Soạn Bài Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hòa Bình Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Soạn Lớp 9: Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hòa Bình
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tập Làm Văn Lớp 9 Hk 1
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tập Làm Văn
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tập Làm Văn Lớp 9
  • Soạn Bài: Thuật Ngữ Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Hướng dẫn Soạn Bài 2 sách giáo khoa Ngữ văn 9 tập một. Nội dung bài Soạn bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình sgk Ngữ văn 9 tập 1 bao gồm đầy đủ bài soạn, tóm tắt, miêu tả, phân tích, cảm nhận, thuyết minh, nghị luận,… đầy đủ các bài văn mẫu lớp 9 hay nhất, giúp các em học tốt môn Ngữ văn 9, ôn thi vào lớp 10.

    VĂN BẢN

    Đấu tranh cho một thế giới hòa bình

    Một nhà tiểu thuyết lớn của thời đại chúng ta đã đặt ra câu hỏi: Phải chăng trái đất của chúng ta chính là địa ngục của các hành tinh khác? Có lẽ sự việc giản đơn hơn nhiều: Nó chỉ là một cái làng nhỏ mà thánh thần đã bỏ quên ở ngoại vi vũ trụ.

    Tuy nhiên, ý nghĩ dai dẳng cho rằng trái đất là nơi độc nhất có phép màu của sự sống trong hệ mặt trời, ý nghĩ đó đã đẩy chúng ta tới kết luận này, không thể khác được: Chạy đua vũ trang là đi ngược lại lí trí.

    Không những đi ngược lại lí trí con người mà đi ngược lại cả lí trí tự nhiên nữa

    Tôi rất khiêm tốn nhưng cũng rất kiên quyết đề nghị mở ra một nhà băng lưu trữ trí nhớ có thể tồn tại được sau thảm họa hạt nhân. Để cho nhân loại tương lai biết rằng một sự sống đã từng tồn tại ở đây, bị chi phối bởi đau khổ và bất công nhưng cũng đã từng biết đến tình yêu và biết hình dung ra hạnh phúc. Để cho nhân loại tương lai hiểu điều đó và làm sao cho ở mọi thời đại, người ta đều biết đến những tên thủ phạm đã gây ra những lo sợ, đau khổ cho chúng ta, đã giả điếc làm ngơ trước những lời khẩn cầu hòa bình, những lời kêu gọi làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, để mọi người biết rằng bằng những phát minh dã man nào, nhân danh những lợi ích ti tiện nào, cuộc sống đó đã bị xoá bỏ khỏi vũ trụ này.

    (G.G. Mác-két(*), Thanh gươm Đa-mô-clét bản dịch của N.V.,

    báo Văn nghệ, ngày 27 – 9 – 1986)

    Chú thích:

    (*) Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két, nhà văn Cô-lôm-bi-a, sinh năm 1928, tác giả của nhiều tiểu thuyết và tập truyện ngắn theo khuynh hướng hiện thực huyền ảo, nổi tiếng nhất là tiểu thuyết tăm năm cô đơn (1967). Mác-két được nhận gỉa thưởng Nô-ben về văn học năm 1982.

    Tháng 8 năm 1986, nguyên thủ sáu nước Ấn độ, Mê-hi-cô, thụy Điển, Ác-hen-ti-na, Hy lạp, Tan-da-ni-a họp lần thứ hai tại Mê-hi-cô, đã ra một bản tuyên bố chấm dứt chạy đua vũ trang, thủ tiêu vũ khí hạt nh6an để đảm bảo an ninh và hòa bình thế giới. Nhà văn Mác-két được mời tham dự cuộc gặp gỡ này. Văn bản trên trích từ tham luận của ông. Tên biên bản là do người biên soạn đặt.

    (1) Thanh gươm Đa-mô-clét (một điển tích lấy từ thần thoại hy lạp): Đa-mô-clét treo thanh gươm ngay phía trên đầu bằng sợi lông đuôi ngựa. Điển tích này chỉ mối nguy cơ đe dọa trực tiếp sự sống của con người.

    (2) Dịch hạch: bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm, do một loại vi khuẩn từ bọ chét của chuột đã mắc bệnh truyền sang người; khi thành dịch lây lan rất nhanh, đe dọa tính mạng nhiều người. “Dịch hạch” hạt nhân: vũ khí hạt nhân đe dọa loài người như nguy cơ bệnh dịch hạch (cách nói ẩn dụ).

    (3) UNICEF (viết tắt của United Nations International Children’s Emergency Fund): tên thường gọi là Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc.

    (4) Tàu sân bay: tàu chiến loại lớn chuyên dùng để chở máy bay, có sân bay để cho máy bay lên xuống.

    (5) FAO (viết tắt của Food and Agriculture Organization): tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thuộc Liên hợp quốc.

    (6) Kỉ địa chất: đơn vị thời gian địa chất, bậc dưới của đại, dài từ hàng triệu đến hàng chục triệu năm.

    ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

    – Đoạn 1 (Từ đầu … đến “mất đi khả năng sống tốt đẹp hơn”): Chiến tranh hạt nhân đang có nguy cơ đe dọa ghê gớm đến cuộc sống, sinh mạng của toàn nhân loại.

    – Đoạn 2 (Tiếp theo … đến “trở lại điểm xuất phát của nó”): Chạy đua vũ trang là vô cùng tốn kém, đi ngược lại lí trí, tước đoạt của thế giới nhiều điều kiện để phát triển.

    – Đoạn 3 (Còn lại): Chống chiến tranh hạt nhân, bảo vệ cuộc sống hòa bình là nhiệm vụ cấp thiết của toàn nhân loại.

    Nội dung chính: Đấu tranh cho hòa bình, ngăn chặn và xóa bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân là nhiệm vụ thiết thân và cấp bách của toàn thể loài người.

    1. Câu 1 trang 20 sgk Ngữ văn 9 tập 1

    Hãy nêu luận điểm và hệ thống luận cứ của văn bản.

    Trả lời:

    – Luận điểm: nguy cơ khủng khiếp của chiến tranh hạt nhân đang đe dọa toàn thế giới. Chính vì vậy, đấu tranh chống lại và xóa bỏ nguy cơ này vì một thế giới hòa bình là nhiệm vụ cấp bách của toàn thể nhân loại.

    – Hệ thống luận cứ:

    + Kho vũ khí hạt nhân đang được tàng trữ có khả năng hủy diệt cả trái đất và các hành tinh khác trong hệ mặt trời.

    + Chạy đua vũ trang, nhất là vũ trang hạt nhân, là vô cùng tốn kém và hết sức phi lí.

    + Chiến tranh hạt nhân không chỉ đi ngược lại lí trí loài người mà còn ngược lại lí trí của tự nhiên.

    + Bởi vậy, tất cả nhân loại phải có nhiệm vụ ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, đấu tranh vì một thế giới hòa bình.

    2. Câu 2 trang 20 sgk Ngữ văn 9 tập 1

    Trong đoạn đầu bài văn, nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe dọa loài người và toàn bộ sự sống trên trái đất đã được tác giả chỉ ra rất cụ thể bằng cách lập luận như thế nào?

    Trả lời:

    – Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe doạ loài người và toàn bộ sự sống trên Trái Đất đã được tác giả chỉ ra rất cụ thể bằng cách:

    + 50.000 đầu đạn hạt nhân tương đương 4 tấn thuốc nổ/người → tất cả chỗ đó nổ tung lên sẽ làm biến hết thảy mười hai lần mọi dấu vết sự sống trên trái đất.

    + Nguy cơ ghê gớm đó đang đè nặng lên chúng ta như thanh gươm Đa-mô-clet → mối nguy cơ đe dọa trực tiếp sự sống của con người.

    – Tác giả đã sử dụng phương pháp nêu số liệu, giải thích dựa trên những tính toán lí thuyết khoa học, chính xác, cụ thể hoá để trình bày về nguy cơ của vũ khí hạt nhân.

    3. Câu 3 trang 20 sgk Ngữ văn 9 tập 1

    Sự tốn kém và tính chất vô lí của cuộc chạy đua vũ trang đã được tác giả chỉ ra bằng những chứng cứ nào?

    Trả lời:

    – Bằng lập luận chặt chẽ, chứng cứ rõ ràng, xác thực, tác giả đã chỉ ra sự tốn kém và tính chất phi lí của chạy đua vũ trang. Cụ thể:

    + Dẫn chứng về chương trình không thực hiện được của UNICEF vì thiếu kinh phí;

    + Dẫn chứng về y tế;

    + Dẫn chứng về tiếp tế thực phẩm;

    + Dẫn chứng về giáo dục.

    – Điều quan trọng là: trong mỗi dẫn chứng, tác giả đã đưa ra sự so sánh cụ thể để làm nổi bật tính phi lí của chạy đua vũ trang. Những số liệu cụ thể tự nó có sức thuyết phục mạnh mẽ.

    4. Câu 4 trang 20 sgk Ngữ văn 9 tập 1

    Vì sao có thể nói: Chiến tranh hạt nhân “không những đi ngược lại lí trí của con người mà còn đi ngược lại cả lí trí tự nhiên nữa”? Em có suy nghĩ gì trước lời cảnh báo của nhà văn Mác-két về nguy cơ hủy diệt sự sống và nền văn minh trên trái đất một khi chiến tranh hạt nhân nổ ra?

    Trả lời:

    Chiến tranh hạt nhân “không những đi ngược lại lí trí con người mà còn đi ngược lại cả lí trí tự nhiên nữa” vì:

    – Chiến tranh hạt nhân xảy ra sẽ phá huỷ, xoá sạch những thành quả tiến hoá của văn minh loài người cũng như tiến trình tiến hoá của sự sống, tự nhiên trên Trái Đất.

    – Lời cảnh báo của nhà văn G.Macket đã đặt ra trước toàn thể nhân loại một nhiệm vụ cấp bách. Đó là chúng ta phải đoàn kết, kiên quyết ngăn chặn nguy cơ chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới hòa bình.

    5. Câu 5* trang 20 sgk Ngữ văn 9 tập 1

    Theo em, vì sao văn bản này lại được đặt tên là Đấu tranh cho một thế giới hòa bình?

    Trả lời:

    – Văn bản được đặt tên là Đấu tranh cho một thế giới hòa bình, vì chủ đích của người viết muốn nhấn mạnh vào nhiệm vụ đấu tranh để ngăn chặn nguy cơ ấy.

    – Nhan đề ấy thể hiện luận điểm cơ bản của bài văn, đồng thời như một khẩu hiệu, kêu gọi, hướng nhân loại tới một thái độ đấu tranh tích cực.

    LUYỆN TẬP

    Câu hỏi trang 21 sgk Ngữ văn 9 tập 1

    Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi học bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình của nhà văn G.G. Mác-két.

    Trả lời:

    “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” mang ý nghĩa như một bức thông điệp của Mác-két. người Cô-lôm-bi-a, nhà hoạt động xã hội lỗi lạc, nhà văn được giải thưởng Nô-ben văn học năm 1982, gửi cho các dân tộc trên hành tinh chúng ta. Và tác phẩm đã để lại cho chúng ta nhiều điều suy ngẫm.

    Để làm sáng tỏ luận đề “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình”, Mác-két đã đưa ra 3 luận điểm đầy sức thuyết phục: một là nhân loại đang đứng trước hiểm họa hạt nhân; hai là, cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân là cực kì tốn kém; ba là, lời kêu gọi chống nguy cơ hạt nhân, đấu tranh cho hòa bình.

    Nhân loại đang đứng trước hiểm họa hạt nhân; cái nguy cơ ghê gớm đang đè nặng lên chúng ta như thanh gươm Đa-nô-clét”. Với hơn 50.000 đầu đạn hạt nhân bố trí khắp hành tinh, mỗi con người đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ. Với số vũ khí hạt nhân ấy có thế hủy diệt 12 lần mọi dấu vết sự sống trên trái đất; có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh đang xoay quanh Mặt trời, cộng thêm 4 hành tinh nữa.. “Mác-két ghê tởm lên án nguy cơ hạt nhân là dịch hạch hạt nhân” vì cái cảnh tận thế tiềm tàng trong các bệ phóng cái chết”… Những con số mà Mác-két đưa ra đã nâng cao nhận thức cho mọi người vẻ nguy cơ chiến tranh hạt nhân, và sự hủy diệt khủng khiếp của vũ khí hạt nhân.

    Tiếp theo, Mác-két đã chỉ ra cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân là vô cùng tốn kém. Đây là những số liệu cụ thể mà tác giả đã đưa ra: Chi phí bỏ ra cho 100 máy bay ném bom chiến lược B1B của Mĩ và cho dưới 7.000 tên lửa vượt đại châu là 100 tỉ đô-la. Số tiền ấy có thể cứu trợ về y tế, giáo dục sơ cấp, cải thiện điều kiện vệ sinh và tiếp tế thực phẩm, nước uống cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất thế giới. Giá 10 chiếc tàu sân bay Ni-mít mang vũ khí hạt nhân đủ để thực hiện một chương trình phòng bệnh trong 14 năm cho hơn 1 tỉ người khỏi bệnh sốt rét và cứu hơn 14 triệu trẻ em ở châu Phi. Số lượng ca-lo trung bình cho 575 triệu người thiếu dinh dưỡng tốn kém không bằng 149 tên lửa MX. Chỉ cần 27 tên lửa MX là đủ trả tiền mua nông cụ cần thiết cho các nước nghèo để họ có được thực phẩm trong 4 năm tới.

    Nghệ thuật lập luận của Mác-két rất sắc bén. Những con số về tiền bạc mà ông nêu lên đã cho thấy ngân sách quân sự, chi phí chạy đua vũ trang hạt nhân là cực kì tốn kém! Tác giả sử dụng lối biện luận tương phản về thời gian: quá trình hình thành sự sống và văn minh nhân loại phải trải qua hàng triệu triệu năm, còn sự hủy diệt Trái Đất chỉ diễn ra trong nháy mắt, “chỉ cần bấm nút một cái” thì tất cả sẽ trở thành tro bụi – ông đã chi cho mỗi người, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia thấy rõ hiếm họa vũ khí hạt nhân, chạy đua vũ trang hạt nhân khủng khiếp như thế nào!

    Luận điểm thứ 3 là lời kêu gọi của Mác-két. Ông kêu gọi mọi người “chống lại việc đó” – cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân; hãy “tham gia vào bản đồng ca của những người đòi hòi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hòa bình, công bằng”. Ông đề nghị “mở ra một nhà băng lưu trữ trí nhớ, có thể tồn tại được sau tai họa hạt nhân” để cho nhân loại tương lai biết rằng “sự sống đã từng tồn tại”…, để nhân loại tương lai “biết đến” những thủ phạm đã “gây ra những lo sợ, đau khổ” cho hàng tỉ con người, để “biết đến” tên những kẻ “giả điếc làm ngơ trước những lời khẩn cầu hòa bình, những lời kêu gọi làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn”…

    Mác-két đã có một cách nói đặc sắc, độc đáo lên án những kẻ hiếu chiến đã và đang gây ra cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân, đe dọa cuộc sống hòa bình yên vui của các dân tộc và nhân loại.

    Có thể nói, văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” đã thể hiện trí tuệ và tâm hồn của Mác-két. Ông đã sáng suốt và tỉnh táo chỉ cho nhân loại thấy rõ nguy cơ hạt nhân là một hiểm họa đáng sợ – “dịch hạch hạt nhân”. Tâm hồn của ông cháy bỏng một niềm khao khát hòa bình cho nhân loại. Và qua đó, ta càng thêm kinh sợ chiến tranh hạt nhân tàn bạo đã phá hủy bao điều tốt đẹp của cuộc đời, cũng từ đó ta càng thêm yêu hòa bình, và nâng cao cho mình ý thức bảo vệ vmột thế giới không có vũ khí hạt nhân.

    Mác-két đã có một lối nói, lối viết rất độc đáo. Những số liệu của ông nêu ra có một sức thuyết phục to lớn, làm cho mọi người, mọi dân tộc nhận thức một cách sâu sắc về sự nghiệp đấu tranh bảo vệ hòa bình là sự sống còn của nhân loại.

    CÁC BÀI VĂN HAY

    “Bài tập nào khó đã có giaibaisgk.com”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hòa Bình
  • Soạn Bài Cố Hương Lớp 9
  • Soạn Bài Cố Hương Sbt Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 15 Bài 60, 61, 62
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 15 Bài 63, 64, 65
  • Bài Soạn Lớp 9: Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hòa Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tập Làm Văn Lớp 9 Hk 1
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tập Làm Văn
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tập Làm Văn Lớp 9
  • Soạn Bài: Thuật Ngữ Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Soạn Bài Lớp 9: Thuật Ngữ Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 9 Học Kì I
    • G.Mac-ket là nhà văn Cô-lôm-bi-a
    • Ông viết theo khuynh hướng hiện thực.
    • Nhận giải Nobel văn học năm 1982

    2. Tác phẩm:

    • Trích từ bản tham luận của G. Mac-ket đọc tại cuộc họp mặt của 6 nguyên thủ quốc gia (lần 2) tại Mê-hi-cô bàn về việc chống chiến tranh hạt nhân.
    • Thể loại: Văn nghị luận
    • Kiểu văn bản nhật dụng
    • Bố cục:
      • Phần 1: Nguy cơ của chiến tranh hạt nhân
      • Phần 2: Chiến tranh hạt nhân đi ngược lí trí nhân loại
      • Phần 3: Chiến tranh hạt nhân đi ngược lí trí tự nhiên
      • Phần 4: Nhiệm vụ ngăn chặn chiến tranh hạt nhân

    Trả lời:

    Hệ thống luận điểm, luận cứ của hình ảnh là:

    • Luận điểm: Chiến tranh hạt nhân đang đe dọa loài người và sự sống trên trái đất. Đấu tranh loại bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân là nhiệm vụ cấp bách của toàn thể nhân loại.
    • Luận cứ:
      • Kho vũ khí hạt nhân đang được tàng trữ có khả năng hủy diệt cả Trái đất và các hành tinh khác trong hệ mặt trời.
      • Cuộc chạy đua vũ trang đã làm mất đi khả năng cải thiện đời sống cho hàng tỉ người.
      • Chiến tranh hạt nhân không chỉ đi ngược lại lí trí của loài người mà còn ngược lại với lí trí của tự nhiên, phản lại tiến hóa.
      • Chúng ta phải có nhiệm vụ ngăn chặn cuộc chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới hòa bình.

