta là: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta ( Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước). Nếu trong bài văn, Hồ Chí Minh chỉ đưa ra luận điểm: “Đồng bào ta ngày nay có lòng yêu nước nồng nàn” thì không đủ làm sáng tỏ vấn đề tinh thần yêu nước của nhân dân ta.

    b) Trong bài Chiếu dời đô, nếu Lí Công Uẩn chỉ đưa ra luận điểm: Các triều đại trước đó đã có lần dời đô, thì mục đích của vua khi ban chiếu không đủ để làm sáng rõ vấn đề: Cần phải dời đô từ Hoa Lư đến Đại La.

    Câu 2: Luận điểm cần chính xác, rõ ràng, phù hợp với yêu cầu giải quyết vấn đề và phải đủ làm sáng tỏ toàn bộ vấn đề.

    III. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC LUẬN ĐIỂM TRONG BÀI VĂN NGỊ LUẬN Câu 1:

    – Hệ thống luận điểm 1 trong ví dụ hoàn toàn chính xác, có sự liên kết, phân biệt rành mạch các ý với nhau, bảo đảm chúng ko bị trùng lặp, chồng chéo lên nhau; được sắp xếp theo một trình tự hợp lí.

    – Hệ thống luận điểm 2 không đạt vì chưa chính xác, chưa phù hợp với vấn đề( chưa chăm học, hay nói chuyện riêng chưa phải là khuyết điểm về phương pháp học tập. Các luận điểm không có sự liên kết: Vì chưa chính xác nên luận điểm a không thể làm cơ sở để dẫn tới luận điểm b, bởi không bàn về phương pháp học tập nên luận điểm c không liên kết được với các luận điểm đứng trước và sau nó. Do đó, luận điểm d cũng không kế thừa và phát huy được kết quả của cả ba luận điểm a, b, c trước đó. Nếu viết theo hệ thống luận điểm này thì bài làm không thể rõ ràng, mạch lạc, các ý không thể tránh khỏi luẩn quẩn, trùng lặp, chồng chéo.

    Câu 2: Học sinh khái quát thành nội dung ghi nhớ 4 trong bài.

    IV. LUYỆN TẬP Bài tập 1:

    Luận điểm của văn bản không phải là ” Nguyễn Trãi là một ông tiên”, cũng không phải là: ” Nguyễn Trãi là một anh hùng dân tộc ” mà là: ” Nguyễn Trãi là tinh hoa của đất nước, dân tộc và thời đại lúc bấy giờ”. Vì:

    • Nguyễn Trãi có cái tài làm hay, làm đẹp cho đất nước, từ xưa chưa bao giờ có.
    • Nguyễn Trãi là người chân đạp đất Việt Nam, đầu đội trời Việt Nam, tâm hồn lộng gió của thời đại lúc bấy giờ, thông cảm sâu xa với nỗi lòng dân lúc bấy giờ, suốt đời tận tụy cho một lí tưởng cao quý.
    • Nguyễn Trãi là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc.
    • Ông có sự nghiệp sáng tác đáng tự hào.

    Bài tập 2:

    a, Các luận điểm đuợc lựa chọn phải có nội dung chính xác, và phù hợp với ý nghĩa của vấn đề giáo dục là chìa khoá của tương lai. Đây là một vấn đề nghị luận đồng thời cũng là luận điểm trung tâm. Vì thế không thể chọn những ý không có mối quan hệ chặt chẽ với nội dung cơ bản này

    b, Có thể sắp xếp theo trình tự:

    Giáo dục được coi là chìa khoá của tương lai vì:

    – Giáo dục là yếu tố quyết định đến việc điều chỉnh tốc độ gia tăng dân số; thông qua đó, quyết định môi trường sống, mức sống… trong tương lai

    – Giáo dục trang bị kiến thức và nhân cách, trí tuệ và tânm hồn cho trẻ em hôm nay, những người sẽ làm nên thế giới ngày mai

    – Do đó giáo dục là chìa khoá cho sự tăng trưởng kinh tế trong tương lai.

    – Cũng do đó giáo dục là chìa khoá cho sự phát triển chính trị và cho tiến bộ xã hội sau này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Ôn Tập Về Luận Điểm (Siêu Ngắn)
  • Tiếng Anh 8 Mới Unit 6 A Closer Look 1
  • Giải A Closer Look 2 Unit 6 Tiếng Anh 8 Mới
  • Unit 8 Lớp 6: A Closer Look 2
  • Unit 6 Lớp 8: A Closer Look 2
  • Soạn Văn 8 Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 7

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Viết Số 7 Lớp 8 Bài Hay
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 7 Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8
  • Soạn Anh 8: Unit 1. Communication
  • Tiếng Anh 8 Mới Unit 4 Looking Back
  • Unit 1 Lớp 8: Looking Back
  • Soạn Văn 8: Viết bài tập làm văn số 7 – Văn nghị luận là tài liệu tham khảo hay được chúng tôi sưu tầm, giúp bạn thuận tiện hơn trong quá trình soạn bài để chuẩn bị cho bài học mới trên lớp. Mời các bạn tham khảo bài soạn văn 8 này để học tốt môn Ngữ văn lớp 8 hơn.

    Soạn bài lớp 8 bài Viết bài tập làm văn số 7 – Văn nghị luận

    Đề 1: Tuổi trẻ tương lai của đất nước (gợi ý: Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Bác Hồ tha thiết căn dặn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, … ở công học tập của các cháu.” Đề bài của Bác giúp em hiểu đề bài trên như thế nào?)

    a) Mở bài: Dẫn dắt vào đề bằng lời dạy của Bác Hồ. Nêu vai trò của tuổi trẻ với tương lai đất nước.

    b) Thân bài:

    – Tại sao nói “Tuổi trẻ là tương lai đất nước”?

    + Tuổi trẻ bao giờ cũng dồi dào sức khoẻ, có đủ nhiệt tình để cống hiến cho quê hương, đất nước.

    + Tuổi trẻ không bao giờ thiếu ước mơ và sự sáng tạo.

    + Có nhiệt huyết, sự táo bạo và sẵn sàng dấn thân để đến những nơi khó khăn và làm những việc khó.

    – Tuổi trẻ nước ta trong quá khứ đã cống hiến cho đất nước như thế nào? (kể về một số tấm gương mà em biết, như: Trạng Hiền, Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Trỗi, Lê Bá Khánh Trình,…).

    – Tuổi trẻ hôm nay cần làm gì để cống hiến cho đất nước?

    + Ra sức học tập.

    + Tham gia tích cực các hoạt động xã hội.

    + Thi đua lập thành tích trong mọi lĩnh vực của đời sống.

    + Chủ động tiếp nhận và gánh vác dần những công việc của thế hệ trước.

    – Tuổi trẻ cũng cần khắc phục nhược điểm không có lợi cho bản thân và tương lai của đất nước (sự bồng bột, thói ỷ lại, thó ăn chơi sa đoạ,…).

    c) Kết bài:

    Tuổi trẻ phải ước mơ, phải khát khao cống hiến. Có như vậy, cuộc sống mới dồi dào ý nghĩa.

    Mời tham khảo bài văn mẫu: Bài văn mẫu lớp 8 số 7 đề 1: Tuổi trẻ là tương lai của đất nước

    Đề 2: Văn học và tình thương gợi ý: Chứng minh rằng văn học của dân tộc ta luôn ca ngợi những ai biết “thương người như thể thương thân” và nghiêm khắc phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn.)

    a) Mở bài: Mối quan hệ giữa văn học và tình thương trong lịch sử văn học.

    b) Thân bài:

    – Tại sao văn học luôn gắn bó với tình thương?

    + Vì văn học là tâm hồn dân tộc.

    + Một trong những vẻ đẹp nhất của tâm hồn dân tộc ấy là tình thương yêu nhân loại.

    – Văn học gắn bó với tình thương như thế nào?

    + Văn học nói lên nỗi đau khổ của mọi kiếp người.

    + Văn học nói lên sự cảm thông đối với nỗi đau của họ và gợi tình thương yêu trong mỗi tâm hồn người đọc.

    + Văn học bồi dưỡng, làm đẹp tâm hồn con người.

    c) Kết bài: Tình yêu thương đã trở thành một phẩm chất và là thước đo cao quý của văn học. Nó cứu vớt, dìu dắt, nâng niu con người trong hiện tại và trên đường đến tương lai.

    Đề 3: Hãy nói không với các tệ nạn (gợi ý: Hãy viết 1 bài nghị luận để nêu rõ tác hại của 1 trong các tệ nạn xã hội mà chúng ta cần phải kiên quyết và nhanh chóng bài trừ như cờ bạc, tiêm chích ma tuý, hoặc tiếp xúc với những văn hoá phẩm không lành mạnh.)

    a) Mở bài:

    – Những tệ nạn xã hội nào hiện đang rình rập và làm hại tới giới trẻ và tương lai của đất nước?

    – Thái độ của giới trẻ ra sao?

    b) Thân bài:

    – Tuổi trẻ hiện nay thường mắc vào các loại tệ nạn như thế nào?

    – Tác hại của các tệ nạn đối với mỗi cá nhân và xã hội?

    + Thiệt hại về vật chất.

    + Làm tan vỡ hạnh phúc gia đình.

    + Bản thân mỗi cá nhân mất sức sản xuất.

    + Trở thành nỗi lo của xã hội.

    + Làm gia tăng các loại tệ nạn khác.

    – Nhận thức của giới trẻ với các tệ nạn ra sao?

    + Còn mơ hồ.

    + Coi thường, thờ ơ, sống buông thả,…

    – Cần phải nhận thức vấn đề này ra sao?

    + Đây là một trong những con đường nhanh nhất làm phá tan mọi điều tốt đẹp nhất của mỗi con người.

    + Cần nhận thức đúng đắn, đồng thời góp ý, chỉ bảo mọi người cùng nhau “Nói không với các tệ nạn xã hội”.

    c) Kết bài:

    Khẳng định sự nguy hiểm của các tệ nạn. Đồng thời khẳng định quyết tâm tiêu trừ nó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 7: Văn Nghị Luận Ngắn Gọn Hay Nhất
  • 2 Bài Văn Mẫu Viết Bài Tập Làm Văn Số 7 Lớp 8 Đề 3: Nói Không Với Tệ Nạn Xã Hội Hay Nhất.
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8
  • Soạn Viết Bài Tập Làm Văn Số 6 Siêu Ngắn
  • Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Lớp 8 Văn Tự Sự Kết Hợp Với Miêu Tả Và Biểu Cảm Hay Nhất
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 7: Văn Nghị Luận Ngắn Gọn Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 8 Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 7
  • Bài Viết Số 7 Lớp 8 Bài Hay
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 7 Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8
  • Soạn Anh 8: Unit 1. Communication
  • Tiếng Anh 8 Mới Unit 4 Looking Back
  • Soạn văn lớp 8 bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận ngắn gọn hay nhất : Đề 2 Chứng minh rằng văn học của dân tộc ta luôn ca ngợi những ai biết “Thương người như thể thương thân ” và nghiêm khắc phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn. Đề 3 Nói lên những suy nghĩ của em về các tệ nạn như: cờ bạc, tiêm chích ma túy, hoặc tiếp xúc với văn hoá phẩm không lành mạnh

    Soạn văn lớp 8 bài Chương trình địa phương (phần văn )

    Soạn văn lớp 8 trang 128 tập 2 bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận ngắn gọn hay nhất

    Câu hỏi bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận tập 2 trang 128

    Đề 1 Hãy nêu lên những suy nghĩ của em về câu nói sau đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh: … “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập.

    Đề 2 Chứng minh rằng văn học của dân tộc ta luôn ca ngợi những ai biết “Thương người như thể thương thân ” và nghiêm khắc phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn.

    Đề 3 Nói lên những suy nghĩ của em về các tệ nạn như: cờ bạc, tiêm chích ma túy, hoặc tiếp xúc với văn hoá phẩm không lành mạnh

    Sách giải soạn văn lớp 8 bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận

    Trả lời câu 1 soạn văn bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận trang 128

    Dàn ý

    Mở bài: Đặt vấn đề, nêu vai trò của tuổi trẻ đối với tương lai của đất nước. Có thể trích dẫn câu nói nổi tiếng về tuổi trẻ.

    Thân bài:

    – Khái niệm tuổi trẻ:

    + Tuổi trẻ là lứa tuổi thanh niên, thiếu niên. Lứa tuổi được học hành, đang còn ngồi trên ghế nhà trường.

    + Tuổi trẻ là những năm tháng tươi đẹp nhất trong cuộc đời.

    – Nhấn mạnh tầm quan trọng của tuổi trẻ với đất nước:

    + Tuổi trẻ là lúc nhiều sức khỏe và thời gian nhất trong cuộc đời mỗi người.

    + Tuổi trẻ là tuổi có nhiều ước mơ, khát vọng và dám nghĩ dám làm.

    + Là tuổi có sức bật mạnh mẽ nhất.

    + Tuổi trẻ là tuổi cống hiến được nhiều nhất cho xã hội.

    → Với những lợi thế trên, tuổi trẻ trở thành nguồn nhân lực hàng đầu trong công cuộc xây dựng đất nước phát triển, cường thịnh.

    – Nhiệm vụ của tuổi trẻ

    + Tuổi trẻ cần tập trung trau dồi kiến thức, rèn luyện phẩm chất đạo đức để trở thành người có nhân cách, năng lực.

    + Xây dựng kế hoạch và mục tiêu sống kiên định.

    + Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phải tập trung học tập.

    + Tích cực tham gia những hoạt động tình nguyện vì cộng đồng.

    + Tránh xa các tệ nạn xã hội.

    + Đặt ra những mục tiêu và phương pháp học tập đúng đắn.

    + Kết hợp giữa học và thực hành để lý thuyết được áp dụng hiệu quả vào thực tiễn cuộc sống.

    → Phát triển bản thân chính là phát triển sức mạnh của đất nước.

    Kết bài: Khẳng định rằng tuổi trẻ chính là tương lai của đất nước. Xây dựng và bảo vệ đất nước là nhiệm vụ chung thiêng liêng của mỗi cá nhân trong quốc gia đó, vì vậy thế hệ trẻ cần tích cực trau dồi kiến thức, rèn luyện đạo đức xứng đáng là công dân có ích cho xã hội.

    Nói về đất nước ta trước năm 1945, thật là những cuộc sống tối tăm:

    “Ôi nhớ những đêm nào thuở trước

    Xóm làng ta xơ xác héo hon

    Nửa đêm thuế thúc trống dồn

    Sân đình máu chảy, làng thôn lính đầy”….

    Những mảnh đời như lão Hạc, chị Dậu và cái Tí thật chẳng có lối thoát, không còn hi vọng gì, còn con trai lão Hạc thì:

    “Bán thân đổi mấy đổng xu

    Thịt xương vùi góc cao su mấy tầng …”

    Kiếp sống của nhân dân lao động thì tăm tối, bị chà đạp về nhân phẩm và quyền sống; kiếp sống của những người trí thức cũng chẳng có tương lai: những ông giáo của Nam Cao cũng hệt như con hổ nhớ rừng: “Nay sa cơ chịu nhục nhằn tù hãm”…

    Nhưng Bác Hồ đã tiên đoán được tiềm năng của dân tộc Việt chúng ta. Năm 1921, người đã viết: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến”.

