Top 12 # Xem Nhiều Nhất Soạn Bài Ngữ Văn Văn Bản Những Câu Hát Châm Biếm / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Techcombanktower.com

Soạn Bài Những Câu Hát Châm Biếm Ngữ Văn 7 / 2023

Soạn bài Những câu hát châm biếm

Bài làm

Bài 1: Sự “giới thiệu” về “chú tôi” như thế nào? Ngay ở trong hai dòng đầu có ý nghĩa gì? Bài này châm biếm hạng người nào ở trong xã hội?

– “Hay tửu hay tăm”: Nói về thói nghiện rượu.

– “Hay nước chè đặc”: Nói về thói nghiện chè đậm.

– “Hay nằm ngủ trưa” còn về ban ngày thì ước có được những ngày mưa, thế rồi vào ban đêm thì lại luôn ao ước có những “đêm thừa trống canh”‘ và thói nghiện ngủ.

Thông qua đây ta nhận thấy được hình ảnh “chú tôi” ở đây như là một gười vô cùng nhiều tật như rượu chè và lại còn lười biếng nữa. Kho giới thiệu về việc nhân duyên thì người ta luôn nói những điều tốt đẹp thế nhưng trong câu hát lại ngược lại hoàn toàn đó là cách nói ngược để châm biếm.

Chúng ta có thể nhận thấy được ở đây cũng chính với hai dòng đầu của bài ca vừa để bắt vần, đồng thời như cũng lại vừa để chuẩn bị cho việc giới thiệu nhân vật. Có thể nói đây cũng chính là hiện tượng thường gặp trong các bài ca dao xưa.

Bài 2: Nhai lại lời của ai nói với ai? Em có nhận xét gì về lời của thầy bói? Bài ca này phê phán hiện tượng nào trong xã hội? Hãy tìm những bài ca dao khác có nội dung tương tự để làm rõ hơn.

Có thể nhận thấy được ở đây cũng chính là lời của thầy bói là kiểu nói nước đôi, luôn luôn nói những chuyện hiển nhiên. Thế nhưng, chúng ta cũng đều nhận thấy rằng thầy bói lại luôn dùng cái trò ấu trĩ để hòng lừa gạt những người nhẹ dạ cả tin. Không chỉ dừng lại ở đó thì bài ca cũng đã dùng chính lời của thầy bói để nói ra bản chất của thầy bói là gì. Tác giả cũng đã sử dụng nghệ thuật gậy ông đập lưng ông để gây cười và châm biếm sâu sắc.

Không chỉ dừng lại ở đó chúng ta cũng nhận thấy được bài ca dao này phê phán những kẻ hành nghề mê tín, lừa bịp. Đồng thời là những trò mà lợi dụng sự non dạ của người khác để kiếm tiền. Không dừng lại ở đó thì bài ca cũng lại châm biếm những người luôn mê tín và tin tưởng vào những ông thầy bói dốt nát và vô căn cứ ckia.

Tìm bài ca dao có nội dung tương tự như bài ca dao trên:

Chập chập thôi lại cheng cheng,

Con gà trống thiến để riêng cho thầy.

Đơm xôi thì đơm cho đầy

Đơm vơi thì thánh nhà thầy mất thiêng!

Câu 3: Mỗi con vật trong bài 3 tượng trưng cho ai, hạng người nào trong xã hội xưa? Việc chọn các con vật để miêu tả, “đóng vai” như thế lí thú ở điểm nào? Cảnh tượng trong bài có phù hợp với đám tang không? Bài cao dao này phê phán, châm biếm cái gì?

Chúng ta nhận thấy được rằng cũng chính mỗi con vật trong bài 3 là tượng trưng cho một loại người, chứng minh cho một hạng người. Có thể thấy được hình ảnh con cò tượng trưng cho người nông dân, tượng trưng cho hạng người dân thường, người nghèo ở làng xã. Còn con Cà cuống tượng trưng cho những kẻ tai to mặt lớn được hiểu đó chính như xã trưởng, lí trưởng và đây cũng chính là hạng người lợi dụng quyền thế, luôn luôn lợi dụng cơ hội để có miếng ăn. Còn hình ảnh chim ri, chào mào lại là hình ảnh như tượng trưng cho loại người giông như cai lệ giống như lính lệ trong làng. Qủa thực đây còn được biết đến là loại người có tý quyền lực nhưng lại thừa cơ ăn theo.

