Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Soạn Bài Vietjack Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Like | Techcombanktower.com

Vietjack Là Gì? Tổng Quan Về Website

Soạn Bài Bức Tranh Của Em Gái Tôi (Tạ Duy Anh)

Soạn Bài Đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ

Soạn Bài Bức Thư Của Thủ Lĩnh Da Đỏ (Xi

Soạn Bài Bạn Đến Chơi Nhà (Siêu Ngắn)

Bài Thơ Bạn Đến Chơi Nhà

Tổng quan về website chúng tôi

Vietjack.com được xem là trang web hàng đầu trong lĩnh vực giảng dạy kiến thức cho những học viên từ cấp tiểu học đến cấp trung học phổ thông. Hầu hết tất cả những kết quả khi bạn tìm kiếm từ khóa trên google, đều cho ra những nguồn tài liệu chất lượng từ chúng tôi Điều này chứng tỏ rằng trang web này đã phát triển như thế nào.

Giao diện trang web

Đội ngũ giáo viên

Đội ngũ thầy, cô giáo tại trung tâm Vietjack hay giảng dạy online thông qua trang điện tử chúng tôi đều là những người được trang bị đầy đủ kiến thức, giàu kinh nghiệm với nhiều năm giảng dạy ở các môi trường tốt, có tâm huyết, trách nhiệm với nghề, đồng thời cũng là những người rất nhiệt tình, chu đáo với học viên. Ngoài ra, không chỉ có vậy, trung tâm cũng sắp xếp một số thầy cô luôn túc trực giải đáp mọi thắc mắc, yêu cầu của học viên trong suốt quá trình học tập cùng Vietjack, đảm bảo rằng học viên có thể tiếp thu được nguồn kiến thức đúng như mong đợi và có những thành tích cao trong học tập.

Chi phí

Chi phí cho một khóa học khá vừa phải trên mặt bằng chung. Đồng thời trung tâm này cũng tạo rất nhiều các chương trình giảm giá khóa học cho học viên. Một phần để thu hút học viên tham gia khóa học, mặt khác cũng hỗ trợ và khuyến khích học viên có thể tích cực học tập và tiếp thu kiến thức hơn nữa. Đây là một trong những lý do mà Vietjack trở nên vô cùng thành công.

Đánh giá

Bên cạnh việc giảng dạy tại trung tâm, Vietjack đang ngày càng thành công và phát triển với hướng đi giảng dạy online trên trang web chúng tôi của mình. Với sự uy tín và chất lượng, Vietjack luôn là một cái tên dẫn đầu trong việc giáo dục trực tuyến.

Điều này được thể hiện qua việc, mỗi năm có hàng trăm, hàng nghìn học viên đăng ký và tiếp tục các khóa học của mình tại Vietjack. Với học viên, Vietjack là một người bạn đồng hành đáng tin cậy trong con đường từng bước chinh phục đỉnh cao tri thức. Với phụ huynh, Vietjack là địa chỉ đáng tin cậy cho họ gửi gắm con em mình với một môi trường đào tạo lành mạnh và bổ ích, khiến cho việc học chính là quá trình tìm hiểu và phát huy khả năng thực sự.

Soạn Bài Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội

Giáo Án Bài Thạch Sanh (Tiết 2)

Giáo Án Bài Thạch Sanh (Tiết 1)

Tóm Tắt Thạch Sanh Ngắn Nhất (5 Bài).

4 Bài Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương Hay Nhất

Soạn Văn 9 Soạn Bài Rô

Unit 3 Lớp 9: Read

Unit 9 Lớp 9: Read

Soạn Văn Lớp 9 Bài Sang Thu Ngắn Gọn Hay Nhất

Soạn Bài Sang Thu Siêu Ngắn

Cảm Nhận Khổ Cuối Trong Bài “sang Thu” Của Hữu Thỉnh

Soạn văn 9 Soạn bài Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang thuộc phần: Bài 29 SGK Ngữ Văn 9

I. Đọc hiểu văn bản

Trả lời câu 1 (trang 129 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

Bài văn có thể chia làm 3 phần

– Phần 2: Tiếp theo đến áo quần của tôi: Trang bị và trang phục của Chúa đảo.

– Phần 3: Còn lại: Diện mạo của vị chúa đảo.

