Phân Tích Hai Câu Luận Và Hai Câu Kết Bài Thơ Tự Tình 2

--- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Bài Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương Ở Ngữ Văn Lớp 11
  • Bài Soạn Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương Ở Ngữ Văn Lớp 11 Chi Tiết
  • Soạn Văn Bài: Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Soạn Bài Từ Trái Nghĩa Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Soạn Văn Bài: Truyện An Dương Vương Và Mị Châu
  • Với đề bài phân tích hai câu luận và hai câu kết bài thơ Tự tình 2, Đọc tài liệu đã tổng hợp và biên soạn phầndàn ý chi tiết và một số bài văn mẫu phân tích 2 câu luận và 2 câu kết của bài thơcho các em học sinh tham khảo.

    Dàn ý phân tích hai câu luận và hai câu kết bài thơ Tự tình 2

    I. Mở bài

    – Giới thiệu tác giả, tác phẩm bài thơ Tự tình 2

    – Giới thiệu vị trí của đoạn trích (2 câu luận và 2 câu kết bài Tự tình)

    II. Thân bài

    – Tổng hợp nội dung của toàn bài Tự tình 2

    – Nêu nội dung chính của 4 câu cuối bài thơ Tự tình 2

    1. Hai câu luận “Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám. Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.”

    – Thể hiện cảnh thiên nhiên sôi động, tươi đẹp

    – Thể hiện sự kháng cự dữ dội, mãnh liệt của tác giả

    2. Hai câu kết “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con!”

    – Ngán ngẫm trước sự trở lại của mùa xuân, khi mùa xuân đến cũng là lúc tuổi xuân ra đi

    – Chán chường trước sự chia sẻ tình yêu

    III. Kết bài

    – Nêu cảm nhận của em về bài thơ Tự tình 2 nói chung và hai cầu luận, hai câu kết bài thơ Tự tình 2 nói riêng.

    Với những ý chính trong phần dàn ý phân tích hai câu luận và hai câu kết bài Tự tình 2, các em học sinh đã có thể thử hình dung được những ý chính trong bài. Ngoài ra, Đọc tài liệu cũng tổng hợp những bài văn mẫu phân tích hai câu luận và hai câu kết bài Tự tình 2 hay nhất cho các em tham khảo về cấu tứ và ngôn từ trong cách hành văn phân tích.

    Văn mẫu phân tích hai câu luận và hai câu kết bài thơ Tự tình 2

    Phân tích 4 câu cuối bài Tự tình 2 tóm tắt

    Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám, Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

    1. Hai câu luận là hình ảnh của tâm tư dậy sóng:

    Giơ tay với thử trời cao thấp, Xoạc cẳng do xem đất vắn dài.

    Tác giả đã dùng động từ mạnh: xiên ngang, đâm toạc để miêu tả một thiên nhiên đầy sức sống. Biện pháp đảo ngừ đã nhấn mạnh hành động dữ dội trong nỗi bi phẫn sâu xa. Đó cũng là hình ảnh ẩn dụ cho cái tôi khao khát bứt phá cái giới hạn của người phụ nữ và muôn xé toạc cái thành kiến đóng váng cả ngàn năm phong kiến để tự khẳng định mình, để tìm đến chân trời dân chủ và hạnh phúc. Cái “tôi” không chịu an phận, chủ động đi tìm hạnh phúc thật là mới mẻ. Tính cách này còn được thể hiện ở bài thơ khác:

    Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con.

    2. Khát khao cũng chỉ là khao khát, nhà thơ quay về thực tại để đối diện với thân phận:

    Ngày xuân tuổi hạc càng cao Non xanh nước biếc càng ngao ngán lòng

    Những người có ý thức về giá trị sự sống thường rất sợ thời gian. Thời gian qua mau mà cuộc đời mãi quạnh hiu chẳng có thay đổi gì, cơ hội tìm kiếm hạnh phúc càng khó. Từ xuân có hai nghĩa: mùa xuân và tuổi xuân. Mùa xuân của đất trời tuần hoàn lặp lại còn tuổi xuân sẽ mãi ra đi. Trong tình cảnh này, lòng người càng thêm chán ngán:

    (Nguyễn Khuyến)

    Phân tích 2 câu luận và 2 câu kết bài thơ Tự tình 2 chi tiết

    “Kính chào chị Hồ Xuân Hương Ôi một tài thơ cỡ khác thường “Xiên ngang mặt đất” câu thơ nhọn “Dê cỏn buồn sừng” chữ hóc xương Không chịu cam tâm làm phận gái Chế giễu nam nhi cả một phường “Bà chúa thơ Nôm” ai sánh kịp Ra ngoài lề lối của văn chương”

    Có lần khi đọc thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương nhà thơ Tế Hanh đã viết một bài thơ để ca ngợi bà có tựa đề Hồ Xuân Hương như sau:

    Quả thật, thơ của Hồ Xuân Hương đúng như những gì mà Tế Hanh đã hết lòng ca ngợi, mà tiêu biểu trong đó phải kể đến là chùm thơ Tự tình, với bài Tự tình 2 là được biết nhiều hơn cả. Nếu như hai câu luận và hai câu thực là nỗi cô đơn, buồn tủi, sự ê chề bẽ bàng của nhân vật trữ tình trước nghịch cảnh tình duyên không vẹn tựa một lời than vãn, chán chường. Thì đến hai câu luận và hai câu kết ta lại thấy được trong đó cái cá tính mạnh mẽ, sự phản kháng của nhà thơ với cái éo le của số phận người phụ nữ, sợ quãng đời xuân sắc qua mau, mà tình duyên không tới đủ.

    “Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”

    Đọc hai câu thơ luận:

    Ta dường như cảm nhận được sự phẫn uất, bực bội của nhân vật trữ tình thể hiện qua những hình ảnh thiên nhiên vốn bình thường, thế mà nay lại mang cả một nỗi niềm đè nén của nhà thơ. Lối nói đảo ngược cấu trúc càng thể hiện được cái lòng chán ghét, uất ức của Hồ Xuân Hương được đẩy lên cao trào. Đó dường như là sự phẫn nộ và sự phẫn nộ ấy lan vào cả cảnh vật, cả đất trời. Thiên nhiên cũng như đang phẫn nộ cùng con người, còn con người vốn đã mang cái lòng tức giận thì nhìn đâu cũng thấy cảnh phản kháng, sự vùng lên thật mạnh mẽ tựa núi lửa phun trào. Và vì vậy, người đọc có cảm giác cả con người lẫn thiên nhiên đều hợp lực mà thách thức tất thảy mọi thứ xung quanh mình.

    Giọng thơ thì ngang ngạnh, bướng bỉnh thể hiện qua các từ như “Xiên ngang”, “Đâm toạc”, vốn vị trí của chúng là vị ngữ nhưng lại được tác giả đảo lên trên đầu càng nhấn mạnh cái sự mạnh mẽ của thiên nhiên sẵn sàng phá vỡ tất cả những gì ngăn trở chúng. Xét lại nhân vật trữ tình, nếu trong mắt nhà thơ có thể mường tượng ra những cảnh vốn bình thường, rêu mọc, đá núi xiên qua mây mù trong một cái khí tức bất mãn, bực bội đến vậy thì chắc hẳn tâm trạng của tác giả phải nổi dông, nổi bão chứ chẳng thường.

    Rêu thì vốn mềm yếu, lại nhỏ bé, còn đá muôn đời vẫn tĩnh tại, dường như chẳng mấy ai để ý đến sự tồn tại của chúng, đó cũng chính là đại diện cho cái thân phận tội nghiệp của người phụ nữ khi xưa. Nhưng giờ đây rêu lại trở nên thật mạnh mẽ cứng cáp, đá cũng thôi im lặng mà đâm toạc cả chân mây, trong một cái không gian rộng lớn như vậy đá và rêu bỗng trở nên mạnh mẽ, phi thường, như thoát khỏi cái xác yếu ớt, hèn kém để bước vào một tầm cao mới. Đây chính là cái khao khát của Hồ Xuân Hương, hai câu thơ tưởng đơn giản, nhưng lại chính là những câu thơ tả cảnh ngụ tình, trước là nỗi tức giận, phẫn uất, sau là cái khao khát mãnh liệt được thoát ra khỏi sự đè ép của chế độ phong kiến, trở nên mạnh mẽ chống lại xã hội, chống lại trời đất, để được tự do thể hiện cái cá tính, được tự do sống là chính mình.

    “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con”

    Sau tất cả nỗi uất giận, tưởng như dông bão thì Hồ Xuân Hương lại quay về với cái thực tại chán ngán của bản thân mình trong hai câu thơ kết, trong một cái vòng luẩn quẩn không lối thoát, trong cái nỗi sầu của phận đàn bà.

    Hồ Xuân Hương đã “ngán” lắm rồi cái thói đời éo le, bạc bẽo, cái sự tuần hoàn lặp lại của mùa xuân tạo hóa. Ta có thể tinh tế nhận ra rằng ở đây Hồ Xuân Hương cũng có một cái ý nghĩ thật tân tiến, mà về sau Xuân Diệu cũng có những quan điểm rất tương đồng. Ấy là quy luật của thời gian, của tuổi trẻ. Mùa xuân của thiên nhiên, của trời đất đi rồi lại trở về, nhưng tuổi xuân của con người thì khác, đặc biệt là tuổi xuân, sắc đẹp của người phụ nữ đã qua đi rồi thì nào có trở lại, rồi con người ta sẽ già, sẽ mất đi. Hỏi thế thì làm sao mà Hồ Xuân Hương không “ngán” cho được.

    Nghịch cảnh ấy càng trở nên éo le hơn trong câu thơ cuối: “Mảnh tình san sẻ tí con con”. Vốn “mảnh tình” nó đã bé nhỏ lắm rồi thế mà lại còn bị “san sẻ” thành từng “tí con con”, nó ít ỏi đến đáng thương, đáng hận. Điều đó ít nhiều gợi nhắc đến cuộc đời làm lẽ của Hồ Xuân Hương, bà lấy chồng hai lần và lần nào cũng làm lẽ cho người ta, thường xuyên phải chịu cảnh phòng không gối chiếc, nhìn chồng vui vẻ với phụ nữ khác. Hơn thế nữa bà còn phải chịu cảnh sớm tang chồng, khi duyên tình chưa bén bao lâu.