Có thể nói chính việc chọn các con vật để miêu tả hay để có thể “đóng vai” như thế thật là lí thú biết bao nhiêu. Nguyên do cũng chính là vì các con vật là hình ảnh sinh động của đủ loại, cũng lại đã đủ những hạng người trong một đám tang. Chúng ta cũng nhận thấy được những người bị nạn đến người lợi dụng tai nạn người khác để chè chén kiếm phần thiệt hơn. Thông qua đó chúng ta cũng thấy được nội dung bài ca dao trở nên châm biếm, như cũng đã phê phán sâu sắc hơn.

Chính cảnh tượng trong bài cũng hoàn toàn không phù hợp với một đám tang một chút nào cả. Thông qua đó ta nhận ra được cái chết thương tâm và một cái chết như cũng thật tang tóc của gia đình con cò lúc này đây cũng đã lại trở thành dịp ăn nhậu và như lao xao chia phần một cách vô tội vạ.

Câu 4: Trong bài 4, chân dung “cậu cai” được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về nghệ thuật châm biến của bài ca dao này?

Chúng ta có thể nhận thấy được chính trong bài 4 chân dung “cậu cai” luôn luôn được miêu tả với những nét chính đó là:

– Đầu thì đội “nón dấu đuôi gà”: Thông qua chi tiết này chứng tỏ cậu cai là lính và cũng chứng tỏ đây cũng là người có “quyền hành”, địa vị trong xã hội.

– Với hình ảnh “Ngón tay đeo nhẫn”: Thông qua chi tiết này thì cho thấy cậu cai có vẻ cố làm thêm ra dáng giàu sang nữa.

– Thế nhưng thật bất ngờ biết bao nhiêu khi áo quần của cậu thì phải “đi mượn”, “đi thuê” thật là buồn cười. Một con người quyền hành như cậu Cai mà phải đi thuê quần áo và thông qua đây nói lên sự khoe khoang, luôn luôn cố làm ra vẻ bên ngoài để có thể dọa, lòe bịp những người khác mà thôi.

Xét về nghệ thuật châm biếm của bài ca dao này cũng đã được thể hiện ở các điểm sau:

– Tác giả dân gian cũng đã gọi anh cai lệ là “cậu cai” điều này dường như cũng vừa như để lấy lòng, vừa đồng thời cũng như xếp anh vào hạng trai lơ để mỉa mai kín đáo nhất.

– Có thể nhận thấy được cũng chính cách định nghĩa về cậu cai ở hai dòng đầu, tác giả dân gian lúc này đây dường như bĩu môi mà nói rằng khi đội nón lên rồi đeo nhẫn vào là thành cậu cai, chứ cai là cái thứ gì chứ.

– Câu nói “Ba năm được một chuyến sai” chính là từ cũng được dùng nghệ thuật phóng đại thật tài tình. Thông qua đây thì cũng có ý nói chẳng mấy khi cậu cai mới được một “chuyến sai”. Cũng vì thế mà chẳng mấy khi cho nên áo quần quan cũng có mấy lần mặc cũng chẳng cần phải chuẩn bị làm gì nữa. Lý do vậy cho nên đi thuê, đi mượn.

Chúc các em có một giờ học vui vẻ!

Minh Nguyệt

Soạn bài tục ngữ về con người và xã hội

Soạn bài cảnh khuya

Soạn bài tinh thần yêu nước của nhân dân ta

Soạn bài những câu hát than thân

Soạn bài những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người

Topics #Những câu hát châm biếm #Soạn bài Những câu hát châm biếm #Soạn bài Những câu hát châm biếm Ngữ văn 7

Soạn Bài Những Câu Hát Châm Biếm Văn Lớp 7 / 2023

Soạn bài Những câu hát châm biếm

Bài làm

Câu 1 (Sách giáo khoa trang 52 ngữ văn 7 tập 1) “giới thiệu” về “chú tôi” như thế nào? Hai dòng đầu có ý nghĩa gì? Bài này châm biếm hạng người nào trong xã hội?

