Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 7 Nghị Luận Văn Học Lớp 9

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Viết Số 1 Lớp 8 Đề 2: Người Ấy Sống Mãi Trong Lòng Tôi
  • Gợi Ý Một Số Dàn Ý Viết Bài Văn Số 1 Lớp 9: Văn Thuyết Minh
  • Giải Bài Tập Sgk Tiếng Anh Lớp 9 Unit 2: Write
  • Soạn Bài: Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính Ngữ Văn 9 Siêu Ngắn
  • Soạn bài Viết bài tập làm văn số 7 Nghị luận văn học Lớp 9 thuộc phần: Bài 26 SGK Ngữ Văn 9

    Gợi ý đề 1 (trang 99 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

    Suy nghĩ của em về nhân vật chị Dậu qua đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” (tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố).

    1. Mở bài : Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật.

    2. Thân bài :

    – Người đàn bà nông dân nghèo khó, hiền lương lại bị chèn ép bởi xã hội: đã nghèo khổ, cùng quẫn lại bị vạ thuế, sưu.

    – Người phụ nữ yêu chồng, thương con: chăm sóc chồng ốm yếu vừa được thả sau trận đánh, chịu nhẫn nhục cũng vì mong chồng không bị đánh.

    – Người phụ nữ giàu đức hy sinh: cáng đáng vai trò trụ cột gia đình, chạy vạy khắp nơi, bán chó… để có tiền nộp sưu.

    – Có tinh thần phản kháng mãnh liệt, căm thù bọn cường hào ác bá: chị không nhẫn nhịn, cam chịu mà khi bị áp bức, chị vùng lên đánh cai lệ và người nhà lí trưởng “túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa…”

    3. Kết bài : Khẳng định nhân vật chị Dậu là người phụ nữ nông dân với những đức tính hy sinh cao cả, yêu chồng thương con và có sức phản kháng mãnh liệt.

    Gợi ý đề 2 (trang 99 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

    Số phận và tính cách nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao.

    1. Mở bài:

    – Cùng với Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng,… Nam Cao là một cái tên không thể thiếu khi nhắc tới những nhà văn hiện thực nhân đạo.

    – Nhân vật Lão Hạc đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về một người nông dân hiền lành, chất phác, giàu lòng nhân ái, tự trọng đáng kính.

    2. Thân bài:

    a. Cuộc đời – cảnh ngộ của lão Hạc:

    – Vợ mất sớm, nhà nghèo, con trai không lấy được vợ nên quẫn trí bỏ đi làm đồn điền cao su.

    – Sống cô đơn trong tuổi già, đối diện với nhiều rủi ro (ốm đau,…), chỉ có duy nhất con chó làm bạn mà vì hoàn cảnh phải bán chó.

    b. Phẩm chất, nhân cách của lão Hạc:

    – Người nông dân lương thiện, người cha thương con, giàu lòng nhân ái, vị tha, nhân hậu : để lại nhà cửa ruộng vườn cho con, đau lòng, day dứt cảm thấy có lỗi khi bán chú chó vàng.

    – Người giàu lòng tự trọng : không muốn liên lụy tới người khác (gửi tiền ma chay), xin bả chó để tự tử.

    c. Cái chết của lão Hạc: Là một biến cố điển hình để nhân vật bộc lộ tính cách điển hình.

    d. Suy nghĩ, đánh giá về nhân vật.

    3.Kết bài:

    – Nhân vật lão Hạc là một thành công nghệ thuật của Nam Cao trong việc xây dựng hình tương người nông dân trước cách mạng tháng Tám.

    – Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật.

    – Cảm xúc của cá nhân.

    Gợi ý đề 3 (trang 99 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

    Lấy nhan đề “Tình đời trong chiếc lá”, em hãy viết bài nêu suy nghĩ của mình về đoạn trích truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” của O Hen-ri.

    1. Mở bài : Hình ảnh chiếc lá trong “Chiếc lá cuối cùng” với số phận con người, với tình người.

    2. Thân bài :

    – Số phận chiếc lá ban đầu được Giôn-xi định ra là số phận sớm lìa đời của mình – mong manh, yếu đuối.

    – Nhưng rồi, chiếc lá ngoài cửa sổ vẫn bám trụ vững vàng sau đêm bão tố. Giôn-xi đã lấy được hy vọng, giành giật lại sự sống.

    – Tình người: sự hy sinh của cụ Bơ-men, một người họa sĩ già, cụ đã dầm mưa để vẽ chiếc lá đó, và rồi cụ đã đánh đổi mạng sống cho Giôn-xi bằng mạng sống của mình.

    3. Kết bài : Tình người luôn ở quanh ta, níu giữ trong niềm tin và hy vọng giữa những con người với nhau.

    Gợi ý đề 4 (trang 99 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

    Vẻ đẹp mộng mơ và ý nghĩa sâu sắc của bài thơ “Mây và sóng” của Ta-go.

    1. Mở bài : Giới thiệu về nội dung chính của bài thơ : tình mẹ con chiến thắng được sự cám dỗ trong dòng đời.

    2. Thân bài :

    – Vẻ đẹp mộng mơ: ở bầu trời cao, trên mây có người gọi em bé, dưới nước, trong sóng cũng có người gọi bé, hình ảnh những trò chơi đầy cám dỗ mà người trên mây và người trong sóng vạch ra “bình minh vàng, vầng trăng bạc, tầng mây” ; “ngao du nơi này nơi nọ, được làn sóng nâng đi”…

    → Sự giao cảm giữa thiên nhiên và con người, tất cả tạo nên một thế giới đầy sắc màu.

    – Ý nghĩa sâu sắc bài thơ:

    + Ca ngợi tình mẹ bao la vĩ đại, thiêng liêng và bất diệt ;

    + Tác giả dẫn người đọc đến thế giới thần tiên với những ước mơ bay bổng kì diệu về tuổi thơ.

    3. Kết bài : Kết luận về vẻ đẹp mộng mơ và tình mẹ con thể hiện trong bài thơ.

    Gợi ý đề 5 (trang 99 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

    Bài thơ “Tức cảnh Pác Bó” của Hồ Chí Minh.

    1. Mở bài : Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác đặc biệt và nội dung tư tưởng của bài thơ.

    2. Thân bài :

    – Hoàn cảnh sống thiếu thốn của Bác: là một vị lãnh tụ nhưng Bác lại ở nơi tạm bợ, đơn sơ (hang, suối), nếp sống sinh hoạt nề nếp (sáng ra – tối vào), thức ăn đạm bạc thiếu thốn (cháo bẹ, rau măng).

    – Lí tưởng cách mạng, tinh thần lạc quan của Bác: Dù khó khăn thiếu thốn, làm việc nơi bàn đá chông chênh nhưng Bác vẫn lạc quan tin tưởng vào tương lai cách mạng, cho đó “thật là sang”.

    3. Kết bài : Tức cảnh Pác Bó miêu tả cuộc sống sinh hoạt, làm việc đơn sơ của Bác nhưng Bác luôn lạc quan, vui vẻ với lí tưởng cách mạng, vui vì được sống gần gũi thiên nhiên.

    Gợi ý đề 6 (trang 99 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

    Trình bày suy nghĩ về khổ thơ kết thúc bài “Ánh trăng” của Nguyễn Duy.

    1. Mở bài:

    – Giới thiệu khái quát về Nguyễn Duy.

    – Khổ cuối bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy đã để lại trong lòng người đọc ấn tượng sâu sắc.

    2. Thân bài:

    a. Khái quát về nội dung, nghệ thuật của bài thơ:

    – Diễn tả những suy ngẫm sâu sắc về thái độ của con người đối với quá khứ nghĩa tình.

    – Mang nét đặc trưng riêng: có sức khái quát lớn, hàm súc,giàu chất triết lí:

    b. Trình bày những suy nghĩ, đánh giá về nội dung, nghệ thuật của khổ thơ:

    * Suy nghĩ về hình ảnh vầng trăng ( mang nhiều tầng ý nghĩa):

    – Là hình ảnh của thiên nhiên hồn nhiên, tươi mát, đẹp rạng ngời.

    – Là người bạn tri kỉ thưở ấu thơ, hồi chiến tranh ở rừng.

    – Là biểu tượng của quá khứ nghĩa tình tròn đầy, bất diệt.

    – Là vẻ đẹp bình dị và vĩnh hằng của đời sống.

    – Là biểu tượng của nhân dân, đất nước bình dị, hiền hậu.

    * Suy nghĩ về cái “giật mình” của nhân vật trữ tình:

    – Cái “giật mình” đã khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta

    – Cái “giật mình” thấm chất nhân văn sâu sắc.

    * Cảm nhận về ngôn ngữ, giọng điệu, cách gieo vần, ngắt nhịp của khổ thơ:

    c. Ý nghĩa của khổ thơ cuối và thông điệp của tác giả:

    3. Kết bài:

    – “Ánh trăng” không chỉ là tiếng lòng của một người mà là tiếng lòng của muôn người.

    – Khổ thơ cuối cùng khép lại nhưng dư âm vẫn ngân lên, tạo sức ám ảnh thật lớn với người đọc: sống ở đời phải biết trọng ân nghĩa, thủy chung.

    – Cảm xúc, ấn tượng của người viết.

    Gợi ý đề 7 (trang 99 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

    Hình ảnh bếp lửa trong bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt.

    1. Mở bài:

    – Khái quát về tác giả và tác phẩm.

    – Hình ảnh “bếp lửa” đã để lại xúc cảm sâu lắng trong lòng người đọc.

    2.Thân bài:

    a. Đánh giá, cảm nhận về nội dung, nghệ thuật của bài thơ:

    * Nội dung:

    – Gợi lại những kỉ niệm xúc động về người bà và tình bà cháu.

    – Thể hiện những suy ngẫm sâu lắng, lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà.

    – Thể hiện tình yêu đối với gia đình, quê hương, đất nước.

    * Nghệ thuật:

    * Nhận xét

    b. Trình bày những suy nghĩ, đánh giá, cảm xúc về hình ảnh nghệ thuật “bếp lửa”:

    – “Bếp lửa” gợi kỉ niệm về bà, gợi xúc cảm của người cháu:

    – “Bếp lửa” gợi kỉ niệm thời thơ ấu bên bà:

    – “Bếp lửa” gợi suy ngẫm về người bà, về cuộc đời bà:

    – “Bếp lửa” đã nhen lên ngọn lửa của sức sống, của niềm tin, của ước mơ và tình yêu thương:

    c. Ý nghĩa của hình ảnh “bếp lửa” và bức thông điệp của nhà thơ:

    * Ý nghĩa của hình ảnh “bếp lửa”:

    – Là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo, có giá trị thẩm mĩ cao

    * Bức thông điệp của nhà thơ:

    – Con người dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào cũng luôn nhớ về cội nguồn sinh dưỡng, nhớ về quê hương, đất nước với niềm tự hào.

    – Quê hương có những người thân yêu đã hi sinh cả cuộc đờivì mình.

    – Thế hệ cha ông đã quên mình làm nên những kì tích vĩ đại.

    3. Kết bài:

    – Khẳng định giá trị của bài thơ và hình ảnh “bếp lửa”:

    – Cảm xúc của cá nhân: Bài thơ có ý nghĩa như thế nào đối với bản thân? Cảm nhận sâu sắc nhất qua bài thơ?

    được biên soạn và tổng hợp bởi các thầy cô giáo dạy giỏi môn văn lớp 9 giúp học sinh soạn bài, tóm tắt, phân tích, thuyết minh, nghị luận,… hay nắm bắt rõ cách soạn văn 9 như nào, cho thật ngắn gọn, dễ hiểu mà vẫn đủ ý chính. chúng tôi gửi tới các bạn học sinh đầy đủ các bài soạn văn lớp 9 hay nhất giúp các bạn học tốt môn ngữ văn 9.

    Xem Video bài học trên YouTube

    Giáo viên dạy thêm cấp 2 và 3, với kinh nghiệm dạy trực tuyến trên 5 năm ôn thi cho các bạn học sinh mất gốc, sở thích viết lách, dạy học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 7 Siêu Ngắn
  • Viết Bài Tập Làm Văn Số 7 Lớp 9
  • Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Lớp 9 Đề 2: Kể Lại Một Giấc Mơ Trong Đó Em Gặp Lại Người Thân Đã Xa Cách Lâu Ngày
  • Viết Bài Tập Làm Văn Số 3 Lớp 9 Đề 2 Trang 191 Sgk Ngữ Văn 9
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2
  • Soạn Văn Lớp 11: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Unit 2 Lớp 8: Communication
  • Giải Communication Unit 7 Sgk Tiếng Anh 8 Mới
  • Unit 8 Lớp 6: Skills 1
  • Unit 8 Lớp 8: Skills 2
  • Unit 10 Lớp 6: Skills 1
  • Soạn văn lớp 11 tập 1: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Tác phẩm. Câu 4: Bài văn tế sở dĩ có được sức biểu cảm mạnh mẽ, trước hết bởi nó biểu hiện những cảm xúc chân thành, sâu nặng và mãnh liệt của nhà thơ.

    Câu 1:

    a. Văn tế: là loại văn thường gắn với phong tục tang lễ, nhằm bày tỏ lòng tiếc thương đối với người đã mất, văn tế thường có nội dung cơ bản, kể lại cuộc đời công đức phẩm hạnh của người đã mất và bày tỏ tấm lòng xót thương sâu sắc.

    b. Bố cục bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc gồm bốn phần:

    – Lung khởi (từ đầu đến tiếng vang như mõ) là cảm tưởng khái quát về cuộc đời những người sĩ Cần Giuộc.

    – Thích thực (từ Nhớ linh xưa… đến tàu đồng súng nổ) là hồi tưởng cuộc đời và công đức của người nghĩa sĩ.

    – Ai vãn (từ Ôi! Những lăm lòng nghĩa lâu dùng đến cơn bóng xế dật dờ trước ngõ) là lời thương tiếc người chết của tác giả và người thân của các nghĩa sĩ.

    – Kết (còn lại) là tình cảm xót thương của người đứng tế đối với linh hồn người chết.

    Câu 2:

    a. Hình ảnh người chiến sĩ nông dân

    Họ xuất thân là những người nông dân nghèo khó. Mở đầu là cuộc đời cui cút, khép lại là cuộc đời nghèo khó. Người nông dân chỉ biết việc cuốc, cày, bừa, cấy. Họ không biết gì về chiến trận như cung, ngựa, trường, nhưng, chưa từng tập khiên, súng, mác, cờ…

    Tuy nhiên, khi giặc Pháp đánh chiếm quê hương, họ trở thành người nghĩa sĩ anh dũng đánh Tây. Thực dân Pháp tiến công Nam Bộ đã hơn mươi tháng, người dân mong chờ triều đình đánh giặc, nhưng trông tin quan, như trời hạn trông mưa. Quê hương bị tàn phá dưới gót giày xâm lược của giặc, người dân sục sôi căm thù. Lúc đầu nghe thấy kẻ thù hôi tanh, họ ghét thói xâm lăng mọi rợ như nhà nông ghét cỏ, thấy cỏ ở ruộng lúa là phải nhổ cho sạch. Khi kẻ thù hiện hình cụ thể trước mặt, lòng căm ghét chuyển sang căm thù, họ muốn ăn gan, muốn ra cắn cổ kẻ thù. Điều này diễn tả mức độ căm thù của nhân dân đối với giặc lên đến tột đỉnh.

    Bên cạnh sự căm thù của tình cảm là sự căm thù của lí trí. Cả tình cảm lẫn lí trí đều nổi giận và do ý thức trách nhiệm công dân, họ tự nguyện đứng lên đánh giặc, ra sức, ra tay với khí thế hào hùng.

    Trong trận tập kích đồn Cần Giuộc, họ là những người dũng sĩ công đồn. Họ không đợi tập rèn luyện võ nghệ, cũng không chờ bày bố trận binh thư. Những người nông dân ấy cũng không chuẩn bị quân trang. Vũ khí chỉ là ngọn tầm vong vạt nhọn, con cúi làm mồi lửa, lưỡi dao phay – vốn là những vật dụng bình thường trong sinh hoạt hằng ngày. Nhưng khi đã ở trong tay người nghĩa sĩ, tất cả đều trở thành vũ khí vô địch. Bằng cách sử dụng biện pháp đối lập, tác giả đã tả quyết tâm chiến đấu của người nông dân nghĩa sĩ, dù kẻ thù có sức mạnh quân sự hơn ta nhiều lần. Hình ảnh những người nghĩa quân trong những giờ phút căng thăng cao độ của trận đánh được diễn tả cực kì sinh động, thể hiện lòng dũng cảm tuyệt vời, sự hi sinh thiêng liêng của người nghĩa sĩ.

    Qua đoạn văn tế trên, tác giả đã phát hiện và ca ngợi bản chất cao quý tiềm ẩn đằng sau manh áo vải của những người nông dân lam lũ là lòng yêu nước và ý chí quyết tâm bảo vệ quê hương.

    b. Về nghệ thuật, đoạn văn hầu như được xây dựng toàn bằng những chi tiết chân thực, được cô đúc từ đời sống thực tế nên có tầm khái quát cao, không sa vào vụn vặt, tản mạn. Hình tượng nhân vật được đặt trong một kết cấu chặt chẽ, hợp lí. Ngòi bút hiện thực ấy kết hợp thật nhuần nhuyễn chất trữ tình sâu lắng, ẩn chứa trong từng câu chữ, từng hình ảnh là sự cảm thông, là niềm kính phục và tự hào của tác giả. Từ ngữ bình dị mà rất tinh tế, chính xác, có sức gợi cảm. Nhiều biện pháp nghệ thuật tu từ được sử dụng thành công, tạo được hiệu quả cao.

    Câu 3:

    a. Đoạn 3 (Ai vãn) là tiếng khóc bi thiết của tác giả xuất phát từ nhiều nguồn cảm xúc:

    – Nỗi xót thương đối với người liệt sĩ phải hi sinh sự nghiệp dang dở, ra đi khi chí nguyện chưa thành.

