Soạn Bài Chiếu Dời Đô (Thiên Đô Chiếu), Ngữ Văn Lớp 8

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Soạn Bài Lớp 8: Chiếu Dời Đô
  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô Trang 48 Sgk Văn 8
  • Soạn Văn 8: Ngắm Trăng (Hồ Chí Minh)
  • Soạn Bài Tình Thái Từ Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Học Tập – Giáo dục ” Văn, tiếng Việt ” Văn lớp 8

    Thiên đô chiếu của Lí Công Uẩn là một tác phẩm vừa có giá trị về lịch sử vừa có giá trị về mặt văn học, soạn bài Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) trong tài liệu soạn văn lớp 8 để hiểu rõ hơn về giá trị của tác phẩm. Bên cạnh đó, tài liệu soạn bài của chúng tôi cũng khá phù hợp cho các thầy cô giáo lựa chọn để bổ sung vào bài giảng của mình cho hoàn thiện hơn.

    HOT Soạn văn lớp 8 đầy đủ, chi tiết

    Với hệ thống luận điểm rõ ràng, cách nêu vấn đề hấp dẫn cùng những chứng cớ đầy sức thuyết phục, tác phẩm Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) của Lý Công Uẩn đã phản ánh ý chí độc lập tự cường và sự phát triển của dân tộc Đại Việt khi triều đình quyết định rời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La. Soạn bài Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) để các em hiểu rõ hơn về thể loại văn học cổ – thể chiếu và hiểu hơn về nội dung, ý nghĩa của tác phẩm. Bài soạn văn lớp 8 tiếp sau, chúng tôi hướng dẫn các em soạn bài Tiếng Việt: Câu phủ định, các em cùng theo dõi.

    https://thuthuat.taimienphi.vn/soan-van-lop-8-chieu-doi-do-thien-do-chieu-30785n.aspx

    Trong chương trình học Ngữ Văn lớp 8 phần bài là một nội dung quan trọng các em cần chú ý Nếu là người được chứng kiến cảnh lão Hạc kể chuyện bán chó với ông giáo trong truyện ngắn của Nam Cao thì em sẽ ghi lại câu chuyện đó như thế nào? đầy đủ.

    soan bai chieu doi do ngu van lop 8

    , soan bai chieu doi do tac gia tac pham, soan bai thien do chieu ngu van 8 ,

      Kiểm tra chất lượng học sinh lớp 8

      Mời các em học sinh cùng tham khảo bộ đề thi khảo sát chất lượng môn Ngữ văn lớp 8 để dễ dàng hơn trong việc ôn tập, củng cố lại các kiến thức đã học, chuẩn bị cho bài kiểm tra chất lượng đầu năm sắp tới đạt kết quả cao hơn.

    Tin Mới

    • Soạn bài Hai chữ nước nhà

      Qua phần soạn bài Hai chữ nước nhà trang 162 SGK Ngữ văn 8, tập 1, các em học sinh sẽ hiểu hơn về nỗi đau đớn, xót xa trước cảnh nước mất nhà tan, sự căm thù trước tội ác của giặc ngoại xâm và lời căn dặn đầy xúc động của người cha khi giao trọng trách đánh giặc trả nợ nước, báo thù nhà cho người con.

    • Soạn bài Muốn làm thằng Cuội

      Khi soạn bài Muốn làm thằng Cuội trang 156 SGK Ngữ văn 8, tập , chúng ta sẽ hiểu hơn những tâm sự thầm kín của thi sĩ Tản Đà trước cuộc sống thực tại nơi trần thế nhàm chán, buồn tủi, ước mơ thoát tục được gửi gắm qua mộng tưởng được lên cung trăng bầu bạn với chị Hằng, đó cũng là nỗi lòng của những người ý thức được tài năng của bản thân nhưng lạc lõng, cô đơn trước thời cuộc.

    • Sơ đồ tư duy bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác

      Để ghi nhớ và phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác, bên cạnh nội dung đã tìm hiểu trên lớp, các em có thể kết hợp với Sơ đồ tư duy bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác để giúp cho việc học được hiệu quả nhất.

    • Top phần mềm tạo bài giảng e-learning tốt nhất

      Môi trường học tập ngày nay bị ảnh hưởng nhiều bởi công nghệ kỹ thuật số với hàng ngàn phần mềm có sẵn để tạo, chỉnh sửa và xuất bản các nội dung

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 22. Chiếu Dời Đô (Thiên Đô Chiếu)
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 10
  • Tuần 31. Văn Bản Văn Học
  • Giáo Án Bài Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học
  • Giáo Án Bài Bố Cục Trong Văn Bản
  • Soạn Văn 8 Bài Chiếu Dời Đô

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngữ Văn 8 , Viết Bài Văn Số 1
  • Bài Văn Mẫu Lớp 8 Số 6 Đề 1: Vai Trò Của Những Người Lãnh Đạo Anh Minh Như Lí Công Uẩn Và Trần Quốc Tuấn Đối Với Vận Mệnh Đất Nước
  • Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 1
  • Bài Văn Mẫu Lớp 8 Số 2 Đề 2: Hãy Kể Về Một Lần Em Mắc Khuyết Điểm Khiến Thầy Cô Giáo Buồn
  • Bài Văn Mẫu Lớp 8 Số 6 Đề 3: Suy Nghĩ Về Câu Nói Của M. Go
  • Soạn văn 8 bài Chiếu dời đô thuộc: Bài 22 SGK ngữ văn 8

    I. VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

    1. Tác giả

    Lí Công Uẩn (974 – 1028) tức Lí Thái Tổ, người châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang (nay là xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Ông là người thông minh, nhân ái, có chí lớn và lập được nhiều chiến công.

    2. Thể loại

    Chiếu là một thể loại văn bản hành chính của nhà nước quân chủ, được dùng cho vua để ban bố các mệnh lệnh. Chiếu cũng được dùng trong khoa cử nho học như một môn thi. Cũng như chếbiểu, chiếu được viết bằng tản văn, chữ Hán, gọi là cổ thể; từ đời Đường (Trung Hoa) mới theo lối tứ lục gọi là cận thể (thể gần đây).

    Nội dung ra lệnh trong chiếu thư gồm từ các việc vua lên ngôi, vua rời ngôi, đến các việc lập hoàng hậu, lập thái tử, phong tặng quan lại có công, truất giáng người phạm lỗi, minh oan người chết oan; với dân gian thì có chiếu cầu hiền tài, chiếu khuyến nông, v.v.

    3.Tác phẩm

    Chiếu dời đô được viết trong hoàn cảnh đất nước thái bình, nhà Lí muốn dời kinh đô từ thành Hoa Lư nhỏ hẹp ra nơi Đại La rộng lớn, thuận tiện cho việc mở mang và củng cố, bảo vệ đất nước.