    Trong phần đầu văn bản, nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe dọa loài người và toàn bộ sự sống trên Trái Đất đã được tác giả chỉ ra rất cụ thể bằng cách lập luận như thế nào?

    Trả lời:

    Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe doạ loài người và sự sống trên thế giới được tác giả chỉ ra bằng những lí lẽ, chứng cứ rõ ràng:

    • Lý lẽ:
      • Chiến tranh hạt nhân là sự tàn phá hủy diệt
      • Phát minh hạt nhân quyết định sự sống còn trên thế giới.
    • Chứng cớ:
      • Ngày 8/8/1986, hơn 50000 đầu đạn hạt nhân đã được bố trí khắp hành tinh.
      • Tất cả mọi người ngôi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ.
      • Tất cả chỗ đó nổ tung lên sẽ làm biến chuyển hết thảy.

    Sự tốn kém và tính chất vô lí của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân đã được tác giả chỉ ra bằng những chứng cứ nào?

    Trả lời:

    Sự tốn kém và tính chất vô lý của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân đã được tác giả chỉ ra bằng hàng loạt chứng cứ, với những so sánh thật thuyết phục trong các lĩnh vực xã hội, y tế, giáo dục…

    • Chương trình cứu trợ cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất thế giới không thực hiện được của UNICEF vì thiếu kinh phí.
    • Tiền đóng 10 tàu sân may Ni-mít đủ thực hiện chương trình phòng bệnh 14 năm đồng thời bảo vệ 1 tỷ người khỏi bệnh sốt rét, cứu hơn 14 triệu trẻ em…
    • Tiền làm 27 tên lửa MX đủ trả tiền công cụ cho các nước nghèo để họ làm ra lương thực trong 4 năm…
    • Chỉ hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân đã đủ tiền xóa nạn mù chữ cho toàn thế giới…

    Vì sao có thể nói: Chiến tranh hạt nhân “không những đi ngược lại lí trí con người mà còn đi ngược lại cả lí trí tự nhiên nữa”? Em có suy nghĩ gì trước lời cảnh báo của nhà văn Mác-két về nguy cơ huỷ diệt sự sống và nền văn minh trên trái đất một khi chiến tranh hạt nhân nổ ra?

    Trả lời:

    Chiến tranh hạt nhân đi ngược lại lí trí của con người bởi vì con người thông minh đã làm cuộc sống ngày càng tốt đẹp, hạnh phúc hơn. Có thể hiểu “lí trí con người” là quy luật phát triển của văn minh loài người và “lí trí tự nhiên” là quy luật tiến hoá tất yếu của tự nhiên, sự sống. Như vậy, chiến tranh hạt nhân xảy ra sẽ phá huỷ, xoá sạch những thành quả tiến hoá của văn minh loài người cũng như tiến trình tiến hoá của sự sống, tự nhiên trên Trái Đất.

    Thông qua đó, Mác -két đưa ra lời cảnh báo trước toàn thể nhân loại một nhiệm vụ cấp bách. Đó là chúng ta phải đoàn kết, kiên quyết ngăn chặn nguy cơ chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới hòa bình.

    Trả lời:

    Văn bản được đặt tên là “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” vì:

    Nguy cơ chiến tranh hạt nhân và cuộc chạy đua vũ trang đang đe dọa cuộc sống của con người. Vì thế mọi người phải có trách nhiệm ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ hòa bình. Đây chính là thông điệp mà tác giả muốn gửi tới mọi người và có thể coi là như là lời kêu gọi vì hành động của mình. Bởi vậy, nhan đề của bài có tên là “đấu tranh cho một thế giới hòa bình” là hợp lí.

    Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” của nhà văn G.G. Mác – két.

    Trả lời:

    Đấu tranh cho một thế giới hòa bình là một bài văn nghị luận thật thống thiết và hùng hồn, có tác dụng kêu gọi loài người hãy đấu tranh cho hòa bình, ngăn chặn và xóa bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân. Với hệ thống lập luận rõ ràng, chặt chẽ, tiếng gọi hòa bình ấy đã trở nên có sức mạnh vật chất làm chúng ta nghĩ đến một cánh chim bồ câu tung bay giữa trời xanh. Nó báo hiệu một thời đại mà con người được sống trong vòng tay nhân ái và khái niệm chiến tranh không trong nhà băng “lưu trữ trí nhớ” của chúng ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hòa Bình Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hòa Bình
  • Soạn Bài Cố Hương Lớp 9
  • Soạn Bài Cố Hương Sbt Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 15 Bài 60, 61, 62
  • Soạn Bài Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hòa Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hòa Bình Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Bài Soạn Lớp 9: Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hòa Bình
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tập Làm Văn Lớp 9 Hk 1
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tập Làm Văn
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tập Làm Văn Lớp 9
  • Soạn bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình (G.G. Mác-két)

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu… mất khả năng sống tốt đẹp hơn”): Chiến tranh hạt nhân đe dọa tới sự sống toàn nhân loại.

    – Phần 2 ( tiếp… trở lại điểm xuất phát của nó”): Chạy đua vũ trang là vô cùng kém, đi ngược lại sự tiến bộ xã hội

    – Phần 3 (còn lại): Chống chiến tranh hạt nhân, bảo vệ cuộc sống hòa bình là nhiệm vụ cấp thiết của toàn nhân loại.

    Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1 (trang 20 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

    Luận điểm và hệ thống luận cứ của văn bản

    – Luận điểm: nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe dọa, toàn thể loài người và sự sống trên trái đất, vì vậy cần đấu tranh cho hòa bình, ngăn chặn, xóa bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân, nhiệm vụ thiết thực, cấp bách của mỗi người, toàn thể loài người

    – Hệ thống luận cứ:

    + Cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân làm mất khả năng sống tốt đẹp hơn của toàn thế giới.

    Dẫn chứng: so sánh giữa chi phí cho các lĩnh vực xã hội, cứu trợ y tế, hỗ trợ phát triển, sản xuất lương thực, thực phẩm, giáo dục…

    + Với chi phí khổng lồ cho việc chạy đua vũ trang, hạt nhân

    + Chạy đua vũ trang đi ngược lại quy luật tiến hóa nhân loại

    + Tất cả cần ngăn chặn chiến tranh, chạy đua vũ trang

    Câu 2 (trang 20 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

    Phần đầu tác giả chỉ ra thời gian cụ thể, đưa ra số liệu, với một phép tính đơn giản

    – Để thấy rõ hơn sức tàn phá khủng khiếp của kho vũ khí hạt nhân, tác giả đưa ra những số liệu tính toán thuyết phục

    → Thu hút người đọc, gây ấn tượng mạnh mẽ về tính chất hệ trọng của vấn đề được nói tới

    Câu 3 (trang 20 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

    – Cứu trợ 500 triệu trẻ em chỉ tốn 100 tỉ đô, nhưng nó chỉ bằng chi phí cho 100 máy bay B. 1B, và dưới 7000 tên lửa vượt đại châu

    – Bảo vệ cho hơn 1 tỉ người khỏi bệnh sốt rét và cứu hơn 14 triệu trẻ em châu Phi cần số tiền bằng 10 chiếc tàu bay mang vũ khí hạt nhân của Mĩ

    – Giải quyết việc thiếu dinh dưỡng cho 575 triệu người, chỉ cần số tiền chi cho 149 tên lửa MX, 27 tên lửa MX

    – Cần tiền cho 2 chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là đủ tiền xóa nạn mù chữ cho toàn thế giới

    Câu 4 (trang 20 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

    Chiến tranh hạt nhân xảy ra hủy hoại, xóa sạch thành quả văn minh nhân loại, cũng như quá trình tiến hóa sự sống, tự nhiên trên Trái Đất

    Lời cảnh báo nhà văn G. Macket đặt ra trước toàn thể nhân loại nhiệm vụ cấp bách

    → Đoàn kết, quyết ngăn chặn nguy cơ chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới hòa bình

    Câu 5 (trang 20 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

    Văn bản có tên “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình”

    – Chủ đích của người viết không chỉ là chỉ ra mối đe dọa hạt nhân, mà muốn nhấn vào nhiệm vụ đấu tranh, ngăn chặn nguy cơ chạy đua vũ trang.

    – Nhan đề cũng thể hiện được luận điểm cơ bản của bài như một sự kêu gọi, khẩu hiệu, hướng tới thái độ sống nhân văn, tích cực

    Luyện tập

    Câu hỏi (trang 21 SGK Ngữ văn 9 tập 1): Cảm nghĩ sau khi đọc văn bản Đấu tranh cho một thế giới hòa bình của nhà văn G.G. Mác-két.

    Bài viết Đấu tranh cho một thế giới hòa bình của nhà văn Mác-két đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh đối với chính chúng ta về chiến tranh hạt nhân – điều đang đe dọa trầm trọng đến mạng sống và sự phát triển của toàn nhân loại. Chiến tranh hạt nhân không những ghê gớm như một loại bệnh dịch, có thể quét sạch sự sống trên hành tinh này mà nó còn có thể khiến cho cuộc sống của chúng ta trở về thời kì đồ đá, tiêu diệt hết toàn bộ nền văn minh trong hàng bao nhiêu triệu năm. Bởi vì sự tốn kém của việc chạy đua vũ trang hạt nhân mà chính chúng ta bị tước đi cơ hội phát triển những điều kiện sống tốt đẹp của mình. Số tiền dành cho cuộc chạy đua vũ trang ấy nếu dùng vào các lĩnh vực khác như y tế, thực phẩm, giáo dục thì đã có hơn 500 triệu trẻ em nghèo khổ được sống cuộc sống tốt đẹp hơn, hơn 1 tỉ người và 14 triệu trẻ em khác được bảo vệ tính mạng khỏi bệnh tật,… Bài viết này đã nêu ra những lập luận sắc bén, khiến chúng ta không thể làm ngơ trước mối đe dọa lớn đang đè nặng lên tương lai của loài người, chúng ta phải hành động để bảo vệ một thế giới hòa bình, tốt đẹp không có chiến tranh hạt nhân.

    Ý nghĩa – nhận xét

    Sau khi học, học sinh nhận thức được vấn đề thời sự cấp bách của con người, của nhân loại và của chính mỗi cá nhân, từ đó các em biết yêu quý và trân trọng cuộc sống các em đang có. Bài học còn hình thành và nuôi dưỡng trong các em tinh thần yêu chuộng hòa bình, một phẩm chất cần có của con người thời đại hôm nay.

    Bài giảng: Đấu tranh cho một thế giới hòa bình – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Cố Hương Lớp 9
  • Soạn Bài Cố Hương Sbt Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 15 Bài 60, 61, 62
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 15 Bài 63, 64, 65
  • Soạn Bài Làng Ngữ Văn 9 Của Kim Lân
  • Bài Soạn Siêu Ngắn: Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hòa Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Tập Huấn Sử Dụng Phần Mềm Activinspire
  • Giáo Án Tiếng Anh Thcs (6
  • Skkn Một Số Kinh Nghiệm Soạn Giáo Án Tích Hợp Trong Môn Tiếng Anh Cấp Thcs
  • Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Soạn Giáo Án Tích Hợp Trong Môn Tiếng Anh Cấp Thcs
  • Tổng Hợp Kinh Nghiệm Làm Giáo Án Dạy Tiếng Anh Mầm Non Cho Bé
  • Trả lời:

    • Luận điểm: Chiến tranh hạt nhân…toàn thể nhân loại.
    • Luận cứ:
      • Kho vũ khí hạt nhân đang được tàng trữ có khả năng hủy diệt toàn vũ trụ
      • Cuộc chạy đua vũ trang đã làm rất nhiều người rơi rào lầm lầm than
      • Chiến tranh hạt nhân đi ngược lại lí trí loài người, phản tự nhiên
      • Chúng ta phải có nhiệm vụ ngăn chặn cuộc chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới hòa bình.

    Trả lời:

    • Lý lẽ: chiến tranh hạt nhân gây hủy diệt.
    • Chứng cớ:
      • Ngày 8/8/1986, hơn 50000 đầu đạn hạt nhân đã được bố trí khắp hành tinh.
      • Tất cả mọi người ngôi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ.
      • Tất cả chỗ đó nổ tung lên sẽ làm biến chuyển hết thảy.

    Trả lời:

    • Chương trình cứu trợ cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất thế giới không thực hiện được của UNICEF vì thiếu kinh phí.
    • Tiền đóng 10 tàu sân may Ni-mít đủ thực hiện chương trình phòng bệnh 14 năm đồng thời bảo vệ 1 tỷ người khỏi bệnh sốt rét, cứu hơn 14 triệu trẻ em…
    • Tiền làm 27 tên lửa MX đủ trả tiền công cụ cho các nước nghèo để họ làm ra lương thực trong 4 năm…
    • Chỉ hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân đã đủ tiền xóa nạn mù chữ cho toàn thế giới…

    Trả lời:

    Chiến tranh hạt nhân đi ngược lại lí trí của con người bởi vì con người thông minh đã kiến tạo ra thế giới ngày cành đẹp, hiện đại. Chiến tranh hạt nhân xảy ra sẽ phá huỷ, xoá sạch những thành quả tiến hoá của văn minh loài người và mọi sự sống trên trái đất.

    Thông qua đó, Mác -két đưa ra lời cảnh báo với một nhiệm vụ cấp bách: ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới hoà bình.

    Trả lời:

    Văn bản được đặt tên là “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” vì: chiến tranh hạt nhân và cuộc chạy đua vũ trang đang đe dọa cuộc sống của con người, tác giả muốn kêu gọi mọi người ngăn chặn nó và bảo vệ nền hòa bình trên thế giới.

    Trả lời:

    Đấu tranh cho một thế giới hòa bình là một bài văn nghị luận thật thống thiết và hùng hồn, có tác dụng kêu gọi loài người hãy đấu tranh cho hòa bình, ngăn chặn và xóa bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân. Với hệ thống lập luận rõ ràng, chặt chẽ, tiếng gọi hòa bình ấy đã lay động được người đọc, chạm đến trái tim của mọi người, khích lệ mọi người chung tay hành động.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 17 Bài 75, 76, 77
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 18 Bài 80, 81, 82
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 17 Bài 72, 73, 74
  • Soạn Văn 9: Truyện Kiều Của Nguyễn Du
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Ánh Trăng (Nguyễn Duy)
  • 300 Thiếu Nhi Vẽ Tranh Vì Hòa Bình Thế Giới Và Tình Yêu Hà Nội

    --- Bài mới hơn ---

  • Tranh Sơn Dầu Em Thúy
  • Tác Phẩm Em Thúy Của Họa Sĩ Trần Văn Cẩn
  • Xem Nghệ Sĩ Vẽ Tranh Chỉ Bằng 1 Nét Vẽ
  • Dịch Vụ Vẽ Tranh Tường 3D Tại Tphcm Đẹp Tốt Nhất
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Vẽ 3D Trên Tường
  • Sự kiện do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị TP Hà Nội phối hợp tổ chức với Ủy ban Hòa bình Hà Nội, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Trung tâm văn hóa TP.

    Tới dự có Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam Nguyễn Phương Nga; Tổng Thư ký Ủy ban Hòa Bình Việt Nam Đồng Huy Cương; đại diện lãnh đạo Liên hiệp các tổ chức hữu nghị TP Hà Nội cùng đại diện một số Sở, Ban, ngành TP Hà Nội; Đại sứ quán các nước trên địa bàn TP.

    Phát biểu khai mạc sự kiện, Phó Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị TP Hà Nội Trần Thị Phương khẳng định, cuộc thi vẽ tranh nhằm hưởng ứng Ngày Quốc tế thiếu nhi và kỷ niệm 20 năm Hà Nội được đón nhận danh hiệu “Thành phố vì hòa bình”.

    “Tôi mong rằng các cháu sẽ phát huy hết khả năng và sự hiểu biết của mình để vẽ những bức tranh nói lên ước nguyện về cuộc sống ấm no hạnh phúc, về tình yêu hòa bình, yêu thiên nhiên tươi đẹp, cùng bảo vệ môi trường xung quanh, chống biến đổi khí hậu, chống chiến tranh, đói nghèo, bệnh tật, đặc biệt về tình yêu Hà Nội…”, bà Trần Thị Phương nhấn mạnh.

    Thu hút sự tham gia của hàng trăm thiếu nhi trong và ngoài nước đang học tập và sinh sống tại Hà Nội, cuộc thi là dịp để khuyến khích tài năng sáng tạo nghệ thuật, đồng thời là cơ hội tốt để các em thiếu nhi Việt Nam và quốc tế có dịp gặp gỡ, giao lưu, trao đổi với nhau, tăng cường tình hữu nghị, đoàn kết giữa trẻ em Việt Nam với trẻ em quốc tế. Đây cũng là dịp quảng bá hình ảnh Thủ đô Hà Nội hòa bình tới bạn bè quốc tế.