Trả lời câu 2 (trang 129 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

– Trước tiên tác giả nói đến trang phục từ trên xuống dưới, tiếp đó là trang bị nghĩa là các vật mang theo rồi sau hết mới đến diện mạo của mình.

– Phần diễn tả diện mạo cũng chỉ chiếm một dung lượng ít ỏi. Nói thoáng qua về nước da, trên bộ mặt, Rô-bin-xơn chỉ đặc tả bộ ria mép…

Trả lời câu 3 (trang 129 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

– Thời tiết mưa nắng khắc nghiệt, chỉ cần nước mưa thấm vào da thịt cũng sẽ bị ốm một trận thập tử nhất sinh. Tuy nhiên nó cũng giúp cho cây cối rất phát triển.

– Trên đảo không có người, không có vải để may quần áo, Rô-bin-xơn liền lấy những tấm da dê may tạm làm quần áo cho mình.

– Thiếu thốn những vật dụng sinh hoạt hằng ngày

– Trên đảo không có sự nguy hiểm của người thổ dân hoặc thú dữ.

Chỉ qua trang phục thôi, chúng ta cũng đã thấy ý chí và nghị lực của nhân vật “tôi” lớn đến mức nào. Thay vì bị hoàn cảnh éo le khuất phục, Rô-bin-xơn đã không ngừng lao động, cải tạo nó để nó phục vụ cho cuộc sống của mình. Bên cạnh đó, giọng kể còn mang tính hài hước, dí dỏm, thể hiện sự lạc quan, vượt lên trên hoàn cảnh. Chàng không bị khuất phục trước thiên nhiên mà đã để thiên nhiên phải khâm phục mình.

Soạn văn 9 Soạn bài Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang được biên soạn và tổng hợp bởi các thầy cô giáo dạy giỏi môn văn lớp 9 giúp học sinh soạn bài, tóm tắt, phân tích, thuyết minh, nghị luận,… hay nắm bắt rõ cách soạn văn 9 như nào, cho thật ngắn gọn, dễ hiểu mà vẫn đủ ý chính. chúng tôi gửi tới các bạn học sinh đầy đủ các bài soạn văn lớp 9 hay nhất giúp các bạn học tốt môn ngữ văn 9.

Xem Video bài học trên YouTube

Giáo viên dạy thêm cấp 2 và 3, với kinh nghiệm dạy trực tuyến trên 5 năm ôn thi cho các bạn học sinh mất gốc, sở thích viết lách, dạy học

Soạn Văn Lớp 9 Bài Rô

Soạn Bài Quê Hương Của Tế Hanh

Giáo Án Ngữ Văn 9 Bài 27: Bến Quê

Giáo Án Bài Bến Quê

Soạn Bài Bến Quê (Trích)

Soạn Bài Lớp 10: Nhàn Soạn Bài Môn Ngữ Văn

Soạn Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Soạn Bài Nhàn Lớp 10 Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Soạn Bài Văn Bản Văn Học (Ngắn Gọn)

Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 10: Luyện Tập Về Liên Kết Trong Văn Bản

Soạn Bài Chiến Thắng Mtao Mxây Lớp 10

Soạn bài: Nhàn

Soạn bài lớp 10: Nhàn do Nguyễn Bỉnh Khiêm sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về nhân vật trữ tình này xuất hiện trong lời thơ với những chi tiết về cách sống, cách sinh hoạt và quan niệm sống: tự cuốc đất trồng cây, đào củ, câu cá; chọn nơi vắng vẻ, không thích nơi ồn ã; ăn uống, tắm táp thoải mái, tự nhiên giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình.

NHÀN

NGUYỄN BỈNH KHIÊM

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương (nay thuộc Vĩnh Bảo, Hải Phòng), từng thi đỗ trạng nguyên. Làm quan được tám năm, ông dâng sớ xin chém mười tám kẻ lộng thần nhưng không được chấp nhận. Sau đó ông xin về trí sĩ ở quê nhà, tự đặt tên hiệu là Bạch Vân cư sĩ, dựng am Bạch Vân, lập quán Trung Tân, mở trường dạy học. Tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm gồm có tập thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập, tập thơ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi, tập sấm kí Trình Quốc công sấm kí,…

2. Bao trùm trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm từ khi về trí sĩ ở quê nhà là cảm hứng thanh nhàn, tự tại, gắn bó với tự nhiên, không tơ tưởng bon chen phú quý. Cảm hứng ấy được thể hiện bằng ngôn từ giản dị, tự nhiên mà cô đọng, giàu ý vị. Bài thơ Nhàn trích ở tập thơ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi tập là một trường hợp tiêu biểu.