    II. TRẢ LỜI CÂU HỎI SGK

    Câu 1. Mở đầu Chiếu dời đô, Lí Công Uẩn viện dẫn sử sách Trung Quốc nói về việc các vua đời xưa bên Trung Quốc cũng từng có những cuộc dời đô. Sự viện dẫn đó nhằm mục đích gì?

    Trả lời:

    Thời trung đại, khi phải cân nhắc, xác định chí hướng để làm một việc gì, người ta thường lấy chuyện của “Tiền nhân” ra làm căn chuẩn, xem việc đúng đắn là phải tuân theo “mệnh trời”. Những thời đại hoàng kim đã qua được nhắc tới như những tấm gương để soi mình. Lí Thái Tổ cũng đã làm như vậy ở phần đầu bài Chiếu dời đô. Việc dời đô của các triều đại nổi tiếng ở Trung Quốc được biện dẫn là Lí Thái Tổ muốn bày tỏ ý nguyện làm cho đất nước vững bền, thịnh vượng. Cũng như người trước, những việc trọng đại (dời đô) đều phải phù hợp với điều kiện thực tiễn, khách quan (mệnh trời) và hợp với lòng người thì mới đạt được thành quả tốt đẹp. Trong mạch lập luận, dẫn việc dời đô của nhà Thương, Chu, Lí Công Uẩn đang chuẩn bị cho những lí lẽ sẽ thuyết trình ở phần sau.

    Câu 2. Theo Lí Công Uẩn, kinh đô cũ ở cùng Hoa Lư (Ninh Bình) của hai triều Đinh, Lê là không còn thích hợp, vì sao?

    Trả lời:

    Nhìn nhận hai triều Đinh, Lê trước đó với một tinh thần phê phán tích cực, tác giả nhận định rằng việc đóng đô ở vùng Hoa Lư đã không còn phù hợp nữa: ” Cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số phận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi“. Hoa Lư là vùng có địa thế hiểm trở, khi tiềm lực phát triển chưa đủ mạnh thì nó hợp với chiến lược phòng thủ. Nhưng đến đời Lí thì đất nước đặt ra nhu cầu phát triển, cho nên đô thành phải dời chuyển ra nơi có địa thế khác. Không chỉ có lí lẽ, Lí Công Uẩn bày tỏ cả tấm lòng mình: ” Trẫm rất đau xót về việc đó “. Tình cảm của một ông vua luôn hướng về vận mệnh, sự tồn vong của giang sơn xã tắc khiến người đọc cảm động. Để đến đoạn cuối, tác giả cho ta thấy con mắt nhìn xa trông rộng, thấu tình đạt lí khi quyết định lựa chọn thành Đại La làm nơi định đô lâu dài.

    Câu 3. Theo tác giả, địa thế thành Đại La có những thuận lợi gì để có thể chọn làm nơi đóng đô?

    Trả lời:

    Thành Đại La có vị thế thuận lợi về nhiều mặt. Về mặt địa lí, tác giả phân tích rõ: ” Nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi“, bốn hướng đều thông thoáng lại ở thế ” nhìn sông dựa núi” vững vàng, “địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng“. Trên địa thế ấy, dân cư sẽ tránh được lụt lội mà ” muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi“. Thuận lợi về mặt địa lí như vậy sẽ kéo theo những thuận lợi về thông thương, giao lưu: ” Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước “. Nơi định đô mới này sẽ đáp ứng được vai trò là đầu mối trung tâm của kinh tế, chính trị, văn hoá của đất nước.

    Câu 4. Chứng minh Chiếu dời đô có sức thuyết phục lớn bởi có sự kết hợp giữa lí và tình.

    Trả lời:

    Lấy sử sách làm chỗ dựa cho lí lẽ, lại lấy lí lẽ khuôn thước ấy mà soi vào thực tế của hai triều Đinh, Lê để thấy rằng việc dời đô là tất yếu và cuối cùng đưa ra sự lựa chọn, khẳng định Đại La làm nơi đóng đô mới tốt nhất, tác giả của bài chiếu đã thiết lập một lập luận chặt chẽ, sáng rõ. Hình thức văn xuôi có đan xen những câu mang sắc thái biểu cảm và những câu văn biền ngẫu giàu nhạc điệu, cân xứng, nhịp nhàng (cặp đoạn câu cân xứng, sóng đôi: “Đã đúng ngôi ; lại tiện hướng “, Địa thế ; đất đai ) góp phần tích cực tạo nên sức hấp dẫn của bài chiếu.

    Câu 5*. Vì sao nói việc Chiếu dời đô ra đời phản ảnh ý chí độc lập, tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt?

    Trả lời:

    Nhìn rõ thực trạng của mình để có những quyết định thay đổi đúng đắn, cần thiết cho thấy một sự tự ý thức tích cực. Ý thức ấy một khi thể hiện được ý nguyện của cả dân tộc sẽ trở thành tinh thần tự cường, là dấu hiệu đáng mừng cho thấy sự lớn mạnh của một đất nước. Như ở đầu bài viết đã từng nói đến, việc dời đô từ một nơi có địa thế hiểm trở, thuận cho phòng ngự, phù hợp với tiềm lực còn đang chưa mạnh đến một nơi rộng rãi, thông lưu, thuận lợi cho phát triển mang ý nghĩa chiến lược vĩ mô, chứng tỏ dân tộc Đại Việt đã đủ sức xây dựng độc lập tự cường như các quốc gia khác (nhất là đối với phong kiến phương Bắc).

    Câu kết của bài chiếu: “Trẫm muốn Các khanh nghĩ thế nào?” vừa thể hiện tính quyết đoán của đấng minh quân lại vừa thể hiện tinh thần dân chủ. Ngay điều này nữa cũng là một phần sức mạnh thuyết phục của Chiếu dời đô. Tương truyền rằng, khi dời đô, thuyền vua đến dưới thành thì có rồng vàng bay lên, vua nhân đó đổi tên là thành Thăng Long (rồng bay lên). Điềm báo này khẳng định việc dời đô của đức Lí Thái Tổ là thiên thời, địa lợi nhân hoà. Thăng Long – Hà Nội mảnh đất linh thiêng ngàn năm, hôm nay còn vang vọng lời Chiếu dời đô.

    III. LUYỆN TẬP

    Chứng minh Chiếu dời đô có kết cấu chặt chẽ, lập luận giàu sức thuyết phục. Trả lời:

    … ” Chiếu dời đô được chia thành hai phần lớn với hệ thống lí lẽ được triển khai sắc sảo mà đầy thuyết phục. Ngôn từ của văn bản tuy rất kiệm lời mà ý tứ thì thấm đượm sâu xa.