    320 bức tranh trong cuộc thi lần này được vẽ với những màu sắc tươi vui, đề tài phong phú là một món quà tinh thần, có ý nghĩa thiết thực thể hiện sâu sắc tình yêu Hà Nội – Thành phố vì hòa bình, ước mơ về một thế giới hòa bình, không còn chiến tranh, đói nghèo.

    Trong khuôn khổ cuộc thi, các tác phẩm xuất sắc nhất nhận được một Giải Đặc biệt, 2 Giải nhất, 3 Giải nhì, 5 Giải ba, và 10 giải khuyến khích.

    Tổng kết lại, Giải Đặc biệt được trao cho em Jo Hanul (Hội người Hàn tại Hà Nội), hai Giải nhất thuộc về em Lưu Tùng Dương (Trung tâm sắc màu tuổi thơ), em Hoàng Ánh Dương (Trường Tiểu học Minh Khai A).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vun Đắp Tình Hữu Nghị Qua Cuộc Thi Vẽ Tranh ‘em Yêu Hà Nội
  • Doodle Art (Phần 2): 5 Bước Để Vẽ Doodle Một Cách Nghệ Thuật
  • Gợi Ý Cách Vẽ Doodle Đơn Giản Với Sổ Tay
  • Chiêm Ngưỡng 12 Dòng Tranh Dân Gian Việt Nam
  • Vẽ Tranh Đề Tài Trò Chơi Dân Gian Đơn Giản Và Đẹp Nhất
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 11 Ngắn Nhất Bài: Vịnh Khoa Thi Hương
  • Soạn Văn Bài: Vịnh Khoa Thi Hương (Trần Tế Xương)
  • Soạn Văn 12 Cực Chất Bài: Việt Bắc (Phần 1: Tác Giả)
  • Soạn Anh Văn 8 Đề Án
  • Unit 1 Lớp 8: Skills 1
  • Soạn văn lớp 9 bài Viết bài tập làm văn số 1 – Văn thuyết minh ngắn gọn hay nhất : Đề 1 Cây lúa Việt Nam Đề 2 Cây … ở quê em Đề 3 Một loài động vật hay vật nuôi ở quê em. Đề 4 Một nét đặc sắc trong di tích, thắng cảnh của quê em.

    Câu hỏi bài Viết bài tập làm văn số 1 – Văn thuyết minh tập 1 trang 42

    Đề 1 Cây lúa Việt Nam

    Đề 2 Cây … ở quê em

    Đề 3 Một loài động vật hay vật nuôi ở quê em.

    Đề 4 Một nét đặc sắc trong di tích, thắng cảnh của quê em.

    Sách giải soạn văn lớp 9 bài Viết bài tập làm văn số 1 – Văn thuyết minh

    Trả lời câu 1 soạn văn bài Viết bài tập làm văn số 1 – Văn thuyết minh trang 42

    Dàn ý

    Mở bài : Giới thiệu chung về sự gắn bó cây lúa trên đồng ruộng Việt Nam (có thể dẫn thêm ca dao, tục ngữ về cây lúa).

    Thân bài :

    – Khái quát vai trò quan trọng của cây lúa với nền nông nghiệp Việt Nam. Đó không chỉ là nguồn lương thực chủ yếu mà còn là truyền thống.

    – Đặc điểm cây lúa :

    + Sống chủ yếu nhờ nước nên được gọi là lúa nước.

    + Thân cây thẳng, nhỏ và dài, cao chừng 60 – 80cm.

    + Cấu tạo : rễ, thân, ngọn.

    – Phân loại : có hai loại là lúa nếp (nấu lên dẻo và mềm) và lúa tẻ (là hạt lúa làm nên bữa cơm hàng ngày, khi nấu sẽ nở ra).

    – Cách trồng lúa :

    + Gieo giống : hạt lúa sau khi ngâm ủ kĩ càng được gieo mọc thành mạ.

    + Cấy lúa : cấy mạ xuống đất (đất đã ngập nước được một thời gian để đất mềm), phù hợp với giống cây ưa nước.

    + Chăm sóc : thường xuyên thăm lúa để phát hiện sâu, chuột,… Giai đoạn này đôi khi gặp phải mưa bão sẽ rất vất vả.

    + Gặt lúa : khi lúa trĩu bông chín vàng thì gặt về và phơi phóng, bảo quản.

    – Sản phẩm từ cây lúa :

    + Lương thực thiết yếu.

    + Làm nên nhiều đặc sản vùng miền các nơi : các loại bánh, cốm, cơm lam,…

    + Lá, thân lúa làm rơm rạ, thức ăn trâu bò…

    + Là gương mặt nông thôn Việt, là tuổi thơ của những đứa trẻ thôn quê.

    Kết bài : Cây lúa vô cùng quan trọng trong đời sống người dân Việt Nam.

    Bài văn mẫu 1

    Nước Việt Nam ta hình thành và phát triển từ nền văn minh lúa nước. Khoảng 90% dân số nước ta sống chủ yếu nhờ vào nông nghiệp. Trong đó, cây lúa đóng vai trò chủ yếu. Bao nhiêu thế kỉ đã qua, con người và cây lúa gắn bó với nhau keo sơn bền chặt. Mồ hôi con người rơi đổ xuống từng luống cày mới lật, thấm vào từng tấc đất cho cây lúa ươm mầm vươn lên mượt mà xanh tốt. Đi từ Bắc chí Nam, dọc theo đường quốc lộ hay ven những rặng núi, những dòng sông, bao giờ ta cũng cũng thấy những cánh đồng lúa xanh tận chân trời hoặc vàng thắm một màu trù phú. Cây lúa là người bạn của con người, là biểu tượng của sự no ấm phồn vinh của đất nước.

    Lúa thuộc loài thân thảo. Thân cây lúa tròn chia thành từng lóng và mắt. Lóng thường rỗng ruột, chỉ có phần mắt là đặc. Lá lúa dài và mỏng, mặt lá nhám, gân lá chạy song song. Rễ của cây lúa không dài lắm, thường mọc với nhau thành chùm bám chặt vào bùn để giữ cho thân lúa thẳng đồng thời hút dưỡng chất nuôi thân cây. Hoa lúa nhỏ nhắn, mọc thành nhiều chùm dài. Điều đặc biệt của cây lúa mà ít ai để ý đến. Hoa lúa cũng chính là quả lúa đồng thời trở thành hạt lúa sau này. Hoa lúa không có cánh hoa, chỉ có những vảy nhỏ bao bọc lấy nhuỵ ở bên trong. Lúc hoa lúa nở, đầu nhuỵ thò ra ngoài, có một chùm lông để quét hạt phấn. Hoa lúa tự thụ phấn rồi biến thành quả. Chất tinh bột trong quả khô đặc lại dần và biến thành hạt lúa chín vàng.

    Muốn lấy hạt gạo bên trong, con người phải trải qua nhiều công đoạn: gặt lúa, trục lúa về, phơi cho hạt thật khô. Sau đó đổ lúa vào trong cối, dùng chày mà giã liên tục cho lớp vỏ trấu bong tróc ra. Kế tiếp phải sàng sảy để lựa ra hạt gao chắc mẩy… Sau này, máy móc đã thay dần cho sức người, năng suất tăng dần theo thời gian, nhưng ở những vùng cao người ta vẫn dùng chày để giã gạo. Tiếng chày “cụp, cum” văng vẳng trong đêm gợi lên một cuộc sống lao động thanh bình mang đậm bản sắc riêng của người dân Việt.

    Cây lúa ở nước ta có rất nhiều giống nhiều loại. Tuỳ vào đặc điểm địa lý từng vùng, từng miền mà người ta trồng những giống lúa khác nhau. Ở miền Bắc với những đồng chiêm trũng, người ta chọn lúa chiêm thích hợp với nước sâu để cấy trồng, miền Nam đồng cạn phù sa màu mỡ hợp với những giống lúa cạn. Ở những vùng lũ như Tân Châu, Châu Đốc, Mộc Hoá, Long Xuyên người ta chọn loại lúa “trời” hay còn gọi là lúa nổi, lúa nước để gieo trồng. Gọi là lúa “trời” vì việc trồng tỉa người nông dân cứ phó mặc cho trời. Gieo hạt lúa xuống đồng, gặp mùa nước nổi, cây lúa cứ mọc cao dần lên theo con nước. Đến khi nước rút, thân lúa dài nằm ngã rạp trên đồng và bắt đầu trổ hạt. Người dân cứ việc vác liềm ra cắt lúa đem về.

    Ngày nay, ngành nghiên cứu nuôi trồng phát triển đã cho ra đời nhiều loại lúa ngắn ngày có năng suất cao như NN8, Thần Nông 8, ÔM, IR66…

    Theo điều kiện khí hậu và thời tiết nước ta, cây lúa thường được trồng vào các vụ mùa sau: miền Bắc trồng vào các vụ lúa chiêm, lúa xuân, miền Nam chủ yếu là lúa Đông Xuân và lúa Hè Thu. Các loại lúa ngắn ngày thường không bị ảnh hưởng bởi vụ mùa.

    Cây lúa đã mang đến cho dân ta hai đặc sản quí từ lâu đời. Đó là bánh chưng, bánh giầy và cốm. Bánh chưng bánh giầy xuất hiện từ thời Hùng Vương, biểu tượng cho trời và đất. Người Việt ta dùng hai thứ bánh này dâng cúng tổ tiên và trời đất vào những dịp lễ tết. Nó trở thành đặc sản truyền thống của dân tộc Việt.

    Cốm, một đặc sản nữa của cây lúa. Chỉ những người chuyên môn mới định được lúc gặt thóc nếp mang về. Qua nhiều chế biến, những cách thức làm có tính gia truyền từ đời này sang đời khác đã biến hạt thóc nếp thành cốm dẻo, thơm và ngon. Nhắc đến cốm, không đâu ngon bằng cốm làng Vòng ở gần Hà Nội.

    Tóm lại, cây lúa có tầm quan trọng rất lớn đối với nền kinh tế nước nhà chủ yếu còn dựa vào nông nghiệp. Cây lúa bao đời là bạn thân thiết của người nông dân Việt Nam, không chỉ về mặt vật chất mà còn cả về mặt tinh thần. Mãi mãi vẫn còn nghe mọi người nhắc nhau những vần điệu ca dao thấp thoáng bóng hình con trâu và cây lúa:

    Bao giờ cây lúa còn bông

    Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

    Bài văn mẫu 2

    Việt Nam đất nước ta ơi

    Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn.

    Lúa là loại cây lương thực truyền thống của người nông dân Việt Nam, đi dọc khắp mọi miền Tổ Quốc không khó để bắt gặp hình ảnh những cánh đồng lúa rộng mênh mông thẳng cánh cò bay bởi đất nước ta là đất nước có một nền văn minh lúa nước.

    Trong khi ở Châu Âu là cây lúa mì thì ở Châu Á lúa nước là cây lương thực chính. Ở Việt Nam, từ thời Hùng Vương nhân dân ta đã biết trồng lúa. Từ đó, nghề trồng lúa được truyền từ đời này qua đời khác và trở thành ngành nông nghiệp chính của nước ta.

    Lúa thuộc loài thân thảo. Lá lúa dài trông giống như lưỡi kiếm, gân lá chạy song song với phiến lá, phiến lá mỏng và có nhiều lông ráp. Lúa là loại cây có rễ chùm, bám sâu xuống lòng đất bùn để giữ cho cây khỏi đổ và hút dưỡng chất nuôi cây. Khi đến “thì” lúa sẽ lên đòng rồi nở ra hoa lúa. Hoa lúa tự thụ phấn thành những hạt thóc. Khi chín lúa sẽ từ màu xanh ngả sang màu vàng, đến lúc này người nông dân đã có thể thu hoạch những bông lúa trĩu nặng mà họ dày công chăm sóc.

    Để trồng được ra cây lúa, người nông dân phải làm rất nhiều công đoạn. Đầu tiên là chọn giống, rồi ngâm ủ với nước cho giống nảy mầm. Sau đó, người nông dân sẽ đem ra ngoài ruộng gieo thành từng luống mạ. Chờ mạ lớn được khoảng 20 – 25cm, sẽ được nhổ lên để cấy thành hàng. Từ đó cây lúa sẽ lớn, đẻ nhánh, làm đòng, trổ bông và kết thành những hạt thóc căng mẩy. Ở miền Bắc, người nông dân thường hay trồng lúa theo 2 vụ là vụ chiêm vào những ngày đầu xuân năm mới và vụ mùa trong cái nắng của những ngày hè, còn ở miền Nam 1 năm có 3 vụ lúa.

    Lúa được phân ra làm hai loại chính là lúa nếp và lúa tẻ, trong hai loại đó lại có rất nhiều loại lúa khác nhau. Từ thời Hùng Vương, gạo nếp đã được Lang Liêu dùng để làm bánh chưng, bánh giày dâng vua Hùng. Ngoài ra gạo nếp còn được làm thành rất nhiều món ăn ngon thuyền thống khác như gạo nếp non dùng để làm cốm đã được nhà văn Thạch Lam giới thiệu trong bài “Một thứ quà của lúa non: Cốm”, hay còn có những gói xôi, bánh tẻ, bánh đúc,… mang những hương vị hết sức quen thuộc. Nếu gạo nếp được dùng làm ra nhiều loại bánh thì gạo tẻ được sử dụng hàng ngày, đó chính là những bát cơm trắng thơm, dẻo. Có thể nói lúa làm phong phú thêm bản sắc ẩm thực văn hóa Việt Nam

    Lúa không chỉ cho ra những hạt gạo dinh dưỡng mà thân lúa cũng được sử dụng cho gia súc ăn hoặc phơi khô dùng làm chất đốt.

    Ngày nay, Việt Nam ta đã nhập khẩu được các loại lương thực khác nhưng lúa vẫn là cây lương thực chính của nước ta. Không chỉ là loài cây lương thực dinh dưỡng mà lúa còn gắn liền với hình ảnh làng quê, hình ảnh người nông dân Việt Nam “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” để tạo ra “hạt ngọc” của thiên nhiên.

    Bài văn mẫu 3

    Ông cha ta xưa đã từng có câu:

    Trời mưa cho lúa thêm bông

    Cho đồng thêm cá, cho sông thêm thuyền

    Là một nước có nền văn hóa nông nghiệp, nên lúa nước là một loài cây vô cùng quan trọng đối với nhân dân ta. Cây lúa gắn bó, gần gũi với đời sống nhân dân hàng ngày, nhưng không phải ai cũng hiểu hết về giá trị, ý nghĩa của nó.

    Cùng với ngô, sắn, khoai tây và lúa mì, lúa là một trong năm loại lương thực chính của thế giới. Có nhiều giả thuyết cho rằng, lúa châu Á có nguồn gốc tổ tiên là loài cây hoang dại, có nguồn gốc từ khu vực Đông Nam Á. Bởi vậy, Việt Nam ta chính là một trong những nơi đầu tiên có lúa trên trái đất. Ngoài ra giống lúa châu Phi, được thuần hóa từ 3500 năm trước công nguyên. Còn riêng cây lúa đối với Việt Nam đã xuất hiện từ thời văn hóa Phùng Nguyên khoảng 3500 – 2500 TCN, vào khoảng thời gian này người ta đã tìm thấy công cụ trồng lúa nước. Đến thời đại Văn Lang Âu Lạc thì nền nông nghiệp lúa nước của ta đã phát triển rực rỡ.

    Lúa là loài thực vật nhóm cỏ, đã được con người thuần dưỡng hàng nghìn năm nay. Lúa có độ cao từ từ 60 – 80 cm, thân từ 2 – 3cm, lá lúa dẹt, mỏng và dài. Ở mỗi giai đoạn sinh trưởng khác nhau lúa sẽ có màu sắc lá thay đổi. Lúa là loại dễ chùm, thường được trồng ở những vùng nước, ngoài ra cũng có loại lúa trồng cạn, nhưng loại này ít phổ biến hơn. Lúa cần ngập một phần trong nước để đảm bảo luôn có lượng nước cần thiết cho chúng phát triển và hạn chế sự phát triển các loài cỏ dại. Ngoài ra ở một số vùng nước cao cây lúa có thể cao từ 1m đến 1m8, loại này được gọi là lúa nổi, thân chúng dài như vậy để tránh úng nước, dẫn đến thối, hỏng. Lúa không cần các loài côn trùng, hay các tác nhân như gió để thụ phấn, mà chúng là loại tự thụ phấn, sau khi thụ phấn phôi nhũ phát triển thành hạt, chất tinh bột từ dạng lỏng, qua thời gian sẽ đông đặc lại và có màu trắng sữa, khi đó chúng đã trở thành hạt gạo, chờ ngày chín để gặt đem về. Lúa được chia làm hai loại: lúa nếp và lúa tẻ. Lúa nếp có mùi thơm hơn, thường để đồ xôi, làm bánh; còn lúa tẻ là cây lương thực chính hàng ngày của người dân Việt Nam. Trong lúa tẻ lại được chia làm nhiều tiểu loại, với từng đặc trưng riêng.

    Cây lúa có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống con người. Là loại lương thực phổ biến ở các nước châu Á, duy trì sự sống, sinh trưởng của con người. Dù trong những bữa cơm đơn sơ, đạm bạc hay cầu kì đắt đỏ cũng không thể thiếu đi bát cơm trắng, thơm, dẻo ngọt. Không chỉ vậy, lúa con là loại lương thực xuất khẩu chủ lực của một số nước như: Thái Lan, Việt Nam,… đem lại nguồn ngoại tệ lớn. Cây lúa không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng nhu cầu ăn uống của con người, mà trở thành mặt hàng xuất khẩu, đem lại lợi ích kinh tế cho người nông dân, cho đất nước.