    Tất cả đã để lại trong lòng nhà thơ một nỗi đau xót, nỗi tủi hờn cho thân phận phụ nữ trái ngang, tài hoa bạc mệnh của mình. Đồng thời cũng là tấm lòng xót xa chung cho những thân phận phụ nữ đầy rẫy khổ đau, thiệt thòi trong cái xã hội phong kiến bất công, lạc hậu và tù túng.

    Tóm lại, nói riêng và chùm thơ Tự tình nói chung là tiếng nói thật ấn tượng của Hồ Xuân Hương về nỗi đau thân phận, về nỗi niềm tủi hờn của người phụ nữ trong chế độ phong kiến xưa. Đồng thời qua đó nhà thơ càng khẳng định, nhấn mạnh được những vẻ đẹp tiềm ẩm trong phẩm chất, tâm hồn của họ. Đó là sự tài năng, cá tính mạnh mẽ, muốn vượt qua số phận éo le, lòng khát khao hạnh phúc, tình yêu thật nồng nàn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận 4 Câu Thơ Đầu Bài Tự Tình 2
  • Phân Tích Hai Câu Đề Và Hai Câu Thực Bài Tự Tình 2
  • Bài Văn Mẫu Phân Tích Hai Câu Đề Và Hai Câu Thực Bài Tự Tình 2
  • Phân Tích Hai Câu Đề Và Hai Câu Thực Bài Tự Tình (Ii) Của Hồ Xuân Hương.
  • Soạn Văn 10: Truyện Kiều
  • Phân Tích Hai Câu Đề Và Hai Câu Thực Bài Tự Tình 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận 4 Câu Thơ Đầu Bài Tự Tình 2
  • Phân Tích Hai Câu Luận Và Hai Câu Kết Bài Thơ Tự Tình 2
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương Ở Ngữ Văn Lớp 11
  • Bài Soạn Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương Ở Ngữ Văn Lớp 11 Chi Tiết
  • Soạn Văn Bài: Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • 1. Dàn ý phân tích hai câu đề và hai câu thực bài Tự Tình 2

    1. Mở bài

    – Giới thiệu Hồ Xuân Hương

    – Giới thiệu tác phẩm “Tự tình II” và bốn câu thơ đầu trong bài thơ:

    2. Thân bài

    – Hai câu thơ đầu mở ra cảm thức về thời gian và tâm trạng của nữ sĩ

    + Cảm thức về thời gian: Thời gian: đêm khuya. Âm hưởng của tiếng trống canh được đặt trong sự dồn dập, gấp gáp “trống canh dồn” cho thấy nữ sĩ cảm nhận sâu sắc bước đi không ngừng và vội vã của thời gian.

    + Cảm thức về tâm trạng: cảm nhận rõ ràng sự bẽ bàng của phận mình. Tác giả đã sử dụng biện pháp đảo ngữ, từ “trơ” được đưa lên đầu câu có tác dụng nhấn mạnh. “trơ” có nghĩa là tủi hổ, là bẽ bàng, cho thấy “bà Chúa thơ Nôm” đã ý thức sâu sắc bi kịch tình duyên của bản thân. Hai chữ “hồng nhan” được đặt cạnh danh từ chỉ đơn vị “cái” gợi lên sự bạc bẽo, bất hạnh của kiếp phụ nữ.

    – Bức tranh tâm trạng đã được phóng chiếu rõ ràng hơn thông qua hai câu thơ tiếp theo

    + Cụm từ “say lại tỉnh” gợi lên sự tuần hoàn, luẩn quẩn, bế tắc đầy éo le của kiếp người đầy chua chát.

    + Hình tượng “vầng trăng” xuất hiện chính là ý niệm ẩn dụ cho cuộc đời của nữ sĩ: trạng thái “bóng xế”, sắp tàn nhưng vẫn “khuyết chưa tròn” nhấn mạnh bi kịch của cảm thức về thân phận: tuổi xuân đã trôi qua nhưng nhân duyên mãi mãi là sự dang dở, lỡ dở không trọn vẹn.

    → Bức tranh ngoại cảnh đồng nhất với bức tranh tâm trạng.

    3. Kết bài

    – Khái quát lại vấn đề

    2. Phân tích hai câu đề và hai câu thực bài Tự Tình 2 mẫu 1

    Giai đoạn vào giữ thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 là khoảng thời gian phát triển rực rỡ nhất của văn học trung đại Việt Nam. Thời điểm đó xuất hiện những câu bút rất nổi tiếng và người ta hay nhắc đến nhất là đại thi hào Nguyễn Du với tác phẩm Truyện Kiều, cùng bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Một trong số những tác phẩm tiêu biểu của nữ sĩ Hồ Xuân Hương đó là bài thơ Tự tình 2. Qua bài thơ, ta mới hiểu tại sao Hồ Xuân Hương lại được mệnh danh là bà chúa thơ Nôm, là nhà thơ của phụ nữ, chuyên viết về phụ nữ.

    Hồ Xuân Hương sống vào giai đoạn lịch sử đất nước có nhiều biến động. Quê gốc ở Quỳnh Lưu, Nghệ An, nhưng bà chủ yếu sống ở kinh thành Thăng Long. Cuộc đời của Xuân Hương rất truân chuyên, là con vợ lẽ, bản thân cũng đi làm lẽ cho người ta, rồi sớm góa chồng, thậm chí bà góa chồng tận 2 lần. Bà là người có tài lại có sắc, vừa thông minh vừa bản lĩnh. Về sự nghiệp sáng tác, đến nay chỉ còn lưu lại được 40 bài thơ Nôm, và một số bài thơ chữ Hán chép chung trong tập Lưu Hương ký. Nội dung nổi bật là thể hiện sự cảm thông thương xót đối với thân phận éo le, thiệt thòi của những người phụ nữ trong xã hội xưa. Đồng thời trân trọng, khẳng định, đề cao, ngợi ca vẻ đẹp phẩm chất tâm hồn cùng ngoại hình, thể hiện cái khát khao được vươn lên trong cuộc sống, được hạnh phúc sâu sắc của người phụ nữ. Về nghệ thuật, bà luôn tìm cách Việt hóa thơ Đường trong các khía cạnh đề tài, hình ảnh, ngôn ngữ.

    Tự tình 2 nằm trong chùm thơ Tự tình, với âm điệu gần giống những câu ca dao than thân xưa. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật nên gồm 4 phần, đề, thực, luận, kết. Nội dung chính là mạch tâm trạng của người phụ nữ khi giãi bày tâm tư tình cảm của mình. Trong đó, hai câu đề là nỗi buồn tủi, chán chường số phận, hai câu thực là sự cố gắng trốn chạy, cố quên nhưng lại phải đối mặt với thực cảnh và thực tình của mình để thấm thía hơn.

    Hai câu thơ đề đã gợi ra nỗi chán chường, buồn tủi của nhân vật trữ tình bằng việc tái hiện lại bối cảnh thời gian và không gian trong câu khai đề:

    “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn”.

    Thời gian vào lúc “đêm khuya” khi vạn vật đã chìm vào nghỉ ngơi, con người còn thức đến khuya thì có nghĩa đây là khoảng thời gian để đối diện với chính mình, chìm đắm vào nỗi suy tư, nỗi buồn tẻ, thao thức. Tiếng “trống canh dồn” gợi ra bước đi rất vội vã gấp gáp của thời gian. Từ đó, ta có thể đọc được tâm trạng con người trong bối cảnh thời gian ấy, đang chất chứa nhiều nỗi niềm, đó là sự bất an, lo lắng, rối bời, hoảng hốt. Bút pháp lấy động tả tĩnh trong từ “văng vẳng”, cho ta cảm nhận được âm thanh từ rất xa vọng lại, chính tỏ đây là một không gian rộng lớn, tĩnh vắng đến lạ thường. Trong không gian ấy, con người trở nên nhỏ bé, cô đơn, lạc lõng, trơ trọi.

    Nỗi niềm buồn tủi chán chường không chỉ được gợi ra trong không gian và thời gian, mà còn được diễn tả một cách rất trực tiếp trong câu thừa đề bằng cách sử dụng những từ ngữ gây ấn tượng mạnh.

    “Trơ cái hồng nhan với nước non”

    Tác giả nhấn mạnh từ “Trơ” bằng hai biện pháp nghệ thuật kết hợp, đó là nghệ thuật đảo cấu trúc phối hợp với cái nhịp ngắt đầy phá cách 1/3/3. Thông qua đó, tác giả diễn tả nỗi đau và bản lĩnh của Hồ Xuân Hương. “Trơ” có nghĩa là trơ trọi, lạc lõng, tủi hổ, bẽ bàng. “Trơ” cũng còn có nghĩa là trơ lì, chai sạn, ngẩng cao đầu thách thức. Cuối cùng, bà nhấn mạnh khắc sâu hai vế đối lập “cái hồng nhan/nước non”, là cá nhân người phụ nữ với xã hội phong kiến rộng lớn. Từ đó, ta thấy rõ hơn cái bi kịch của người phụ nữ trong xã hội xưa, nhỏ bé, yếu đuối thế mà phải đối mặt với cái xã hội to lớn, đầy rẫy bất công, tưởng chẳng thể ngóc đầu lên được. Cụm từ “cái hồng nhan” là một kết hợp từ rất độc đáo, “hồng nhan” vốn là từ hán việt mang sắc thái trang trọng, thể hiện sự trân trọng với vẻ đẹp của người phụ nữ thế mà lại kết hợp với từ “cái”, một lượng từ thường kết hợp với những từ chỉ đồ vật bé nhỏ, vô tri, vô giác, tầm thường. Gợi ra sự rẻ rúng, coi thường với giá trị của người phụ nữ, thật xót xa, buồn tủi. Hồ Xuân Hương đã cất lên tiếng than cho những thân phận má đào ở xã hội xưa, góp thêm một tiếng nói trong trào lưu nhân đạo của văn học cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19.

    Đến hai câu thực đó là nỗi đau thân phận nổi trôi giữa say và tỉnh, dường như Hồ Xuân Hương đã ngồi nhẫn tàn canh, ngồi một mình trong nỗi cô đơn, để làm bạn với chén rượu cay nồng, để đối mặt với đêm khuya lẻ bóng với vầng trăng lạnh đang soi.