    Thiên đô chiếu mở đầu bằng việc nêu ra mục đích quan trọng của việc dời đô. Dời đô là để ” ở nơi trung tâm” tiện ” mưu toan việc lớn” và cũng là để ” tính kế muôn đời cho con cháu về sau “. Dời đô cũng có nghĩa là để trên thì hợp mệnh trời, dưới thì thấu đạt ý dân. Như vậy dời đô thực là để xây dựng đất nước mạnh giàu, đem lại hạnh phúc và nền thái bình thịnh trị đời đời. Xét về lí, việc dời đô, đến đây, quả thực vô cùng quan trọng. Nhưng để cho chân lí được vững chãi hơn, nhà vua đã dẫn ra những chứng nhân của lịch sử để dễ dàng thu phục nhân tâm.”…

    Xem Video bài học trên YouTube

    Giáo viên dạy thêm cấp 2 và 3, với kinh nghiệm dạy trực tuyến trên 5 năm ôn thi cho các bạn học sinh mất gốc, sở thích viết lách, dạy học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Chiếu Dời Đô Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài: Chiếu Dời Đô (Siêu Ngắn Gọn)
  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 17: Nhớ Rừng
  • Phân Tích Bài Thơ “nhớ Rừng” Của Thế Lữ
  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 1: Tôi Đi Học Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Lớp 8: Chiếu Dời Đô

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô Trang 48 Sgk Văn 8
  • Soạn Văn 8: Ngắm Trăng (Hồ Chí Minh)
  • Soạn Bài Tình Thái Từ Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài Tình Thái Từ Sgk Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài: Tình Thái Từ
  • Soạn bài môn Ngữ văn lớp 8 học kì II

    Soạn bài lớp 8: Chiếu dời đô

    1. Tác giả

    Lý Công Uẩn (974 – 1028) tức Lý Thái Tổ, người châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang (nay là xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Ông là người thông minh, nhân ái, có chí lớn và lập được nhiều chiến công.

    2. Thể loại

    Chiếu là một thể loại văn bản hành chính của nhà nước quân chủ, được dùng cho vua để ban bố các mệnh lệnh. Chiếu cũng được dùng trong khoa cử nho học như một môn thi. Cũng như chế và biểu, chiếu được viết bằng tản văn, chữ Hán, gọi là cổ thể; từ đời Đường (Trung Hoa) mới theo lối tứ lục gọi là cận thể (thể gần đây).

    Trong Kinh Thư, chiếu được đặt ngang với cáo. Thể này thời Xuân Thu gọi là mệnh, thời Chiến Quốc gọi là lệnh, thời Tần đổi lệnh thành chiếu; thời Hán lúc đầu dùng chiếu để bố cáo với quan lại, về sau mới dùng rộng ra, chiếu là lời vua ra lệnh cho toàn dân.

    Nội dung ra lệnh trong chiếu thư gồm từ các việc vua lên ngôi, vua rời ngôi, đến các việc lập hoàng hậu, lập thái tử, phong tặng quan lại có công, truất giáng người phạm lỗi, minh oan người chết oan; với dân gian thì có chiếu cầu hiền tài, chiếu khuyến nông, v.v.

    Về thể văn, ban đầu chiếu được viết bằng văn xuôi, về sau được kết hợp với văn biền ngẫu và có khi cả văn vần. Nói về văn trong chiếu, sách Đại Nam hội điển sự lệ (của triều Nguyễn) viết: “Ôi! Lời vua tôn nghiêm vời vợi ở trên để cho trăm quan noi theo, vạn nước tin cậy; cho nên bổ quan chức chọn hiền tài thì nghĩa sáng như mặt trời mặt trăng, ra bài đối sách thì khí êm như mưa móc, chiếu cáo sức giời thì bút nở hoa như sao sông Ngân Hà, ra quân đánh giặc thì dữ như sấm sét, ân xá tai nạn thì lời êm như mùa xuân, nghiêm phép gia hình như lời lạnh của sương mùa thu. Đại lược chiến thư là như thế“.

    Một số bài chiếu nổi tiếng ở Trung Quốc được các triều đại quân chủ Việt Nam đưa vào hội điển làm mẫu cho văn hành chính, cho việc học và thi, là: chiếu cầu hiền của vua Hán Cao Tổ, Chiếu sai bảo người trong nước chăm việc nông trang của vua Hán Cảnh Đế, Chiếu ban bố lễ nhạc và Chiếu lệnh sai các châu trong nước cử người tài giỏi của vua Đường Thái Tông.

    Nền hành chính quân chủ ở Việt Nam để lại nhiều bài chiếu nổi tiếng, chủ yếu do chúng là các văn kiện đánh dấu các sự kiện lịch sử như Thiên đô chiếu (chiếu dời đô, 1009) của vua Lí Thái Tổ; Lâm chung di chiếu (chiếu để lại lúc chết, 1128) của vua Lí Nhân Tông; Thiện vị chiếu (chiếu nhường ngôi, 1225) của vua Lí Chiêu Hoàng (do một tác giả khuyết danh soạn); Chiếu cầu hiền tài (1429) của vua Lê Thái Tổ (do Nguyễn Trãi soạn); Tức vị chiếu (chiếu lên ngôi, 1788) của vua Quang Trung; Cần Vương chiếu (1885) của vua Hàm Nghi; Thoái vị chiếu (1945) của vua Bảo Đại. (Theo Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001).

    3. Tác phẩm

    Chiếu dời đô được viết trong hoàn cảnh đất nước thái bình, nhà Lý muốn dời kinh đô từ thành Hoa Lư nhỏ hẹp ra nơi Đại La rộng lớn, thuận tiện cho việc mở mang và củng cố, bảo vệ đất nước.

    II. KIẾN THỨC CƠ BẢN

    1. Thời trung đại, khi phải cân nhắc, xác định chí hướng để làm một việc gì, người ta thường lấy chuyện của “Tiền nhân” ra làm căn chuẩn, xem việc đúng đắn là phải tuân theo “mệnh trời”. Những thời đại hoàng kim đã qua được nhắc tới như những tấm gương để soi mình. Lý Thái Tổ cũng đã làm như vậy ở phần đầu bài Chiếu dời đô. Việc dời đô của các triều đại nổi tiếng ở Trung Quốc được biện dẫn là Lý Thái Tổ muốn bày tỏ ý nguyện làm cho đất nước vững bền, thịnh vượng. Cũng như người trước, những việc trọng đại (dời đô) đều phải phù hợp với điều kiện thực tiễn, khách quan (mệnh trời) và hợp với lòng người thì mới đạt được thành quả tốt đẹp. Trong mạch lập luận, dẫn việc dời đô của nhà Thương, Chu, Lý Công Uẩn đang chuẩn bị cho những lí lẽ sẽ thuyết trình ở phần sau.