    Với ý nghĩa “tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội, thực sự thanh niên là lực lượng hùng hậu, có sức khỏe. Có học vấn và tiềm năng sáng tạo, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học hiện đại. Trong giai đoạn cách mạng mới, trước xu thế toàn cầu hóa về kinh tế và bối cảnh thế giới biến động phức tạp, Đảng ta đã khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xung kích cách mạng, là nguồn nhân lực quyết định thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng đất nước ta trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thanh niên chiếm 1/3 dân số, là lực lượng xung kích, là người chủ hiện tại và tương lai của đất nước ta. Hiện nay, thanh niên ta đang đứng trước những thời cơ là:

    – Sự nghiệp đổi mới của Đảng, sự đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự quan tâm của nhà nước và các cấp chính quyền và các ngành mở ra cho thanh niên nhiều cơ hội để phát huy tài năng, cống hiến và trưởng thành.

    – Các chính sách của nhà nước như phát triển giáo dục, nâng cao trình độ học vấn và tay nghề, các chính sách khuyến khích đầu tư và phát triển kinh tế nhiều thành phần …là cơ hội để thanh niên vươn lên làm giàu chính đáng.

    Trong những năm 1920, Bác viết bài “Gửi thanh niên An Nam” như sau:

    “Thanh niên chúng ta đang làm gì? Nói ra thì buồn, buồn lắm: họ khồng làm gì cả. Những thanh niên không có phương tiện thì không dám rời quê nhà;; những người có phương tiện thì lại chìm ngập trong sự biếng nhác; còn những kẻ xuất dương thì chỉ nghĩ đến việc thỏa mãn tính tò mò của tuổi trẻ mà thôi! Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên của người không sớm hồi sinh!”. Cùng thời lúc ấy, nhà cách mạng Phan Bội Châu cũng mượn tiếng gà gáy để đánh thức tuổi trẻ.

    “Dậy Dậy! Dậy!

    Bên án, một tiếng gà vừa gáy.

    Chim trên cây cũng tỏ ý chào mừng

    Xuân ơi xuân, em có biết cho chăng?

    Ba mươi năm lẻ đã từng chua với xót…!!”

    Rồi từ đó, nhà chí sĩ kêu gọi thanh niên:

    Chẳng thèm chơi, chẳng thèm mặc, chẳng thèm ăn

    Đúc gan sắt để dời non lấp bể

    Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ…

    Mới thế này là mới! Hỡi chư quân!”…

    Bao nhiêu năm trôi qua từ những năm 1920 ấy, bao anh hùng đã đỗ máu xương xuống mảnh đất này! Bây giờ, trong những thanh niên thế kỉ XXI, ai là người còn nhớ đến những người lãnh tụ chịu tù tội, ai đếm được những máu xương nhuộm thắm quê hương để giành độc lập tự do? Nếu bạn có một hoái bão cao đẹp dựng xây đất nước, xin hãy đi lên bằng nghị lực của mình và một trí tuệ được thụ hưởng có chọn lọc thời mờ cửa của thế kỉ XXI. Mong sao những thanh niên như thế có một tưorng lai tươi sáng khi bạn biết đi lên, sống xây dựng và cống hiến. bạn sẽ có một tương lai tươi sáng giữa một góc quê hương giàu đẹp!

    Nhưng nếu bạn là một trong những bạn trẻ đang rong chơi thay cho việc vùi đầu vào nghiên cứu và học tập? Nếu bạn ăn chơi và vô tình sa chân vào con đường nghiện ngập, khó thoát ra? Vậy thì tương lai của nhũng người như bạn đưa đất nước quê hương về đâu? Bạn đưa gia đình thân thích bạn đi đến nơi nào nếu nơi bạn đến là bệnh viện chữa AIDS? Nếu thanh niên chúng ta không là gánh nặng cho gia đình, xã hội, mà là chỗ dựa cho người thân yêu, thì đó là “con hơn cha là nhà có phước”. Đất nước càng nhiều người như thế, càng giàu mạnh hùng cường.

    Bài văn mẫu 2

    Trong cuộc sống hằng ngày, ai cũng biết rằng tuổi trẻ là một thành phần, yếu tố quan trọng , ảnh hưởng đến tương lai đất nước, vì thế mà Bác đã căn dặn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt nam có bước đến đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần ở công học tập của các em”. Chúng ta cùng tìm hiểu vai trò của tuổi trẻ với tương lai đất nước.

    Tuổi trẻ là những công dân ở lứa tuổi vị thành niên, thanh niên… là thế hệ “măng non”, hoặc đã sắp thành “tre”, là người đã đủ điều kiện, đủ ý thức để nhận biết vai trò của mình đối với bản thân, xã hội. Tuổi trẻ của mỗi thời đại là niềm tự hào dân tộc, là lớp người tiên phong trong công cuộc xây dựng, đổi mới, phát triển đất nước. Tương lai đất nước là vận mệnh, là số phận của đất nước mà mỗi công dân sẽ góp phần xây dựng, phát triển, trong đó quan trọng nhất là thế hệ trẻ. Thế kỉ 21, thế kỉ của sự phát triển, không ngừng nâng cao trình độ văn hoá kinh tế, đất nước. Để có thể bắt kịp đà phát triển của những nước lớn mạnh thì đòi hỏi sự chung sức đồng lòng của tất cả mọi người mà lực lượng chủ yếu là tuổi trẻ. Bởi đó là lực lượng nồng cốt, là chủ nhân tương lai, là nhân vật chính góp phần tạo nên cái thế, cái dáng đứng cho non sông Tổ quốc.

    Tuổi trẻ hôm nay là tôi, là bạn, là những anh chị đang có mặt trên giảng đường Đại học, đang hoạt động bằng cả tâm huyết để cống hiến sức trẻ với những đam mê cùng lòng nhiệt tình bốc lửa. Tuổi trẻ tốt thì xã hội tốt, còn xã hội tốt sẽ tạo điều kiện cho tầng lớp trẻ phát triển toàn diện, sinh ra những người con có ích cho đất nước, đó là điều tất yếu, hiển nhiên mà ai cũng biết.

    Mỗi người chúng ta cũng đi qua thời tuổi trẻ – tuổi của sức mạnh phi thường, của cái tuổi không chịu khuất phục trước khó khăn và sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn. Sức mạnh vô sông của tuổi trẻ ” sông kia phải chuyển, núi kia phải dời”. Chúng ta chỉ có một lần trong đời là tuổi trẻ vì vậy cần phải nắm bắt, cần đóng góp sức lực cho đất nước. Việc xây dựng đất nước là trách nhiệm của mọi người, mọi công dân chứ không phải của riêng ai. Nhưng với số lượng đông đảo hàng chục triệu người thì lẽ nào tuổi trẻ lại không thể xây dựng đất nước. Chẳng lẽ chúng ta để cho những cụ già đi khuân vác, lao động nặng, những phụ nữ phải ngày đêm làm việc trong các nhà xưởng đầy khói bụi, những trẻ em phải phụ giúp gia đình ngay còn nhỏ mà “quên” đi việc học hành, lúc đó chúng ta sẽ “làm” gì? Chẳng lẽ ngồi không như một “người bị liệt”. Vì vậy chúng ta phải cố gắng xây dựng đất nước như lời dặn của Bác: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Sinh ra ở đời ai cũng khao khát được sống hạnh phúc, sung sướng. Mỗi người luôn tìm cho mình một lẽ sống hay nói đúng hơn là lý tưởng sống. Là chủ nhân tương lai thì chúng ta phải xác định cho mình lý tưởng sống phù hợp, đúng đắn. Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá như hiện nay thì tuổi trẻ chúng ta lại đứng trước một câu hỏi lớn: “Sống như thế nào là đúng đắn là có ích cho xã hội?” Vì lý tưởng sống của chúng ta là động lực thúc đẩy đất nước phát triển. Và thời nào cũng vậy, thế hệ trẻ luôn là lực lượng tiên phong, xông pha vào những nơi gian khổ mà không ngại khó. Điều đó đã được thể hiện rất rõ trong thời kì kháng chiến. Những người con đất nước như: Kim Đồng, Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám… đã hiến dâng cả tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc. Đây là những thanh niên của hơn 40 năm trước còn lớp thanh niên ngày nay thì sao?

    Các bạn ạ! Chúng ta nên biết một điều: những thế hệ trước đã dâng hiến xương máu để ngày sau độc lập thì chúng ta phải biết “cùng nhau giữ nước” và nối tiếp, kế thừa truyền thống cao đẹp đó. Và một điều quan trọng là các bạn đừng nghĩ đó là nghĩa vụ để rồi miễn cưỡng thực hiện. Chúng ta phải hiểu rằng: được sinh ra là một hạnh phúc và sống tự do, no đủ là một món quà quý báu, vô giá mà quê hương xã hội đã ban tặng. Hạnh phúc không tự nhiên mà có mà đó là xương máu, tâm huyết của biết bao người con của đất nước. Mỗi thời đại, mỗi hoàn cảnh lịch sử mà thanh niên nuôi dưỡng những ước vọng, suy nghĩ riêng. Chúng ta không được bác bỏ, phũ nhận quá khứ hay công sức của những anh hùng dân tộc. Đơn giản là vì mỗi thế hệ đều có sứ mệnh riêng, nhận thức riêng mà chúng ta không nên so bì, tính toán. Vì vậy: “Không có chuyện lớp trẻ ngày nay quay lưng với quá khứ” (như tổng bí thư Đỗ Mười nói). Nhưng tuổi trẻ chúng ta có điều kiện gì để xây dựng đất nước? Vâng, đó chính là học tập. Nói đến tuổi trẻ hôm nay là nói đến việc học hành. Trong cuộc sống ta gặp không ít trường hợp xem việc học là việc khổ sai chỉ do cha mẹ, thầy cô thúc ép, chứ không ham học. Họ xem đi học như một hình thúc giải khuây cho vui nên không cần học tập, coi học học tập là một nỗi nhọc nhằn. Có người lại coi việc học là để ứng phó với đời, để không xấu hổ với mọi người, để có “bằng cấp” mà hãnh diện với đời, dù đó chỉ là “hàng giả” mà thực lực không làm được. Chúng chẳng những không đưa nước ta “sánh kịp với cường quốc năm châu” mà còn đưa nước ta về lạc hậu, lụn bại. Cách duy nhất là phải học chân chính, học bằng khả năng của mình. Bước vào thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì ai nắm được tri thức thì mới có thể xây dựng đất nước, lèo lái chiếc thuyền số phận của non sông Tổ quốc. Và nhiệm vụ của chúng ta phải học, học nũa, học mãi. Nhà nước phải tạo mọi điều kiện để chúng ta dễ dàng tiếp cận tri thức thì tương lai dân tộc mới sáng lạn, lấp lánh hào quang.

    Tóm lại, tuổi trẻ là người sẽ quyết định tương lai đất nước sau này. Tuổi trẻ nước ta đầy rẫy nhân tài sẽ góp phần cho dáng hình sứ sở. Ngay từ hôm nay, tôi, bạn và tất cả mọi người phải cố gắng học tập để sau này có thể giúp nước ta tiến nhanh trên con đường xây dựng và phát triển nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh.

    Bài văn mẫu 3

    “Tre già măng mọc” quy luật ngàn đời nay vẫn thế. Cũng như cuộc sống con người, thế hệ trước cống hiến, hi sinh cũng sẽ đến lúc nhường bước cho thế hệ trẻ vươn lên làm chủ vận mệnh của đất nước. Và tuổi trẻ chính là tương lai của đất nước, tuổi trẻ sẽ quyết định sự tồn vong, hưng vượng của một quốc gia.

    Tuổi trẻ không ai khác chính là lứa tuổi thanh thiếu niên, những bạn độ tuổi học sinh sinh viên, họ được trang bị kĩ lưỡng về tri thức và kĩ năng để chuẩn bị hành trang vững chắc bước vào cuộc sống, bước vào hành trình xây dựng đất nước.

    Vậy vì sao tuổi trẻ và chỉ có tuổi trẻ mới là tương lai, mới là sự phát triển của đất nước? Trước hết, theo đúng như quy luật đã nói ban đầu, tre già măng mọc, cây già ngã xuống cây non sẽ đứng lên tiếp bước. Con người ta không ai có thể trường tồn mãi mãi, mà cũng sẽ có lúc phải nghỉ ngơi, và để xã hội tiếp tục phát triển các thế hệ sau sẽ kế tục. Thứ hai thế hệ trẻ được trang bị đầy đủ, kĩ lưỡng trên tất cả các phương diện: sức khỏe, tri thức, đạo đức để đem những điều mình đã được học phục vụ cuộc sống bản thân và xã hội khi đã trưởng thành. Sự ảnh hưởng của thế hệ trẻ đến tương lai của đất nước còn thể hiện ở sự phát triển của đất nước khi thế hệ đó kế tục. Một thế hệ giỏi giang, cần mẫm, sống có đạo đức của ngày hôm nay chính là dấu hiệu cho tương lai vững bền, tươi sáng của đất nước trong tương lai. Không chỉ vậy, thế giới không ngừng phát triển, khoa học công nghệ đưa văn minh nhân loại đến những bước tiến ngoài sức tưởng tượng, mà thế hệ trẻ lại là thế hệ có sức trẻ, có nhiệt huyết, thông minh và sáng tạo dễ dàng tiếp thu và đưa vào thực tiễn các tri thức mới. Bởi vậy, họ chính là chủ nhân tương lai của đất nước.

    Vai trò của thế hệ trẻ, không phải chỉ đến bây giờ mới được xác định, mà hàng trăm năm trước đây đã được minh chứng bằng những vị anh hùng đã lưu danh sử sách. Lý Công Uẩn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,… đều là những người có học thức uyên bác, tuổi trẻ cần cù, chăm chỉ lại thêm thiên phú trời ban đã lập nên những chiến công hiển hách, đã để lại sự nghiệp văn chương vĩ đại cho muôn đời sau. Gần hơn ta có thể kể đến chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người thanh niên trẻ tuổi, thông minh, hiếu học, đã sẵn sàng rời quê nhà ra đi tìm đường cứu nước. Trong quá trình bôn ba hải ngoại vẫn không ngừng học hỏi, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, để tìm ra con đường cứu nước đúng đăn cho dân tộc. Gần hơn chút nữa, chắc hẳn các bạn vẫn không quên cậu bé Đỗ Nhật Nam, tuy nhỏ tuổi nhưng rất thông minh, xuất chúng, đây chính là mầm mon sẽ gánh vác sự phát triển của đất nước sau này.

