Top 6 # Xem Nhiều Nhất Soạn Bài Văn Ngắn Nhất Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Techcombanktower.com

Soạn Văn 6 Ngắn Nhất Bài: Mưa

Bài tập 1: Trang 80 sgk ngữ văn 6 tập 2

Bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa tả cơn mưa ở vùng nào và vào mùa nào?

Cơn mưa được tả qua hai giai đoạn: lúc sắp mưa và lúc đang mưa. Dựa vào thứ tự miêu tả, em hãy tìm bố cục của bài thơ.

Bài tập 2: Trang 80 sgk ngữ văn 6 tập 2

Nhận xét về thể thơ, cách ngắt nhịp, gieo vần trong bài thơ và nêu tác dụng đối với việc thể hiện nội dung (tả trận mưa rào ở làng quê).

Bài tập 3: Trang 80 sgk ngữ văn 6 tập 2

Bài thơ miêu tả rất sinh động trạng thái và hoạt động của nhiều cây cối, loài vật trước và sau cơn mưa. Em hãy tìm hiểu:

a) Hình dáng, trạng thái, hoạt động của mỗi loài lúc sắp mưa và trong cơn mưa. Tìm những động từ và tính từ miêu tả và nhận xét về việc sử dụng các từ ấy.

b) Nêu các trường hợp sử dụng phép nhân hoá để miêu tả thiên nhiên trong bài thơ. Hãy phân tích tác dụng của biện pháp ấy trong một số trường hợp đặc sắc.

Bài tập 4: Trang 81 sgk ngữ văn 6 tập 2

Gần hết bài thơ chỉ miêu tả thiên nhiên, đến cuối bài mới hình ảnh con người:

Bố em đi cày về

Đội sấm Đội chớp

Đội cả trời mưa …

Em hãy nhận xét về ý nghĩa biểu tượng cho tư thế, sức mạnh và vẻ đẹp của con người trước thiên nhiên trong hình ảnh trên.

LUYỆN TẬP

Đề: Trang 81 sgk ngữ văn 6 tập 2

Quan sát và miêu tả cảnh mưa rào ở thành phố hay vùng núi, vùng biển hoặc mưa xuân ở làng quê.

Bài tập 1: Cơn mưa được tả qua hai giai đoạn: lúc sắp mưa và lúc đang mưa.

– Bố cục của bài thơ:

Phần 1: Từ đầu “Đầu tròn/ Trộc lốc”.

Phần 2: “Chớp/ Rạch ngang trời” đến hết.

Bài tập 3:

a) Hình dáng, trạng thái, hoạt động của mỗi loài lúc sắp mưa và trong cơn mưa là:

” Các con vật khi sắp mưa có phản ứng khác nhau

Mối trẻ bay cao, mỗi già bay thấp.

Gà con rối rít tìm nơi ẩn nấp.

Kiến hành quân đầy đường

Các cây cỏ cũng mỗi loại mỗi vẻ:

Muôn nghìn cây mía múa gươm

Cỏ gà rung tai nghe

Bụi tre tần ngần gỡ tóc

Hàng bưởi đu đưa bế lũ con đầu tròn trọc lóc

Cây dừa sải tay bơi.

Ngọn mùng tơi nhảy múa.”

Trong cơn mưa:

“Cóc nhảy chồm chồm

Chó sủa

Cây lá hả hê”

b) Các phép nhân hóa: Ông trời mặc áo, mía múa gươm, kiến hành quân, cỏ gà rung tai nghe, bụi tre tần ngần gỡ tóc, hàng bưởi bế lũ con đầu tròn trọc lóc, sấm ghé xuống sân khanh khách cười, cây dừa sử dụng tay bơi, ngọn mùng tơi nhảy múa…

Bài tập 4: Nhận xét

“Bố” chỉ là một người nông dân bỗng nhiên trở nên lớn lao khác thường,”bố” đội cả sấm, cả chớp, cả một trời mưa. Hình ảnh người nông dân có tầm vóc lớn lao tư thế vững vàng, hiên ngang, như là một vị thần đội trời đạp đất có sức mạnh có thể sánh với thiên nhiên. Trong con mắt nhìn của một em bé chín tuổi, người cha đi cày quả là một tráng sĩ có vẻ đẹp lớn lao, kỳ vĩ.

LUYỆN TẬP

Đề: Quan sát và miêu tả cảnh mưa rào ở thành phố hay vùng núi, vùng biển hoặc mưa xuân ở làng quê.

Bài tham khảo

Quê em là vùng đất nắng lắm mưa nhiều. Những cơn mưa đầu hè luôn mang lại sự tươi mát cho vùng đất này. Mỗi buổi chiều, sau khi ông mặt trời dần đi về phía Tây chân trời lại có những cơn mưa nhỏ to xuất hiện. Dường như chúng chỉ đợi ông Mặt Trời nghỉ ngơi mới dám lẻn xuống trần gian.

Chiều hôm qua cũng vậy. Trời đang nắng to, khí trời thật ủ dột, oi bức, không có tới một gió nào thổi qua cả. Cây cối đứng im lìm. Nắng như cái lò “bát quái” phả xuống mặt đất. Hàng chuối xơ xác đứng rủ lá. Chú chó nhà em nằm dài ngoài hiên, thè cái lưỡi ra thở hừng hực vì không chịu được nóng.

Bỗng nhiên trời đang nắng đó mà tối sầm ngay lại. Ông mặt trời sợ gì mà trốn đâu mất. Thấy vậy lũ gà nhao nhác chạy vào chuồng vì tưởng trời sắp tối. Từ phía xa xa, em đã nghe thấy tiếng gió rào rào chạy lại. Mây đen cũng rủ nhau ùn ùn kéo đến. Mây như mang hơi nước nặng trĩu che kín đen cả một góc trời. Gió mỗi lúc một giật mạnh, bốc từng đám cát bụi mù mịt như đáp vào mặt người đi đường ran rát. Trên đường, người mỗi lúc một thưa dần. Ai cũng cố đạp thật nhanh để về nhà cho kịp khỏi ướt.

Rồi, sấm nổ đùng đoàng. Chớp như xé toạc bầu trời đen kịt. Mưa bắt đầu rơi lộp bộp trên mái tôn. Tiếng mưa loong boong trong chiếc thùng hứng nước, đồm độp trên phiến nứa, gõ chan chát vào tàu lá chuối…

Lúc đầu, ngoài trời chỉ một vài hạt lách tách, càng về sau mưa càng to. Nước như thể có bao nhiêu trên trời là đổ xuống hết cả. Cây bòng bế lũ con đầu tròn trọc lốc múa may quay cuồng trong gió. Hàng cau nghiêng ngả như người say rượu. Ngoài vườn, những con ếch nhái thi nhau đuổi theo những con mối bị vỡ tổ . Trên đường, lũ trẻ thi nhau đuổi chạy tắm mưa. Hai bên đường, loáng thoáng bóng người trú mưa. Chỉ một lúc sau , sân nhà em đã lưng nước.

Thế nhưng, chỉ một lát sau mưa đã tạnh dần. Lũ gà chạy ra kiếm mồi. Trời rạng dần. Những chú chim lại bay ra hót ríu ran. Bầu trời như cao và xanh hơn. Ông mặt trời ló ra, chói lọi trên vòm lá bưởi lấp lánh.

Mưa đã ngớt nhưng nước vẫn chảy từ mái nhà xuống ồ ồ. Những rạch nước nhỏ lênh láng trên khoảng vườn. Hết mưa rồi. Mọi người lại vọi vàng đổ ra đường tiếp tục cuộc hành trình của mình.

Bài tập 1:

– Được tả qua hai giai đoạn:

– Bố cục:

Bài tập 3:

a) Hình dáng, trạng thái:

” Các con vật khi sắp mưa có phản ứng khác nhau

Mối trẻ bay cao, mỗi già bay thấp.

Gà con rối rít tìm nơi ẩn nấp.

Kiến hành quân đầy đường

Các cây cỏ cũng mỗi loại mỗi vẻ:

Muôn nghìn cây mía múa gươm

Cỏ gà rung tai nghe

Bụi tre tần ngần gỡ tóc

Hàng bưởi đu đưa bế lũ con đầu tròn trọc lóc

Cây dừa sải tay bơi.