    Không chỉ vậy, mọi bộn phận của lúa đều được tận dụng, thân của chúng sau khi gặt về cho trâu bò ăn hoặc làm chất đốt. Vỏ trấu dùng làm chất đốt thay củi. Như vậy, có thể thấy, ở nông thôn cây lúa có vai trò cực kì quan trọng.

    Không chỉ đem lại cho con người cuộc sống no ấm, đầy đủ mà cây lúa còn là biểu tượng cho nền văn hóa Việt Nam – văn minh lúa nước. Là biểu tượng cho người nông dân cần cù, mộc mạc, hiền làng chăm chỉ:

    Cày đồng đang buổi ban trưa

    Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

    Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm mô hạt đắng cay muôn phần

    Ngoài ra, sự phát triển của cây lúa không chỉ có ý nghĩa đối với đời sống kinh tế, xã hội mà nó còn có giá trị lịch sử. Bởi sự phát triển của cây lúa gắn liền với quá trình lịch sử nước ta, in những dấu ấn không thể phai mờ trong các thời kì lịch sử đầy thăng trầm. Chắc hẳn chúng ta vẫn không quên sự tích Bánh chưng bánh giày với chàng Lang Liêu cần cù, chịu khó được thần giúp đỡ tạo nên hai thứ bánh: bánh chưng – tượng trưng cho đất, và bánh giầy tượng trưng cho trời. Chỉ một hạt gạo bé nhỏ nhưng chứa đựng biết bao ý nghĩa, giá trị đối với đời sống tâm linh Việt Nam.

    Lúa là loại lương thực phổ biến không chỉ của các nước châu Á mà đã trở thành lương thực của quan trọng của toàn thế giới. Cây lúa ngày càng khẳng định vững chắc hơn nữa, vị trí, vai trò của mình. Trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển, diện tích đất nông nghiệp, trong đó có diện tích đất trồng lúa bị thu hẹp, cần có những biện pháp tích cực để đảm bảo diện tích trồng lúa, bởi đó cũng chính là cách đảm bảo an ninh lương thực.

    Bài văn mẫu 4

    Từ ngàn đời nay,cây lúa đã gắn bó với con người, làng quê Việt nam. Và đồng thời cũng trở thành tên gọi cho một nền văn minh – nền văn minh lúa nước. Cây lúa không chỉ mang lại sự no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hóa và tinh thần.hạt lúa và người nông dân cần cù, mộc mạc là mảng màu không thể thiếu trong bức tranh của đồng quê Việt nam hiện nay và mãi mãi về sau.

    Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới.

    Đối với người Việt chúng ta cây lúa không chỉ là một loại cây lương thực quý mà còn là một biếu tượng trong văn chương ẩn dưới “bát cơm”, “hạt gạo”. Việt Nam, một nước có nền kinh tế nông nghiệp từ hàng ngàn năm nay. Từ một nước thiếu lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh nhưng hiện nay, nền nông nghiệp của nước ta không chỉ sản xuất ra đủ một lượng lớn lương thực đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế giới. Trong đó ngành trồng lúa ở nước ta là một trong những ngành ngành sản xuất lương thực vô cùng quan trọng và đạt được những thành tựu đáng kể, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.

    Đối với người Việt nói riêng hay phần lớn dân Á châu nói chung, cây lúa (tên khoa học là Oryza sativa) và hạt gạo là một loại thực phẩm hết sức gần gũi và đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong dinh dưỡng. Ngay từ khi còn trong lòng mẹ, chúng ta đã làm quen với cơm gạo, và lớn lên theo cây lúa cùng hạt gạo. Với bản sắc văn hóa nông nghiệp, cây lúa và hạt gạo còn là một biểu tượng của cuộc sống. Ca dao, khẩu ngữ chúng ta có câu “Người sống về gạo, cá bạo về nước”, hay “Em xinh là xinh như cây lúa”, v.v..

    Qua hàng nghìn năm lịch sử, lúa đã là cây lương thực chủ yếu nuôi sống các thế hệ người Việt cho đến nay. Trong đời sống tinh thần của con người, cây lúa cũng gắn bó thân thiết vô cùng. Điều đó được thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ hàng ngày, trong cách nói, cách đặt tên, gọi tên từ cửa miệng của những người hai sương một nắng.

    Bắt đầu từ lúc ném hột mộng xuống đồng. Thông thường ném buổi sáng thì buổi chiều mộng “ngồi” được, tức là rễ đã bám được vào đất và mầm nhọn đã xuôi hướng lên trời. Bác nông dân hoàn toàn có thể yên tâm vì nó đã sống được trong môi trường mới, đích thực của nó.

    Qua hôm sau, mầm nhú lên cao hơn, bắt đầu có chút xanh xanh, người ta bảo là mạ đã “xanh đầu”. Mạ cũng có “gan”. “Gan mạ nằm ở thân non, dễ bị gãy nát. Nhổ không khéo, nhỡ để giập “gan” thì dảnh mạ sẽ “chết”.

    Cấy xuống được vài ba hôm thì lúa đâm rễ mới, gọi là bén chân hay “đứng chân”. Cũng như chữ “ngồi” ở trên, chữ “đứng chân” rất chính xác, rất hình tượng, vì chỉ vài ba hôm trước do mới cấy, mọi cây lúa đều ngả nghiêng, xiêu vẹo, thậm chí có cây còn bị nổi trên mặt nước nữa. Giờ đây đã “đứng chân” được, tức là cũng giống như người ta, có một tư thế đứng chân vững vàng, đã chắc chắn bám trên mặt đất.

    Khác với lúc nảy mầm, cây lúa sinh sôi bằng cách “đẻ nhánh”. Nhánh “con” nhánh “cái” thi nhau mọc ra, tần vần thành khóm. Vào khoảng tháng hai âm lịch, khắp cánh đồng mơn mởn màu xanh. Dáng cây thon thả, mềm mại, sắc lá non tơ đầy sức sống gợi cái gì đấy tươi trẻ, xinh xắn, dịu dàng. Đó chính là lúc cây lúa “đang thì con gái”, thời đẹp nhất của đời lúa, đời người. Gặp hôm trời quang mây tạnh, đứng ở đầu làng mà trông, cánh đồng trải ra bát ngát, đẹp tựa bức tranh.

    Hết thời kỳ xuân xanh, lúa chuyển sang giai đoạn “tròn mình”, “đứng cái” rồi “ôm đòng”. Đòng lúa to nhanh, nắng mưa rồi mỗi ngày mỗi khác. “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ / Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”. Nếu mưa thuận gió hoà chỉ mươi hôm là lúa trỗ xong. Nhưng chẳng may gặp kỳ khô hạn thì đòng không trỗ lên được, người ta bảo bị “nghẹn”. “Nghẹn” là cực lắm rồi, là có cái gì nó vương vướng, như uẩn ức trong lòng…

    Ngoài ra cũng có thể bị “ngã”, bị “nằm” lúc gặp gió lớn mưa to. Ông bà ta sợ nhất cảnh này vì mấy tháng trông cây đã sắp đến ngày hái quả. Nếu chẳng may bị “ngã” non thì hột thóc sẽ lép lửng, coi như hỏng ăn. Còn lúa “nằm” dưới nước, ngâm độ vài ngày thì hột thóc trương lên, nứt nanh và nảy mầm ngay trên bông. Mầm nhú trắng trông xót ruột. Xót ruột về khoe vui với nhau, thóc nhà tôi “nhe răng cười” ông ạ!

    Người nông dân xưa nay vốn mộc mạc, chất phác. Chẳng phải họ văn vẻ gì đâu. Chỉ vì gần gũi quá, thân quen quá. Ban ngày vác cuốc ra đồng thăm lúa. Ban đêm giấc mơ toàn thấy những cây lúa. Lúa là đói no, là người bạn có thể sẻ chia nỗi niềm, buồn vui tâm sự. Trải qua chiều dài các thế hệ, đời lúa lặn vào đời người. Và rồi, đời người lại chan hoà, gửi gắm vào đời lúa thông qua những từ ngữ nôm na, những tên gọi sinh động kể trên.

    Cây lúa gần gũi với người nông dân cũng như bờ tre, khóm chuối. Bởi vậy thấm đẫm tình người và hồn quê, càng nắng mưa, sương gió, càng nồng nàn hoà quyện thân thương.

    Nông nghiệp Việt Nam vốn mang dáng dấp một nước -nền công nghiệp lúa nước bao đời nay cho nên cây lúa gắn bó ,gần gũi với người Việt, hồn Việt là lẽ dĩ nhiên.

    Bài văn mẫu 5

    Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới. Đối với người Việt chúng ta cây lúa không chỉ là một loại cây lương thực quý mà còn là một biếu tượng trong văn chương ẩn dưới “bát cơm”,”hạt gạo”.

    Việt Nam, một nước có nền kinh tế nông nghiệp từ hàng ngàn năm nay. Từ một nước thiếu lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh nhưng hiện nay, nền nông nghiệp của nước ta không chỉ sản xuất ra đủ một lượng lớn lương thực đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế giới. Trong đó ngành trồng lúa ở nước ta là một trong những ngành ngành sản xuất lương thực vô cùng quan trọng và đạt được những thành tựu đáng kể, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.

    Đối với người Việt chúng ta, hay phần lớn dân Á châu nói chung, cây lúa (tên khoa học là Oryza sativa) và hạt gạo là một loại thực phẩm hết sức gần gũi và đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong dinh dưỡng. Ngay từ khi còn trong lòng mẹ, chúng ta đã làm quen với cơm gạo, và lớn lên theo cây lúa cùng hạt gạo. Với bản sắc văn hóa nông nghiệp, cây lúa và hạt gạo còn là một biểu tượng của cuộc sống. Ca dao, khẩu ngữ chúng ta có câu “Người sống về gạo, cá bạo về nước”, hay “Em xinh là xinh như cây lúa”, v.v..

    Qua hàng nghìn năm lịch sử, lúa đã là cây lương thực chủ yếu nuôi sống các thế hệ người Việt cho đến nay. Trong đời sống tinh thần của con người, cây lúa cũng gắn bó thân thiết vô cùng. Điều đó được thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ hàng ngày, trong cách nói, cách đặt tên, gọi tên từ cửa miệng của những người hai sương một nắng.

    Bắt đầu từ lúc ném hột mộng xuống đồng. Thông thường ném buổi sáng thì buổi chiều mộng “ngồi” được, tức là rễ đã bám được vào đất và mầm nhọn đã xuôi hướng lên trời. Bác nông dân hoàn toàn có thể yên tâm vì nó đã sống được trong môi trường mới, đích thực của nó.

    Qua hôm sau, mầm nhú lên cao hơn, bắt đầu có chút xanh xanh, người ta bảo là mạ đã “xanh đầu”. Mạ cũng có “gan”. “Gan mạ nằm ở thân non, dễ bị gãy nát. Nhổ không khéo, nhỡ để giập “gan” thì dảnh mạ sẽ “chết”.

    Cấy xuống được vài ba hôm thì lúa đâm rễ mới, gọi là bén chân hay “đứng chân”. Cũng như chữ “ngồi” ở trên, chữ “đứng chân” rất chính xác, rất hình tượng, vì chỉ vài ba hôm trước do mới cấy, mọi cây lúa đều ngả nghiêng, xiêu vẹo, thậm chí có cây còn bị nổi trên mặt nước nữa. Giờ đây đã “đứng chân” được, tức là cũng giống như người ta, có một tư thế đứng chân vững vàng, đã chắc chắn bám trên mặt đất.

    Khác với lúc nảy mầm, cây lúa sinh sôi bằng cách “đẻ nhánh”. Nhánh “con” nhánh “cái” thi nhau mọc ra, tần vần thành khóm. Vào khoảng tháng hai âm lịch, khắp cánh đồng mơn mởn màu xanh. Dáng cây thon thả, mềm mại, sắc lá non tơ đầy sức sống gợi cái gì đấy tươi trẻ, xinh xắn, dịu dàng. Đó chính là lúc cây lúa “đang thì con gái”, thời đẹp nhất của đời lúa, đời người. Gặp hôm trời quang mây tạnh, đứng ở đầu làng mà trông, cánh đồng trải ra bát ngát, đẹp tựa bức tranh.

    Hết thời kỳ xuân xanh, lúa chuyển sang giai đoạn “tròn mình”, “đứng cái” rồi “ôm đòng”. Đòng lúa to nhanh, nắng mưa rồi mỗi ngày mỗi khác. “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ/Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”. Nếu mưa thuận gió hoà chỉ mươi hôm là lúa trỗ xong. Nhưng chẳng may gặp kỳ khô hạn thì đòng không trỗ lên được, người ta bảo bị “nghẹn”. “Nghẹn” là cực lắm rồi, là có cái gì nó vương vướng, như uẩn ức trong lòng…

    Ngoài ra cũng có thể bị “ngã”, bị “nằm” lúc gặp gió lớn mưa to. Ông bà ta sợ nhất cảnh này vì mấy tháng trông cây đã sắp đến ngày hái quả. Nếu chẳng may bị “ngã” non thì hột thóc sẽ lép lửng, coi như hỏng ăn. Còn lúa “nằm” dưới nước, ngâm độ vài ngày thì hột thóc trương lên, nứt nanh và nảy mầm ngay trên bông. Mầm nhú trắng trông xót ruột. Xót ruột về khoe vui với nhau, thóc nhà tôi “nhe răng cười” ông ạ!

    Người nông dân xưa nay vốn mộc mạc, chất phác. Chẳng phải họ văn vẻ gì đâu. Chỉ vì gần gũi quá, thân quen quá. Ban ngày vác cuốc ra đồng thăm lúa. Ban đêm giấc mơ toàn thấy những cây lúa. Lúa là đói no, là người bạn có thể sẻ chia nỗi niềm, buồn vui tâm sự. Trải qua chiều dài các thế hệ, đời lúa lặn vào đời người. Và rồi, đời người lại chan hoà, gửi gắm vào đời lúa thông qua những từ ngữ nôm na, những tên gọi sinh động kể trên.

    Cây lúa gần gũi với người nông dân cũng như bờ tre, khóm chuối. Bởi vậy thấm đẫm tình người và hồn quê, càng nắng mưa, sương gió, càng nồng nàn hoà quyện thân thương.

    Nông nghiệp Việt Nam vốn mang dáng dấp một nước – nền công nghiệp lúa nước bao đời nay cho nên cây lúa gắn bó ,gần gũi với người Việt,hồn Việt là lẽ dĩ nhiên.

    Bài văn mẫu 6

    Việt Nam đất nước ta ơi

    Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

    Đất nước Việt Nam – cái nôi của nền văn minh lúa nước, bên mỗi xóm thôn bản làng, những cánh đồng xanh thẳm trải dài tít tận chân mây như dấu hiệu cho mọi du khách nhận ra đất nước nông nghiệp với sự gắn bó của con người cùng cây lúa xanh tươi.

    Lúa là cách gọi thông thường không biết tự bao giờ trong từ điển Việt Nam, để chỉ loài cây lương thực chính trong ươm mầm từ những hạt thóc vàng căng mẩy. Hạt thóc ngâm nước ủ lên mầm gieo xuống lớp bùn sếch sang trở thành những cây mạ xanh non. Sau khi làm đất cày bừa kĩ, mạ non được bó lại như thằng bé lên ba con còn theo mẹ ra đồng và được cắm xuống bùn sâu qua bàn tay chăm sóc của người nông dân từng ngày, từng giờ lên xanh tươi tốt thành những ruộng lúa mênh mông bờ nối bờ thăm thẳm.

    Lúa được phát triển theo ba giai đoạn chính: Giai đoạn mẹ non, mảnh mai yếu ớt như em bé sơ sinh run rẩy trước nắng mai hay gió bão lạnh lẽo. Những ngày mùa đông buốt giá, gieo mạ rồi để chuẩn bị cho vụ chiêm xuân, chẳng có người nông dân nào không xuýt xoa thương cho đám mạ con phải chịu cảnh rét buốt, thế là bao túi ni lông che kín bốn xung quanh bờ thửa ngăn cho cái rét không làm lạnh chân mạ.

    Nắng hửng trời quan, bà già mùa đông mệt mỏi đi nghỉ ngơi nhường chỗ cho chị mùa xuân nhảy múa ca hát cùng lũ chim trên cành, bà con xã viên tưng bừng phấn khởi sau cái tết đón năm mới cùng với mạ non hồi sức vẫn kiên nhẫn vượt qua rét mướt, đã nô nức ra đồng làm việc. Họ đố nhau về bó mạ:

    Vừa bằng thằng bé lên ba

    Thắng lưng con cón chạy ra ngoài đồng

    Thế là người cày người cấy, trâu bò làm bạn với nhà nông, chỉ trong vòng một tuần những cánh đồng đất ải trắng trước đây đã thành những ruộng lúa xanh non. Lúa cứ thế lớn lên dưới bàn tay chăm sóc nâng niu của các bác nông dân, trưởng thành đến thì con gái, đẻ nhánh sinh sôi thành những khóm to chật ruộng. Rì rào rì rào… lúa thì thầm ào ào trong gió như kể chuyện ngàn xưa. Những chiếc lá lúa dài giống hình lưỡi lê nhưng yểu điệu duyên dáng như trăm ngàn cánh tay đùa giỡn với gió, sóng lúa nhấp nhô giữa buổi chiều hạ hay nắng sớm mùa xuân gợi bức tranh đồng quê thi vị mượt mà. Đó là đề tài quen thuộc của thơ và nhạc du dương:

    Việt Nam đất nước quê hương tôi

    Mía ngọt chè xanh qua những nương đồi

    Đồng xanh lúa rập rờn biển cả…

    Chẳng mấy mốc ba tháng nông nhàn đã qua, lúa vào đòng làm hạt, mùi thơm của lúa nếp, của gạo mới thoang thoảng đâu đây. Khắp cánh đồng người ta chỉ thấy một màu vàng rực tươi rói, những bông lúa hạt đều tăm tắp uốn cong như lưỡi câu báo hiệu một mùa vàng bội thu. Ngày mùa cả làng quê toàn màu vàng, ngoài đồng lúa vàng xuộm, dưới sân rơm và thóc vàng ròn, chú cún vàng nhảy nhót lăng xăng như chia sẻ cùng chủ. Ai mà chẳng vui khi thành quả lao động của mình đến ngày được gặt hái.