    Nhìn vào thực tiễn lịch sử, từ xưa đến nay thế hệ trẻ luôn là thế hệ đi đầu, tiên phong, sẵn sàng xông vào khó khăn hiểm nguy. Trong thời chiến ta vẫn nhớ những vị anh hùng trẻ tuổi như Lê Văn Tám,… đến thời bình những chiếc áo xanh tình nguyên khoác trên mình khẩu hiệu, “Đâu cần thanh niên có. Việc khó có thanh niên” đem sức trẻ đi giúp đỡ mọi người trên khắp mọi miền đất nước. Vậy ta mới thấy, tuổi trẻ có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển của đất nước.

    Để phát huy sức trẻ, chúng ta, thế hệ học sinh cần chăm chỉ học tập hơn nữa, không chỉ bồi đắp tri thức mà còn rèn đạo đức, luyện kĩ năng, để có đầy đủ công cụ cần thiết, sẵn sàng bước vào cuộc sống và cống hiến. Bên cạnh đó nhà nước cũng cần có các chính sách ưu tiên hơn nữa khuyến khích việc học, phát triển tài năng…

    Thế hệ trẻ chính là tương lai đất nước, là cội rễ cho sự phát triển của dân tộc. Là một học sinh, chúng ta cần không ngừng nỗ lực, cố gắng, xây dựng cho bản thân một mục đích, mục tiêu rõ ràng, không ngừng phấn đấu để đạt được những mục tiêu mình đã đề ra.

    Trả lời câu 2 soạn văn bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận trang 128

    Dàn ý

    Mở bài: Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận: văn học và tình thương. Chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa phạm trù này.

    Bất kì tác phẩm văn học nào cũng xuất phát từ tình thương và làm lan tỏa tình thương tới cộng đồng.

    Thân bài:

    – Khái niệm về văn học: Văn học là những sáng tác nghệ thuật mà người sáng tác dùng ngôn từ để truyền tải tư tưởng, tình cảm của mình tới người đọc.

    – Tình thương: là sự thương yêu, quan tâm, đồng cảm, chia sẻ giữa người với người

    – Văn học gắn liền với tình thương

    + Tình yêu quê hương đất nước, lòng tự tôn dân tộc.

    + Có nhiều tác phẩm gắn liền với tình yêu đất nước, sự tự hào dân tộc như: Nam Quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt), Bình Ngô đại cáo ( Nguyễn Trãi), Làng (Kim Lân ). Quê hương (Tế Hanh).

    – Văn học gắn liền với tình cảm gia đình, sự thương yêu đùm bọc lẫn nhau.

    + Tình cha con, tình mẫu tử, tình anh em, tình cảm vợ chồng, tình bà cháu… đều được phản ánh trong các tác phẩm văn học.

    – Văn học phản ánh tình yêu thương giữa con người với con người với nhau.

    + Con người sống chung trong một xã hội có các mối quan hệ xã hội phức tạp. Ngoài những tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước, còn có tình cảm của con người dành cho con người, những số phận đáng được thương cảm, thấu hiểu.

    + Dẫn ra những tác phẩm như Chí Phèo ( Nam Cao), Truyện Kiều ( Nguyễn Du), Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Thương vợ (Tú Xương)….

    → Như vậy văn học xuất phát từ tình thương, và mang tình thương truyền tải tới người đọc. Khơi dậy trong mỗi cá nhân những nguồn tình cảm thiêng liêng, tốt đẹp.

    Kết bài: Khẳng định vai trò của văn học và tình thương đối với cuộc sống. Nhờ có tình thương con người sống với con người chan hòa, hạnh phúc hơn. Nhờ văn học đời sống tinh thần của con người phong phú, tình thương được nhen nhóm và lan tỏa.

    Bài văn mẫu 1

    Nhà phê bình Hoài Thanh trong văn bản “Ý nghĩa văn chương” từng viết: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có”. Nhận định ấy đã nêu lên những tác động cơ bản của văn học đối với tình cảm con người. Không dừng lại ở đó, giữa văn học và tình thương còn có những mối quan hệ sâu sắc.

    M.Gooc-ki đã nói “Văn học là nhân học”. Đối tượng mà văn học hướng đến là con người với “chữ người được viết hoa”. Có nghĩa là, văn học hướng về, đề cao, ca ngợi và bồi đắp “chữ người viết hoa” ấy mọi thời đại để nó ngày một đẹp hơn, hoàn thiện hơn. Và trong rất nhiều nét đẹp của chữ viết hoa ấy phải kể đến tình thương, lòng nhân ái. Bởi thế ta thấy có sự đồng nhất giữa văn học và tình thương. Tình thương vốn là một trong những đức tính của con người. Nó xuất phát từ tấm lòng, trái tim mỗi con người. Nó mang tính hướng thiện, nhân đạo và nhìn sự việc bằng sự gắn bó với những tư tưởng hay giá trị đạo đức được xã hội công nhận. Là cơ sở gắn kết những mối quan hệ xung quanh, làm cho khoảng cách giữa con người gần hơn. Từ xưa đến nay, dân tộc Việt Nam ta luôn đề cao tư tưởng nhân ái, một đạo lí cao đẹp, truyền thống “lá lành đùm lá rách” cũng được phát huy qua nhiều thế hệ. Những tình cảm cao quý ấy được kết tinh, hội tụ và phản ánh qua những tác phẩm văn học dân tộc.

    Nói văn học luôn ca ngợi lòng nhân ái và tình yêu thương giữa người và người quả không sai. Từ xưa trong văn học dân gian các cụ đã đề cao tình yêu thương con người. Ai trong chúng ta cũng thuộc lòng những câu ca dao như:

    “Bầu ơi thương lấy bí cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

    Hoặc câu:

    “Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng”

    Rồi truyền thuyết “con Rồng cháu Tiên” giúp ta hiểu rõ hơn về từ “đồng bào”. Mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân đã sinh ra một trăm trứng và nở ra trăm con, năm mươi người con xuống biển sau này trở thành người miền xuôi, còn năm mươi người con khác lên núi sau này trở thành các dân tộc miền núi. Trước khi đi, Lạc Long Quân có dặn Âu Cơ rằng: sau này có gì khó khăn thì giúp đỡ nhau. Điều đó, cho thấy người xưa còn nhắc nhở con cháu phải biết thương yêu, đoàn kết, tương trợ nhau. Ta còn bắt gặp rất nhiều những câu chuyện về lòng yêu thương, tư tưởng nhân đạo của dân tộc trong văn học dân gian qua hình ảnh chàng Thạch Sanh đại diện cho chính nghĩa, hiền hậu, vị tha, dũng cảm, sẵn sàng tha thứ cho mẹ con Lý Thông, người đã bao lần tìm cách hãm hại mình. Rồi khi mười tám nước chư hầu kéo quân sang đánh Thạch Sanh nhằm cướp lại công chúa, chàng đã sử dụng cây đàn thần của mình để thức tỉnh binh lính, làm cho binh lính lần lượt xếp giáp quy hàng mà không cần động đến đao binh. Chàng lại mang cơm thiết đãi họ trước khi rút về nước. Ta còn biết đến một cô út dũng cảm làm vợ chàng Sọ Dừa kì dị. Câu chuyện về bông cúc trắng, bông hoa của tình yêu thương mãnh liệt đã làm nên điều kì diệu trong cuộc sống. Còn biết bao câu ca, câu chuyện thấm đẫm tình thương trong văn học dân gian ta không thể nào kể hết.

    Đọc văn học trung đại ta lại thấy sự tiếp nối làm đẹp truyền thống đó. Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi với tư tưởng nhân đạo cao cả:

    “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn

    Lấy chí nhân để thay cường bạo”

    Chính là tư tưởng xuyên suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Chúng ta cũng từng đọc Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du và hẳn vẫn giữ Truyện Kiều trong đáy sâu thẳm tâm linh, để luôn tự mình được trăn trở, chiêm nghiệm. Truyện Kiều, không chỉ là bản cáo trạng tội ác của bọn quan lại phong kiến, còn là một quyển kinh về tình thương. Tình thương cha, tình thương mẹ, thương chị em ruột thịt, thương người… như thể thương thân của nàng Kiều, đã in dấu ấn rất rõ tình thương mênh mông… của thi hào Nguyễn Du với thân phận những người phụ nữ.

    Đến văn học hiện đại ta lại bắt gặp tình yêu thương rất con người đó. Hình ảnh cậu bé Hồng trong tác phẩm “Những ngày thơ ấu”, đã cho chúng ta thấy rằng: “tình mẫu tử là nguồn thiêng liêng và kì diệu, là mối dây bền chặt không gì chia cắt được”. Cậu bé Hồng phải sống trong cảnh mồ côi, chịu sự hành hạ của bà cô, cha mất, mẹ phải đi tha hương, ấy vậy mà cậu không hề oán giận mẹ mình, ngược lại vô cùng kính yêu, nhớ thương mẹ. Câu chuyện đã làm rung động biết bao trái tim của độc giả. Không chỉ phản ánh tình mẫu tử, văn học còn cho ta thấy một tình cảm vô cùng đẹp đẽ, sâu sắc không kém, đó là tình cảm vợ chồng. Tiểu thuyết “Tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố là minh chứng rõ nét nhất cho điều này. Nhân vật chị Dậu được tác giả khắc họa thành một người phụ nữ điển hình nhất trong văn học hiện thực Việt Nam. Chị là một người vợ thương chồng, yêu con, luôn ân cần, nhẹ nhàng chăm sóc cho chồng dù trong hoàn cảnh khó khăn, nguy khốn. Chị Dậu đã liều mình: đánh trả tên người nhà lí trưởng để bảo vệ cho chồng, một việc mà ngay cả đàn ông trong làng cũng chưa dám làm. Đọc truyện “Cuộc chia tay của những con búp bê” ta rưng rưng cảm động khi chứng kiến cảnh anh em Thành và Thủy chia tay nhau đầy nước mắt. Tác giả muốn gửi đến chúng ta thông điệp về tình cảm và sự gắn bó giữa anh em với nhau trong gia đình mà các cụ xưa đã từng đúc kết:

    “Anh em như thể tay chân

    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần”

    Bên cạnh việc ca ngợi những con người “thương người như thể thương thân”, văn học cũng phê phán những kẻ ích kỉ, vô lương tâm. Trong truyện cổ tích “Tấm Cám”, chúng ta sẽ thấy được thái độ căm ghét của mọi người đối với mẹ con Cám. Cái chết ở cuối câu chuyện đã lên án gay gắt: những kẻ ác phải bị trừng phạt. Đáng ghê sợ hơn nữa là những người cạn tình máu mủ. Điển hình là nhân vật bà cô trong truyện “Những ngày thơ ấu”, một người độc ác, nham hiểm “giết người không dao”. Bà ta nói xấu, sỉ nhục mẹ bé Hồng trước mặt bé, đứa cháu ruột của mình, đứa cháu mồ côi tội nghiệp lẽ ra bà phải yêu thương để bù đắp lại những mất mát mà bé phải hứng chịu. Hay trong tiểu thuyết “Tắt đèn”, nhà văn Ngô Tất Tố đã cho chúng ta thấy sự tàn ác, bất nhân của tên cai lệ và người nhà lí trưởng. Chúng thẳng tay đánh đập những người thiếu sưu, đến những người phụ nữ chân yếu tay mềm như chị Dậu mà chúng cũng không tha. Rồi ông quan trong “Sống chết mặc bay” tiêu biểu cho tầng lớp thống trị, quan lại ngày xưa. Trong cảnh nguy cấp, nhân dân đội gió, tắm mưa cứu đê thì quan lại ngồi ung dung đánh tổ tôm. Ngay cả khi có người vào báo đê vỡ hắn vẫn thét lính đuổi ra và khi quan lớn ù ván bài to thì cũng là lúc cả làng ngập nước, nhà cửa lúa má bị cuốn trôi hết, tình cảnh thật thảm sầu. Chính sự việc cao trào đó đã lên án gay gắt tên quan hộ đê, hay chính là đại diện cho tầng lớp thống trị, dửng dưng trước sinh mạng của biết bao người. Văn học không chỉ viết về tình thương, ca ngợi tình thương. Văn học còn khơi dậy tình thương trong lòng chúng ta, muốn chúng ta sẻ chia, cảm thông với những con người bất hạnh. Không ai dửng dưng, cầm lòng khi đọc truyện “Cô bé bán diêm” tội nghiệp và cảnh cô bé chết trong đêm giao thừa lòng thầm hỏi trong cuộc sống này còn bao người sẽ chết như thế trước sự thờ ơ đến vô cảm của người đời? Cũng bao lần ta nhỏ lệ khi đọc đoạn trích “Một cảnh mua bán” trong Tắt đèn khi Ngô Tất Tố kể về cái Tí với bát cơm thừa của chó nhà Nghị Quế. Ta cũng chẳng thể dửng dưng trước nỗi truân chuyên của người con gái tài sắc Thuý Kiều mà Nguyễn Du đã bao lần nhỏ lệ khóc thương trong tác phẩm của mình. Rồi cảnh anh em Thành Thuỷ chia tay cùng những con búp bê làm lòng ta nhói đau khi chứng kiến những bất hạnh của tuổi thơ và nỗi bất hạnh mà các em phải gánh chịu quá sớm. Từ việc khơi dậy tình yêu thương ấy, văn học gửi đến chúng ta thông điệp: Hãy dâng tặng tình yêu thương cho mọi người, ta lại cũng được đón nhận nó.

    Văn nghị luận: Văn học và tình thương luôn đồng hành tạo nên giá trị đích thực cho mỗi tác phẩm đồng thời giúp con người vươn tới chân – thiện – mĩ, hoàn thiện nhân phẩm và nhân cách con người. Và ở bất kì thời đại nào, giá trị lớn lao nhất của văn chương vẫn là “gây cho ta những tình cảm ta chưa có, luyện cho ta những tình cảm ta sẵn có”.

    Bài văn mẫu 2

    Ai-mai-tốp đã từng nhận xét rằng: “Nhà văn phải biết khơi lên ở con người niềm trắc ẩn, ý thức phản kháng cái ác; cái khát vọng khôi phục và bảo vệ những cái tốt đẹp” . Văn chương có những ý nghĩa, vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi con người, có những tác động sâu sắc đến đời sống tình cảm của mỗi chúng ta. Giữa văn học và tình thương có mối quan hệ gắn bó khăng khít.

    Văn học là một khái niệm rộng lớn, bao gồm thơ ca, truyện, kịch, hò, vè,… phản ánh đời sống hiện thực, tâm tư, tình cảm của con người. Không chỉ phản ánh, mà văn chương còn đem đến cho ta những bài học ý nghĩa trong cuộc sống, giúp ta biết nâng, niu trân trọng những tình cảm đẹp đẽ.

    Nhân dân ta có một kho tàng ca dao hết sức phong phú, phản ánh nhiều phương diện trong cuộc sống như: tình cảm gia đình, sự đoàn kết tình yêu thương và không thể không nhắc đến những bài ca dao ca ngợi vẻ đẹp quê hương, đất nước:

    “Đường vô xứ Huế quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

    Ai vô xứ Huế thì vô”

    Hay:

    Bắc Kan có suối đãi vàng

    Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh

    Khung cảnh thiên nhiên hiện lên thật đẹp đẽ, qua đó bộc lộ được tình yêu quê hương đất nước nồng nàn tha thiết của ông cha ta xưa với những nơi mình được sinh ra.