Ngọn mùng tơi nhảy múa.”

Trong cơn mưa:

“Cóc nhảy chồm chồm

Chó sủa

Cây lá hả hê”

LUYỆN TẬP

Đề: Quan sát và miêu tả cảnh mưa rào ở thành phố hay vùng núi, vùng biển hoặc mưa xuân ở làng quê.

Bài tham khảo

Nửa đêm, bé chợt thức giấc vì tiếng động ầm ầm. Mưa xối xả. Cây cối trong vườn ngả nghiêng, nghiêng ngả trong ánh chớp nhoáng nhoàng sáng loà và tiếng sấm ì ầm lúc gần lúc xa. Giá như mọi khi thì bé đã chạy lại bên cửa sổ nhìn mưa rồi đấy. Bé rất thích trời mưa. Mưa làm cho khu vườn nhà bé tươi tốt và đẹp hơn lên gấp nhiều lần những lúc bình thường. Nhìn xuống dòng nước mưa tuôn từ trên trời cao xuống lấp lánh như bạc, lòng bé không khỏi xao động. Thú vị nhất là những lúc được tắm mình trong mưa. Bé lăn lê bò toài trong đám cỏ ngập nước, để mặc chc mưa xối tới tấp khắp thân mình trong tiếng cười giòn tan của bé.

Mưa mỗi lúc một to. Gió thổi tung những tấm rèm và lay giật các cánh cửa sổ làm chúng mở ra đóng vào rầm rầm.

Hơi nước mát lạnh phả vào ngập gian phòng. Mưa gió như cố ý mời gọi bé chạy ra chơi với chúng. Muốn ra lắm nhưng lại ngại. Mấy lần định nhổm dậy, sau lại thôi. Bé kéo chăn trùm kín cổ mơ mơ màng màng rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Sáng hôm sau trở dậy, bé vui sướng nhặt lên chiếc lá bổ đề vàng rực rơi ngay cạnh chân giường bé nằmẽ Bé chạy đến bên cửa sổ, ngước nhìn lên đỉnh ngọn cây bổ đề. Đúng là chiếc lá vàng duy nhất ấy rồi. Mấy hôm nay, bé đã nhìn thấy nó, muốn ngắt xuống quá mà không có cách gì ngắt được. Giữa trăm ngàn chiếc lá xanh bình thường, tự nhiên có một chiếc lá vàng rực đến nao lòng.

Sau trận mưa to đêm hôm ấy, suốt mấy tuần lễ tiếp sau, trời trong veo không một gợn mây. Mong mỏi mắt cơn mưa cũng không quay trở lại. Lúc bấy giờ bé mới chợt nhận ra mùa mưa đã chấm dứt. Thì ra, cơn mưa đêm ấy chính là cơn mưa cuối cùng để bắt đầu chuyển sang mùa khô.

Bé ân hận quá. Bé rất yêu trời mưa và trận mưa đêm hôm ấy đã đến chào từ biệt bé. Mưa đã mời gọi bé suốt mấy tiếng đồng hồ mà bé chẳng chịu ra gặp mưa. Chiếc lá bồ để vàng óng từ tít trên cao, mưa đã ngắt gửi xuống tặng cho bé, bé chẳng nhận ra sao?

Bài tập 1:

– Tả qua hai giai đoạn: Lúc sắp mưa, lúc đang mưa.

– Bố cục:

Bài tập 3:

b) Hình dáng, trạng thái:

” Các con vật khi sắp mưa có phản ứng khác nhau

Mối trẻ bay cao, mỗi già bay thấp.

Gà con rối rít tìm nơi ẩn nấp.

Kiến hành quân đầy đường

Các cây cỏ cũng mỗi loại mỗi vẻ:

Muôn nghìn cây mía múa gươm

Cỏ gà rung tai nghe

Bụi tre tần ngần gỡ tóc

Hàng bưởi đu đưa bế lũ con đầu tròn trọc lóc

Cây dừa sải tay bơi.

Ngọn mùng tơi nhảy múa.”

Trong cơn mưa:

“Cóc nhảy chồm chồm

Chó sủa

Cây lá hả hê”

b) Các phép nhân hóa: sinh động, đa dạng như thế giới con người. Thiên nhiên như đang vào trận chiến: ông trời mặc áo gióng đen, mía múa gươm, kiến hành quân nhưng lại vẫn có những hoạt động bình dị khác như gỡ tóc, bơi, nhảy múa, bế con…

LUYỆN TẬP

Đề: Quan sát và miêu tả cảnh mưa rào ở thành phố hay vùng núi, vùng biển hoặc mưa xuân ở làng quê.

Bài tham khảo

Quê em là vùng đất nắng lắm mưa nhiều. Những cơn mưa đầu hè luôn mang lại sự tươi mát cho vùng đất này. Mỗi buổi chiều, sau khi ông mặt trời dần đi về phía Tây chân trời lại có những cơn mưa nhỏ to xuất hiện. Dường như chúng chỉ đợi ông Mặt Trời nghỉ ngơi mới dám lẻn xuống trần gian.

Chiều hôm qua cũng vậy. Trời đang nắng to, khí trời thật ủ dột, oi bức, không có tới một gió nào thổi qua cả. Cây cối đứng im lìm. Nắng như cái lò “bát quái” phả xuống mặt đất. Hàng chuối xơ xác đứng rủ lá. Chú chó nhà em nằm dài ngoài hiên, thè cái lưỡi ra thở hừng hực vì không chịu được nóng.

Bỗng nhiên trời đang nắng đó mà tối sầm ngay lại. Ông mặt trời sợ gì mà trốn đâu mất. Thấy vậy lũ gà nhao nhác chạy vào chuồng vì tưởng trời sắp tối. Từ phía xa xa, em đã nghe thấy tiếng gió rào rào chạy lại. Mây đen cũng rủ nhau ùn ùn kéo đến. Mây như mang hơi nước nặng trĩu che kín đen cả một góc trời. Gió mỗi lúc một giật mạnh, bốc từng đám cát bụi mù mịt như đáp vào mặt người đi đường ran rát. Trên đường, người mỗi lúc một thưa dần. Ai cũng cố đạp thật nhanh để về nhà cho kịp khỏi ướt.

Rồi, sấm nổ đùng đoàng. Chớp như xé toạc bầu trời đen kịt. Mưa bắt đầu rơi lộp bộp trên mái tôn. Tiếng mưa loong boong trong chiếc thùng hứng nước, đồm độp trên phiến nứa, gõ chan chát vào tàu lá chuối…

Lúc đầu, ngoài trời chỉ một vài hạt lách tách, càng về sau mưa càng to. Nước như thể có bao nhiêu trên trời là đổ xuống hết cả. Cây bòng bế lũ con đầu tròn trọc lốc múa may quay cuồng trong gió. Hàng cau nghiêng ngả như người say rượu. Ngoài vườn, những con ếch nhái thi nhau đuổi theo những con mối bị vỡ tổ . Trên đường, lũ trẻ thi nhau đuổi chạy tắm mưa. Hai bên đường, loáng thoáng bóng người trú mưa. Chỉ một lúc sau , sân nhà em đã lưng nước.

Thế nhưng, chỉ một lát sau mưa đã tạnh dần. Lũ gà chạy ra kiếm mồi. Trời rạng dần. Những chú chim lại bay ra hót ríu ran. Bầu trời như cao và xanh hơn. Ông mặt trời ló ra, chói lọi trên vòm lá bưởi lấp lánh.

Mưa đã ngớt nhưng nước vẫn chảy từ mái nhà xuống ồ ồ. Những rạch nước nhỏ lênh láng trên khoảng vườn. Hết mưa rồi. Mọi người lại vọi vàng đổ ra đường tiếp tục cuộc hành trình của mình.

Soạn Văn 11 Ngắn Nhất Bài: Vội Vàng

Câu 1: Bài thơ có thể chia làm mấy đoạn? Nêu ý chính của từng đoạn.

Câu 2: Xuân Diệu Cảm nhận về thời gian như thế nào? Vì sao nhà thơ có tâm trạng vội vàng, cuống quýt trước sự thay đổi nhanh chóng của thời gian?

Câu 3: Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc được tác giả cảm nhận và diễn tả như thế nào? Hãy chỉ ra những nét mới trong quan niệm của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc.

