Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 1 Văn Tự Sự Lớp 8

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 1: Văn Tự Sự Trang 37 Sgk Ngữ Văn 8 T
  • Soạn Bài: Trả Bài Tập Làm Văn Số 1 Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8
  • Bài Soạn Môn Ngữ Văn 8 Tiết 20: Trả Bài Tập Làm Văn Số 1
  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Trả Bài Tập Làm Văn Số 1 Ngắn Gọn Hay & Đúng Nhất
  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 1: Tôi Đi Học
  • Soạn bài Viết bài Tập làm văn số 1 Văn tự sự lớp 8 được soạn và biên tập từ đội ngũ giáo viên dạy ngữ văn giỏi uy tín trên cả nước. Đảm bảo chính xác, ngắn gọn, súc tích giúp các em dễ hiểu, dễ soạn bài viết bài Tập làm văn số 1 Văn tự sự.

    Soạn bài Viết bài Tập làm văn số 1 Văn tự sự thuộc Bài 3 SGK Ngữ văn 8

    Đề 1: Kể lại những kỉ niệm đầu tiên đi học

    Bài làm

    Đã mấy năm trôi qua rồi, bây giờ tôi đã khôn lớn. Như thể nghe thấy tiếng trống vang lên buổi tựu trường đầu tiên của tôi và tôi cũng tưởng rằng điều đó như vừa mới xảy ra thôi.

    Vào tối hôm trước khi buổi tựu trường đầu tiên của tôi, ba tôi chuẩn bị cặp sách, mẹ thì ủi quần áo để chuẩn bị cho tôi đi học vào ngày mai. Mọi thứ đều đã được chuẩn bị sẵn sàng. Tôi thì háo hức đợi đến ngày mai vì đó cũng chính là sự tự hào của bố mẹ. Mong ước của họ là thấy con mình được cấp sách đến trường. Sáng hôm đó, tôi thức dậy thật sớm và vệ sinh cá nhân xong, tôi tự mặc quần áo của mình, đeo cặp sách sẵn sàng. Ọuang cảnh trên con đường thật kì lạ, khác hẳn so với trước đây, mọi thứ xung quanh đều được thay đổi. Từ những bãi đất trống đã thành những ngôi nhà lớn, từ những con đường hẹp đã trở thành một con đường rộng rãi, thoáng mát. Khi đến trường, tôi thấy ngôi trường “ôi chao, sao rộng lớn quá vậy? kèm theo đó là một sự ngạc nhiên trên gương mặt của tỏi. Tôi bị choáng ngợp và không dám bước vào nhưng khi thấy ai ai cũng đang vui vẻ bước vào thì tôi lại suy nghĩ lại, bước qua cánh cổng đó là một thế giới kì diệu sẽ mở ra. Thế giới kì diệu ấy sê giúp chúng ta khôn lớn, biết được những kiến thức cần có và quen biết được nhiều bạn bè mới, thầy cô mới, mang đến cho ta biết bao điều thú vị. Lúc xếp hàng, ai ai cũng đều đứng nghiêm chỉnh để đi vào lớp. Bước vào lớp học, tôi thấy rất tuyệt vời vì bàn ghế được sắp xếp ngăn nắp, gọn gàng. Các lớp khác cũng đều như vậy. Tôi nghe nói bên Nhật, ngày toàn dân đưa trẻ đến trường, ai ai cũng tạm thời gác công việc của mình để tham gia buổi lề khai giảng năm học mới. Đối với người Nhật, đó chính là ngày quan trọng nhất. Tới khi gặp cô giáo chủ nhiệm, tôi cứ sợ ràng cô sẽ rất nghiêm khắc và rất dữ cho tới khi qua tiết học đầu tiên thỉ tôi mới biết rằng cô là một cô giáo rất nhiệt tình trong việc giảng dạy, hiền lành, yêu thương và tận tình giúp đờ chúng tôi trong việc học tập. Sau khi học hết ngày đầu tiên thì tôi lại mong ước ngày hôm sau mau mau đến để tôi được đi học và khám phá nhiều điều thú vị hơn nữa.

    Suốt mấy năm qua, kí ức đó sẽ luôn luôn ghi khắc trong tim tôi. Nhớ lắm kí niệm tuổi học trò ơi!

    Đề 2: Người ấy sống mãi trong lòng tôi

    Bài làm

    “Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Một lòng thờ mẹ kính cha

    Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. “

    Đó là bài ca dao nói về công lao to lớn của các bậc sinh thành. Để sinh được chúng ta và dạy dỗ chúng ta nên người, cha me đã phải hi sinh rất nhiều. Vì thế. chúng ta cần phải biết kính trọng và quý mến cha mẹ của mình. Tôi cũng vậy. Tôi rất yêu thương cha mẹ tôi nhưng người mà tôi ghi nhớ trong lòng chính là người mẹ thân yêu.

    Mẹ tôi rất tuyệt vời. Người tôi yêu quý có một mái tóc dài mượt và đen óng ả. Mái tóc ấy khoác lên một khuôn mặt hình trái xoan rất đẹp. Thêm vào đó là một đôi mắt long lanh như hai hòn bi ve. Ôi! Khuôn mặt ấy là một khuôn mặt của thiên thần mặc dù da có đôi ba nếp nhăn vì khổ cực chăm sóc cho gia đình tôi. Không những vậy mẹ còn có một đôi bàn tay khéo léo, dịu dàng. Nhờ đôi bàn tay này mà mẹ đã nấu được những món ăn cho gia đình tôi. Không chỉ đẹp về ngoại hình mà mẹ còn đẹp về tính cách nữa. Mẹ tôi rất nhân hậu và rất tốt bụng. Mẹ tôi là một người rất yêu thương gia đình của mình nên tôi yêu mẹ nhiều lắm. Vì mẹ đã chăm sóc tôi rất tận tình và gần gũi nhiều nên kỉ niệm giữa tôi và mẹ có rất nhiều điều đáng nhớ.

    Có một kỉ niệm giữa tôi và mẹ khiến cho tôi nhớ mãi đó là vào một buổi chiều trời sắp mưa to nhưng tôi lại đi chơi. Mẹ bảo tôi đừng đi nhưng tôi vẫn trốn đi chơi. Đang chơi mải mê thì trời mưa tầm tã nhưng vì ham chơi, đang lao vào cuộc vui nên tôi cứ thế mà tiếp tục chơi, người tôi ướt sũng cả. Tối hôm đó, bố đi công tác nên chỉ có mẹ con tôi ở nhà. Vì ướt người cho nên tôi đã bị cảm lạnh rất nặng. Ngoài trời thì mưa rất lớn, nhưng mẹ vẫn chạy trong mưa để mua thuốc cho tôi uống. Nhìn thấy cảnh tượng đó, tôi rơi nước mắt vì thương xót cho mẹ. Cả đêm đó mẹ đã tận tình chăm sóc tôi mà không hề trách mắng vì tôi đã cãi lời mẹ. Khi thấy đôi mắt long lanh của mẹ buồn rầu thì tôi rất thối hận, dằn vặt trong lòng mình. Tối hôm sau, tôi thấy mẹ ngủ thiếp đi bên giường của tôi. Tôi âm thầm ôm mẹ và hứa với lòng rằng: “Con sẽ không bao giờ cãi lời mẹ nữa đâu, con hứa đó”. Qua kỉ niệm này, tôi càm thấy yêu mẹ nhiều lắm.

    Tôi yêu mẹ, mẹ luôn là người sống mãi trong lòng tôi bởi mẹ đã mang cả cuộc đời mẹ dành cho tôi đó là tình thương yêu bao la, sự hi sinh một đời cho hạnh phúc của tôi. Mẹ ơi! Con yêu mẹ nhiều lắm!

    (Bài làm của HS)

    Đề 3: Tôi thấy mình đã khôn lớn

    Bài làm

    Thời gian trôi đi nuôi dưỡng tâm hồn con người, giúp ta trưởng thành hơn cả về thể chất, tinh thần và chắp cánh cho ta những ước mơ, những hi vọng vào tương lai. Giống như mọi người, dòng xoáy của thời gian cho tôi sự trưởng thành để một ngày tôi chợt nhận ra: “Tôi đã lớn khôn”.

    Con người tôi đang ngày càng lớn lên theo năm tháng. Nhớ ngày nào, tôi còn là con bé con nhút nhát chỉ biết tò tò theo sau chân mẹ, thế mà bây giờ, cô nhóc ấy đã trở thành một học sinh Trung học cơ sở, cao hơn cả mẹ. Tôi không chỉ lớn hơn mà tầm tay cũng xa hơn trước. Tôi có thế dễ dàng lấy những cuốn từ điển trên giá cao nhất xuống, có thể giúp mẹ treo quần áo lên mắc tủ mà không cần bắc ghế, có thế giúp bố khiêng thang lên gác thượng để sửa ăng-ten, có thể đi hết một đoạn đường núi dài không cần có ai dắt hay cõng… Những việc ấy hồi nhỏ tôi chưa đủ sức thì bây giờ đều trở nên đơn giản, dễ dàng. Tôi cũng không còn cảm thấy tự hào khi giúp bố mẹ làm những công việc nhà nữa, tất cả đều đã trở thành những việc làm thường ngày của tôi, không có gì khó khăn hay quá sức cả. Cái cảm nhận mình đang lớn lên ban đầu đối với tôi còn rất mơ hồ nhưng càng lúc tôi càng nhận thức được rõ ràng hơn.