    Đến với văn học hiện đại, mỗi tác phẩm lại đem đến cho người đọc những tình cảm, cảm xúc riêng. Là tình cảm mẫu tử thiêng liêng, bât diệt của cậu bé Hồng với người mẹ đáng thương của mình. Bố mất, mẹ bỏ đi, để lại Hồng sống cùng với bà cô nanh nọc, độc ác, luôn tìm cách đay nghiến, chì chiết mẹ cậu để cậu ghét bỏ mẹ. Nhưng bằng một tình yêu thương sắt đá Hồng không để những ý nghĩ rắp tâm ấy làm vấy bẩn hình ảnh mẹ trong lòng mình. Giây phút hai mẹ con gặp lại nhau gây niềm xúc động to lớn đối với người đọc. Hồng nằm gọn trong lòng mẹ, ôm ấp và cảm nhận hơi thở ấm áp, thơm tho mùi trẩu phả ra từ khuôn miêng xinh xắn của mẹ.

    Với Cuộc chia tay của những con búp bê, chúng ta lại nghẹn ngào xúc động về tình cảm anh em thắm thiết sâu nặng giữa Thành và Thủy. Vì cha mẹ không thể sống được cùng nhau mà buộc hai anh em phải mỗi người phải chia lìa đôi ngả. Những giọt nước mắt nghẹn ngào khi Thủy bước lên xe, còn Thành ở lại, làm ta không khỏi rưng rưng xúc động. Đọc đến cuối tác phẩm ta càng trân trọng và có ý thức giữ gìn hơn nữa tổ ấm, hạnh phúc gia đình.

    Bạn đến chơi nhà lại đem đến cho người đọc một cảm xúc khác về ý nghĩa của tình bạn. Nguyễn Khuyến tiếp đãi bạn thật nhiều điều thú vị, bất ngờ, tưởng là có mà hóa ra lại không có gì. Nhưng để từ chỗ không ấy, Nguyễn Khuyến đã đưa ra một kết luận đầy bất ngờ:

    Bác đến chơi đây ta với ta

    Câu thơ đề cao tình bạn chân thành, không màng danh lợi, vật chất tầm thường. Cụm từ ta với ta cho thấy sự hòa quyện, hai mà là một. Đây mới chính là một tình bạn đẹp đẽ, cao cả mà bất cứ ai cũng cần hướng đến.

    Ngoài ra, các tác phẩm văn chương còn khơi dậy tình làng nghĩa xóm đậm đà, thắm thiết. Ông cha ta vẫn thường có câu:

    Bán anh em xa mua láng giềng gần

    Để nói lên ý nghĩa tầm quan trọng của tình làng nghĩa xóm trong đời sống con người. Bà cụ trong đoạn trích Tức nước vỡ bờ chẳng phải là minh chứng tiêu biểu nhất đó sao. Gia cảnh khốn cùng của chị Dậu khiến bà không khỏi thương cảm, xót xa, ngay khi thấy anh Dậu về đã cho nắm gạo để nấu cháo, rồi còn bày cách để trốn lũ tay sai. Rồi đến ông giáo trong tác phẩm Lão Hạc, người bạn, người hàng xóm thân thiết của lão Hạc. Ông là người để lão Hạc phơi trải mọi nỗi lòng, tâm sự, cũng như gửi gắm những gì quý giá nhất của mình để lại cho con trai. Nếu không có ông giáo cuộc đời lão Hạc sẽ cô đơn và lẻ loi biết bao.

    Chỉ với những phân tích hết sức ngắn gọn ta cũng có thể thấy mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa văn học và tình thương. Văn học giúp con người sống Người hơn, nhân văn hơn, biết yêu thương và quý trọng những người xung quanh, biết sống chân thành, không vụ lợi, giả dối. Mục đích lớn nhất của văn chương chính là giúp con người hướng thiện, hướng con người đến cái đích chân – thiện – mĩ.

    Trả lời câu 3 soạn văn bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận trang 128

    Dàn ý

    Mở bài: Đặt vấn đề cần nghị luận.

    – Trong cuộc sống bên cạnh những điều tốt đẹp còn có nhiều tệ nạn có hại, hủy hoại con người và xã hội.

    – Nhiều thói quen có sức cám dỗ con người như cờ bạc, thuốc lá, ma túy, “truyền thông đen”…

    – Nếu con người không có bản lĩnh sẽ dần đi đến sa ngã vào những tệ nạn nguy hiểm trên. Vì vậy hãy nói “không” với tệ nạn xã hội.

    Thân bài:

    – Giải thích tệ nạn xã hội là gì:

    + Là những hành vi sai trái không đúng với chuẩn mực xã hội, phạm trù đạo đức, pháp luật. Tệ nạn xã hội là mối nguy hại , phá vỡ sự văn minh của xã hội.

    – Những biểu hiện cụ thể của tệ nạn xã hội.

    + Tệ nạn xã hội diễn ra ở nhiều nơi, ngay cả làng quê (nơi vốn được coi là yên bình.

    + Tệ nạn xã hội có thể xảy ra ở mọi đối tượng không riêng gì một cá nhân nào.

    + Tệ nạn xã hội xảy ra ở nhiều thời điểm, lứa tuổi, đối tượng khác nhau.

    – Tác hại của tệ nạn xã hội gây ra đối với đời sống của con người.

    + Dẫn ra tác hại về vật chất: làm tổn hại tới tài chính, kinh tế.

    + Tác hại về sức khỏe, tinh thần.

    + Tác hại về đạo đức, nhân cách sống.

    + Tác hại tệ nạn gây ra đối với xã hội, cộng đồng là rất lớn.

    – Cách phòng chống tệ nạn xã hội

    + Vơi cá nhân: cần trang bị đầy đủ các kiến thức về tệ nạn xã hội, phải hình thành lối sống lành mạnh, suy nghĩ tích cực…

    + Với gia đình: Cần giáo dục con cái sống tích cực, quản lí tốt thời gian, tiền bạc, nêu gương của người lớn…

    + Với xã hội: cần tuyên truyền, đưa ra khung pháp lý nghiêm.

    + Phòng chống tệ nạn xã hội phải được chú trọng bởi nó có ý nghĩa quan trọng với mỗi quốc gia, dân tộc, mang lại cuộc sống yên bình cho cộng đồng.

    + Tránh xa những tệ nạn xã hội con người có điều kiện và môi trường tích cực để phát triển bản thân.

    → Cần nói “không” với các tệ nạn xã hội, phải tìm hiểu kiến thức chung về tệ nạn xã hội và các biện pháp tránh xa tệ nạn xã hội.

    Kết bài: Mọi người đặc biệt là người trẻ cần tránh xa và kiên quyết nói “không” với tệ nạn xã hội. Nếu lỡ mắc phải thì cần quyết tâm từ bỏ, làm lại cuộc đời. Cần xây dựng lối sống và môi trường sống lành mạnh để phát triển cá nhân.

    Tuổi thanh thiếu niên chúng em là lứa tuổi đẹp nhất của đời người. Có nhiều thành ngữ, tục ngữ ca ngợi tuổi này như “Tuổi trăng tròn”, “Tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu”. Đó là lứa tuổi mà thể lực phát triển đến mức tối đa, đầu óc chứa đầy những ước mơ cao đẹp, khao khát cống hiến, hi sinh.

    Tuổi chúng em cũng là lứa tuổi có sức tiếp thu nhạy bén, ham tìm hiểu khoa học kĩ thuật nước ngoài, thích cái mới. Nhưng ngược lại, tuổi thanh niên cũng có những khuyết điểm như ham vui, dễ sa ngã, thân thiết với bạn bè, nhưng không biết phân biệt kẻ tốt người xấu.

    Chính vì thế mà có những nguy cơ đang rình rập, nhiều cạm bẫy đang chờ đợi chúng em. Đó là hiểm họa cờ bạc, ma tuý, và văn hóa phẩm không lành mạnh. Vậy, chúng ta hãy thử đi vào tìm hiểu vấn đề này!

    Cờ bạc là những trò chơi dựa vào sự may rủi, người chơi cờ bạc ban đẩu xuất phát từ giải trí nhưng sau đỏ bị “máu tham” nổi lên,không thể nào dừng lại được nữa! Hình thức của cờ bạc là sử dụng những lá bài tây, hoặc dựa vào xổ số để ghi đề, có người lại dựa vào những trận bóng đá hay những trận đua ngựa để “cá cược”. Tất cả đều là những hình thức khác nhau của cờ bạc mà thôi! Cờ bạc ngày xưa có hình thức đơn giản hơn, nhưng cũng làm cho bao người khánh kiệt, nhà tan cửa nát. Con mất cha, vợ mất chòng, cổ tích Việt Nam còn kể về những người đàn ông mê cờ bạc, mất hết tiền của, nhà đất rồi còn đem vợ đẹp ra mà đánh bạc!! Xem thế mới thấy cờ bạc có một “ma lực” thật đáng sợ! Người xưa có câu:

    “Cờ bạc là bác thằng bần

    Áo quần bán hết, tra chân vào cùm”

    Các học sinh, thanh niên chúng em nên lánh xa trò cờ bạc, vì trong giới này còn những tay chơi chuyên nghiệp, luôn lừa gạt những người mới vào để lấy tiền kẻ ngây thơ. Đó là loại người “cờ gian bạc lận” mà không thể nào chúng ta thắng nổi họ!

    Gần đây, thanh niên lại phải đối đầu với nguy cơ mới trên toàn thế giới: Ma túy!

    “Ma” là cây gai, nghĩa bóng còn chỉ thói quen không thể chừa được. “Tuý” là say. Ma tuý là chất gây say, gây nghiện, không thể chừa bỏ được khi đã vướng vào. Nó là một danh từ chỉ chung các chất: cần sa, cocain, á phiện, hêrôin vàcác chất kích thích khác như xì cọt, bồ đà, thuốc lắc… Theo lời những nạn nhân đã mắc vào ma túy thì nó có sức hấp dẫn một cách đáng sợ vì khi hút vào, nó làm người hút có một cảm giác lâng lâng kì lạ. Nhưng cạm bẫy tai hại của ma túy là khi đã hút vài lần thì không thể nào bỏ được nữa. Con nghiện bị cồn cào, cơn ghiện hành hạ thể xác đến độ mất hết lương tri, bằng mọi cách, người nghiện phải có thuốc, dù cho phải ăn cắp, cướp giựt hay là giết người, lừa gạt thân nhân để kiếm tiền hút chích! Họ có thể hành hung nhưng người xung quanh, người thân của chính mình mà không có ý thức. Căn bệnh ghiền ma túy ấy đã làm mất đi lí trí của người con ngoan, người anh tốt trong cộng đồng để trờ thành con nghiện nguy hiểm.

    Trong lúc chính quyền các nước và bao tổ chức an ninh chống buôn bán ma túy thì các con buôn thế giới sẵn sàng bỏ bao nhiêu tỉ đô la và súng đạn, giết bao nhiêu người để buôn ma túy, vì số tiền lời là khổng lồ!

    Con nghiện thường dùng nó dưới hình thức hút, chích để thỏa mãn cơn nghiện. Những kẻ khi đã nghiện thì đê mê, mất tỉnh táo về tinh thần, làm mất những kháng thể trong cơ thể, từ đó cơ thể suy nhược chỉ vì những chứng bệnhrất thông thường. Sự thiếu thuốc làm cho con nghiện mất hết lí trí, bị vật vã dữ dội và phải tìm mọi cách có tiền để thỏa mãn cơn nghiện bằng cách xin, mượn, lừa đảo, ăn cắp. Các thanh niên, học sinh khi đã đi vào con đường nghiện ngập sẽ đi cướp giật của người khác, thậm chí không ngần ngại hành hung người thân quen quanh mình để có được tiền đi hút. Việt Nam ta là một nước đang phát triển nên ma túy vẫn còn hoành hành khắp Bắc Nam… Mới đây ở Thị Nghè một thanh niên đang trong cơn nghiện đòi tiền của mẹ để đi hút, người mẹ không cho, con nghiện đã đốt nhà và trong lúc sơ sảy hắn đã bị điện giật chết trên nóc nhà mình. Đó là một trường hợp đau lòng đã xảy ra.

    Trong thời gian tiêm chích người bệnh sẽ bị suy nhược cơ thể, đánh mất nhân cách đạo đức và nguy hiểm nhất là có khả năng lây nhiễm cho người khác, làm lây lan dịch AIDS. Đối tượng học sinh là mục tiêu hàng đầu của những kẻ dụ dỗ buôn bán ma túy. Và cũng vì tính tò mò hiếu kì mà các em rất dễ sa ngã.

    Các lí do khác khiến thanh niên dễ sa vào ma tuý là họ có một lối sống thiếu lí tưởng, thừa tiền bạc, cha mẹ nuông chiều, thả lỏng, giải trí không lành mạnh và cặp kè với bạn xấu. Vì vậy Nhà nước ta cũng đã tuyên truyền, giáo dục học sinh và thực hiện các biện pháp nghiêm khắc với những học sính có hành vi tuyên truyền buồn bán ma tuý.

    Cai nghiện hêrôin không phải là dễ dàng vì ý chí con người dễ bị tàn lụi, không thể chống lại những cơn vật vã khổ cực của cơn đói thuốc (vã mồ hôi, co giật, cảm thấy như ngàn mũi kim đâm vào thịt, như triệu con giòi bò lúc nhúc trong thịt). Những người cai nghiện được sáu tháng, một năm, biết sự nguy hiểm của hẻroin đã làm khổ mình, gia đình mình hết sức, nhưng về nhà lại tái nghiện vì ý chí bị suy sụp.

    Tác hại lớn nhất của hêrôin là dẫn đến HIV/AIDS: bao nhiêu người dùng một ống tiêm (chích) chỉ cần một người nhiễm HIV chích chung sẽ làm lây nhiễm quađường máu cho kẻ khác một cách dễ dàng. Tuổi thọ của người nghiện hêrôin chỉ đếm được trên mấy đầu ngón tay, có người chích xong lăn đùng ra chết. Làm sao mà không chết khi đưa chất độc với những tạp chất (pha chế thêm) vào mình. Nểu người nghiện hêrôin nhiễm HIV thì sẽ nhanh chóng chuyển sang giai đoạn AIDS vì cơ thể suy sụp. HIV nhân bản mỗi ngày 10 tỉ siêu vi khuẩn, chỉ cần vài tuần con người đã trở thành “con vật HIV”. Nếu có thời gian theo dõi báo chí, chúng ta sẽ lo sợ biết bao trước hiểm họa của ma túy. Những số liệu thanh niên nghiện hút ngày càng tăng. Nhiều tội phạm buôn bán ma tuý đã bị bắt. Nhiều tổ chức tốt hươngs dẫn; giúp đỡ thanh thiếu niên đã được lập ra như: trung tâm cai nghiện Bình Triệu, trung tâm tư vấn sức khỏe cộng đồng, những tổ chức y tế dự phòng.