– “Giới thiệu” về chinh bức chân dung của “chú tôi” luôn luôn có nét biếm họa giễu cợt, mỉa mai:

+ Hay tử hay tăm: Ý muốn nói nghiện ngập, nát rượu

+ Hay nước chè đặc: nói về sự nghiện chè

+ Hay nằm ngủ trưa, ước ngày mưa, ước đêm thừa trống canh: Chỉ sự lười biếng, không muốn làm việc

– Dùng chữ “hay” (giỏi) và thêm vào đó cũng chính là lối nói ngược để châm biếm thói hư tật xấu của tên “chú tôi”

+ Người con gái đẹp và vô cùng trẻ trung

+ Cần cù chăm chỉ (lặn lội bờ ao)

Câu 2 (Sách giáo khoa trang 52 ngữ văn 7 tập 1) Nhại lại lời của ai nói với ai? Em có nhận xét gì về lời của thầy bói? Bài ca này phê phán hiện tượng nào trong xã hội? Hãy tìm những bài ca dao khác có nội dung tương tự.

Sự nhại lại lời của ông thầy bói nói với cô gái đó chính là:

– Có thể nhận thấy được chính cách nói của thầy bói nước đôi, hiển nhiên, chẳng có gì mới mẻ cả.

+ Nói bố cô đàn ông, mẹ cô đàn bà

+ Câu: ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà

+ Sinh con chẳng gái thì trai

– Đây là những lời phán của thầy bói trở nên vô nghĩa, cổ hủ và có cả sự nực cười

– Đồng thời qua câu hát thì nó cũng đã lại châm biếm sự mê tín đến mù quáng của những người thiếu hiểu biết, mê muội biết bao nhiêu.

Câu 3 (Sách giáo khoa trang 52 ngữ văn 7 tập 1) Mỗi con vật trong bài 3 tượng trưng cho ai, hạng người nào trong xã hội xưa? Việc chọn các con vật để miêu tả, “đóng vai” như thế lí thú ở điểm nào? Cảnh tượng trong bài có phù hợp với đám tang không? Bài cao dao này phê phán, châm biếm cái gì?

Ta nhận thấy được bài ca dao 3 là cảnh đám ma theo tục lệ cũ, và cứ mỗi con vật ứng với một kiểu người:

+ Con cò: Chính là hình ảnh tượng trưng người nông dân thường ở làng xã

+ Cà cuống: Ở đây cũng chính là những kẻ có thể lực, tai to mặt lớn

+ Chim ri, chào mào: Ý muốn nói cai lệ, lính lệ

+ Chim chích: Tất cả như cũng lại gợi ra hình ảnh những anh mõ làng

– Thế giới loài vật như muốn tượng trưng cho thế giới con người:

+ Tác giả dùng thế giới loài vật để nói về thế giới con người

+ Thế rồi cừng con vật tiêu biểu cho các loại người, thêm vào đó chính là những hạng người trong xã hội mà nó ám chỉ

+ Nội dung châm biếm, cũng như sự phê phán trở nên kín đáo, sâu sắc

– Chính cảnh tượng trong bài mang giá trị tố cáo: Đó cũng chính là một cuộc đánh chén, chia chác vui vẻ có lúc vô tâm diễn ra ngay trong những mất mát, tang tóc của gia đình người chết

Câu 4 (Sách giáo khoa trang 52 ngữ văn 7 tập 1) Trong bài 4, chân dung “cậu cai” được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về nghệ thuật châm biến của bài ca dao này?