    Tôi không chỉ lớn lên ở con người mà còn lớn lên trong suy nghĩ của mình. Trước đây, tôi chỉ biết đến trường và học theo các bạn mà chẳng cần lo nghĩ xa xôi gì hết. Ngay cả việc vào học trường cấp hai, tôi cũng để cho bố mẹ quyết định. Hồi đó, tôi hầu như dựa dẫm hết vào bố mẹ nhưng dần dần, tôi cũng biết tự lo cho mình. Sau mỗi học kì, tôi biết tự xem lại kết quả học tập của mình, so sánh với các bạn khác và kết quả năm học trước đế rút kinh nghiệm cho mình tiến bộ hơn. Trong một tập thế mà ý thức thi đua luôn được đề cao, tôi cũng đã học tập được rất nhiều tò các bạn mình. Tôi biết rằng không ai có thế hiểu mình cần gì hơn chính bản thân mình. Tôi đã có suy nghĩ và ý kiến riêng, tôi có thế tự lo cho mình. Không giống như lúc còn nhỏ (luôn hành động theo bản năng và ý muốn của riêng mình), tôi hiểu rằng không thể không chú ý tới mọi người xung quanh. Tôi đang học cách sống để không phải tranh giành, học cách nhường nhịn và chấp nhận suy nghĩ của người khác. Mỗi người nhìn nhận suy nghĩ theo một chiều hướng khác nhau, điều cần thiết là tôi biết lúc nào cần hiểu và khi nào cần thuyết phục cho người khác hiểu mình.

    Từ sự khôn lớn ấy, tôi cũng tự đặt cho mình những ước mơ. So với khi còn nhỏ thì những mong muốn ấy đã không còn chỉ là những ý muốn bộc phát, mơ mộng, viển vông nữa. Thời gian đã cho tôi sự chín chắn trong những quyết định cho tương lai. Trước kia, ước muốn của tôi có nhiều vô số mà bây giờ tôi cũng không còn nhớ hết nữa. Khi ấy, tôi chỉ biết nhìn mọi thứ một cách đơn giản, thấy ai làm gì hay hay thì cũng mong muốn mình có thế làm được như vậy. Thế nhưng bây giờ thì tôi hiểu rằng chẳng có mục tiêu nào có thể đạt được một cách đơn giản mà không cần có cố gắng của chính mình. Tôi chẳng mấy khi nghĩ tới những điều con nít như khi còn nhỏ mà suy nghĩ rất kĩ để tự đánh giá khả năng của mình và đặt ra một mục tiêu chắc chắn. Tôi không muốn phải thay đổi mơ ước của mình cho dù tôi có lớn hơn nữa. Hiện nay, tôi vẫn chưa biết ước mơ lớn nhất trong tương lai của mình là gì nhưng khi đã có thể quyết định được, tôi sẽ luôn hi vọng và cố gắng hết sức để đạt được.

    Nhưng ước mơ ấy càng lớn bao nhiêu, tôi càng nhận thức được trách nhiệm của mình bấy nhiêu. Trước hết, tôi cần có bổn phận đối với những người xung quanh. Là một người con, tôi phải nỗ lực phấn đấu trưởng thành để không phụ công ơn sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ, ông bà. Là một người trò, tôi phải cố gắng học tập, tu dưỡng đạo đức xứng đáng với sự dạy dỗ của các thầy cô giáo. Là một người bạn, tôi cần học tập và giúp đỡ các bạn của mình để cùng tiến bộ hơn… Tôi hiểu rằng bất cứ ai cũng có trách nhiệm riêng. Khi tôi đã là một học sinh khoác trên người bộ đồng phục của trường Chu Văn An thì đi đâu tôi cũng là đại diện cho ngôi trường của mình. Tôi hiểu rằng mọi người có thể nhìn nhận và đánh giá ngôi trường thân yêu theo những hành vi ứng xử của tôi. Khi tôi là một người Hà Nội thì tôi là đại diện cho con người thủ đô và khi tôi là người Việt Nam thì tôi cũng là đại diện cho cả dân tộc mình. Càng suy nghĩ về những trách nhiệm ấy tôi cũng cảm nhận được sức nặng đặt trên vai mình.

    Sự trưởng thành của tôi không chỉ bản thân tôi biết mà mọi người xung quanh cũng đều công nhận. Hè vừa rồi, nhà nội tôi có một niềm vui rất lớn: Người bác của tôi đã sống bên Mĩ gần hai mươi năm cùng với hai cô con gái đã trở về thăm quê hương. Suốt thời gian ấy, bác và hai chị sống ở nhà tôi, bà tôi cũng dọn từ quê ra. Ở nhà nhộn nhịp, đông vui hơn nên công việc cũng nhiều hơn trước. Trong khi bố mẹ vẫn phải đi làm, còn chị Thu thì đang thi học kì, chỉ có tôi ở nhà cùng bác tiếp khách và dọn dẹp nhà cửa. Tôi đã cố gắng làm được nhiều việc nhà để bác và bà được nghỉ ngơi. Một hôm, trong bữa cơm bác đã khen tôi làm bố tôi rất vui và hài lòng. Tối hôm đó, trước khi tôi đi ngủ, mẹ nói với tôi:

    – Con gái mẹ đã lớn nhiều rồi đấy!

    Tôi sung sướng đi vào giấc ngủ không chỉ vì lời khen của mẹ hay của bác mà vì niềm vui khi thấy bố mẹ tự hào về mình – có nghĩa là tôi đã lớn khôn. Cho dù trách nhiệm có to lớn tới đâu, cho dù ước mơ còn là một khoảng cách rất xa và khó khăn, tôi vẫn sẽ không ngừng cố gắng, bởi tôi biết rằng xung quanh mình vẫn còn những người thân yêu luôn sẵn sàng giúp đỡ tôi bất cứ lúc nào.

    Xem Video bài học trên YouTube

    Giáo viên dạy thêm cấp 2 và 3, với kinh nghiệm dạy trực tuyến trên 5 năm ôn thi cho các bạn học sinh mất gốc, sở thích viết lách, dạy học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Tôi Đi Học Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài Bài Toán Dân Số Sách Bài Tập Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Bài Bài Toán Dân Số
  • Giải Lịch Sử 8 Bài 15: Cách Mạng Tháng Mười Nga Năm 1917 Và Cuộc Đấu Tranh Bảo Vệ Cách Mạng (1917
  • Bài 1 Trang 15 Sgk Ngữ Văn 8
  • Soạn Bài Bố Cục Của Văn Bản Lớp 8 Ngắn Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Bố Cục Của Văn Bản Văn 8 Trang 24 Ngắn Gọn Nhất: Phân Tích Cách Trình Bày Ý Trong Các Đoạn Trích Sau
  • Soạn Bài Bố Cục Của Văn Bản Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Bố Cục Của Văn Bản (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Bố Cục Của Văn Bản Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài Bố Cục Của Văn Bản Ngữ Văn Lớp 8 Với Nhiều Câu Hỏi
  • Soạn văn 8 bài Bố cục của văn bản ngắn nhất được soạn và biên tập từ đội ngũ giáo viên dạy ngữ văn giỏi uy tín trên cả nước. Đảm bảo chính xác, ngắn gọn, súc tích giúp các em dễ hiểu, dễ soạn bài Bố cục của văn bản.

    Soạn bài Bố cục của văn bản thuộc: Bài 2 SGK Ngữ văn 8

    I. Hướng dẫn soạn bài bố cục văn bản

    Trả lời câu 1 (trang 24 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Văn bản trên có 3 phần:

    – Mở bài (từ đầu đến “danh lợi”): giới thiệu khái quát về nhân vật Chu Văn An.

    – Thân bài (“Học trò theo ông” đến “không cho vào thăm.”): những biểu hiện chứng tỏ “đạo cao đức trọng” của thầy Chu Văn An.

    – Kết bài (“Khi ông mất” đến hết): tình cảm của người đời dành cho Chu Văn An khi ông mất.

    Trả lời câu 2 (trang 24 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    – Phần MB: Giới thiệu nhân vật và nội dung câu chuyện sẽ kể.

    – Phần TB: kể diễn biến câu chuyện về ông Chu Văn An dạy học.

    – Phần KB: nêu hai câu nhận định, đánh giá về ông

    Trả lời câu 3 (trang 24 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    – Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Nó là thể thống nhất có tính trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức. Vì vậy mối quan hệ giữa các phần trong văn bản phải chặt chẽ, thống nhất.

    Trả lời câu 4 (trang 24 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Bố cục của văn bản gồm 3 phần

    – Phần mở bài : giới thiệu nội dung, thu hút sự chú ý của người đọc.

    – Phần thân bài : phát triển và giải quyết một cách cụ thể vấn đề đã nêu ở phần mở bài, – Phần kết bài : tóm tắt kết luận và đáp ứng sự chờ đợi của người đọc.

    II. Cách bố trí, sắp xếp nội dung phần thân bài của văn bản

    Trả lời câu 1 (trang 25 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Phần thân bài của văn bản “Tôi đi học” của Thanh Tịnh được sắp xếp dựa trên cơ sở là hồi kí : nhớ lại các sự việc, tình tiết diễn ra vào buổi đầu đi học.

    Trả lời câu 2 (trang 25 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Văn bản Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng chủ yếu trình bày diễn biến tâm trạng của cậu bé Hồng.

    Trả lời câu 3 (trang 25 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Tuỳ theo từng đối tượng và mục đích miêu tả, người ta có thể miêu tả theo trình tự từ khái quát đến cụ thể hoặc ngược lại.

    Trả lời câu 4 (trang 25 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Phần thân bài trong bài văn Người thầy đạo cao đức trọng trình bày các ý làm sáng tỏ luận đề trên, các ý này được sắp xếp theo trình tự nhất định.

    Phân tích trình bày làm sáng tỏ luận đề “Chu Văn An là người thầy đạo cao đức trọng”.