    Điều nguy hiểm hơn nữa là các văn hóa phẩm không lành mạnh như những phim ảnh thiếu đạo đức, nhiều án mạng hoặc nhiều kích thích về bản năng thấp hèn đang được lưu truyền rộng rãi. Trước nó lan truyền vào việt Nam bằng những cuộn băng đĩa xách tay từ nước ngoài, bây glờ lan truyền bằng con đường Internet!

    Ngay cả nhưng trò chơi có vẻ hết sức “lành mạnh” là game online, nếu các học sinh biết sử dụng đúng mức là một sự thư giãn vui vẻ, tập cho trí tuệ sắc sảo. Nhưng nếu các học sinh nhịn tiền quà bánh, trốn thầy cô, cha mẹ vào một tiệm “game online” thường xuyên, mỗi ngày hai đến bốn giờ đồng hồ, thì kết quả học tập sẽ thế nào? Sức khỏe các em ấy sẽ ra sao nếu không phải là những gương mặt tiều tụy thiếu trí nhớ lúc kiểm tra bàỉ và thiếu, ngủ thường xuyên?

    Mong sao em và các bạn của mình tránh xa được các tệ nạn cờ bạc, ma túy AIDS và những văn hóa phẩm tồi tệ! Ước gì các học sinh chúng ta luôn yêu thích giải trí lành mạnh như là thể thao ca nhạc, du lịch, xem phim hoặc đọc sách. Những thứ giải trí ấy vừa hấp dẫn, vừa bổ ích, vừa nâng cao kiến thức và đưa em đến những chân trời tuyệt diệu.

    Tags: soạn văn lớp 8, soạn văn lớp 8 tập 2, giải ngữ văn lớp 8 tập 2, soạn văn lớp 8 bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận ngắn gọn , soạn văn lớp 8 bài Viết bài tập làm văn số 7: Văn nghị luận siêu ngắn

    --- Bài cũ hơn ---

  • 2 Bài Văn Mẫu Viết Bài Tập Làm Văn Số 7 Lớp 8 Đề 3: Nói Không Với Tệ Nạn Xã Hội Hay Nhất.
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8
  • Soạn Viết Bài Tập Làm Văn Số 6 Siêu Ngắn
  • Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Lớp 8 Văn Tự Sự Kết Hợp Với Miêu Tả Và Biểu Cảm Hay Nhất
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8

    --- Bài mới hơn ---

  • 2 Bài Văn Mẫu Viết Bài Tập Làm Văn Số 7 Lớp 8 Đề 3: Nói Không Với Tệ Nạn Xã Hội Hay Nhất.
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 7: Văn Nghị Luận Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Văn 8 Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 7
  • Bài Viết Số 7 Lớp 8 Bài Hay
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 7 Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8
  • Để giúp các em làm Soạn bài: Viết bài tập làm văn số 2 Trong sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 8 hay nhất Hệ thống toàn bộ các bài Soạn bài: Viết bài tập làm văn số 2 Trong sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 8 đầy đủ, ngắn gọn, súc tích, hay nhất và bám sát theo nội dung sách giáo khoa.

    Đề 1: Hãy kể về một kỉ niệm đáng nhớ đối với con vật nuôi mà em yêu thích.

    Mở bài: giới thiệu về kỉ niệm đáng nhớ với con vật nuôi mà em yêu thích ( con mèo, con chó…). Giới thiệu về nguồn gốc của con vật nuôi đó (được tặng hay do ba mẹ mua về)

    Thân bài

    Tả về hình dáng của con vật nuôi đó

    Tả bao quát hình dáng bên ngoài của con vật: bộ lông, màu da, vóc dáng

    Tả từng bộ phận: đầu, tai, mắt, thân hình, chân, đuôi

    Tả sơ lược về thói quen sinh hoạt, sở thích của con vật nuôi đó.

    Nói về môi trường sống của con vật nuôi đó

    Kỉ niệm đáng nhớ với con vật nuôi:

    Đưa vật nuôi đi dạo và bị lạc mất vật nuôi nhưng cả hai đều tìm thấy nhau sau đó.

    Vật nuôi do một lần bị mắng khi làm đổ vỡ đồ trong nhà, nó bỏ đi, sau đó trở về.

    Vật nuôi lập kì tích đuổi trộm, trông nhà.

    Kết bài:

    Nêu cảm nghĩ và tình cảm dành cho con vật nuôi đó. Hứa chăm sóc vật nuôi chu đáo.

    Đề 2: Kể về một lần em mắc khuyết điểm khiến thầy, cô giáo buồn.

    Mở bài: Dẫn dắt vấn đề.

    Có nhiều lỗi học sinh thường mắc phải khiến thầy cô buồn lòng như nói dối thầy cô, quay cóp trong giờ kiểm tra, bỏ học, trêu chọc thầy cô…

    Thân bài:

    Hoàn cảnh, thời gian mắc lỗi:

    Năm học lớp 6, trong giờ học môn tiếng Anh

    Năm lớp 3, trong giờ học Văn

    Kể về việc sai trái mình mắc phải

    Mắc lỗi vào thời điểm nào? Mắc lỗi với ai

    Nêu nguyên nhân mắc lỗi:

    Do chủ quan

    Khách quan

    Diễn biến khi gây lỗi

    Hậu quả gây ra đối với lớp,với gia đình, với bản thân

    Sau khi mắc lỗi cảm xúc của em thế nào, em đã hối lỗi và sửa lỗi như thế nào

    Kết luận

    Bài học sâu sắc rút ra sau khi mắc lỗi

    Lời khuyên dành cho các bạn khác

    Đề 3: Kể về một việc khiến bố mẹ rất vui lòng.

    Cần xác định việc làm tốt khiến ba mẹ vui lòng là việc gì ( giúp cụ già qua đường, nhặt được tiền rơi trả người đánh mất, giúp đỡ bạn bè trong cuộc sống, trong học tập…)

    Tâm trạng, cảm xúc của ba mẹ khi em kể những việc tốt em làm giúp đỡ người khác.

    Tâm trạng cảm xúc của em lúc đó như thế nào? ( hạnh phúc, tự hào, hứa hẹn trong lòng nhiều niềm tin mới…

    Mở bài:

    Giới thiệu về việc tốt em khiến cha mẹ vui lòng: giúp đỡ bạn bè trong học tập

    Thân bài

    Hoàn cảnh:

    Em kể chuyện về việc làm tốt đó cho bố mẹ nghe trong giờ ăn cơm của cả gia đình/ trong giờ xem ti vi cùng cả nhà…

    Có một bạn vì hoàn cảnh gia đình , bố mẹ ít quan tâm, bạn mải chơi và kết quả học tập sa sút, đi xuống và cô giáo đã sắp xếp cho bạn ngồi cạnh em.

    Giúp bạn học tập tiến bộ:

    Hằng ngày, tới lớp đều nói chuyện và chơi cùng với bạn

    Những lúc rảnh rỗi em thường cùng bạn làm bài tập, trao đổi bài học vào giờ ra chơi

    Những bài tập khó, bạn không hiểu, em thường giảng giải cho bạn hiểu.

    Cuối cùng bạn đã vươn lên đạt danh hiệu học giỏi và trở thành bạn thân của em.

    Cảm xúc của em khi kể chuyện cho bố mẹ nghe: vui mừng và hãnh diện về sự quan tâm, giúp đỡ của mình dành cho bạn bè.

    Cảm xúc của bố mẹ khi nghe em kể về việc tốt của em: Tự hào và vui khi thấy em trưởng thành

    Kết bài:

    Sau lần giúp đỡ đó, em suy nghĩ về bản thân thế nào. Hoàn thành việc tốt khiến ba mẹ vui lòng, bản thân cũng cảm thấy hạnh phúc gấp bội. Tự hoàn thiện bản thân hơn.

    Đề 4: Nếu được chứng kiến cảnh lão Hạc bán chó kể với ông giáo trong truyện ngắn của Nam Cao thì em sẽ ghi lại chuyện đó như thế nào?

    Xác định yêu cầu đề bài

    Vào vai nhân vật kể chuyện: có thể là hàng xóm, có thể vào vai vợ của ông giáo ( xưng tôi kể chuyện)

    Kể theo trình tự thời gian, không gian theo diễn biến truyện.

    Chọn lọc những chi tiết chính trong truyện để kể.

    Cảm nhận và suy nghĩ về lão Hạc.

    Mở bài: Dẫn dắt hoàn cảnh việc chứng kiến câu chuyện của lão Hạc kể lúc bán chó.

    Thân bài:

    Nêu các sự việc chính theo trật tự truyện kể

    Vừa gặp lão Hạc đã nói “bán rồi”

    Lão cười như mếu và đôi mắt ầng ậng nước

    Lão bắt đầu khóc hu hu như đứa trẻ, cái miệng móm mém của lão cứ méo xệch đi.

    Lão tự dằn vặt bản thân bằng này tuổi còn nhẫn tâm lừa một con chó, lão ân hận, dằn vặt

    Cảm xúc và suy nghĩ về nhân vật lão Hạc.

    Kết bài: Từ hoàn cảnh của lão Hạc, bản thân em ( sự hóa thân vào người kể chuyện) em có suy nghĩ gì về thân phận người nông dân trong xã hội cũ trước cách mạng tháng Tám.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Viết Bài Tập Làm Văn Số 6 Siêu Ngắn
  • Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Lớp 8 Văn Tự Sự Kết Hợp Với Miêu Tả Và Biểu Cảm Hay Nhất
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 (Siêu Ngắn)
  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 3
  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2
  • Soạn Viết Bài Tập Làm Văn Số 6 Siêu Ngắn

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8
  • 2 Bài Văn Mẫu Viết Bài Tập Làm Văn Số 7 Lớp 8 Đề 3: Nói Không Với Tệ Nạn Xã Hội Hay Nhất.
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 7: Văn Nghị Luận Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Văn 8 Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 7
  • Bài Viết Số 7 Lớp 8 Bài Hay
  • 1. Mở bài:

    + Khẳng định vai trò lãnh đạo anh minh quyết định tới sự hưng thịnh của quốc gia, từ đó dẫn ra công lao của Lí Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn trong vai trò là người lãnh đạo anh minh.

    + Nhấn mạnh vào hai văn bản ” Chiếu dời đô” Lý Công Uẩn và “Hịch tướng sĩ” để thấy rõ tầm quan trọng của người lãnh đạo.

    2. Thân bài: Văn bản:”Chiếu dời đô” với Lý Công Uẩn

    – Viết theo thể chiếu (chiếu chuyên dùng để ban bố mệnh lệnh của vua đến nhân dân) nhưng tác giả gửi gắm trong đó tình cảm, và sự lắng nghe ý nghe của quần thần.

    + Một bài chiếu được dùng để ban bố mệnh lệnh sẽ được đón nhận một cách trang trọng, và là mệnh lệnh bắt buộc mà dân chúng phải tuân theo.

    + Nhưng tác giả Lý Công Uẩn khéo léo trong việc sử dụng bài chiếu là lời tâm sự, bàn bạc với quần thần những suy nghĩ về vận nước khiến cho người nghe không có cảm giác sợ hãi.

    + Sự thấu tình đạt lý, phù hợp với ý nguyện nhân dân, ngôn từ lắng đọng, có sức cô đúc, có sức thuyết phục lâu bền.

    – Sự lãnh đạo anh minh thể hiện ở:

    + Tầm nhìn chiến lược trong việc lựa chọn thành Đại La làm kinh đô phát triển đất nước. (Đại La là nơi trung tâm của trời đất, nơi có muôn vật phong phú tốt tươi, mưa thuận gió hòa, địa thế bằng phẳng…)

    + Biết chăm lo cho hạnh phúc lâu bền của dân chúng chứ không chạy theo cái lợi trước mắt, vì thế Lý Công Uẩn suy xét kĩ lưỡng trước những hành động của mình.

    + Ông chọn Đại La làm kinh đô mới vì dân chúng, để phát triển đất nước chứ không cam để kinh đô khuất sâu trong núi rừng, chỉ phù hợp với khi cần phòng thủ như thời Đinh, Lê.

    + Lý Công Uẩn dù là vua trong triều đình phong kiến nhưng ông có tư tưởng “dân chủ”, để nhân dân được nói lên nguyện vọng của mình.

    – Lịch sử chứng minh sự anh minh của Lý Công Uẩn khi thành Thăng Long- Hà Nội sau 1000 năm vẫn trong tư thế “con rồng bay lên”, ngày càng phát triển và trở thành niềm tự hào của dân tộc.

    Văn bản Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn

    – Trần Quốc Tuấn có cách suy nghĩ của một vị minh tướng lỗi lạc, một chủ tướng hết lòng vì đất nước: vừa khoan dung vừa nghiêm khắc.

    – Vai trò người lãnh đạo anh minh thể hiện ở việc

    + Nhìn thấy rõ tình thế của nước nhà lúc bấy giờ: dân tộc đang phải đương đầu với giặc Nguyên- Mông mạnh nhất lúc bấy giờ, với số thuộc địa trải dài từ châu Á đến tận Châu Âu.

    + Sự anh minh khi dẫn ra những tấm gương trung thần, nghĩa sĩ để khơi gợi lòng trung quân ái quốc của quân sĩ.

    + Ông hiểu rõ sức mạnh của tinh thần đoàn kết, nên ông khích lệ tinh thần tướng sĩ, quân lính đồng lòng tiêu diệt kẻ thù ngoại xâm.

    + Hịch tướng sĩ ra đời tác động mạnh mẽ tới nhuệ khí của quân sĩ bởi ông biết phân tích phải trái, đúng sai dưới góc nhìn của người yêu nước, căm thù giặc ( trích dẫn những lời nói gan ruột của Trần Quốc Tuấn trong bài hịch).

    + Qua hịch tướng sĩ ta thấy được sự anh minh của Trần Quốc Tuấn khi không sử dụng uy quyền mà lấy việc thu phục làm kế sách, nghĩa là phát huy tối đa tinh thần tự nguyện cầm vũ khí tiêu diệt kẻ thù, từ bỏ lối sống hưởng lạc thái bình, sẵn sàng giết giặc lập công.

    Lịch sử đã chứng minh sự sáng suốt đó khi Trần Quốc Tuấn dẹp tan giặc Mông – Nguyên, mang lại sự tự do cho dân tộc.

    3. Kết bài: Cả hai tác phẩm đều là những áng văn bất hủ của dân tộc, ngợi ca tài lãnh đạo anh minh sáng suốt của những người đứng đầu đất nước.

    Đề 2 1. Mở bài:

    – “Bàn luận về phép học” là một phần trong bài tấu của Nguyễn Thiếp gửi cho vua Quang Trung để bàn bạc, tìm cách đổi mới cho phương thức học tập thời bấy giờ. Văn bản nghị luận này không chỉ có giá trị đương thời mà còn ảnh hưởng đến cách học của chúng ta sau này.

    – Học phải đi đôi với hành. Học phải kết hợp với hành là luận điểm tiến bộ trong bài tấu mà ngày nay chúng ta còn làm theo.

    – Vậy giữa học và hành có quan hệ như thế nào? Chúng ta cần làm rõ vấn đề trên.