Đó chính là chân dung cậu cai đã vẽ nên bức tranh châm biếm sinh động và có cả một sự chân thực:

+ Cậu chính là cai lính để có thể bộc lộ quyền lực của cậu cai (nón dấu lông gà)

+ Có thể nhận thấy được chính tính cách phô trương, khoe mẽ của cậu cai (ngón tay đeo nhẫn)

+ Cậu cai lúc này đây cũng lại có thân phận nhỏ bé, đã vậy lại còn thảm hại khi phải thuê mượn quần áo

+ Dân gian luôn luôn gọi “cậu cai”, thông qua đó ta nhận thấy được mục đích như để châm chọc tên cai lệ mà cũng không chút quyền hành

+ Tác giả cũng đã dùng kiểu câu nêu “định nghĩa”, thế rồi cũng giống như vài nét phác họa mỉa mai cậu cai để có thể xuất hiện như kẻ lố lăng, khoe mẽ, thảm hại

Bài 1 (Sách giáo khoa trang 53 ngữ văn 7 tập 1): Nhận xét về sự giống nhau của 4 bài ca dao, em đồng ý với ý kiến nào?

Sự giống nhau của bốn bài ca dao được thể hiện:

– Ở đây cũng chính là cả nội dung và nghệ thuậ châm biếm

Bài 2 (Sách giáo khoa trang 53 ngữ văn 7 tập 1) Những câu hát châm biếm nói trên có điểm gì giống truyện cười dân gian?

Chỉ ra những câu hát châm biếm giống với truyện cười dân gian ở các điểm:

+ Đối tượng: Đó chính là những thói hư tật xấu, những kẻ đáng chê cười trong chính đời sống

+ Nghệ thuật châm biếm: Cũng lại sử dụng biện pháp phóng đại, luôn luôn chỉ ra mâu thuẫn của sự vật.

Chúc các em học tốt!

Bài 4. Những Câu Hát Châm Biếm / 2023

– Đời người có một gang tayAi hay ngủ ngày còn được nửa gang – Ăn no rồi lại nằm khoèoNghe giục trống chèo bế bụng đi xem – Giàu đâu đến kẻ ngủ trưaSang đâu đến kẻ say sưa tối ngày…..Bài 2 : Số cô chẳng giàu thì nghèo Ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà Số cô có mẹ có cha Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông Số cô có vợ có chồng Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai.

– Bài 2 nhại lời của ai nói với ai ?– Em có nhận xét gì về lời của thầy bói ?– Bài này phê phán hiện tượng nào trong xã hội ? 2/ Bài 2 : – Bài 2 nhại lời của thầy bói nói với người xem bói. – Thầy bói nói kiểu nước đôi, ai cũng biết, có tác dụng lật tẩy bộ mặt lừa đảo của thầy. – Bài này phê phán những kẻ hành nghề mê tín, lợi dụng lòng tin của người khác để kiếm tiền. Qua đó, cũng châm biếm những người ít hiểu biết, tin vào bói toán, phản khoa học.

Tìm những bài ca dao khác có nội dung tương tự. Một số bài có nội dung tương tự :

Tử vi xem số cho người Số thầy thì để cho ruồi nó bâu – Số cậu là số đào hoaVợ cậu con gái, đàn bà mà thôi – Nhà bà có con chó đenNgười lạ nó cắn, người quen nó mừng …..3/ Ý nghĩa văn bản :

III/Tổng kết : Ghi nhớ SGK/53 Ca dao châm biếm thể hiện tinh thần phê phán của những con người thuộc tầng lớp bình dân. 2/ Những bài ca dao châm biếm trên giống truyện cười dân gian ở chỗ là châm biếm, phê phán những thói hư tật xấu, các hiện tượng đáng cười trong xã hội.IV/ Luyện tập : 1/ Chọn ý c Đọc lại các bài ca dao châm biếm và cho biết nội dung, nghệ thuật.CỦNG CỐ– Sưu tầm, phân loại và học thuộc các bài ca dao châm biếm.– Viết cảm nhận về một bài ca dao châm biếm tiêu biểu trong bài học.– Soạn bài : Đại từ Xem và trả lời các câu hỏi SGK/ 54  57DẶN DÒXIN CHÀO TẠM BIỆT

Soạn Bài Những Câu Hát Châm Biếm Trang 52 Sgk Ngữ Văn 7 Tập 1 / 2023

Phần hướng dẫn soạn bài Những câu hát châm biếm trang 52 SGK Ngữ văn 7 tập 1 sẽ giúp các em học sinh nắm được nghệ thuật trào lộng, châm biếm, đả kích các thói hư tật xấu của những hạng người lười biếng, thầy bói rởm, những cậu cai, cậu lính, những tên lí trưởng… tham lam, háo danh và những sự việc mâu thuẫn, đáng cười trong xã hội.