    “Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh,

    Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn”

    Câu thơ chứa đựng biết bao nỗi niềm ngao ngán, nhà thơ uống rượu để cho say, cho quên đi nỗi sầu khổ nhân thế, nhưng trái ngang sao cứ “say lại tỉnh”, gợi cái vòng luẩn quẩn, bế tắc, lặp đi lặp lại. Bà muốn say nhưng rượu cũng chẳng khiến bà say mãi, rồi cũng có lúc phải tỉnh lại. Bà lại phải đối mặt với nỗi cô đơn, với cái nỗi lẻ loi, phải đối diện với đêm khuya mịt mù, thứ mà bà muốn say để trốn tránh. Và khi tỉnh ra rồi lại càng thấm thía hơn cái nỗi cô đơn, trơ trọi mà mình phải gánh chịu.

    Câu “Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tàn” trước hết là ngoại cảnh, sau cũng tâm cảnh. Bởi nó bộc lộ được cảm xúc của nhà thơ, tạo nên cái sự đồng nhất giữa trăng và người. Ta nhận thấy hình ảnh “Vầng trăng bóng xế” có nghĩa là trăng đêm đã sắp tàn, tuổi xuân đã sắp trôi qua hết, nhưng trái ngang sao vẫn “khuyết chưa tròn”, tình duyên của nhà thơ vẫn chưa trọn vẹn, còn lắm lận đận, truân chuyên nhiều bề.

    Hai câu thơ thực mang dáng dấp của một lời than vãn, nghe đâu đây có tiếng thở dài. Nhà thơ như than cho số phận éo le và cũng là than thay cho những người phụ nữ khác có cùng chung cảnh ngộ với bà. Lời than ấy vừa đau đớn, vừa xót xa, như châm kim vào lòng người đọc, một nỗi đau thấu tâm can.

    Như vậy chỉ qua hai câu thơ đề và hai câu thơ luận của Tự tình 2 ta đã thấy được phần nào nỗi cô đơn, lẻ loi, nỗi xót xa, đau đớn trước cái số phận nghiệt ngã lắm truân chuyên của Hồ Xuân Hương, đồng thời cũng là của những người phụ nữ thời bấy giờ. Những dòng thơ ngắn ngủi còn cho thấy cái bản lĩnh mạnh mẽ của một người phụ nữ tuy cuộc đời lắm nhiêu khê, nhưng vẫn dám thách thức với xã hội, đồng thời còn thể hiện cái tài năng thơ văn tuyệt diệu, thâm sâu của mình.

    3. Phân tích hai câu đề và hai câu thực bài Tự Tình 2 mẫu 2

    Trong xã hội phong kiến xưa, số phận người phụ nữ luôn là tấm gương oan khổ của những éo le, bất công. Sống trong xã hội với quan điểm “trọng nam khinh nữ”, có những người trầm lặng cam chịu, nhưng cũng có những người ý thức sâu sắc được bi kịch bản thân, cất lên tiếng nói phản kháng mạnh mẽ. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương là một trong những người phụ nữ làm được điều đó. Bài thơ “Tự tình II” nằm trong chùm thơ bao gồm ba bài là tác phẩm thể hiện rõ điều này. Bốn câu thơ đầu trong bài thơ đã làm nổi bật hoàn cảnh cũng như tâm trạng vừa buồn tủi, vừa phẫn uất muốn vượt lên trên số phận của nữ sĩ:

    “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

    Trơ cái hồng nhan với nước non

    Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

    Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”.

    Tâm trạng của tác giả đã được gợi lên trong đêm khuya, và cảm thức về thời gian đã được tô đậm, nhấn mạnh để làm nền cho cảm thức tâm trạng:

    Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

    Trơ cái hồng nhan với nước non.

    Thời gian lúc nửa đêm nên không gian thật vắng lặng, tịch mịch, chỉ nghe tiếng trống cầm canh từ xa vẳng lại, vạn vật đã chìm sâu trong giấc ngủ, chỉ có nhà thơ còn trăn trở thao thức với tâm sự riêng tây.

    Đã nghe văng vẳng thì không thể có tiếng trống thúc dồn dập được. Âm thanh tiếng trống trở thành âm vang của cõi lòng nôn nao, bồn chồn. (Mỏ thảm không khua mà cũng cốc/ Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om). Bao sức sống dồn nén trong chữ dồn ấy như chực trào ra.

    Lẻ loi trước thời gian đêm khuya và bẽ bàng trước không gian non nước nên cái hồng nhan trơ ra. Cách dùng từ sáng tạo và đầy bất ngờ: hồng nhan là một vẻ đẹp thanh quý mà dùng từ cái tầm thường để gọi thì thật là rẻ rúng, đầy mỉa mai chua xót. Trơ là một nội động từ chỉ trạng thái bất động, hàm nghĩa đơn độc, chai sạn trước nắng gió cuộc đời. Biện pháp đảo ngữ trơ cái hồng nhan đã nhấn mạnh nỗi đơn độc, trơ trọi, bẽ bàng của thân phận. Câu thơ chứa đựng nỗi dau của kiếp hồng nhan. Đặt cái hồng nhan trong mối tương quan với nước non quả là táo bạo, thách thức, cho thấy tính cách mạnh mẽ của nữ thi sĩ, khao khát bứt phá khỏi cái lồng chật hẹp của cuộc đời người phụ nữ phong kiến.

    2. Hai câu thực nói rõ hơn tàm trạng của nhà thơ:

    Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

    Vầng trăng bóng xê khuyết chưa tròn.

    Hai câu thơ có hai hình ảnh ẩn dụ. Hương rượu như hương tình, lúc lên men dậy sóng nhưng cũng chóng nhạt phai nên cuộc đời chao đảo, ngả nghiêng. Thật là trớ trêu cho con tạo. Cái ngọt ngào nồng nàn chỉ thoảng qua còn lại là dư vị chua chát, đắng cay. Say rồi lại tỉnh gợi cái vòng luẩn quẩn, dở dang. Còn vầng trăng khuya càng thêm chơ vơ, lạnh lẽo. Trăng đã xế như tuổi đã luống mà chưa bao giờ có được hạnh phúc trọn vẹn. Hai hình ảnh gợi hai lần đau xót. Vầng trăng của Thuý Kiều (Truyện Kiều – Nguyễn Du) là vầng trăng vỡ, còn của Xuân Hương mãi mãi là vầng trăng khuyết.

    Như vậy, thông qua cách sử dụng ngôn ngữ giàu giá trị biểu đạt kết hợp với những biện pháp tu từ như đảo ngữ, cùng những sáng tạo trong việc xây dựng hình tượng, bốn câu thơ đầu của bài thơ “Tự tình II” đã làm nổi bật cảm thức về thời gian, cho thấy tâm trạng buồn tủi cũng như ý thức sâu sắc về bi kịch duyên phận đầy éo le, ngang trái của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.Chính những yếu tố trên đã giúp bà trở thành “Bà Chúa thơ Nôm”, đồng thời cũng là nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ với tiếng nói cảm thương và tiếng nói tự ý thức đầy bản lĩnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Mẫu Phân Tích Hai Câu Đề Và Hai Câu Thực Bài Tự Tình 2
  • Phân Tích Hai Câu Đề Và Hai Câu Thực Bài Tự Tình (Ii) Của Hồ Xuân Hương.
  • Soạn Văn 10: Truyện Kiều
  • Soạn Văn 10 Bài Truyện Kiều
  • Soạn Bài: Chí Khí Anh Hùng (Trích Truyện Kiều)
  • Bài Văn Mẫu Phân Tích Hai Câu Đề Và Hai Câu Thực Bài Tự Tình 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Hai Câu Đề Và Hai Câu Thực Bài Tự Tình 2
  • Cảm Nhận 4 Câu Thơ Đầu Bài Tự Tình 2
  • Phân Tích Hai Câu Luận Và Hai Câu Kết Bài Thơ Tự Tình 2
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương Ở Ngữ Văn Lớp 11
  • Bài Soạn Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương Ở Ngữ Văn Lớp 11 Chi Tiết
  • Đề bài: Phân tích hai câu đề và hai câu thực bài Tự Tình 2

    Văn mẫu phân tích phân tích hai câu đề và hai câu thực bài Tự Tình 2 hay, chọn lọc

    Bài làm Mẹo Phương pháp phân tích đoạn thơ hay, bố cục chặt chẽ

    Giai đoạn vào giữ thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 là khoảng thời gian phát triển rực rỡ nhất của văn học trung đại Việt Nam. Thời điểm đó xuất hiện những câu bút rất nổi tiếng và người ta hay nhắc đến nhất là đại thi hào Nguyễn Du với tác phẩm Truyện Kiều, cùng bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Một trong số những tác phẩm tiêu biểu của nữ sĩ Hồ Xuân Hương đó là bài thơ Tự tình 2. Qua bài thơ, ta mới hiểu tại sao Hồ Xuân Hương lại được mệnh danh là bà chúa thơ Nôm, là nhà thơ của phụ nữ, chuyên viết về phụ nữ.

    Hồ Xuân Hương sống vào giai đoạn lịch sử đất nước có nhiều biến động. Quê gốc ở Quỳnh Lưu, Nghệ An, nhưng bà chủ yếu sống ở kinh thành Thăng Long. Cuộc đời của Xuân Hương rất truân chuyên, là con vợ lẽ, bản thân cũng đi làm lẽ cho người ta, rồi sớm góa chồng, thậm chí bà góa chồng tận 2 lần. Bà là người có tài lại có sắc, vừa thông minh vừa bản lĩnh. Về sự nghiệp sáng tác, đến nay chỉ còn lưu lại được 40 bài thơ Nôm, và một số bài thơ chữ Hán chép chung trong tập Lưu Hương ký. Nội dung nổi bật là thể hiện sự cảm thông thương xót đối với thân phận éo le, thiệt thòi của những người phụ nữ trong xã hội xưa. Đồng thời trân trọng, khẳng định, đề cao, ngợi ca vẻ đẹp phẩm chất tâm hồn cùng ngoại hình, thể hiện cái khát khao được vươn lên trong cuộc sống, được hạnh phúc sâu sắc của người phụ nữ. Về nghệ thuật, bà luôn tìm cách Việt hóa thơ Đường trong các khía cạnh đề tài, hình ảnh, ngôn ngữ.