    Trả lời câu 5 (trang 25 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    – Người ta thường sắp xếp nội dung phần Thân bài của văn bản theo 1 số cách sau: (không gian – thời gian, khái quát – cụ thể, mạch phát triển của vấn đề, mạch suy luận, liên tưởng, …)

    III. Luyện tập

    Trả lời câu 1 (trang 26 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    a : Miêu tả cảnh sân chim đông đúc, náo động.

    Bố cục ba phần, miêu tả từ khái quát đến cụ thể, từ xa đến gần

    b: trình bày ý theo thứ tự không gian:

    – Ba Vì – xung quanh Ba Vì.

    – Riêng về Ba Vì lại trình bày theo thứ tự thời gian.

    c: Hai luận cứ được sắp xếp theo tầm quan trọng của chúng đối với luận điểm cần chứng minh:

    – “Lịch sử thường sẵn những trang đau thương… Ta thử lấy truyện Hai Bà Trưng mà xét…”

    – “Nghe Truyện Phù Đổng Thiên Vương, tôi thường tưởng tượng đến một trang nam nhi…” (Nhảy xuống Hồ Tây tắm, xong mới ôm vết thương lên ngựa…)

    Trả lời câu 2 (trang 27 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Nếu phải trình bày về lòng thương mẹ của chú bé Hồng ở văn bản Trong lòng mẹ, em sẽ trình bày và sắp xếp chúng như sau:

    – Nêu bật tình cảm, thái độ của chú bé Hồng khi nói chuyện (đối thoại) với bà cô về mẹ.

    – Vì thương mẹ, bé Hồng ghét những hủ tục phong kiến vô lí. Nêu lên câu nói đầy căm phận với hủ tục đó.

    – Vì nỗi mong nhớ, thương yêu mẹ thường trực nên thoáng thấy bóng người trên xe kéo là bé Hồng chạy theo.

    – Kể lại những phút bé Hồng sung sướng được ở bên mẹ

    Trả lời câu 3 (trang 27 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Có thể sắp xếp các ý theo hai nhóm: giải thích câu tục ngữ và chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ.

    – Nghĩa đen và nghĩa bóng của vế Đi một ngày đàng;

    – Nghĩa đen và nghĩa bóng của vế học một sàng khôn;

    – Các vị lãnh tụ bôn ba tìm đường cứu nước;

    – Những người thường xuyên chịu khó hoà mình vào đời sống sẽ nắm chắc tình hình, học hỏi được nhiều điều bổ ích;

    – Trong thời kì đổi mới, nhờ giao lưu với nước ngoài, ta học tập được công nghệ tiên tiến của thế giới.

    Xem Video bài học trên YouTube

    Giáo viên dạy thêm cấp 2 và 3, với kinh nghiệm dạy trực tuyến trên 5 năm ôn thi cho các bạn học sinh mất gốc, sở thích viết lách, dạy học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Bố Cục Của Văn Bản Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Trong Lòng Mẹ
  • Văn Mẫu 8 Bài Viết Số 1 Đề 2: Người Ấy (Bạn, Thầy, Người Thân…) Sống Mãi Trong Lòng Tôi
  • Bài Soạn Siêu Ngắn: Trong Lòng Mẹ
  • Giáo Án Văn 8 Bài Trong Lòng Mẹ (Tiết 1)
  • Soạn Bài Làng Môn Ngữ Văn Lớp 9 Trang 162 Siêu Ngắn: Truyện Ngắn Xây Dựng Được Một Tình Huống Truyện Gì Làm Bộc Lộ Sâu Sắc Tình Yêu Làng Quê Và Lòng Yêu Nước Ở Nhân Vật Ông Hai?

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Làng (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Làng Ngữ Văn 9 Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Làng Ngữ Văn 9 Đầy Đủ
  • Soạn Bài Thuật Ngữ Đầy Đủ Nhất
  • Soạn Bài: Các Phương Châm Hội Thoại
  • Soạn bài Làng (trích) môn Ngữ văn 9 trang 162 (ngắn gọn) – Kim Lân. Truyện ngắn Làng đã xây dựng được một tình huống truyện làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê và lòng yêu nước ở nhân vật ông Hai. Đó là tình huống nào? Đó là tình huống cái tin làng ông theo giặc, lập tề mà chính ông nghe được từ miệng những người tản cư dưới xuôi lên….

    Tình yêu làng quê và lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư đã được thể hiện chân thực, sâu sắc và cảm động Ở nhân vật ông Hai trong truyện Làng.Tác giả đã thành công trong việc xây dựng tình huống truyện, trong nghệ thuật miêu tả tâm lí và ngôn ngữ nhân vật

    Câu 1: Truyện ngắn Làng đã xây dựng được một tình huống truyện làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê và lòng yêu nước ở nhân vật ông Hai. Đó là tình huống cái tin làng ông theo giặc, lập tề mà chính ông nghe được từ miệng những người tản cư dưới xuôi lên.

    Câu 2: Diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai từ lúc nghe tin làng mình theo giặc đến kết thúc truyện:

    – Khi nghe tin quá đột ngột ấy, ông Hai sững sờ: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được”. Khi trấn tĩnh lại được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy. Nhưng rồi những người tản cư đã kể rành rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy len”, làm ông không thể không tin.

    – Từ lúc ấy, trong tâm trí ông Hai chỉ còn có cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó thành một nỗi ám ảnh day dứt. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúi gằm mặt xuống mà đi”. Về đến nhà, ông nằm vật ra giường, rồi tủi thân khi nhìn đàn con, “nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rung hắt hủi đấy ư?”.

    Suốt mấy ngàu sau, ông Hai không dám đi đâu. Ông chỉ quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng binh tình bên ngoài: “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”. Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam-nhông… là ông lủi ra một góc nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!”.

    Tác giả đã diễn tả rất cụ thể nỗi ám ảnh nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông Hai cũng với nỗi đau xót, tủi hổ của ông trước cái tin làng mình theo giặc.

    Câu 3: Đoạn ông Hai trog chuyện với đứa con út:

    Trong tâm trạng bị dồn nén và bế tắc ấy, ông chỉ còn biết trút nỗi lòng của mình vào những lời thủ thỉ tâm sự với đứa con nhỏ còn rất ngây thơ.

    Đây là một đoạn văn diễn tả rất cảm động và sinh động nỗi lòng sâu xa, bền chặt, chân thành của ông Hai – một người nông dân – với quê hương, đất nước, với cách mạng và kháng chiến.

    Qua những lời tâm sự với đứa con nhỏ, thực chất là lời tự nhủ với mình, tự giãi bày nỗi lòng mình, ta thấy rõ ở ông Hai:

    + Tình yêu sâu nặng với cái làng Chợ Dầu của ông (ông muốn đứa con nhỏ ghi nhớ câu “Nhà ta ở làng Chợ Dầu”.)

    + Tấm lòng thủy chung với kháng chiến, với cách mạng mà biểu tượng là Cụ Hồ (“Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”). Tình cảm ấy là sâu nặng, bền vững và thiêng liêng (“Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”).

    Câu 4: Nhận xét về nghệ thuật miêu tả tâm lí và ngôn ngữ nhân vật ông Hai của tác giả:

    – Tác giả đặt nhân vật vào tình huống thử thách bên trong để bộc lộ chiều sâu tâm trạng.

    – Tác giả miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua các ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ… đặc biệt, diễn tả rất đúng và gây ấn tượng mạnh mẽ về sự ám ảnh, day dứt trong tâm trạng nhân vật. Điều đó chứng tỏ Kim Lân am hiểu sâu sắc người nông dân và thế giới tinh thần của họ.

    – Ngôn ngữ trong truyện rất đặc sắc, đặc biệt là ngôn ngữ của nhân vật ông Hai. Những điểm nổi bật trong ngôn ngữ của tác phẩm:

    + Ngôn ngữ mang đậm tính khẩu ngữ và là lời ăn tiếng nói của người nông dân.

    + Lời trần thuật và lời nhân vật có sự thống nhất về sắc thái, giọng điệu, do truyện được trần thuật chủ yếu theo điểm nhìn của nhân vật ông Hai (mặc dù vẫn dùng cách trần thuật ở ngôi thứ ba).

    + Ngôn ngữ nhân vật ông Hai vừa có nét chung của người nông dân, lại mang đậm cá tính của nhân vật nên rất sinh động.