Soạn bài Những câu hát châm biếm trang 52 SGK Ngữ văn 7 tập 1

SOẠN BÀI: NHỮNG CÂU HÁT CHÂM BIẾM (NGẮN 1)

Câu 1 (trang 52 Ngữ Văn 7 Tập 1):– Bài 1 giới thiệu về chú tôi trong chân dung giễu cợt mỉa mai.+ hay tửu hay tăm: nghiện rượu.+ hay nước chè đặc: nghện nước chè đậm.+ hay nằm ngủ trưa, Ngày thì ước những ngày mưa / Đêm thì ước những đem thừa trống canh: lười nhác.– Hai dòng đầu vừa để bắt vần vừa để giới thiệu nhân vật.– Bài nà châm biếm hạng người vừa nghiện ngập vừa lười biếng trong xã hội.

Câu 2 (trang 52 Ngữ Văn 7 Tập 1):– Bài 2 nhại lại lòi nói của thầy bói vơi người đi xem bói.– Lời của thầy bói nói những chuyện hiển nhiên ai cũng biết , thầy dùng trò này để gạt người nhẹ dạ cả tin nhưng lại bị gậy ông đập lưng ông lộ hết bản chất bịp bợm ngu dốt cửa mình.– Bài ca dao này vừa phê phán những kẻ hành nghề mê tín dị đoan và cả những tín đồ mê tín đến mù quáng thiếu hiểu biết chả khác nào ông thầy bói dốt nát kia.– Sưu tầm một số bài ca dao có nội dung tương tự+ Chập chập thôi lại cheng chengCon gà trống thiến để riêng cho thàyĐơm xôi thì đơm cho đầyĐơm vơi thì thánh nhà thầy mất thiêng

Câu 3 (trang 52 Ngữ Văn 7 Tập 1):– Mỗi con vật trong bài tượng trưng cho một loại người hạng người trong xã hội, cụ thể:+ con cò tượng trưng cho người nông dân, hạng người tầm thường.+ cà cuống tượng trưng cho lí trưởng, xã trưởng, những kẻ dùng quyền thế để kiếm miếng ăn.+ chim ri, chào mào tượng trưng cho cai lệ lính lệ, có chút quyền thế thừng thừa cơ ăn theo.+ chim chích tượng trưng cho những anh mõ đi iao việc làng xã xưa.– Việc chọn các con vật để đóng vai như thế lí thú ở chỗ: các con vật tượng trưng cho mọi hạng người loại người trong xã hội nhờ vật nội dung châm biếm trở nên sâu sắc toàn diện hơn.– Cảnh tượng trong bài không phù hợp với một đám tang. Sự mất mát đau thương của gia đình người ta lại trở thành dịp ăn nhậu chia phần vô nhân đạo.– Bài ca dao phê phán châm biếm hủ tục ma chay.

Câu 4 (trang 52 Ngữ Văn 7 Tập 1):– Trong bài 4 chân dung cậu cai được miêu tả như sau:+ đầu đội nón đuôi gà: có chút quyền thế.+ tay đeo nhẫn: cố làm cho ra dáng.+ áo quần đi mượn đi thuê: lộ rõ bản chất bịp bợm khoe khoang của cậu cai.– Nhận xét nghệ thuật châm biếm:+ cách gọi lính lệ là cậu cai vừa lấy lòng vừa mỉa mai kín đáo.+ định nghĩa về cậu cai chẳng ra gì cứ đầu đội nón dấu lông gà, ngón tay đeo nhẫn gọi là cậu cai.+ nghệ thuật phóng đại Ba năm được một chuyến sai, quần áo đi mượn đi thuê bật lên vai vế chức vụ chẳng quan trọng gì → mỉa mai châm biếm.