    Cứ thế một hay hai vụ lúa trở thành cây lương thực chính của người nông dân. Vụ chiêm xuân từ tháng giêng đến tháng 4, tháng 5; vụ mùa từ tháng 6 đến tháng 9, tháng 10. Cây lúa đã đem đến cho đất nước một nguồn thu lớn, mỗi hécta cho ba tấn thóc, không chỉ là cung cấp lương thực đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong nước mà nó còn là nguồn xuất khẩu gạo. Chúng ta tự hào có những cánh đồng lúa thóc quê hương như cánh đồng năm tấn ở Thái Bình, Đồng Tháp Mười ở đồng bằng Sông Cửu Long.

    Năm tháng trôi qua bước sang thế kỉ XXI, Việt Nam đi dần vào xu thế công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng hình ảnh cây lúa và giá trị tiềm năng của nó vẫn là vị trí số một trong quá trình phát triển đất nước chẳng thế mà nó được lấy làm biểu tượng của các nước trong khối ASEAN như một báu vật quý.

    Trả lời câu 2 soạn văn bài Viết bài tập làm văn số 1 – Văn thuyết minh trang 42

    Dàn ý tương tự Đề 1. Bài văn mẫu

    Cây tre gắn bó với người nông dân Việt Nam từ hàng nghìn năm rồi. Hình ảnh làng quê Việt Nam từ xưa gắn liền với luỹ tre làng – những bụi tre gai ken dày chắn gió bão thiên tai và che chắn cho mỗi làng Việt trước trộm đạo, giặc cướp và kẻ xâm lược – nhân tai.

    Cây tre đã đi vào văn hoá Việt Nam như một hình ảnh bình dị mà đầy sức sống, dẻo dai chống chịu thiên tai, gió bão và giặc ngoại xâm. Thế nhưng những năm gần đây, có một thực tế đáng buồn là loại cây đa dạng, thiết thực trong mọi mặt đời sống này đã bị coi nhẹ, bị chặt phá, bị thoái hoá… bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.

    Về tính năng, không thể kể hết tính đắc dụng của tre đối với người dân Việt Nam: làm nhà cửa (vì kèo, lanh tô, phên liếp, vách tường…), làm vô số vật dụng: cái cần câu, cái vó cất tôm cất tép, cái đó, bè mảng, cái cầu ao và cả những cái cầu bắc qua những con mương, con kênh nhỏ; làm chông, làm tên bắn chống giặt ngoại xâm…

    Tre từng được sử dụng phổ biến để làm đồ gia dụng: bàn ghế, giường chõng, các loại vật dụng sinh hoạt từ cái đòn gánh và đôi quang (thứ vật liệu đa dụng để gánh mọi thứ ra đồng và gánh lúa từ đồng về nhà, chưa kể còn được dùng như một thứ “tủ lạnh” thông thoáng để bảo quản thức ăn và chống chó, mèo, chuột hữu hiệu) đến cái khung cửi, cái xa quay sợi, cái rổ, cái rá, cái dần, cái sàng gạo, cái rế đựng nồi, cái gáo múc nước, cái bừa, cái cào, cái ách khoác lên cổ con trâu cày đến con dao cật nứa cắt rốn lúc chào đời, cái quạt nan, đôi đũa, cái tăm… nhiều thứ vật dụng làm bằng tre còn được dùng đến ngày nay.

    Đấy là còn chưa nói tới các loại vật dụng của nhà nông, cũng như nhiều loại vũ khí thời xưa của cha ông ta đều có phần cán, phần tay cầm làm bằng một loại cây nào đó thuộc họ tre. Cây gậy tầm vông thời đánh Pháp xâm lược là một chứng tích đã đi vào lịch sử. Cây nêu dựng lên trước cửa nhà vào dịp năm mới thời xưa để trừ ma quỷ, cái ống đựng bút và quản bút lông của các nhà nho mà những năm gần đây về nơi thôn dã ta còn thấy, đến những cánh diều mà hôm nay con trẻ còn chơi… tất cả đều làm từ tre. Vật dụng ngày càng có vẻ thuận tiện hơn, có vẻ đẹp đẽ hơn đã đẩy chúng ta xa rời thứ cây nhiều lợi ích như thế. Thậm chí có một thời ấu trĩ, người ta đã chặt đi những bụi tre gai quanh làng với lý do là chúng làm đất bạc màu.Những rặng tre rợp bóng ở đường làng, nghiêng xuống nơi bờ ao không còn mấy nữa. Nhiều người quên mất rằng bao đời tổ tiên người Việt khai phá đồng bằng Bắc Bộ được như ngày hôm nay là do đắp đê chống lụt, trị thuỷ. Những triền đê được giữ vững trước nước lụt, bão tố, ngoài phần công sức của người Việt xưa bao đời bồi đắp, thì còn có phần công sức của những bụi tre có tác dụng giữ đất, chống xói lở.

    Từ bao đời nay, cây tre đã có mặt hầu khắp các nẻo đường đất nước và gắn bó thủy chung với cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đặc biệt trong tâm thức người Việt, cây tre chiếm vị trí sâu sắc và lâu bền hơn cả_ được xem như là biểu tượng của người Việt đất Việt,…Từ hồi bé tẹo tôi vẫn nhớ bài “Cây tre VN: Nước việt nam xanh muôn vàn cây lá khác nhau,cây nào cũng đẹp,cây nào cũng quý,nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa trúc mai vầu mấy chục loại khác nhau,nhưng cùng một mần xanh mọc thẳng…”

    “Tre xanh, xanh tự bao giờ

    Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh…”

    Cây tre, cây nứa, cây vầu, trúc,… và nhiều loại tre bương khác là loại cây thuộc họ Lúa. Tre có thân rể ngâm, sống lâu mọc ra những chồi gọi là măng. Thân rạ hóa mộc có thể cao đến 10 -18m , ít phân nhánh. Mỗi cây có khoảng 30 đốt,… Cả đời cây tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa”.

    Cùng với cây đa, bến nước, sân đình_một hinh ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt cổ truyền, thì những bụi tre làng từ hàng ngàn năm đã có sự cộng sinh, cộng cảm đối với người Việt. Tre hiến dâng bóng mát cho đời và sẳn sàng hy sinh tất cả. Từ măng tre ngọt bùi đến bẹ tre làm nón, từ thân tre cành lá đến gốc tre đều góp phần xây dựng cuộc sống.

    Cây tre đã gắn bó với bao thăng trầm của lịch sử nước nhà. “…Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre và đánh giặc…”. Không phài ngẫu nhiên sự tích loại tre thân vàng được người Việt gắn với truyền thuyết về Thánh Gióng_ hình ảnh Thánh Gióng nhổ bụi tre đằng ngà đánh đuổi giặc Àn xâm lược đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh chiến thắng thần kỳ, đột biến của dân tộc ta đối với những kẻ thù xâm lược lớn mạnh.

    Vốn gần gũi và thân thiết với dân tộc, cây tre đã từng là ngưồn cảm hứng vô tận trong văn học, nghệ thuật. Từ những câu chuyện cổ tích ( Nàng Ưt ống tre, cây tre trăm đốt,…) đến các ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre. Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng viết về tre : “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới và bài thơ cùng tên của thi sỹ Nguyễn Duy,… Tre còn góp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến hầu khắp cả nước. Và nó là một trong những chất liệu khá quan trọng trong việc tạo ra các nhạc khí dân tộc như : đàn tơ tưng, sáo, kèn,… Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê hương, lữ khách khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những nhịp cầu tre êm đềm… Hình ảnh của tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị mà chí khí.

    Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì tre ngày nay lại trở thành những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ cao được nhiều khách mước ngoài ưa thích, như những mặt hàng dùng để trang trí ở những nơi sang trọng : đèn chụp bằng tre, đĩa đan bằng tre.

    Có thể thấy rằng bản lĩnh bản sắc của người Việt và văn hóa Việt có những nét tương đồng với sức sống và vẻ đẹp của cây tre đất Việt. Tre không mọc riêng lẽ mà sống thành từng lũy tre, rặng tre. Đặc điểm cố kết này tượng trưng cho tính cộng đồng của người Việt. Tre có rễ ngấm sâu xuống lòng đất, sống lâu và sống ở mọi vùng đất. Chính vì thế tre được ví như là con người Việt Nam cần cù, siêng năng, bám đất bám làng : “Rễ sinh không ngại đất nghèo, Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù”. Tre cùng người Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc chiến tranh giữ nước_tre xứng đáng là hình ảnh biểu tượng cho tính kiên ường, bất khuất của người Việt Nam, là cái đẹp Việt Nam.

    Trả lời câu 3 soạn văn bài Viết bài tập làm văn số 1 – Văn thuyết minh trang 42

    Dàn ý

    Mở bài : Giới thiệu chó là loài động vật thông minh và tình cảm, là loài vật nuôi quen thuộc trong rất nhiều gia đình.

    Thân bài :

    – Đặc điểm, hình dáng : có 4 chân, lớp lông tùy từng loại mà có sự khác nhau, cơ thể chó dài và to, chiếc mõm dài thường hay lè lưỡi, đặc biệt chó có 3 mí mắt…

    – Đặc tính :

    + Quá trình phát triển : mang thai trong bụng mẹ 60 – 62 ngày, sau 4 tuần tuổi có thể có 28 chiếc răng.

    + Tai và mũi cực thính, nhưng thị giác lại rất kém. Chó có 2 lớp lông, răng sắc nhọn, chạy rất nhanh

    + Đặc điểm sống : các tập tính, thói quen.

    + Vô cùng trung thành với chủ.

    – Vai trò :

    + Trông giữ nhà cửa.

    + Thú cưng của con người.

    + Chó nghiệp vụ phục vụ điều tra.

    Kết bài : Đánh giá chung về loài chó.

    Bài văn mẫu – Con chó

    Trong các loài vật nuôi nhà thì chó được coi là một loại vật nuôi được tất cả mọi người lựa chọn để chông nhà. Con chó từ lâu đã trở thành một người bạn đồng hành của con người và hiện nay còn được sử dụng rất nhiều trong các ngành cảnh sát và bảo vệ an ninh. Một chú chó cưng trong nhà là một sự lựa chọn hàng đầu của hầu hết tất cả các gia đình.

    Chó là loài động vật nuôi đầu tiên được con người thuần hóa được cách đây 15. 000 năm vào cuối Kỷ băng hà Tổ tiên của loài chó là chó sói. Loài vật này được sử dụng để giữ nhà hoặc làm thú chơ Tổ tiên của loài chó bao gồm cả cáo và chó sói là một loài động vật có vú gần giống như chồn sinh sống ở các hốc cây vào khoảng 400 triệu năm trước. Còn loài chó như chúng ta thấy ngày nay được tiến hóa từ một loài chó nhỏ, màu xám. Vào cuối kỳ Băng hà, cách đây khoảng 40. 000 năm, chó sói và người chung sống với nhau thành nhóm săn mồi theo bầy. Chó sói và người thường tranh nhau con mồi, thậm chí còn giết nhau. Nhưng hẳn là chó sói đã bắt đầu tìm bới những mẩu thức ăn thừa do con người bỏ lại. Con người đã thuần hóa chó sói con và qua lai giống nhiều thế hệ, chó sói tiến hóa thành chó nhà.

    Thời gian mang thai trung bình của chó kéo dài khoảng 60 đến 62 ngày, có thể sớm hơn hoặc kéo dài đến 65 ngày. Lúc mới ra đời, chó con không có răng nhưng chỉ sau 4 tuần tuổi đã có thể có 28 chiếc răng. Bộ hàm đầy đủ của loài thú này là 42 chiếc.

    Mắt chó có đến 3 mí: một mí trên, một mí dưới và mí thứ ba nằm ở giữa, hơi sâu vào phía trong, giúp bảo vệ mắt khỏi bụi bẩn. Tai của chúng rất thính, chúng có thể nhận được 35. 000 âm rung chỉ trong một giây. Khứu giác của chúng cũng rất thính như tai. Người ta có thể ngửi thấy mùi thức ăn ở đâu đó trong nhà bếp nhưng chó thì có thể phân biệt từng gia vị trong nồi, thậm chí những chú chó săn còn tìm ra những cây nấm con nằm sâu trong rừng, vì chúng có thể phân biệt gần 220 triệu mùi. Não chó rất phát triển. Chó phân biệt vật thể đầu tiên là dựa vào chuyển động sau đó đến ánh sáng và cuối cùng là hình dạng. Vì thế thị giác của chúng rất kém,chỉ nhìn thấy 2 màu đen-trắng. Ta có thấy vào mùa đông lạnh, thỉnh thoảng chó hay lấy đuôi che cái mũi ướt át, đấy là cách chúng giữ ấm cho mình. Chó có đến 2 lớp lông: lớp bên ngoài như chúng ta đã thấy, còn lớp lót bên trong giúp cho chúng giữ ấm, khô ráo trong nhũng ngày mưa rét, thậm chí còn có nhiệm vụ “hạ nhiệt” trong những ngày oi bức.

    Người ta đã tính được rằng: chó 1 năm tuổi tương ứng với người 16 tuổi. Chó 2 tuổi tương ứng với người 24 tuổi, chó 3 năm tuổi – người 30, và sau đó cứ thêm một năm tuổi chó bằng 4 năm tuổi người. Ngày nay, nhu cầu nuôi chó cảnh đang được phát triển nên những giống chó nhỏ hoặc chó thông minh được nhiều người chơi quan tâm đến. Điều này cũng không có gì khó hiểu bởi chó là con vật thủy chung, gần gũi với con người. Chó giúp con người rất nhiều việc như trông nhà cửa, săn bắt, và được coi là con vật trung thành, tình nghĩa với con người.

    Chó là một loài động vật rất thông minh trong tất cả mọi công việc. Có thể nói chó là một loài động vật không bao giờ phản bội chúng ta và là một người bạn đồng hành của con người trong tất cả mọi hoàn cảnh.

    Trả lời câu 4 soạn văn bài Viết bài tập làm văn số 1 – Văn thuyết minh trang 42

    Dàn ý

    Mở bài : Giới thiệu về di tích, thắng cảnh đó và nét đặc sắc mà em muốn nói tới : vẻ đẹp thiên nhiên của chùa Hương.

    Thân bài :

    – Giới thiệu chung về vị trí địa lí của toàn bộ khu vực chùa Hương.

    – Dãy núi đá vôi tồn tại từ hơn 200 triệu năm mang vẻ đẹp kì thú với những tên gọi mang tính bí ẩn (Núi Long. Ly, Quy, Phượng…)

    – Suối không sâu nhưng quanh co uốn lượn bồng bềnh.

    – Động thực vật phong phú ,quý hiếm tạo nên môi trường sinh thái độc đáo, đa dạng.

    – Các hang động huyền bí, ảo diệu.

    – Những ngôi chùa đầy màu sắc tâm linh.

    → Khu thắng cảnh chùa Hương được hội tụ vẻ đẹp thiên nhiên của đất trời, có núi sông, có hang động có chùa chiền. Một khung cảnh kiến trúc hài hòa giữa thiên nhiên và con người.

    Kết bài : Cảm nghĩ của em (tự hào về di tích, thắng cảnh).

    Bài văn mẫu – Đền Mẫu Thủy

    Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã từng nói:

    “Dân ta phải biết sử ta

    Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

    Hai tiếng “Việt Nam” chất chứa hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước để hình thành nên bốn ngàn năm văn hóa, văn hiến của dân tộc. Trong kho tàng văn hóa ấy, một nét đẹp tín ngưỡng tâm linh đã ăn sâu bám rễ trong tâm thức của người Việt đó là tục thờ Mẫu – một loại hình tín ngưỡng thờ Tam Tứ phủ, phản ánh tư duy nông nghiệp lúa nước và hướng tới truyền thống đạo lí tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn” đối với các vị anh hùng có công bảo vệ biên cương bờ cõi nước Việt. Và một trong các trung tâm của tín ngưỡng thờ Mẫu là ngôi đền linh thiêng cổ kính mang tên “Đền Mẫu Thủy Linh Từ”.

    Ngôi đền Mẫu Thủy Linh Từ nằm ở phía Nam Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 20km, tọa lạc tại một cánh đồng chiêm trũng Trôi Ao Sen thuộc phủ Hoài Đức xưa, nay là địa phận thuộc thôn Nội – Đức Thượng – Hoài Đức – Hà Nội. Đây là một ngôi đền cổ được bao bọc xung quanh là đầm phá ao sen rộng lớn của hệ thống ven sông Hồng. Qua thời gian năm tháng, được sự bồi tụ của sông mà dần dần hình thành nên đồng bằng ngày nay.

    Đền gắn liền với sự tích Mẫu Thủy đền Giẻ Trôi Ao Sen mang đậm màu sắc huyền thoại gắn liền với sự sùng bái tự nhiên ( Mẹ trời, mẹ đất, mẹ nước…) của cư dân nông nghiệp thời thượng cổ. Vào thời Lê Trung Hưng (khoảng đầu thế kỉ XVII) tại làng Nội thôn có một người con gái tính tình thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp tên là Nguyễn Thị Tại, vì mến mộ đức hạnh của nàng mà Nguyễn Như – một chàng trai hào phú cùng làng khôi ngô, tuấn tú đã lấy về làm vợ. Ở đầu làng là một vùng đầm phá ao sen bốn mùa bát ngát, hương thơm ngào ngạt, các thanh niên trai tráng trong làng đều thường ngày ra đây bắt cá làm cơm, lấy nước về ăn… và khi muốn đi chợ phố Bến (chợ Phùng) thì phải đi qua Cống Đá nơi này.