    – Nỗi xót xa của gia đình mất người thân, với những mẹ già, vợ trẻ.

    – Nỗi căm hờn những kẻ đã gây ra nghịch cảnh éo le hòa chung với tiếng khóc uất ức nghẹn ngào trước cảnh đau thương của đất nước, của dân tộc.

    b. Tiếng khóc thương của nhà thơ không chỉ gợi nỗi đau mà cao hơn còn khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí tiếp nối sự nghiệp dang dở của những người nghĩa sĩ. Tiếng khóc tuy bi thiết nhưng không đượm màu tang tóc, thê lương kéo dài bởi nó mang âm hưởng của niềm tự hào, sự khẳng định về ý nghĩa bất tử của cái chết vì nước, vì dân mà muôn đời sau con cháu vẫn tôn thờ.

    Câu 4: Bài văn tế sở dĩ có được sức biểu cảm mạnh mẽ, trước hết bởi nó biểu hiện những cảm xúc chân thành, sâu nặng và mãnh liệt của nhà thơ. Những câu văn như:

    Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

    có sức khơi gợi sâu sa trong lòng người đọc.

    Hơn thế nữa bài văn tế còn có giọng điệu rất đa dạng và đặc biệt gây ấn tượng ở những câu văn bi tráng, thống thiết như:

    Thà thác mà đặng câu địch khái, …. trôi theo dòng nước đổ.

    Giọng văn bi thiết còn được bổ sung sức gợi cảm đáng kể bởi những hình ảnh sống động ( manh áo vải, ngọn tầm vông, rơm con cúi, mẹ già, ngòn đèn khuya leo lét, …)

    Để làm sáng tỏ ý kiến của giáo sư Trần Văn Giàu: ” Cái sống được cha ông ta quan niệm là không thể tách rời với hai chữ nhục, vinh. Mà nhục hay vinh là sự đánh giá theo thái độ chính trị đối với cuộc xâm lược của Tây: đánh Tây là vinh, theo Tây là nhục“, có thể dẫn ra và phân tích các câu như:

    – Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ. – Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ. – Thà thác mà trả nước non rồi nợ, dành thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ. chúng tôi

    Bài tiếp theo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 7: Rút Gọn Câu
  • Soạn Bài Lớp 7: Rút Gọn Câu Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 7 Học Kì 2
  • Bài 2 Trang 59 Sgk Ngữ Văn 10 Tập 1
  • Soạn Văn Lớp 10 Bài Ra
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 17 + 18
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 3 Ngắn Gọn Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 8: Đánh Nhau Với Cối Xay Gió
  • Soạn Bài Đánh Nhau Với Cối Xay Gió Ngắn Gọn Lớp 8
  • Soạn Bài: Mẹ Tôi (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Mẹ Tôi Lớp 7 Ngắn Gọn
  • Luyện Tập Bài Mẹ Tôi Trang 12 Sgk Văn 7
  • Soạn văn lớp 8 bài Viết bài tập làm văn số 3 ngắn gọn hay nhất : Đề 1 Thuyết minh chiếc kính đeo mắt Đề 2 Thuyết minh về cây bút máy hoặc bút bi. Đề 3 Giới thiệu đôi dép lốp trong kháng chiến. Đề 4 Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam.

    Soạn văn lớp 8 bài Luyện nói: thuyết minh về một thứ đồ dùng

    Soạn văn lớp 8 trang 145 tập 1 bài Viết bài tập làm văn số 3 ngắn gọn hay nhất

    Câu hỏi bài Viết bài tập làm văn số 3 tập 1 trang 145

    Đề 1 Thuyết minh chiếc kính đeo mắt

    Đề 2 Thuyết minh về cây bút máy hoặc bút bi.

    Đề 3 Giới thiệu đôi dép lốp trong kháng chiến.

    Đề 4 Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam.

    Sách giải soạn văn lớp 8 bài Viết bài tập làm văn số 3

    Trả lời câu 1 soạn văn bài Viết bài tập làm văn số 3 trang 145

    Dàn ý

    Mở bài: Giới thiệu về kính đeo mắt- đối tượng được thuyết minh

    Thân bài

    – Nêu nguồn gốc, xuất xứ

    + Kính đeo mắt ra đời năm 1620 ở nước Ý

    + Qua nhiều năm được cải tiến và phổ biến sử dụng

    + Năm 1877 chiếc kính áp tròng đầu tiên trong lịch sử ra đời

    – Nêu cấu tạo:

    + Mắt kính: tùy vào thực trạng của mắt để sử dụng các loại mắt kính khác nhau. Mắt kính được làm từ thủy tinh, nhựa.

    + Mắt kính thủy tinh có đặc điểm trong suốt có nhược điểm là dễ vỡ

    + Măt kính nhựa: ưu điểm nhẹ nhưng dễ xước

    + Gọng kính gồm 2 loại: gọng nhựa và gọng kim loại.Gọng kim loại được làm bằng sắt, đeo cứng cáp và khó chịu. Gọng nhựa dẻo, bền, chịu được áp lực khi bị tác động

    – Công dụng của mắt kính.

    + Kính thuốc giúp người có bệnh về mắt như cận, loạn, lão…

    + Kính lão bảo vệ mắt khi đọc sách, hay làm việc lâu trên máy tính.

    + Kính râm bảo vệ mắt khi có ánh sáng mạnh hắt vào mắt.

    + Kính thời trang giúp làm đẹp cho khuôn mặt.

    Kết bài: Nêu cảm nghĩ và sự cần thiết của kính mắt đối với đời sống của con người trong cuộc sống.

    Bài văn mẫu

    Đọc sách, tôi rất thích một câu nói của nhà văn người Úc: “Không có gì là hoàn hảo, có chăng chỉ là sự đề cao mà thôi”. Đúng, thử hỏi trong chúng ta có ai dám tự nói mình chưa mắc lỗi dù chỉ một lần không?

    Tôi cũng vậy, có lẽ tôi không thể quên lỗi lầm mình gây ra hôm đó, khiến người tôi yêu quý nhất – mẹ tôi, buồn lòng…

    Hôm ấy, đất dát vàng ánh nắng, trời mát dịu, gió khẽ hôn lên má những người đi đường. Nhưng nó sẽ là ngày tuyệt đẹp, nếu tôi không có bài kiểm tra khoa học tệ hại đến như vậy, hậu quả của việc không chịu ôn bài. Về nhà, tôi bước nhẹ lên cầu thang mà chân nặng trĩu lại. Tôi buồn và lo vô cùng, nhất là khi gặp mẹ, người tôi nói rất chắc chắn vào tối qua: “Con học bài kỹ lắm rồi”.

    Mẹ đâu biết khi mẹ lên nhà ông bà, ba đi công tác, tôi chỉ ngồi vào bàn máy tính chứ nào có ngồi vào bàn học, bởi tôi đinh ninh rằng cô sẽ không kiểm tra, vì tôi được mười điểm bài trước, nào ngờ cô cho làm bài kiểm tra mười lăm phút. Chả lẽ bây giờ lại nói với mẹ: “Con chưa học bài hôm qua” sao? Không, nhất định không.

    Đứng trước cửa, tôi bỗng nảy ra một ý “Mình thử nói dối mẹ xem sao”. Nghĩ như vậy, tôi mở cửa bước vào nhà. Mẹ tôi từ trong bếp chạy ra. Nhìn mẹ, tôi chào lí nhí “Con chào mẹ”. Như đoán biết được phần nào, mẹ tôi hỏi: “Có việc gì thế con”? Tôi đưa mẹ bài kiểm tra, nói ra vẻ ấm ức: Con bị đau tay, không tập trung làm bài được nên viết không kịp”… Mẹ tôi nhìn, tôi cố tránh hướng khác. Bỗng mẹ thở dài! “Con thay quần áo rồi tắm rửa đi!”.

    Tôi “dạ” khẽ rồi đi nhanh vào phòng tắm và nghĩ thầm: “Ổn rồi, mọi việc thế là xong”. Tôi tưởng chuyện như thế là kết thúc, nhưng tôi đã lầm. Sau ngày hôm đó, mẹ tôi cứ như người mất hồn, có lúc mẹ rửa bát chưa sạch, lại còn quên cắm nồi cơm điện. Thậm chí mẹ còn quên tắt đèn điện, điều mà lúc nào mẹ cũng nhắc tôi. Mẹ tôi ít cười và nói chuyện hơn. Đêm đêm, mẹ cứ trở mình không ngủ được.

    Bỗng dưng, tôi cảm thấy như mẹ đã biết tôi nói dối. Tôi hối hận khi nói dối mẹ. Nhưng tôi vẫn chưa đủ can đảm để xin lỗi mẹ. Hay nói cách khác, tôi vẫn chưa thừa nhận lỗi lầm của mình. Sáng một hôm, tôi dậy rất sớm, sớm đến nỗi ở ngoài cửa sổ sương đêm vẫn đang chảy “róc rách” trên kẽ lá.

    Nhìn mẹ, mẹ vẫn đang ngủ say. Nhưng tôi đoán là mẹ mới chỉ ngủ được mà thôi. Tôi nghĩ: Quyển “Truyện về con người” chưa đọc, mình đọc thử xem”. Nghĩ vậy, tôi lấy cuốn sách đó và giở trang đầu ra đọc. Phải chăng ông trời đã giúp tôi lấy cuốn sách đó để đọc câu chuyện “lỗi lầm” chăng ! …

    Khi Thượng đế tạo ra con người, Ngài đã gắn cho họ hai cái túi vô hình, một túi chứa lỗi lầm của mọi người đeo trước ngực, còn cái túi kia đeo ở sau lưng chứa lỗi lầm của mình, nên con người thường không nhìn thấy lỗi của mình”. Tôi suy ngẫm: “Mình không thấy lỗi lầm của mình sao?”. Tôi nghĩ rất lâu, bất chợt mẹ tôi mở mắt, đi xuống giường. Nhìn mẹ, tự nhiên tôi đi đến một quyết định: Đợi mẹ vào phòng tắm, rồi lấy một mảnh giấy nắn nót đề vài chữ.

    Mẹ tôi bước ra, tôi để mảnh giấy trên bàn rồi chạy ù vào phòng tắm. Tôi đánh răng rửa mặt xong, đi ra và… chuẩn bị ăn bữa sáng ngon lành do mẹ làm. Và thật lạ, mảnh giấy ghi chữ: “Con xin lỗi mẹ” đã biến đâu mất, thay vào đó là một chiếc khăn thơm tình mẹ và cốc nước cam. Tôi cười, nụ cười mãn nguyện vì mẹ đã chấp nhận lời xin lỗi của tôi.

    Đến bây giờ đã ba năm trôi qua, mảnh giấy đó vẫn nằm yên trong tủ đồ của mẹ. Tôi yêu mẹ vô cùng, và tự nhủ sẽ không bao giờ để mẹ buồn nữa. Tôi cũng rút ra được bài học quý báu: Khi bạn biết xin lỗi bố mẹ, bạn sẽ có nhiều hơn một thứ bạn vẫn đang có, đó là tình thương.

    Trả lời câu 2 soạn văn bài Viết bài tập làm văn số 3 trang 145

    Dàn ý

    Mở bài:

    Giới thiệu chung về vai trò, tầm quan trọng của bút bi với đời sống con người. Nó là công cụ giúp con người lưu lại chữ viết.

    Thân bài

    – Nguồn gốc, xuất xứ

    Được phát minh bởi nhà báo Hungaru Biro vào năm 1930 (từ thực tiễn khi thấy mực in trên giấy khô nhanh)

    – Cấu tạo bút bi: gồm hai bộ phận chính

    + Vở bút: là ống trụ tròn dài khoảng 14- 15 cm, được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau, có ghi nhà sản xuất hoặc hãng sản xuất

    + Ruột bút: là từ kim loại, nhựa dẻo, bên trong có ống mực chứa mực nước hoặc mực đặc.

    + Còn các bộ phận khác: lò xo, nút bấm, nút bấm, trên vỏ ghim để gài vào áo hoặc vở

    – Phân loại: tùy thuộc vào kiểu dáng, màu sắc, và thị hiếu người dùng

    + Màu sắc đa dạng, bắt mắt

    + Có thể dẫn ra các thương hiệu bút nổi tiếng

    – Nguyên lí vận hành: mũi bút chứa viên bi nhỏ, khi viết viên bi lăn ra mực tạo khối chữ

    – Cách sử dụng và bảo quản

    + Sau khi viết xong phải đậy nắp cẩn thận

    – Ưu điểm

    + Gọn nhẹ, tiện dụng, dễ vận chuyển

    + Giá thành phù hợp với lứa tuổi học sinh.

    – Nhược điểm

    + Bút chỉ sử dụng được khi hết mực mua bút mới

    + Không tạo khối được nét thanh nét đậm cho chữ

    – Kết bài:

    Nhấn mạnh và khẳng định tầm quan trọng của bút bi trong cuộc sống. Nêu cảm nhận của em về vai trò của chiếc bút bi.

    Bút bi ra đời vào năm 1930 bởi nhà báo người Hunggari tên là Lazo Biro. Lazo Biro là một nhà báo tài năng, trong quá trình làm việc của mình ông nhận thấy sự bất tiện của bút mực, khi liên tục làm tay và giấy tờ bị vấy bẩn, không những vậy bút mực còn rất hay bị hỏng. Trong một lần tình cờ nhìn ấy viên bi chạy qua vũng nước để lại những vệt dài ông đã nảy ra ý tưởng làm ra một loại bút viết mực mau khô để thuận tiện hơn trong quá trình sử dụng. Được sự giúp đỡ của anh trai, ý tưởng của ông nhanh chóng thành hiện thực và khi đưa vào tiêu dùng tất thảy mọi người đều yêu thích vì những tiện lợi mà loại bút này mang lại.

    Bút bi có cấu tạo ba phần cơ bản: vỏ, ruột và bộ phận điều chỉnh bút. Vỏ bút thường được làm bằng những nguyên liệu dẻo, bền như nhựa. Vỏ bút có hình trụ thường dài từ 14-15 cm, vỏ bút có công dụng bao bọc ruột bút, khiến cho việc cầm bút chắc chắn và sử dụng đơn giản hơn. Ruột bút là một ống mực nhỏ, trong làm từ nhựa dẻo. Phía trên ruột bút là đầu bút được làm bằng kim loại, có một viên bi nhỏ ở đầu, khi viết con bi sẽ chuyển động khiến cho mực trong bút ra đều. Bộ phận còn lại là lò xò và nút điều chỉnh. Nút điều chỉnh sẽ giúp ta khi sử dụng thì bấm vào ngòi bút sẽ trồi ra, khi sử dụng xong tiếp tục ấn vào đó ngòi bút sẽ thụt vào trong, bảo vệ ngòi bút không bị hư hại.

    Nguyên lí hoạt động của bút bi rất đơn giản, với loại bút bi có nút bấm chúng ta chỉ cầm bấm vào nút, ngòi bút sẽ trồi ra, viên bi trên đầu bút sẽ chuyển động, tạo nên những nét chữ thanh thoát đẹp đẽ. Khi sử dụng xong chúng ta chỉ cần bấm nút lại. Bảo quan bút bi cũng không hề cầu kì, khi sử dụng xong chúng ta chỉ cần bấm nút hoặc đóng nắp bút lại để đảm bảo bút khi bị rơi không bị va chạm với mặt đất sẽ dẫn đến hỏng ngòi bút.

    Bút bi là vật dụng phổ biến đối với tất cả mọi người, luôn được ưa chuộng và tin dùng bởi những ưu điểm của mình. Bút bi nhỏ gọn, bền lại vô cùng dễ sử dụng và vận chuyển. Giá thành mỗi chiếc bút bi lại rất rẻ, phù hợp với nhu cầu của học sinh, sinh viên. Nhưng bên cạnh những ưu điểm, bút bi cũng còn một vài hạn chế: vì viết nhanh nên chữ thường không được đẹp, ngòi bút điều tiết mực không kịp có thể bị ra quá nhiều, khiến sách vở bị bẩn.

    Bút bi có vai trò ý nghĩa to lớn với mỗi chúng ta. Bút là người bạn thân thiết đồng hành với mỗi học sinh trong quá trình học tập, cùng ta tiếp thu tri thức, nâng cánh những ước mơ. Người ta vẫn thường nói “nét chữ nết người”, chữ nghĩa cũng phần nào thể hiện tính cách con người. Bạn là người cẩn thận hay cẩu thả chỉ cần nhìn chữ bạn viết là tôi có thể biết điều đó. Không chỉ vậy, chỉ với cây bút nhỏ xinh ta có thể giãi bày biết bao nỗi niềm, tâm sự, làm vơi bớt nỗi buồn trong lòng,… Quả thật nếu thiếu bút, đời sống tư tưởng, tình cảm của chúng ta chẳng biết gửi gắm ở đâu.

    Bút bi là người bạn thân thiết, đồng hành trong suốt cuộc đời ta. Bởi vậy, trong quá trình sử dụng chúng ta phải có ý thức giữ gìn những người bạn yêu quý này, tránh quăng quật, vứt linh tinh làm hỏng bút.

    Bài văn mẫu 2 – cây Bút bi

    Trong cuộc sống của mỗi con người, đặc biệt là lứa tuổi học trò. Bút bi là một vật dụng quen thuộc vì nó đã gắn bó với chúng ta suốt chặng đường tiếp thu học vấn.

    Cây bút bi là một vật dụng rất phổ biến đối với học sinh. Nó có nguồn gốc từ phương tây. Sau một thời gian dài, nó đã du nhập vào nước ta khoảng từ những năm 70,80 của Thế kỉ XX.