Câu 4: Hãy nhận xét về đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu trong đoạn thơ cuối của bài thơ. Nhà thơ đã sáng tạo được hình ảnh nào mà anh (chị) cho là mới mẻ, độc đáo nhất?

Luyện tập

Câu 1: Trong “Nhà văn hiện đại”, nhà phê bình, nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan đã viết: “Với nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng du thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”.

Qua phân tích bài thơ Vội vàng anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

Câu 2: Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật trong Vội vàng của Xuân Diệu

Câu 3: Tâm thế sống của Xuân Diệu qua bài thơ “Vội vàng”

Câu 1: Bài thơ có thể chia làm 3 đoạn:

Đoạn 1 (13 câu đầu): tình yêu tha thiết đối với cuộc sống.

Đoạn 2 (câu 14 – 29): tâm trạng băn khoăn của tác giả trước giới hạn của cuộc đời.

Đoạn 3 (đoạn còn lại): lời giục giã hối hả, cuồng nhiệt đến với cuộc sống.

Câu 2: Cảm nhận của Xuân Diệu về thời gian:

Thời gian gắn liền với mùa xuân và tuổi trẻ của một con người yêu cuộc sống thiết tha, say đắm

Nhà thơ có tâm trạng vội vàng, cuống quýt trước sự thay đổi nhanh chóng của thời gian vì:

Thời gian tuyến tính, thời gian trôi qua rất nhanh và như một dòng chảy xuyên suốt không bao giờ trở lại

Tác giả thể hiện tình yêu với mùa xuân, tuổi trẻ, cuộc đời

Tác giả yêu tha thiết cuộc sống này nên thời gian trôi qua nhanh làm tác giả vô cùng luyến tiếc.

Câu 3: Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc được cảm nhận:

Quan niệm hạnh phúc không ở đâu xa mà đó chính là hạnh phúc ở quanh ta.

Hạnh phúc khi được cảm nhận một bức tranh thiên nhiên đẹp của hoa lá đồng nội, của ong bướm, chim chóc.

Phải biết giữ lấy hạnh phúc, giữ lại những vẻ đẹp của cuộc sống cho mình bằng những ý tưởng thật táo bạo.

Nét mới trong quan niệm của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc:

Xuân Diệu yêu tuổi trẻ và biết quý tuổi trẻ, xem đó là khoảng thời gian đẹp và đáng sống nhất

Mùa xuân của đất trời còn có thể tuần hoàn, nhưng tuổi xuân của đời ng nếu đã trôi qua đi thì mất đi vĩnh viễn

Hãy nâng niu trân trọng từng giây phút của cuộc đời, nhất là những năm tháng của tuổi trẻ.

Câu 4: Trong đoạn thơ cuối này, hàng loạt hình ảnh tiếp tục làm nổi bật vẻ quyến rũ của sự sống đầy sắc hương nhưng không phải để tả mà chủ yếu để diễn đạt sự cuồng nhiệt, vội vàng tận hưởng của tác giả.

Hàng loạt động từ tăng dần mức độ sự vồ vập, đắm say: ôm, riết, say, thâu, chếnh choáng, đã đầy, no nê, cắn, Thủ pháp điệp được sử dụng đa dạng, Nét độc đáo về nghệ thuật của đoạn thơ đó là những làn sóng ngôn từ đan xen, cộng hưởng theo chiều tăng tiến đã diễn tả rất thành công khao khát mãnh liệt của tác giả.

Luyện tập

Câu 1: “Với nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng du thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”

Câu nói của Vũ Ngọc Phan là một nhận định chung, mang tính khái quát về Xuân Diệu và thơ Xuân Diệu. Nhận định đó có hai ý:

Thơ Xuân Diệu có hai nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân.

Dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía

Lời giục giã thế hệ trẻ sống vội vàng, sống cuống quít để hưởng thụ hết những gì đẹp đẽ nhất của cuộc đời

Thế hiện lòng ham sống mãnh liệt của cái tôi Xuân Diệu rất hiện đại cùng với một quan niệm sống mới mẻ về thời gian, tuổi trẻ và hạnh phúc

Khao khát sống mãnh liệt và một tâm thế chủ động, sẵn sàng hưởng thụ, sẵn sàn đến với hạnh phúc của mình

Giá trị nghệ thuật:

Cách liên tưởng, so sánh mới lạ với những hình ảnh thơ độc đáo, giàu sức gợi cảm, gợi hình

Thủ pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác

Một loạt những hình ảnh nhân hóa, biện pháp điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc và các động từ mạnh đã tạo ra nhịp điệu cuống quít, hối hả, rộn rã

Câu 3: Tâm thế sống của Xuân Diệu qua bài thơ “Vội vàng”

Bài viết tham khảo

Hồn thơ Xuân Diệu là nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết”. Những lời bình phẩm sâu sắc ấy của Hoài Thanh dành cho Xuân Diệu có lẽ đã đủ nói về một nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” – một hồn thơ lúc nào cũng “thiết tha, rạo rực, băn khoăn”. Xuân Diệu là một cây bút có sức sáng tạo mãnh liệt, dồi dào và bền bỉ trong nền văn học Việt Nam. Ông đã đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo. Trong số những bài thơ làm nên tên tuổi của ông hoàng thơ Mới này thì “Vội vàng” được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất thể hiện cá tôi cá nhân và quan điểm sống đầy mới mẻ của nhà thơ.

Bài thơ là dòng cảm xúc mãnh liệt, dào dạt tuôn trào nhưng vẫn theo mạch lập luận, bố cục vô cùng chặt chẽ. Qua từng khổ thơ, tác giả đã bộc lộ một niềm khao khát sống mãnh liệt và quan niệm vô cùng độc đáo về thời gian và tuổi trẻ.

Ngay từ khổ thơ đầu tiên, Xuân Diệu đã thể hiện một tình yêu cuộc sống nồng nhiệt và thiết tha. Điệp từ “tôi muốn” kết hợp cùng các động từ mạnh bộc lộ mong muốn, khát vọng mãnh liệt của tác giả: điều khiển tự nhiên. Đây là ước muốn táo bạo và phi thực tế, bởi từ xưa đến nay, nào ai có thể chi phối sự vận hành của thiên nhiên vạn vật, nào ai có thể níu giữ dòng chảy thời gian? Tuy nhiên, Xuân Diệu vẫn can đảm nói lên khát vọng muốn “tắt nắng”, “buộc gió”, bởi ông hiểu được, sắc thắm nào rồi cũng nhạt, hương nồng nào rồi cũng phai, mùa xuân và tuổi trẻ chẳng thể dừng lại mãi. Xuân Diệu yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thiết tha nên luôn muốn níu kéo thời gian ở lại.

Sang khổ thơ thứ hai, tác giả vẽ nên một bức tranh thiên đường nơi trần thế. Hình ảnh thiên nhiên vạn vật quen thuộc qua cái nhìn độc đáo của nhà thơ trở nên thật mới lạ và hấp dẫn. Hai chữ “Này đây” được nhắc đến nhiều lần không gợi sự thừa thãi trong câu chữ mà tô đậm không gian và thời gian thơ. Xuân Diệu khẳng định, nơi đẹp đẽ nhất không ở đâu xa xôi mà chính là cuộc đời trần thế. Nơi đây có ong bướm dập dìu, yến anh tình tự và sắc xanh đồng nội. Nơi đây còn có âm thanh của khúc tình si, có ánh sáng ban mai trong trẻo.

Hình ảnh thiên nhiên và sự sống được Xuân Diệu vẽ lên vừa gần gũi, quen thuộc, vừa quyến rũ, đầy tình tứ. Nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó một tình yêu rạo rực, say đắm. Có thể thấy, Xuân Diệu đã nhìn thiên nhiên vạn vật dưới lăng kính của tình yêu, qua đôi mắt của tuổi trẻ. Nhờ vậy, tất cả đều như ngập trong xuân tình ngọt ngào và đẹp đẽ.