    Tự tình 2 nằm trong chùm thơ Tự tình, với âm điệu gần giống những câu ca dao than thân xưa. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật nên gồm 4 phần, đề, thực, luận, kết. Nội dung chính là mạch tâm trạng của người phụ nữ khi giãi bày tâm tư tình cảm của mình. Trong đó, hai câu đề là nỗi buồn tủi, chán chường số phận, hai câu thực là sự cố gắng trốn chạy, cố quên nhưng lại phải đối mặt với thực cảnh và thực tình của mình để thấm thía hơn.

    Hai câu thơ đề đã gợi ra nỗi chán chường, buồn tủi của nhân vật trữ tình bằng việc tái hiện lại bối cảnh thời gian và không gian trong câu khai đề:

    “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn”.

    Thời gian vào lúc “đêm khuya” khi vạn vật đã chìm vào nghỉ ngơi, con người còn thức đến khuya thì có nghĩa đây là khoảng thời gian để đối diện với chính mình, chìm đắm vào nỗi suy tư, nỗi buồn tẻ, thao thức. Tiếng “trống canh dồn” gợi ra bước đi rất vội vã gấp gáp của thời gian. Từ đó, ta có thể đọc được tâm trạng con người trong bối cảnh thời gian ấy, đang chất chứa nhiều nỗi niềm, đó là sự bất an, lo lắng, rối bời, hoảng hốt. Bút pháp lấy động tả tĩnh trong từ “văng vẳng”, cho ta cảm nhận được âm thanh từ rất xa vọng lại, chính tỏ đây là một không gian rộng lớn, tĩnh vắng đến lạ thường. Trong không gian ấy, con người trở nên nhỏ bé, cô đơn, lạc lõng, trơ trọi.

    Nỗi niềm buồn tủi chán chường không chỉ được gợi ra trong không gian và thời gian, mà còn được diễn tả một cách rất trực tiếp trong câu thừa đề bằng cách sử dụng những từ ngữ gây ấn tượng mạnh.

    “Trơ cái hồng nhan với nước non”

    Tác giả nhấn mạnh từ “Trơ” bằng hai biện pháp nghệ thuật kết hợp, đó là nghệ thuật đảo cấu trúc phối hợp với cái nhịp ngắt đầy phá cách 1/3/3. Thông qua đó, tác giả diễn tả nỗi đau và bản lĩnh của Hồ Xuân Hương. “Trơ” có nghĩa là trơ trọi, lạc lõng, tủi hổ, bẽ bàng. “Trơ” cũng còn có nghĩa là trơ lì, chai sạn, ngẩng cao đầu thách thức. Cuối cùng, bà nhấn mạnh khắc sâu hai vế đối lập “cái hồng nhan/nước non”, là cá nhân người phụ nữ với xã hội phong kiến rộng lớn. Từ đó, ta thấy rõ hơn cái bi kịch của người phụ nữ trong xã hội xưa, nhỏ bé, yếu đuối thế mà phải đối mặt với cái xã hội to lớn, đầy rẫy bất công, tưởng chẳng thể ngóc đầu lên được. Cụm từ “cái hồng nhan” là một kết hợp từ rất độc đáo, “hồng nhan” vốn là từ hán việt mang sắc thái trang trọng, thể hiện sự trân trọng với vẻ đẹp của người phụ nữ thế mà lại kết hợp với từ “cái”, một lượng từ thường kết hợp với những từ chỉ đồ vật bé nhỏ, vô tri, vô giác, tầm thường. Gợi ra sự rẻ rúng, coi thường với giá trị của người phụ nữ, thật xót xa, buồn tủi. Hồ Xuân Hương đã cất lên tiếng than cho những thân phận má đào ở xã hội xưa, góp thêm một tiếng nói trong trào lưu nhân đạo của văn học cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19.

    Đến hai câu thực đó là nỗi đau thân phận nổi trôi giữa say và tỉnh, dường như Hồ Xuân Hương đã ngồi nhẫn tàn canh, ngồi một mình trong nỗi cô đơn, để làm bạn với chén rượu cay nồng, để đối mặt với đêm khuya lẻ bóng với vầng trăng lạnh đang soi.

    “Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh,

    Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn”

    Câu thơ chứa đựng biết bao nỗi niềm ngao ngán, nhà thơ uống rượu để cho say, cho quên đi nỗi sầu khổ nhân thế, nhưng trái ngang sao cứ “say lại tỉnh”, gợi cái vòng luẩn quẩn, bế tắc, lặp đi lặp lại. Bà muốn say nhưng rượu cũng chẳng khiến bà say mãi, rồi cũng có lúc phải tỉnh lại. Bà lại phải đối mặt với nỗi cô đơn, với cái nỗi lẻ loi, phải đối diện với đêm khuya mịt mù, thứ mà bà muốn say để trốn tránh. Và khi tỉnh ra rồi lại càng thấm thía hơn cái nỗi cô đơn, trơ trọi mà mình phải gánh chịu.

    Câu “Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tàn” trước hết là ngoại cảnh, sau cũng tâm cảnh. Bởi nó bộc lộ được cảm xúc của nhà thơ, tạo nên cái sự đồng nhất giữa trăng và người. Ta nhận thấy hình ảnh “Vầng trăng bóng xế” có nghĩa là trăng đêm đã sắp tàn, tuổi xuân đã sắp trôi qua hết, nhưng trái ngang sao vẫn “khuyết chưa tròn”, tình duyên của nhà thơ vẫn chưa trọn vẹn, còn lắm lận đận, truân chuyên nhiều bề.

    Hai câu thơ thực mang dáng dấp của một lời than vãn, nghe đâu đây có tiếng thở dài. Nhà thơ như than cho số phận éo le và cũng là than thay cho những người phụ nữ khác có cùng chung cảnh ngộ với bà. Lời than ấy vừa đau đớn, vừa xót xa, như châm kim vào lòng người đọc, một nỗi đau thấu tâm can.

    Như vậy chỉ qua hai câu thơ đề và hai câu thơ luận của Tự tình 2 ta đã thấy được phần nào nỗi cô đơn, lẻ loi, nỗi xót xa, đau đớn trước cái số phận nghiệt ngã lắm truân chuyên của Hồ Xuân Hương, đồng thời cũng là của những người phụ nữ thời bấy giờ. Những dòng thơ ngắn ngủi còn cho thấy cái bản lĩnh mạnh mẽ của một người phụ nữ tuy cuộc đời lắm nhiêu khê, nhưng vẫn dám thách thức với xã hội, đồng thời còn thể hiện cái tài năng thơ văn tuyệt diệu, thâm sâu của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Hai Câu Đề Và Hai Câu Thực Bài Tự Tình (Ii) Của Hồ Xuân Hương.
  • Soạn Văn 10: Truyện Kiều
  • Soạn Văn 10 Bài Truyện Kiều
  • Soạn Bài: Chí Khí Anh Hùng (Trích Truyện Kiều)
  • Soạn Văn Bài: Truyện Kiều Của Nguyễn Du
  • Dàn Ý Phân Tích Hai Câu Luận Và Hai Câu Kết Bài Thơ Tự Tình 2 (Ngắn Gọn, Hay Nhất)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 11 Sách Giáo Khoa Tập 1: Tự Tình 2 (Hồ Xuân Hương)
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Tự Tình Lớp 11
  • Soạn Bài Tự Tình Sgk Ngữ Văn 11 Tập 1
  • Soạn Bài Tự Tình Ii Của Hồ Xuân Hương
  • Soạn Bài Tự Tình Của Tác Giả Hồ Xuân Hương
  • Dàn ý phân tích hai câu luận và hai câu kết bài thơ Tự tình 2 – Mẫu số 1

    1. Mở bài

    – Giới thiệu tác giả, tác phẩm bài thơ Tự tình 2

    – Giới thiệu vị trí của đoạn trích (2 câu luận và 2 câu kết bài Tự tình)

    2. Thân bài

    Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám.

    Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.”

    + Những sinh vật bé nhỏ như đám rêu kia mà vẫn không chịu phận nhỏ bé, hèn mọn, không chịu yếu mềm. Tất cả như đang muốn bứt thoát hẳn lên: rêu phải mọc “xiên ngang mặt đất”, đá đã rắn chắc lại phải rắn chắc hơn, lại phải nhọn hoắt để “đâm toạc chân mây”.

    + Nghệ thuật đảo ngữ càng làm nổi bật sự phẫn uất của đá, của rêu và cũng là sự phẫn uất của tâm trạng con người.

    Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

    Mảnh tình san sẻ tí con con!”

    + “Ngán” là chán ngán, là ngán ngẩm. Xuân Hương ngán nỗi đời éo le, bạc bẽo bởi xuân đi rồi xuân lại lại, tạo hoá đang chơi một vòng quay nhàm chán như chính chuyện duyên tình của con người.

    + Từ xuân vừa chỉ mùa xuân, vừa được dùng với nghĩa chỉ tuổi xuân. Với thiên nhiên, xuân đi rồi xuân lại nhưng với con người thì tuổi xuân đã qua không bao giờ trở lại. Hai từ “lại” trong cụm từ “xuân đi xuân lại lại” cũng mang hai nghĩa khác nhau. Từ “lại” thứ nhất là thêm một lần nữa, trong khi đó, từ “lại” thứ hai nghĩa là trở lại. Mùa xuân trở lại nhưng tuổi xuân lại qua đi, đó là cái gốc sâu xa của sự chán ngán.

    3. Kết bài

    – Nêu cảm nhận chung

    Dàn ý phân tích hai câu luận và hai câu kết bài thơ Tự tình 2 – Mẫu số 2

    1. Mở bài

    – Giới thiệu tác giả, tác phẩm bài thơ Tự tình 2

    – Giới thiệu vị trí của đoạn trích (2 câu luận và 2 câu kết bài Tự tình)

    2. Thân bài

    – Tổng hợp nội dung của toàn bài Tự tình 2

    – Nêu nội dung chính của 4 câu cuối bài thơ Tự tình 2

    Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám.

    Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.”

    – Thể hiện cảnh thiên nhiên sôi động, tươi đẹp

    – Thể hiện sự kháng cự dữ dội, mãnh liệt của tác giả

    Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

    Mảnh tình san sẻ tí con con!”

    – Ngán ngẫm trước sự trở lại của mùa xuân, khi mùa xuân đến cũng là lúc tuổi xuân ra đi

    – Chán chường trước sự chia sẻ tình yêu

    3. Kết bài

    – Nêu cảm nhận của em về bài thơ Tự tình 2 nói chung và hai cầu luận, hai câu kết bài thơ Tự tình 2 nói riêng.