    Bút bi có nhiều bộ phận tạo thành. đầu tiên là vỏ bút chất liệu làm bằng nhựa (hay kim loại được phủ sơn). nó được sử dụng để bào vệ các thiết bị bên trong, ngoài ra còn làm đẹp và làm sang trọng hơn nữa cho cây bút. Thứ hai là khoảng chân không có chức năng phân cách phần vỏ bút với phần bên trong và chứa không khí. tiếp theo là ruột bút có vai trò quan trọng trong số các bộ phận của cây bút vì nó có chứa mực (mực xanh, mực đỏ, mực đen,…)có tác dụng giữ mựcđể đẩy mực ra ngoài. Trong ru6ột bút ở phần đầu có một viên bi nhỏ để làm điều hòa lượng mực có trong bút. Ở phần vỏ có một lớp đệm làm bằng cao su mềm và daigiúp người cầm bút có một cảm giác dễ chịu, êm ái . Lò so hoặc ren để gắn kệt các bộ phận. Nhìn chung, bút bi có hình dạng trụ tròn, dài. Chiều dài có kích thước khoảng 13 đến 15cm, đường kính khoảng 1cm. Màu sắc bút có rất nhiều như trắng, xanh, đen.

    Về chủng loại gồm có hàng ngoại nhập và nội nhập. Có người cho rằng :”hàng ngoại nhập là tốt nhất” nhưng thực ra chưa phải là như thế. So về mặt giá cả, bút bi nội nhập có giá trung bình từ 1000 đồng đến 4000 đồng một chiếc còn bút ngoại nhập có giá từ 5000 đồng đến 10000 đồng, thậm chí còn lên đến 15000 đồng một chiếc. Về chết lượng , bút bi nội nhập và bút bi ngoại nhập cũng có cùng dung tích mực, đeộ bền như nhau. Nhìn chung , bút bi nội nhập và ngoại nhập cũng tương tự v6è mọi mặt nhưng về giá cả thì có sự chênh lệch khá lớn nên bút nôi nhập được lứa tuổi học sinh sử dụng nhiều hơn.

    Cách sử dụng bút bi thì rất đơn giản. Chúng ta chỉ cần vặn nhẹ và rút nắp bút lên. Sau đó thì dặt bút xuống để viết. Nấu ực nhạt , ta chỉ cầm phần cuối thân bút vẩy nhẹ vài cái để lưu thông mực. Khi viết xong, chúng ta cần đậy nắp bút lại cẩn thận, tráh làm rớt bút.

    Cây bút bi là đồ vật không thể thiếu đối với người học sinh, nó vừa tiện lợi mà cũng rất thông dụng lại hiệu quả cao cho mọi công việc. Không chỉ học sinh mà cả giới doanh nghiệp cũng cần đến bởi họ luôn phài kí những hợp đồng hay những công trình nhận thi công. Bởi lẽ thế nó luôn gắn bó với con người .

    Bút bi có vai trò quan trọng trong học tập và làm việc. nó luôn có tác dụng và hiệu quả cao nên có rất nhiều người ưa chuộng và sử dụng vì thế em rất yêu quý nó.

    Bài văn mẫu 3 – cây Bút bi

    Đối với những người lao động trí óc, đặc biệt đối với những thế hệ học sinh thì chiếc bút bi là người bạn thân thiết không thể tách rời. Chiếc bút bi có vai trò quan trọng giúp cho các bạn viết lên những nét chữ, viết nên tương lai tốt đẹp hơn.

    Đối với những cô cậu học trò còn ngồi trên ghế nhà trường thì việc sở hữu rất nhiều chiếc bút bi là điều bình thường. Vì nếu không có bút bi thì học sinh sẽ không học được, không viết được những bài văn, giải được những bài toán và vẽ được những hình họa tinh nghịch. Không chỉ đối với học sinh mà nhiều người khác cũng cần đến chiếc bút bi khi cần thiết. Dù là ai, làm việc gì thì việc sở hữu một chiếc bút bi là điều không thể thiếu.

    Đối với những em nhỏ học mẫu giáo, lớp 1 thì vẫn đang làm quen với chiếc bút chì; nhưng khi các em lớn lên sẽ dần làm quen với cách viết và sử dụng bút bi cho phù hợp nhất.

    Bút bi được phát minh bởi nhà báo Hungari Lazo Biro vào những năm 1930. Sau thời gian nghiên cứu, tìm hiểu, ông Biro phát hiện ra được một loại mực in giấy rất nhanh khô. Từ đó, ông đầu tư thời gian nghiên cứu và chế tạo ra một loại bút sử dụng loại mực như thế.

    Bút bi có nhiều loại như bút bi Thiên Long, bút bi Bến Nghé,… Mỗi loại bút đều có đặc điểm riêng nhưng chung một công dụng. Bút bi được cấu thành từ hai bộ phận chính là vỏ bút và ruột bút. Bộ phận nào cũng đóng vai trò quan trọng để tạo nên sự trọn vẹn của chiếc bút chúng ta cầm ở trên tay. Bộ phận vỏ bút có thể được làm bằng chất liệu nhựa là phổ biến, hoặc một số loại bút được nhà sản xuất làm bằng kim loại nhẹ. Bộ phận vỏ bút được thiết kế chắc chắn và đẹp, có thể bảo vệ được ruột bút ở bên trong. Vỏ bút được thiết kế theo hình trụ, dài và tròn, có độ dài từ 10-15 cm.

    Ở trên vỏ bút có thể được sáng tạo bởi nhiều họa tiết đẹp hoặc chỉ đơn giản là có dán tên nhà sản xuất, số lô sản xuất và màu sắc của chiếc bút. Có một số loại bút bi dành cho trẻ em, để thu hút được sức dùng thì nhà sản xuất đã tạo những họa tiết như hình các con vật, hình siêu nhân…Chính điều này sẽ khiến cho các em thích thú khi sử dụng chiếc bút bi xinh đẹp. Màu sắc của vỏ bút cũng đa dạng và phong phú như xanh, đỏ, tím, vàng…Các bạn học sinh hoặc người dùng có thể dựa vào sở thích của mình để chọn mua loại bút thích hợp nhất.

    Bộ phận thứ hai chính là ruột bút,giữ vai trò quan trọng để tạo nên một chiếc bút hoàn hỏa. Đây là bộ phận chứa mực, giúp mực ra đều để có thể viết được chữa trên mặt giấy. Ruột bút chủ yếu làm bằng nhựa, bên trong rỗng để đựng mực. Ở một đầu có ngòi bút có viên bi nhỏ để tạo nên sự thông thoáng cho mực ra đều hơn. Ở ruột bút có gắn một chiếc lò xo nhỏ có đàn hồi để người viết điều chỉnh được bút trong quá trình đóng bút và mở bút.

    Ngoài hai bộ phận chính này thì chiếc bút bi còn có nắp bút, nấp bấm, nắp đậy. Tất cả những bộ phận đó đều tạo nên sự hoàn chỉnh của chiếc bút bi bạn đang cầm trên tay. Sử dụng bút bi rất đơn giản, tùy theo cấu tạo của bút mà sử dụng. Đối với loại bút bi bấp thì bạn chỉ cầm bấm nhẹ ở đầu bút thì có thể viết được. Còn đối với dạng bút bi có nắp thì chỉ cần mở nắp ra là viết được.

    Chiếc bút bi đối với học sinh, với những người lao động trí óc và với cả rất nhiều người khác đều đóng vai trò rất quan trọng. Bút bi viết lên những ước mơ của các cô cậu học trò. Bút bi kí nết nên những bản hợp đồng quan trọng, xây dựng mối quan hệ gắn kết với nhau. Để chiếc bút bi bền và đẹp thì người sử dụng cần bảo quản cẩn thận và không vứt bút linh tinh, tránh tình trạng hỏng bút.

    Thật vậy, chiếc bút bi có vai trò quan trọng đối với mỗi người. Chúng ta học tập và làm việc đều cần đến bút bi. Nó là người bạn đồng hành đáng tin cậy nhất.

    Bài văn mẫu 4 – cây Bút bi

    Trong cuộc sống hằng ngày nói chung và trong học tập nói riêng, chiếc bút bi luôn được coi là một dụng cụ thiết yếu của con người. Hiện tại và tương lai, chiếc bút bi vẫn sẽ mãi là một dụng cụ quan trọng không thể thiếu.

    Chiếc bút bi có một lịch sử ra đời vô cùng phong phú. Năm 1888, một thợ người Mĩ đã xin cấp bằng sáng chế bút bi đầu tiên trên thế giới song chưa được khai thác thương mại. Đến năm 1938, một nhà báo người Hung-ga-ri đã quá thất vọng về việc sử dụng bút mực nên đã nghiên cứu và sáng tạo ra một loại mực rất nhanh khô và loại bút chứa loại mực đó, đó là bút bi.

    Chiếc bút bi bao gồm hai thành phần chính đó là vỏ chứa và ruột bút. Vỏ bút bi được làm bằng nhựa hoặc có thể bằng kim loại, có chiều dài từ 14 -15 cm. Trên vỏ có dán thông số ghi ngày sản xuất và có thể ghi tên hãng. Một số bút bi còn có vỏ được chế tạo theo nhiều kiểu dáng bắt mắt. Ruột bút là một chiếc ống đựng mực được làm bằng nhựa dẻo bên trong chứa mực. Khi viết mực được in trên giấy là do sự chuyển động của một viên bi có đường kính rất nhỏ khoảng 0.5-1mm gắn ở đầu ngòi bút. Mực của bút bi rất nhanh khô, khô ngay sau khi chúng ta viết lên giấy. Vì vậy, chúng ta sẽ không phải lo sợ nét chữ bị nhòe hoặc phải chờ đợi cho mực khô. Ngoài hai thành phần chính thì bút bi còn có một số vật dụng phụ đi kèm như lò xo, nút bấm, đai cài… Tất cả tạo nên một chiếc bút bi hoàn chỉnh để đến tay người sử dụng một cách thuận tiện nhất.

    Bút bi có nhiều loại, loại dùng một lần và loại có thể thay ngòi. Dù nhiều loại nhưng công dụng của nó vẫn là để viết, ghi chép lại những kiến thức, những điều quan trọng trong cuộc sống. Bút bi là người bạn đồng hành không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi chúng ta, đặc biệt là với học trò và các thầy cô giáo. Thêm vào đó bút bi cũng có thể dùng như một món quà tặng cũng có rất nhiều ý nghĩa. Chiếc bút bi với kiểu dáng thiết kế nhỏ gọn có thể mang đi mọi nơi như để trong hộp bút, túi sách, cài vào túi áo, túi quần. Không chỉ có vậy giá thành của một chiếc bút bi cũng vô cùng rẻ phù hợp với túi tiền của mọi lứa tuổi, mọi hoàn cảnh.

    Chiếc bút bi có mặt trong đời sống là một phát minh quan trọng và thiết yếu với con người. Bất cứ nơi nào bất cứ việc gì cũng có thể sử dụng đến bút bi. Bút bi sẽ mãi là người bạn đồng hành tuyệt vời dệt lên những ước mơ hoài bão lớn lao.

    Bài văn mẫu 5 – Bút máy

    “Nghe tin em vào đại học

    Nửa tin nửa ngờ tên lại trùng tên

    Hôm nay nhận được thư em

    Nét chữ nghiêng nghiêng cười trên giấy trắng”

    Vâng, nét chữ đã đi liền với văn hóa con người. Để có một nét chữ ” cười trên giấy trắng”, ta không thể không nói tới cây bút, Cây bút đã đi liền với văn minh nhân loại.

    Nhu cầu viết chữ của con người đã xuất hiện trước khi có cây bút. Người tiền sử viết và vẽ bằng cách khắc trên đá hoặc dùng bột màu, gạch màu vẽ trên hang động. Cách đây mấy trăm năm, người Phương Tây dùng lông cánh của loài ngỗng để chấm mực viết. Trong lúc đó, người Á chân lại dùng lông thỏ để kết thành ngòi bút. Thế kỉ XX – XXI này mới phát sinh ra bút máy và bút bi. Khi chất liệu thay đổi thì hình dạng bút cũng thay đổi theo. Thời Nho học, bút của người Á châu bằng lông thỏ gắn vào trúc, mực là một chấn rắn được mài hàng giờ mới trở thành chất lỏng. Khi nền Nho học cáo chung, nhường chỗ cho Tây học thì nước ta xuất hiện bút chì, bút mực. Bút chì làm bằng gỗ được khoét một ống dài. Ở giữa ống đó đựng chì. Chì là một loại gỗ mềm đã được đốt cháy. Khi viết nó phát sinh ra một màu đen mịn. Với thời gian, chì được pha chế bằng hóa chất, trong những nhà máy tối tân. Độ đen của chì được quy định bằng các con số từ 1B đến 4B, 5B, v.v…. Bút sắt là loại bút có ngòi làm bằng sắt, gắn vào một quản gỗ sơn đủ màu xinh tươi. Chiếc ngòi bút dài độ 2 – 3cm, có một đường rãnh nhỏ. Thầy trò chấm mực mà viết độ 5 – 3 dòng. Khi mực khô lại chấm tiếp. ó xuất hiện ở nước ta khoảng giữa thế kỉ XX và sau đó nó bị tha thế bằng bút máy.

    Bút máy là loại bút được chế tạo bằng nhựa, kim loại. Xuất hiện ở phương Tây khoảng giữa thế kỉ XX. Ngòi bút là kim loại tổng hợp, không rỉ sét, có khhi còn được mạ vàng. Trên ngòi bút là một ruột bút bằng chất dẻo, đàn hổi như piston để bơm một số lượng mực, có thể viết trong thời gian vài ngày. Vỏ bút máy làm bằng nhựa tổng hợp với nhiều màu sắc phong phú, kiểu dáng và chất lượng đa dạng để phù hợp với túi tiền của nhiều người trong xã hội.

    Cuối cùng, thập niên 70 của thế kỉ XX lại sinh ra một loại bút thay thế cho bút máy. Loại bút phổ biến nhất ngày nay được sử dụng khắp nơi là bút bi. Bút bi tiếng Pháp viết là bille, gọi theo tên của một công ty Pháp, còn gọi là bút Bic, hoặc bút nguyên tử. Bút bi có chứa một ống mực đặc hơn mực của bút máy. Dưới cùng là một ngòi bút kim loại, có bộ phận quan trọng là một viên vi nhỏ xíu. Khi viết viên bi lăn tròn, hé một khe nhỏ cho mực chảy ra, mực được in lên giấy là nhờ chuyển động lăn của một viên bi nhỏ có đường kính khoảng từ 0,7mm đến 1mm gần đầu ống chứa mực. Loại mực dùng cho bút bi khô rất nhanh sau khi được viết lên giấy.

    Từ đó xã hội Việt Nam xuất hiện “viết bi” hay còn gọi là “viết bic”. Ngày nay, viết bi của hãng Bic bên Mỹ vẫn còn đó nhưng mỗi đất nước đều chế ra nhiều loại bút tương tự như vậy, chúng chỉ khác nhau về chất liệu, kiểu dáng, màu sắc và giá tiền. Có hai loại bút bi chính: Loại dùng một lần và loại có thể nạp mực lần sau. Loại dùng một lần chủ yếu làm bằng nhựa rẻ tiền có thể bỏ đi khi hết mực. Loại có thể nạp lại mực thường được làm bằng kim loại hoặc nhựa tốt. Ống mực để nạp lại gồm một ống mực và một đầu bi gắn liền với nhau. Bút bi có thể có nắp đậy khi không dùng đến hoặc cũng có loại có thể kéo đầu bi vào bằng một lò xo. Cách kéo đầu bi có thể là bấm nút, hay xoay thân bút. Có một loại bút bi hiệu là Space pens, được thiết kế để viết trong trạng thái chân không, Do Fisher phát minh ra. Nó dùng khi nén để dồn mực vào đầu ngòi bút. Do đó bút này có thể viết khi lật ngược đầu bút hoặc viết trong trạng thái chân không, thí dụ như các phi hành gia rời xa mặt đất lên mặt trăng, ngồi trên phi thuyền, v.v…

    Những năm gần đây, bút bi cũng trở thành phương tiện sáng tác nghệ thuật. Những tác phẩm được giới thiệu ở một số trang web như biro_art.com và chúng tôi Nhiều người cũng dùng bút bi để vẽ hình lên người họ, còn được gọi là hình xăm bằng bút bi. Vì lí do này, cùng với sự phổ biến đối với trẻ nhỏ, quy định quan trọng trong nhiều nước trên thế giới hiện nay về thành phần mực bút bi là không gây độc hai.

    Kiểu bút hiện đại nhất mà người đi học, đi làm không thể không biết là loại bút lông kim. Ban đầu bút lông là loại bút mực đen cao cấp được chế tạo ra với những quy định chặt chẽ về kích thước, để dành cho các kiến trúc sư và họa sĩ về kĩ thuật hoặc sáng tác tranh ảnh. Phần ruột của nó được cấu tạo tương tự như bút máy nhưng ngòi là một ống kim loại nhỏ kèm theo một chất lông mềm cuối ngòi với kích cõ từ 0,3mm đến 0,5; 0,7mm, những năm gần đây bút lông kim được dùng rộng rãi trong họ sinh cấp 2 và 3 với nhiều màu sắc.

    Đi liền với văn hóa và nghệ thuật nhân loại, cây bút đã giúp con người làm ra bao nhiêu tác phẩm. Nguyễn Du cũng một lần tả về cây bút của một người tương tư:

    “Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phim loan”

    Khi đại văn hào Pháp đi quá cảnh một quốc gia, đã khai với nhân viên hải quan: “Sống bằng ngòi bút” và nhân viên ấy ghi rằng: “Victor Hugo: buôn bán bút”.

    Đó là một câu chuyện cười ý nhị nhất về cây bút mà tôi được đọc.

    Bài văn mẫu 6 – Bút máy

    Trong rất nhiều loại bút mà con người sử dụng hằng ngày thì cây bút máy tiện dụng và cần thiết đối với tầng lớp học sinh, sinh viên, giáo viên và công chức.