3. Với lời thơ tự nhiên, giản dị mà giàu ý vị, bài thơ Nhàn thể hiện được một cách sâu sắc cái thú và ý nghĩa triết lí trong lối sống nhàn dật mà tác giả đã lựa chọn. Đó là quan niệm sống nhàn là hoà hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên trên danh lợi.

II. RÈN KĨ NĂNG

1. Nổi bật trong bài thơ là hình ảnh người trí sĩ ẩn cư nhàn dật. Nhân vật trữ tình này xuất hiện trong lời thơ với những chi tiết về cách sống, cách sinh hoạt và quan niệm sống: tự cuốc đất trồng cây, đào củ, câu cá; chọn nơi vắng vẻ, không thích nơi ồn ã; ăn uống, tắm táp thoải mái, tự nhiên; coi phú quý tựa giấc mộng.

2. Âm hưởng hai câu thơ đầu đã gợi ra ngay cái vẻ thung dung. Nhịp thơ 2/2/3 cộng với việc dùng các số từ tính đếm (một…, một…, một…) trước các danh từ mai, cuốc, cần câu cho thấy cái chủ động, sẵn sàng của cụ Trạng đối với cuộc sống điền dã, và còn như là chút ngông ngạo trước thói đời.

3. Có thể thấy vẻ đẹp giản dị, tự nhiên của bài thơ ở việc lựa chọn từ ngữ, giọng điệu. Các từ ngữ nôm na, dân dã được sử dụng kết hợp với cách cấu tạo câu thơ như lời khẩu ngữ tự nhiên đã tạo ra nét nghệ thuật độc đáo cho bài thơ. Đúng như nhận xét của Phan Huy Chú: “Văn chương ông tự nhiên nói ra là thành, không cần gọt giũa, giản dị mà linh hoạt, không màu mè mà có ý vị, đều có quan hệ đến việc dạy đời”.

4. Sự đối lập giữa “Ta dại” và “Người khôn” trong câu 3 – 4 mang nhiều hàm ý: vừa để khẳng định sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả, vừa thể hiện sắc thái trào lộng, thái độ mỉa mai đối với cách sống ham hố danh vọng, phú quý. Theo đó, cái dại của “ta” là cái “ngu dại” của bậc đại trí, với trí tuệ lớn, thấu triệt lẽ thịnh suy, vong tồn của cuộc đời, sống thanh thản, nhàn dật, thuận lẽ tự nhiên. Cho nên, nơi “ta” chọn là “nơi vắng vẻ”, nghĩa là nơi có thể tĩnh tại, sống an nhàn, không có tranh giành “tư lợi” theo sở thích của “ta”. Còn “người khôn” mà chọn “Đến chốn lao xao”, nghĩa là nơi ồn ã, ở đó con người chen chúc, xô đẩy nhau để giành giật lợi danh, thì lại hoá ra “dại” vậy “khôn” – “dại”, “nơi vắng vẻ” – “chốn lao xao” là những quan niệm sống, cách lựa chọn rất khác nhau.

5. Ở hai câu 5, 6, tác giả nói đến chuyện “ăn” và “tắm” một cách đầy thích thú. Theo vòng quay bốn mùa quanh năm, việc “ăn”, “tắm” của “ta” thuận theo tự nhiên, hoà hợp với tự nhiên; đạm bạc, thanh bần nhưng thú vị, thanh thản.

6. Triết lí nhân sinh

Hai câu thơ cuối bài thể hiện tập trung, sâu sắc quan niệm triết lí nhân sinh của tác giả. Hai câu này lấy tích trong truyện đời Đường. Chuyện kể về Thuần Vu Phần là một viên tướng tài, tính tình phóng khoáng, do xúc phạm thống soái, bị quở mắng nên từ chức về nhà, lấy uống rượu làm vui. Một hôm, Vu Phần say rượu ngủ bên gốc cây hoè, mơ thấy mình được làm phò mã cho vua nước Hoè, được hưởng giàu sang phú quý, tỉnh dậy mới biết đó chỉ là giấc mơ. Tác giả mượn điển tích này để bộc lộ thái độ xem thường phú quý, coi chốn quyền danh phú quý chỉ là giấc chiêm bao, không có thực, qua đó khẳng định thêm một lần nữa sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của riêng mình.