    Luyện tập:

    Câu 1: Tham khảo đoạn văn sau:

    Với người nông dân Việt Nam, có lẽ không có thứ tình cảm nào tự nhiên hơn tình yêu đất nước. Tình yêu ấy nhẹ nhàng thấm vào máu thịt qua tình cảm dành cho người thân, làng xóm, quê hương. Nó tưởng như xa xôi nhưng lại thật gần gũi, giản dị. Thấu hiểu những điều đó, nhà văn Kim Lân đã có một thiên truyện thật hay viết về tình yêu quê hương đất nước của người nông dân: “Làng”. Diễn biến tâm trạng nhân vật chính của tác phẩm – nhân vật ông Hai là một thành công lớn của tác giả khi viết về đề tài tình yêu đất nước. Tin làng Chợ Dầu theo giặc làm ông Hai khổ tâm là vì nó đã động chạm đến điều thiêng liêng, nhạy cảm nhất trong con người ông. Cái làng đối với người nông dân quan trọng lắm. Nó là ngôi nhà chung cho cộng đồng, họ mạc. Đời này qua đời khác, người nông dân gắn. bó với cái làng như máu thịt, ruột rà. Nó là nhà cửa, đất đai, là tổ tiên, là hiện thân cho đất nước đối với họ. Trước Cách mạng tháng Tám, ông Hai thuộc loại khố rách áo ôm”, từng bị “bọn hương lí trong làng truất ngôi trừ ngoại xiêu dạt đi, lang thang hết nơi này đến nơi khác, lần mò vào đến tận đất Sài Gòn, Chợ Lớn kiếm ăn. Ba chìm bảy nổi mười mấy năm trời mới lại được trở về quê hương bản quán”. Nên ông thấm thía lắm cái cảnh tha hương cầu thực, ông yêu cái làng của mình như đứa con yêu mẹ, tự hào về mẹ, tôn thờ mẹ, một tình yêu hồn nhiên như trẻ thơ. Cứ xem cái cách ông Hai náo nức, say mê khoe về làng mình thì sẽ thấy. Trước Cách mạng tháng Tám, ông khoe cái sinh phần cùa viên tổng đốc làng ông: “Chết! Chết, tôi chưa thấy cái dinh cơ nào mà lại được như cái dinh cơ cụ thượng làng tôi.”. Và mặc dù chẳng họ hàng gì nhưng ông cứ gọi viên tổng đốc là “cụ tôi” một cách rất hả hê! Sau Cách mạng, “người ta không còn thấy ông đả động gì đến cái lăng ấy nữa”, vì ông nhận thức được nó làm khổ mình, làm khổ mọi người, là kẻ thù của cả làng: “Xây cái lăng ấy cả làng phục dịch, cả làng gánh gạch, đập đá, làm phu hồ cho nó. Trong lòng ông lão lại thấy náo nức hẳn lên”. Lúc này, niềm vui của ông chỉ là hàng ngày đi nghe tin tức thời sự kháng chiến và khoe về cái làng Chợ Dầu của ông đánh Tây. Thế mà, đùng một cái ông nghe được cái tin làng Chợ Dầu của ông theo Tây làm Việt gian. Càng yêu làng, hãnh diện, tự hào về làng bao nhiêu thì bây giờ ông Hai lại càng thấy đau đớn, tủi hổ bấy nhiêu. Nhà văn Kim Lân đã chứng tỏ bút lực dồi dào, khả năng phân tích sắc sảo, tái hiện sinh động trạng thái tình cảm, hành động của con người khi miêu tả diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai trong biến cố này.

    Câu 2: Bài thơ Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh, những đoạn trong hồi kí tự truyện Tuổi thơ im lặng của Duy Khán (SGK Ngữ văn 6, tập hai)….

    Nét riêng của tình cảm quê hương trong truyện Làng ở hai điểm sau:

    + Tình yêu làng ở ông Hai trở thành niềm say mê, hãnh diện, thành thói quen khoe làng mình.

    + Tình yêu làng phải đặt trong tình yêu nước, thống nhất với tinh thần kháng chiến khi đất nước đang bị xâm lược và cả dân tộc đang tiến hành cuộc kháng chiến.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Văn Làng Của Kim Lân
  • Soạn Bài Làng Của Kim Lân
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • Soạn Bài Làng (Trích) Sbt Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Văn 9 Vnen Bài 13: Làng
  • Soạn Bài Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh Lớp 8

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ôn Tập Làm Văn Lớp 9
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tập Làm Văn (Tiếp Theo) Đầy Đủ Hay Nhất Lớp 9
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Nghị Luận Trong Văn Bản Tự Sự
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Người Kể Trong Văn Bản Tự Sự Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn văn 8 Ôn tập về văn bản thuyết minh thuộc: Bài 20 SGK ngữ văn 8

    I. ÔN TẬP LÍ THUYẾT

    Câu 1. Văn bản thuyết minh có vai trò và tác dụng như thế nào trong đời sống?

    Trả lời:

    Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp các tri thức về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân… của các sự vật và hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội cho con người bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích.

    Câu 2. Văn bản thuyết minh có những tính chất gì khác với văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận?

    Trả lời:

    Văn bản thuyết minh khác các loại văn bản khác chủ yếu ở tính chất thuyết minh, giới thiệu. Văn thuyết minh không nặng về kể chuyện như văn tự sự, không miêu tả chi tiết, tỉ mỉ như văn miêu tả, không biểu cảm mạnh mẽ như văn biểu cảm, cũng không lập luận, thuyết lí như văn nghị luận. Thuyết minh trình bày, giải thích, giới thiệu khách quan, xác thực, rõ ràng.

    Câu 3. Muốn làm tốt bài văn thuyết minh, cần phải chuẩn bị những gì? Bài văn thuyết minh phải làm nổi bật điều gì?

    Trả lời:

    Muốn làm tốt một bài văn thuyết minh, trước hết phải tìm hiểu kĩ về đối tượng cần thuyết minh bằng cách quan sát trực tiếp hoặc tìm hiểu qua sách báo, vô tuyến truyền hình hay các phương tiện thông tin đại chúng khác. Bài văn thuyết minh cần phải làm nổi bật những đặc điểm, tính chất, chức năng, tác dụng… và quan trọng nhất chính là mối quan hệ giữa đối tượng được thuyết minh với đời sống con người.

    Câu 4. Những phương pháp thuyết minh nào thường được chú ý vận dụng?

    Trả lời:

    Những phương pháp thuyết minh thường được vận dung, vận dụng kết hợp với nhau là: nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân loại, phân tích…

    II. LUYỆN TẬP

    Câu 1. a) Giới thiệu một đồ dùng:

    Mở bài: Giới thiệu đồ dùng một cách chung nhất

    Thân bài:

    – Cấu tạo đồ dùng

    – Đặc điểm của đồ dùng

    – Lợi ích của đồ dùng đó

    Kết bài: bày tỏ thái độ đối với đồ dùng

    b) Giới thiệu một danh lam thắng cảnh:

    Mở bài: giới thiệu chung về thắng cảnh (vị trí địa lý, bao gồm những bộ phận nào…)

    Thân bài: lần lượt mô tả, giới thiệu từng phần trong danh lam thắng cảnh.

    Kết bài: vị trí của thắng cảnh trong đời sống tình cảm của con người.

    c) Giới thiệu một thế loại văn học

    Mớ bài: Nêu định nghĩa chung về thế loại đó

    Thân bài: Nêu các đặc điểm của thế loại đó (có ví dụ kèm theo minh họa)

    Kết bài: Cảm nhận của em về vẻ đẹp của thế loại văn học đó.

    d) Giới thiệu một phương pháp (làm đồ dùng học tập, thí nghiệm)

    Nguyên vật liệu

    Cách thức tiến hành (giới thiệu theo trình tự) .

    Kết quả thu được và yêu cầu chất lượng đối với đồ dùng học tập hay thí nghiệm đó.

    Ví dụ dàn ý giới thiệu thế thơ lục bát

    Mở bài: Lục bát là thế thơ dân tộc, được hoàn thiện trong văn chương ở thế kỷ XVIII với tác phấm “Truyện Kiều” (Nguyễn Du)

    Thân bài: Các đặc điểm của thể thơ lục bát.

    – Số lượng tiếng cố định: dòng 6 tiếng (câu lục) và dòng 8 tiếng (câu bát).

    – Hiệp vần: vừa hiệp vần chân vừa hiệp vần lưng. Tiếng cuối câu bát hiệp vần tiếng cuối câu lục tiếp theo.

    – Phối điệu (luật bằng trắc):

    + Tiếng chẳn có qui định (tiếng thứ 2, thứ 6 và thứ 8 bằng, tiếng thứ 4 trắc)

    + Trong câu bát, lây tiêng thứ 6 làm căn cứ tìm thanh ch liêng thứ 2 và thứ 8 (nếu tiếng thứ 6 là thanh huyền thì tiếng: :hu 2 và 8 là thanh không hoặc ngược lại)

    – Nhịp: thường ngắt nhịp chẳn, mỗi nhịp 2 tiếng.

    Kết bài: Lục bát dân tộc đã được gìn giữ và phát huy ở những nhà thơ lớn về sau. Thể thơ này kết tinh tinh hoa, hồn vía người Việt, văn hóa Việt

    Câu 2. Tập viết đoạn văn theo các đề bài sau: a) Giới thiệu một đồ dùng:

    Chiếc ấm pha trà của ông em cao khoảng 20 cm, được làm từ sứ màu trắng. Phía trên là nắp ấm hình tròn, có núm cầm nhỏ xíu. Phía dưới là thân ấm hình trụ có đáy, trên nền sứ tráng có điểm xuyết cành tre và vài chú chim chích bông xinh xắn. Một bên thân ấm là vòi ấm dài khoảng 7 cm, uốn cong, hướng lên trên.

    b) Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê em:

    Đến thăm Hạ Long, du khách thường được thướng ngoạn nhiều cảnh đẹp: hang Đầu Gồ, hang Sưng Sốt hay vịnh Quả Đào. Trong số các hang động và hòn núi đẹp cứa Hạ Long phải nói tới hang Đầu Gỗ. Hang này cách Bãi Cháy 12 km. Trong hang có nhiều nhũ đá, măng đá và trụ đá với hình dáng và màu phong phú, đẹp. Đặc biệt, trong hang còn có nhừng vũng nước ngọt trong lành, mát mẻ.

    c) Giới thiệu một thể loại văn học:

    Lục bát là một thê thơ dân tộc với số lượng tiếng cố định: dòng 6 tiếng (câu lục) và dòng 8 tiếng (câu bát). Thế thơ này gieo vần lưng và vần chân về luật bằng trắc, chỉ có quy định cho những tiếng chẵn mà thường là tiếng thứ 4 trắc, còn lại bằng, về ngắt nhịp, thể thơ lục bát chủ yếu ngắt nhịp chẵn.