Từ giọng điệu đắm say, rạo rực của khổ thơ thứ hai, sang khổ ba, giọng điệu chuyển sang bàng hoàng, lo lắng. Xuân Diệu trở nên hoài nghi, chán nản, hoảng hốt, lo lắng trước bước đi vùn vụt của thời gian. Mùa xuân tươi đẹp, rực rỡ nhưng mùa xuân cũng chính là dự cảm về bước đi vùn vụt của thời gian. Mùa xuân qua đi kéo theo tuổi trẻ và tình yêu, cái quý giá nhất của đời người. Bởi thiên nhiên tươi đẹp là vĩnh hằng còn đời người lại hữu hạn.

Tâm trạng đau khổ tuyệt vọng của thi nhân dường như bao trùm lên cả thiên nhiên khiến cảnh vật mất đi vẻ vô tư của nó, cũng buồn, cũng sợ hãi, cũng thảng thốt. Tất cả hiện vật, sự vật trên thế gian đều đượm nỗi buồn chia li, xa cách: núi sông buông lời than tiễn biệt, gió chim mang nỗi nợ phải bay đi,… Cảm nhận rất rõ được điều ấy, thi sĩ thốt lên trong sự tiếc nuối: “Chẳng bao giờ, ôi, chẳng bao giờ nữa…”, để rồi ngay sau đó là lời giục giã: “Mau đi thôi. Mùa chưa ngả chiều hôm”.

“Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!” là hình ảnh vô cùng mạnh mẽ, táo bạo. Ở đây, sự đam mê nồng nhiệt, đắm say dường như đã được đẩy lên đến cực điểm. Phải yêu cuộc sống đến mức nào, nhà thơ mới có thể thốt lên câu thơ đầy táo bạo và thiết tha như thế?

Có thể nói, “Vội vàng” là một thông điệp sống đầy ý nghĩa của một hồn thơ yêu đời nồng nhiệt: hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây từng phút của cuộc đời mình, nhất là những năm tháng tuổi trẻ quý giá của đời người. Nó được gửi gắm qua những hình ảnh, ngôn ngữ thơ độc đáo, đầy sáng tạo cùng giọng điệu say mê, cuồng nhiệt, sôi nổi. Chính lòng yêu cuộc sống thiết tha, khát vọng sống mãnh liệt cùng nỗi sợ hãi, lo lắng trước cái hữu hạn của đời người đã khiến thi nhân phải sống vội vàng, sống cuống quýt. Nhưng đó là sống vội vàng một cách có ý thức, là sống một cách hết mình cho từng phút từng giây của cuộc đời, sao cho mỗi thời khắc trôi qua đều mang ý nghĩa, đều không phí phạm.

Câu 1: Bài thơ gồm có 3 đoạn lần lượt như sau: tình yêu tha thiết đối với cuộc sống (13 câu đầu); tâm trạng băn khoăn của tác giả trước giới hạn của cuộc đời (câu 14 – 29) và lời giục giã hối hả, cuồng nhiệt đến với cuộc sống (đoạn còn lại).

Câu 2: Cảm nhận về thời gian cùa Xuân Diệu được nói đến trong 11 câu mang ý vị triết lí nhân sinh sâu sắc. Cảm nhận về thời gian của thi nhân ở đây gắn liền với mùa xuân và tuổi trẻ của một con người yêu cuộc sống thiết tha, say đắm

Câu 3: Xuân Diệu quan niệm hạnh phúc không ở đâu xa mà đó chính là hạnh phúc ở quanh ta, là sự sống quen thuộc của trần thế. Hạnh phúc khi được cảm nhận một bức tranh thiên nhiên đẹp của hoa lá đồng nội, của ong bướm, chim chóc

Ở đây quan niệm của tác giả về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc có nhiều điểm mới: nhà thơ đă có một cách sống vội vàng để tận hưởng hạnh phúc của tuổi trẻ, hãy nâng niu trân trọng từng giây phút của cuộc đời, nhất là những năm tháng của tuổi trẻ.

Câu 4: Nhận xét về đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu trong đoạn thơ cuối của bài thơ:

Hàng loạt động từ tăng dần mức độ sự vồ vập, đắm say: ôm, riết, say, thâu, chếnh choáng, đã đầy, no nê, cắn

Thủ pháp điệp được sử dụng đa dạng: điệp cú pháp; điệp từ, ngữ; điệp cảm xúc theo lối tăng tiến

Những làn sóng ngôn từ đan xen, cộng hưởng theo chiều tăng tiến đã diễn tả rất thành công khao khát mãnh liệt của tác giả.

Luyện tập

Câu 1: Câu nói của Vũ Ngọc Phan “Với nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng du thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”

Qua Thơ Xuân Diệu, ta thấy có hai nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân. Dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía.

– Lúc vui: đều ru thanh niên bằng giọng yêu đời thắm thiết

– Lúc buồn: Ngay cả khi lo sợ thời gian trôi nhanh cướp mất tuổi xuân của mình, nhà thơ băn khoăn lo lắng, nhưng trong cái băn khoăn đó vẫn bộc lộ niềm yêu đời, yêu cuộc sống của mình.

Câu 2: Giá trị nội dung của bài tời giục giã thế hệ trẻ sống vội vàng, sống cuống quít để hưởng thụ hết những gì đẹp đẽ nhất của cuộc đời và khao khát sống mãnh liệt và sống hết mình với tuổi trẻ

Giá trị nghệ thuật: cách liên tưởng, so sánh mới lạ với những hình ảnh thơ độc đáo, giàu sức gợi cảm, gợi hình, thủ pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác và một loạt những hình ảnh nhân hóa, biện pháp điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc và các động từ mạnh đã tạo ra nhịp điệu cuống quít, hối hả, rộn rã

Câu 3: Tâm thế sống của Xuân Diệu qua bài thơ “Vội vàng”

Bài viết tham khảo

“Vội vàng” được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất thể hiện cá tôi cá nhân và quan điểm sống đầy mới mẻ của nhà thơ Xuân Diệu. Bài thơ là dòng cảm xúc mãnh liệt, dào dạt tuôn trào nhưng vẫn theo mạch lập luận, bố cục vô cùng chặt chẽ. Qua từng khổ thơ, tác giả đã bộc lộ một niềm khao khát sống mãnh liệt và quan niệm vô cùng độc đáo về thời gian và tuổi trẻ.

Ngay từ khổ thơ đầu tiên, Xuân Diệu đã thể hiện một tình yêu cuộc sống nồng nhiệt và thiết tha. Điệp từ “tôi muốn” kết hợp cùng các động từ mạnh bộc lộ mong muốn, khát vọng mãnh liệt của tác giả: điều khiển tự nhiên. Đây là ước muốn táo bạo và phi thực tế, bởi từ xưa đến nay, nào ai có thể chi phối sự vận hành của thiên nhiên vạn vật, nào ai có thể níu giữ dòng chảy thời gian? Tuy nhiên, Xuân Diệu vẫn can đảm nói lên khát vọng muốn “tắt nắng”, “buộc gió”, bởi ông hiểu được, sắc thắm nào rồi cũng nhạt, hương nồng nào rồi cũng phai, mùa xuân và tuổi trẻ chẳng thể dừng lại mãi. Xuân Diệu yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thiết tha nên luôn muốn níu kéo thời gian ở lại.

Sang khổ thơ thứ hai, tác giả vẽ nên một bức tranh thiên đường nơi trần thế. Hình ảnh thiên nhiên vạn vật quen thuộc qua cái nhìn độc đáo của nhà thơ trở nên thật mới lạ và hấp dẫn. Hai chữ “Này đây” được nhắc đến nhiều lần không gợi sự thừa thãi trong câu chữ mà tô đậm không gian và thời gian thơ. Xuân Diệu khẳng định, nơi đẹp đẽ nhất không ở đâu xa xôi mà chính là cuộc đời trần thế. Nơi đây có ong bướm dập dìu, yến anh tình tự và sắc xanh đồng nội. Nơi đây còn có âm thanh của khúc tình si, có ánh sáng ban mai trong trẻo.

Hình ảnh thiên nhiên và sự sống được Xuân Diệu vẽ lên vừa gần gũi, quen thuộc, vừa quyến rũ, đầy tình tứ. Nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó một tình yêu rạo rực, say đắm. Có thể thấy, Xuân Diệu đã nhìn thiên nhiên vạn vật dưới lăng kính của tình yêu, qua đôi mắt của tuổi trẻ. Nhờ vậy, tất cả đều như ngập trong xuân tình ngọt ngào và đẹp đẽ.