    2. Nhìn nhận hai triều Đinh, Lê trước đó với một tinh thần phê phán tích cực, tác giả nhận định rằng việc đóng đô ở vùng Hoa Lư đã không còn phù hợp nữa:Cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số phận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi”. Hoa Lư là vùng có địa thế hiểm trở, khi tiềm lực phát triển chưa đủ mạnh thì nó hợp với chiến lược phòng thủ. Nhưng đến đời Lí thì đất nước đặt ra nhu cầu phát triển, cho nên đô thành phải dời chuyển ra nơi có địa thế khác. Không chỉ có lí lẽ, Lý Công Uẩn bày tỏ cả tấm lòng mình: “Trẫm rất đau xót về việc đó”. Tình cảm của một ông vua luôn hướng về vận mệnh, sự tồn vong của giang sơn xã tắc khiến người đọc cảm động. Để đến đoạn cuối, tác giả cho ta thấy con mắt nhìn xa trông rộng, thấu tình đạt lí khi quyết định lựa chọn thành Đại La làm nơi định đô lâu dài.

    3. Thành Đại La có vị thế thuận lợi về nhiều mặt. Về mặt địa lí, tác giả phân tích rõ: ” Nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi”, bốn hướng đều thông thoáng lại ở thế “nhìn sông dựa núi” vững vàng, “địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng”. Trên địa thế ấy, dân cư sẽ tránh được lụt lội mà “muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi”. Thuận lợi về mặt địa lí như vậy sẽ kéo theo những thuận lợi về thông thương, giao lưu: “Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước”. Nơi định đô mới này sẽ đáp ứng được vai trò là đầu mối trung tâm của kinh tế, chính trị, văn hoá của đất nước.

    4. Lấy sử sách làm chỗ dựa cho lí lẽ, lại lấy lí lẽ khuôn thước ấy mà soi vào thực tế của hai triều Đinh, Lê để thấy rằng việc dời đô là tất yếu và cuối cùng đưa ra sự lựa chọn, khẳng định Đại La làm nơi đóng đô mới tốt nhất, tác giả của bài chiếu đã thiết lập một lập luận chặt chẽ, sáng rõ. Hình thức văn xuôi có đan xen những câu mang sắc thái biểu cảm và những câu văn biền ngẫu giàu nhạc điệu, cân xứng, nhịp nhàng (cặp đoạn câu cân xứng, sóng đôi: “Đã đúng ngôi…; lại tiện hướng…”, Địa thế…; đất đai…) góp phần tích cực tạo nên sức hấp dẫn của bài chiếu.

    5*. Nhìn rõ thực trạng của mình để có những quyết định thay đổi đúng đắn, cần thiết cho thấy một sự tự ý thức tích cực. Ý thức ấy một khi thể hiện được ý nguyện của cả dân tộc sẽ trở thành tinh thần tự cường, là dấu hiệu đáng mừng cho thấy sự lớn mạnh của một đất nước. Như ở đầu bài viết đã từng nói đến, việc dời đô từ một nơi có địa thế hiểm trở, thuận cho phòng ngự, phù hợp với tiềm lực còn đang chưa mạnh đến một nơi rộng rãi, thông lưu, thuận lợi cho phát triển mang ý nghĩa chiến lược vĩ mô, chứng tỏ dân tộc Đại Việt đã đủ sức xây dựng độc lập tự cường như các quốc gia khác (nhất là đối với phong kiến phương Bắc).

    Câu kết của bài chiếu: “Trẫm muốn… Các khanh nghĩ thế nào?” vừa thể hiện tính quyết đoán của đấng minh quân lại vừa thể hiện tinh thần dân chủ. Ngay điều này nữa cũng là một phần sức mạnh thuyết phục của Chiếu dời đô. Tương truyền rằng, khi dời đô, thuyền vua đến dưới thành thì có rồng vàng bay lên, vua nhân đó đổi tên là thành Thăng Long (rồng bay lên). Điềm báo này khẳng định việc dời đô của đức Lý Thái Tổ là thiên thời, địa lợi và nhân hoà. Thăng Long – Hà Nội mảnh đất linh thiêng ngàn năm, hôm nay còn vang vọng lời Chiếu dời đô.

    III. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

    1. Cách đọc

    Đọc bài văn bằng giọng điệu mạnh mẽ, ngắn gọn, ngắt câu, ngắt nhịp dứt khoát, phù hợp với giọng điệu, sắc thái biểu đạt của tác phẩm.

    2. Chứng minh Chiếu dời đô có kết cấu chặt chẽ, lập luận giàu sức thuyết phục.

    Gợi ý: Tham khảo đoạn văn.

    … “Chiếu dời đô được chia thành hai phần lớn với hệ thống lí lẽ được triển khai sắc sảo mà đầy thuyết phục. Ngôn từ của văn bản tuy rất kiệm lời mà ý tứ thì thấm đượm sâu xa. Thiên đô chiếu mở đầu bằng việc nêu ra mục đích quan trọng của việc dời đô. Dời đô là để “ở nơi trung tâm” tiện “mưu toan việc lớn” và cũng là để “tính kế muôn đời cho con cháu về sau”. Dời đô cũng có nghĩa là để trên thì hợp mệnh trời, dưới thì thấu đạt ý dân. Như vậy dời đô thực là để xây dựng đất nước mạnh giàu, đem lại hạnh phúc và nền thái bình thịnh trị đời đời. Xét về lí, việc dời đô, đến đây, quả thực vô cùng quan trọng. Nhưng để cho chân lí được vững chãi hơn, nhà vua đã dẫn ra những chứng nhân của lịch sử để dễ dàng thu phục nhân tâm.”…

    (Ngô Tuần)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô (Thiên Đô Chiếu), Ngữ Văn Lớp 8
  • Bài 22. Chiếu Dời Đô (Thiên Đô Chiếu)
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 10
  • Tuần 31. Văn Bản Văn Học
  • Soạn Bài: Chiếu Dời Đô – Ngữ Văn 8 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngữ Văn 8 Tập 2 Siêu Ngắn Gọn Dễ Hiểu
  • 45. Nội Dung Văn Bia Ở Văn Miếu Trấn Biên Hiện Nay
  • Soạn Bài: Quan Âm Thị Kính – Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Bài Văn: Soạn Bài: Uy
  • Soạn Bài: Cảm Xúc Mùa Thu (Thu Hứng) – Ngữ Văn 10 Tập 1
  • I. Tác giả, tác phẩm

    1. Tác giả: (các em tham khảo phần giới thiệu về Lí Công Uẩn trong SGK Ngữ văn 8 Tập 2).

    2. Tác phẩm

    * Xuất xứ: Vào năm Canh Tuất niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất (1010), Lí Công Uẩn đã viết bài chiếu bày tỏ ý định dời đô từ Hoa Lư (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) ra thành Đại La (tức Hà Nội ngày nay). Văn bản Chiếu dời đô là do Nguyễn Đức Vân dịch.

    * Thể loại: Văn bản Chiếu dời đô được viết theo thể loại chiếu. Chiếu là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh. Chiếu có thể viết bằng văn vần, văn biền ngẫu hoặc văn xuôi; được công bố và đón nhận một cách trang trọng. Một số bài chiếu thể hiện tư tưởng chính trị lớn lao, có ảnh hưởng đến vận mệnh của cả triều đại, đất nước.