    d) Giới thiệu một loài hoa:

    Khi những cành đào ớ Nhật Tân (Hà Nội) bắt đầu nớ hoa báo hiệu một mùa xuân ấm áp đã đến thì ở Huế, Đà Lạt và Sài Gòn nớ rộ nhừng cành mai vàng trang nhã. Hoa mai vàng có đài xanh đậm, năm cánh hoa vàng óng như tơ. Hoa có nhiều nhị. Người xưa quan niệm về hoa mai là biểu tượng cho sự thanh cao, đẹp đẽ của tâm hồn.

    e) Giới thiệu một loài động vật

    Chú thỏ con nhà tôi xinh thật là xinh. Chú có cái mũi đo đỏ lúc nào cũng ươn ướt luôn hít hít thở thở. Bộ ria mọc hai bên mép cũng trắng như cước. Đôi mắt đỏ hồng tròn xoe như hai hòn bi trông rất hiền. Hai tai thỏ to như hai cái lá doi lúc nào cùng vểnh lên.

    g) Giới thiệu một sản phẩm mang bản sắc Việt Nam:

    Nghĩ đến người Việt Nam, chúng ta nhớ áo dài, bánh chưng… nhưng không thế không nhắc đến chiếc nón, dù hiện nay lớp thanh niên nam nữ dùng nhiều đến mũ. Nón có hình chóp, được làm từ lá cọ, dừa và các thanh tre được vuốt nhỏ, chuốt trơn, ở nước ta có một số vùng nổi tiếng làm nón mà khi đi du lịch người ta không thể không mua làm quà tặng người thân. Đó là Huế, Quảng Bình, Hà Tây (làng Chuông).

    Xem Video bài học trên YouTube

    Giáo viên dạy thêm cấp 2 và 3, với kinh nghiệm dạy trực tuyến trên 5 năm ôn thi cho các bạn học sinh mất gốc, sở thích viết lách, dạy học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh Đầy Đủ Lớp 8 Hay Nhất
  • Soạn Bài Ôn Tập Truyện Lớp 9
  • Bài 11: Ôn Tập Văn Bản Nhật Dụng
  • Soạn Bài Cố Hương Của Lỗ Tấn Lớp 9
  • Bài Soạn Lớp 9: Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • Soạn Bài Cảm Xúc Mùa Thu Lớp 10 Ngắn Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 3 Soạn Bài Lao Xao Ngắn Nhất.
  • Soạn Bài: Lao Xao (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài: Qua Đèo Ngang
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang. Bạn Đến Chơi Nhà Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Soạn Bài Quan Hệ Từ Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Soạn bài Cảm xúc mùa thu lớp 10 ngắn nhất được biện soạn bởi đội ngũ giáo viên bộ văn giàu kinh nghiệm giảng dạy. Đảm báo chi tiết, chính xác và đủ ý giúp các em soạn bài Cảm xúc mùa thu lớp 10 nhanh chóng, ngắn gọn.

    Soạn bài Cảm xúc mùa thu lớp 10 ngắn nhất thuộc: Tuần 16 SGK Ngữ Văn 10

    I. Hướng dẫn soạn bài Cảm xúc mùa thu

    Câu 1 (trang 147 SGK Ngữ văn 10 tập 1)

    Bố cục: 2 phần

    – Phần 1 (4 câu đầu): miêu tả cảnh mùa thu

    – Phần 2 (4 câu thơ sau): cảm hứng của thi nhân khi cảnh thu về trên đất khách

    Câu 2 (trang 147 SGK Ngữ văn 10 tập 1)

    – Ở bốn câu thơ đầu, tầm nhìn của tác giả mở rộng, bao quát không gian từ rừng phong, Vu sơn, Vu giáp, lưng trời, rồi đến dòng sông, mặt đất. Từ không gian tĩnh đến không gian động.

    – Bốn câu sau tầm nhìn của nhà thơ thu hẹp về không gian, cảnh vật trước mặt. Sự thay đổi tầm nhìn ở bài thơ thể hiện tâm trạng của tác giả. Cảnh mùa thu hùng vĩ nhưng “điêu hương” tạo nên nỗi buồn trong cảm thức của tác giả, tác giả trở về với tầm nhìn hẹp hơn là quay về với hiện thực buồn bã của mình. Nhìn khóm trúc và con thuyền lẻ loi để cảm thấu hết nỗi cô đơn của thi nhân.

    – Lí giải sự thay đổi ấy: do sự thay đổi của thời gian nên tầm nhìn có sự thay đổi. chiều dần buông, tầm nhìn con người sẽ bị thu hẹp. Thêm vào đó, để phù hợp với tứ thơ lần từ cảnh đến tình thì không gian từ bao la, rộng lớn cũng rút về thành thứ không gian nội tâm.

    Câu 3 (trang 147 SGK Ngữ văn 10 tập 1)

    – Mối quan hệ giữa bốn câu thơ đầu với bốn câu thơ cuối là cả hai cùng góp phần tạo nên một bức tranh mùa thu trầm hùng bi tráng, bốn câu thơ đầu miêu tả cảnh thu ở một không gian rộng, bốn câu sau là miêu tả cảnh thu ở một không gian hẹp. Nó cũng thể hiện mối quan hệ trong sự vận hành của tứ thơ là đi từ cảnh đến tình, cảnh khởi sinh tình và tình thấm sâu vào cảnh. Bài thơ có nhan đề là Thu hứng (cảm xúc mùa thu). Do đó toàn bộ bài thơ, từ hình ảnh đến câu chữ đều chuyển tải tình cảm của thi nhân trước cảnh sắc mùa thu. Bốn câu thơ đầu dù miêu tả cảnh thu nhưng hàm ẩn trong đó là nỗi u uất của lòng thi nhân, bốn câu sau tâm sự của thi nhân lại thấm đẫm vào cảnh, từ tình mà cảm cảnh tạo nên hai hình ảnh gợi buồn đến ám ảnh: Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.

    – Mối quan hệ giữa toàn bài với nhan đề: Bài thơ có nhan đề là Thu hứng (cảm xúc mùa thu). Do đó toàn bộ bài thơ, từ hình ảnh đến câu chữ đều chuyển tải tình cảm của thi nhân trước cảnh sắc mùa thu. Bốn câu thơ đầu dù miêu tả cảnh thu nhưng hàm ẩn trong đó là nỗi u uất của lòng thi nhân, bốn câu sau tâm sự của thi nhân lại thấm đẫm vào cảnh, từ tình mà cảm cảnh tạo nên hai hình ảnh gợi buồn đến ám ảnh.

    II. LUYỆN TẬP

    Câu 1 (trang 147 SGK Ngữ văn 10 tập 1)

    – Bản dịch của Nguyễn Công Trứ khá sát, thể hiện tài hoa của ông. Song thơ Đường, như đã nói, thường là “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời), “ngôn tận nhi ý bất tận”, “ngôn đáo bút bất đáo” (lời hết mà ý không hết), người dịch dù tài hoa đến đâu cũng khó mà chuyển tải toàn vẹn tinh túy của nguyên tác chữ Hán.

    – Ở câu đầu, bản dịch thơ chưa chuyển tải được ý nghĩa của từ “điêu thương” – đây là một tính từ đã được động từ hóa (làm tiêu điều). Vì vậy ở trong bản phiên âm nó mang nghĩa rất mạnh – chỉ sự tàn phá khắc nghiệt của sương móc đối với rừng phong.

    – Chữ “thẳm” trong câu ba (bản dịch) chưa thật sát nghĩa. Đồng thời nó còn làm cho âm hưởng thơ trầm xuống.

    – Câu 5, bản dịch bỏ mất chữ “lưỡng khai” – là một từ quan trọng của bản phiên âm – nhấn mạnh số lần lặp lại.

    – Câu 6, chữ “cô” chưa dịch được làm cho câu thơ chưa thật sự thể hiện được nỗi lòng của kẻ li hương.

    Câu 2 (trang 147 SGK Ngữ văn 10 tập 1)

    – Căn cứ vào bản dịch Nguyễn Công Trứ chúng ta dễ nhầm tưởng “lệ” là nước mắt của hoa cúc (chỉ một cách hiểu), nhưng trong nguyên tác chữ Hán câu thơ này có thể hiểu theo hai cách: hoa cúc nở hai lần (tác giả so sánh những cánh hoa cúc với những giọt nước mắt, nên nói hoa cúc hai lần nhỏ lệ), cũng có thể hiểu là hai lần hoa cúc nỏ cùng là hai lần nhà thơ nhỏ lệ (nhà thơ xa cách quê hương đã hai năm).

    Xem Video bài học trên YouTube

    Giáo viên dạy thêm cấp 2 và 3, với kinh nghiệm dạy trực tuyến trên 5 năm ôn thi cho các bạn học sinh mất gốc, sở thích viết lách, dạy học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Cảm Xúc Mùa Thu Ngắn Gọn Lớp 10
  • Soạn Bài Cảm Xúc Mùa Thu Ngắn Gọn Nhất Văn 10: Bài Thơ Có Thể Chia Làm Mấy Phần?
  • Soạn Bài: Cảm Xúc Mùa Thu
  • Soạn Chiều Xuân Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Chiều Xuân Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ Lớp 8 Ngắn Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Tây Tiến Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Tây Tiến (Quang Dũng
  • Soạn Văn Lớp 12 Bài Tây Tiến Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Từ Ấy Siêu Ngắn
  • Soạn văn 8 bài Tức nước vỡ bờ ngắn nhất được soạn và biên tập từ đội ngũ giáo viên dạy ngữ văn giỏi uy tín trên cả nước. Đảm bảo chính xác, ngắn gọn, súc tích giúp các em dễ hiểu, dễ soạn bài Bố cục của văn bản.