Từ giọng điệu đắm say, rạo rực của khổ thơ thứ hai, sang khổ ba, giọng điệu chuyển sang bàng hoàng, lo lắng. Xuân Diệu trở nên hoài nghi, chán nản, hoảng hốt, lo lắng trước bước đi vùn vụt của thời gian. Mùa xuân tươi đẹp, rực rỡ nhưng mùa xuân cũng chính là dự cảm về bước đi vùn vụt của thời gian. Mùa xuân qua đi kéo theo tuổi trẻ và tình yêu, cái quý giá nhất của đời người. Bởi thiên nhiên tươi đẹp là vĩnh hằng còn đời người lại hữu hạn.

Tâm trạng đau khổ tuyệt vọng của thi nhân dường như bao trùm lên cả thiên nhiên khiến cảnh vật mất đi vẻ vô tư của nó, cũng buồn, cũng sợ hãi, cũng thảng thốt. Tất cả hiện vật, sự vật trên thế gian đều đượm nỗi buồn chia li, xa cách: núi sông buông lời than tiễn biệt, gió chim mang nỗi nợ phải bay đi,… Cảm nhận rất rõ được điều ấy, thi sĩ thốt lên trong sự tiếc nuối: “Chẳng bao giờ, ôi, chẳng bao giờ nữa…”, để rồi ngay sau đó là lời giục giã: “Mau đi thôi. Mùa chưa ngả chiều hôm”.

“Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!” là hình ảnh vô cùng mạnh mẽ, táo bạo. Ở đây, sự đam mê nồng nhiệt, đắm say dường như đã được đẩy lên đến cực điểm. Phải yêu cuộc sống đến mức nào, nhà thơ mới có thể thốt lên câu thơ đầy táo bạo và thiết tha như thế?

Có thể nói, “Vội vàng” là một thông điệp sống đầy ý nghĩa của một hồn thơ yêu đời nồng nhiệt: hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây từng phút của cuộc đời mình, nhất là những năm tháng tuổi trẻ quý giá của đời người. Nó được gửi gắm qua những hình ảnh, ngôn ngữ thơ độc đáo, đầy sáng tạo cùng giọng điệu say mê, cuồng nhiệt, sôi nổi. Chính lòng yêu cuộc sống thiết tha, khát vọng sống mãnh liệt cùng nỗi sợ hãi, lo lắng trước cái hữu hạn của đời người đã khiến thi nhân phải sống vội vàng, sống cuống quýt. Nhưng đó là sống vội vàng một cách có ý thức, là sống một cách hết mình cho từng phút từng giây của cuộc đời, sao cho mỗi thời khắc trôi qua đều mang ý nghĩa, đều không phí phạm.

Câu 1: Bài thơ gồm 3 đoạn:

Câu 2: Cảm nhận về thời gian cùa Xuân Diệu là cảm nhận về thời gian của thi nhân ở đây gắn liền với mùa xuân và tuổi trẻ. Thời gian trôi đi nhanh chóng và không bao giờ trở lại được nữa, thời gian trôi đi còn mang theo cả sự phôi pha, phai tàn của vạn vật vậy nên tác giả mới cuống quýt, vội vàng để tuổi trẻ của mình trôi qua không uổng phí.

Câu 3: Hạnh phúc khi cảm nhận bức tranh thiên nhiên đẹp của hoa lá đồng nội, của ong bướm, chim chóc, tác giả yêu tuổi trẻ và biết quý tuổi trẻ, của mình bởi đây là khoảng thời gian đẹp và đáng sống nhất, hãy nâng niu trân trọng từng giây phút của cuộc đời,

Câu 4: Đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu trong đoạn thơ cuối của bài thơ:

Luyện tập

Câu 1: “Với nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng du thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”

Qua vội vàng ta thấy nhận định của Vũ Ngọc Phan về Xuân Diệu là ông có 2 nguồn cảm hứng ((yêu đương và tuổi xuân) và dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía.

Câu 2: Nội dung: lời giục giả thế hệ trẻ hãy sống vội vàng, niềm khao khát hãy sống hết mình với tuổi trẻ của tác giả qua nghệ thuật liên tưởng, so sánh, thủ pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác và loạt những hình ảnh nhân hóa, biện pháp điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc và các động từ mạnh.

Câu 3: Tâm thế sống của Xuân Diệu qua bài thơ “Vội vàng”

Dàn ý tham khảo 1. Mở bài:

Giới thiệu về nhà thơ Xuân Diệu và bài thơ “Vội vàng”

2. Thân bài:

– Khổ 1: Khát vọng lưu giữ thời gian:

* Điệp từ “tôi muốn” + động từ mạnh

* Xuân Diệu yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thiết tha nên luôn muốn níu kéo thời gian ở lại.

– Khổ 2: Bức tranh thiên đường nơi trần thế:

– Khổ 3: Nỗi lo âu, sợ hãi:

* Nỗi niềm hoài nghi, chán nản, hoảng hốt, lo lắng trước bước đi vùn vụt của thời gian.

– Khổ 4: Mong muốn sống vội vàng, sống hết mình của tác giả.

3. Kết bài:

Khẳng định giá trị của bài thơ “Vội vàng” và vị trí của nhà thơ Xuân Diệu.

Soạn Văn 9 Ngắn Nhất Bài: Con Cò

Câu 1: Bài thơ phát triển từ một hình tượng bao trùm là hình tượng con cò trong những câu hát ru. Qua hình tượng con cò, tác giả nhằm nói về điều gì?

Câu 2: Bài thơ được tác giả chia làm ba đoạn. Nội dung chính của mỗi đoạn là gì? Ý nghĩa biểu tượng của hình tượng con cò được bổ sung biến đổi như thé nào qua các đoạn thơ?

Câu 3: Trong đoạn đầu của bài thơ, những câu ca dao nào được sử dụng? Nhận xét về cách vận dụng

Câu 4: Ở bài thơ này có những câu thơ mang tính khái quát. Ví dụ:

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ

Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.”

“Một con cò thôi

Con cò mẹ hát

Cũng là cuộc đời

Vỗ cánh qua nôi”

Em hiểu nhưu thế nào về những vần thơ trện?

Câu 5: Nhận xét về thể thơ, nhịp điệu, giọng điệu của bài thơ.Các yếu tố qqys có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện tư tưởng tình cảm, cảm xúc của bài thơ?

Luyện tập

Câu 1: Đọc lại bài ” Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm ( Ngữ văn 9 tập 1, bài 12). Đối chiếu với bài con cò và chỉ ra cách vận dụng lời ru ở mỗi bài.

Phần tham khảo mở rộng

Câu 1: Giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Con cò

Câu 2: Suy nghĩ của em về ý nghĩa của tình mẹ trong cuộc sống mỗi người

Câu 1: Hình ảnh con cò

Hình ảnh con cò bay lả bay la trên những ruộng lúa bao la: hình ảnh người nông dân, người phụ nữ trong cuộc sống nhiều vất vả, nhọc nhằn nhưng luôn thể hiện được những đức tính tốt đẹp và niềm vui sống.

Hình ảnh con cò hiện lên trong lời ru: mang đến sự nhẹ nhàng, ngọt ngào của âm điệu lời ru qua đó thể hiện tình yêu và sựu che chở của người mẹ dành cho con cái.

Câu 2: Đoạn thơ chia làm ba phần

Phần 1: hình ảnh con cò qua những lời ru bắt đầu đến với tuổi ấu thơ.

Phần 2: hình ảnh con cò đi vào tiềm thức của tuổi thơ, trở nên gần gũi và sẽ theo con người đi suốt cuộc đời.

Phần 3: từ hình ảnh con cò, nhà thơ suy ngẫm và triết lý về ý nghĩa của lời ru và tình mẹ đối với cuộc đời mỗi con người.

Ý nghĩa biểu trưng của con cò có sự phát triển:

Con cò trong lời ru (phần 1) biến thành con cò mang tình cảm của mẹ mãi dõi theo bước chân con (phần 2)

Con cò trở thành biểu tượng cho lời ru, cho lòng mẹ theo con suốt đời (phần 3).

Câu 3: Những câu ca dao được sử dụng trong bài là:

Con cò bay lả bay la

Bay từ cổng phủ, bay ra cánh đồng”

“Con cò bay lả bay la

Bay từ cửa phủ bay về Đồng Đăng”

“Con cò mày đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con.”