    Phân tích hai câu luận và hai câu kết bài thơ Tự tình 2 – Bài mẫu

    Trong hệ thống những bài thơ mang chứa tâm sự của Hồ Xuân Hương, “Tự tình” là một trong những bài thơ hay nhất. Bài thơ thể hiện nỗi buồn, nỗi cô đơn thấm thía của người yêu đời, tràn đầy sức sống nhưng gặp cảnh ngộ éo le, một con người luôn khao khát tình yêu nhưng chỉ gặp toàn dang dở, bất hạnh. Đó còn là sự bất hạnh của một mơ ước không thành

    Hai câu luận là hình ảnh của tâm tư dậy sóng:

    Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám, Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

    Tác giả đã dùng động từ mạnh: xiên ngang, đâm toạc để miêu tả một thiên nhiên đầy sức sống. Biện pháp đảo ngừ đã nhấn mạnh hành động dữ dội trong nỗi bi phẫn sâu xa. Đó cũng là hình ảnh ẩn dụ cho cái tôi khao khát bứt phá cái giới hạn của người phụ nữ và muôn xé toạc cái thành kiến đóng váng cả ngàn năm phong kiến để tự khẳng định mình, để tìm đến chân trời dân chủ và hạnh phúc. Cái “tôi” không chịu an phận, chủ động đi tìm hạnh phúc thật là mới mẻ. Tính cách này còn được thể hiện ở bài thơ khác:

    Giơ tay với thử trời cao thấp, Xoạc cẳng do xem đất vắn dài.

    Khát khao cũng chỉ là khao khát, nhà thơ quay về thực tại để đối diện với thân phận:

    Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con.

    Những người có ý thức về giá trị sự sống thường rất sợ thời gian. Thời gian qua mau mà cuộc đời mãi quạnh hiu chẳng có thay đổi gì, cơ hội tìm kiếm hạnh phúc càng khó. Từ xuân có hai nghĩa: mùa xuân và tuổi xuân. Mùa xuân của đất trời tuần hoàn lặp lại còn tuổi xuân sẽ mãi ra đi. Trong tình cảnh này, lòng người càng thêm chán ngán:

    N gày xuân tuổi hạc càng cao

    Non xanh nước biếc càng ngao ngán lòng

    (Nguyễn Khuyế n)

    Từ ngán đặt ở đầu câu với trọng âm của nó có ý nghĩa nhân mạnh tâm trạng chán chường. Từ lại thứ nhất là trợ từ có nghĩa là thêm lần nữa, từ lại thứ hai là động từ, nghĩa là trở về. Cụm từ xuân lại lại mang ý nghĩa biểu cảm tâm trạng đang bị dày vò, day rứt. Trong khi ấy mảnh tình đã nhỏ mà cũng phải san sẻ nên chi còn tí con con. Từ láy cỏn con là quá nhỏ còn điệp từ con con là nhỏ dần, đến lúc sẽ chẳng còn thấy nữa. Nên biện pháp tăng tiến trong câu thơ cho thấy thân phận làm lẽ thật tội nghiệp, hạnh phúc đang hao mòn dần và dự báo sẽ chẳng còn.

    Qua bài thơ này, ta càng thấy rõ Hồ Xuân Hương đã đưa ngôn ngữ dân gian, tiếng nói đời thường vào lời ca, bình dị hoá và Việt hoá thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bà xứng đáng là “Bà chúa thơ Nôm” của nền thi ca dân tộc.

    Như vậy, Top lời giải đã vừa cung cấp những dàn ý cơ bản cũng như một số bài văn mẫu hay Dàn ý phân tích hai câu luận và hai câu kết bài thơ Tự tình 2 để các em tham khảo và có thể tự viết được một bài văn mẫu hoàn chỉnh. Chúc các em học tốt môn Ngữ Văn !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 11
  • Giáo Án Bài Tự Tình (Hồ Xuân Hương)
  • Giáo Án Bài Tự Tình Ngữ Văn 11
  • Giáo Án Ngữ Văn 11: Văn Bản Tự Tình (Bài Ii) Hồ Xuân Hương
  • Hướng Dẫn Soạn Bài : Tự Tình ( Hồ Xuân Hương )
  • Soạn Tự Tình (Bài Ii)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tự Tình (Ii) Trang 18 Sgk Văn 11
  • Bài Soạn Siêu Ngắn: Tự Tình
  • Soạn Bài: Tự Tình Ii Trang 18 Sgk Ngữ Văn 11 Tập 1
  • 3 Bài Phân Tích Bài Thơ Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương Hay Nhất
  • Soạn Bài Tự Tình Sbt Văn Lớp 11 Tập 1 (Giải Câu 1, 2, 3, 4 Trang 17)…
  • Trả lời câu 1 (trang 19 SGK Ngữ Văn 11 tập 1) Hoàn cảnh và tâm trạng nhà thơ qua bốn câu thơ đầu:

    – Hoàn cảnh:

    + Thời gian đêm khuya: nhân vật trữ tình thao thức, tự đối diện với tâm sự của chính mình.

    + Không gian nước non: mênh mông, tĩnh lặng, đối lập với con người bé nhỏ, tội nghiệp.

    + Âm thanh trống canh dồn gợi sự chảy trôi của thời gian, sự qua đi của tuổi trẻ.

    + Từ trơ đảo ra đầu câu cùng cách kết hợp từ cái với hồng nhan gợi cảnh ngộ cô độc, bẽ bàng, lạc lõng trước vũ trụ và cuộc đời rộng lớn.

    – Tâm trạng:

    + say lại tỉnh: trạng thái chìm trong nỗi đau thấm thía triền miên không thoát ra được.

    + Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn: biểu tượng cho hạnh phúc dở dang, hẩm hiu, không trọn vẹn.

    Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 19 SGK Ngữ Văn 11 tập 1) Phân tích câu 5,6:

    – Hình tượng thiên nhiên rêu, đá được miêu tả trong hành động mạnh mẽ, quyết liệt: xiên ngang mặt đất, đâm toạc chân mây.)

    + Biện pháp đảo ngữ: vị ngữ (xiên ngang mặt đất, đâm toạc chân mây) đứng trước chủ ngữ (rêu từng đám, đá mấy hòn).

    + Đảo trật tự từ: danh từ trung tâm (rêu, đá) đứng trước các từ chỉ loại, chỉ lượng (từng đám, mấy hòn).

    + Các động từ mạnh: Xiên ngang, đâm toạc.

    Câu 3

    + Ngán: tâm trạng chán chường trước đời éo le, bạc bẽo, lận đận.

    + Xuân vừa là mùa xuân thiên nhiên, vừa là tuổi xuân.

    + Từ lại thứ nhất có nghĩa là thêm lần nữa, từ lại thứ hai nghĩa là sự trở lại kết hợp với cụm từ “lại lại” chỉ sự chảy trôi của thời gian.

    Câu 4

    – Bi kịch duyên phận dở dang, cô độc.

    – Khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Tự Tình (Ii) Trang 18 Văn 11
  • Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Soạn Bài Tự Tình Của Tác Giả Hồ Xuân Hương
  • Soạn Bài Tự Tình Ii Của Hồ Xuân Hương
  • Soạn Bài Tự Tình Sgk Ngữ Văn 11 Tập 1
  • Soạn Bài Tự Tình Ii

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tự Tình (Bài Ii) (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Soạn Bài Thầy Bói Xem Voi (Chi Tiết)
  • Soạn Bài: Thầy Bói Xem Voi
  • Soạn Bài Từ Đồng Nghĩa (Chi Tiết)
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Câu 1 Câu 1 (trang 19 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

    – Thời gian: Đêm khuya.

    – Không gian: trống trải, mênh mông rợn ngợp.

    – Lòng người: trơ trọi, từ “trơ” đi liền với “cái hồng nhan” cùng biện pháp đảo ngữ gợi cảm giác xót xa, bẽ bàng.

    – Cụm từ “say lại tỉnh” gợi lên cái vòng luẩn quẩn, càng buồn, càng cảm nhận được nỗi đau của thân phận.

    – Hình ảnh “Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” là hình tượng chứa hai lần bi kịch: trăng sắp tàn ( bóng xế) mà vẫn khuyết chưa tròn. Đó là sự tương đồng với người phụ nữ, tuổi xuân trôi qua mà hạnh vẫn chưa trọn vẹn.

    Câu 2 Câu 2 (trang 19 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

    – Hình tượng thiên nhiên trong hai câu 5 và 6 đã góp phần diễn tả tâm trạng, thái độ của nhà thơ trước số phận người con gái:

    + Biện pháp đảo ngữ kết hợp với các động từ mạnh “xiên”, “đâm” kết hợp với bổ ngữ thể hiện sự ngang ngạnh, bướng bỉnh của nhà thơ.

    + Hình ảnh: rêu (mềm yếu), đá (thấp bé) không cam chịu số phận, bằng mọi cách cố vươn lên những cản trở (mặt đất, chân mây) để chứng tỏ mình

    Câu 3 Câu 3 (trang 19 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

    – Hai câu kết chính là tâm trạng của tác giả về duyên phận, về tình yêu.

    + Câu 1: Một khi đã ra đi thì sẽ không bao giờ quay trở lại nữa. Sự trở lại của mùa xuân đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi trẻ.

    + Câu 2: Một cuộc tình duyên không trọn vẹn của người phụ nữ hoặc Hồ Xuân Hương cũng ám chỉ hoàn cảnh éo le của những người phụ nữ phải chịu cảnh làm thê thiếp nhỏ bé, phải tranh giành, sẻ chia tình yêu của mình cho người phụ nữ khác.

    Câu 4 Câu 4 (trang 19 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

    – Bi kịch:

    + Chi tiết: đưa say lại tỉnh, trăng bóng xế khuyết chưa tròn, xuân đi xuân lại lại, mảnh tình san sẻ tí con con

    – Khát vọng: thể hiện qua hai câu luận. Đó dù là sự sự cô đơn, dù là hoàn cảnh không được tốt đẹp, duyên phận hẩm hiu những ở tác giả vẫn luôn là khát khao được sống, được hạnh phúc, không cam chịu số phận.

    Luyện tập Câu hỏi (trang 20 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

    + Giống nhau: Sử dụng thơ Nôm đường luật, mượn cảm thức về thời gian để thể hiện tâm trạng Cả hai bài đều là lời tự bạch, tự trải lòng mình của Hồ Xuân Hương.