    Cây bút máy có nguồn gốc từ châu Âu, được đưa vào nước ta từ đầu thế kỉ XX, nhưng phải đến giữa thế kỉ nó mới trở thành vật dụng quen thuộc và phổ biến.

    Cây bút dài 14 cm, đường kính khoảng 1 cm. cấu tạo của bút máy gồm hai phần chính: bên ngoài và bên trong, vỏ bút gồm nắp và thân. Đa số nắp làm bằng nhựa, cùng loại nhựa với thân bút, phù hợp với đối tượng học sinh, sinh viên. Hoặc được làm bằng kim loại (nhôm, sắt mạ bạc, mạ vàng), có cái để gài vào túi áo hoặc sách vở. Thân bút hình trụ rỗng, thon dần về phía đuôi, vỏ bút có nhiệm vụ bảo vệ cho các bộ phận bên trong.

    Bên trong bút gồm các bộ phận: ngòi bút, lưỡi gà, ống dẫn mực và ruột đựng mực. Ngòi bút làm bằng kim loại không rỉ, ở đầu có chấm tròn nhỏ gọi ià hạt gạo. Nửa trên của ngòi có rãnh giữa để dẫn mực khi viết. Nửa phần dưới cong, ốp sát vào bộ phận lưỡi gà có các rãnh ngang làm nhiệm vụ giữ không cho mực tràn ra đầu bút. Ống dẫn mực ngắn độ 3 cm, nhỏ như cây tăm, làm bằng nhựa trong và dẻo. Đầu trên gắn vào lỗ tròn của lưỡi gà, đầu kia thông với ống chứa mực. Ống chứa mực dài khoảng 5 cm, bằng cao su hoặc nhựa mềm, được bảo vệ bằng lớp kim loại mỏng.

    Khi ta nhúng đầu ngòi bút vào bình mực, lấy ngón tay cái và ngón tay trỏ bóp nhẹ vào ruột bút thì mực sẽ được hút vào ống chứa (ruột bút). Xong xuôi, cho đầu bút vào phần thân bút, xoay từ từ cho gắn chặt vào nhau là có thể sử dụng được.

    Lúc viết xong, ta nhớ lấy giấy mềm hoặc miếng giẻ ẩm, lau kĩ ngòi bút cho mực không đóng cặn. Cứ dùng khoảng 1 tháng thì tháo rời các bộ phận ra cho vào nước lã; rửa và thông thật sạch rồi lau khô, lắp lại như cũ. Nếu bảo quản tốt, bút máy có thể sử dụng được trong một thời gian rất dài. Tuyệt đối không được đâm ngòi bút vào vật cứng, đầu ngòi sẽ hư, không viết được nữa.

    Đối với lứa tuổi học sinh, cây bút máy là vật dụng không thể thiếu. Viết bằng bút máy, nét chữ sẽ đều và đẹp hơn hẳn viết bằng bút bi. Chiếc bút máy Hồng Hà mà bố mua tặng cho em từ năm ngoái đến giờ trông vẫn như còn mới. Ngày ngày, cây bút cùng em tới trường. Nó đã trở thành người bạn nhỏ thân thiết của em.

    Bài văn mẫu 7 – cây bút

    Từ thuở xa xưa, Khi sáng tạo ra được những ký tự, con người đã luôn khao khát lưu lại bằng văn bản những cuộc phiêu lưu như là một bằng chứng thể hiện khả năng chinh phục thiên nhiên, cuộc sống để lại cho thế hệ sau. Để làm được điều đó, người ta cần hai thứ : dụng cụ để viết và vật để lưu những ký tự đó. Người Xume là những người đầu tiên ghi lại lịch sử trên những phiến đất sét. Cách thức này được gọi là “chữ hình nêm” (tức chữ Ba Tư cổ), có từ khỏang 3.000 năm trước.

    Bút và giấy đầu tiên được ra đời trong nền văn minh Ai Cập cổ. Những người chép sử đã sử dụng cây sậy với đuôi được nhai nát để chấm lên chất màu. Sau đó, họ vẽ những chữ tượng hình lên tường hoặc giấy cói. Dần dần, cùng với sự phát triển của chất màu, những cây sậy được “lên đời” thành dụng cụ sắc nhọn với đường rãnh ở cuối, dọn đường cho việc ra đời bút lông chim.

    Trong thế kỷ 16, bút làm bằng lông cánh chim thiên nga trở thành dụng cụ viết số một với những ưu điểm là đầu dễ vót nhọn, dễ uốn hơn và ít gãy hơn dưới lực ép từ bàn tay nhằm tạo ra những nét thanh, nét đậm. Ống lông có thể lưu trữ mực đủ để viết nhiều dòng.

    Đến giữa thế kỷ 19, kim loại được sử dụng để chế tạo đầu bút vì dễ làm được chuẩn xác mà lại bền. Thế nhưng, người viết vẫn phải chấm bút vào lọ mực nên mỗi khi di chuyển thì rất phiền phức.

    Năm 1884, anh nhân viên môi giới bảo hiểm Lewis Waterman phát chán với những bất tiện trên đã tiến hành một cuộc cách mạng trong thế giới bút. Waterman phát hiện ra rằng lực hút mao dẫn có mối liên hệ động lực với áp suất khí quyển. Waterman tạo ra hai hoặc ba rãnh để không khí và mực đồng thời vận động. Không khí sẽ thế chỗ của phần mực đã sử dụng. Và cuộc cách mạng bắt đầu.

    Bút máy gồm có ba phần nắp bút được làm bằng nhôm, có khi được mạ đồng. Thân bút có thể chia thành ba phần : bình mực dự trữ, ống dẫn và ngòi bút. Trong đa số bút máy hiện đại, phần này dự trữ mực theo hai cách. Một cách đơn giản là đổ mực vào bình. Cách thứ hai sử dụng hệ thống pistol. Ống dẫn đưa mực xuống ngòi bút bằng một loạt các rãnh.

    Bút máy tạo nên những nét đậm nhạt khác nhau tùy thuộc vào lực tay người viết, góc độ của bút với mặt giấy và độ quay của đầu ngòi bút. Hiệu quả là những nét tao nhã được tạo nên và hình thành cả nghệ thuật viết chữ đẹp.

    Những kim loại quý đóng vai trò quan trọng trong việc chế tạo ngòi bút, giúp ngòi bút có độ bền và viết đẹp hơn. Thường thì người ta dùng ngòi bút bằng thép không rỉ hoặc mạ vàng. Ở dạng nguyên chất, vàng không đáp ứng được những tiêu chuẩn đàn hồi nên dùng vàng pha là tốt nhất. Loại vàng hay được sử dụng để chế tạo ngòi bút là vàng mười bốn nghìn và vàng mười tám.

    Đầu ngòi bút không thể làm bằng vàng vì sẽ nhanh mòn trong thời gian ngắn. Người ta chọn một chất liệu rắn, thường là Iridium hoặc Rhodium. Nhờ đó, người dùng có thể viết cả đời mà đầu bút vẫn nguyên vẹn.

    Thân bút thường làm bằng những chất liệu bền để nâng tuổi thọ cho cây bút. Những cây bút máy đời đầu có vỏ bằng cao su đã qua xử lý lưu huỳnh rất chắc chắn.

    Ngày nay, các nhà sản xuất sử dụng những chất liệu hiện đại hơn. Ở Italia, người ta dùng Celluloid cho những cây bút đắt tiền. Loại chất liệu này có khả năng chống va đập rất tốt và có thể tạo nên vẻ tao nhã, lịch lãm. Những cây bút làm bằng celluloid lúc mới dùng có mùi long não do có chất này trong quá trình nitơ hóa celluloid. Axetat hay nhựa tổng hợp cũng là các chất liệu quen thuộc đáp ứng được yêu cầu về độ bền.

    Loại bút vừa túi tiền thường có thân được làm bằng đồng thau phủ sơn, giúp cây bút có độ thăng bằng tốt và có dáng vẻ bắt mắt. Những chất liệu hiện đại giúp tạo nên nhiều màu sắc cho cây bút hơn. Còn với những cây bút cao cấp, thân bút thường được làm bằng bạc, bạc mạ vàng, vàng hoặc thậm chí cả bạch kim.

    Ngày nay đã xuất hiện nhiều loại bút máy của các hãng nổi tiếng. Những cây bút đẹp của hãng Paker. Những nét bút lướt nhẹ nhàng trên giấy tập của hãng Pilot và nhiều hãng khác. Giá thành những cây bút cao cấp này không dưới 100$ một cây. Những cây bút làm bằng vàng hoặc mạ vàng, giá thành không dưới 1000$.

    Bút không có thuộc tính chọn chủ như những cây đũa phép trong truyện Hary Potter. Con người chọn nó tùy vào túi tiền, cá tính của họ. Có cây giá bình dân 15.000đ đến 20.000đ… loại được ưa chuộng nhất trên thị trường, cũng có cây lên cả bạc triệu.

    Nhìn bút, con người biết được “đẳng cấp” của nhau, nhìn vào nét chữ họ đoán tính cách, đánh giá những gì thành chữ họ rõ trình độ của nhau.

    Một cái áo cà sa không làm nên ông thầy tu, một cây bút tốt, đắt đến cỡ nào cũng chỉ là vật để trang trí nếu vào tay kẻ đầu rỗng.

    Ngày nay, nhiều loại bút bi đa dạng nhiều kiểu dáng và giá thành rẻ đã ra đời và chiếm lĩng thị trường văn phòng phẩm; đã xuất hiện nhữhng cây bút điện tử thông minh. Liệu cây bút máy còn tồn tại được bao nhiêu lâu nữa?

    Nhưng, dù bút hiện đại có đa dạng cỡ nào cũng không thể thay thế được bút máy bởi những nét chữ thanh đậm sống động, có hồn đòi hỏi con người phải gai công rèn luyện.

    Cây bút máy dù bị thu hẹp thị trường nhưng giá trị của nó vẫn không thể nào thay đổi với thời gian.

    “Dù cho sống thác ai ơi

    Bút ta vẫn sống trọn đời tươi vui.”

    Trả lời câu 3 soạn văn bài Viết bài tập làm văn số 3 trang 145

    Dàn ý

    Mở bài: Dép lốp từng là một trong số những vật dụng quan trọng thiết yếu trong cuộc kháng chiến trường kì chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc.

    Hiện tại: dép lốp là vật chứng tiêu biểu cho quá trình gian khổ mà hào hùng của dân tộc Việt Nam

    Thân bài:

    – Nêu nguồn gốc (hoàn cảnh ra đời)

    + Bên cạnh những vật dụng khác như mũ nan, áo trấn thủ, thì đôi dép lốp được ra đời

    + Dép lốp được làm từ việc cắt những chiếc lốp xe ô tô cũ

    – Hình dáng, cấu tạo, chất liệu của dép lốp

    + Hình dạng giống những đôi dép bình thường

    + Quai dép được làm từ săm ô tô

    + Đế dép được làm từ xăm ô tô cũ, không qua sử dụng

    + Quai và đế được gắn cố định chắc chắn vào nhau không qua thứ keo kính nào mà dựa trên sự giãn nở của cao su

    + Dưới đế dép được xẻ rãnh để tạo độ ma sát với mặt đường, tránh trơn trượt trên địa hình

    – Nêu đặc biệt, công dụng

    + Dép cao su được tái chế từ xăm lốp ô tô đã qua sử dụng, nên giá thành rẻ, phù hợp với các loại địa hình, kể cả đèo cao, suối sâu, đường lầy lội

    + Dép nhẹ nên dễ sử dụng, khi nắng thì đi thoáng mắt, mưa thì không lo bị đọng nước.

    + Dép lốp dễ vệ sinh, làm sạch, đặc biệt dép rất bền

    + Dép lốp là vật dụng gắn liền với hình ảnh chủ tịch Hồ Chí Minh

    – Cách bảo quản:

    + Dép lốp được làm từ cao su nên không được để chúng ở nơi có nhiệt độ cao

    Kết bài:

    + Ngày nay dép lốp không còn phổ biến như trước, nó dần trở thành kỉ vật minh chứng cho giai đoạn hào hùng trong lịch sử dân tộc.

    + Dép lốp đi vào thơ ca với sức sống bất tận.

    Bài văn mẫu

    Đôi dép cao su là vật dụng đầy sáng tạo và độc đáo, chỉ ở đất nước Việt Narn mới có. Nó đã gắn bó thân thiết với cán bộ và chiến sĩ ta qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đố quốc Mĩ xâm lăng.

    Đôi dép có hình dáng giống các đôi dép bình thường khác. Quai dép được làm bằng săm (ruột) xe ô tô cũ. Hai quai trước bắt chéo nhau, hai quai sau song song, vắt ngang cổ chân. Bề ngang mỗi quai khoảng 1,5 cm. Quai được luồn xuống đế qua các vết rạch vừa khít với quai. Đế dép được làm bằng lốp (vỏ) xe ôtô hỏng hoặc đúc bằng cao su, mặt dưới có xẻ những rãnh hình thoi để đi cho đỡ trơn.

    Dép lốp cao su dễ làm, giá thành rẻ, tiện sử dụng trong mọi thời tiết nắng, mưa. Khi xỏ quai sau vào, dép sẽ ôm chặt lấy bàn chân và gót chân nên người đi đường sẽ không bị mỏi. Người đi đường xa mang sẵn cái rút dép tự tạo bằng cật tre già hoặc bằng nhôm, đề phòng khi dép cao su bị tuột quai thì rút lại.

    Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, mỗi anh bộ đội được phát một đôi giày và một đôi dép cao su. Chiến sĩ ta thường sử dụng dép cao su để hành quân đánh giặc. Đi giày vừa nặng vừa nhiều cái bất tiện, nhất là lúc hành quân qua địa hình rừng núi, gặp trời mưa thì giày là cái túi nước dưới chân, là nơi trú ngụ tốt nhất của các con vắt rừng chuyên hút máu. Dẫu biết có vắt trong giày, các chiến sĩ vẫn phải cắn răng chịu đựng, không dám dừng lại để bắt nó ra vì sợ lạc đội ngũ.

    Nếu dùng dép lốp để hành quân thì mọi việc đơn giản hơn nhiều. Trời nắng thì dép nhẹ, dễ vận động. Nếu trời mưa, gặp đường sình lầy thì chỉ cần đổ ít nước trong bi đông ra rửa bớt bùn là tiếp tục đi. Vắt cắn chân thì cúi xuống nhặt, vứt sang lề đường, chẳng mất thời gian.

    Đôi dép cao su là biểu tượng giản dị, thuỷ chung trong hai cuộc chiến tranh giải phóng đau thương mà oanh liệt của dân tộc ta. Đôi dép cao su còn gắn liền với cuộc sống thanh cao, giản dị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Đôi dép cao su, đôi dép Bác Hồ đã trở thành đề tài bài thơ của nhà thơ quân đội Tạ Hữu Yên, được nhạc sĩ Văn An phổ nhạc. Bài hát đã in đậm hình ảnh đáng yêu của đôi dép cao su trong lòng công chúng: Đôi dép đơn sơ, đôi dép Bác Hồ, Bác đi từ ở chiến khu Bác về. Phố phường, trận địa, nhà máy, đồng quê, đều in dấu dép Bác về Bác ơi! Dép này Bác trải đường dài. Đã cùng Bác vượt chông gai, xây non nước nhà. Đường đi chiến đấu gần xa, dấu dép Cha già dẫn lối con đi… Bài hát đã vang lên cùng năm tháng, nhắc nhở thế hệ trẻ chúng ta hãy trân trọng thành quả và vinh quang to lớn mà ông cha ta đã tạo dựng nên từ những thứ bình thường nhất trong quá trình dựng nước và giữ nước.

    Trả lời câu 4 soạn văn bài Viết bài tập làm văn số 3 trang 145

    Dàn ý

    Mở bài:

    + Giới thiệu chiếc áo dài, trang phục độc đáo đặc biệt dành cho phụ nữ Việt Nam.

    + Áo dài không chỉ là trang phục truyền thống mà còn trở thành biểu tượng văn hóa đẹp của người Việt Nam

    Thân bài:

    – Nêu xuất xứ

    Từ thời chúa Nguyễn Phúc Kháng, do không muốn chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc nên vua ban lệnh người Việt đều mặc quần không đáy

    – Hình dáng, cấu tạo chiếc áo dài

    + Cổ áo: kiểu cổ dựng cao khoảng 4- 5 cm, thường khoét chữ V ở phía trước cổ. Ngày nay được cải biến thành nhiều kiểu như cổ tròn, chữ U, cổ thuyền…

    – Thân áo: may vừa vặn, ôm sát thân hình của người mặc, ở phần eo được chít ở hai bên

    + Cúc áo dài thường là cúc bấm kéo dài từ cổ chéo sang vai sau đó chạy thẳng theo sườn áo tới ngang hông

    + Áo dài có ai tà trước và sau, thường dài quá gối

    + Tay áo được cắt may khéo léo ôm trọn cánh tay, không có cầu vai

    + Quần dài, thụng, rộng được mặc kèm với áo

    – Công dụng:

    + Là trang phục của người phụ nữ Việt

    + Thường xuất hiện ở các ngành như tiếp viên, giáo viên, nhân viên ngân hàng, học sinh

    + Hình ảnh áo dài phổ biến nhất trong mùa lễ hội, Tết…

    – Cách bảo quản áo:

    + Do áo được làm bằng các chất liệu như lụa, đũi nên khi phơi cần chú ý phơi nơi khô thoáng, có gió, tránh phơi ngoài nắng (tránh gây bạc màu áo)

    + Sau đó dùng bàn là ủi với nhiệt độ vừa phải, treo vào mắc áo và cất vào tủ

    + Bảo quản tốt sẽ sử dụng được lâu bền

    – Ý nghĩa của chiếc áo dài

    + Trong đời sống: áo dài trở thành quốc phục, nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam

    + Áo dài đi vào thơ ca như những biểu tượng đẹp bất hủ

    + Áo dài xuất hiện trang trọng, quý phái trong những dịp lễ hội, show thời trang chuyên nghiệp

    Kết bài:

    Dù thời hiện đại có nhiều trang phục mang hơi thở Tây âu nhưng áo dài vẫn luôn là nét độc đáo riêng biệt để người Việt Nam tự hào và trân trọng.