    2. Thân bài:

    a. Giải Thích:

    – Học: là hoạt động của trí óc dễ tiếp thu những cái mới, những điều chưa biết, học còn là bắt chước những cái hay, cái đẹp của người khác.

    – Hành: là thực hành, là ứng dụng những gì đã học. Tác giả khuyên học phải có hành, nghĩa là học và hành phải đi đôi với nhau. Không thể học mà không đi đôi với hành và ngược lại: hành mà không học.

    b. Tại sao học lại phải đi đôi với hành?

    – Hành mà không học thì làm sao biết được đầy đủ kiến thức về sự vật, sự việc ấy đễ ứng phó trong mọi trường hợp, mọi lĩnh vực.

    – Hành mà không học thì chỉ là sự mò mẫn chẳng khác nào người đi trong đêm tối. Vừa mất thời gian, vừa hỏng việc.

    – Rõ ràng kiến thức không phải tự nhiên mà có, tất cả là từ những kinh nghiệm quý báu đã được rút ra từ thực tiễn, có giá trị đúng đắn và được nhiều người chấp nhận. Cho nên hành không thễ không học. ý thức được điều này, ông cha ta thường xuyên “học hành, học hỏi, học tập”.

    – Học, hỏi, hiểu, hành là phương trâm mà mọi người cần hướng tới và làm theo nó.

    c. Tác dụng:

    – Phải gắn liền học và hành. Cần hiểu hành ở đây không chỉ là những bài tập áp dụng trong sách vở mà hành còn là những điều đã học phải đem ra áp dụng vào thực tế cuộc sống.

    VD: 1 kỹ sư học lý thuyết trong trường, khi về công xưởng anh ta phải biết áp dụng những điều đã học vào thực tế sản xuất, vào cuộc sống.

    – Học đễ cung cấp kiến thức cho thực hành, giúp cho thực hành dễ dàng hơn.

    – Học đễ đem áp dụng kiến thức đã học vào thực tế. Hành còn củng cố, hoàn chỉnh cho học.

    – Là học sinh còn ngồi ghế nhà trường phải biết áp dụng tốt phương trâm học này đễ việc học ngày càng đạt kết quả tốt hơn. Lời khuyên này còn có tác dụng chỉ ra con đường học tập đúng đắn, nhất là đối với 1 số người lười nhác, không chịu thực hành, chỉ muốn rập khôn theo lý thuyết.

    3. Kết bài:

    – Tóm lại qua tư tưởng tiến bộ, Nguyễn Thiếp đã chỉ cho ta thấy được học và hành phải là 2 mặt đồng thời của 1 quá trình học tập. Không được coi nhẹ mặt nào, coi nặng mặt nào.

    – Bài học cho bản thân em về vấn đề nghị luận trên.

    Đề 3 1. Mở bài:

    – Dẫn dắt vấn đề

    – Trích dẫn câu nói của Gorki

    2. Thân bài:

    – Giải thích câu nói của Maxim Go-rơ-ki: Sách là nguồn kiến thức.

    + Sách lưu giữ nguồn tri thức của nhân loại từ ngàn đời nay.

    + Sách cung cấp đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm của nhân loại vượt qua không gian, thời đại.

    + Sách là kho tàng tri thức, ngoài ra những cuốn sách có giá trị còn được coi là những cột mốc phát triển trên con đường học thuật của nhân loại.

    – Tầm quan trọng của sách với con người.

    + Đọc sách là con đường quan trọng của học vấn, tích lũy, nâng cao nhận thức, trình độ cá nhân.

    + Đọc sách có thể chuẩn bị cho cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường đời, con đường học vấn, nhằm phát hiện ra thế giới mới.

    + Đọc sách chính là tìm con đường sống.

    + Cuộc sống luôn cần kiến thức, kinh nghiệm để mở mang hiểu biết và tìm ra nghề chân chính để tồn tại.

    + Cuộc sống và xã hội càng phát triển, con người càng cần phải trau dồi kiến thức nhiều hơn.

    + Nêu tác dụng của sách.

    – Nếu không có sách cuộc sống của con người.

    + Coi thường đọc sách là xóa bỏ kinh nghiệm quá khứ, làm cho xã hội thụt lùi, chậm tiến.

    + Thiếu sách cuộc sống của con người sẽ rất nhàm chán, tăm tối.

    + Không có sách hiểu biết của con người thụt lùi so với thời đại, thiếu hiểu biết.

    + Sẽ không có kinh nghiệm, kiến thức được lưu lại cho thế hệ mai sau.

    → Sách là kiến thức- con đường sống của con người.

    3. Kết bài: Khẳng định vai trò to lớn quan trọng của sách đối với con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Lớp 8 Văn Tự Sự Kết Hợp Với Miêu Tả Và Biểu Cảm Hay Nhất
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 (Siêu Ngắn)
  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 3
  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2
  • Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Ngắn Nhất
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 (Siêu Ngắn)

    --- Bài mới hơn ---

  • Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Lớp 8 Văn Tự Sự Kết Hợp Với Miêu Tả Và Biểu Cảm Hay Nhất
  • Soạn Viết Bài Tập Làm Văn Số 6 Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8
  • 2 Bài Văn Mẫu Viết Bài Tập Làm Văn Số 7 Lớp 8 Đề 3: Nói Không Với Tệ Nạn Xã Hội Hay Nhất.
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 7: Văn Nghị Luận Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn bài: Viết bài tập làm văn số 2

    Mở bài:

    Giới thiệu về vật nuôi mà em yêu thích và gắn bó với nó

    Thân bài:

    + Em gặp vật nuôi đó trong hoàn cảnh nào ( được bạn bè tặng dịp sinh nhật/ được bố mua đầu năm học hay bà nội mạng cho,…)

    + Tả sơ lược về hình dáng, màu sắc của loài vật nuôi đó

    + Kể sơ lược về tính cách, thói quen, sở thích của loài vật nuôi đó

    + Kể một kỉ niệm khiến em xúc động giữa em với nó:

    – Hoàn cảnh xảy ra sự việc như thế nào?

    – Em đã gặp phải khó khăn gì?Lúc ấy bạn vật nuôi hành xử ra sao? Có giúp đỡ gì được em không?

    – Sau sự việc xảy ra, em cảm nhận thêm về vật nuôi đó như thế nào? Tình cảm ra sao?

    Kết bài:

    Cảm nhận và suy nghĩ về nó.

    Mở bài:

    Thời học sinh có nhiều kí ức đẹp nhưng cũng có không ít lỗi lầm khiến ta khi nhìn lại thấy ngại ngùng, hối hận. Những lỗi lầm ấy mang lại cho ta những bài học đầu tiên về lỗi lầm và sự thứ tha.

    Thân bài:

    + Năm lớp 8, trong giờ học môn Anh của cô Thi

    + Vì lần trước cô ghi tên tôi vào sổ đầu bài nên tôi không mấy hài lòng và yêu thích cô cho lắm

    + Khi cô trả bài kiểm tra, tôi nhận giấy và ngang nhiên xé bài kiểm tra trước mặt cô

    + Cô yêu cầu tôi đứng dậy, giải thích cho tôi hiểu vấn đề quan trọng của việc xem lại bài kiểm tra và sự tôn trọng đối với người giáo viên và các bạn trong lớp

    + Tôi bắt đầu nhận rõ lỗi lầm của mình và rất xấu hổ

    + Tôi xin lỗi và mong cô bỏ qua, cô đã tha thứ và dặn tôi cùng cả lớp nhiều điều bổ ích

    + Tôi học được ở cô rất nhiều điều và biết ơn cô vô ngần, nhờ cô mà tôi biết cách kiềm chế cảm xúc, biết cách tha thứ và bao dung với người khác.

    Kết bài:

    Cảm nghĩ của em về cô giáo (hình ảnh cô luôn in sâu trong trái tim mình).

    Mở bài:

    Bố mẹ luôn dành cho em nhiều yêu thương tốt đẹp . Vì vậy, em luôn trân quý và biết ơn vì điều đó thật nhiều, em luôn cố gắng làm điều tốt để bố mẹ vui lòng. Em còn nhớ một kỉ niệm vui vào năm lớp 5, có lẽ lần đó bố mẹ rất hạnh phúc vì em.

    Thân bài:

    + Nhân kỷ niệm ngày thành lập trường, trường em tổ chức cuộc thi ” Đội viên du lịch ” , mỗi thí sinh phải đóng vai là một hướng dẫn viên du lịch giới thiệu về trường bằng

    tiếng anh

    + Hôm cuộc thi diễn ra, cả nhà đã đến cổ vũ cho em

    + Có 15 bạn tham dự, đại diện cho từng lớp của 4 khối, từ lớp 2 đến lớp 5

    + Em đã vượt qua 14 bạn còn lại để dành giải nhất cuộc thi

    + Cuộc thi kết thúc, mọi người vỡ oà lên chúc mừng em, em cảm nhận được niềm tự hào của ba mẹ trong ánh mắt nơi họ

    + Ba mẹ bảo với em rằng, thấy con mỗi ngày một trưởng thành và giỏi giang hơn ba mẹ rất hạnh phúc, hý vọng con sẽ cố gắng hơn nữa mỗi ngày

    + Mẹ còn dặn em rằng không được ngủ quên trên chiến thắng mà phải biết khiêm tốn, nỗ lực và hoàn thiện hơn nữa.

    Kết bài:

    Chiến thắng ấy là niềm tự hào của em. Em cũng cảm ơn thật nhiều sự hy sinh và yêu thương của ba mẹ để dành cho em để em có được thành quả đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 3
  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2
  • Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Ngắn Nhất
  • Bài Viết Số 2 Đề 3
  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 7
  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 (Siêu Ngắn)
  • Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Lớp 8 Văn Tự Sự Kết Hợp Với Miêu Tả Và Biểu Cảm Hay Nhất
  • Soạn Viết Bài Tập Làm Văn Số 6 Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8
  • 2 Bài Văn Mẫu Viết Bài Tập Làm Văn Số 7 Lớp 8 Đề 3: Nói Không Với Tệ Nạn Xã Hội Hay Nhất.
  • VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN số 3 - VĂN THUYẾT MINH (Làm tại lớp) ĐỀ BÀI THAM KHẢO Để 1. Thuyết minh về kính đeo mắt. Đề 2. Thuyết minh về cây bút máy hoặc cây bút bi. Đề 3. Giới thiệu đôi dép lốp trong kháng chiến. Đề 4. Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam. BÀI LÀM THAM KHẢO Đề 1. Thuyết minh về kính đeo mắt "Từ khi ra đời còn chưa được ưa chuộng, trải qua nhiều thế kỉ, ngày nay, kính mắt đã trở thành phục trang quen thuộc, và phổ biến với mọi người. Cặp kính đầu tiên ra đời ở Ý vào năm 1260. Nhưng trong xã hội bấy giờ chỉ có các thầy tu và giới quý tộc biết đọc mà họ lại không thấy mặn mà với kính. Kể từ khi ra đời, cặp mắt kính luôn được cải tiến để phù hợp và tiện lợi hơn cho người sử dụng. Ban đầu, khi mới được phát minh, thiết kế của kính chỉ có độc cái mắt kính nối với nhau bởi cầu mũi nên rất bất tiện. Trước đó, người Tây Ban Nha đã dùng dây ruy-băng buộc cặp mắt kính vào hai tai để tránh cho nó khỏi nghịch ngợm mà "nhảy dù" khỏi hai mắt của người sử dụng, nhưng cái sáng kiến ấy chẳng bao giờ được chấp nhận vì trông nó thật quá tạm bợ. Mãi đến năm 1730, Edward Scarllet - một chuyên gia quang học người Luân Đôn - mới sáng kiến ra hai càng để kính có thể gá lên mặt một cách chắc chắn. Nhiều người cho rằng Tổng thống Mĩ Benjamin Franklin là người đã phát minh ra kính đa tròng nhưng thực tế, ông chỉ là người đưa ra ý tưởng. Vào năm 1780, vì mệt mỏi với việc cứ phải thay kính mắt liên tục, ông đã yêu cầu một người thợ cắt mắt kính làm hai phần để có thể nhìn -lên nhìn xuống mà không phải thay kính. Dù đã được phác thảo trước đó bởi danh họa Leonardo da Vinci nhưng phải mãi tới năm 1827, công nghệ kính áp tròng mới thực sự bắt đầu do ý tưởng mài mắt kính áp tròng đầu tiên vừa khít với mắt. Những phát minh ấy đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị. Nếu tìm hiểu kĩ, ta sẽ thấy được sự đa dạng của kính mắt từ chất liệu cấu thành đến các phụ kiện đi kèm. Mắt kính được làm từ nhiều chất liệu khác nhau như thủy tinh, nhựa, polycarbonate, polarized, propionate... Ngoài ra, mắt kính còn được áp dụng nhiều công nghệ như. xử lí tia cực tím, tráng chông xước, tráng gương, tráng phản quang, công nghệ đổi màu, mắt kính có màu nhuộm... nên khi mới ra đời mắt kính ít được biết đến và càng hiếm người sử dụng nó. Đã thế, kính mắt chẳng thuộc một tôn giáo nào và cũng chẳng là của ăn hay dùng được mà lại là một phát minh của khoa học trong khi ở thời Trung cổ mê muội thì những phát minh đa phần bị phản đọì hoặc lờ toẹt đi. Kính mắt thuộc về trường hợp thứ hai. Ngay cả những người cần kính để đọc thì cũng hiếm lúc mang nó ra ngoài. Khi khoa học thường bị coi là ma quỷ và những nhà khoa học luôn đồng nghĩa với các thầy phù thủy thì mạng sống 1'à thứ không thể đem ra thách thức hay đùa giỡn chỉ bằng một cặp kính mắt. Nhưng không phải ai cũng như người Anh và Pháp, khăng khăng rằng kính mắt chỉ nên đeo ở nhà, những người Tây Ban Nha tin rằng kính mắt khiến họ trở nên quan trọng, đáng kính hơn và biến nó thành một biểu tượng của giới học giả và thầy tu. Nhờ vậy, kính mắt ngày càng được nhiều người biết tới và dần dần trở thành phổ biến như hiện nay. Gọng kính cũng là một thế giới chất liệu rất phong phú. Nhựa là chất liệu phố biến nhất vì nó không những rẻ mà còn tạo ra những biên độ vô cùng sáng tạo. Tuy thế, cũng còn rất nhiều các chất liệu khác có thể làm thành gọng kính với những ưu điểm khác như: laminatezyl, acetate, propionate, titanium, beryllium, thép không rỉ, ticral, flexon, scandium, monel, đồng thiếc nguyên chất, bạc, vàng,... Đi theo các cặp mắt kính ấy còn có nhiều phụ kiện đa dạng như: dây đeo, nước rửa kính, khăn lau kính, kẹp kính, bao kính,... Tất cả góp phần tạo nên một thế giới kính mắt phong phú và hấp dẫn mọi người. Kính có thể được chia thành nhiều loại như kính thuốc, kính râm, ■ kính thời trang,... Kính thuốc là loại kính dùng cho người có bệnh về mắt như cận thị, viễn thị, loạn thị; kính lão hay để bảo vệ mắt khi đọc sách nhiều và làm việc lâu bên máy vi tính. Với từng loại và mức độ bệnh của mắt mà kính có độ dày, độ cong và cấu tạo khác nhau hay thiết kế phù hợp để điều chỉnh khoảng cách tốt nhất, tránh cho người sử dụng bị mỏi mắt, căng thẳng khi phải tập trung quá lâu vào một điểm. Trong họ nhà kính, kính râm được sử dụng phổ biến nhất nhưng lại có tuổi đời trẻ nhất, mãi đến năm ,1752 nó mới ra đời. Kính râm giúp cho mắt đỡ bị mỏi và bị chói do ánh nắng gay gắt ngoài trời. Kính thời trang luôn là mặt hàng không thể thiếu trong các hiệu kính. Các mắt kính luôn được thay đổi theo thời gian, chúng được thay đổi thành nhiềụ kiểu dáng và chất liệu khác nhau, được nhuộm màu sắc phù hợp với sở thích của mỗi người sử dụng. Tuy vậy, các kính vẫn phải đạt tiêu chuẩn là ngăn chặn được ít nhất 70% tia UVB và 60% tia UVA. Trên các khung kính đều có in các con số' chỉ cỡ của thấu kính, cỡ của cần mũi và chiều dài của-càng kính. Mỗi người có một cỡ đầu nhất định nên cũng có rất nhiều số đo khác nhau. Càng ngày, xã hội càng phát triển với các xu thế thời trang hiện đại và các cặp mắt kính vẫn là một phục trang đóng góp một phần không nhỏ vào dòng chảy ấy." (Khúc Mai Thương, lớp 8A1, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) (Theo Hướng dẫn Tập làm văn 8 - Vũ Nho Chủ biên) Đề 3. Thuyết minh về đôi dép lốp. Thời nay, kể cả khi tiết kiệm được đưa lên hàng đầu thì cũng không có ai có ý định sử dụng loại dép lốp xưa đã dùng. Đơn giản vì chúng cần sự thoải mái và tiện lợi. Đó cũng là một nhu cầu chính đáng. Còn những chiếc dép lốp xưa tuy tiết kiệm nhưng đi thì không dễ chịu chút nào. Thế nhưng loại dép tái chế ấy lại giúp ích rất nhiều cho nhân dân ta thời xưa. Đó là một loại dép có quai mà nhân dân ta thường sử dụng trong thời gian khó khăn, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chông ngoại xâm. Đây là một loại sản phẩm tái chế mang tính tiết kiệm cao. Quy trình làm dép khá đơn giản. Từ những chiếc lốp cao su lớn không còn sử dụng, người ta tách lấy từng lớp cao su mỏng, cắt theo hình dáng bàn chân người và theo nhiều kích cỡ lớn nhỏ. Trên lớp đế cắt được, người ta xuyên bôn lỗ nhỏ ở đầu và bốn lỗ khác lớn hơn một chút ở đuôi để xỏ dây làm quai dép. Dây quai dép được làm bằng loại cao su tốt hơn, chắc hơn đế dép. Bốn dây cao su nhỏ, chắc được xỏ bắt chéo vào dép. Hai quai đầu ôm khít lấy phần mũi chân, còn hai quai sau vòng ôm lấy phần cổ chân. Vậy là ta có một đôi dép lốp (hay còn gọi là dép cao su). Loại dép này khá tiện dụng trong thời bấy giờ. Những chiếc dép làm ra giúp ta không bỏ phí những vật dụng còn dùng được. Hơn nữa, do được làm hầu hết từ các sản phẩm phế liệu nên giá của những đôi dép lốp rất rẻ, phù hợp với mức sống thời ấy. Những đôi dép này khá bền, chắc, sử dụng được trong một thời gian dài. Sự bền chắc đó còn phù hợp với những chuyến hành quân hay sơ tán của quân và dân ta trong chiến đấu cũng như trong lao động sản xuất và sinh hoạt. Ngoài ra, những đôi dép lốp này còn là hình ảnh nhắc nhở mọi người cần tiết kiệm và sáng tạo hơn trong đời sông. Nó giúp họ thấm nhuần một đạo lí: không có gì là không còn sử dụng được mà nó chỉ là không còn được dùng cho mục đích ban đầu mà thôi. Điều ấy rất quan trọng bởi nó giúp chúng ta vừa tiết kiệm vừa sử dụng tiện lợi trong sản xuất, sinh hoạt và chiến đấu. Những đôi dép này có rất nhiều công dụng tốt nhưng cũng có một số bất tiện. Ví dụ như ở phần cấu tạo, được làm bằng cao su, những dây quai dép chỉ được luồn vào trong đế rồi nhờ lực đàn hồi của cao su dính chặt vào dép. Do đó, đi vào nơi ẩm ướt, dép rất dễ bị trơn trượt và quai dễ bị tuột. Do đó mỗi người, đặc biệt là các chiến sĩ khi hành quân đều phải đem theo một que tre mỏng đế' rút lại dây dép. Tuy nhiên nhược điểm đó không lấn át được những cái tốt mà nó đem lại. Những đôi dép lốp là những sản phẩm tiết kiệm mà bộ đội và nhân dân thường dùng xưa kia. Hình ảnh những chiếc dép cao su ấy dường như đã đi kèm với hình ảnh những anh bộ đội cụ Hồ như khi sinh ra nó đã vốn thế. Trong lịch sử, chiến thắng lẫy lừng của chiến dịch Điện Biên Phủ, những chuyến hành quân vượt dãy Trường Sơn đánh Mĩ luôn có dấu chân những đôi dép lốp đơn sơ quen thuộc. Đôi dép ấy như trở thành hình tượng về sự giản dị, mộc mạc của người chiến sĩ. Ngay trong hành lang của vị Chủ tịch nước cũng có đôi dép cao su. Hình ảnh quen thuộc đó càng tôn thêm vẻ đẹp giản dị nhưng cao quý trong tâm hồn Bác. Ngày nay, "Đôi dép Bác Hồ" ấy đã trở thành một kỉ vật thiêng liêng, vô giá của dân tộc ta. Hàng triệu người trong và ngoài nước thuộc nhiều dân tộc, nhiều màu da, khi vào viếng Bác đã nhìn thấy đôi dép ấy được đặt trong hộp kính để dưới chân Người. Bác cùng đôi dép lốp của mình đã in dấu ấn sâu đậm trong văn và âm nhạc. Lời của một bài hát viết về đôi dép ấy thật ngọt ngào và lắng đọng: "Đôi dép đơn sơ, đôi dép Bác Hồ Bác đi từ ở Chiến khu Bác về Phô" phường, trận địa, nhà máy, đồng quê Đều in dấu dép Bác về, Bác ơi..." Trong lịch sử dân tộc ta, chiếc dép lôp bé nhỏ ấy đã xuất hiện một cách đầy tự hào như thế đó. Ngày nay, khi cuộc sống thay đổi, chúng ta gần như không thấy ai- đi dép lốp nữa. Thế nhưng mọi người sẽ luôn nhớ về nó như một vật dụng thân thiết và hình ảnh của một thời lịch sử gian khổ hào hùng. (Nguyễn Ngọc Thủy, lớp 8A1, Trường THCS Ngõ Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) (Theo Hướng dẫn Tập làm văn - Vũ Nho Chủ biên) Đề 4. Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam. "Có tìm hiểu dĩ vãng của chính mình thì mới quý nó được, và có quý trọng dĩ vãng thì mới tìm được hướng đi cho tương lai". Đó là lời của cố học giả Nguyễn Hiến Lê mà người viết bài này muốn gửi đến các bạn trẻ và những ai quan tâm đến việc bảo vệ kho tàng văn hóa dân tộc. Khi tìm đọc "văn học sử Việt Nam", chiếc áo dài đã ghi lại rất nhiều nét đan thanh không những qua ca dao tục ngữ mà còn qua điêu khắc, hội họa, kịch nghệ, văn chương và âm nhạc. Ngược dòng thời gian tìm về nguồn cội, chiếc áo dài Việt Nam đầu tiên với hai tà áo thướt tha bay lượn đã được tiền nhân ghi khắc trên cổ vật, như trống đồng Ngọc Lũ, Hòa Bình, Hoàng Hạ... từ trên ba ngàn năm trước. Áo dài Việt Nam quả đã có một quá trình đi sát với lịch sử dân tộc để lắm phen khóc cười theo mệnh nước nổi trôi. Trải qua cả mười thế kỉ bị Trung Hoa đô hộ - một Trung Hoa vĩ đại về mọi phương diện - rồi ngót một thế kỉ dưới ách thông trị của Pháp - quốc gia đứng hàng đầu về thời trang quốc tế - tà áo dài Việt Nam vẫn uyển chuyển tung bay, biểu dương tinh thần bất khuất, đặc tính thích nghi với hoàn cảnh, và khiếu thẩm mỹ của người Việt. Dưới thời kì bị Trung Hoa đô hộ, dân ta đã bao phen bị người Tàu ra lệnh dồng hóa: Đàn ông phải dóc tóc bím đuôi sam, đàn bà phải cắt tóc ngắn và mặc quần thay vì mặc váy, mọi người phải để răng tráng không được nhuộm... Nhưng những cố' 'vật tiền nhân để lại cho thấy người Việt xưa vẫn búi tóc, vẫn mặc áo dài và váy. Chiếc áo dài xưa nhất là áo giao lãnh, tương tự như áo tứ thân nhưng khi mặc thì hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại. Áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy tơ đen, thắt lưng mầu buông thả. Xưa các bà, các cô búi tóc trên đỉnh đầu hoặc quấn quanh đầu, đội mũ lông chim dài, về sau bỏ mũ lông chim để đội khăn, vấn khăn, đội nón lá, nón thủng. Cố' nhân xưa đi chân đất, về sau mang guốc gỗ, dép, giày. Vì phải làm việc đồng áng hoặc buôn bán, chiếc áo giao lãnh được thay đổi và vạt con nằm dưới vạt trước là thân thứ năm tượng trưng cho người mặc áo. Vạt con nốì với hai vạt cả nhờ cổ áo có bâu đệm, và khép kín nhờ năm chiếc khuy tượng trưng cho đạo làm người theo quan niệm Nho giáo': Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Áo ngũ thân không những tôn vinh giá'trị cao quý của người nữ trong gia đình cũng như xã hội, mà còn gói ghém nhân sinh quan của dân tộc: Con người nhờ cha mẹ sinh dưỡng, khi thành nhân có cha mẹ người bạn đời cùng che chở bao bọc là tứ thân phụ mẫu, luôn tôn trọng đạo làm người và giữ lòng nhân ái, ăn ở có nhân nghĩa trên kính dưới nhường, biết nơi trọng chỗ khinh, biết suy luận tính toán và giữ vững niềm tin nơi người. Áo ngũ thân đi đôi với quần hai ống và khăn đội đầu cũng là Quốc phục của phái nam. Các bà các cô dùng màu sắc óng ả dịu mát trong khi đàn ông con trai chỉ dùng màu đen, trắng, hoặc lam thẫm. Nữ sinh Việt Nam trước năm 1975 đến trường đều thường là "áo trắng học trò", nhưng thứ hai chào cờ phải mặc đồng phục: Áo trắng nữ sinh Đồng Khánh Huế, áo lam Hà Nội, áo xanh da trời Trưng Vương, áo hồng Gia Long... những mầu áo thơ mộng đã một thời lên hương qua thơ, nhạc. Một điều ghi nhận là sau khi không còn thể chế quân chủ, hầu hết các cô dâu đều mặc quốc phục áo dài có khoác một áo phụng rộng may theo kiểu mệnh phụ hoặc áo hoàng hậu, và đội khăn vành xanh hoặc vàng. Ý hẳn đó là ngày nàng trở thành một bậc mệnh phụ và bước lên ngôi hoàng hậu trong cuộc đời của chàng vậy. [...] Những chiếc áo dài Việt Nam dù với màu sắc đậm chói hay dịu mát, may bằng vải thô sơ'hay tơ gấm lụa là, vạt áo có ngắn cũn cũng chỉ tiếp nhận tinh hoa mà gạn lọc cặn bã, tô bồi thêm nét đẹp mà vẫn giữ cá tính độc lập. Áo dài Việt Nam là niềm kiêu hãnh của người Việt Nam. Chính vì vậy mà người Việt Nam vẫn yêu quý tà áo Việt." (Trần Thị Lai Hồng) Đề 4. Giới thiệu về trang phục truyền thống của dân tộc. Áo dài Việt Nam. - "Dù ở đâu, Pari, Luân Đôn hay những miền xa. Thoáng thấy áo dài bay trên đường phô', sẽ thấy tâm hồn quê hương ở đó em ơi!". Đã từ lâu áo dài là hình ảnh thân quen trong cuộc sông, là biểu tượng cho vẻ đẹp của người phụ nữ, vẻ đẹp-Việt Nam. Cho đến nay, vẫn chưa ai biết được nguồn gốc xuất xứ của chiếc áo dài. Nhưng theo truyền miệng và một số báo chí thì lịch sử áo dài có từ thế kỉ XVIII. Thời đó chúa Nguyễn Phúc Khoát có ý định thay đổi đời sống cho người dân, bắt đầu từ trang phục. Bởi ông nghĩ rằng, trang phục là vật dụng để đánh giá thẩm mĩ, phẩm chất của. một con người. Từ nền tảng áo dài của phụ nữ Chăm, kết hợp với lại váy xẻ hai tà của Thượng Hải (Trung Quốc) và một số hoa văn, chi tiết của áo các dân tộc khác, chiếc áo dài đã ra đời. Và đến năm 1934, nhà may Cát Tường đã cho ra mắt bộ áo dài mang nhãn hiệu Le Mur. Thập niên những năm 1930, họa sĩ Lê Phó" đã cải tiến chiếc áo dài Le Mur thành chiếc áo dài có hình dáng gần giông với áo dài Việt Nam ngày nay. Đến thời vua Bảo Đại (1935), chiếc áo dài được chuyển đổi thành áo dài ngũ thân. Hình dáng như áo dài nhưng kết hợp với áo tứ thân mớ năm mớ bảy. Do không phù hộ với cuộc sông của nhân dân nên đã mất dần. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chiếc áo dài truyền thống bị trôi nổi theo từng giai đoạn lịch sử. Cổ áo dài vẫn tồn tại và phát triển đến tận bây giờ. Nói chung, chiếc áo dài có ba thời kì lịch sử chính. Thời kì thứ nhất: áo dài truyền thống: làm từ vải trắng hay vải nhung pha màu với cách may cổ điển, lấy theo mẫu phương Tây. Tay áo phồng, áo Cổ hở tròn, tay áo hơi bó, thân áo gần như suôn, quần thì miền Bắc màu trắng còn miền Nam màu đen. Thời kì thứ hai: áo dài tân thời (gần như áo dài hiện đại): cổ cao, bó, vạt áo khá rộng, thân áo may lượn theo cơ thể, vạt áo khá dài, mặc áo rộng và thường được may bằng vải lụa trắng, the. Thời kì thứ ba: áo dài hiện đại: đó là chiếc áo ngày nay như chúng ta nhìn thấy và chất liệu là bao gồm gần như tất cả các loại vải: gấm, nhung, the, lụa, thổ cẩm với đủ màu sắc. Để may một chiếc áo dài cũng thật kì công như chính giai đoạn phát triển của nó. Đầu tiên, ta phải biết chọn loại vải đẹp, phù hợp với màu da và khuôn mặt. Ta có thể tìm đến những địa chỉ như: lụa Hà Đông, Vạn Phúc. Sau đó, ta đặt may chiếc áo phù hợp với vóc dáng của cơ thể. cổ áo phải may cao khoảng lcm bằng hồ cứng, tay áo hơi bó, suôn dần xuống bàn tay. Áo phải chia thành hai phần vạt trước và vạt sau. Để ghép nốì hai mảnh lại với nhau, phải có đường may mềm mại, uôn lượn theo thân thể. Tránh để đường may thô, tạo cảm giác cứng nhắc, khó chịu. Nách áo dài cần được may thật cẩn thận đến từng chi tiết. Các khuy áo cần phải có độ chính xác, tránh lộ ra phía ngoài. Đôi khi muôn có được chiếc áo dài thêm phần lộng lẫy, người may còn đơm thêm những họa tiết trang trí. Nếu biết tuân thủ những chi tiết đó, chắc chắn ta sẽ có một chiếc áo dài tuyệt đẹp. Có rất nhiều nơi may áo và sản xuất áo dài nổi tiếng như: Hà Nội (phô' Cầu Gỗ), Huế, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến những nơi đó, bạn có thể may cho mình một bộ áo dài đẹp. Đã từ lâu, chiếc áo dài không còn chỉ như trang phục hằng ngày. Nó đã thật sự tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ về mặt hình thể. Chiếc áo dài được may uốn lượn, làm nổi bật lên vẻ đẹp hết sức uyển chuyển của người phụ nữ. Mặc chiếc áo dài, trông người phụ nữ thật duyên dáng. Nhìn những em bé mũm mĩm mặc áo dài màu sắc, trông thật rực rẻr, đáng yêu. Những nữ sinh trong trang phục áo dài trông thật trong sáng, hồn nhiên khiến ai cũng phải ngước nhìn mà lòng xao xuyến. Đến người già' cũng có thể mặc áo dài. Mặc những chiếc áo dài màu nhung đen với hình họa nổi bật, trông họ thật đẹp lão. Chiếc áo dài thực sự dành cho mọi lứa tuổi. Áo dài được xem là trang phục truyền thống của nước ta không chỉ vì vẻ đẹp hình thức của nó mà bởi áo dài thực sự đã tôn vinh, thế' hiện vẻ đẹp tâm hồn và vẻ đẹp tinh thần của dân Việt. Phụ nữ mặc áo dài trông vừa kín đáo, duyên dáng vừa trang trọng, lịch sự. Áo dài thực sự đã tôn thêm nét nữ tính của người phụ nữ. Bởi vậy mà chiếc áo dài đã trở thành biểu tượng của phụ nữ Việt Nam." {Theo Lê Thị Hoa, Phạm Thị Loan, Lê Thị Tân Hảo - Sđd) - "Không những là một trang phục truyền thống được người Việt Nam tôn vinh và sử dụng rộng rãi mà áo dài còn được nhiều người nước ngoài ưa chuộng. Những người bạn phương Tây rất thích áo dài Việt Nam bởi chất liệu đẹp, hoa văn đẹp và kiểu dáng cũng thật độc đáo. Nhìn thấy các bạn nước ngoài mua áo dài Việt Nam đem về làm kỉ niệm, ta có thể biết chắc chắn rằng, chiếc áo dài chính là cầu nối của Việt Nam với các bạn nước ngoài. Đốì với họ, áo dài là kỉ niệm, là hình ảnh, là vẻ đẹp Việt Nam. Ngày nay, trong nhịp sống hiện đại, người phụ nữ có thể có nhiều trang phục khác, đẹp và phụ hợp với sở thích, hoàn cảnh sử dụng nhưng chiếc áo dài vẫn rất quan trọng trong đời sống tinh thần. Vào mỗi dịp lễ tết hay ngày kỉ niệm lớn phụ nữ đều mặc áo dài trong thật duyên dáng và trang trọng. Ớ nơi công sở, chị em phụ nữ cũng thường mặc áo dài tạo vẻ đẹp tự tin và lịch sự. Trong nhiều cuộc thi người đẹp, hoa hậu Việt Nam thì trình diễn áo dài luôn được chọn là phần thi quan trọng nhằm giữ gìn và tiếp tục phát huy vẻ đẹp áo dài truyền thông và tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ. Để duy trì và tiếp tục phát triển nét đẹp truyền thống này, nhiều Việt kiều cũng hay mặc áo dài để luôn nhớ về đất nước, quê hương với tà áo dài thân thương. Quả thực, chiếc áo dài Việt nam đã trở thành biểu tượng hết sức cao quý của người phụ nữ, là một nét đẹp văn hóa truyền thống của người Việt và của thế giới cần được gìn giữ. Dù mai đây chiếc áo dài có thay đổi, cách tân hay có những trang phục khác thời trang hơn thì không gì có thể sánh bằng chiếc áo dài Việt. Áo dài thật xứng đáng là nét đẹp Việt Nam!" (Sà/ làm của học sinh, có sửa chữa) {Theo Lê Thị Hoa, Phạm Thị Loan, Lê Thị Tân Hảo - Sdd)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2
  • Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Ngắn Nhất
  • Bài Viết Số 2 Đề 3
  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 7
  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 3: Văn Thuyết Minh
  • Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Ngắn Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2
  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 3
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 (Siêu Ngắn)
  • Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Lớp 8 Văn Tự Sự Kết Hợp Với Miêu Tả Và Biểu Cảm Hay Nhất
  • Soạn Viết Bài Tập Làm Văn Số 6 Siêu Ngắn
  • Soạn bài: Viết bài tập làm văn số 2 (ngắn nhất)