    Mặc dù là một bài chiếu có ý nghĩa ban bố mệnh lệnh, nhưng Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn rất có sức thuyết phục bởi nó hợp với lẽ trời, lòng dân. Tác giả đã sử dụng một hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, giọng điệu mạnh mẽ để dân chúng tin tưởng vào quyết định dời đô của mình.

    II. Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1:

    Mở đầu Chiếu dời đô, Lí Công Uẩn viện dẫn sử sách Trung Quốc nói về việc các vua đời xưa bên Trung Quốc cũng từng có những cuộc dời đô. Sự viện dẫn này nhằm mục đích khẳng định dời đô là một việc đã từng có người làm chứ không phải lần đầu tiên. Mặt khác, những triều đại Trung Quốc dời đô là thuận theo ý trời mà lại hợp với lòng dân. Không những thế, Lí Công Uẩn còn cho biết kết quả sau những lần dời đô của các triều đại Trung Quốc là mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu sau này. Sự viện dẫn này sẽ là cơ sở cho ý kiến dời đô được Lí Công Uẩn đưa ra ở những đoạn sau.

    Câu 2:

    * Theo Lí Công Uẩn, kinh đô cũ ở vùng núi Hoa Lư (Ninh Bình) của hai triều Đinh, Lê là không còn thích hợp, bởi vì hai nhà Đinh, Lê này đã làm theo ý riêng của mình, khinh thường mệnh trời, nhất quyết không theo dấu cũ của Thương, Chu, chính điều này đã dẫn đến hậu quả là “khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi”.

    Tuy nhiên, nếu xét trên thực tế, hai triều đại Đinh, Lê vì thế lực còn yếu nên phải chọn nơi vùng núi đá vôi hiểm trở ở Ninh Bình để đóng đô, từ đó có thể dễ bề chống lại sự xâm lược của các thế lực phương Bắc.

    Câu 3:

    Theo tác giả, địa thế thành Đại La có những thuận lợi để có thể chọn làm nơi đóng đô là:

    • Đại La là kinh đô cũ của Cao Vương.

    Câu 4:

    Chứng minh Chiếu dời đô có sức thuyết phục lớn bởi có sự kết hợp giữa lí và tình.

    * Về lí:

    • Tác giả đã đưa ra những dẫn chứng là sử sách làm tiền đề để khẳng định việc dời đô là hoàn toàn hợp lý, thuận với lẽ trời.
    • Đưa ra những lập luận đầy sức thuyết phục về địa thế 

      thuận lợi

       của thành Đại La.

    * Về tình:

    Câu 5:

    Nói việc Chiếu dời đô ra đời phản ánh ý chí độc lập, tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt là vì khi quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La tức là nhà Lí cũng đủ sức để chấm dứt nạn phong kiến, đồng thời, khẳng định thế lực của Đại Việt cũng sánh ngang với thế lực của các nước phương Bắc. Mặt khác, việc đóng đô ở Đại La cũng là thuận theo nguyện vọng của nhân dân muốn thu giang san về một mối và nguyện vọng xây dựng đất nước độc lập, tự cường.

    4.4

    /

    5

    (

    61

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 6: Tiếng Việt Văn Bản
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Trọn Bộ
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Tiết 6 Tiếng Việt: Văn Bản
  • Giáo Án Ngữ Văn 11: Tự Tình ( Bài Ii )
  • Giáo Án Ngữ Văn 11 Cb Tiết 5: Đọc Văn Tự Tình
  • Soạn Văn 8 Bài Chiếu Dời Đô Vnen

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Tư Tưởng Yêu Nước Trong Bài Chiếu Dời Đô Của Lý Công Uẩn
  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô Siêu Ngắn
  • Giáo Án Bài Chiếu Dời Đô
  • Soạn Bài Nhớ Rừng (Ngắn Gọn)
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 2 Ngữ Văn Lớp 8 Bài Nhớ Rừng
  • Soạn văn 8 VNEN bài 21: Chiếu dời đô do Lý Công Uẩn sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu tới các bạn học sinh tham khảo chuẩn bị tốt cho bài giảng của học kì mới sắp tới đây của mình. Mời các bạn cùng tham khảo

    Soạn văn 8 bài Chiếu dời đô VNEN

    A. Hoạt động khởi động

    1. Chia sẻ những suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc,… của em về vị trí, vai trò của Thủ đô đối với một đất nước.

    Bài làm:

    Thủ đô là trung tâm hành chính quan trọng nhất của mỗi quốc gia. Thủ đô là cũng là nơi toạ lạc của nhiều cơ quan nhà nước quan trọng.

    Để trở thành thủ đô của một quốc gia, thành phố đó phải có điều kiện địa lí, vị trí thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa mang bản sắc của đất nước.

    B. Hoạt động hình thành kiến thức

    1. Đọc văn bản “Chiếu dời đô”

    2. Tìm hiểu văn bản.

    a) Bài Chiếu dời đô được Lí Công Uẩn viết nhằm mục đích gì?

    Bài làm:

    Năm 1010, vua Lí Thái Tổ đã rời từ kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) ra Đại La (Thăng Long – Hà Nội ngày nay). Đây là một sự kiện lịch sử mang tính trọng đại của dân tộc, đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của triều đại phong kiến Việt Nam thời đó. Và nhà vua Lí Công Uẩn đã viết “Chiếu dời đô” để thông báo cho quân chúng được biết về sự việc dời đô đó.

    b) Mở đầu Chiếu dời đô, Lí Công Uẩn đã nhắc đến việc dời đô của nhà Thương, nhà Chu trong sử sách Trung Quốc. Theo em, tác giả nêu lên dẫn chứng đó nhằm mục đích gì?

    Bài làm:

    Mở đầu Chiếu dời đô, Lí Công Uẩn đã nhắc đến việc dời đô của nhà Thương, nhà Chu trong sử sách Trung Quốc để tạo tiền đề, cơ sở lịch sử và thực tiễn của việc dời đô. Qua đó khẳng định rằng dời đô là việc thường xuyên xảy ra trong lịch sử và đem lại lợi ích lâu dài. Trong mạch lập luận, dẫn việc dời đô của nhà Thương, Chu, Lí Công Uẩn đang chuẩn bị cho những lí lẽ sẽ thuyết trình ở phần sau.

    c) Lí Công Uẩn đã chỉ ra những ưu thế nào của thành Đại La nếu được chọn là nơi đóng đô? Nhận xét về cách lập luận của tác giả và sức thuyết phục của văn bản.

    Bài làm:

    Những ưu thế của thành Đại La phù hợp cho việc đóng đô:

    – Về địa lí: Đại La là “Nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi”, bốn hướng đều thông thoáng lại ở thế “nhìn sông dựa núi” vững vàng, “địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng”, không lo lụt lội và “muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi”.

    – Về giao thương: “là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước”, đáp ứng được vai trò là đầu mối trung tâm của kinh tế, chính trị, văn hoá của đất nước.