    Bài văn mẫu 1

    Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những văn hóa, nét đặc trưng của từng vùng miền và trang phục truyền thống riêng. Phụ nữ Nhật tự hào với Kimono, phụ nữ Hàn Quốc nổi tiếng với Hanbok, phụ nữ Ấn Độ để lại cho ta ấn tượng rất đặc biệt với bộ Sari. Còn phụ nữ Việt Nam, từ xưa đến nay vẫn mãi song hành với chiếc áo dài duyên dáng và thướt tha.

    Cho đến nay, vẫn chưa biết được nguồn gốc chính xác của chiếc áo dài. Nhưng nối ngược dòng thởi gian, tìm về cội nguồn, hình ảnh chiếc áo dài với hai tà áo thướt tha đã được tìm thấy ở các hình khắc mặt trống đồng Ngọc Lũ cách đây vài nghìn năm.

    Áo dài có rất nhiều loại. Nhưng sơ khai của chiếc áo dài xưa nhất là áo giai lãnh: cũng giống như áo tứ thân nhưng khi ,mặc thì hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại. Vì sau này, phụ nữ phải làm việc đồng áng hay buôn bán nên áo giai lãnh được thu gọn lại thành áo tứ thân: gồm bốn vạt nửa trước phải, vạt nửa sau phải, vạt nửa sau trái. Nhưng với những người phụ nữ tỉnh thành nhàn nhạ, muốn có một kiểu áo dài dược cách tân thế nào đó dể giảm chế nét dân dã lao động và tăng dáng dấp sang trọng, khuê các. Thế là áo tứ thân được biến cải ở chỗ vạt nửa trước phải nay lại được thu bé trở lai thành vạt con; thêm một vạt thứ năm be bé nằm ở dưới vạt trước trở thành áo ngũ thân.

    Ngoài ra còn áo dài Le Mor của một họa sĩ vào đầu thập niên 1930, áo dài Lê Phổ của họa sĩ Lê Phổ được thiết kế vào năm 1934, áo dài với tay giác lăng vào thập niên 1960, áo dài miniraglan danh cho các nữ sinh…

    Khác với Kimono của Nhật Bản hay Hanbok của Hàn Quốc, chiếc áo dài Việt Nam vừa truyền thống lại vừa hiện đại, có thể mặc ở mọi lúc mọi nơi: dùng làm trang phục công sở, đồng phục đi học, mặc để tiếp khách trang trọng trong nhà… Việc mặc loại trang phục này không hề rườm rà hay cầu kì, những thứ mặc kèm đơn giản: mặc với một quần lụa hay vải mềm, dưới chân đi hài guốc, hay giày đều được; nếu cần trang trọng (như trang phục cô dâu) thì thêm ái dài và chiếc khăn đóng truyền thống đội đầu, hay một chiếc miện Tây tùy thích. Đây chính là điểm đặc biệt của thứ trang phục truyền thống này.

    Áo dài có thể nhiều màu nhưng có lẽ đẹp nhất vẫn là chiếc áo dài trắng thể hiện sự thuần khiết của người phụ nữ Việt Nam. Trong trường học, không gì đẹp mắt và thanh bình cho bằng mỗi sáng, từng nhóm nữ sinh trong bộ áo dài, thướt tha, xõa tóc dài chạy xe đạp đến trường. Cũng nơi đó, những cô giáo, những người mẹ thứ hai của các học sinh nhẹ nhàng đón rón những đứa con của mình trước giờ vào học trong chiếc áo dài mới thực sự toát lên vẻ đằm thắm, và thương yêu. Trong những dịp lễ Tết, chiếc áo dài lại thêm một lần nữa thấp thoáng trên các ngã tư đường phố, cùng hoa va cảnh sắc của trời mới đất mới, khoe sắc ngày Tết. Áo dài giũa phố đông chật chội người và xe, ấm ào náo động, làm dịu lại cảnh sắc và làm mát lại những hồn người, làm cho ai đó phải quay lại ngắm nhìn dù chỉ một lần, dịu đi cái khó chịu và u uất vốn có trong bản tính mỗi con người bân rộn.

    Chiếc áo dài hình như có cách riêng để tôn lên nét đẹp của mọi thân hình. Phần trên ôm sát thân nhưng hai vạt buông thật rộng trên đôi ống quần rộng. Hai tà xẻ đến trên vòng eo khiến cho người mặc có cảm giác thoải mái, lại tạo dáng thướt tha tôn lên vẻ nữ tính, vừa kín kẽ vì toàn thân được bao bọc bằng vài lụa mềm lại cũng vừa khiêu gợi vì nó làm lộ ra sống eo. Chính vì thế, chiếc áo dài mang tính cá nhân hóa rất cao, mỗi chiếc chỉ may riêng cho một người và chỉ dành cho ngươi ấy, không thể là một công nghệ “sản xuất đại trà” cho chiếc áo dài. Người đi may được lấy số đo rất kĩ, khi may xong phải thử và chỉnh sửa lại thêm vài lần nữa thì mới hoàn thiện được.

    Thực vậy, trong các hội nghị quốc tế, ở hội thảo khoa học nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nữ học giả Mỹ đã vận một chiếc áo dài, và mở đầu bài phát biểu của mình bằng một câu tiếng Việt: “Xin chào các bạn”, cả hội trường Ba Đỉnh trang trọng khi đó bỗng tràn ngập một không khí thân thương trìu mến. Trong hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14 ở Việt Nam, áo dài đã được vinh dự là trang phục chính cho các vị lãnh đạo nguyên thủ quốc gia của các nước mặc trong buổi lễ bế mạc kết thúc hội nghị. Áo dài, như vậy có thể là đại sứ tinh thần của văn hóa Việt, mang nước Việt Nam cùng hòa chung vào dòng kinh tế năng động và nhiệt huyết trên thương trường thế giới, là một nét riêng của người phụ nữ Việt nói riêng và cả dân tộc Việt nói chung.

    Áo dài là hiện thân của dân tộc Việt, một vẻ đẹp mĩ miều nhưng đằm thắm, là một phần tất yếu trong mỗi phụ nữ Việt, là đặc trưng cho một quốc gia có người phụ nữ chịu thương chịu khó, luôn hy sinh, đứng phía sau để cổ động tinh thần cho nước nhà, cùng nhau hòa nhịp và phát triển. Trải qua từng thời kì, từng giai đoạn cùng với những diễn biến của quà trình lịch sử Việt Nam, tà áo dài Việt Nam luôn tồn tại theo dòng thời gian, vẫn mãi sẽ là tâm hồn Việt, văn hóa Việt, là tinh thần Việt và là trang phục truyền thống mang đậm tính lịch sử lâu đời của nước Việt ngàn năm văn hiến.

    Kín đáo, duyên dáng và gợi cảm là một trong những yếu tố đưa áo dài trở thành niềm kiêu hãnh của người Việt. Không chỉ là cái áo nữa – chiếc áo dài đã trở thành biểu tượng của trang phục phụ nữ Việt, tạo thành sản phẩm văn hoá vật thể truyền thống không thể thiếu cho vẻ duyên dáng của người phụ nữ Việt.

    Bài văn mẫu 2

    Đã từ lâu, khi nhắc đến người phụ nữ Việt Nam, bạn bè quốc tế lại trầm trồ nói về chiếc áo dài. Quả thực, chiếc áo dài Việt Nam xứng đáng được coi là loại trang phục truyền thống thể hiện được vẻ đẹp và tâm hồn người phụ nữ Việt Nam.

    Gọi là áo dài là theo cấu tạo của áo, thân áo gồm 2 mảnh bó sát eo của người phụ nữ rồi từ đáy lưng ong 2 thân thả bay xuống tận gót chân tạo nên những bước đi duyên dáng, mềm mại, uyển chuyển hơn cho người con gái.

    Tấm áo lụa mỏng thướt tha với nhiều màu sắc kín đáo trang nhã lướt trên đường phố trở thành tâm điểm chú ý và là bông hoa sáng tôn lên vẻ yêu kiều, thanh lịch cho con người và khung cảnh xung quanh. Chiếc quần may theo kiểu quần ta ông rộng bằng thứ vải đồng chất đồng màu hay sa tanh trắng nâng đỡ tà áo và làm tăng sự mềm mại thướt tha cho bộ trang phục mượt mà duyên dáng, gợi vẻ đằm thắm đáng yêu.

    Đã ngót một thế kỷ nay, cô nữ sinh trường Quốc học Huế trong trang phục áo đài trắng trinh nguyên như là biểu trưng cho vẻ đẹp thanh khiết cao quý của tâm hồn người thiếu nữ đất Việt. Để đến bây giờ trang phục ấy trở thành đồng phục của nhiều nữ sinh trong các trường phổ thông trung học như muốn nói với mọi người với du khách quốc tế về văn hoá và bản sắc dân tộc. Tà áo trắng bay bay trên đường phố, tiếng cười hồn nhiên trong trẻo của những cô cậu học sinh vương lại phía sau cùng mảnh hoa phượng ở giỏ xe rơi lác đác gợi cho người qua đường một cảm giác lâng lâng, bâng khuâng nhớ về thuở học trò trong vắt những kỷ niệm thân thương.

    Ngày Tết hay lễ hội quê hương, đám cưới hay những buổi lên chùa của các bà, các mẹ, các chị, chiếc áo dài nâu, hồng, đỏ… là một cách biểu hiện tâm lòng thành kính gửi đến cửa thiền một lòng siêu thoát, tôn nghiêm. Chiếc áo dài trùm gối, khăn mỏ quạ chít khéo như hoa sen, tay nâng mâm lễ kính cẩn lên cửa chùa, miệng “mô phật di đà”… hình ảnh ấy đã đi vào bức hoạ tranh dân gian Đông Hồ là một biểu tượng độc đáo của văn hoá Việt Nam.

    Ngày nay trong muôn vàn sự cách tân về trang phục, váy đầm, áo ngắn, áo thời trang… chiếc áo dài Việt Nam vẫn chiếm độc tôn về bản sắc dân tộc, mang theo phong cách và tâm hồn người Việt đến với năm châu và trở thành trang phục công sở ở nhiều nơi.

    Tags: soạn văn lớp 8, soạn văn lớp 8 tập 1, giải ngữ văn lớp 8 tập 1, soạn văn lớp 8 bài Viết bài tập làm văn số 3 ngắn gọn , soạn văn lớp 8 bài Viết bài tập làm văn số 3 siêu ngắn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Viết Số 3 Lớp 8
  • Bài Viết Số 3 Lớp 8 Văn Thuyết Minh
  • Soạn Văn 8 Siêu Ngắn Bài: Quê Hương
  • Soạn Bài: Bàn Luận Về Phép Học
  • Soạn Bài Bàn Về Phép Học, Ngữ Văn Lớp 8 Trang 76 Sgk Tập 2
  • Soạn Bài Lập Kế Hoạch Cá Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 10: Lập Kế Hoạch Cá Nhân
  • Soạn Bài Lập Kế Hoạch Cá Nhân Ngữ Văn 10 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Văn 10 Bài: Lầu Hoàng Hạc
  • Tại Lầu Hoàng Hạc Tiễn Mạnh Hạo Nhiên Đi Quảng Lăng (Lý Bạch)
  • Soạn Bài Đọc “tiểu Thanh Kí”
  • II. CÁCH LẬP KẾ HOẠCH CÁ NHÂN

    Giả dụ chúng ta cần lập kế hoạch ôn tập môn Ngữ Văn để chuẩn bị thi hết học kì I.

    I. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC LẬP KẾ HOẠCH CÁ NHÂN II. CÁCH LẬP KẾ HOẠCH CÁ NHÂN

    Giả dụ chúng ta cần lập kế hoạch ôn tập môn Ngữ Văn để chuẩn bị thi hết học kì I.

    KẾ HOẠCH ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN

    Họ và tên: Nguyễn Mỹ Linh

    Lớp: 10A11 Tổ: 2

    -Bao quát toàn bộ kiến thức

    -Đạt loại khá giỏi môn Văn

    b)Nội dung và kế hoạch ôn tập (dùng cho những ngày nghỉ)

    GHI NHỚ:

    Ngoài tiêu đề, bản kế hoạch cá nhân thường có hai phần. Phần I nêu họ tên, nơi làm việc, học tập của người viết (nếu làm kế hoạch cho riêng mình thì không có phần này). Phần II nêu nội dung công việc cần làm, thời gian, địa điểm và dự kiến kết quả đạt được.

    Lời văn cần ngắn gọn, cần thiết có thể kẻ bảng

    Văn bản này chưa phải là một kế hoạch cá nhân. Tuy văn bản đã có nội dung công việc, đã phân bố thời gian những chưa nêu ra cách thức hành động. Hay nói một cách chính xác, văn bản mới chỉ là những dự kiến có tính chất chung chung, chưa cụ thể, rõ ràng, chi tiết.

    Văn bản này có vẻ giống như một thời gian biểu cá nhân hơn

    Kế hoạch cá nhân của bạn Thu chưa thể hiện được nội dung công việc (theo yêu cầu của một Đại hội Chi đoàn) một cách đầy đủ. Công việc chưa được phân công cụ thể, chi tiết. Dự kiến thời gian còn chung chung. Có thể hoàn thiện lại nhưu sau:

    ĐẠI HỘI CHI ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH

    Họ và tên: Nguyễn Thị Thu – Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh – chi đoàn 10A

    Mục tiêu: Lãnh đạo tổ chức thành công Đại hội Chi đoàn ngày 5-10-2018

    Cụ thể công việc như sau:

    – Ghi tên đăng kí dự khóa học

    – Sắp xếp thời gian biểu hợp lí để việc học nghề không ảnh hưởng đến chương trình học tập chính khóa

    – Thuê hoặc nhờ máy vi tính để luyện tập thêm

    Anh (chị) hãy giúp bạn trình bày bản kế hoạch cá nhân của mình

    Lập kế hoạch tham gia khóa đào tạo tin học do nhà trường tổ chức

    Khóa từ ngày 5-10 đến 5-12

    Mục tiêu: Mở rộng những hiểu biết về bộ môn tin học. Có kĩ năng thực hành các công việc đơn giản bằng máy tính

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Đọc Hiểu Ngữ Văn 6 Bài 10 Ếch Ngồi Đáy Giếng
  • Soạn Văn 6 Vnen Bài 10: Ếch Ngồi Đáy Giếng
  • Soạn Văn Lớp 11: Tràng Giang
  • Soạn Bài Nghị Luận Về Một Bài Thơ, Đoạn Thơ Văn Lớp 12 Trang 84 (Ngắn Gọn): Hãy Phân Tích Đoạn Thơ Sau Trong Bài Thơ “tràng Giang” Của Huy Cận
  • Bài Soạn Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ Ở Tập 1 Ngữ Văn Lớp 10
  • Soạn Văn Lớp 11: Tràng Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 6 Vnen Bài 10: Ếch Ngồi Đáy Giếng
  • Hướng Dẫn Đọc Hiểu Ngữ Văn 6 Bài 10 Ếch Ngồi Đáy Giếng
  • Soạn Bài Lập Kế Hoạch Cá Nhân
  • Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 10: Lập Kế Hoạch Cá Nhân
  • Soạn Bài Lập Kế Hoạch Cá Nhân Ngữ Văn 10 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Câu 1: Lời đề từ ” bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài“:

    – Hai chữ bâng khuâng thể hiện được nỗi niềm của nhà thơ: cảm giác bâng khuâng trước Tràng Giang rộng lớn.

    Trời rộng được nhân hóa nhớ sông dài hay chính là ẩn dụ cho nỗi nhớ của nhà thơ.

    Có thể nói Tràng Giang đã triển khai một cách tập trung cảm hứng nêu ở câu đề từ.

    Câu 2:

    – Âm điệu chung của bài thơ là âm điệu buồn lặng lẽ, bâng khuâng, man mác da diết, sầu lặng. Nổi bật trong suốt bài thơ là âm điệu buồn – đều đều, dập dềnh như sông nước ở trên sông, vừa lai âm điệu trong lòng thi nhân khi đứng trước cảnh Tràng Giang lúc chiều xuống.

    – Chủ yếu là nhịp thơ 3 – 4 tạo ra âm điệu đều đều. Âm điệu tựa như dập dềnh trên sông và sóng biển.

    – Sự luân phiên BB/ TT/ BB – TT/ BB/ TT, nhưng lại có những biến thái với việc sử dụng nhiều từ láy nguyên với sự lặp lại đều đặn tạo âm hưởng trôi chảy triền miên cùng nỗi buồn vô tận trong cảnh vật và hồn người.

    Câu 3:

    – Bài thơ tạo dựng được một bức tranh thiên nhiên cổ kính, hoang sơ:

    + Không gian: mênh mông, bao la, rộng lớn ( Trời rộng sông dài).

    + Cảnh vật hiu quạnh, hoang vắng, đơn lẻ, hiu hắt buồn.

    + Hình ảnh ước lệ thường dùng trong thơ cổ: Tràng Giang; thuyền về, nước lại; nắng xuống, trời lên; sông dài, trời rộng; mây đùng núi bạc; bóng chiều; vời con nước; khói hoàng hôn; …

    – Cổ kính, trang nghiêm, đậm chất Đường thi, nhưng Tràng Giang vẫn là một bài thơ rất Việt Nam, rất gần gũi và thân thuộc: dòng sông sóng lượn, con thuyền xuôi mái chèo, cành củi khô, tiếng làng xa vãn chợ chiều, … . Hình ảnh, âm thanh giản dị, thanh đạm của cuộc sống, con người Việt Nam.

    – Sự hòa quyện của hai hệ thống hình ảnh vừa cổ điển, vừa gần gũi thân thuộc nêu trên tạo cho bài thơ một vẻ đẹp độc đáo: đơn sơ mà tinh tế, cổ điển mà quen thuộc.