Nhận xét cách vận dụng:

Trong hai bài ca dao trước: hình ảnh con cò gợi tả không gian và khung cảnh quen thuộc, nhịp điệu nhẹ nhàng, thong thả của cuộc sống thời xưa.

Trong bài ca dao này: hình ảnh con cò lại tượng trưng cho những con người, nhất là người phụ nữ đang nhọc nhằn, vất vả để kiếm sống nuôi con.

Câu 4: Ý nghĩa những vần thơ:

Hình ảnh cánh cò là hình ảnh tượn trưng cho mỗi câu thơ nhưng qua đó ẩn chứa là một tình yêu thương con bao la của người mẹ

Hình ảnh con cò vất vả kiếm mồi gợi lên lòng mẹ bất chấp thời gian, không gian, không quản vất vả, nguyện hi sinh hết mình vì con cái.

Cánh cò vỗ qua nôi như dáng mẹ đang nghiêng xuống chở che, đang nói với con những lời tha thiết của lòng mẹ.

Từng vần thơ là nỗi niềm tình cảm, là những vất vả hi sinh, tình yêu thương bao bọc che chở của người mẹ dành cho con.

Câu 5: Nhận xét về thể thơ và nhịp điệu

Về thể thơ: sử dụng thể thơ tự do, bắt đầu bằng những câu thơ ngắn, có cấu trúc giống nhau, nhiều chỗ lặp âm điệu lời ru. giọng suy ngẫm, triết lý.

Về nhịp điệu, giọng điệu:giai điệu đều đều, êm ái giọng điệu suy ngẫm, triết lý làm cho việc thể hiện cảm xúc đa dạng, nhất quán và sáng tạo.

Luyện tập

Câu 1: Giống nhau: Cả hai bài đều mượn hình ảnh lời hát ru để thể hiện tình mẹ bao la, vất vả, tần tảo hi sinh vì con cái

Khác nhau:

“Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” là khúc hát ru của bà mẹ tà ôi. Tình thương con của người mẹ Tà Ôi gắn liền với tình yêu bộ đôi, yêu làng, yêu đất nước.

“Con cò” là khúc hát ru mượn hình ảnh con cò để gợi đến sự tần tảo sớm khuya, tình yêu thương, sự hi sinh âm thầm của người mẹ dành cho con cái.

Phần tham khảo mở rộng

Câu 1: Giá trị nội dung và nghệ thuật bài:

Giá trị nội dung: Thông qua việc khai thác hình tượng con cò trong những câu hát ru để ngợi ca tình yêu thương của mẹ và ý nghĩa của lời ru trong cuộc đời của mỗi con người.

Giá trị nghệ thuật:

Bài thơ đậm đà chất liệu dân ca, có thể thơ tự do cảm xúc được thể hiện linh hoạt

Hình ảnh con cò gợi nhớ đến những hình ảnh rất quen thuộc của ca dao

Bài thơ có những hình ảnh mang ý nghĩa đúc kết sâu sắc và có tính triết lí, tạo nên chiều sâu cảm xúc thơ

Câu 2: Suy nghĩ của em về ý nghĩa của tình mẹ trong cuộc sống mỗi người

Bài viết tham khảo

Đối với tôi, hạnh phúc là khi còn có mẹ ở bên. Tình mẹ, chắc có lẽ trong tâm thức mỗi con người đều cảm nhận được. Mẹ là người luôn bên cạnh che chở, dìu dắt cho ta qua bao ngày tháng gian nan, cực khổ. Đôi bàn tay hao gầy vì sương gió nhẹ nhàng đưa nôi và tiếng hát ngọt ngào của mẹ đưa ta vào những giấc ngủ bình yên. Lời hát ru ấy như chứa đựng bao tâm tình mẹ gửi gắm, mong con lớn khôn, mong con trở thành người có ích cho xã hội. Cho dù bất cứ nơi đâu, bất cứ hoàn cảnh nào, mẹ vẫn dang rộng vòng tay yêu thương, vẫn là bến bờ, là điểm tựa cho con bởi:” con dù lớn vẫn là con của mẹ”. Dù vất vả đến đâu, mẹ cũng âm thầm chịu đựng, chỉ mong sao con khôn lớn trưởng thành. Sự hi sinh cao cả của những người mẹ đã khiến bao trái tim không khỏi rung cảm và xúc động. Chúng ta cần yêu thương mẹ nhiều hơn, chăm ngoan học hành để khỏi phụ lòng mong mỏi của mẹ và đền đáp công ơn trời bể mẹ đã dành cho ta trong suốt cuộc đời này. Hãy mang đến những điều hạnh phúc nhất, tốt đẹp nhất cho người đã sinh ra ta, nuôi ta lớn khôn thành người.

Câu 1: Bài thơ phát triển từ một hình tượng bao trùm là hình tượng con cò xuất hiện trong những câu hát ru. Hình ảnh con cò bay lả bay la trên những ruộng lúa bao la (người nông dân, người phụ nữ trong cuộc sống nhiều vất vả, nhọc nhằn nhưng luôn thể hiện được những đức tính tốt đẹp và niềm vui sống); Hình ảnh con cò hiện lên trong lời ru mang đến sự nhẹ nhàng, ngọt ngào của âm điệu lời ruthể hiện tình yêu và sựu che chở của người mẹ dành cho con cái.

Câu 2: Đoạn thơ chia làm ba phần với nội dung lần lượt như sau:

Ý nghĩa biểu trưng của con cò có sự phát triển: Con cò trong lời ru (phần 1) biến thành con cò mang tình cảm của mẹ mãi dõi theo bước chân con (phần 2) và trở thành biểu tượng cho lời ru, cho lòng mẹ theo con suốt đời (phần 3).

Câu 3: Những câu ca dao được sử dụng trong bài:

1. “Con cò bay lả bay la/ Bay từ cổng phủ, bay ra cánh đồng”

2. “Con cò bay lả bay la/ Bay từ cửa phủ bay về Đồng Đăng”

3. “Con cò mày đi ăn đêm/ Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi nao/ Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong/Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con.”

Câu 5: Trong bài sử dụng thể thơ tự do, bắt đầu bằng những câu thơ ngắn, có cấu trúc giống nhau, nhiều chỗ lặp âm điệu lời ru và điệu:giai điệu đều đều, êm ái giọng điệu suy ngẫm, triết lý làm cho việc thể hiện cảm xúc đa dạng, nhất quán và sáng tạo.

Luyện tập

Câu 1: Bài “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” và “Con cò” đều mượn hình ảnh lời hát ru để thể hiện tình mẹ bao la, vất vả, tần tảo hi sinh vì con cái. “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” là khúc hát ru của bà mẹ tà ôi (tình thương con gắn liền với tình yêu bộ đôi, yêu làng, yêu đất nước), “Con cò” là khúc hát ru mượn hình ảnh con cò để gợi đến sự tần tảo sớm khuya (sự hi sinh âm thầm của người mẹ dành cho con cái)

Phần tham khảo mở rộng

Câu 1: Nội dung của bài: ngợi ca tình yêu thương của mẹ và ý nghĩa của lời ru trong cuộc đời của mỗi con người. Thông qua nghệ thuật:

Câu 2: Suy nghĩ của em về ý nghĩa của tình mẹ trong cuộc sống mỗi người

Bài viết tham khảo

Tình mẹ – hai tiếng thiêng liêng và cao cả biết chừng nào. Với mỗi người, hạnh phúc là khi còn có mẹ ở bên. Từ hình hài bé nhỏ, mẹ đã nâng niu, nuôi dưỡng và chở che cho ta qua bao ngày tháng gian nan, cực khổ. Đôi bàn tay hao gầy vì sương gió nhẹ nhàng đưa nôi và tiếng hát ngọt ngào của mẹ đưa ta vào những giấc ngủ bình yên. Lời hát ru ấy như chứa đựng bao tâm tình mẹ gửi gắm, mong con lớn khôn, mong con trở thành người có ích cho xã hội. Dù vất vả đến đâu, mẹ cũng âm thầm chịu đựng, chỉ mong sao con khôn lớn trưởng thành. Chẳng phải ngẫu nhiên mà dân gian đã lựa chọn hình ảnh “con cò” trong những câu hát khi nói về mẹ: chịu thương chịu khó, nhẫn nại, tần tảo sớm hôm, yeu thương con và sẵn sàng hi sinh tất cả vì con. Chắc hẳn mọi người chưa thể quên hình ảnh người mẹ, chị biết căn bệnh ung thư quái ác đang hành hạ mình nhưng từ chối chữa bệnh để sinh con. Và rồi, sau ca sinh ấy, chị đã ra đi mãi mãi, đổi lại cho con cuộc sống bình yên. Sự hi sinh cao cả của những người mẹ đã khiến bao trái tim không khỏi rung cảm và xúc động. Vì lẽ đó, chúng ta cần yêu thương mẹ nhiều hơn, chăm ngoan học hành để khỏi phụ lòng mong mỏi của mẹ và đền đáp công ơn trời bể mẹ đã dành cho ta trong suốt cuộc đời này.