    Cách lập luận của tác giả đầy sức thuyết phục khi phân tích luận cứ của mình trên nhiều mặt và đặc biệt là việc kết hợp giữa lí và tình.

    – Về lí: Lấy sử sách làm chỗ dựa cho lí lẽ, lại lấy lí lẽ khuôn thước ấy mà soi vào thực tế của hai triều Đinh, Lê để thấy rằng việc dời đô là tất yếu và cuối cùng đưa ra sự lựa chọn, khẳng định Đại La làm nơi đóng đô mới tốt nhất.

    – Về tình: Bài chiếu được viết bằng một tình cảm chân thành. Bài Chiếu bên cạnh tính chất mệnh lệnh còn có tính chất tâm tình khi nhà vua hỏi qua ý kiến các quần thần: “Các khanh nghĩ thế nào?”. Câu hỏi có tính chất tâm tình, như là một sự trao đổi, bàn bạc, đối thoại. Bằng cách này, ông đã tạo được sự đồng cảm giữa vua và thần dân.

    d) Tại sao nói Chiếu dời đô đã phản ánh ý chí độc lập, tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt?

    Bài làm:

    Nói Chiếu dời đô đã phản ánh ý chí độc lập, tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt bởi những lí do sau:

    – Thứ nhất, việc dời đô không chỉ có ý nghĩa noi theo tấm gương của người đi trước mà còn là việc “tính kế muôn đời cho con cháu” mai sau. Như vậy, quyết định dời đô thể hiện khát vọng mãnh liệt về một đất nước độc lập, thống nhất, phát triển giàu đẹp trong tương lai.

    – Thứ hai, hai triều Đinh, Lê trước đó thế và lực chưa đủ mạnh nên đã phải dựa vào vùng núi rừng Hoa Lư hiểm trở. Đến triều Lí dời đô từ nơi có núi non hiểm trở (thích hợp cho việc phòng thủ và chiến đấu) xuống vùng đồng bằng rộng lớn (khả năng phòng thủ thấp) chứng tỏ dân tộc đã có nội lực phát triển vững vàng, triều đại mạnh mẽ. Cho nên đây là biểu hiện của một khát vọng tự lực, tự cường, quyết tâm dựng nước đi liền với việc giữ nước hết sức cháy bỏng, mãnh liệt của dân tộc Đại Việt.

    3. Tìm hiểu về câu phủ định

    a) Đọc những câu sau và trả lời câu hỏi:

    (1) An đi đá bóng.

    (2) An không đi đá bóng.

    (3) An chẳng đi đá bóng.

    (4) An chưa đi đá bóng.

    – Câu 1 đưa ra thông tin gì?

    – Các câu 2, 3, 4 đưa ra thông tin gì?

    – Chỉ ra sự khác biệt về mặt hình thức giữa câu (1) và các câu còn lại.

    Bài làm:

    – Câu (1) đưa ra thông tin khẳng định việc An đi đá bóng.

    – Các câu (2), (3), (4) phủ định thông tin An đi đá bóng.

    – Về hình thức, các câu còn lại có chứa các từ phủ định: không, chẳng, chưa.

    b) Điền tiếp vào chỗ trống để hoàn thành phiếu học tập sau:

    a) Câu phủ định là câu có chứa những từ ngữ phủ định như:…………….

    b) Câu phủ định dùng để thông báo, xác nhận…….sự vật, sự việc, tính chất, quan hệ nào đó hoặc….. một ý kiến, một nhận định.

    C. Hoạt động luyện tập

    C. Hoạt động luyện tập

    1. Chiếu được dùng để ban bố mệnh lệnh của nhà vua nhưng trong Chiếu dời đô lại có những đoạn mang tính chất đối thoại, tâm tình. Điều này có mâu thuẫn không? Vì sao?

    – Tưởng con voi như thế nào, hoá ra nó sun sun như con đỉa. – Không phải, nó chần chẫn như cái đòn càn.

    1. Chiếu được dùng để ban bố mệnh lệnh của nhà vua nhưng trong Chiếu dời đô lại có những đoạn mang tính chất đối thoại, tâm tình. Điều này có mâu thuẫn không? Vì sao?

    2. Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

    – Đâu có! Nó bè bè như cái quạt thóc.

    3. Các câu phủ định sau đều dùng để biểu thị ý phủ định, điều đó đúng hay sai? Khoanh tròn vào Đ (đúng) hoặc S (sai) với từng câu và giải thích lí do.

    (1) Trong đoạn trích trên, những câu nào có từ ngữ phủ định? Chỉ ra những từ ngũ phủ định đó.

    (2) Mấy ông thầy bói xem voi đã sử dụng câu phủ định để làm gì?

    4. Có thể điền bất kì từ phủ định nào trong các từ không, chưa, chẳng vào chỗ trống trong các câu sau được không? Tại sao?

    a) Tôi … tiếp tục ngồi học được nữa nên đành đứng dậy. Đầu óc tôi nặng trĩu những lo lắng về sức khỏe của mẹ.

    b) Mai… thể vào nhà lúc này. Bạn ấy đã làm mất chìa khóa.

    Bài làm:

    c) Dế Choắt … dậy được nữa. Nó đang nằm thoi thóp.

    d) Thưa cô, em mệt nên … làm bài tập a!

    Không thể điền bất kì một từ phủ định trong các từ không, chưa, chẳng vào chỗ trống trong các câu. Vì trong một số trường hợp câu sẽ vô nghĩa hoặc khiến nội dung thiếu logic.

    Có thể điền vào chỗ trống như sau:

    a) Tôi không tiếp tục ngồi học được nữa nên đành đứng dậy. Đầu óc tôi nặng trĩu những lo lắng về sức khỏe của mẹ.

    b) Mai không/chưa thể vào nhà lúc này. Bạn ấy đã làm mất chìa khóa.

    c) Dế Choắt không dậy được nữa. Nó đang nằm thoi thóp.

    d) Thưa cô, em mệt nên chưa làm bài tập ạ!

    D. Hoạt động vận dụng

    1. Trong giao tiếp, chúng ta thường gặp những câu nói không chứa dấu hiệu hình thức của câu phủ định nhưng lại biểu thị ý nghĩa phủ định.

    Ví dụ: Cậu ta giỏi gì mà giỏi!

    a) Hãy nêu một số ví dụ khác về loại câu này.

    b) Chỉ ra ý nghĩa phủ định của các ví dụ đó.

    c) Nhận xét về sắc thái biểu cảm thể hiện trong các ví dụ đã nêu.

    Bài làm:

    a) VD:- Cái áo này mà đẹp à?

    – Cậu nghĩ tớ vui chắc?

    – Làm gì có chuyện đó.

    b) Ý nghĩa phủ định trong mỗi câu:

    – Cái áo này không đẹp.

    – Tớ không vui.

    – Không có chuyện đó.

    c) Sắc thái phủ định trong những câu đã nêu được nhấn mạnh hơn.