Lánh đời ẩn dật, cách ứng xử đó của tác giả có vẻ tiêu cực. Nhưng trong hoàn cảnh nào đó, khi muốn giữ gìn nhân cách, sự thanh thản, tĩnh tại cho mình, đó lại là cách ứng xử tích cực.

Bài thơ mở đầu bằng những ngôn từ thật vô cùng giản dị:

Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao. Rượu đến cội cây, ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

Đó là cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm, của cụ Trạng. Nó thuần hậu và thanh khiết biết bao. Câu thơ đưa ta trở về với cuộc sống chất phác nguyên sơ của cái thời “nước giếng đào, cơm cày ruộng”. Cuộc sống tự cung tự cấp mà vẫn ung dung ngông ngạo trước thói đời. Hai câu đầu còn là cái tâm thế nhàn tản, thong dong. Nhịp cầu thơ nghe như nhân vật trữ tình đang nhẹ nhàng đếm bước: một… một… một…

Đến hai câu luận nhà thơ lại tiếp tục nhấn thêm một chút tình điệu thôn quê nữa để người đọc cảm nhận thực sự được cái vui của “cuộc sống nhàn”:

Vẫn là những ngôn từ giản dị, vẫn là những hình ảnh nghệ thuật dân dã, đời thường, vậy mà hai câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm “sang trọng” biết bao. Nó chăng những không gợi ra vẻ gì khắc khổ mà còn toát lên toàn bộ vẻ thanh cao. Thanh cao trong cách ăn uống sinh hoạt và cả trong cái niềm thích thú khi được hòa mình vào cuộc sống thiên nhiên.

Cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm là thế, rất giản dị, rất tự nhiên mà vẫn thanh cao và thú vị vô cùng. Nếu chỉ đọc bốn câu thơ miêu tả về cuộc sống, chúng ta có thể nghĩ ngay đến hình ảnh một bậc danh nho đang muốn lánh đời. Thế nhưng trở về với hai câu thực, chúng ta sẽ hiểu hơn cái quan niệm “lánh đời” của nhà thơ:

Vậy ra, Tuyết Giang phu tử về với thiên nhiên là để thoát ra khỏi vòng danh lợi, thoát ra khỏi chốn nhiễu nhương đầy những ganh tị, bon chen. Hai câu thơ diễn ý bằng nói ngược. Vì thế nó tạo cho người đọc một liên tưởng thật hóm hỉnh, sâu cay. Câu thơ đúng là trí tuệ sắc sảo của một bậc đại quan – trí tuệ để nhận ra cái khôn và cái dại thật sự ở đời.

Hai câu thơ kết khép lại bằng một phong thái ung dung tự tại:

Hai câu thơ chẳng biết đang vẽ cảnh đời hay tiên cảnh. Ở đó nhân vật trữ tình cũng không biết đang tình hay mơ. Tất cả cứ hòa cùng làm một dưới cái nhãn quan tỏ tường và thông tuệ của nhà thơ.

Soạn Bài Đọc Tiểu Thanh Kí Ngắn Nhất

Soạn Bài Đọc Tiểu Thanh Kí Lớp 10 Ngắn Gọn

Soạn Văn 10 Bài Đọc Tiểu Thanh Kí Ngắn Nhất

Soạn Bài Đọc Tiểu Thanh Kí Lớp 10 Của Nguyễn Du

Soạn Bài: Nguyễn Đình Chiểu, Ngôi Sao Sáng Trong Văn Nghệ Của Dân Tộc

Soạn Bài Lớp 6: Lao Xao Soạn Bài Môn Ngữ Văn

Soạn Bài Lớp 6: Lao Xao

Soạn Bài Chiều Xuân (Anh Thơ)

Soạn Bài: Chiều Xuân (Anh Thơ)