    + Khác nhau:

    Bài I: nỗi oán hận, nỗi sầu thảm bởi đến duyên mà chẳng gặp duyên. Dẫu vậy, vẫn còn niềm tin và sự ngạo nghễ để khẳng định “thân này đâu đã chịu gì tom”.

    Bài II: Nỗi chán ngán, chua chát bẽ bàng vì có cũng như không. Kết bài thơ, có bản lĩnh mấy Hồ Xuân Hương cũng không thể dấu được nỗi chán ngán vô cùng.

    Bố cục Bố cục : 4 phần

    – Đề (hai câu đầu): Nỗi niềm buồn tủi cô đơn của nữ sĩ trong đêm khuya thanh vắng

    – Thực (hai câu tiếp): Tình cảnh đầy chua xót, bẽ bàng

    – Luận (hai câu tiếp theo): Thái độ phản kháng phẫn uất

    – Kết (hai câu cuối): Tâm trạng chán chường, buồn tủi

    ND chính

    Tự tình (bài II) thể hiện tâm trạng, thái độ của Hồ Xuân Hương: vừa đau buồn, vừa phẫn uất trước duyên phận, gắng gượng vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch. Bài thơ cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và tài năng của “Bà Chúa Thơ Nôm”.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Tự Tình Lớp 11
  • Soạn Bài Tự Tình (Bài 2)
  • Soạn Bài Tự Tình 2 (Hồ Xuân Hương)
  • Soạn Bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Tiếp Theo) (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Tuyên Ngôn Độc Lập Của Hồ Chí Minh
  • Bài Soạn Siêu Ngắn: Tự Tình

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Tự Tình Ii Trang 18 Sgk Ngữ Văn 11 Tập 1
  • 3 Bài Phân Tích Bài Thơ Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương Hay Nhất
  • Soạn Bài Tự Tình Sbt Văn Lớp 11 Tập 1 (Giải Câu 1, 2, 3, 4 Trang 17)…
  • Soạn Bài Tự Tình Sách Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11 Tập 1
  • Bài 1 Trang 20 Sgk Ngữ Văn Lớp 11 Tập 1
    • Hồ Xuân Hương, quê : Nghê An nhưng sống chủ yếu ở Thăng Long.
    • Cuộc đời: lận đận, tình duyên gặp nhiều ngang trái.
    • Con người: Sắc sảo, cá tính và rất bản lĩnh.
    • Sự nghiệp sáng tác:
      • Được mênh danh là “Bà chúa thơ Nôm”
      • Nghệ thuật: trào phúng mà trữ tình, táo bạo mà tinh tế, đậm đà chất văn học dân gian.
      • Nội dung: tiếng nói thương cảm, khẳng định, đề cao vẻ đẹp khát vọng của người phụ nữ

    Tác phẩm:

    • Xuất xứ: Là bài thứ hai trong chùm thơ “Tự tình” gồm ba bài.
    • Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật
    • Kết cấu: Đề – thực – luận – kết.

    Trả lời:

    Nhân vật trữ tình tìm đến rượu để giải sầu nhưng nỗi buồn không thể nguôi ngoai hơn được mà cứ say rồi lại tỉnh. Ngắm vầng trăng thì trăng xế bóng, khuyết chưa tròn. Câu thơ tả ngoại cảnh nhưng cũng là tâm cảnh tạo nên sự đồng nhất giữa trăng và người. Trăng sắp tàn mà vẫn chưa tròn – tuổi xuân trôi qua mà hạnh phúc không trọn vẹn.

    Trả lời:

    Hai hình ảnh thiên nhiên rất dữ dội thể hiện sự bức bối trong tâm trạng và khát khao phá vỡ những lối mòn quen thuộc của cuộc sống để được tự do. Rêu là một sinh vật nhỏ yếu, hèn mọn nhưng cũng không chịu khuất phục, mềm yếu; nó phải xiên ngang mặt đất. Đá vốn rất chắc nhưng giờ cũng ngọn hơn để đâm toạc chân mây.

    Lối đảo ngữ cùng với những động từ mạnh xiên, đâm kết hợp với các bổ ngữ như ngang, toạc thể hiện rõ hơn nỗi khát khao hạnh phúc, giải thoát khỏi cô đơn của nhà thơ.

    Trả lời:

    Hai câu kết nói lên tâm trạng chán chường, buồn tủi của nhà thơ. Thời gian vô tình cứ trôi chảy, xuân của tự nhiên qua đi rồi trở lại nhưng xuân của người (tuổi trẻ) thì không.. Xuân đi xuân lại lại chính là cái vòng luẩn quẩn của tạo hóa. Sự trở lại của mùa xuân cũng đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi trẻ.

    Câu thơ cuối phản phất sự cay đắng chua xót của người phụ nữ bất hạnh, có những cuộc tình duyên không trọn vẹn đủ đầy. Tác giả sử dụng nghệ thuật tăng tiến. Đây không phải là khối tình mà là mảnh tình, tức là hết sức bé nhỏ. Mảnh tình bé nhỏ lại đem san sẻ để chỉ còn tí con con.

    Trả lời:

    Trong Tự tình, nhà thơ đã dùng nhiều từ ngữ và hình ảnh gây ấn tượng mạnh có khả năng biểu lộ chính xác và tinh tế trạng thái tâm trạng của nhân vật trữ tình. Đó là sự cô đơn, là khát khao được sống, được hạnh phúc. Tâm trạng uất ức bị dồn nén dường như được thoát ra, trải ra cùng những hình ảnh, những từ ngữ táo bạo ấy.

    Trả lời:

    Hai bài thơ Tự tình (bài I) và Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương có những điểm tương đồng và khác biệt:

    Tương đồng:

    • Nội dung: Tâm trạng của nhân vật trữ tình (người phụ nữ) trong xã hội phong kiến xưa trước duyên phận hẩm hiu, đầy éo le và nghịch cảnh và sự vươn lên để vượt thoát của con người trước nghịch cảnh ấy.
    • Nghệ thuật:
      • Cùng sử dụng thể thơ Đường luật
      • Đều mượn cảm thức về thời gianvà không gian rộng, yên tĩnh để thể hiện tâm trạng.
      • Sử dụng những từ ngữ có sức gợi: văng vẳng, cái hồng nhan, tí con con, rền rĩ, mõm mòm, già tom,…

    Khác biệt:

    • Tự tình (bài I): sự xót xa của Hồ Xuân Hương trước duyên phận hẩm hiu, trước sự bất hạnh của người phụ nữ trong kiếp sống làm vợ lẽ, đơn côi, lẻ loi. Đồng thời, cũng là sự vươn lên trước nghịch cảnh để đối đầu với số phận.
    • Tự tình (bài II): Tâm trạng vừa buồn tủi, vừa phẫn uất trước duyên phận éo le, gắng gượng vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch. Bài thơ cũng cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Tự Tình (Ii) Trang 18 Sgk Văn 11
  • Soạn Tự Tình (Bài Ii)
  • Soạn Bài Tự Tình (Ii) Trang 18 Văn 11
  • Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Soạn Bài Tự Tình Của Tác Giả Hồ Xuân Hương
  • Soạn Bài Lớp 11: Tự Tình

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 11 Bài Tự Tình 2 Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Tự Tình Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Tự Tình Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Tự Tình 2 (Hồ Xuân Hương)
  • Soạn Bài: Tự Tình (Bài Ii)
  • Soạn bài lớp 11: Tự tình

    Soạn bài môn Ngữ văn lớp 11 học kì I

    Soạn bài: Tự tình

    TỰ TÌNH

    Hồ Xuân Hương I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

    1. Hồ Xuân Hương là nữ sĩ tài năng, là hiện tượng văn học trung đại Việt Nam, song cũng là nhà thơ mà cuộc đời còn rất nhiều bí ẩn. Hiện nay phần đông các nhà nghiên cứu thống nhất ý kiến: Bà là con ông Hồ Phi Diễn, một nhà Nho nghèo quê ở Nghệ An. Ông Hồ Phi Diễn ra Bắc dạy học và lấy vợ lẽ, rồi sinh ra Hồ Xuân Hương. Gia đình bà từng sống ở Thăng Long. Bà giao du rộng rãi, đường tình duyên của bà gặp nhiều trắc trở.

    2. Bài thơ thuộc chùm ba bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương. Chùm thơ bộc lộ tâm sự của một người phụ nữ đa đoan luôn khát khao hạnh phúc nhưng luôn gặp những điều bất hạnh. Hiện lên trong chùm thơ là người phụ nữ đằm thắm, cá tính mãnh liệt nhưng không thiếu sự dịu dàng yếu đuối của nữ tính. Bài thơ đã thể hiện một số đặc điểm nổi bật trong phong cách nghệ thuật Hồ Xuân Hương, đó là cảm xúc táo bạo, cái Tôi cá nhân đầy tâm trạng và những hình thơ đầy cá tính với một niềm khát khao hạnh phúc, khát khao sống mãnh liệt. Bài thơ Tự tình tiêu biểu cho phong cách thơ Hồ Xuân Hương ở nỗi cô đơn, ở niềm khát khao hạnh phúc, ở tâm trạng uất ức luôn muốn phá vỡ những khuôn khổ chật hẹp của cuộc sống. Trong bài thơ có sự xuất hiện rất rõ ràng và cụ thể hình tượng nhân vật trữ tình. Cái Tôi cá nhân xuất hiện rất rõ với tâm trạng buồn và cô đơn trĩu nặng.

    II. RÈN KĨ NĂNG

    1. Hai câu đầu khái quát không gian, thời gian làm nền cho tâm trạng. Thời gian: đêm khuya. Không gian: trống trải, mênh mông, văng vẳng tiếng trống cầm canh. Đêm khuya buồn và vắng. “Trống canh dồn” gợi vẻ tĩnh lặng của không gian và sự trôi chảy gấp gáp của thời gian. Trên cái nền không gian trống trải ấy xuất hiện hình ảnh nhỏ nhoi đến cô độc “trơ cái hồng nhan”. Cái đối với nước non đã nhỏ nhoi lắm rồi lại thêm “cái” như một sự xác đinh, như sự đóng đinh cái lẻ loi vào nền không gian trải rộng. Hai câu thơ làm nổi bật lên sự cố đơn, lẻ loi của nhân vật trữ tình.