    Bài làm:

    E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

    Tưởng tượng trong một giấc mơ, em được gặp vua Lí Công Uẩn. Hãy giới thiệu với nhà vua về Thủ đô Hà Nội ngày nay.

    Trong giấc mơ buổi trưa hè hôm nay, em đã may mắn được gặp vua Lý Công Uẩn – người là tác giả của tác phẩm “Chiếu dời đô” em mới được học trên lớp. Được biết, vua Lý Công Uẩn, tức Lý Thái Tổ chính là người dời đô từ Hoa Lư về thành Thăng Long năm 1010, đặt nền móng cho sự phát triển của đất nước đến ngày nay. Chính vì thế, khi gặp được ông, em đã hỏi thăm sức khỏe của ông và hao hức kể cho ông nghe về thủ đô Hà Nội ngày nay.

    Trải qua hơn một ngàn năm tuổi, ngày nay, thủ đô Hà Nội được coi là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục của cả nước, là biểu tượng của mảnh đất hình chữ S thân yêu ngàn năm văn hiến.

    Em đã kể với vua Lý Công Uẩn về những danh lam thắng cảnh nổi tiếng của thủ đô, những nơi người ta sẽ nhắc tới đầu tiên khi nói về Hà Nội ngày nay. Đầu tiêu phải kể đến khu di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám với 82 tấm bia lưu danh các vị dỗ Tiến sĩ từ khoa thi năm 1442 đến năm 1779 tại Văn Miếu. Quốc Tử giám là trường đại học đầu tiên của nước ta, là nơi dạy dỗ các hoàng tử, những người tài giỏi.

    Tiếp đến là khu Hoàng Thành Thăng Long được xây dựng từ thành Đại La cũ, ngày nay đã được khai quật và bảo tồn, trờ thành địa điểm tham quan cho du khách trong và ngoài nước.

    Một địa danh vô cùng nổi tiếng mà em cũng đã giới thiệu với vua Lý Công Uẩn đó là hồ Gươm (hồ Hoàn Kiếm). Đây là công trình với quần thể kiến trúc bao gồm: đài Nghiên, tháp Bút, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn và Tháp Rùa. Hồ Gươm gắn liền với truyền thuyết Lê Lợi trả gươm cho Long Quân thế kỉ XV. Nhờ có thanh gươm thần mà Lê Lợi đã dẹp tan quân Minh xâm lược.

    Lăng Bác là một địa điểm nổi tiếng. Đây là nơi yên nghỉ của chủ tịch Hồ Chí Minh, người là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Trong khuôn viên lăng Bác có bảo tang Hồ Chí Minh và chùa Một Cột luôn được bảo vệ nghiêm ngặt.

    Cuối cuộc trò chuyện, vua Lý bày tỏ sự vui mừng về sự phát triển của thủ đô ngày nay. Ông không quên dặn dò em – đại diện cho thế hệ tương lai của đất nước hãy cố gắng chăm chỉ học tập và rèn luyện để chung tay xây dựng thủ đô Hà Nội và đóng góp cho đất nước.

    ……………………………………..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Chiếu Dời Dô Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô (Thiên Đô Chiếu)
  • Soạn Bài Tiếng Gà Trưa (Ngắn Gọn)
  • Tiết 53 Tiếng Gà Trưa Của Xuân Quynh
  • Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 53+ 54
  • Soạn Văn 8 Siêu Ngắn Bài: Chiếu Dời Đô (Thiên Đô Chiếu)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô
  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô Của Lí Công Uẩn
  • Soạn Bài Nhớ Rừng (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Ngắm Trăng Của Hồ Chí Minh
  • Soạn Bài Lớp 8: Ngắm Trăng
  • Trả lời

    Sự viện dẫn trên nhằm mục đích: chuẩn bị cho lý lẽ ở phần sau: Trong lịch sử đã từng có chuyện dời đô và đã từng đem lại những kết quả tốt đẹp. Việc Lý Thái Tổ dời đô không có gì là khác thường, trái với quy luật

    Trả lời

    • Hoa Lư là vùng có địa thế hiểm trở, khi tiềm lực phát triển chưa đủ mạnh thì nó hợp với chiến lược phòng thủ.
    • Nhưng đến đời Lí thì đất nước đặt ra nhu cầu phát triển, cho nên đô thành phải dời chuyển ra nơi có địa thế khác

    Trả lời

    Về mặt địa lí, tác giả phân tích rõ: “Nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi”, bốn hướng đều thông thoáng lại ở thế “nhìn sông dựa núi” vững vàng, “địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng”

    Thuận lợi về mặt địa lí như vậy sẽ kéo theo những thuận lợi về thông thương, giao lưu

    Nơi định đô mới này sẽ đáp ứng được vai trò là đầu mối trung tâm của kinh tế, chính trị, văn hoá của đất nước.

    Trả lời

    Trình tự lập luận cho việc cần thiết phải dời đô:

    • Nêu sử sách bên Trung Quốc làm tiền đề, làm chỗ dựa cho lý lẽ.
    • Soi tiền đề vào thực tế của hai triều đại Đinh, Lê để chỉ rõ thực tế ấy không còn thích hợp với sự phát triển của đất nước, cần thiết phải dời đô.
    • Đi tới kết luận: Khẳng định thành Đại La là nơi tốt nhất để chọn làm Kinh Đô.

    Đây là lời ban bố mệnh lệnh nhưng lại có những đoạn bày tỏ nỗi lòng. Ví như “Trẫm rất đau xót về việc đó”. Và vì thế, lời văn tạo nên sự đồng cảm sâu sắc giữa mệnh lệnh của vua với thần dân, ai ai cũng xúc động.

    Trả lời

    Vùng Hoa Lư là vùng núi hiểm trở, khi đất nước còn chưa ổn định phát triển thì đây là nơi chiến lược phòng thủ.

    Đến thời nhà Lí, Lí Công Uẩn giám dời đô ra vùng đồng bằng chứng tỏ nhà Lí đã có đủ thực lực để xây dựng đất nước, phát triển kinh thế. Có thể trấn an dân chúng, chống lại giặc ngoại xâm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Chiếu Dời Đô
  • Soạn Bài Tiếng Gà Trưa Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Văn Tiếng Gà Trưa Chương Trình Ngữ Văn Lớp 7
  • Bài Văn Tả Hồ Gươm Lớp 5 Ngắn Gọn Hay
  • Bài Soạn Lớp 6: Sự Tích Hồ Gươm
  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 8: Chiếu Dời Đô
  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô Trang 48 Sgk Văn 8
  • Soạn Văn 8: Ngắm Trăng (Hồ Chí Minh)
  • Soạn Bài Tình Thái Từ Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài Tình Thái Từ Sgk Ngữ Văn 8 Tập 1
  • 1. Những đặc điểm cơ bản của thể chiếu. Lấy dẫn chứng từ Chiếu dời đô để làm sáng tổ những đặc điểm cơ bản đó.