Phân Tích Tác Phẩm Chiều Xuân

Soạn Bài Lớp 6: Lòng Yêu Nước

Soạn bài lớp 6: Lao xao

Nhà văn Duy Khán (tên đầy đủ: Nguyễn Duy Khán) sinh năm 1934, mất năm 1993; nguyên quán: Nam Sơn, Quế Võ, Bắc Ninh; trú quán: thành phố Hải Phòng; hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Duy Khán sinh trưởng trong gia đình nông dân nghèo. Học dở dang trong vùng tạm chiếm, trốn ra vùng tự do nhập ngũ. Trước ở bộ binh, sau về quân chủng Phòng không Không quân. Từng làm giáo viên văn hoá trong quân đội, rồi chuyển làm phóng viên phát thanh quân đội, thường xuyên đi sát các đơn vị chiến đấu, tham gia chiến dịch Đường 9 Nam Lào 1971, chiến dịch Quảng Trị 1972. Về tạp chí Văn nghệ quân đội làm biên tập viên, phóng viên, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975.

Tác phẩm đã xuất bản: Trận mới (tập thơ, 1972); Tuổi thơ im lặng (truyện, 1986); Tâm sự người đi (tập thơ, 1987).

Nhà văn đã được nhận Giải thưởng văn học Hội Nhà văn Việt Nam năm 1987 với tác phẩm: Tuổi thơ im lặng.

II. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Trong khi tả số rất nhiều loại chim, tác giả lựa chọn để sắp xếp theo trình tự từng nhóm loài gần nhau.

Đầu tiên là nhóm những loài chim “đều có họ với nhau. Họ của chúng đều hiền cả” (bồ các, chim ri, sáo sậu, sáo đen, tu hú), tiếp đó đến bước trung gian là các loài chim nhạn, bìm bịp, chim ngói…, sau cùng là nhóm những loài chim ác (diều hâu, chèo bẻo, quạ đen, quạ khoang, cắt,…).

Cách dẫn dắt lời kể rất tự nhiên: từ thiên nhiên đến con người, từ chuyện trẻ em sang chuyện các loài chim. Mặc dù mục đích chính là miêu tả thiên nhiên, tả các loài chim nhưng bài văn hẳn sẽ mất đi rất nhiều cảm giác kì thú nếu như không được miêu tả qua con mắt, trí tưởng tượng của một cậu bé. Một thiên nhiên trong sáng, đầy màu sắc và ăm ắp những kỉ niệm, những lời văn tươi rói như chưa ráo mực: Chúng tôi chạy ùa ra, con cắt còn ngấp ngoải. Bây giờ tôi mới tận mắt nhìn thấy con cắt… khiến cho bài văn có một sức sống mạnh mẽ và vô cùng tươi tắn.

2. Về các loài chim, tác giả sử dụng cách kể như không phải bằng văn mà là lời nói thường, cũng không phải do ai gợi ra mà bắt đầu từ tiếng kêu của loài bồ các để dẫn dắt lời kể; tiếp sau đó vận dụng cấu trúc của đồng dao dân gian để phát triển mạch kể. Mạch kể giữa các loài chim hiền với các loài chim ác được tiếp nối bởi sự xuất hiện của các loài chim ngói, chim nhạn và chim bìm bịp. Đặc biệt, sự xuất hiện của chim bìm bịp như là “cầu nối” (khi nó kêu thì một loạt chim ác, chim xấu mới ra mặt). Đồng thời, trong từng nhóm loài, tác giả dùng các hình ảnh sinh hoạt, tập tính của chúng để xâu chuỗi thành mạch văn phát triển hợp lí và sinh động.

Trong bài văn, tác giả đã kết hợp tả và kể khá nhuần nhuyễn. Chẳng hạn: đang tả sáo sậu, sáo đen hiền thì xen kể “con sáo đen tọ toẹ học nói”; đang kể con tu hú lại kể về sự xuất hiện của mùa tu hú trong vườn nhà ông Tấn; hoặc đang kể về nguồn gốc con “bìm bịp” lại tả màu sắc, sau đó trở lại kể về môi trường sống của nó… Sự kết hợp tả và kể còn được thể hiện trong mối quan hệ đấu tranh sinh tồn giữa các loài, chẳng hạn: việc tranh cướp mồi giữa diều hâu và chèo bẻo, giữa chèo bẻo và chim cắt.