Câu 1: Hình tượng bao trùm là hình tượng con cò trong những câu hát ru, qua đó tác giả muốn nói:

Câu 2: Hình ảnh con cò được biến đổi xuyên suốt qua 3 phần:

1. hình ảnh con cò qua những lời ru bắt đầu đến với tuổi ấu thơ

Câu 3: Các câu ca dao sử dụng trong bài:

“Con cò bay lả bay la

Bay từ cổng phủ, bay ra cánh đồng”

“Con cò bay lả bay la

Bay từ cửa phủ bay về Đồng Đăng”

“Con cò mày đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con.”

Câu 4: Từng vần thơ là nỗi niềm tình cảm, là những vất vả hi sinh, tình yêu thương bao bọc che chở của người mẹ dành cho con.

Câu 5: Nghệ thuật về thể thơ, nhịp điệu, giọng điệu của bài như sau:

Luyện tập

Câu 1: Đối chiếu bài Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹvới bài con cò:

Có sự giống nhau là cả hai bài đều mượn hình ảnh lời hát ru để thể hiện tình mẹ bao la, vất vả, tần tảo hi sinh vì con cái.

Thế nhưng cách vận dụng khác nhau:

Phần tham khảo mở rộng

Câu 1: Với nội dung ngợi ca tình yêu thương của mẹ và ý nghĩa của lời ru trong cuộc đời của mỗi con người. Tác giả đã khắc họa bài thơ bằng chất liệu dân ca, có thể thơ tự do, hình ảnh con cò gợi nhớ đến những hình ảnh rất quen thuộc của ca dao và bài thơ có những hình ảnh mang ý nghĩa đúc kết sâu sắc và có tính triết lí, tạo nên chiều sâu cảm xúc thơ.

Câu 2: Suy nghĩ của em về ý nghĩa của tình mẹ trong cuộc sống mỗi người

Bài viết tham khảo

Có biết bao nhiêu thứ tình cảm trên đời, nhưng có tình nào bao la, sâu sắc và vô tận như tình mẹ dành cho con. Đối với mẹ thì bao giờ con cũng bé bỏng, mẹ phải dõi theo từng bước con đi, sẵn sàng hi sinh cả cuộc đời cho con. Còn con, dù có thể thành công hay thất bại, dù có thể thành vĩ nhân,thành anh hùng hay chỉ là một người bình thường thì con vẫn luôn cần có mẹ nâng đỡ, yêu thương, che chở. Chẳng phải ngẫu nhiên mà dân gian đã lựa chọn hình ảnh “con cò” trong những câu hát khi nói về mẹ: chịu thương chịu khó, nhẫn nại, tần tảo sớm hôm, yeu thương con và sẵn sàng hi sinh tất cả vì con. Cánh cò và tuổi thơ, cánh cò và cuộc đời con người, cánh cò và tình mẹ, rõ ràng đến đây đã có sự quyện hòa, quấn quýt khó phân biệt. Cái sắc trắng phau phau của cánh cò, cái dịu dàng, êm ả của cánh cò bay lả, bay la cứ như thế dập dìu,gắn kết đi cùng con người trên mỗi bước đường lớn khôn trưởng thành. Tình mẹ – hai tiếng thiêng liêng và cao cả biết chừng nào. Thật hạnh phúc khi ta còn có mẹ ở bên, vì vậy hãy luôn luôn làm cho mẹ vui, đừng để người mẹ hôm nào cũng lo lắng cho ta phải bận tâm.

Soạn Văn 8 Ngắn Nhất Bài: Hội Thoại

Bài tập 1: trang 94 sgk Ngữ văn 8 tập 2

Hãy tìm những chi tiết trong bài Hịch tướng sĩ thể hiện thái độ vừa nghiêm khác vừa khoan dung của Trần Quốc Tuấn đối với binh sĩ dưới quyền.

Bài tập 2: trang 91 sgk Ngữ văn 8 tập 2

Tôi nắm lấy cái vai gầy của lão, ôn tồn bảo:

– Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này sung sướng: bây giờ cụ ngồi xuống phản này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm nước chè tươi thật đặc; ông con mình ăn khoai, uống nước chè rồi hút thuốc lào… Thế là sung sướng.

– Vâng! Ông giáo dạy phải ! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng.

Nói xong lão lại cười đưa đà. Tiếng cười gượng nhưng nghe đã hiền hậu lại. Tôi vui vẻ bảo:

– Thế là được, chứ gì? Vậy cụ ngồi xuống đây, tôi đi luộc khoai, nấu nước.

– Nói đùa thế, chứ ông giáo để cho khi khác.

(Nam Cao, Lão Hạc)

Câu hỏi:

a) Dựa vào đoạn trích và những điều em biết về truyện Lão Hạc, hãy xác định vai xã hội của hai nhân vật tham gia cuộc thoại trên.

b) Tìm những chi tiết trong lời thoại của nhân vật và lợi miêu tả của nhà văn cho thấy thái độ vừa kính trọng vừa thân tình của ông giáo đối với lão Hạc?

c) Những chi tiết nào trong lời thoại của lão Hạc và lời miêu tả của nhà văn nói lên thái độ vừa quý trọng vừa thân tình của lão Hạc đối với ông giáo? Những chi tiết nào thể hiện tâm trạng không vui và sự giữ ý của lão Hạc?

Bài tập 3: trang 95 sgk Ngữ văn 8 tập 2

Hãy thuật lại một cuộc trò chuyện mà em đã được đọc, đã chứng kiến hoặc tham gia. Phân tích vai trò xã hội của những ngưòi tham gia cuộc thoại, cách đối xử của họ với nhau thể hiện qua lời thoại và cử chỉ, thái độ kèm theo lời.

Phần tham khảo mở rộng

Bài tập 1: Viết đoạn hội thoại và xác định vai xã hội, lượt lời của các nhân vật

Bài tập 1: Thái độ vừa nghiêm khác thể hiện chi tiết:

Nghiêm khắc khi chỉ ra lỗi lầm của tướng sĩ:” Nay các ngươi thấy chủ nhục mà không biết lom thấy nước nhục mà không biết thẹn… lúc bấy giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào .”

Đưa ra những lời khuyên, lời động viên, khích lệ, chỉ ra những việc mà tướng sĩ nên làm : “Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui vẻ phỏng có được không ?”, “tập dượt cung tên khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đểu là Hậu Nghệ”…

Bài tập 2: a) Vai xã hội

Lão Hạc: địa vị xã hội thấp nhưng tuổi tác cao hơn ông giáo.

Ông giáo: địa vị xã hội cao hơn nhưng tuổi tác ít hơn lão Hạc.

b) Ông giáo có thái độ vừa kính trọng, vừa thân tình với lão Hạc, thể hiện qua lời thoại của nhân vật và qua miêu tả của tác giả :

1. Ông giáo nói với lão Hạc: lời lẽ ôn tồn, thân mật, nắm vai lão, mời lão hút thuốc, uống nước, ăn khoai.

2. Trong xưng hô, ông giáo gọi lão Hạc bằng “cụ”, xưng hô gộp cả hai người lạ “ông con mình”, chứng tỏ ông giáo rất kính trọng người già, khi xưng là tôi là muốn thể hiện quan hệ bình đẳng giữa hai người.

c) Những chi tiết thể hiện thái độ của lão Hạc đối với ông giáo:

Thân mật như nói với người đồng lứa: “Đối với chúng mình thì thế là sinh sướng”.