    Soạn bài Tức nước vỡ bờ thuộc: Bài 3 SGK Ngữ văn 8

    I. Hướng dẫn soạn bài Tức nước vỡ bờ

    Trả lời câu 1 (trang 32 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Khi bọn tay sai xông vào, tình thế chị Dậu rất thảm thương:

    – Chị mới vừa rón rén bưng bát cháo cho chồng và đang hồi hộp “chờ xem chồng chị có ăn ngon miệng không”.

    – Anh Dậu vừa “run rẩy cất bát cháo anh mới kề vào đến miệng” thì hai tên tay sai đã “sầm sập tiến vào” trong tay đầy những “roi song, tay thước và dây thừng” chúng là hiện hình của tai họa.

    Trả lời câu 2 (trang 32 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Phân tích nhân vật cai lệ:

    a, Là một tên tay sai chuyên nghiệp rất thạo nghề làm tay sai:

    + Là cai, cầm đầu đám lính lệ ở huyện đường (loại lính chuyên làm tay sai hầu hạ chống quan nha chứ không phải lính chiến đấu).

    + Hắn là tiêu biểu nhất của hạng tay sai, công cụ đắc lực của cái trật tự xã hội ấy.

    – Tên cai lệ được phái về làng Đông Xá để giúp lí trưởng làng này đốc thuế. Hắn rất mẫn cán, thường lăm lăm cầm roi song theo gã người nhà lí trưởng vào những nhà có người thiếu thuế để quát nạt, chửi bới, đánh trói.

    + Trong kì sưu thuế giống như một cuộc săn thú này, cai lệ là một con chó săn nòi hung dữ, rất được việc! Dường như toàn bộ ý thức của hắn lúc này chỉ là ra tay trừng trị kẻ thiếu thuế:

    b) Trong cái đám đông tay sai của quan phủ, lí trưởng, cai lệ chỉ là một nhân vật “chạy cờ”, một gã tay sai mạt hạng, vô danh. Nhưng bộ mặt hung dữ, đểu cáng của hắn vẫn có một giá trị tiêu biểu riêng; hắn là một thứ “Thiên lôi”, một cái búa sắt trong tay bọn thống trị, tức là tiêu biểu cho chức năng đàn áp của cái chế độ tàn bạo ăn thịt người

    Trả lời câu 3 (trang 33 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Phân tích diễn biến tâm lí của chị Dậu:

    + Anh Dậu ốm yếu quá khiếp đảng “lăn đùng ra không nói được câu gì”.

    + Chị Dậu đã phải một mình đứng ra đối phó với chúng để bảo vệ chồng.

    + Ban đầu, chị “cố thiết tha” van xin bọn chúng. Trong tình thế của chị lúc ấy chỉ có cách van xin.

    + Nhưng khi tên cai lệ đáp lại những lời van xin thống thiết lễ phép của chị Dậu bằng “trợn ngược hai mắt” quát, thét, bằng những quả bịch vào ngực chị Dậu và cứ chồm đến anh Dậu, thì chỉ đến lúc ấy, “hình như tức quá không thể chịu được, chị Dậu liều mạng cự lại”. Sự “liều mạng cự lại” của chị Dậu cũng có hai bước, mức độ khác nhau. Thoạt tiên chị “cự lại” bằng lí:

    + “Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ!” Kì thực, chị Dậu đâu biết đến luật pháp cụ thể, chị chỉ nói cái lí tự nhiên, cái nguyên tắc đạo lí tối thiểu của con người. Tư thế của chị Dậu lúc này khác hẳn trước: không phải là một kẻ bề dưới cúi đầu van xin, mà là tư thế người ngang hàng, đanh thép cảnh cáo kẻ ác. Nhưng khi tên cai lệ hung dữ như chó sói ấy quay lại “tát vào mặt chị đánh bốp, rồi hắn cứ nhảu vào cạnh anh Dậu”, thì chị Dậu đã bật dậy với sức mạnh ghê ghớm bất ngờ.

    – Chị Dậu “nghiến hai hàm răng” (biểu hiện của sự nổi giận cao độ, không nén nổi) và ném ra lời thách thức quyết liệt, dữ dội:

    “Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!”. Không còn đấu lí nữa, chị quyết ra tay đấu lực với bọn ác ôn này. Chị Dậu đã ra tay với sức mạnh của sự căm thù, phẫn nộ: “Túm ngay cổ” tên cai lệ, “ấn dúi ra cửa” làm cho “hắn ngã chỏng queo”.

    Trả lời câu 4 (trang 33 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Quy luật “Có áp bức có đấu tranh”. Hành động của chị Dậu xuất phát từ một quy luật: “Con giun xét lắm cũng quằn”. Vì vậy đặt nhan đề Tức nước vỡ bờ cho đoạn trích là thỏa đáng vì đoạn trích nêu những diễn biến phù hợp với cái cảnh tức nước vỡ bờ.

    Trả lời câu 5 (trang 33 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Nhận xét: “Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ một đoạn tuyệt khéo”

    – “Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo vì sự phát triển rất phù hợp với logic và tính cách nhân vật.

    Tình thế đặt chị Dậu trước sự lựa chọn: hoặc là để yên cho chúng giày xéo, hoặc đứng lên chống lại chúng. Một cách tự phát của diễn biến, chị đã vùng dậy một cách quyết liệt.

    – Lúc đầu, làm sự nhịn nhục của kẻ dưới, chị “cố thiết tha” van xin.

    – Trước sự đểu giả và tàn bạo của cai lệ, chị liều mạng cự lại “tức quá không thể chịu được”.

    + Không còn van xin, chị đấu lí: “Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ”. Cách xưng hô cho thấy chị không còn “nằm yên” trong tư cách kẻ dưới mà ngang hàng.

    + Mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem. Chị Dậu đã chuyển sang một tư thế khác: bà – mày. Đó là tư thế của kẻ bề trên. Sự căm giận, khinh bị kẻ thù đã lên tới tột độ. Trong màn đấu lực, chị đã thắng.

    Trả lời câu 6 (trang 33 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Ý kiến của nhà văn Nguyễn Tuân hoàn toàn đúng vì qua đoạn trích cho chúng ta thấy sự bất công vô lí của nạn sưu thuế trong xã hội phong kiến: Người đã chết rồi vẫn phải nộp thuế thân.

    Nguyễn Tuân muốn khẳng định quy luật có áp bức, có đấu tranh; áp bức càng mạnh thì đấu tranh càng dữ dội. Họ vùng lên để đòi lại công bằng cho cuộc sống của mình.

    III. Bố cục, Nội dung bài tức nước vỡ bờ

    Bố cục: 2 phần

    – Phần 1 (từ đầu… “ăn có ngon miệng hay không”): Cảnh chị Dậu chăm sóc chồng.

    – Phần 2 (còn lại): Cảnh chị Dậu phản kháng.

    ND chính: Vạch trần bộ mặt tàn ác, bất nhân của xã hội thực dân phong kiến đương thời; xã hội ấy đã đẩy người nông dân vào tình cảnh khổ cực, khiến họ phải liều mạng chống lại. Đoạn trích còn cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân, vừa giàu tình yêu thương vừa có sức sống tiềm tàng mạnh mẽ.

    Xem Video bài học trên YouTube

    Giáo viên dạy thêm cấp 2 và 3, với kinh nghiệm dạy trực tuyến trên 5 năm ôn thi cho các bạn học sinh mất gốc, sở thích viết lách, dạy học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Tức Nước Vỡ Bờ
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Tức Nước Vỡ Bờ Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Sông Núi Nước Nam (Ngắn Gọn)
  • Soạn Bài: Sông Núi Nước Nam (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài: Sông Núi Nước Nam (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Sọ Dừa Lớp 6

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Hoán Dụ (Siêu Ngắn)
  • Soạn Văn 11 Ngắn Nhất Bài: Tràng Giang
  • Soạn Văn 7 Ngắn Nhất Bài: Sài Gòn Tôi Yêu
  • Soạn Bài: Sài Gòn Tôi Yêu (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài: Sài Gòn Tôi Yêu (Siêu Ngắn)
  • Soạn bài Sọ Dừa lớp 6 được biên soạn từ quý thầy, cô giáo bộ môn ngữ văn uy tín trên cả nước, đảm bảo chính xác, ngắn gọn, súc tích giúp các em dễ hiểu, dễ . Soạn văn 6 hay nhất được cập nhật đầy đủ tại chúng tôi .

    Soạn bài Sọ Dừa thuộc: Bài 5 SGK Ngữ Văn 6

    I. Hướng dẫn soạn bài Sọ Dừa

    Trả lời câu 1 (trang 54 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

    Sự ra đời của Sọ Dừa có gì khác thường? Kể về sự ra đời của Sọ Dừa như vậy, nhân dân muốn thể hiện điều gì và muốn chú ý đến những con người như thế nào trong xã hội xưa?

    – Bà mẹ vào rừng hái củi, khát nước quá bà đã uống cạn nước mưa trong một cái sọ dừa. Vậy là bà thụ thai và đẻ ra Sọ Dừa.

    – Sọ Dừa khác thường, dị dạng không chân, không tay, tròn như một quả dừa chỉ “lăn lông lốc trong nhà, chẳng làm được việc gì”.

    – Nhân dân ta muốn thể hiện sự quan tâm, thương cảm đến những số phận thấp hèn, đau khổ chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội.

    Trả lời câu 2 (trang 54 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

    Sự tài giỏi của Sọ Dừa thể hiện qua những chi tiết nào? Em có nhận xét gì về quan hệ giữa hình dạng bên ngoài và phẩm chất bên trong của nhân vật?