    Đề 1: Hãy kể về một kỉ niệm đáng nhớ với con vật nuối mà em yêu thích

    Đề 2: Kể một lần em mắc khuyết điểm khiến thầy (cô) giáo buồn

    Đề 3: Kể về một việc em khiến cho bố mẹ vui lòng

    Đề 1: Hãy kể một kỉ niệm đáng nhớ với con vật nuôi mà em yêu thích.

    Mở bài: Lisa là con mèo nhỏ mà em rất yêu thích.

    Thân bài:

    -Em nhặt được Lisa trong một buổi chiều đi học về muộn.

    +Lí do hôm đó em đi học về muộn.

    +Em nhìn thấy Lisa trong hoàn cảnh nào?

    +Miêu tả về hình dáng của Lisa trong lần đầu gặp.

    +Tình trạng lúc đó của Lisa.

    -Em đã gắn bó với Lisa trong suốt quãng thời gian qua.

    -Lisa bây giờ như thế nào?

    Kết bài: Cuộc gặp gỡ đáng nhớ đó cho em một người bạn tốt. Em rất yêu quý con mèo nhỏ của mình.

    Đề 2: Kể về một lần em mắc khuyết điểm khiến thầy cô giáo buồn.

    Mở bài: Có một kỉ niệm đáng buồn với cô giáo dạy Lí làm em nhớ mãi.

    Thân bài:

    -Cô Hoa là giáo viên dạy Lí trẻ tuổi mới vào trường nên cô còn bỡ ngỡ với việc giảng dạy.

    -Tôi là một học sinh nam nghịch ngợm trong lớp thường cùng các bạn trêu trọc quậy phá trong giờ của cô.

    -Kỉ niệm: có một lần thằng Đức rủ cả bọn đi lấy quả ngứa để xuống ghế giáo viên và giờ của cô.

    +Chúng tôi lên kế hoạch.

    +Thực hiện kế hoạch.

    +Cô giáo ngồi lên: gương mặt cô lúc đó. Cô khóc. Khung cảnh trong lớp.

    +Tôi hối hận khi nhận ra việc làm sai trái.

    -Tôi gặp riêng xin lỗi cô. Cô tha thức cho tôi.

    Kết bài: Từ đó cô trò trở nên thân thiết. Cô giúp tôi rất nhiều trong học tập. Tôi rất biết ơn cô.

    Đề 3: Kể về một việc em làm khiến bố mẹ vui lòng.

    Mở bài: Bố mẹ tôi rất vui khi tôi thi đỗ vào đội tuyển chuyên Hóa của trường.

    Thân bài:

    -Tôi vốn là đứa sức học chỉ thuộc loại khá trong lớp.

    -Sắp đến kì thi vào đội tuyển các môn, bố mẹ tôi rất mong muốn tôi thi đỗ vào các đội tuyển.

    -Môn Hóa là môn tôi yêu thích nhất nên tôi quyết định thi vào đó.

    -Tôi rất chăm chỉ học tập.

    -Khi nhận được thông báo đỗ, tôi rất vui.

    -Tôi về báo cho bố mẹ, ánh mắ bố mẹ tràn đầy sự tự hào. (Miêu tả về khuôn mặt, nụ cười…của bố mẹ)

    Kết bài: Nhờ có bố mẹ động viên nên tôi mới có động lực như vậy. Con cảm ơn bố mẹ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Viết Số 2 Đề 3
  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 7
  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 3: Văn Thuyết Minh
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 1 (Chi Tiết)
  • Giáo Án Văn 8 Bài Ôn Dịch Thuốc Lá
  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 7

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Viết Số 2 Đề 3
  • Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Ngắn Nhất
  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2
  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 3
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 (Siêu Ngắn)
  • Soạn Văn 8: Viết bài tập làm văn số 7 – Văn nghị luận

    Soạn Văn lớp 8 Viết bài tập làm văn số 7

    Soạn Văn Viết bài tập làm văn số 7 – Văn nghị luận

    là tài liệu tham khảo hay được chúng tôi sưu tầm, giúp bạn thuận tiện hơn trong quá trình soạn bài để chuẩn bị cho bài học mới trên lớp. Mời các bạn tham khảo.

    Soạn Văn: Viết bài tập làm văn số 7 – Văn nghị luận

    Đề 1: Tuổi trẻ và tương lai của đất nước (gợi ý: Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Bác Hồ tha thiết căn dặn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay ko, … ở công học tập của các cháu.” Đề bài của Bác giúp em hiểu đề bài trên như thế nào?)

    a) Mở bài: Dẫn dắt vào đề bằng lời dạy của Bác Hồ. Nêu vai trò của tuổi trẻ với tương lai đất nước.

    b) Thân bài:

    – Tại sao nói “Tuổi trẻ là tương lai đất nước”?

    + Tuổi trẻ bao giờ cũng dồi dào sức khoẻ, có đủ nhiệt tình để cống hiến cho quê hương, đất nước.

    + Tuổi trẻ không bao giờ thiếu ước mơ và sự sáng tạo.

    + Có nhiệt huyết, sự táo bạo và sẵn sàng dấn thân để đến những nơi khó khăn và làm những việc khó.

    – Tuổi trẻ nước ta trong quá khứ đã cống hiến cho đất nước như thế nào? (kể về một số tấm gương mà em biết, như: Trạng Hiền, Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Trỗi, Lê Bá Khánh Trình,…).

    – Tuổi trẻ hôm nay cần làm gì để cống hiến cho đất nước?

    + Ra sức học tập.

    + Tham gia tích cực các hoạt động xã hội.

    + Thi đua lập thành tích trong mọi lĩnh vực của đời sống.

    + Chủ động tiếp nhận và gánh vác dần những công việc của thế hệ trước.

    – Tuổi trẻ cũng cần khắc phục nhược điểm không có lợi cho bản thân và tương lai của đất nước (sự bồng bột, thói ỷ lại, thó ăn chơi sa đoạ,…).

    c) Kết bài:

    Tuổi trẻ phải ước mơ, phải khát khao cống hiến. Có như vậy, cuộc sống mới dồi dào ý nghĩa.

    Đề 2: Văn học và tình thương gợi ý: Chứng minh rằng văn học của dân tộc ta luôn ca ngợi những ai biết “thương người như thể thương thân” và nghiêm khắc phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn.)

    a) Mở bài: Mối quan hệ giữa văn học và tình thương trong lịch sử văn học.

    b) Thân bài:

    – Tại sao văn học luôn gắn bó với tình thương?

    + Vì văn học là tâm hồn dân tộc.

    + Một trong những vẻ đẹp nhất của tâm hồn dân tộc ấy là tình thương yêu nhân loại.

    – Văn học gắn bó với tình thương như thế nào?

    + Văn học nói lên nỗi đau khổ của mọi kiếp người.

    + Văn học nói lên sự cảm thông đối với nỗi đau của họ và gợi tình thương yêu trong mỗi tâm hồn người đọc.

    + Văn học bồi dưỡng, làm đẹp tâm hồn con người.

    c) Kết bài: Tình yêu thương đã trở thành một phẩm chất và là thước đo cao quý của văn học. Nó cứu vớt, dìu dắt, nâng niu con người trong hiện tại và trên đường đến tương lai.

    Đề 3: Hãy nói không với các tệ nạn (gợi ý: Hãy viết 1 bài nghị luận để nêu rõ tác hại của 1 trong các tệ nạn xã hội mà chúng ta cần phải kiên quyết và nhanh chóng bài trừ như cờ bạc, tiêm chích ma tuý, hoặc tiếp xúc với những văn hoá phẩm không lành mạnh.)

    a) Mở bài:

    – Những tệ nạn xã hội nào hiện đang rình rập và làm hại tới giới trẻ và tương lai của đất nước?

    – Thái độ của giới trẻ ra sao?

    b) Thân bài:

    – Tuổi trẻ hiện nay thường mắc vào các loại tệ nạn như thế nào?

    – Tác hại của các tệ nạn đối với mỗi cá nhân và xã hội?

    + Thiệt hại về vật chất.

    + Làm tan vỡ hạnh phúc gia đình.

    + Bản thân mỗi cá nhân mất sức sản xuất.

    + Trở thành nỗi lo của xã hội.

    + Làm gia tăng các loại tệ nạn khác.

    – Nhận thức của giới trẻ với các tệ nạn ra sao?

    + Còn mơ hồ.

    + Coi thường, thờ ơ, sống buông thả,…

    – Cần phải nhận thức vấn đề này ra sao?

    + Đây là một trong những con đường nhanh nhất làm phá tan mọi điều tốt đẹp nhất của mỗi con người.

    + Cần nhận thức đúng đắn, đồng thời góp ý, chỉ bảo mọi người cùng nhau “Nói không với các tệ nạn xã hội”.

    c) Kết bài:

    Khẳng định sự nguy hiểm của các tệ nạn. Đồng thời khẳng định quyết tâm tiêu trừ nó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 3: Văn Thuyết Minh
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 1 (Chi Tiết)
  • Giáo Án Văn 8 Bài Ôn Dịch Thuốc Lá
  • Bài 1 Trang 121 Sgk Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài Ôn Dịch, Thuốc Lá Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Tin tức online tv