    Vào một hôm nọ, nàng cùng ba người bạn đi chợ qua đây thì khi về trời nắng gắt bỗng nổi can qua, trời đất mịt mù, gió xoáy dựng nước thành cột lướt qua đoàn người. Thoáng chống mưa tạnh, trời quang thì nàng biến mất. Hai người bạn sợ hãi chạy về báo tin để cho mọi người đi tìm kiếm. Nhưng tìm mãi, tìm mãi mà không thấy đâu, ai cũng bụng bảo dã chắc nàng đã bị nước dữ cuốn trôi mất.

    Ba năm sau, bỗng nàng trở về nhưng lại bụng mang dạ chửa, gia đình chồng và làng xóm xung quanh gặn hỏi nhưng nàng không nói nửa lời. Thấm thoát thời gian qua đi, nàng sinh hạ ra một cái bọc lạ, bên trong là một đôi rắn có mào đỏ, vừa ra khỏi bụng mẹ, đôi rắn lớn nhanh như thổi, dài bằng ba đòn gánh, to như ống trát mạ, ai lấy đều kinh hồn bạt vía. Lúc ấy, nàng mới bộc lộ tâm sự của mình: ngày ấy, vì mến mộ tài sắc Vua Thủy Tề dưới Long cung đã bắt nàng về làm vợ. Sống dưới thủy cung, dù được sống trong cung vàng, điện ngọc, cá tôm hầu hạ nhưng quanh năm thương nhớ chồng con, quê nhà trốn cũ trên trần. Vì thế, vua Thủy Tề đã trả về quê cũ. Trước khi đi, ngài có rặn rằng: ” Trên đó ta có một hành cung tọa lạc trên lưng rùa nổi giữa đầm sen, nay giao cho nàng cai quản; còn mọi điều mắt thấy tai nghe dưới thủy cung không được tiết lộ kẻo rước họa vào thân…”. Nói đoạn, ngài sai Ngư Long rẽ nước đưa nàng trở về quê nhà.

    Vừa kể đến đây thì nàng lăn đùng ra chết. Tương truyền là khi được trả về trần gian, nàng đã buộc phải ngậm một chiếc lá thần ở cổ họng, nếu làm lộ chuyện dưới thủy cung thì sẽ chết ngay tức khắc khi dao cứa vào cổ.

    Vì cảm thương cho thân phận bất hạnh của một kiếp hồng nhan, làng trên xóm dưới, kể cả chức sắc trong làng cùng làm ma chay cho nàng. Mộ nàng đặt tại xứ Hương Thị bên Đầm Sen, chỉ sau một đêm đã đùn thành một gò lớn, tục gọi là Gò Lăng. Trên mộ có ghi “Thủy thần điểm huyệt” nhắc tới đôi rắn (được gọi là Ông Cộc, ông Dài) đưa đường chọn huyệt táng. Dân làng suy tôn nàng làm Mẫu Thủy và lập đền thờ trên đảo Rùa Nổi quanh năm hương khói phụng thờ.

    Lạ thay, dù ngôi đền nằm giữa vùng đầm nước mênh mang nhưng mưa to đến mấy cũng không ngập nổi. Mực nước càng dâng cao bao nhiêu thì ngôi đền và khu Gò Lăng càng nổi lên cao bấy nhiêu. Vì thế, đền Giẻ ( đền Mẫu Thủy) nay còn được gọi là “Đền Bong Bóng”.

    Kiến trúc của ngôi đền hiện giờ được xây dựng theo hình chữ “Đinh”. Từ cổng Tam quan đi vào 50m, bên tay trái là Đảo Phật Bà với bức tượng Đức Mẹ Quan Âm Đại Sĩ hiền từ, một tay bấm khuyết cầm cành liễu, một tay cầm bình cam lộ trang nghiêm, thanh tịnh. Vòng qua đảo đi sâu vào trong khoảng 100 bước là tới chính cung, hai bên tả – hữu là gian nhà thờ Thần thổ địa, thần cai quản bản đền. Bên trong nội cung chính là gian thờ Mẫu Thủy (âm đọc chệch là Mẫu Thoải) với đôi câu đối cổ ca ngợi đức hạnh của ngài:

    “Quốc sắc khuynh thành thiên hạ hữu

    Nữ trung chính trực thế gian vô”

    Dịch:

    “Người đẹp nghiêng nước, nghiêng thành thì có thừa

    Người phụ nữ trung trinh, tiết hạnh thì khó thấy”

    Phía bên trái của gian thờ Mẫu là gian thờ Chúa bà sơn trang, cai quản mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể với bức đại tự có đề “U hiển sơn lâm” (Rừng núi linh thiêng bí ẩn); bên trái là ban thờ Trần Triều tức Đức vua cha Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn – một vị đại tướng lẫy lừng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược với hào khí Sát Thát, Đông A uy dũng bốn phương. Bên trên cửa võng có bức đại tự “Trần Triều hiển thánh”, bên dưới có đôi câu đối:

    “Đức đại an dân thiên cổ thịnh

    Công cao hiển thánh vạn niên trường”.

    Tạm dịch:

    “Đức lớn an dân nghìn năm còn mãi

    Công cao hiển thánh mãi mãi muôn đời”

    Ở giữa ban thờ công đồng Đình thần Tam Tứ phủ là cây hương đá cổ cùng bốn trụ đá được phát lộ năm 1998, có niên đại cách chúng ta ngày nay trên dưới 1000 năm lịch sử.

    Lễ hội hằng năm của Đền được tổ chức vào ngày 21 tháng 2 âm lịch, tương truyền là ngày Mẫu được trả về trần gian và ngày 22 tháng 8 âm lịch tương truyền là ngày Vua cha Bát Hải Động Đình (tức là vua Thủy Tề) đón Mẫu về làm vợ. Lễ hội được tổ chức trọng thể thu hút hàng trăm, hàng nghìn khách thập phương tứ xứ mọi nơi về lễ bái, hầu đồng lấy lộc cầu may. Các trò chơi dân gian trong lễ hội cũng được diễn ra hết sức sôi động như: kéo co, đi cầu khỉ, bịt mắt đập niêu…và đặc biệt là cuộc chơi thi thooirr cơm và hát quan họ trên thuyền rồng. Bởi tương truyền rằng, khi Mẫu được trả về trần gian, vua Thủy Tề đã cho Ngư Long làm hiển hoa thành thuyền rồng, cùng các nàng tiên cá hóa phép làm người cưỡi rồng theo hầu cơm nước và hát tiễn Mẫu lên trần.

    Đền Mẫu Thủy Linh Từ là một trong các ngôi đền cổ kính, linh thiếng thờ Mẫu Thoải – một vị Mẫu trong hàng tứ phủ có nhiệm vụ coi sóc, trị thủy miền sông nước. Đây là ngôi đền duy nhất trong các ngôi đền trên cả nước có Lăng mộ Mẫu Thoải và hiện vẫn còn rất nhiều các dấu tích gắn liền với truyền thuyết của Mẫu Thủy vùng Trôi Ao Sen như: Đền thờ, Cống Lửi ( nơi Mẫu bị vua Thủy Tề bắt đi), Gò Dương Vó ( dấu tích của gót ngựa Thánh Gióng đi qua)… Với tất cả những yếu tố trên Đền xứng đáng với danh hiệu “Đệ Tam Quốc Mẫu Linh Từ”, là một trong các trung tâm tâm linh linh thiêng nhất cả nước, chung đúc khí thiêng của ngàn năm văn hóa dân tộc Việt Nam!.

    Tags: soạn văn lớp 9, soạn văn lớp 9 tập 1, giải ngữ văn lớp 9 tập 1, soạn văn lớp 9 bài Viết bài tập làm văn số 1 – Văn thuyết minh ngắn gọn , soạn văn lớp 9 bài Viết bài tập làm văn số 1 – Văn thuyết minh siêu ngắn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Nghĩ Của Em Về Tình Mẫu Tử Trong Đoạn Trích “trong Lòng Mẹ”
  • Bài Tập Làm Văn Số 1 Lớp 9
  • Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 1
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Viết Bài Làm Văn Số 2
  • Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 2: Văn Tự Sự
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Thuật Ngữ, Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Mẫu Lớp 9 Số 5 Đề 4: Hãy Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Hiện Tượng Vứt Rác Thải Ra Nơi Công Cộng
  • Soạn Bài: Mã Giám Sinh Mua Kiều (Trích Truyện Kiều) Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Soạn Bài Miêu Tả Trong Văn Bản Tự Sự Văn 9 Trang 91 Ngắn Gọn Nhất: Tìm Những Yếu Tố Tả Người Và Tả Cảnh Trong Hai Đoạn Trích Truyện Kiều Vừa Học
  • Giáo Án Bài Những Đứa Trẻ (Trích Thời Thơ Ấu)
  • Bài 17. Những Đứa Trẻ
  • So sánh hai cách giải thích từ nước và từ muối

    I. Thuật ngữ là gì?

    Câu 1: So sánh hai cách giải thích từ nước và từ muố i :

    – Cách 1 : nêu những dấu hiệu bên ngoài, có thể quan sát được trực tiếp bằng giác quan. Các từ muối, nước ở cách 1 là từ thông thường.

    – Cách 2 : nêu những tính chất đặc trưng bên trong. Những tính chất này là kết quả nghiên cứu khoa học. Người nghe cũng phải có những kiến thức khoa học nhất định thì mới hiểu được. Các từ muối, nước ở đây là thuật ngữ.

    Câu 2 :

    – Thạch nhũ : thuật ngữ môn Địa lí.

    – Bơ-dơ : thuật ngữ môn Hóa học.

    – Ẩn dụ : thuật ngữ môn Ngữ văn.

    – Phân số thập phân : thuật ngữ môn Toán

    Những thuật ngữ trên chủ yếu dùng trong văn bản khoa học và công nghệ.

    II. Đặc điểm của thuật ngữ :

    Câu 1 : Các thuật ngữ ở mục 2 nói trên chỉ có một nghĩa.

    Câu 2 :

    – Từ muối trong câu (a) – Muối là một tập hợp chất có thể hòa tan trong nước – là nghĩa thuật ngữ, chỉ có một nghĩa.

    – Từ muối thứ hai trong câu (b) ( Tay nâng chén muối đĩa gừng – Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau) là từ thông thường ở đây được dùng theo sắc thái biểu cảm (gợi lên nỗi vất vả đã nếm trải).

    Luyện tập

    Câu 1 : Vận dụng kiến thức đã học ở các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Toán học, Vật lí, Hóa học, Sinh học để điền thuật ngữ thích hợp vào chỗ trống và xác định mỗi thuật ngữ được điền vào thuộc lĩnh vực khoa học nào.

    – Lực là tác dụng đẩy, kéo của vật này lên vật khác. (Vật lí)

    – Xâm thực là hiện tượng làm hủy hoại dần dần lớp đất đá phủ trên mặt đất do các tác nhân : gió, băng hà, nước chảy,… (Địa lí)

    – Hiện tượng hóa học là hiện tượng trong đó có sinh ra chất mới. (Hóa học)

    – Trường từ vựng là tập hợp của những từ có ít nhất một nét chung về nghĩa. (Ngữ văn)

    – Di chỉ là nơi có dấu vết cư trú và sinh sống của người xưa. (Lịch sử)

    – Thụ phấn là hiện tượng hạt phấn tiếp cúc với đầu nhụy. (Sinh học)

    – Lưu lượng là lượng nước chảy qua mặt cắt ngang lòng sông ở một điểm nào đó, trong một giây đồng hồ. (Địa lí)

    – Trọng lực là lực hút của Trái Đất. (Vật lí)

    – Khí áp là sức ép của khí quyển lên bề mặt Trái Đất. (Địa lí)

    – Đơn chất là những chất do một nguyên tố hóa học cấu tạo nên. (Hóa học)

    – Thị tộc phụ hệ là thị tộc theo dòng họ người cha, trong đó nam có quyền hơn nữ. (Lịch sử)

    – Đường trung trực là đường thẳng vuông góc với một đoạn thẳng tại điểm giữa của đoạn ấy. (Toán học)

    Câu 2 : Điểm tựa là một thuật ngữ vật lí, có nghĩa là điểm cố định của một đòn bẩy, thông qua đó lực tác động được truyền tới lực cản. Nhưng trong đoạn trích này nó không được dùng như một thuật ngữ. Ở đây, điểm tựa chỉ nơi làm chỗ dựa chính (ví như điểm tựa của đòn bẩy).

    Câu 3 :

    – Trong trường hợp (a) (Nước tự nhiên ở sông, hồ, ao, biển,… là một hỗn hợp), từ hỗn hợp được dùng như một thuật ngữ.

    – Trong trường hợp (b) (Đó là một chương trình biểu diễn hỗn hợp nhiều tiết mục), từ hỗn hợp được dùng như một từ thông thường.

    – Đặt câu với từ hỗn hợp dùng theo nghĩa thông thường :

    Dùng hỗn hợp phân chuồng và phân hóa học thì tốt hơn dùng riêng rẽ.

    Câu 4 : Thuật ngữ cá của sinh học : động vật có xương sống, sống ở dưới nước, bơi bằng vây, thở bằng mang. Theo cách hiểu thông thường của người Việt (thể hiện qua cách gọi cá voi, cá heo và có thể kể thêm cá sấu), cá không nhất thiết phải thở bằng mang.

    Câu 5 : Hiện tượng đồng âm giữa thuật ngữ thị trường của kinh tế học và thuật ngữ thị trường của quang học không vi phạm nguyên tắc một thuật ngữ – một khái niệm, vì hai thuật ngữ này được dùng trong hai lĩnh vực khoa học riêng biệt, chứ không phải trong cùng một lĩnh vực.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 9: Viết Bài Tập Làm Văn Số 3
  • Soạn Bài: Viết Bài Tập Làm Văn Số 1
  • Soạn Bài: Các Phương Châm Hội Thoại
  • Soạn Bài Thuật Ngữ Đầy Đủ Nhất
  • Soạn Bài Làng Ngữ Văn 9 Đầy Đủ
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 1 – Văn Thuyết Minh, Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Bàn Về Đọc Sách – Ngữ Văn 9 Tập 2
  • Bristol Rovers Team Details, Competitions And Latest Matches
  • Viết Tập Làm Văn Số 2 Đề 1. Tưởng Tượng 20 Năm Sau, Vào Một Ngày Hè, Em Về Thăm Lại Trường Cũ. Hãy Viết Thư Cho Một Bạn Học Hồi Ấy Kể Lại Buổi Thăm Trường Đầy Xúc Động Đó.
  • Soccer Picks And Results For Hong Kong First Division League. Season 2022/2021
  • / Giáo Dục Phổ Thông / Trung Học Cơ Sở
  • Đề 1: Cây lúa Việt Nam.

    I. Mở bài:

    – Giới thiệu tổng quát về cây lúa.

     - Cây lúa gắn bó với đời sống Việt Nam từ xưa đến nay.

    II. Thân bài

    1. Khái quát          

    – Cây lúa là cây trồng quan trọng của người dân Việt Nam.

    – Là nhóm cây lương thực chính của người Việt Nam và các nước khác trên thế giới.

     2. Chi tiết.

    a. Đặc điểm, hình dạng và kích thước của cây lúa.

    – Cây lúa sống chủ yếu nhờ nước nên được gọi là lúa nước. Không có nước, lúa không thể sống nổi.

    – Thuộc loại cây một lá mầm và rễ chùm. 

    – Thân cây lúa thường mọc thẳng, được nối với nhau nhiều đốt và thân cây rỗng và mềm, có thể dùng tay bóp nát một cách dễ dàng.

    – Thân cây lúa có chiều rộng từ 2-3 cm, chiều cao khoảng từ 60 – 80 cm.

    – Lúa được chia thành ba bộ phận:

    + Rễ: nằm dưới đất có tác dụng hút dinh dưỡng nuôi cơ thể.

    + Thân: là cầu nối dinh dưỡng từ rễ lên ngọn.

    + Ngọn: đây là nơi bông lúa sinh trưởng và trở thành hạt lúa. Lúa chín có màu vàng và người nông dân gặt về làm thực phẩm.

    b. Cách trồng lúa:

    + Nhất nước: lúa sinh trưởng là nhờ vào nước, cho nên khi trồng lúa người nông dân phải chú trọng đến nước nhằm đảm bảo cho cây lúa sinh trưởng tốt nhất.

    + Nhị phân: thứ hai là phân bón, ngày nay có rất nhiều phân bón hỗ trợ cho lúa, điều đó giúp cây lúa phát triển mạnh và tránh được các mầm bệnh trong cây. Nhưng phân cũng cần phải bón đúng loại, đúng lúc và đầy đủ.

    + Tam cần: đó là cần cù trong việc lao động, đưa các phương pháp tiến bộ kỹ thuật vào trồng lúa.

    + Tứ giống: một cây lúa khỏe mạnh, năng suất cao phụ thuộc nhiều vào giống, hiện nay có khá nhiều loại giống có sức đề kháng lại rầy, sâu nên được khá nhiều bà con lựa chọn.