Ở đoạn đầu bài văn, tác giả viết: Giời chớm hè. Cây cối um tùm. Cả làng thơm – tác giả vừa kể vừa tả, tả rồi lại kể, sau đó lại tả: Cây hoa lan nở hoa trắng xoá… Cũng như vậy, kết hợp tả và kể về các loài chim, tác giả vừa thể hiện khả năng quan sát rất tinh tế, vừa thay đổi được giọng văn làm cho mạch văn uyển chuyển, sinh động; đồng thời qua đó cũng thể hiện tình cảm gắn bó thân thiết giữa tác giả và thiên nhiên.

3. Một vẻ đẹp khác của bài văn là cách sử dụng và chuyển hoá các chất liệu văn hoá dân gian, chủ yếu là các thành ngữ, các câu hát đồng dao hay thậm chí cả những câu chuyện cổ tích. Ví dụ: Chị Diệp nhanh nhảu: – Bồ các là bác chim ri. Chim ri là dì sáo sậu. Sáo sậu là cậu sáo đen. Sáo đen là em tu hú. Tu hú là chú bồ các…

4. Bài văn đã đem đến những hiểu biết thú vị về đặc điểm, tập tính, hình dáng của một số loài chim, điều đó giúp chúng ta yêu mến hơn và có tinh thần trân trọng giữ gìn vẻ đẹp của thiên nhiên, cảnh sắc quê hương. Câu hát đồng dao phổ biến của trẻ em đã được thể hiện qua lời nói của nhân vật khiến cho bạn đọc có cảm giác được sống trong một bầu không khí rất đỗi quen thuộc của văn hoá dân gian. 1. Tóm tắt

Cũng theo cách thức tương tự, rất nhiều thành ngữ (Kẻ cắp gặp bà già, Lia lia láu láu như quạ dòm chuồng lợn) và các chi tiết trong truyện cổ tích (Sự tích chim bìm bịp, Sự tích chim chèo bẻo) được đưa vào tác phẩm làm cho mạch văn phát triển tự nhiên, lời kể sinh động mà gần gũi với đời sống con người; song đôi khi chính cách nhìn nhận và đánh giá ấy cũng mang tính định kiến, gán ghép khiên cưỡng. Ví dụ: tiếng kêu của chim bìm bịp làm cho các loài chim ác xuất hiện…

2. Cách đọc

III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

3. Quan sát và miêu tả một loài chim quen thuộc ở quê em.

Trời chớm hè, cây cối um tùm, ngát hương hoa, bướm ong rộn rịp xôn xao. Thế giới các loài chim ở đồng quê hiện lên thật sinh động dưới ngòi bút của tác giả. Bồ các to mồm. Chị Điệp nhanh nhảu. Rồi sáu sậu, sáo đen, tu hú, chim ngói, chim nhạn hiền lành, gần gũi với con người. Bìm bịp suốt ngày đêm rúc trong bụi cây, diều hâu hung ác bắt gà con, quạ lia lia láu láu dòm chuồng lợn, chèo bẻo kẻ cắp nhưng hung hăng, thích đánh nhau, đánh cả diều hâu lẫn quạ. Chim cắt hung dữ, không một loài chim nào trị được thế mà bị chèo bẻo đánh cho ngắc ngoải.

Tác giả vừa kể xen lẫn miêu tả. Cần đọc chậm, thể hiện sự quan sát ngộ nghĩnh và cách miêu tả sinh động tập tính của các loài chim.

Gợi ý: cần triển khái các ý sau.

Loài chim mà em định miêu tả là gì?

Nó có nhiều ở quê em không? Nó thường xuất hiện vào mùa nào?

Miêu tả vẻ bên ngoài của loài chim ấy.

Thói quen của loài chim ấy là gì?

Sự xuất hiện của loài chim đó gợi cho em sự thích thú ra sao?

Soạn Bài Lớp 6: Lao Xao Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 6 Học Kì Ii

Soạn Bài Lao Xao (Siêu Ngắn)

Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 6: Lao Xao

Soạn Bài Mùa Xuân Của Tôi Ngữ Văn Lớp 7

Soạn Bài Xưng Hô Trong Hội Thoại Lớp 9

🌟 Home
🌟 Top