    * Sự tài giỏi của Sọ Dừa thể hiện qua những chi tiết:

    – Chăn bò giỏi

    – Thổi sáo rất hay

    – Sắm đủ sính lễ cưới vợ

    – Thi đỗ trạng nguyên

    – Có tài dự đoán.

    * Sự đối lập giữa bề ngoài dị dạng và vẻ đẹp, phẩm chất bên trong thể hiện ước mơ của nhân dân về sự đổi đời và đề cao, khẳng định giá trị chân chính của con người. Đó chính là giá trị tinh thần bên trong.

    Trả lời câu 3 (trang 54 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

    Tại sao cô út lại bằng lòng lấy Sọ Dừa? Em có nhận xét gì về nhân vật cô út?

    – Cô út yêu và đồng ý lấy Sọ Dừa không phải là chiều theo ý cha, cũng không phải vì hai cô chị nhường mà cô yêu Sọ Dừa thật sự. Đó là tình yêu và cũng là lòng thương người cho nên cô mới phát hiện ra Sọ Dừa không xấu xí như vẻ bề ngoài.

    – Nhận xét về cô út: Cô út là người giàu lòng nhân hậu, biết yêu thương, thông minh, biết sẻ chia và rất giàu nghị lực.

    Trả lời câu 4 (trang 54 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

    Trong truyện, Sọ Dừa có hình dạng xấu xí nhưng cuối cùng đã trút bỏ lốt, cùng cô út hưởng hạnh phúc, còn hai cô chị thì phải bỏ nhà trốn đi. Qua kết cục này, em thấy người lao động mơ ước điều gì?

    Qua kết cục của truyện, người lao động mơ ước: người chịu nhiều thiệt thòi, đau khổ sẽ được đổi đời, ước mơ công bằng xã hội. Ngoài ra, những người ăn ở hiền lành sẽ luôn được hạnh phúc, sống một cuộc sống ấm no còn kẻ tham lam, độc ác sẽ phải chịu sự trừng phạt thích đáng.

    Trả lời câu 5 (trang 54 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

    Hãy nêu những ý nghĩa chính của truyện “Sọ Dừa”:

    – Truyện đề cao giá trị đích thực, vẻ đẹp bên trong của của con người.

    – Đề cao lòng nhân ái đối với người bất hạnh. Có lòng nhân ái sẽ có cuộc sống hạnh phúc.

    – Thể hiện ước mơ và niềm tin mãnh liệt về cuộc sống công bằng, tốt đẹp.

    II. Bố cục, Nội dung bài Sọ Dừa lớp 6

    Bố cục: 3 đoạn

    – Đoạn 1 (Từ đầu … đến “đặt tên cho nó là Sọ Dừa”): Sự ra đời của Sọ Dừa.

    – Đoạn 2 (Tiếp theo … đến “phòng khi dùng đến”): Sọ Dừa cưới cô Út, trở về hình dáng tuấn tú và thi đỗ trạng nguyên.

    – Đoạn 3 (Còn lại): Biến cố cô Út bị hãm hại và đoàn tụ vợ chồng.

    Nội dung:

    Truyện ca ngợi tính chất chính nghĩa, tính chất nhân dân và chiến thắng vẻ vang của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh xâm lược do Lê Lợi lãnh đạo ở đầu thế kỉ XV. Truyện cũng nhằm giải thích tên gọi hồ Hoàn Kiếm, đồng thời thể hiện khát vọng hoà bình của dân tộc.

    Xem Video bài học trên YouTube

    Giáo viên dạy thêm cấp 2 và 3, với kinh nghiệm dạy trực tuyến trên 5 năm ôn thi cho các bạn học sinh mất gốc, sở thích viết lách, dạy học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Sọ Dừa Lớp 6 Ngắn Gọn
  • Soạn Bài Sọ Dừa Lớp 6 Ngắn Gọn Nhất Hay
  • Soạn Bài Sọ Dừa (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Cố Hương (Siêu Ngắn)
  • Soạn Văn 9 Bài Cố Hương Ngắn Gọn
  • Soạn Bài Nghị Luận Về Một Sự Việc Hiện Tượng Đời Sống Lớp 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Thực Hành 6 Trang 20, 21 Sgk Sinh Học Lớp 9
  • Bài 6. Các Nước Châu Phi
  • Sh 11: Bài 10: Ảnh Hưởng Của Các Nhân Tố Ngoại Cảnh Đến Quang Hợp
  • Giáo Án Sinh Học 11 Bài 10: Ảnh Hưởng Của Các Nhân Tố Ngoại Cảnh Đến Quang Hợp
  • Bài 11. Vận Chuyển Các Chất Qua Màng Sinh Chất
  • Soạn văn 9 bài Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống thuộc: Bài 19 SGK ngữ văn 9

    I. TÌM HIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC HỆN TƯỢNG, ĐỜI SỐNG

    Đọc đoạn văn (trang 20 SGK Ngữ văn 9 tập 2) và trả lời câu hỏi: a) Trong văn bản trên, tác giả bàn luận về hiện tượng gì trong đời sống? Hiện tượng ấy có những biểu hiện như thế nào? Tác giả có nêu rõ được vấn đề đáng quan tâm của hiện tượng đó không? Tác giả đã làm thế nào để người đọc nhận ra hiện tượng ấy? b) Có thể có những nguyên nhân nào tạo nên hiện tượng đó? c) Bệnh lề mề có những tác hại gì? Tác giả phân tích những tác hại của bệnh lề mề như thế nào? Bài viết đã đánh giá hiện tượng đó ra sao? d) Bố cục của bài viết có mạch lạc và chặt chẽ không? Vì sao? Trả lời:

    a) Trong văn bản Bệnh lề mề, tác giả bàn luận về một hiện tượng thường thấy trong đời sống: bệnh lề mề coi thường giờ giấc.

    Những biểu hiện của hiện tượng đó là sai hẹn, đi chậm, đi trễ, không coi trọng giờ giấc. Tác giả đưa ra sự đối lập: những người đi họp chậm nhưng khi ra sân bay, lên tàu hỏa, đi xem hát… kịch lại không đi chậm chút nào.

    b) Tác giả chỉ rõ nguyên nhân tạo ra thói lề mề: thiếu tự trọng, thiếu tôn trọng người khác, chỉ biết quý thời gian của mình coi thường thời gian của người khác, thiếu trách nhiệm, coi thường việc chung.

    c) Bệnh lể mề có tác hại là làm phiền mọi người, làm mất thời gian, làm nảy sinh cách đối phó.

    Tác giả nêu rõ tai họa cúa bệnh lề mề: gây hại cho tập thể (đi họp chậm, nhiều vấn đề bàn thiếu thâu đáo vì thiếu thì giờ).

    d) Lời văn của bài viết ngắn gọn, chặt chẽ, bố cục mạch lạc. Đầu tiên là nêu hiện tượng, tiếp đó phân tích nguyên nhân và tác hại, cuối cùng nêu giải pháp khắc phục.

    II. LUYỆN TẬP

    – Ham học hỏi, vượt khó tiến lên trong học tập.

    – Hiếu thuận trong gia đình

    – Đoàn kết thân ái với bạn bè trong lớp học

    – Đúng hẹn, giữ lời hứa với mọi người

    – Đi học đúng giờ, không ỷ lại, quay cóp…

    Các sự việc trên đều có thể viết thành một bài nghị luận xã hội.

    2. Một cuộc điều tra 2000 thanh niên nam ở Hà Nội năm 1981 cho thấy: từ 11 đến 25 tuổi: 25% các em đã hút thuốc lá; từ 16 đến 20 tuổi: 52%; trên 20 tuổi: 80%. Tỉ lệ này ngang với các nước châu Âu. Trong số các em hút thốc lá, có đên 80% lâu lâu có triệu chứng như ho hen, khạc đờm, đau ngực, còn trong số những em bé không hút có không đến 1% có các triệu chứng ấy (theo Nguyễn Khắc Viện). Hãy cho biết đây có phải là hiện tượng đáng viết một bài nghị luận không. Vì sao? Trả lời:

    Hiện tượng hút thuốc lá ở thanh niên nam rất đáng để viết một bài nghị luận:

    – Đây là hiện tượng có thực, phổ biến trong đời sống xã hội

    – Hút thuốc lá rất có hại cho sức khỏe của bản thân và mọi người xung quanh.

    – Đề ra biện pháp xử lí hiện tượng trên.