Qúy trọng khi nói với người tri thức: ” Ông giáo dạy phải!” và ” Nói đùa thế, chứ ông giáo cho để khi khác.”

Tâm trạng buồn và giữ ý của lão Hạc: ” lão chỉ cười đưa đà, cười gượng, lão từ chối việc ăn khoai, không tiếp tục uống nước và nói chuyện tiếp với ông giáo.

Bài tập 3: Thuật lại một cuộc trò chuyện mà em đã được đọc, đã chứng kiến hoặc tham gia. Phân tích vai trò xã hội

Hôm ấy Dế Mèn sang chơi nhà Dế Choắt, thấy trong nhà luộm thuộm liền bảo:

-Sao chú mày ăn ở cẩu thả quá như thế! Nhà cửa đâu mà tuềnh toàng, nếu có đứa nào đến phá thì chú mày chết ngay đuôi.

Dế Choắt trả lời tôi bằng một giọng rất buồn rầu:

-Thưa anh, em cũng muốn khôn nhưng không khôn được, động đến việc là em thở rồi, không còn sức đâu mà đào bới nữa.

( Dế Mèn, Tô Hoài)

Vai xã hội: Trên- dưới ( Dế Mèn là anh, dế choắt là em)

Dế Mèn có thái độ trích thượng, kẻ cả, vừa thể hiện sự hống hách:

Cách xưng hô là “tao” và “chú mày” dù cả hai bằng tuổi, đó là thái độ của bề trên với kẻ dưới.

Chân dung của Dế Choắt được miêu tả gầy gò, xấu xí, như gã nghiện thuốc phiện… Thể hiện sự cao ngạo của Dế Mèn đối với bạn của mình.

Thái độ của Dế Choắt cung kính, nhút nhát, e dè:

Xưng hô cung kính xưng là “em” gọi Dế Mèn là “anh”

Thể hiện sự yếu đuối, buồn bã trong lời nói “muốn khôn nhưng khôn được”, “động đến việc là không thở nổi”

Phần tham khảo mở rộng

Bài tập 1: Viết đoạn hội thoại và xác định vai xã hội, lượt lời của các nhân vật

Viết đoạn hội thoại:

Con: Con xin phép mẹ, con đi học đây ạ!

Mẹ: Chào con. Đi học nhanh kẻo muộn giờ!

Con: Mà… mẹ ơi!

Mẹ: Sau vậy con?

Con: Hôm nay cô giáo nhắc phải nộp học phí ạ. Mẹ cho con xin tiền

Mẹ: Mẹ chưa có. Con xin phép cô giáo nộp sau được không?

Con: Dạ vâng. Chào mẹ con đi học ạ!

Xác định vai xã hội: quan hệ trên dưới (mẹ – con) Lượt lời: Mẹ có 3 lượt lời, con có 4 lượt lời

Bài tập 1: Chi tiết:

– ” Nay các ngươi thấy chủ nhục mà không biết lom thấy nước nhục mà không biết thẹn… lúc bấy giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào .”

– “Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui vẻ phỏng có được không ?”, “tập dượt cung tên khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đểu là Hậu Nghệ”…

Bài tập 2:

a) Vai xã hội:

– Lão Hạc: địa vị xã hội thấp (tuổi tác cao hơn ông giáo)

– Ông giáo: địa vị xã hội cao hơn (tuổi tác ít hơn lão Hạc.)

b)Miêu tả của tác giả :

c) Chi tiết thể hiện thái độ của lão Hạc:

Bài tập 3: Thuật lại một cuộc trò chuyện. Phân tích vai trò xã hội

Hôm ấy Dế Mèn sang chơi nhà Dế Choắt, thấy trong nhà luộm thuộm liền bảo:

-Sao chú mày ăn ở cẩu thả quá như thế! Nhà cửa đâu mà tuềnh toàng, nếu có đứa nào đến phá thì chú mày chết ngay đuôi.

Dế Choắt trả lời tôi bằng một giọng rất buồn rầu:

-Thưa anh, em cũng muốn khôn nhưng không khôn được, động đến việc là em thở rồi, không còn sức đâu mà đào bới nữa.

( Dế Mèn, Tô Hoài)

Dế Mèn có thái độ trích thượng:

3. Thái độ của Dế Choắt cung kính, nhút nhát, e dè:

Phần tham khảo mở rộng

Bài tập 1: Viết đoạn hội thoại và xác định vai xã hội, lượt lời của các nhân vật

Viết đoạn hội thoại:

Con: Con xin phép mẹ, con đi học đây ạ!

Mẹ: Chào con. Đi học nhanh kẻo muộn giờ!

Con: Mà… mẹ ơi!

Mẹ: Sau vậy con?

Con: Hôm nay cô giáo nhắc phải nộp học phí ạ. Mẹ cho con xin tiền

Mẹ: Mẹ chưa có. Con xin phép cô giáo nộp sau được không?

Con: Dạ vâng. Chào mẹ con đi học ạ!

Lượt lời: Mẹ có 3 lượt lời, con có 4 lượt lời

Bài tập 1: Chi tiết:

Nghiêm khắc khi chỉ ra lỗi lầm của tướng sĩ

1. ” Nay các ngươi thấy chủ nhục mà không biết lom thấy nước nhục mà không biết thẹn… lúc bấy giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào .”

Đưa ra những lời khuyên, lời động viên, khích lệ, chỉ ra những việc mà tướng sĩ nên làm

2. “Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui vẻ phỏng có được không ?”, “tập dượt cung tên khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đểu là Hậu Nghệ”…

Bài tập 2:

a) Vai xã hội:

b)Miêu tả của tác giả :

Ông giáo nói với lão Hạc

1. Lời lẽ ôn tồn, thân mật, nắm vai lão, mời lão hút thuốc, uống nước, ăn khoai.

c) Chi tiết thể hiện thái độ của lão Hạc:

Thân mật như nói với người đồng lứa (“Đối với chúng mình thì thế là sinh sướng”)

Qúy trọng khi nói với người tri thức (” Ông giáo dạy phải!” và ” Nói đùa thế, chứ ông giáo cho để khi khác.”)

Tâm trạng buồn và giữ ý của lão Hạc (” lão chỉ cười đưa đà, cười gượng, lão từ chối việc ăn khoai, không tiếp tục uống nước và nói chuyện tiếp với ông giáo)

Bài tập 3: Thuật lại một cuộc trò chuyện. Phân tích vai trò xã hội

Hôm ấy Dế Mèn sang chơi nhà Dế Choắt, thấy trong nhà luộm thuộm liền bảo:

-Sao chú mày ăn ở cẩu thả quá như thế! Nhà cửa đâu mà tuềnh toàng, nếu có đứa nào đến phá thì chú mày chết ngay đuôi.

Dế Choắt trả lời tôi bằng một giọng rất buồn rầu:

-Thưa anh, em cũng muốn khôn nhưng không khôn được, động đến việc là em thở rồi, không còn sức đâu mà đào bới nữa.

( Dế Mèn, Tô Hoài)

1. Vai xã hội: Trên- dưới

( Dế Mèn là anh, dế choắt là em)

2. Dế Mèn có thái độ trích thượng: Xưng hô: “tao” và “chú mày” (cả 2bằng tuổi). Dế Choắt được miêu tả gầy gò, xấu xí, như gã nghiện thuốc phiện… thể hiện sự cao ngạo của Dế Mèn đối với bạn của mình.

Phần tham khảo mở rộng

Bài tập 1: Viết đoạn hội thoại và xác định vai xã hội, lượt lời của các nhân vật

Viết đoạn hội thoại:

Con: Con xin phép mẹ, con đi học đây ạ!

Mẹ: Chào con. Đi học nhanh kẻo muộn giờ!

Con: Mà… mẹ ơi!

Mẹ: Sau vậy con?

Con: Hôm nay cô giáo nhắc phải nộp học phí ạ. Mẹ cho con xin tiền

Mẹ: Mẹ chưa có. Con xin phép cô giáo nộp sau được không?

Con: Dạ vâng. Chào mẹ con đi học ạ!

1. Vai xã hội: mẹ – con

Lượt lời: Mẹ có 3 lượt lời, con có 4 lượt lời