    2. Hai câu 3 – 4 trực tiếp thể hiện tâm trạng. Đó là tâm trạng buồn không lối thoát. Nhân vật trữ tình tìm đến rượu để giải thoát mình khỏi nỗi cô đơn. Nhưng hương rượu lại càng làm cho người tỉnh táo hơn. Tỉnh và nhận ra sự thật phũ phàng: hạnh phúc không vẹn tròn. Hình ảnh “Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” thể hiện nỗi cay đắng. Nó khiến người ta liên tưởng đến cảnh ngộ của người phụ nữ bị rơi vào cảnh ngộ duyên phận lỡ làng. Người phụ nữ ấy không chấp nhận thực tại và vẫn khát khao hạnh phúc.

    3. Hai câu 5 – 6 mang đậm cá tính của Hồ Xuân Hương. Hai hình ảnh thiên nhiên rất dữ dội thể hiện sự bức bối trong tâm trạng và khát khao phá vỡ những lối mòn quen thuộc của cuộc sống để được tự do. Lối đảo ngữ cùng với những động từ mạnh và gợi cảm thể hiện rõ hơn nỗi khát khao hạnh phúc, giải thoát khỏi cô đơn của nhân vật trữ tình.

    4. Hai câu kết bỗng nhiên chùng xuống. Dường như mọi cố gắng đều vô ích. Sự thật vẫn là sự thật. Tâm trạng được trực tiếp bộc lộ. Thời gian vô tình cứ trôi chảy, xuân của tự nhiên qua đi rồi trở lại nhưng xuân của người thì không. Câu thơ cuối phản phất sự cay đắng chua xót của người phụ nữ bất hạnh, có những cuộc tình duyên không trọn vẹn đủ đầy.

    5. Trong Tự tình, nhà thơ đã dùng nhiều từ ngữ và hình ảnh gây ấn tượng mạnh, đó là các từ thuần Việt giàu hình ảnh, màu sắc với sắc thái đặc tả mạnh, như các động từ dồn, trơ, xế, đâm toạc, xiên ngang, đi, lại lại, san sẻ…, các tính từ say, tỉnh, khuyết, tròn… Các từ ngữ này có khả năng biểu lộ chính xác và tinh tế trạng thái tâm trạng của nhân vật trữ tình. Đó là sự cô đơn, là khát khao được sống, được hạnh phúc. Tâm trạng uất ức bị dồn nén dường như được thoát ra, trải ra cùng những hình ảnh, những từ ngữ táo bạo ấy.

    III. TƯ LIỆU THAM KHẢO 1. Về tác giả “… Đường chồng con chắc nhiều long đong. Đến nay mới rõ tên một người chồng là Trần Phúc Hiển, vào những năm 1810, thế kỷ XIX làm tri phủ Tam Đài tức về sau là Vĩnh Tường, rồi tiếp theo giữ chức tham hiệp An Quảng và mất năm 1819. Còn ông phủ Vĩnh Tường có phải Trần Phúc Hiển hay một người khác, Tổng Cóc là ai? Có phải là Nguyễn Bình Kính ở phủ Lâm Thao hay là người nào? Cứ lẽ thường ngày xưa, khó lòng một ông quan tỉnh lại đi lấy vợ góa của kẻ thấp hơn mình dù lấy làm thiếp và vì nể tài. Mấy mươi bài thơ xướng họa giữa Tốn Phong Thị được sáng tác vào quãng 1807-1814, mà giọng chân thực không có gì đáng nghi ngờ, lại cho thấy một Hồ Xuân Hương không còn mười tám đôi mươi nhưng “quả mai ba bảy đương vừa” mà trong tâm tư đã cho mình thuộc số má đào phận bạc và lấy làm xấu hổ khi nghĩ đến chuyện chồng con. Chỗ này chưa thấy ánh sáng. Điều chắc chắn là phận chồng con không ra gì. Một điều thường được ghi nhận là Xuân Hương đi đây đi đó nhiều nơi, lên tận Tuyên Quang, vào tới Thanh Hóa, qua đến An Quảng, sang cả Ninh Bình, còn Vĩnh Yên, Sơn Tây, Hà Đông đều có vết chân của nữ sĩ. Thời xưa, với phụ nữ, chu du như vậy rất khó. Có người không dám tin, nhưng thơ Hồ Xuân Hương lại là bằng chứng. Xuân Hương lãng du như thế vào thời gian nào? Khó mà xác định nhưng bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình là chỗ từng trải của Xuân Hương. Xuân Hương mất năm nào? Chưa đâu đáng tin bằng lời thơ của Miên Thẩm: trước 1842. Như vậy Xuân Hương thuộc vào thế hệ các nhà thơ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX và nhỏ tuổi hơn Nguyễn Du. Nói thêm một chút về ngôn ngữ: Sở dĩ ngôn ngữ Xuân Hương lột được mọi ý đồ của nữ sĩ chính vì cái tài vô song của người vận dụng. Cái tài ấy chẳng khác cái tài của người làm xiếc. Vượt xa trên mức tưởng tượng. Tài tình như thần thông biến hóa. Dân gian mà cổ điển. Điêu luyện mà cứ hồn nhiên. Thực hư, hư thực, nó đấy mà không phải nó, bóng mà hình, hình mà bóng, đùa mà thật, thật mà đùa. Có vẻ như Tôn Ngộ Không. Với Tam Tạng thì chỉ một thân, trung thực, chân chất đến xúc động, nhưng với yêu quái, ma vương thì có đến trăm Tôn Ngộ Không, chẳng biết đâu là thật là giả… Chính xác đến ghê người. Nói đến con dê chưa thật đã lớn, nhưng cũng chẳng còn là dê con, loại dê choai choai, hăng máu một cách liều lĩnh, Xuân Hương dùng “dê cỏn” chứ không dùng “dê con”. ấy là Xuân Hương muốn chỉ bọn thầy khóa hãy trẻ tơ, chưa đủ lông đủ cánh gì, non nớt tuổi đời, non cả tài thơ mà dám chơi trèo, định ghẹo tới bà chị và làm thơ để ghẹo…Đồn rằng Nguyễn Khuyến nói về Hồ Xuân Hương có câu: Thơ thánh, thơ tiên đời vẫn có,Tản Đà cũng cho “trong thơ Xuân Hương có quỷ”. Xuân Diệu gọi nữ sĩ là “Bà chúa thơ Nôm”. Hẳn đó là những lời khen đáng tin. Tuy có vẻ mỗi người như muốn nhìn một mặt của thơ Xuân Hương, nhưng ngẫm kỹ thì đều dụng ý nói toàn diện cái tài tình của nữ sĩ, nội dung cũng như hình thức.”

    2. Thơ Hồ Xuân Hương “Nhìn chung trong thơ cổ điển của nước ta, bao gồm từ Chu Mạnh Trinh trở lên, nếu xét về khía cạnh có tính cách dân tộc hơn cả có lẽ thơ Hồ Xuân Hương “thì treo giải nhất chỉ nhường cho ai”. Thơ Hồ Xuân Hương Việt Nam hơn cả vì đã thống nhất được đến cao độ hai tính cách dân tộc và đại chúng… … Nội dung thơ Hồ Xuân Hương toát ra từ đời sống “bình dân, hằng ngày và trên đất nước nhà. Xuân Hương nói ngay những cảnh có thực của núi sông ta, vứt hết cả sách vở, khuôn sáo, lấy hai con mắt của mình mà nhìn, cái đèo Ba Dội của Xuân Hương rõ là ba dội, ba đèo, tùm hum nóc, lún phún rêu, gió lắt lẻo, sương đầm đìa, phong cảnh sống như cựa quậy lên… … Hồ Xuân Hương tưởng như đã lìa cái gốc nho sĩ của mình mà “lăn lóc” giữa bình dân. Xuân Hương là con ốc, quả mít, cái bánh trôi. Xuân Hương làm thơ với cỏ gà, cá giếc, quả cam, lá trầu, con ong, cái giếng, khung cửi, cây đa, cái diều… Mà những thứ ấy vẫn giữ nguyên chất bình dân, chứ không bị mang hia, đội mũ như trong lối thơ khẩu khí… … Hồ Xuân Hương là nhà thơ dòng Việt, bà chúa thơ Nôm… Xuân Hương đã làm cho chữ “nôm na” không đồng nghĩa với “mánh qué” nữa, mà nôm na là đồng nghĩa với thuần túy, trong trẻo, tuyệt vời. Bà chúa thơ Nôm là chúa cả nội dung và hình thức. Xuân Hương đã sáng tạo được một chất thơ rất man mác, nên thơ… Tung hoành thơ quỷ hiếm hoi thay!

    Chỗ tài tình nhất có lẽ là sự lấp lửng nghĩa nọ nghĩa kia, ở một hình tượng, ở một từ, một cách nói…

    Lê Trí Viễn (Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương, Sở giáo dục Nghĩa Bình xuất bản năm 1987)

    (Xuân Diệu, Hồ Xuân Hương, Bà chúa thơ Nôm, Nxb Văn học, 1987)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Cảnh Ngày Xuân ( Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du)
  • Soạn Văn Bài: Cảnh Ngày Xuân (Trích Truyện Kiều)
  • Soạn Bài: Cảnh Ngày Xuân (Trích Truyện Kiều)
  • Soạn Văn 9 Vnen Bài 6: Truyện Kiều
  • Soạn Văn 9 Bài Truyện Kiều
  • Soạn Bài Tự Tình Lớp 11

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tự Tình Ii
  • Soạn Bài Tự Tình (Bài Ii) (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Soạn Bài Thầy Bói Xem Voi (Chi Tiết)
  • Soạn Bài: Thầy Bói Xem Voi
  • Soạn bài: Tự Tình

    I. Tác giả- tác phẩm.

    1. Hồ Xuân Hương.

    – Sống vào khoảng nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX.

    – Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, cha làm nghề dạy học.

    – Là người đa tài đa tình, phóng túng, giao thiệp với những nhà văn nhân tài tử, đi rất nhiều nơi. Đường tình duyên của Hồ Xuân Hương nhiều éo le, ngang trái (hai lần lấy chồng đều làm lẽ).

    – Sáng tác của Hồ Xuân Hương bao gồm thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm. Được mệnh danh là bà chúa thơ Nôm. Hồ Xuân Hương là một hiện tượng độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam.