    – Cấy lúa: ngày xưa việc gieo mạ bằng tay nên lúa mọc không đều, khi cây lúa cao khoảng 20 cm. Người nông dân tiếp tục ra đồng để cấy lại lúa cho thật thẳng, đều để giúp cây phát triển tốt hơn. Nhưng ngày nay, việc gieo lúa bằng máy nên người nông dân đỡ vất vả. Cây lúa ngay từ khi gieo đã thẳng hàng nên người nông dân không cần đi cấy lúa như ngày xưa.

    – Chăm sóc lúa: Trong suốt thời gian cây lúa sinh trưởng, hàng tuần người nông dân phải ra đồng chăm lúa và lấy nước. Việc thăm lúa giúp người nông dân phát hiện ra các ổ sâu, chuột hại lúa. Khi lúa bắt đầu đẻ nhánh, người nông dân phải làm cỏ, bón phân và diệt sâu bỏ nhằm giúp cây lúa phát triển tốt hơn.

    – Gặt lúa: khi cánh đồng bắt đầu ngả màu vàng, người nông dân từng tốp ra đồng để thu thành quả sau một thời gian lao động. Ngày trước người nông dân thu hoạt lúa bằng tay, điều đó khiến cho bà con tốn kém và vất vả. Vì sau khi gặt, người nông dân đem về và phải tuốt lúa, phơi. Nhưng ngày nay việc thu hoạch lúa bằng máy, lúa được tuốt ngay ngoài đồng nên bà con đỡ vất vả hơn ngày trước.

     - Sau khi gặt lúa: để tiếp tục cho các vụ tiếp theo, người nông dân lại ra đồng cày, bừa cho đất thật phẳng để tiếp tục gieo. 

    c. Vai trò của cây lúa.

     - Sau khi xay lúa, người ta dùng gạo để ăn: hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại gạo như: gạo thơm, gạo B40, gạo 504, gạo Xuân Mai, gạo tẻ, gạo nếp.

    – Lúa được dùng để chế tạo các loại bánh như: bánh đa, bánh đúc, bánh giò, bánh tẻ, bánh phở…

    – Các vai trò khác:

    + Lúa non được dùng để làm cốm.

    + Sau khi xay hạt lúa, lúa được tách ra thành 2 loại đó là: gạo và trấu. Gạo dùng để ăn. Trấu dùng để làm phân bón cho cây cối, làm nguyên liệu đốt hoặc thẩm chí làm ổ cho già, vịt nằm trong mùa lạnh.

    + Thân lúa sau khi lấy hạt được gọi là rơm: rơm được phơi khô và chất thành đống để dữ trự. Rơm được dùng để làm thức ăn cho gia súc, làm nguyên liệu đốt và dùng để gia súc nằm khi trời lạnh.

     d. Thành tựu

    – Ngày nay, Việt Nam đã lai tạo hơn 30 loại giống lúa khác nhau và được công nhận là giống lúa quốc gia.

    – Từ một nước nghèo đói, lạc hậu. Việt Nam nay là nước thứ 2 xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, chỉ đứng sau Thái Lan.

    III. Kết bài.

    – Cây lúa vô cùng quan trọng đối với người dân Việt Nam.

     - Lúa không chỉ đem lại cuộc sống no đủ, mà nó còn mang đến cho người dân Việt Nam một nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần mà không có một thứ gì có thể thay thế được. 

    Bài làm

    Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới. Đối với người Việt chúng ta cây lúa không chỉ là một loại cây lương thực quý mà còn là một biếu tượng trong văn chương ẩn dưới “bát cơm”,”hạt gạo”.

    Việt Nam, một nước có nền kinh tế nông nghiệp từ hàng ngàn năm nay. Từ một nước thiếu lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh nhưng hiện nay, nền nông nghiệp của nước ta không chỉ sản xuất ra đủ một lượng lớn lương thực đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế giới. Trong đó ngành trồng lúa ở nước ta là một trong những ngành ngành sản xuất lương thực vô cùng quan trọng và đạt được những thành tựu đáng kể, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.

    Đối với người Việt chúng ta, hay phần lớn dân Á châu nói chung, cây lúa (tên khoa học là Oryza sativa) và hạt gạo là một loại thực phẩm hết sức gần gũi và đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong dinh dưỡng. Ngay từ khi còn trong lòng mẹ, chúng ta đã làm quen với cơm gạo, và lớn lên theo cây lúa cùng hạt gạo. Với bản sắc văn hóa nông nghiệp, cây lúa và hạt gạo còn là một biểu tượng của cuộc sống. Ca dao, khẩu ngữ chúng ta có câu “Người sống về gạo, cá bạo về nước”, hay “Em xinh là xinh như cây lúa”, v.v..

    Qua hàng nghìn năm lịch sử, lúa đã là cây lương thực chủ yếu nuôi sống các thế hệ người Việt cho đến nay. Trong đời sống tinh thần của con người, cây lúa cũng gắn bó thân thiết vô cùng. Điều đó được thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ hàng ngày, trong cách nói, cách đặt tên, gọi tên từ cửa miệng của những người hai sương một nắng.

    Bắt đầu từ lúc ném hột mộng xuống đồng. Thông thường ném buổi sáng thì buổi chiều mộng “ngồi” được, tức là rễ đã bám được vào đất và mầm nhọn đã xuôi hướng lên trời. Bác nông dân hoàn toàn có thể yên tâm vì nó đã sống được trong môi trường mới, đích thực của nó.

    Qua hôm sau, mầm nhú lên cao hơn, bắt đầu có chút xanh xanh, người ta bảo là mạ đã “xanh đầu”. Mạ cũng có “gan”. “Gan mạ nằm ở thân non, dễ bị gãy nát. Nhổ không khéo, nhỡ để giập “gan” thì dảnh mạ sẽ “chết”.

    Cấy xuống được vài ba hôm thì lúa đâm rễ mới, gọi là bén chân hay “đứng chân”. Cũng như chữ “ngồi” ở trên, chữ “đứng chân” rất chính xác, rất hình tượng, vì chỉ vài ba hôm trước do mới cấy, mọi cây lúa đều ngả nghiêng, xiêu vẹo, thậm chí có cây còn bị nổi trên mặt nước nữa. Giờ đây đã “đứng chân” được, tức là cũng giống như người ta, có một tư thế đứng chân vững vàng, đã chắc chắn bám trên mặt đất.

    Khác với lúc nảy mầm, cây lúa sinh sôi bằng cách “đẻ nhánh”. Nhánh “con” nhánh “cái” thi nhau mọc ra, tần vần thành khóm. Vào khoảng tháng hai âm lịch, khắp cánh đồng mơn mởn màu xanh. Dáng cây thon thả, mềm mại, sắc lá non tơ đầy sức sống gợi cái gì đấy tươi trẻ, xinh xắn, dịu dàng. Đó chính là lúc cây lúa “đang thì con gái”, thời đẹp nhất của đời lúa, đời người. Gặp hôm trời quang mây tạnh, đứng ở đầu làng mà trông, cánh đồng trải ra bát ngát, đẹp tựa bức tranh.

    Hết thời kỳ xuân xanh, lúa chuyển sang giai đoạn “tròn mình”, “đứng cái” rồi “ôm đòng”. Đòng lúa to nhanh, nắng mưa rồi mỗi ngày mỗi khác. “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ/Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”. Nếu mưa thuận gió hoà chỉ mươi hôm là lúa trổ xong. Nhưng chẳng may gặp kỳ khô hạn thì đòng không trổ lên được, người ta bảo bị “nghẹn”. “Nghẹn” là cực lắm rồi, là có cái gì nó vương vướng, như uẩn ức trong lòng…

    Ngoài ra cũng có thể bị “ngã”, bị “nằm” lúc gặp gió lớn mưa to. Ông bà ta sợ nhất cảnh này vì mấy tháng trông cây đã sắp đến ngày hái quả. Nếu chẳng may bị “ngã” non thì hột thóc sẽ lép lửng, coi như hỏng ăn. Còn lúa “nằm” dưới nước, ngâm độ vài ngày thì hột thóc trương lên, nứt nanh và nảy mầm ngay trên bông. Mầm nhú trắng trông xót ruột. Xót ruột về khoe vui với nhau, thóc nhà tôi “nhe răng cười” ông ạ!

    Người nông dân xưa nay vốn mộc mạc, chất phác. Chẳng phải họ văn vẻ gì đâu. Chỉ vì gần gũi quá, thân quen quá. Ban ngày vác cuốc ra đồng thăm lúa. Ban đêm giấc mơ toàn thấy những cây lúa. Lúa là đói no, là người bạn có thể sẻ chia nỗi niềm, buồn vui tâm sự. Trải qua chiều dài các thế hệ, đời lúa lặn vào đời người. Và rồi, đời người lại chan hoà, gửi gắm vào đời lúa thông qua những từ ngữ nôm na, những tên gọi sinh động kể trên.

    Cây lúa gần gũi với người nông dân cũng như bờ tre, khóm chuối. Bởi vậy thấm đẫm tình người và hồn quê, càng nắng mưa, sương gió, càng nồng nàn hoà quyện thân thương.

    Nông nghiệp Việt Nam vốn mang dáng dấp một nước – nền công nghiệp lúa nước bao đời nay cho nên cây lúa gắn bó, gần gũi với người Việt, hồn Việt là lẽ dĩ nhiên.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 94+ 95: Tôi Yêu Em (A.pu
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 47: Đọc Văn Cảm Xúc Mùa Thu
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 47: Cảm Xúc Mùa Thu (Thu Hứng) Đỗ Phủ
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 17, 18: Đọc Văn Ra Ma Buộc Tội
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Tiết 17, 18 Đọc Văn Ra Ma Buộc Tội (Trích Ra Ma
  • 300 Bức Tranh Vì Hòa Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Dạy Trẻ Vẽ Con Vật Dễ Thương
  • Tạo Hình: Vẽ Các Con Vật Sống Dưới Biển
  • Tranh Tô Màu Các Con Vật Sống Dưới Nước Cho Bé
  • Cô Giáo Tiểu Học Chia Sẻ Phương Pháp Dạy Vẽ Con Vật Bất Ngờ, Thú Vị
  • Tranh Tô Màu Con Vật Cho Bé Tập Tô, Con Mèo, Vịt, Gà, Cá, Thỏ
  • Cuộc thi do Bảo tàng Mỹ thuật chúng tôi Bảo tàng Chứng tích chiến tranh và Thư viện Khoa học tổng hợp chúng tôi tổ chức, một mặt hội vận động thiếu nhi Osaka tham gia vẽ 150 bức tranh để cùng triển lãm với tranh thiếu nhi VN; mặt khác tổ chức những buổi nói chuyện cho các hội viên về ý nghĩa của thắng lợi Cách mạng Tháng Tám và về hậu quả chiến tranh xâm lược của Mỹ ở VN, đặc biệt là hậu quả của chất độc da cam.

    Phòng triển lãm khai mạc ngày 27-8-2005 tại Nhà hữu nghị Osaka với 300 bức tranh của thiếu nhi Việt – Nhật. Đường nét, màu sắc, chất liệu tranh vẽ có khác nhau, nhưng mơ ước của thiếu nhi hai nước vẫn là một: hòa bình, hòa bình cho trẻ em được cùng vui đùa, hạnh phúc và ấm no.

    Trời Osaka mưa tầm tã cũng không ngăn được những người bạn Nhật Bản thủy chung đến nghe các đại biểu của ban tổ chức Nét vẽ xanh kể về ước mơ hòa bình của các thiếu nhi VN, kể về những năm tháng sôi động của Cách mạng Tháng Tám, về quyết tâm của Hồ Chí Minh và nhân dân VN trong Tuyên ngôn độc lập: “Toàn thể dân tộc VN quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập”.

    Họ xúc động, rưng rưng khi biết đến những nỗi khổ đau của nạn nhân chất độc da cam trong chiến tranh ở VN. Họ phẫn uất khi Tòa án Brooklyn (Mỹ) bác bỏ đơn kiện của các nạn nhân trong khi cựu chiến binh Mỹ – những người gieo tai họa chết người – lại được bồi thường, được chăm sóc.

    Họ đã cất tiếng hát trầm ấm Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng… để góp vào không khí tưng bừng chuẩn bị đón Quốc khánh lần thứ 60 của nhân dân VN một ngọn lửa từ trái tim những người đã từng kề vai sát cánh với nhân dân VN vượt qua cuộc kháng chiến đầy gian khổ, hi sinh, từng bước đi đến tương lai tươi sáng…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vẽ Tranh Tường Quán Karaoke Đối Diện Công Viên Hòa Bình
  • Dự Án Vẽ Tranh Tường Gia Đình Hoa Dân Nướng Tại Thành Phố Hòa Bình
  • Vẽ Tranh Tường Các Gia Đình Và Hoa Dân Nướng Tại Thành Phố Hòa Bình
  • Cách Chọn Lựa Bình Gốm Để Cắm Hoa
  • Bình Hoa Trắng Vẽ Hoa Sen Cao Xxcm Bh04
  • Soạn Sử 9 Bài 11 Ngắn Nhất: Trật Tự Thế Giới Mới Sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiếng Việt Lớp 5 Tập Đọc: Nghĩa Thầy Trò
  • Soạn Bài Nghĩa Thầy Trò Trang 79 Sgk Tiếng Việt 5 Tập 2
  • Tập Đọc: Nghĩa Thầy Trò Lớp 5 Tuần 26
  • Tuần 26. Nghĩa Thầy Trò
  • Giải Hóa Lớp 8 Bài 5: Nguyên Tố Hóa Học
  • Trong bài học này Top lời giải sẽ cùng các bạn tóm lược kiến thức cơ bản của Bài 11. Trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ haitrong sách giáo khoa Lịch sử 9 đồng thời chúng ta sẽ cùng nhau đi đến phần Soạn sử 9 bài 11 ngắn nhất bằng việc trả lời toàn bộ câu hỏi trong nội dung bài. Cuối cùng sẽ là các câu hỏi mở rộng và các bài tập trắc nghiệm áp dụng trong đề kiểm tra.

    Mục tiêu bài học

    Sau khi học xong bài, học sinh

    – Biết được sự hình thành trật tự thế giới mới Trật tự hai cực I-an-ta sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

    – Biết được sự hình thành, mục đích và vai trò của tổ chức Liên hợp quốc.

    – Trình bày được những biểu hiện của cuộc Chiến tranh lạnh và những hậu quả của nó.

    – Biết được đặc điểm trong quan hệ quốc tế sau Chiến tranh lạnh.

    – Quan sát hình 22 SGK, tìm hiểu về các nhân vật Sớc-sin, Ru-dơ-ven, Xta-lin.

    – Nêu nhận xét về vai trò của Liên hợp quốc đối với việc giải quyết một số vấn đề mang tính quốc tế hiện nay.

    – Giải thích được khái niệm thế nào là Chiến tranh lạnh.

    Kiến thức lý thuyết Bài 11: Trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai

    I. SỰ HÌNH THÀNH TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI

    – Từ ngày 4 đến 11 – 2 – 1945, Hội nghị Ianta được diễn ra với sự tham gia của nguyên thủ ba nước Liên Xô, Mĩ, Anh.

    – Những quyết định của hội nghị:

    + Ở châu Âu, Liên Xô chiếm đóng và kiểm soát Đông Đức và Đông Âu. Vùng Tây Đức và Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mĩ và Anh.

    + Ở châu Á:

    * Duy trì nguyên trạng Mông Cổ, trả lại cho Liên Xô phía Nam đảo Xa-kha-lin, trao trả Trung Quốc những vùng bị Nhật chiếm đóng.

    * Triều Tiên: Phía bắc vĩ tuyến 38 do Liên Xô chiếm đóng, phía Nam vĩ tuyến 38 do Mĩ kiểm soát.

    * Đông Nam Á, Nam Á thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây.

    II. SỰ THÀNH LẬP LIÊN HỢP QUỐC

    – Hội nghị I-an-ta đưa ra quyết định thành lập Liên hợp quốc.

    – Nhiệm vụ chính:

    + Duy trì hòa bình và an ninh thế giới.

    + Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc dựa trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của các dân tộc.

    + Hợp tác quốc tế về kinh tế, văn hóa, xã hội và nhân đạo,..

    – Vai trò:

    + Duy trì hòa bình và an ninh thế giới, đấu tranh xóa bỏ chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.

    + Giúp đỡ các nước phát triển kinh tế, văn hóa.

    – Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ và Liên Xô chuyển sang tình trạng đối đầu căng thẳng. Đó là tình trạng “Chiến tranh lạnh” giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.

    – Chiến tranh lạnh là chính sách thù địch về mọi mặt của Mĩ và các nước đế quốc trong quan hệ với Liên Xô và các nước XHCN.

    – Biểu hiện:

    + Mĩ và các nước đế quốc ráo riết chạy đua vũ trang, tăng ngân sách quân sự, thành lập các khối quân sự và căn cứ quân sự bao quanh Liên Xô.

    + Tiến hành chiến tranh đàn áp các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

    – Hậu quả:

    + Thế giới ở trong tình trạng căng thẳng, đứng trước nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến tranh thế giới mới.

    + Chạy đua vũ trang làm tiêu tốn tiền của.

    IV. THẾ GIỚI SAU “CHIẾN TRANH LẠNH”

    – Tháng 2 – 1989, tổng thống Mĩ Bu-sơ và Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Goóc-ba-chốp cùng tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh.

    – Tình hình thế giới có nhiều biến chuyển và diễn ra theo các xu hướng sau:

    + Xu thế hòa hoãn và hòa dịu trong quan hệ quốc tế.

    + Thế giới tiến tới xác lập một trật tự thế giới mới, đa cực, nhiều trung tâm.

    + Các nước ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển lấy kinh tế làm trọng điểm.

    + Ở nhiều khu vực vẫn xảy ra tình trạng xung đội quân sự hoặc nội chiến.