    Câu 4:

    Trước Huy Cận đã có không ít các nghệ sĩ bày tỏ lòng yêu nước một cách xa xôi, bóng gió qua thơ văn như Gánh nước đêm của Trần Tuấn Khải, Thề non của Tản Đà, Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, … . Ở bài thơ này, nỗi buồn khi giang sơn bị mất chủ quyền đã hòa vào nỗi bơ vơ trước tạo vật thiên nhiên hoang vằng và niềm thiết tha với thiên nhiên tạo vật ở đây cũng là niềm thiết tha với quê hương đất nước.

    Và thực tế, xét ở một phương diện nào đó thì Tràng Giang đúng là một bài thơ ” ca hát non sông đất nước; do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơn Tổ quốc” (Xuân Diệu).

    Câu 5: Tràng Giang có nhiều nét đặc sắc nghệ thuật:

    – Thể thơ thất ngôn trang nghiêm, cổ kính, với cách ngắt nhịp quen thuộc tạo nên sự cân đối, hài hòa. Thủ pháp tương phản được sử dụng triệt để: hữu hạn/ vô hạn; nhỏ bé/ lớn lao; không/ có; …

    – Sử dụng thành công các loại từ láy: láy âm ( Tràng Giang, đìu hiu, chót vót, …), láy hoàn toàn ( điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn, …). Các biện pháp tu từ: nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, …

    LUYỆN TẬP

    Câu 1: Cảm nhận về không gian và thời gian trong bài thơ:

    – Không gian: rộng lớn, mênh mang sóng nước, từ chiều dọc không gian mở ra chiều ngang, lan tỏa đôi bờ. Chiều thứ ba của không gian vũ trụ mở ra bầu trời sâu chót vót. Cả ba chiều không gian đều không có giới hạn, tất cả thấm sâu nối buồn nhân thế, nỗi cô đơn của nhà thơ.

    – Thời gian từ hiện tại về quá khứ xa xôi. Rồi từ dòng sông về thời tiền sử, nhà thơ trở về hiện tại để tìm điểm tựa tinh thần ở quê hương, đất nước.

    Câu 2:

    Câu thơ cuối ” Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” gợi nhớ hai câu thơ của Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc lâu:

    Nhật mộ hương quan hà xứ thị? Yên ba giang thượng sử nhân sầu

    (Quê hương khuất bóng hoàng hôn

    Bên sông khói sóng cho buồn lòng ai?)

    (Tản Đà dịch)

    Cũng nói về khói sóng trong buổi hoàng hôn, cũng gợi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương nhưng lại có sự khác biệt tiêu biểu cho thơ cũ, thơ cổ điển và thơ mới, thơ hiện đại. Thơ cũ tả cảnh ngụ tình, cảnh vật khơi gợi tâm trạng. Thơ mới, thơ của cái tôi nội cảm, không cần mượn tới ngoại cảnh mà vẫn tự biểu hiện với những cung bậc cảm xúc thiết tha.

    chúng tôi

    Bài tiếp theo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Nghị Luận Về Một Bài Thơ, Đoạn Thơ Văn Lớp 12 Trang 84 (Ngắn Gọn): Hãy Phân Tích Đoạn Thơ Sau Trong Bài Thơ “tràng Giang” Của Huy Cận
  • Bài Soạn Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ Ở Tập 1 Ngữ Văn Lớp 10
  • Soạn Văn 10 Bài: Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ
  • Bài Soạn Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ Ở Ngữ Văn Lớp 10 Tiếp Theo
  • Soạn Văn Lớp 10 Bài Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ (Tiếp Theo) Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Từ Ấy Sbt Ngữ Văn Lớp 11 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Từ Ấy (Tố Hữu
  • Soạn Bài Từ Ấy, Soạn Văn Lớp 11, Giáo Án, Học Tốt Ngữ Văn 11
  • Soạn Bài Từ Ấy Sách Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11 Tập 2
  • Soạn Từ Ấy Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Từ Ấy, Trang 43 Sgk Ngữ Văn 11
  • Giải câu 1, 2, 3, 4 trang 48 SBT Ngữ văn lớp 11 tập 2. Viết một đoạn văn nói lên cảm nghĩ của anh (chị) về khổ thơ mà mình cho là hay nhất trong bài Từ ấy.

    1. Bài tập 1, trang 44, SGK.

    Viết một đoạn văn nói lên cảm nghĩ của anh (chị) về khổ thơ mà mình cho là hay nhất trong bài Từ ấy.

    Trả lời: Tham khảo đoạn văn sau:

    Tố Hữu đã diễn tả rất chân thành niềm vui sướng, say mê của mình khi bắt gặp lí tưởng của Đảng :

    Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

    Mặt trời chân lí chói qua tim

    Hồn tôi là một vườn hoa lá

    Rất đậm hương và rộn tiếng chim…

    Năm 1938, Tố Hữu được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, cái mốc Từ ấy đánh dấu thời điểm đó. Bằng những hình ảnh ẩn dụ nắng hạ, mặt tròi chân lí và cách nói chói qua tim, Tố Hữu khẳng định lí tưởng cộng sản như một nguồn sáng mới làm bừng sáng tâm hồn nhà thơ, mở ra trong tâm hồn nhà thơ một chân trời mới của nhận thức, tư tưởng và tình cảm. Tâm hồn ấy giờ đây là một thế giới tràn đầy sức sống với hương sắc của các loài hoa, vẻ tươi xanh của cây lá, âm thanh rộn rã của tiếng chim ca hót. Đối với vườn hoa lá, còn gì đáng quý hơn ánh sáng mặt trời ? Đối với tâm hồn người thanh niên yêu nước, còn gì đáng quý hơn khi có một lí tưởng cao đẹp soi sáng, dẫn dắt ?

    Tố Hữu sung sướng đón nhận lí tưởng như cỏ cây hoa lá đón ánh sáng mặt tròi. Chính lí tưởng cộng sản đã làm tâm hồn con người tràn đầy sức sống và niềm yêu đời, làm cho cuộc sống của con người có ý nghĩa hơn.

    Giải thích vì sao nhà thơ Chế Lan Viên viết: “Tất cả Tố Hữu, thi pháp, tuyên ngôn, những yếu tố làm ra anh có thể tìm thấy trong tế bào này, anh là nhà thơ của vạn nhà, buộc lòng mình cùng nhân loại…” (Lời tựa tập Trăm bài thơ của Tố Hữu, NXB Văn học, Hà Nội, 1987)

    Trả lời: Nên chú ý mấy ý chính sau :

    Từ ấy chỉ là một bài thơ trong hàng trăm bài thơ tạo nên sự nghiệp thi ca phong phú của Tố Hữu. Nó có vai trò như một tế bào trong muôn triệu tế bào tạo nên thực thể sống, nhưng đấy là một “tế bào” đặc biệt, có ý nghĩa mở đầu, định hướng cho toàn bộ quá trình sáng tác của Tố Hữu.

    – Những đặc điểm bản chất nhất của thơ Tố Hữu được xác định rõ ngay ở bài thơ này. Đó là hai yếu tố “làm ra anh”: một là thi pháp (phương thức biểu hiện: dùng thể thơ thất ngôn, một thể thơ truyền thống, sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu, sự đa dạng của bút pháp – tự sự, lãng mạn, trữ tình); hai là tuyên ngôn (thể hiện rõ ràng quan điểm nhận thức và sáng tác : gắn bó với quần chúng lao khổ, phấn đấu vì cuộc sống hạnh phúc của đồng bào, vì tương lai tươi sáng của đất nước, vì thế giới tươi đẹp, chan hoà tình yêu thương của con người).

    – Những bài thơ sáng tác theo thi pháp và tuyên ngôn như thế, Tố Hữu đã là “nhà thơ của vạn nhà, buộc lòng mình cùng nhân loại”.

    3. Viết một đoạn văn hình dung hoàn cảnh và tâm trạng của Tố Hữu khi viết bài thơ Từ ấy.

    Trả lời: Đoạn văn cần phải có hai ý: hoàn cảnh và tâm trạng.

    – Hoàn cảnh có hai điểm đặc sắc : Trời đất cao xanh rực rỡ, tràn trề sức sống ; Con người mang dáng vẻ thiêng liêng của lịch sử đang sang trang.

    – Tâm trạng người viết là tâm trạng của một chàng trai yêu nước, tâm hồn trong trẻo đang dạt dào rung động trong phút đầu gặp gỡ lí tưởng.

    Tham khảo đoạn văn sau :

    Một ngày đẹp trời cuối mùa hè năm 1938. Trời cao xanh, nắng vàng tươi rực rỡ chảy tràn trên xứ Huế, mảnh đất cố đô xưa. Trong một khu vườn xum xuê cây lá, nghe rõ tiếng xào xạc của gió và âm thanh ríu rít của bầy chim nhỏ trên ngọn cây cao, có ba người ngồi xúm lại với nhau trên bãi cỏ, dường như họ đang bàn bạc với nhau chuyện gì rất hệ trọng. Hai người tầm thước, gương mặt cương nghị, rắn rỏi thay nhau giảng giải, lời lẽ mạch lạc, lôi cuốn (sau này Tố Hữu viết: “Con lớn lên con tìm Cách mạng – Anh Lưu, anh Diểu dạy con đi – Mẹ không còn nữa, con còn Đảng – Dìu dắt khi con chửa biết gì”. Anh Lưu, anh Diểu là Phan Đãng Lưu và Nguyễn Chí Diểu, hai người cộng sản trung kiên, những người đầu tiên đã giác ngộ cách mạng cho Tố Hữu). Ngồi nghe chăm chú như nuốt lấy từng lời là một chàng trai dáng vẻ thư sinh, đôi mắt sáng ngời. Tâm hồn anh bây giờ như vườn cây kia rực rỡ ánh nắng, ríu rít tiếng chim, xanh tươi cây lá, ngào ngạt hương thơm, bởi lần đầu tiên anh biết đến một lí tưởng, một lẽ sống đẹp đến thế. Trái tim anh dạt dào rung động với những tình cảm mới. Anh thấy mình đã trở thành một người thân thiết trong thế giới của những người khốn khổ mà hằng ngày mình vẫn thường gặp. Anh và họ sống trong tình thân ái chan hoà, cùng sát cánh bên nhau phấn đấu vì một ngày mai sáng tươi. Cái giây phút kì diệu ấy anh sẽ mãi mãi ghi nhớ trong suốt cuộc đời.

    4. Trong bài thơ, xuất hiện một loạt từ ngữ chỉ số lượng nhiều : mọi người, trăm nơi, bao hồn khổ, khối đời, vạn nhà, vạn kiếp phôi pha, vạn đầu em nhỏ,… Việc dùng từ ngữ như thế nói lên điều gì ?

    Trả lời:

    Sự xuất hiện một loạt những từ ngữ chỉ số lượng nhiều : mọi người, trăm nơi, bao hồn khổ, khối đời (khối người đông đảo trong cõi đời), vạn nhà, vạn kiếp phôi pha, vạn đầu em nhỏ,… đều có một ý nghĩa chung – đó là quần chúng nhân dân, là cộng đồng dân tộc. Trong sự đối ứng với “cái tôi” (xuất hiện sáu lần trong bài thơ), đấy ỉà “cái ta”. Nhờ ánh sáng lí tưởng cộng sản soi rọi, Tố Hữu đã đi từ “cái tôi” đến “cái ta”, gắn bó cuộc sống của cá nhân mình vói vận mệnh chung của dân tộc, hoà cuộc đời riêng của mình vào cuộc đời chung của mọi người, thấy sức mạnh của bản thân được nhân lên trong sức mạnh của cộng đồng.

    chúng tôi

    Bài tiếp theo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Từ Ấy (Tố Hữu)
  • Soạn Bài Từ Ấy Của Tố Hữu
  • Soạn Bài Người Trong Bao Của Sê Khốp
  • Soạn Bài Người Trong Bao Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Người Trong Bao Sbt Ngữ Văn Lớp 11 Tập 2
  • Soạn Bài Người Trong Bao Sbt Ngữ Văn Lớp 11 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Người Trong Bao Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Người Trong Bao Của Sê Khốp
  • Soạn Bài Từ Ấy Của Tố Hữu
  • Soạn Bài Từ Ấy (Tố Hữu)
  • Soạn Bài Từ Ấy Sbt Ngữ Văn Lớp 11 Tập 2
  • Giải câu 1, 2, 3, 4 trang 65 SBT Ngữ văn lớp 11 tập 2. Nhập vai Bê-li-cốp để kể lại truyện ngắn Người trong bao bằng ngôi thứ nhất.

    1. Bài tập 1, trang 70, SGK.

    Nhập vai Bê-li-cốp để kể lại truyện ngắn Người trong bao bằng ngôi thứ nhất.

    Trả lời:

    Bài tập này yêu cầu anh (chị) kể lại truyện ngắn Người trong bao theo một hình thức kể khác : nhân vật tự kể về mình.

    Theo hình thức nhân vật tự kể về mình thì sẽ có mô hình : tôi kể câu chuyện về bản thân tôi cho anh, cho mọi người. Sự thay đổi cách kể này thường gặp trong các tác phẩm văn học và tạo ra những hiệu quả nghệ thuật nhất định. Nhân vật được kể, tức là đối tượng của việc kể, trở thành nhân vật kể chuyện và tự kể, tức là biến mình thành đối tượng của việc kể. Như vậy, cái cần kể, cái phải kể ở đây không thay đổi, nghĩa là vẫn con người ấy, vẫn tính cách ấy song ngôi kể, tức chủ thể phát ngôn thì thay đổi: Nhân vật tự kể về mình cũng có nghĩa là nhân vật tự phô bày mình ra, tự trình bày lại mọi hành vi, hoạt động theo suy nghĩ của bản thân đúng với bản chất của tính cách nhân vật.

    – Nhân vật xuất hiện và tự giới thiệu về mình : về danh tính, nghề nghiệp, tuổi tác,….

    – Nhân vật tự trình bày cách sống, lối sống của anh ta, cách sống trong bao, cách tạo ra cái vỏ bao để chui vào đấy mà tận hưởng cuộc sống theo lối riêng của mình.

    – Nhân vật trình bày quan niệm của mình về quan hệ công tác : đối với cấp trên (ở đây là ông hiệu trưởng, ông thanh tra) thái độ phải cung cúc, tận tuỵ, tuân thủ răm rắp, không được tự ý làm trái hay thay đổi ý kiến của cấp trên ; đối với đồng nghiệp (ở đây là giáo viên các bộ môn khác) : thái độ răn đe, doạ dẫm, ngờ vực, gieo hoài nghi cho mọi người, tự ý xông vào nhà người khác rồi ngồi lì ở đó với cặp mắt soi mói…

    – Nhân vật tự rút ra kết luận về lối sống đó và ảnh hưởng của lối sống đó đối với mọi người xung quanh.

    Khi làm bài tập này, cần chú ý là phải kể từ ngôi thứ nhất. Chú ý tới ngữ điệu của nhân vật, có thể là ngữ điệu “vênh váo” vì anh ta đã tạo ra một lối sống khác đời, có thể là ngữ điệu lo âu, buồn thảm vì với lối sống đó anh ta mất hết khả năng chủ động trong công việc. Chú ý tới cách thức lập luận, dẫn dắt các tình huống, sự kiện của Sê-khốp.

    Theo tưởng tượng của anh (chị), hãy viết một đoạn kết khác cho truyện ngắn Người trong bao.

    Trả lời:

    Kết thúc truyện là cái chết của nhân vật, cho nên khi viết lại đoạn kết của câu chuyện về Bê-li-cốp, có thể chọn những cách khác nhau :

    – Bê-li-cốp tiếp tục quan hệ với Va-ren-ca và họ cưới nhau, để rồi không chịu được lối sống kì cục đó, Va-ren-ca đi tới chia tay.

    – Mọi người đều đồng tình phản đối Bê-li-cốp, hiệu trưởng cùng với thanh tra giáo dục buộc phải thuyên chuyển anh ta đi nơi khác. Bê-li-cốp nhận ra sai lầm của mình và quyết tâm sửa chữa.

    – Bê-li-cốp bị bài xích và nhận ra các sai lầm của mình, anh ta để lại một bức thư trần tình và biến mất, từ đó không ai nhìn thấy hay gặp anh ta ở đâu nữa.

    – Bê-li-cốp nhận ra sự sai lầm trong lối sống thu mình và quyết tâm sửa sai, hoà mình vào nhịp sống chung của mọi người.

    – Sau cú ngã trời giáng ấy, anh ta ốm nặng. Mọi người tỏ ra thông cảm với sự đơn độc của Bê-li-cốp và họ đi tới thống nhất là quyên góp tiền để chữa bệnh cho anh ta, cử người thường xuyên săn sóc anh ta. Trong những ngày ấy, Bê-li-cốp được nghe kể nhiều chuyện dân gian rất lí thú. Anh ta chợt hiểu ra sự sai lầm nghiêm trọng về lối sống ích kỉ của mình trước đây, cái lối sống đã tạo ra rào cản cho mọi người, cho anh ta với mọi người. Anh ta hối hận và thành thật xin lỗi họ. Tất cả đều đồng ý tha thứ. Một cuộc sống mới mở ra trước mắt anh và mọi người.

    Lưu ý : Đây là cách kết thúc tự chọn. Mỗi người có cách hiểu riêng của mình, có tiếng nói riêng của mình. Điều quan trọng là các suy nghĩ đó đều được rút ra từ truyện Người trong bao, như là một bài học, hay một quan niệm sống. Có thể phê phán, có thể đồng tình, có thể biện minh,… tuỳ hoàn cảnh và cách cảm nhận của từng người.