    2. Tác phẩm.

    – Tự tình là bày tỏ lòng mình: có 3 bài tự tình, văn bản là bài tự tình II.

    – Thể thơ: Đường luật thất ngôn bát cú.

    – Chủ đề: “Bài thơ nêu lên một nghịch đối: duyên phận muộn màng, lỡ dở trong khi tác giả cứ lạnh lùng trôi qua. Nghịch đối này dẫn đến tâm trạng vừa buồn vừa tủi vừa phẫn uất nhưng cuối cùng vẫn đọng lại.

    II. Đọc – hiểu văn bản

    1. Hai câu thơ đầu:

    Đêm khuya văng vẳng bóng canh dồn,

    Trơ cái hông nhan với nước non.

    – Thời gian: Đêm khuya

    – Không gian: Tĩnh vắng. Nghệ thuật lấy động nói tĩnh qua âm thanh “văng vẳng” của tiếng trống cầm canh

    – Chủ thể trữ tình là người phụ nữ một mình trơ trọi, đơn độc trước không gian rộng lớn (nước non) giữa đêm khuya, nghe tiếng trống canh dồn dập mà xót xa, cho “cái hồng nhan” bẽ bàng.

    – Hình ảnh tương phản: “cái hồng nhan nước non” càng làm nổi bật sự cô đơn, lẻ loi của người phụ nữ.

     Hai câu cho thấy tác giả rất cô đơn, tâm trạng buồn đau bẽ bàng.

    2. Câu 3, 4 (Hai câu thực)

    3. Câu 5,6 (2 câu luận)

    Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám.

    Đâm tọac chân mây, đá mấy hòn.

    Hồ Xuân Hương tiếp tục hướng về ngoại cảnh, lấy thiên nhiên nói thay tâm trạng và thái độ của mình số phận

    – Rêu và đá là những vật mềm yếu không cam chịu, không chấp nhận thấp yếu, bằng mọi cách chúng cố vươn lên, vượt những cản trở (mặt đất, chân mây) để chứng tỏ mình.

    – Đó cũng chính là niềm phẫn uất, sự phản kháng của tác giả cá tính của Hồ Xuân Hương (bướng bỉnh ngang ngạnh), chứa đựng trong đó sự mạnh mẽ, quyết liệt, tìm mọi cách để vượt lên số phận.

    Hai câu luận cho thấy Hồ Xuân Hương với sức sống mãnh liệt cả khi đau buồn nhất.

    4. Câu 7 và 8.

    Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

    Mảnh tình san sẻ tí con con !

    Hồ Xuân Hương trực tiếp bộc lộ tâm trạng

    – Khai thác cách dùng từ của Hồ Xuân Hương

    + Xuân “Mùa xuân, tuổi xuân”

    + Ngán: “Chán ngán ngán ngẩm”

    + Hai từ “lại” nghĩa là trở lại

    “Tôi có chờ đâu, có đợi đâu

    Đem chi xuân đến gợi thêm sầu

    Với tôi tất cả như vô nghĩa

    Tất cả không ngoài nghĩa đau khổ”.

    – Cuối bài thơ là sự bộc bạch nỗi buồn chán của Hồ Xuân Hương Bằng nghệ thuật dùng từ thuần Việt theo cấp độ, tăng tiến của tác giả cho thấy nghịch cảnh éo le. Một người đa tài, đa tình như mà không được đón nhận khối tình tràn đầy mà chỉ được mảnh tình nhỏ bé, ít ỏi, đã vậy còn bị san sẻ để cuối cùng còn “tí con con”. Thật xót xa tội nghiệp.

    Bài thơ vừa nói lên bi kịch, vừa cho thấy bản lĩnh khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Tự Tình (Bài 2)
  • Soạn Bài Tự Tình 2 (Hồ Xuân Hương)
  • Soạn Bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Tiếp Theo) (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Tuyên Ngôn Độc Lập Của Hồ Chí Minh
  • Soạn Bài Tuyên Ngôn Độc Lập Của Hồ Chí Minh Phần 1 Tác Giả
  • Soạn Bài Tự Tình (Bài 2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tự Tình Lớp 11
  • Soạn Bài Tự Tình Ii
  • Soạn Bài Tự Tình (Bài Ii) (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Soạn Bài Thầy Bói Xem Voi (Chi Tiết)
  • Soạn bài Tự tình (Bài II)

    I. Về tác giả, tác phẩm

    – Hồ Xuân Hương người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nhưng chủ yếu sống ở kinh thành Thăng Long. Bà đi nhiều nơi, thân thiết với nhiều danh sĩ như Nguyễn Du. Cuộc đời, tình duyên của Hồ Xuân Hương nhiều éo le, ngang trái.

    – Hồ Xuân Hương là nhà thơ nổi tiếng viết về phụ nữ, viết về đề tài trào phúng đậm chất trữ tình, đậm chất văn học dân gian. Nổi bật trong sáng tác thơ Nôm Hồ Xuân Hương là tiếng nói thương cảm với người phụ nữ, là sự khẳng định, đề cao vẻ đẹp, khát vọng của họ.

    – Tự tình (bài II) nằm trong chùm thơ Tự tình gồm ba bài của Hồ Xuân Hương.

    II. Hướng dẫn soạn bài

    Bố cục

    – Đề (hai câu đầu): Nỗi niềm buồn tủi cô đơn của nữ sĩ trong đêm khuya thanh vắng

    – Thực (hai câu tiếp): Tình cảnh đầy chua xót, bẽ bàng

    – Luận (hai câu tiếp theo): Thái độ phản kháng phẫn uất

    – Kết (hai câu cuối): Tâm trạng chán chường, buồn tủi

    Câu 1 (trang 19 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

    – Thời gian: Đêm khuya.

    – Không gian: trống trải, mênh mông rợn ngợp.

    – Lòng người: trơ trọi, từ “trơ” đi liền với “cái hồng nhan” cùng biện pháp đảo ngữ gợi cảm giác xót xa, bẽ bàng.

    → Tô đậm tâm trạng cô đơn, lẻ loi.

    – Cụm từ “say lại tỉnh” gợi lên cái vòng luẩn quẩn, càng buồn, càng cảm nhận được nỗi đau của thân phận.

    – Hình ảnh “Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” là hình tượng chứa hai lần bi kịch: trăng sắp tàn ( bóng xế) mà vẫn khuyết chưa tròn. Đó là sự tương đồng với người phụ nữ.

    Câu 2 (trang 19 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

    Hình tượng thiên nhiên trong hai câu 5 và 6 diễn tả nỗi niềm phẫn uất của con người:

    – Biện pháp đảo ngữ kết hợp với các động từ mạnh ( xiên, đâm) thể hiện sự bướng bỉnh, ngang ngạnh của Hồ Xuân Hương.

    – Rêu (sinh vật mềm yếu, nhỏ bé), đá (thấp bé) không cam chịu số phận, bằng mọi cách cố vươn lên những cản trở ( mặt đất, chân mây) để chứng tỏ mình→ Đá, rêu như đang oán hờn, như đang phản kháng quyết liệt với tạo hóa.

    Câu 3 (trang 19 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

    Hai câu kết là tâm trạng chán chường, buồn tủi của nhân vật trữ tình:

    – Cụm từ “xuân đi xuân lại lại”: Xuân của tự nhiên qua đi rồi sẽ trở lại nhưng tuổi xuân của người thì không. Từ “lại” thứ nhất là thêm một lần nữa, còn từ “lại” thứ hai mang nghĩa trở lại. Mùa xuân trở lại nhưng tuổi xuân lại qua đi.

    – Nghệ thuật tăng tiến “mảnh tình – san sẻ – tí – con con” nhấn mạnh sự nhỏ bé dần, sự ít ỏi, sự sẻ chia trong hạnh phúc cuộc đời của Hồ Xuân Hương làm cho nghịch cảnh càng éo le hơn: mảnh tình vốn đã ít, đã bé, đã không trọn vẹn lại còn phải “san sẻ” thành ra chẳng còn gì (tí con con) nên càng xót xa, tội nghiệp.

    Câu 4 (trang 19 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

    Bài thơ vừa nói lên bi kịch, vừa cho thấy khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương. Bi kịch trong bài thơ là bi kịch của tuổi xuân, của duyên phận. Xuân đi rồi xuân lại đến, thời gian của thiên nhiên, của trời đất cứ tuần hoàn mà tuổi xuân của con người cứ mãi qua đi không trở lại. Trong hoàn cảnh ấy, sự nhỡ nhàng, sự dở dang của duyên tình càng tăng thêm sự xót xa. Rơi vào hoàn cảnh ấy, trước sự trớ trêu của số phận nhưng Hồ Xuân Hương vẫn luôn khát khao hạnh phúc, gồng mình lên để chống lại sự nghiệt ngã của số phận.

    III. Luyện tập

    (trang 20 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1): Đọc Tự tình …

    So sánh bài thơ Tự tình I và Tự tình II của tác giả Hồ Xuân Hương

    1. Giống nhau:

    – Sử dụng thơ Nôm đường luật, thể hiện tài năng của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ sắc sảo, tài hoa nhất là khả năng sử dụng các biện pháp nghệ thuật: đảo ngữ, phép đối, tăng tiến…

    – Bộc lộ tâm trạng: nỗi buồn tủi, xót xa, phẫn uất trước cảnh duyên phận hẩm hiu.

    2. Khác nhau:

    – Cảm xúc trong Tự tình I là nỗi niềm của nhà thơ trước duyên phận hẩm hiu, nhiều mất mát, trước lẽ đời đầy nghịch cảnh, đồng thời là sự vươn lên của chính bản thân, thách đố lại duyên phận.

    – Còn ở Tự tình II, cũng là sự thể hiện của bi kịch duyên phận muôn màng, cố gắng vươn lên nhưng cuối cùng cũng không thoát được bi kịch. Chính vì thế bi kịch như được nhân lên, phẫn uất hơn.

    Bài giảng: Tự tình – Cô Thúy Nhàn (Giáo viên VietJack)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k4: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Tự Tình 2 (Hồ Xuân Hương)
  • Soạn Bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Tiếp Theo) (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Tuyên Ngôn Độc Lập Của Hồ Chí Minh
  • Soạn Bài Tuyên Ngôn Độc Lập Của Hồ Chí Minh Phần 1 Tác Giả
  • Soạn Bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Chi Tiết)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100