    – Xu thế phát triển chung của thế giới ngày nay là hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển kinh tế.

    Câu hỏi trang 45 Sử 9 Bài 11 ngắn nhất: Hội nghị I-an-ta đã có những quyết định nào và hệ quả của những quyết định đó?

    * Hội nghị đã thông qua những quyết đinh quan trọng sau:

    – Tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật, nhanh chóng kết thúc chiến tranh.

    – Thành lập tổ chức Liên hợp quốc nhằm giữ gìn hòa bình, an ninh và trật tự thế giới sau chiến tranh.

    – Thỏa thuận việc đóng quân tại các nước phát xít chiến bại và phân chia phạm vị ảnh hưởng giữa các nước thắng trận, theo đó:

    + Ở châu Âu: Liên Xô chiếm và kiểm soát Đông Đức, Đông Âu. Tây Đức, Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mĩ và Anh.

    + Ở châu Á: Giữ nguyên trạng Mông Cổ; trả cho Liên Xô phía Nam đảo Xa-kha-lin; trả lại cho Trung Quốc vùng đất bị Nhật chiếm đóng trước đây,…

    + Triều Tiên: Liên Xô kiểm soát Bắc vĩ tuyến 38, Mĩ kiểm soát Nam vĩ tuyến 38.

    + Các vùng còn lại của châu Á thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây.

    * Hệ quả:

    – Những quyết định của hội nghị I-an-ta đã trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới – “Trật tự hai cực I-an-ta” do Liên Xô và Mĩ đứng đầu mỗi cực.

    Câu hỏi trang 46 Sử 9 Bài 11 ngắn nhất: Những nhiệm vụ chính của Liên hợp quốc là gì?

    + Duy trì hòa bình và an ninh thế giới.

    + Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền các dân tộc.

    + Hợp tác quốc tế về kinh tế, văn hóa, xã hội và nhân đạo.

    Câu hỏi trang 46 Sử 9 Bài 11 ngắn nhất: Em hãy nêu lên những việc làm của Liên hợp quốc giúp nhân dân Việt Nam mà em biết.

    – Từ khi Việt Nam tham gia tổ chức Liên hợp quốc (9-1977), quan hệ Việt Nam và Liên hợp quốc ngày càng phát triển.

    – Liên hợp quốc giúp đỡ nhân dân Việt Nam trên nhiều mặt: kinh tế, giáo dục, môi trường, nhân đạo… thông qua các tổ chức của Liên hợp quốc ở Việt Nam: FAO (Tổ chức nông-lương thực), UNICEF (Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc)…

    + Liên hợp quốc giúp xử lý dioxin ở Việt Nam.

    + Chăm sóc trẻ em, các bà mẹ có thai và nuôi con nhỏ, tiêm chủng phòng dịch, đào tạo nguồn nhân lực, các dự án trồng rừng, cải cách hành chính, giúp đở các vùng bị thiên tai, ngăn chặn đại dịch AIDS, giáo dục …

    Câu hỏi trang 46 Sử 9 Bài 11 ngắn nhất: Hãy nêu những biểu hiện của tình hình “chiến tranh lạnh” và hậu quả của nó.

    – Biểu hiện của “Chiến tranh lạnh”:

    + Mĩ và các nước đế quốc thi hành chính sách thù địch trong quan hệ với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.

    + Mĩ và các nước đế quốc ráo riết chạy đua vũ trang, tăng cường ngân sách quân sự, thành lập các khối quân sự, các căn cứ quân sự bao quanh Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.

    + Tiến hành chiến tranh đàn áp phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

    + Liên Xô và các nước XHCN tăng ngân sách quốc phòng, cũng có khả năng phòng thủ.

    – Hậu quả: Chiến tranh lạnh gây ra những hậu quả nặng nề:

    + Thế giới luôn ở trong tình trạng căng thẳng, có lúc đứng trước nguy cơ bùng nổ chiến tranh thế giới mới.

    + Các cường quốc chi một khối lượng khủng về tiền, của, sức người để sản xuất vũ khí hủy diệt, xây dựng căn cứ quân sự.

    + Loài người phải chịu khó khăn do nghèo đói, ô nhiễm môi trường, bệnh tật gây ra…

    Soạn phần Câu hỏi và bài tập Sử 9 bài 11 ngắn nhất

    Bài 1 trang 47 Sử 9 Bài 11 ngắn nhất: Hãy nêu lên những xu thế phát triển của thế giới ngày nay.

    – Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới phát triển theo những xu thế:

    + Xu thế hòa hoãn, hòa dịu trong quan hệ quốc tế.

    + Một Trật tự thế giới mới đa cực, nhiều trung tâm đang dần hình thành.

    + Các nước ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển lấy kinh tế làm trọng điểm.

    + Đầu những năm 90 của thế kỉ XX, ở nhiều khu vực lại xảy ra những vụ xung đột quân sự hoặc nội chiến giữa các phe phái.

    – Xu thế chung của thế giới ngày nay là hòa bình ổn định và hợp tác phát triển kinh tế.

    Bài 2 trang 47 Sử 9 Bài 11 ngắn nhất: Nhiệm vụ to lớn nhất hiện nay của nhân dân ta là gì?

    – Nâng cao trình độ dân trí, hòa nhập với xu hướng phát triển chung của toàn nhân loại.

    – Phát triển và ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất.

    – Xóa đói, giảm nghèo, lạc hậu, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    Câu hỏi củng cố kiến thức Sử 9 bài 11

    Câu 1: Bối cảnh lịch sử dẫn đến việc triệu tập Hội nghị I-an-ta?

    – Trong bối cảnh đó, một Họi nghị quốc tế ba cường quốc Liên Xô, Mĩ, Anh được triệu tập tại I-an-ta (Liên Xô) từ ngày 4 đến 11/2/1944 để giải quyết những vấn đề sau chiến tranh.

    Câu 2. Cho biết thành phần tham dự Hội nghị I-an-ta?

    Thành phần tham dự Hội nghị I-an-ta gồm 3 nguyên thủ của ba cường quốc trong phe Đồng minh đó là :

    – Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô I.Xta-lin

    – Tổng thống Mĩ Ph.Ru-dơ-ven

    – Thủ tướng Anh U.Sớc-sin

    Câu 3: Các nước tham dự Hội nghị I-an-ta đã phân chia khu vực ảnh hưởng giữa hai cường quốc Liên Xô và Mĩ như thế nào?

    – Ở châu Âu : Liên Xô chiếm đóng và kiểm soát vùng Đông nước Đức và phía đông châu Âu (Đông Âu); vùng Tây nước Đức và Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mĩ và Anh.

    – Ở châu Á : Hội nghị chấp nhận những điều kiện của Liên Xô là duy trì nguyên trạng Mông Cổ (tức là tôn trọng nền độc lập của Mông Cổ). Trả lại cho Liên Xô phía nam đảo Xa-kha-lin; trao trả cho Trung Quốc những đất đai đã bị Nhật chiếm đóng trước đây (như Đài Loan, Mãn Châu….); thành lập Chính phủ liên hiệp dân tộc gồm Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

    – Triều Tiên được công nhận là một quốc gia độc lập nhưng tạm thời quân đội Liên Xô và Mĩ chia nhau kiểm soát và đóng quân ở Bắc và Nam vĩ tuyến 38.

    – Các vùng còn lại ở châu Á (như Đông Nam Á, Nam Á..) vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây.

    Câu 4: Những quyết định và những thỏa thuận giữa các cường quốc trong Hội nghị I-an-ta đã dẫn đến hệ quả gì?

    Toàn bộ những thỏa thuận quy định của Hội nghị I-an-ta đã trở thành khuôn khổ của một trật tự thế giới mới được hình thành sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mà lịch sử gọi là Trật tự hai cực I-an-ta do Liên Xô và Mĩ đứng đầu mỗi cực.

    Những quyết định của Hội nghị I-an-ta đã trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới từng bước được thiết lập sau chiến tranh, thường được gọi là “Trật tự hai cực I-an-ta” đứng đầu là Liên Xô và Mĩ.

    Câu 5: Vì sao nói Hội nghị I-an-ta là một “Hội nghị lịch sử “?

    Hội nghị I-an-ta là một “Hội nghị lịch sử ” vì : Hội nghị đã thông qua những quyết định quan trọng trong việc phân chia khu vực ảnh hưởng giữa hai cường quốc Liên Xô và Mĩ, hình thành một trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai mà lịch sử thường gọi là “Trật tự hai cực I-an-ta” đứng đầu là Liên Xô và Mĩ.

    Câu 6: Liên hợp quốc ra đời trong hoàn cảnh nào?

    Theo quyết định của Hội nghị I-an-ta về việc thành lập một tổ chức quốc tế mới là Liên hợp quốc, từ ngày 25-4 đến 26-6-1945, một hội nghị quốc tế họp tại Xan Pran-xi-co (Mĩ) với sự tham gia của các đại biểu 50 nước, để thông qua bản Hiến chương và tuyên bố thành lập tổ chức Liên hợp quốc.

    Câu 7: Liên hợp quốc hoạt động dựa trên những nguyên tắc nào?

    Liên hợp quốc hoạt động dựa trên những nguyên tắc :

    – Bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia và quyền tự quyết của các dân tộc

    – Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các nước

    – Không can thiệp vào công việc nội bộ của bất kì nước nào

    – Chung sống hòa bình và sự nhất trí giữa năm cường quốc (Liên Xô-nay là Liên bang Nga, Mĩ, Anh, Pháp và Trung Quốc).

    Câu 8: Vai trò của Liên hợp quốc kể từ khi thành lập đến nay như thế nào?

    Trong hơn nửa thế kỉ qua, Liên hợp quốc đã có vai trò quan trọng là :

    – Duy trì hòa bình và an ninh thế giới

    – Giải quyết các vụ tranh chấp, xung đột ở nhiều khu vực

    – Đấu tranh xóa bỏ chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.

    – Giúp đỡ các nước phát triển kinh tế, văn hóa, nhất là đối với các nước Á, Phi và Mĩ La-tinh

    Câu 9: Việt Nam tham gia tổ chức Liên hợp quốc khi nào?

    Vào lúc 18h30 ngày 20-9-1977, Chủ tịch khóa họp Đại hội đồng Liên hợp quốc, thứ trưởng ngoại giao Nam Tư La-đa Moi-xốp trịnh trọng nói : “Tôi tuyên bố Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được công nhận là thành viên của Liên hợp quốc”. Việt Nam là thành viên thứ 149 của Liên hợp quốc

    Câu 10: Việt Nam trở thành ủy viên không thường trực Hội đồng Bản an Liên hợp quốc trong nhiệm kì nào?

    Ngày 16-10-2007, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam là ủy viên không thường trực Hội đồng Bản an Liên hợp quốc nhiệm kì 2008-2009

    Câu 11: Em hiểu như thế nào là “Chiến tranh lạnh”?

    – “Chiến tranh lạnh” là chính sách thù địch về mọi mặt của Mĩ và các nước đế quốc trong quan hệ với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, kéo dài phần lớn thời gian trong nửa sau thế kỉ XX.

    – Đây là cuộc chiến tranh không có xung đột trực tiếp bằng quân sự giữa hai phe nhưng diễn ra trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa-tư tưởng, chạy đua vũ trang làm cho thế giới luôn ở trong tình trạng căng thẳng, phức tạp.

    Câu 12: Nguyên nhân nào dẫn đễn tình trạng “Chiến tranh lạnh”?

    – Trước hết là do sự đối lập về mục tiêu và chiến lược giữa hai cường quốc Liên Xô và Mĩ :

    + Liên Xô chủ trương duy trì hòa bình, an ninh thế giới, bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh phong trào cách mạng thế giời

    + Ngược lại, Mĩ ra sức chống phá Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, đẩy lùi phong trào cách mạng nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới.

    – Mĩ hết sức lo ngại ảnh hưởng to lớn của Liên Xô và chủ nghĩa xã hội

    – Nhưng cũng sau chiến tranh, Mĩ đã vươn lên thành một nước tư bản giàu mạnh nhất, vượt xa các nước tư bản khác, nắm độc quyền vũ khí nguyên tử. Mĩ tự cho mình có quyền lãnh đạo thế giới, làm bá chủ thế giới.

    Câu 13: Trước những hoạt động của Mĩ và các nước đế quốc, Liên Xô đã có những hành động gì?

    Trước tình hình bị đe dọa, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa buộc phải tăng cường ngân sách quốc phòng, củng cố khả năng phòng thủ của mình.

    Câu 14: Mĩ và Liên Xô tuyên bố chấm dứt “Chiến tranh lạnh” từ khi nào?

    Mĩ và Liên Xô tuyên bố chấm dứt “Chiến tranh lạnh” vào tháng 12/1989.

    Câu 15: Vì sao Mĩ và Liên Xô tuyên bố chấm dứt “Chiến tranh lạnh”?

    Hai siêu cường quốc Mĩ và Liên Xô tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh là vì :

    – Cuộc chạy đua vũ trang kéo dài hơn 4 thập niên đã làm cho cả hai nước quá tốn kém và suy giảm “thế mạnh” của họ trên nhiều mặt so với các cường quốc khác.

    – Sự vươn lên mạnh mẽ của Đức, Nhật Bản và các nước Tây Âu đã khiến các nước này đã trở thành những đối thủ cạnh tranh đáng gờm đối với Mĩ. Còn nền kinh tế Liên Xô lúc này càng lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng.

    – Hai cường quốc Mĩ – Xô đều cần phải thoát khỏi thế “đối đầu” để ổn định và củng cố vị thế của mình, vươn lên kịp các nước khác.

    Câu 16: Tại sao nói rằng xu thế hợp tác vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với các dân tộc?

    Xu thế hợp tác vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với các dân tộc vì :

    – Thời cơ : Các dân tộc có điều kiện để hội nhập vào nền kinh tế của thế giới và khu vực, có điều kiện khai thác các nguồn vốn đầu tư, kĩ thuật công nghệ và kinh nghiệm quản lí từ bên ngoài, nhất là các tiến bộ khoa học – kĩ thuật để rút ngắn thời gian xây dựng, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển.

    – Thách thức : Nếu không nắm bắt kịp thời cơ, không hội nhập để phát triển thì sẽ bị tụt hậu. Nhưng nếu hội nhập mà không có con đường và cách thức hợp lí thì sẽ gặp nhiều rủi ro, bất lợi như dễ bị đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc.

    Phần Câu hỏi trắc nghiệm Sử 9 Bài 11

    Tháng 2 – 1945, Hội nghị Ianta được tổ chức với sự tham gia của nguyên thủ những nước nào?

    A. Mĩ, Anh, Pháp.

    B. Mĩ, Liên Xô, Đức

    C. Mĩ, Liên Xô, Nhật Bản.

    D. Mĩ, Liên Xô, Anh.

    Câu 2. Theo quyết định của Hội nghị Ianta vùng Tây Đức và Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của nước nào?

    A. Anh, Mĩ

    B. Liên Xô

    C. Anh

    D. Mĩ

    Câu 3. Theo quyết định của Hội nghị Ianta quân đội nước nào sẽ chiếm đóng vùng Bắc Triều Tiên?

    A. Anh, Mĩ

    B. Liên Xô

    C. Anh

    D. Mĩ

    Câu 4. Theo quyết định của Hội nghị Ianta Việt Nam thuộc phạm vi ảnh hưởng của nước nào?

    A. Pháp

    B. Liên Xô

    C. Anh

    D. Mĩ

    Câu 5. Những thỏa thuận của Hội nghị Ianta đã dẫn đến sự hình thành một trật tự thế giới như thế nào?

    A. Trật tự thế giới một cực do Mĩ đứng đầu.

    B. Trật tự thế giới một cực do Mĩ đứng đầu.

    C. Trật tự thế giới hai cực do Liên Xô và Mĩ đứng đầu mỗi cực.

    D. Trật tự thế giới đa cực, nhiều trung tâm.

    Câu 6. Để gìn giữ hòa bình, an ninh và trật tự thế giới sau chiến tranh, Hội nghị Ianta đã quyết định vấn đề gì?

    A. Thành lập tổ chức Liên Hợp Quốc.

    B. Tổ chức trật tự thế giới sau chiến tranh.

    C. Phân chia các khu vực chiếm đóng và phạm vi ảnh hưởng trên thế giới.

    D. Thực hiện chế độ quân quản ở các nước bại trận.

    Câu 7. Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc vào thời gian nào?

    A. Tháng 8 năm 1977

    B. Tháng 9 năm 1977

    C. Tháng 8 năm 1997

    D. Tháng 7 năm 1995

    Câu 8. Sự kiện nào khởi đầu Chiến tranh lạnh?

    A. Sự hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

    B. Sự ra đời của “Học thuyết Truman”.

    C. Sự ra đời của khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO)

    D. Sự ra đời của Tổ chức Hiệp ước Vác-sa-va.

    Câu 9. Chiến tranh lạnh chủ yếu là cuộc chạy đua trên lĩnh vực nào?

    A. Kinh tế

    B. Chính trị

    C. Khoa học – kĩ thuật

    D. Quân sự

    Câu 10. Sau Chiến tranh lạnh, hầu hết các nước đều ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển với trọng điểm là lĩnh vực nào?

    A. Chính trị

    B. Kinh tế

    C. Văn hóa

    D. Quân sự

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Mĩ Thuật Lớp 7 Bài 8: Ttmt
  • Soạn Bài Tập Đọc: Đất Cà Mau, Trang 89 Sgk Tiếng Việt 5
  • Soạn Bài Tập Đọc: Đất Cà Mau Trang 90 Lớp 5
  • Tập Đọc Lớp 5: Đất Cà Mau
  • Giáo Án Lịch Sử Lớp 5 Trọn Bộ
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100