    3. Dựa vào truyện ngắn Người trong bao, hãy phân tích các biểu hiện khác nhau của hình ảnh “cái bao” trong cuộc đòi Bê-li-cốp.

    a) Hình ảnh “cái bao” qua các vật dụng hằng ngày của Bê-li-cốp

    Tác giả liệt kê nhiều chi tiết cho thấy các vật dụng hằng ngày của Bê-li-cốp đều mang tính chất “bao”, đều được “bao bọc”: ô để trong bao, đồng hồ quả quýt cũng đế trong bao, chiếc dao cũng được đặt trong bao… Bản thân hắn cũng được đặt trong cái bao đặc biệt : áo bành tô ấm cốt bông, ngay cả khi trời không lạnh. Tất cả các vật dụng của hắn đều có một thứ vỏ bọc riêng, tạo ra các kiểu “bao” cụ thể song rất ấn tượng.

    b) Hình ảnh “cái bao” qua công việc hằng ngày

    Nhiệm vụ của Bê-li-cốp là hằng ngày giảng dạy tiếng Hi Lạp cổ, thứ tiếng mà hắn cho là : “thật là tuyệt vời, êm tai”. Hắn ghê tởm hiện tại nên tìm cách quay về với quá khứ : “ngợi ca quá khứ, ngợi ca những gì không bao giờ có thật”. Tất cả những điều đó cũng tạo ra một loại “bao” đặc biệt, vây bọc hắn, che chở và bảo vệ cho hắn.

    c) Hình ảnh “cái bao” thường trực trong tư tưởng

    – Hắn luôn luôn có một nỗi sợ hãi, nghi ngại : “sợ nhỡ ra lại có chuyện gì” thường trực trong tư tưởng. Từ đó dẫn tói việc ngại tiếp xúc, ngại va chạm, bảo thủ và không dám chấp nhận cái mói ; tạo ra một lối sống kì dị: khi ngủ thì trùm chăn kín mít và rờn rợn nghĩ lại sợ xảy ra chuyện gì. Tư tưởng của hắn bị bao kín bởi một nỗi sợ vô hình và hắn bị gặm nhấm dần vì nỗi sợ ấy.

    -Hình ảnh “cái bao” tạo ra một lối sống thu mình, ích kỉ, song điều nguy hiểm là lối sống co cụm trong bao ấy sẽ tác động tiêu cực đến xã hội, sẽ khiến người khác phải chùn bước trước cái mới. Lối sống ấy tạo ra một bầu không khí nặng nề, ức chế, đề phòng và dè chừng lẫn nhau, ở đó con người khó có thể giao tiếp, khó có thể thật lòng với nhau. Anh (chị) tự liên hệ và đề xuất các suy nghĩ về lối sống, lẽ sống.

    4. Để khắc hoạ tính cách nhân vật Bê-li-cốp, Sê-khốp đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật khác nhau. Anh (chị) hãy chỉ ra các biện pháp nghệ thuật ấy và cách thức sử dụng chúng của tác giả.

    Cũng như các nhà văn khác, để khắc hoạ tính cách nhân vật Bê-li-cốp, Sê-khốp đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật khác nhau. Đó là :

    a) Xây dựng những chi tiết điển hình

    – Chân dung nhân vật Bê-li-cốp được tái hiện qua nhiều chi tiết đời thường. Anh (chị) hãy chỉ ra những chi tiết ấy và tính chất biếm hoạ của chúng.

    – Chi tiết “cái bao” được nhấn mạnh mấy lần ? Sự nhấn mạnh ấy nhằm dụng ý gì ?

    – Các chi tiết ấy có ảnh hưởng như thế nào đến việc hình thành thói quen sinh hoạt, tạo thành cuộc sống lập dị của nhân vật ?

    b) Tạo ra các đối thoại – độc thoại nội tâm phù họp với các nhân vật

    – Các đối thoại này cho thấy hoàn cảnh vây bọc nhân vật. Hoàn cảnh này có quy định tính chất “cái bao” của nhân vật không ?

    – Độc thoại nội tâm của Bê-li-cốp : “sợ nhỡ lại xảy ra chuyện gì” tạò ra sự lo âu thường trực trong nhân vật. Nỗi lo âu đó có phải tự nó cũng là một cái bao không ?

    c) Khắc hoạ chân dung Bê-li-cốp từ điểm nhìn của người kể chuyện, qua lời kể của nhân vật Bu-rơ-kin

    – Lời kể của nhân vật Bu-rơ-kin xuyên suốt toàn bộ tác phẩm. Nhân vật này đóng vai trò kể chuyện, dẫn dắt câu chuyện, duy trì giọng điệu và bộc lộ một cách nhìn, một thái độ đánh giá nhân vật Bê-li-cốp. Anh (chị) hãy chỉ ra giọng điệu châm biếm của Bu-rơ-kin.

    – Thái độ đánh giá của Bu-rơ-kin về Bê-li-cốp cũng là thái độ phê phán của tác giả về hoàn cảnh xã hội đã sản sinh ra mẫu người Bê-li-cốp. Từ đó, anh (chị) hãy rút ra ý nghĩa biểu tượng của nhân vật Bê-li-cốp.

    d) Các biện pháp nghệ thuật trên được sử dụng tuần tự theo diễn biến của truyện

    – Đoạn mở đầu : khắc hoạ chân dung bằng các chi tiết điển hình.

    – Đoạn giữa đan lồng các đối thoại để tạo ra các góc nhìn khác nhau về cùng một con người ; kết hợp với độc thoại nội tâm (rất ngắn) của nhân vật Bê-li-cốp như là hình thức hồi âm – cộng hưởng, để làm nổi bật cả hình thức bên ngoài lẫn nội tâm nhân vật. Từ đó cho thấy tính chất nguy hại của lối sống này.

    Lời người kể chuyện Bu-rơ-kin, qua đó bộc lộ gián tiếp cách nhìn của tác giả, xuyên suốt toàn bộ câu chuyện, tạo ra sự quy chụm của mạch kể, kết tinh thành “người trong bao” Bê-li-cốp quanh năm đi giày cao su, tay cầm ô trong nỗi sợ hãi thường trực. Hình ảnh Bê-li-cốp vừa tạo ra ấn tượng về một lối sống nguy hại, lối sống đánh mất bản thân mình, vừa tạo ra không khí ảm đạm, ngột ngạt của một thời đại, mà muốn thoát ra thì phải xoá bỏ lối sống ấy. Theo anh (chị), cái chết của Bê-li-cốp ở cuối tác phẩm có ý nghĩa gì xét từ phương diện này ? Nhân vật chết vì tai nạn hay nhân vật phải chết để kết thúc một lối sống lập dị, kì cục, phương hại tới sự phát triển đi lên của xã hội ?

    chúng tôi

    Bài tiếp theo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 1 Trang 10 Sgk Ngữ Văn 9
  • Soạn Bài Đọc Tiểu Thanh Kí Văn 10 Tập 1 Trang 105
  • Soạn Bài: Phân Tích Đề, Lập Dàn Ý Bài Văn Nghị Luận Trang 23 Sgk Ngữ Văn 11 Tập 1
  • Bài 1 Luyện Tập Trang 61 Sgk Ngữ Văn 10
  • Soạn Bài Văn Bản Trang 24 Sgk Ngữ Văn 10, Tập 1
  • Soạn Bài Vội Vàng Sbt Ngữ Văn Lớp 11 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn: Vội Vàng (Xuân Diệu)
  • Bài 3 Trang 23 Sgk Ngữ Văn 11
  • Soạn Bài Vội Vàng Sách Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11 Tập 2
  • Soạn Bài Viết Bài Làm Văn Số 3: Nghị Luận Văn Học Văn 11 Tập 1 Trang 70 Sbt Văn 11 Tập 1…
  • Soạn Bài Văn Bản Trang 24 Sgk Ngữ Văn 10, Tập 1
  • Giải câu 1, 2, 3, 4, 5, 6 trang 14 SBT Ngữ văn lớp 11 tập 2. Suy nghĩ của anh (chị) về nhận xét sau : ” Vội vàng của Xuân Diệu có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí”.

    1. Qua cách nhìn của Xuân Diệu trong bài thiên nhiên và sự sống quanh ta hiện ra như thế nào ? Những hình ảnh nào đã dệt nên bức tranh thiên nhiên và sự sống đó ? Hãy chỉ ra tính chất chung của những hình ảnh ấy.

    Trả lời: Bài tập này có ba yêu cầu:

    a) Thấy được thiên nhiên và sự sống quanh ta, qua cách nhìn của Xuân Diệu, hiện ra như thế nào.

    b) Chỉ ra những hình ảnh nào đã dệt nên bức tranh thiên nhiên và sự sống đó.

    c) Nêu tính chất chung của những hình ảnh ấy.

    – Với yêu cầu a, cần đọc kĩ đoạn đầu của bài thơ để thấy được : Qua cách nhìn của Xuân Diệu, thiên nhiên và sự sống quanh ta thật tươi đẹp, rộn rã âm thanh, rực rỡ sắc màu. Nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó một tình yêu rạo rực, đắm say, ngây ngất. Có thể nói, Xuân Diệu đã phát hiện ra có một thiện đường ngay trên mặt đất này, khống xa lạ mà rất đỗi quen thuộc, ở ngay trong tầm tay với của mỗi chúng ta.

    – Với yêu cầu b, cần nhận ra : Những hình ảnh đồng nội xanh rì, cành tơ phơ phất, ánh sáng chóp hàng mi, cặp môi gần,… đã dệt nên bức tranh thiên nhiên và sự sống tươi đẹp đó.

    – Với yêu cầu c, cần thấy, nét chung của những hình ảnh nói trên là đẹp, tươi, tràn trề sức trẻ và đầy quyến rũ.

    Đâu là nét mới mẻ trong quan niệm về thời gian, quan niệm sống của Xuân Diệu được thể hiện trong bài thơ này ? Quan niệm sống đó có tích cực không ?

    Bài tập này có ba yêu cầu :

    a) Chỉ ra được nét mới mẻ trong quan niệm về thòi gian của Xuân Diệu.

    b) Hiểu được nét mới trong quan niệm sống của nhà thơ.

    c) Nhận xét quan niệm sống đó của Xuân Diệu có tích cực không.

    – Với yêu cầu a, cần thấy : Xuân Diệu quan niệm thời gian không phải là tuần hoàn mà là tuyến tính, một đi không bao giờ trở lại. Thời gian trôi chảy rất nhanh, và theo cái đà trôi đó, cả thiên nhiên và sự sống của con người đều không thể tránh khỏi viễn cảnh héo úa, tàn phai. Thời gian thật là khắc nghiệt, đời người có hạn, tuổi xuân ngắn ngủi. Nhà thơ đã nhìn thời gian qua lăng kính của một “cái tôi” cá nhân yêu đời, ham sống Với Xuân Diệu, thòi gian đời người không đồng nhất với thời gian vũ trụ. Vũ trụ có thể tồn tại vĩnh viễn, mùa xuân có thể tuần hoàn, nhưng “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”.

    – Với yêu cầu b, cần thấy, đối với Xuân Diệu, thế giới này đẹp nhất, mê hồn nhất là vì có con người giữa tuổi trẻ và tình yêu. Phải biết yêu cuộc sống hiện tại, cuộc đời nơi trần thế. Phải biết nâng niu, quý trọng từng giây, từng phút của tuổi trẻ và tình yêu ; phải chủ động chạy đua với thời gian để chiến thắng nó.

    – Với yêu cầu c, cần hiểu rằng, quan niệm sống nói trên của Xuân Diệu một thời đã từng bị phê phán. Giờ đây, cần thấy quan niệm sống của ông là tích cực, thấm đẫm tinh thần nhân văn.

    3. Suy nghĩ của anh (chị) về nhận xét sau : ” của Xuân Diệu có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí”.

    Để làm được bài tập này, cần tập trung làm rõ một số ý sau :

    – Giải thích nhận xét trong đề bài :

    + Mạch cảm xúc : là sự tiếp nối những trạng thái tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong suốt bài thơ : ước muốn, khát khao cháy bỏng (khổ thơ đầu) ; say mê, ngây ngất (khổ thơ thứ hai) ; buồn, sợ hãi, tiếc nuối (khổ thơ thứ ba) ; hăm hở, vội vàng, cuống quýt (khổ thơ cuối).

    + Mạch luận lí : sự liên kết, móc nối về ý trong việc thể hiện, bày tỏ quan niệm của nhà thơ : sống mãnh liệt, hết mình, chói sáng.

    + Sự kết họp nhuần nhuyễn: là sự hoà quyện tự nhiên, hài hoà, lôgíc và hiệu quả giữa dòng chảy của những tình cảm, cảm xúc, trạng thái tâm hồn Xuân Diệu với những lí giải của ông về triết lí sống “vội vàng”.

    – Phân tích :

    + Khát khao níu giữ thời gian, hương sắc, vẻ đẹp của cuộc sống.

    + Nhận thấy quy luật tất yếu của thời gian là sự chảy trôi không bao giờ trở lại kéo theo sự phôi pha của cảnh vật theo thời gian.

    + Giải pháp dung hoà giữa ước muốn níu giữ thời gian, hương sắc của cuộc sống với sự không trở lại của thời gian : cuộc sống đầy quyến rũ, lôi cuốn mà đời người lại ngắn ngủi, dòng thời gian vẫn chảy trôi không dừng lại, cho nên con người phải chọn cách sống nhanh, sống sôi nổi, nhiệt tình, sống có ý nghĩa.

    – Vội vàng là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Diệu, thể hiện được quan niệm sống, quan niệm thẩm mĩ, khát khao, ý thức sống của nhà thơ, đồng thời cho thấy sự kết họp nhuần nhuỵ giữa mạch cảm xúc mãnh liệt, dồi dào và mạch luận lí chặt chẽ cùng với những sáng tạo độc đáo của nhà thơ về nghệ thuật.

    (Vũ Thị Hồng Thắm soạn)

    Nét đặc thù về nhịp điệu của bài thơ ? Tác giả sử dụng những thủ pháp nào để tạo ra nhịp điệu ấy ?

    Bài tập này có hai yêu cầu :

    a) Nhận ra nét đặc thù về nhịp điệu của bài thơ.

    b) Hiểu được nhà thơ đã sử dụng những thủ pháp nghệ thuật nào để tạo ra nhịp điệu ấy.

    – Với yêu cầu a, cần thấy nét riêng về nhịp điệu của bài thơ là nhanh, vội vã, gấp gáp. Đó chính là nhịp điệu của cuộc sống vội vàng.

    – Với yêu cầu b, cần phải thấy, tác giả đã dùng nhiều thủ pháp để tạo nên nhịp điệu ấy : thể thơ biến đổi một cách linh hoạt; hình thức điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp ; sử dụng linh hoạt, xen kẽ các kiểu câu miêu tả, cảm thán, nghi vấn ; nhịp ngắt trong từng câu thơ luôn thay đổi phù họp với cảm xúc, tâm trạng.

    5. Ngoài những câu thơ trong bài này, anh (chị) còn biết những câu thơ nào của Xuân Diệu nói về quan niệm sống “vội vàng” ?

    Bài tập này yêu cầu anh (chị) tìm những câu thơ trong các bài thơ khác nói về quan niệm sống “Vội vàng” của Xuân Diệu. Có thể đọc các bài thơ của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám để tìm ra những câu thơ đó.

    Đặc sắc đó thể hiện rõ nhất ở bài Vội vàng.

    Mở đầu bài thơ, Xuân Diệu diễn tả các ý muốn có vẻ kì lạ và ngông cuồng :

    Tôi muốn tắt nắng đi

    Cho màu đừng nhạt mất,

    Tôi muốn buộc gió lại

    Cho hương đừng bay đi.

    Đó là hương và mầm của mùa xuân. Những câu thơ tiếp theo là những câu tả mùa xuân. Trước Xuân Diệu chưa có nhà thơ nào tả mùa xuân như vậy. Ý nói, lời nói về cảnh sắc và âm thanh của mùa xuân. Chú ý vị trí và cách sử dụng các từ ngữ : của, này đây,… :

    Của ong bướm này đây tuần tháng mật ;

    Này đây hoa của đồng nội xanh rì ,

    Này đây lá của cành tơ phơ phất ;

    Của yến anh này đây khúc tình si ;

    Có lẽ mới nhất là mấy câu thơ sau đây :

    Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

    Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa ,

    Tháng giêng ngon như một cặp môi gần ;

    Tà áo mới cũng say mùi gió nước

    Rặng mi dài xao động ánh dương vui.

    (Xuân đầu)

    Trong đoạn thơ trên, cảm hứng và tư tưởng chính của bài thơ tập trung ở câu thơ đặc biệt này :

    Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

    Trước Xuân Diệu không lâu, Thế Lữ có bài thơ Khúc ca hoài xuân (Tiếc mùa xuân) mà khổ thơ đầu tả mùa hạ :

    Tiếng ve ran trong bóng cây râm mát,

    Giọng chim khuyên ca ánh sáng mặt trời.

    Gió nắng reo trên hồ sen rào rạt.

    Mùa xuân còn, hết ? Khách đa tình ơi !

    Xuân Diệu nói ngược, nói khác với bài thơ của Thế Lữ và nhà thơ giải thích :

    Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

    Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

    Xuân tàn, hạ tới, thu hết, đông sang, xưa nay thơ đã nói nhiều ý đó. Thế Lữ cũng chưa nói khác, dù lời thơ mới mẻ, phong phú, sôi động hơn. Song đến Xuân Diệu mói thấy được “phép biện chứng” của mùa xuân : cùng một lúc nhà thơ thấy xuân đương tới và xuân đương qua, xuân còn non và xuân sẽ già.

    Cảm hứng về thời gian của Xuân Diệu mới mẻ đã đổi khác, “hiện đại” hơn.

    Cảm hứng về thời gian đó dẫn đến cảm hứng về cuộc đời. Nhiều nhà thơ trước đây đều đã thấy sự ngắn ngủi của đời người. Cái mới của Xuân Diệu là còn thấy sự ngắn ngủi của tuổi trẻ :

    Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

    Không cho dài thời trẻ của nhân gian…

    Từ đó, nhà thơ tiếc mùa xuân, tuổi trẻ ngay đang giữa mùa xuân, tuổi trẻ :

    Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

    Nếu tuổi trẻ chảng hai lần thắm lại.