    Xem Video bài học trên YouTube

    Giáo viên dạy thêm cấp 2 và 3, với kinh nghiệm dạy trực tuyến trên 5 năm ôn thi cho các bạn học sinh mất gốc, sở thích viết lách, dạy học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Sinh 9 Bài 6: Thực Hành Tính Xác Xuất Xuất Hiện Các Mặt Của Đồng Kim Loại
  • Soạn Sinh Học 9 Bài 62 Thực Hành Vận Dụng Luật Bảo Vệ Môi Trường Vào Việc Bảo Vệ Môi Trường Ở Địa Phương
  • Giải Bài Tập Bài 62: Thực Hành: Vận Dụng Luật Bảo Vệ Môi Trường Vào Việc Bảo Vệ Môi Trường Ở Địa Phương
  • Giải Sinh 9 Bài 62: Thực Hành : Vận Dụng Luật Bảo Vệ Môi Trường Vào Việc Bảo Vệ Môi Trường Ở Địa Phương
  • Giải Bài Tập Sinh Học 9 Bài 66. Tổng Kết Chương Trình Toàn Cấp (Tiếp Theo)
  • Có Phải Tất Cả Thực Vật Đều Có Hoa Sinh Học Lớp 6 Bài 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tập Có Lời Giải Trang 12, 13 Sbt Sinh Học 6
  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Miêu Tả Trang 15 Sgk Văn 6
  • Soạn Sinh Học 9 Bài 63 Ôn Tập Phần Sinh Vật Và Môi Trường
  • Giải Bài Tập Sinh Học 9 Bài 63. Ôn Tập Phần Sinh Vật Và Môi Trường
  • Sinh Học 9 Bài 61: Luật Bảo Vệ Môi Trường
  • Có phải tất cả thực vật đều có hoa sinh học lớp 6 bài 4 được biên soạn bởi đội ngũ giáo viên dạy giỏi môn sinh đảm bảo tính chính xác và ngắn gọn, giúp các em học tốt môn sinh học lớp 6. Được cập nhật nhanh nhất, đầy đủ nhất tại Soanbaitap.com.

    thuộc phần: ĐẠI CƯƠNG VỀ GIỚI THỰC VẬT

    Tìm từ thích hợp (cây có hoa, cây không có hoa) điền vào chỗ trống trong các câu sau:

    – Cây cải là……

    – Cây lúa là……

    – Cây dương xỉ là…

    – Cây xoài là……

    Lời giải chi tiết

    – Cây cải là cây có hoa

    – Cây lúa là cây có hoa

    – Cây dương xỉ là cây không có hoa

    – Cây xoài là cây có hoa

    – Kể tên các cây có vòng đời kết thúc trong vòng 1 năm.

    – Kể tên một số cây sống lâu năm, thường ra hoa kết quả nhiều lần trong đời.

    Lời giải chi tiết

    – Các cây có vòng đời kết thúc trong vòng 1 năm: Rau cải, cây lúa, ngô…

    – Cây sống lâu năm, thường ra hoa kết quả nhiều lần trong đời: Xoài, ổi, na,…

    II. Hướng dẫn giải bài tập sgk sinh học lớp 6 bài 4 Có phải tất cả thực vật đều có hoa

    Giải bài 1 trang 15 SGK Sinh học 6. Dựa vào đặc điểm nào để nhận biết thực vật có hoa và thực vật không có hoa?

    Lời giải chi tiết

    – Thực vật có hoa là những thực vật có cơ quan sinh sản là hoa, quả, hạt.

    – Thực vật không có hoa là những thực vật có cơ quan sinh sản không phải là hoa. quả, hạt.

    Giải bài 2 trang 15 SGK Sinh học 6. Kể tên một vài cây có hoa và cây không có hoa.

    Đề bài

    Kể tên một vài cây có hoa và cây không có hoa.

    Lời giải chi tiết

    – Những cây có hoa là: lúa, ngô, cam, bưởi, mít, táo, thầu dầu, hướng dương, cây chua me, cây sam đất, cây xoài, cây lạc, cây khoai lang, cây khoai nước, cây bí ngô, cây sen, cây cỏ bợ,…

    – Những cây không có hoa là: cây bèo tấm, cây kim giao, cây thông, cây rêu, dương xỉ, cây rong đuôi chó, cây bạch quả, tảo, cây rong mơ, cây hai lá,…

    Giải bài 3 trang 15 SGK Sinh học 6. Kể tên 5 cây trồng làm lương thực, theo em những cây lương thực thường là cây một năm hay lâu năm?

    Đề bài

    Kể tên 5 cây trồng làm lương thực, theo em những cây lương thực thường là cây một năm hay lâu năm?

    Lời giải chi tiết

    – Ví dụ về 5 cây lương thực (chọn 5 cây bất kì) là : ngô, lúa nước, lúa mì, khoai tây, sắn, kê, đại mạch, cao lương, yến mạch, khoai lang, khoai sọ, …

    – Những cây lương thực thường là cây một năm. Vì nhu cầu sử dụng lương thực của nước ta cao và điều kiện khí hậu phù hợp với những cây lương thực ngắn ngày.

    Xem Video bài học trên YouTube

    Là một giáo viên Dạy cấp 2 và 3 thích viết lạch và chia sẻ những cách giải bài tập hay và ngắn gọn nhất giúp các học sinh có thể tiếp thu kiến thức một cách nhanh nhất

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Sinh Học 6 Bài 46 Thực Vật Góp Phần Điều Hòa Khí Hậu
  • Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Ngữ Văn 6
  • Giáo Án Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Văn 6 Trường Thcs Vạn Ninh
  • Sinh Học 6 Bài 22 Ảnh Hưởng Của Các Điều Kiện Bên Ngoài Đến Quang Hợp. Ý Nghĩa Của Quang Hợp
  • Trả Lời Câu Hỏi Sinh Học 6 Bài 22 Trang 75
  • Soạn Sinh Học 7 Bài 25: Nhện Và Sự Đa Dạng Của Lớp Hình Nhện

    --- Bài mới hơn ---

  • Lý Thuyết Sinh Học Lớp 7 Bài 25: Nhện Và Sự Đa Dạng Của Lớp Hình Nhện
  • Giải Vbt Sinh Học 7 Bài 18: Trai Sống
  • Soạn Sinh Học 7 Bài 22 Tôm Sông
  • Giáo Án Sinh Học 7 Bài 22: Tôm Sông
  • Giải Vbt Sinh Học 7 Bài 38: Thằn Lằn Bóng Đuôi Dài
  • Soạn sinh học 7 Bài 25: Nhện và sự đa dạng của lớp hình nhện thuộc CHƯƠNG V: NGÀNH CHÂN KHỚP

    Đề bài

    Đánh số vào ô trống theo một thứ tự đúng với tập tính chăng lưới ở nhện và cho biết nhện chăng tơ vào lúc nào?

    … – Chờ mồi (thường ở trung tâm lưới) (A)

    … – Chăng dây tơ phóng xạ (B)

    … – Chăng dây tơ khung (C)

    … – Chăng các sợi tơ vòng (D)

    * Đánh số thứ tự đúng:

    4 – Chờ mồi (thường ở trung tâm lưới) (A)

    2 – Chăng dây tơ phóng xạ (B)

    1 – Chăng dây tơ khung (C)

    3 – Chăng các sợi tơ vòng (D)

    * Nhện chăng tơ chủ yếu là vào ban đêm để dễ bắt mồi.

    Đề bài

    … – Nhện hút dịch lỏng từ con mồi

    … – Nhện ngoặm chặt mồi, chích nọc độc

    … – Tiết dịch tiêu hóa vào cơ thể mồi

    … – Trói chặt mồi rồi treo vào lưới để một thời gian

    Sắp xếp thứ tự cho đúng là:

    4 – Nhện hút dịch lỏng từ con mồi

    1 – Nhện ngoặm chặt mồi, chích nọc độc

    2 – Tiết dịch tiêu hóa vào cơ thể mồi

    3 – Trói chặt mồi rồi treo vào lưới để một thời gian

    Đề bài

    Bảng 2: Ý nghĩa thực tiễn của lớp hình nhện

    Cơ thể Hình nhện có mấy phần? So sánh các phần cơ thế với Giáp xác. Vai trò của mỗi phần cơ thể?

    Đề bài

    Cơ thể Hình nhện có mấy phần? So sánh các phần cơ thế với Giáp xác. Vai trò của mỗi phần cơ thể?

    * Cơ thể hình nhện gồm có 2 phần là:

    – Phần đầu- ngực: tấn công, định hướng, di chuyển.

    – Phần bụng: có nội quan, cơ quan hô hấp, cơ quan sinh sản, cơ quan chăng tơ.

    * Cấu tạo cơ thể như trên là tương tự với giáp xác. Tuy nhiên chúng khác về số lượng các phần phụ.

    Ở nhện phần phụ bụng tiêu giảm, không có chân bụng, phần phụ đầu – ngực chỉ có 6 đôi, trong đó có 4 đôi chân bò để di chuyển.

    Giải bài 2 trang 85 SGK Sinh học 7.

    Nhện có mấy đôi phần phụ? Trong đó có mấy đôi chân bò?

    Đề bài

    Nhện có mấy đôi phần phụ? Trong đó có mấy đôi chân bò?

    Nhện có 6 đôi phần phụ, trong đó:

    – Đôi kìm có tuyến độc.

    – Đôi chân xúc giác.

    – 4 đôi chân bò.

    Giải bài 3 trang 85 SGK Sinh học 7.

    Nêu tập tính thích nghi với lối sống của nhện?

    Đề bài

    Nêu tập tính thích nghi với lối sống của nhện?

    Nhện có tập tính chăng tơ bắt mồi, một số loài nhện cũng dùng tơ để đi chuyến và trói mồi.

    Nhện có nhiều tập tính thích nghi với bẫy, bắt các mồi sống (sâu bọ). Sau khi trói được con mồi, nhện tiết dịch tiêu hóa vào cơ thể con mồi, làm biến đổi phần thịt của con mồi thành chất lỏng rồi hút dịch lỏng đó để sinh sống (còn gọi là tiêu hóa ngoài).

    Xem Video bài học trên YouTube

    Là một giáo viên Dạy cấp 2 và 3 thích viết lạch và chia sẻ những cách giải bài tập hay và ngắn gọn nhất giúp các học sinh có thể tiếp thu kiến thức một cách nhanh nhất

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sinh Học 7 Bài 2: Phân Biệt Động Vật Với Thực Vật. Đặc Điểm Chung Của Động Vật
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 1 Môn Sinh Học Lớp 7
  • Bài Giảng Sinh Học Lớp 7
  • Lý Thuyết Sinh Học Lớp 7 Bài 26: Châu Chấu
  • Giải Vbt Sinh Học 7 Bài 26: Châu Chấu
  • Tin tức online tv