LUYỆN TẬPBài 1 (trang 53 Ngữ Văn 7 Tập 1):Đồng ý với ý kiến cả bốn bài đều đều có nội dung và nghệ thuật châm biếm

Bài 2 (trang 53 Ngữ Văn 7 Tập 1):Những câu hát châm biếm trên có điểm giống với truyện cười dân gian ở chỗ lấy thói hư tật xấu của người đời để tạo ra tiếng cười rồi dùng nó như thứ vũ khí răn dạy người đời giúp cho cuộc sống tốt đẹp hơn

Xem trước và xem lại các bài học gần đây để học tốt Ngữ Văn lớp 7 hơn

– Soạn bài Những câu hát than thân– Soạn bài Đại từ– Soạn bài Luyện tập tạo lập văn bản

SOẠN BÀI: NHỮNG CÂU HÁT CHÂM BIẾM (NGẮN 2)

Câu 1 (trang 52 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):– Hình ảnh “chú tôi” ở bài 1: nghiện rượu, nghiện chè, nghiện ngủ, lười biếng.– Ý nghĩa hai dòng đầu: Thể hiện một hình ảnh đối lập với nhân vật “chú tôi” được giới thiệu sau đó: một cô gái đẹp(cô yếm đào), hay lam hay làm.– Bài châm biếm hạng người ham chơi lười làm.

Câu 2 (trang 52 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):– Bài 2 nhại lời của thầy tướng số nói với cô gái đi xem bói.– Lời của thầy bói hoàn toàn là những điều hiển nhiên mà ai cũng biết.– Đối tượng phê phán: những kẻ hành nghề mê tín dị đoan lừa lọc người khác để kiếm tiền, cũng phê phán những người ít hiểu biết, nhẹ dạ cả tin, tin vào những điều phản khoa học.– Một số bài ca dao tương tự:+ Nhà bà có con chó đenNgười lạ nó cắn, người quen nó mừng+ Số cậu là số đào hoaVợ cậu con gái, đàn bà mà thôi

Câu 3 (trang 52 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):– Ý nghĩa tượng trưng của các con vật:+ Con cò: người có thân phận nhỏ bé – nông dân.+ Cà cuống: những kẻ có vai vế, địa vị – lí trưởng, xã trưởng.+ Chim ri: kẻ có kiếm chác chia phần – cai lệ, lính.+ Chào mào: người phục vụ tang lễ (kèn, trống).+ Chim chích: mõ làng rao tin.– Việc chọn các con vật để miêu tả, “đóng vai” khiến cho cảnh tượng trở nên sinh động, lí thú, mọi hành động, đối tượng chỉ thấp thoáng chứ không cụ thể. Việc châm biếm trở nên kín đáo.– Bài phê phán hủ tục ma chay chọn ngày, ăn uống, chia phần ồn ào ở xã hội cũ.

Câu 4 (trang 52 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):– Chân dung “cậu cai”: tưởng là quyền lực (“nón dấu lông gà”), tưởng là giàu có (“ngón tay đeo nhẫn”), nhưng thực chất ba năm mới được sai làm việc một lần, mà quần áo còn phải đi mượn đi thuê. Vậy có lẽ chiếc nhẫn kia cũng chỉ là đồ mượn.– Nghệ thuật châm biếm: xưng hô “cậu cai” (nịnh bợ, châm biếm), sự phóng đại và đối lập tạo nên hình ảnh châm biếm sâu sắc.

LUYỆN TẬPCâu 1 (trang 53 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1): Chọn ý C.Câu 2* (trang 53 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):Điểm giống với truyện cười dân gian: châm biếm, phê phán những thói hư tật xâu đáng cười đáng chê trong xã hội.

Ngoài nội dung ở trên, các em có thể tìm hiểu thêm phần Soạn bài Cảnh khuya, Rằm tháng giêng nhằm chuẩn bị cho bài học này.

Ngoài ra, Soạn bài Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học là một bài học quan trọng trong chương trình Ngữ Văn 7 mà các em cần phải đặc biệt lưu tâm.

https://thuthuat.taimienphi.vn/soan-bai-nhung-cau-hat-cham-biem-37713n.aspx