    Tiếc mùa xuân, tiếc tuổi trẻ cũng ỉà tiếc sự sống, tiếc cuộc sống. Đó tức cũng là lòng yêu đời, lòng ham sống. Xuân Diệu diễn tả rất sâu, rất hay, rất mãnh liệt và thiết tha tình cảm đó bằng những âm thanh, màu sắc, hình thể của mùa xuân :

    Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc,

    Phải chàng hờn vì nỗi phải bay đi?

    Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,

    Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

    Đó là những câu thơ rất trẻ, rất đẹp, thể hiện cao độ tình yêu đời, ham sống của nhà thơ. Nhà thơ còn dùng hình tượng : đất trời, năm tháng, núi sông để làm cho ý thơ thêm rộng lớn :

    Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

    Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời ;

    Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,

    Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…

    Bước đi của thời gian tuy âm thầm mà mãnh liệt không gì ngăn được ! Trước và sau Xuân Diệu, chưa ai diễn tả được cảm hứng này như Xuân Diệu.

    Cảm nhận về thòi gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ, về cuộc đời như trên dẫn nhà thơ đến một thái độ sống đặc biệt. Đó là sự “vội vàng” :

    Mau đi thôi ! Mùa chưa ngả chiều hôm,

    Ta muốn ôm

    Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn,

    – Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !

    Lại những câu thơ vừa cực tả vẻ đẹp, sức sống của mùa xuân, vừa cực tả lòng yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt, say mê của nhà thơ. Để diễn tả những điều đó, nhà thơ dùng những từ ngữ, hình tượng thiên về cảm giác và hành động : ta muốn ôm, ta muốn riết, ta muốn say, ta muốn thầu trong một cái hôn nhiều, cho chếnh choáng, cho đã đầy, cho no /zể,.. và cuối cùng : ta muốn cắn… Tuy vậy, cần thấy rằng nhà thơ rất biết giới hạn niềm say mê nồng nhiệt của mình, không để rơi vào sự rồ dại, thác loạn.

    Đúng như lời Hoài Thanh nhận xét : “Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của ‘ mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết.” Thơ Xuân Diệu sọng động như chính sự sống. Qua thơ Xuân Diệu, ta cũng thấy rõ sức sống của tiếng nói Việt Nam, câu thơ Việt Nam, có thể diễn tả được mọi cung bậc của cuộc đời, mọi trạng thái tình cảm của con người, từ tĩnh lặng nhất đến sôi nổi nhất

    (Theo Trần Thanh Đạm, Làm văn (sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000), NXB Giáo dục)

    chúng tôi

    Bài tiếp theo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 11: Thương Vợ
  • Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam Trang 16 Sgk Ngữ Văn 10
  • Soạn Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Từ Thế Kỉ 10 Đến Hết Thế Kỉ 19 (Siêu Ngắn)
  • Soạn Văn 10 Bài: Khái Quát Văn Học Việt Nam Từ Thế Kỉ X Đến Hết Thế Kỉ Xix
  • Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Từ Thế Kỉ X Đến Thế Kỉ Xix

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Lớp 10: Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Soạn Bài Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam Sbt Ngữ Văn 10 Tập 1
  • Bài Soạn Siêu Ngắn: Khái Quát Văn Học Dân Gian
  • Soạn Bài Đọc Tiểu Thanh Kí Ngữ Văn 10
  • + Đều là các sáng tác của người Việt, mang đậm nét tính cách, phong tục của người Việt.

    + Đều phát triển trên cơ sở văn tự của người Hán.

    + Đều thể hiện được những vẫn đề gần gũi với hiện thực cuộc sống của người dân như tâm tư, tình cảm, đời sống sinh hoạt trong xã hội trung đại.

    + Đều có được những thành tựu xuất sắc với các tác phẩm đạt tới đỉnh cao nghệ thuật của thể loại

    Là bộ phận văn học ra đời sớm hơn, có vị trí quan trọng, được các triều đại phong kiến coi trọng hơn.

    Gồm nhiều thể loại phong phú: chiếu, biểu, hịch, cáo, truyện truyền kì, kí sự, tiểu thuyết, chương hồi, phú, thơ cổ phong, thơ đường luật. Các thể loại này được sử dụng cả các văn bản hành chính của triều đình, vừa được dùng trong việc thể hiện tâm tư, đời sống của nhân dân.

    Ra đời muộn hơn (khoảng cuối thế kỉ XIII), sử dụng văn tự chữ Hán để ghi âm tiếng nói của người Việt.

    Là bộ phận không được giai cấp thống trị phong kiến coi trọng. Tuy nhiên, đối với đông đảo quần chúng nhân dân, văn học chữ Nôm lại có một vị trí đặc biệt.

    Chủ yếu là thơ, với hai thể loại truyền thống là theo thể lục bát (nhiều sáng tác truyện thơ) và thể song thất lục bát (ngâm khúc), ngoài ra còn có thơ Nôm, thơ Đường luật, thơ Đường luật thất ngôn xen lục ngôn, hát nói…

    Câu 2: Dựa vào kiến thức được trình bày trong mục II, lập bảng tổng kết về tình hình phát triển của văn học Việt Nam thời trung đại theo mẫu sau:

    Câu 3: Nêu một số tác phẩm văn học đã học trong chương trình THCS để làm sáng tỏ những đặc điểm lớn về nội dung của văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX.

    – Nội dung cảm hứng yêu nước: Sông núi nước Nam, Chiếu dời đô, Bình Ngô đại cáo, Hịch tướng sĩ, Thuật hoài, …

    – Nội dung nhân đạo: Chuyện người con gái Nam Xương, Truyện Kiều, Bánh trôi nước, Chinh phụ ngâm, …

    – Nội dung thế sự: Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (Vũ Trung tùy bút), Lục Vân Tiên, Vũ trung tùy bút, …

    Câu 4: Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX có những đặc điểm lớn nào về nghệ thuật? Từ đó hãy chỉ ra cách đọc văn học trung đại có điểm gì khác với cách đọc văn học hiện đại.

    – Về nghệ thuật: văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX có những đặc điểm lớn như:

    + Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm:

    Tính quy phạm thể hiện ở quan điểm văn học: coi trọng chí khí, đề cao đạo lí sống của con người. Văn học thiên về ước lệ tượng trưng với hệ thống các điển tích, điển cố, hệ thống thi liệu mang tính quy phạm được đưa vào văn thơ.

    Mặt khác, văn học trung đại phá vỡ tính quy phạm, phát huy cá tính sáng tạo, cái “tôi” của tác giả trong cả nội dung và hình thức biểu hiện (tiêu biểu là thơ Nôm của Hồ Xuân Hương).

    + Khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị

    Xu hướng bình dị thể hiện ở việc nội dung thơ ca gắn bó với hiện thực hơn, tự nhiên và quan tâm nhiều hơn đến cuộc sống của con người

    – So sánh văn học trung đại và hiện đại:

    Về nội dung: Nội dung văn học trung đại nói nhiều đến cái chí khí, lí tưởng của người quân tử, đạo đức trong cách ứng xử hàng ngày của con người. Đây là điểm khác biệt khá lớn với văn học hiện đại. Với điều kiện tiếp thu nhiều thể loại văn học mới phù hợp, văn học hiện đại đi sâu hơn để khám phá đời sống riêng, thế giới nội tâm của con người

    Về hệ thống thi pháp: văn học trung đại với sử dụng nhiều điển tích, điển cố, hệ thống thi liệu mang tính quy phạm, hình ảnh trong văn học mang tính ước lệ tượng trưng, lời ít ý nhiều. Hệ thống thể loại, thi pháp được tiếp thu chủ yếu từ văn học Trung Quốc. Vì thế, để hiểu được nội dung của văn học giai đoạn này, người đọc cần nắm được nội dung của các thi liệu cổ, các cách diễn đạt sâu sắc cùng với cấu trúc ý thức xã hội, hệ tư tưởng phong kiến đó.

    Hình ảnh, hình tượng và cách diễn đạt của văn học hiện đại bình dị, gần gũi hơn với đời sống, nên có được lượng độc giả đông đảo hơn. Với việc sử dung các thể loại mới như truyện ngắn, bút kí, tiểu thuyết, .. văn học hiện đại đã thành công trong việc hướng đến vào khám phá đời sống riêng, thế giới nội tâm của con người.

    Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX được gọi là văn học trung đại, gồm hai thành phần: văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm, phát triển qua bốn giai đoạn. Những đặc điểm lớn về nội dung là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo và cảm hứng thế sự. Những đặc điểm lớn về nghệ thuật là tính quy phạm, tính trang nhã; vừa tiếp thu tinh hoa văn học nước ngoài, vừa sáng tạo những giá trị văn học mới mang bản sắc dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Từ Thế Kỉ X Đến Hết Thế Kỉ Xix
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Theo Chủ Đề Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ
  • Soạn Bài Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ (Chi Tiết)
  • Tuần 1. Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ
  • Soạn Bài Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Tình Yêu Và Thù Hận Sbt Ngữ Văn Lớp 11 Tập 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 11 Bài: Tình Yêu Và Thù Hận
  • Soạn Bài Tình Yêu Và Thù Hận Của Uy
  • Soạn Bài: Lòng Yêu Nước
  • Soạn Bài Lòng Yêu Nước; Lao Xao Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Soạn Bài Lòng Yêu Nước; Lao Xao Sách Bài Tập Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Giải câu 1, 2, 3 trang 132 SBT Ngữ văn lớp 11 tập 1. vẻ đẹp hoà quyện giữa tình yêu đôi lứa và thiên nhiên thơ mộng qua đoạn trích Tình yêu và thù hận.

    1. Vẻ đẹp hoà quyện giữa tình yêu đôi lứa và thiên nhiên thơ mộng qua đoạn trích Tinh yêu và thù hận.

    (1) Tình yêu lứa đôi và thiên nhiên thơ mộng

    a) Vẻ đẹp của tình yêu :

    – Vẻ đẹp toát lên từ hoàn cảnh khác thường : Tình yêu của Rô-mê-ô và Giu-li-ét ra đòi trong hoàn cảnh thù địch, giữa hai dòng họ thù địch. Mối tình đó có dẫn tới sự thay đổi tình thế, hoàn cảnh và quan niệm sống không ?

    – Vẻ đẹp toát lên từ sự đồng cảm, đồng điệu và tự nguyện

    + Tình yêu ở đây là kết quả của sự gặp gỡ giữa trai tài và gái sắc. về Rô-mê-ô thì chính Ca-piu-lét cũng phải thừa nhận bằng một câu nói đầy ấn tượng : “Cho ta tất cả của cải trong thành này, ta cũng không thể làm điều gì xúc phạm tới anh ta”. Còn về vẻ đẹp của Giu-li-ét có thể thì thấy được qua nhận xét của Rô-mê-ô khi chàng đứng ngắm nàng trong đêm. Phân tích lời thoại thứ nhất và lời thoại thứ sáu để làm nổi bật các ý trên.

    + Tình yêu ở đây là tình yêu tự nguyện, không bị một sự ép buộc, xếp đặt nào mà là tình yêu của con tim đến vói con tim, là sự hoà điệu của tâm hồn và tình cảm. Họ đến với nhau bằng tình yêu tự nguyện xuất phát từ việc họ nhận thức được : họ sinh ra là để cho nhau, không có cái gì có thể chia lìa họ được. (Những ý nào trong các lòi thoại cho thấy điều đó ?)

    – Vẻ đẹp toát lên từ sự hiểu nhau và tôn trọng lẫn nhau :

    Tình yêu ở đây hiện ra với vẻ đẹp trong sáng. Họ ca ngợi nhau, tỏ tình với nhau bằng những lời hoa mĩ nhưng hết sức chân thành vì đó không phải là lời nói của cửa miệng mà lòi nói của trái tim.

    b) Vẻ đẹp của thiên nhiên thơ mộng

    – Thiên nhiên hoà hợp :

    Thiên nhiên ở đây trở thành bạn của con người, tạo ra bối cảnh thơ mộng cho cuộc tình của đôi trai gái. Thiên nhiên tự nó cũng có vẻ đẹp riêng, vẻ đẹp của thiên nhiên tôn tạo cho vẻ đẹp của con người, trở thành đối tượng để so sánh với vẻ đẹp của con người.

    – Thiên nhiên thanh bình

    Thiên nhiên tạo ra bức bình phong che chở cho cặp tình nhân, tạo cho họ cảm giác yên bình. Thiên nhiên hiện ra ở đây không dữ dội, không đe doạ. Đêm tối trở thành môi trường của tình yêu. Đêm tối ngăn không cho những cặp mắt rình mò xoi mói, bắt cái hận thù phải chìm trong giấc ngủ nặng nề, bắt mọi vật phải im tiếng để cho tình yêu lên tiếng, cho tình yêu có cơ hội giãi bày. Đây là kiểu thiên nhiên hoà cảm thường gặp trong văn thơ có tác dụng nhân lên sức mạnh của tình yêu, thúc đẩy sự phát triển của tình yêu.

    (2) Sự hoà quyện giữa tình và cảnh

    – Đây là một vẻ đẹp riêng của mối tình Rô-mê-ô và Giu-li-ét, thể hiện trong tình có cảnh, trong cảnh có tình. Tình và cảnh hoà quyện với nhau không tách rời nhau và càng không thể chia lìa, tách bạch giữa tình và cảnh. Tình ấy phải ở trong cảnh ấy và chỉ cảnh ấy mới nảy sinh tình ấy. (Anh (chị) có suy nghĩ gì về nghệ thuật miêu tả tâm lí của U. sếch-xpia ở đây ?)

    – Vẻ đẹp của tình yêu được lồng trong bối cảnh thiên nhiên thơ mộng cho thấy khát vọng bình yên, mong muốn hạnh phúc trọn vẹn của con người, không chỉ trong thời Phục hưng mà ở mọi thời đại.

    2. Phân tích lời thoại sau đây của Giu-li-ét : “Anh làm thế nào tới được chốn này, anh ơi, và tới làm gì thế ? Tường vườn này cao, rất khó trèo qua, và nơi tử địa, anh biết mình là ai rồi đấy, nếu anh bị họ hàng nhà em bắt gặp nơi đây.” để làm rõ nỗi lo lắng đang giằng xé tâm can người con gái này.

    Trả lời:

    a) Nỗi lo lắng về bức tường hữu hình

    Là bức tường cụ thể, bức tường vây quanh nhà Giu-li-ét : “Tường vườn này cao, rất khó trèo qua”. Dưới con mắt của Giu-li-ét thì tường là cao và rất khó trèo qua. Trong cách nói đó, có sắc thái cảm thông và động viên không ? Và tường có thể rất cao thì Rô-mê-ô có dám trèo qua không ? Đây không chỉ là thử thách về sức lực mà chính là thử thách lòng can đảm.

    b) Nỗi lo lắng về các bức tường vô hình

    – Bức tường vô hình thứ nhất là bức tường của thù hận, thể hiện qua lời thoại của Giu-li-ét : đây là “nơi tử địa, anh biết mình là ai rồi đấy, nếu anh bị họ hàng nhà em bắt gặp nơi đây”, “anh làm thế nào tới được chốn này”. Sự đe doạ được nhấn đi nhấn lại ở đây bằng trực cảm về cái chết. Thử thách này đòi hỏi Rô-mê-ô phải có đủ dũng cảm để có thể đến với người yêu.

    – Bức tường vô hình thứ hai chính là tình cảm của Rô-mê-ô : “Anh ơi, và tới làm gì thế ?”. Đây mới là bức tường vô hình quan trọng nhất, mới là điều mà Giu-li-ét cần Rô-mê-ô vượt qua nhất. Nàng muốn thử thách tình yêu của Rô-mê-ô, muốn kiểm tra động cơ hành động của chàng, cần chú ý là trước đó, những lời độc thoại của Giu-li-ét đã được chính Rô-mê-ô nghe thây. Việc có mặt của Rô-mê-ô lúc đó cần phải được giải thích hợp lí là trái tim đến với trái tim, là tình yêu đi tìm tình yêu, là những người yêu nhau đi theo tiếng gọi của tình yêu.

    3. Tổ chức toạ đàm về đề tài : “Thế nào là một tình yêu chân chính, lành mạnh trong xã hội hiện nay ?”

    Trả lời: Một số gợi ý định hướng cho buổi toạ đàm:

    – Tình yêu phản ánh và khẳng định giá trị con người.

    – Tình yêu cần chân thành, tự nguyện, không ép buộc, không vụ lợi.

    – Tình yêu mang trong nó tính chất hồn nhiên, thể hiện khát vọng sống qua sự yêu đời và sự quý trọng lẫn nhau, gắn với sự tôn trọng và đề cao nhân cách của nhau, là để giúp nhau tự hoàn thiện mình, giúp nhau vươn tới thế giới toàn thiện toàn mĩ.

    – Phải có quan niệm yêu đương đúng đắn : vị tha, nhân ái, không dễ dãi, không buông thả, không sống gấp. Trong thời đại hiện nay, những người yêu nhau cũng cần có những hiểu biết vẻ giới tính và các căn bệnh xã hội, căn bệnh thế kỉ có khả nâng lây nhiễm cao.

    – Tình yêu đòi hỏi cỏ sự tin cậy lẫn nhau, chung thuỷ với nhau.

    chúng tôi

    Bài tiếp theo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Tình Yêu Và Thù Hận (Trích Rô
  • Soạn Bài Lớp 11: Tôi Yêu Em
  • Soạn Bài Lớp 11: Tôi Yêu Em Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 11 Học Kì Ii
  • Soạn Văn Mẫu Ngữ Văn Lớp 6 Bài Lòng Yêu Nước
  • Soạn Bài Lớp 6: Lòng Yêu Nước Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 6 Học Kì Ii
  • Tin tức online tv