    Trả lời:

    Đọc phần Chú thích về thể chiếu trong SGK, sau đó nêu đặc điểm cơ bản của thể chiếu về chức năng, kết cấu, lời văn. ở từng đặc điểm, cần lấy dẫn chứng từ Chiếu dời đô để làm sáng tỏ. Có thể lập bảng khi làm bài tập này.

    – Chức năng của chiếu là ban bố mệnh lệnh của vua chúa xuống thần dân, yêu cầu thần dân thực hiện.

    – Vua Lí Thái Tổ ban bố mệnh lệnh cho các quan và thần dân về việc dời đô.

    – Kết cấu bài chiếu nhìn chung linh hoạt, không có những quy định chặt chẽ. Tuy nhiên, các phần của bài chiếu đều phải tập trung hướng tới tư tưởng chủ đạo của tác phẩm.

    – Kết cấu ba phần, tất cả các phần đều tập trung hướng tới tư tưởng chủ đạo : dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La.

    – Chiếu có thể được viết bằng văn xuôi, văn vần hoặc văn biền ngẫu.

    – Bài Chiếu dời đô được viết bằng văn xuôi có đan xen văn biền ngẫu với những cặp câu hoặc những cặp đoạn câu tương xứng với nhau : “Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng ; đất đai cao mà thoáng”.

    2. Hãy tìm hiểu kết cấu bài Chiếu dời đô. Phân tích tính chất chặt chẽ và tác dụng của kết cấu đó.

    Trả lời:

    Kết cấu của bài Chiếu dời đô cũng là trình tự lập luận của tác giả. Trình tự lập luận này rất chặt chẽ, có sức thuyết phục lớn. Phần mở đầu tác giả nêu sử sách làm chỗ dựa cho lí lẽ : trong lịch sử đã từng có chuyện dời đô và đã từng đem lại kết quả tốt đẹp. Phần hai, soi sử sách vào tình hình thực tế để chỉ rõ việc hai triều Đinh, Lê cứ đóng yên đô thành ở vùng rừng núi Hoa Lư là không theo mệnh trời (tức không phù hợp với quy luật khách quan). Hậu quả là triều đại ngắn ngủi, đất nước không phát triển, người dân khốn khổ trong một vùng đất chật chội. Phần cuối rút ra kết luận : cần thiết phải dời đô và thành Đại La là nơi định đô tốt nhất, bởi vì đây là nơi có lợi thế về tất cả các mặt địa lí, chính trị, văn hoá,… Kết câu ba phần nói trên rất tiêu biểu cho kết câu văn nghị luận nói chung, văn chính luận nói riêng. Chiếu dời đô thuộc thể văn nghị luận, có kết câu ba phần. Phần mở đầu nêu sử sách làm tiền đề. Phần hai soi sáng tiền đề vào thực tế hai triều đại Đinh, Lê. Phần kết luận khẳng định thành Đại La là nơi tốt nhất để định đô.

    3. Câu 3, trang 51, SGK. Trả lời:

    Thành Đại La là nơi định đô tốt nhất:

    – Thành Đại La có thế “rồng cuộn hổ ngồi” : theo thuyết phong thuỷ của người xưa thì đây là thế đất đẹp, thiêng, sẽ phát triển thịnh vượng.

    – Thành Đại La có lợi thế về tất cả các mặt địa lí, chính trị, văn hoá. về địa lí: ở nơi trung tâm, mở ra bốn hướng, có cả đồng bằng, sông, núi, vừa rộng rãi, vừa cao ráo, tránh được nạn lụt lội, chật chội, về chính trị, văn hoá : là đầu mối giao lưu “chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước”, “muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi”.

    Chiếu là lời ban bố mệnh lệnh của vua chúa xuống thần dân. Thế nhưng kết thúc Chiếu dời đô, Lí Công Uẩn không ra mệnh lệnh mà đặt câu hỏi : “Các khanh nghĩ thế nào ?” Theo em, cách kết thúc như vậy có tác dụng gì ?

    Trả lời:

    Kết thúc Chiếu dời đô, Lí Công Uẩn không ra mệnh lệnh mà lại đặt câu hỏi: “Các khanh nghĩ thế nào ?”. Cách kết thúc mang tính chất đối thoại, trao đổi đã tạo sự đồng cảm giữa vua với các quan và thần dân. Việc dời đô đâu chỉ là ý nguyện riêng của Lí Công uẩn mà còn phù hợp với nguyện vọng chung của mọi người, ở Chiếu dời đô, bên cạnh tính chất mệnh lệnh còn là tính chất tâm tình. Vì vậy, Chiếu dời đô có sức mạnh thuyết phục người nghe bằng cả lí trí và tình cảm.

    5. Vì sao nói Chiếu dời đô phản ánh ý chí độc lập tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt ?

    Trả lời:

    Chiếu dời đô ra đời là sự phản ánh ý chí độc lập tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt. Bởi lẽ hai triều Đinh, Lê trước đó thế và lực chưa đủ mạnh nên còn phải dựa vào vùng núi rừng Hoa Lư hiểm trở. Việc nhà Lí dời đô từ Hoa Lư ra vùng đồng bằng đất rộng Thăng Long chứng tỏ thế và lực của dân tộc Đại Việt đã đủ mạnh để sánh ngang hàng với phương Bắc. Định đô ở nơi trung tâm đất nước là thực hiện nguyện vọng của nhân dân xây dựng một quốc gia thống nhất, hùng cường. Chọn mảnh đất là nơi “trung tâm trời đất” để có điều kiện mở mang kinh kì cho thấy khí phách của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh. Tầm vóc lớn của đất nước cần có tầm vóc lớn của một thủ đô tương xứng và ngược lại, tầm vóc lớn của thủ đô tạo đà cho đất nước phát triển.

    Kinh đô mới có tên là Thăng Long vừa phản ánh ý nguyện vươn lên vừa cho thấy khí thế rồng bay lên của một dân tộc độc lập, tự cường.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô (Thiên Đô Chiếu), Ngữ Văn Lớp 8
  • Bài 22. Chiếu Dời Đô (Thiên Đô Chiếu)
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 10
  • Tuần 31. Văn Bản Văn Học
  • Giáo Án Bài Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học
  • Soạn Bài: Chiếu Dời Đô

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 8 Siêu Ngắn Bài: Chiếu Dời Đô (Thiên Đô Chiếu)
  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô
  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô Của Lí Công Uẩn
  • Soạn Bài Nhớ Rừng (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Ngắm Trăng Của Hồ Chí Minh
  • I. Tác giả, tác phẩm

    1. Tác giả: (các em tham khảo phần giới thiệu về Lí Công Uẩn trong SGK Ngữ văn 8 Tập 2).

    2. Tác phẩm

    * Xuất xứ: Vào năm Canh Tuất niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất (1010), Lí Công Uẩn đã viết bài chiếu bày tỏ ý định dời đô từ Hoa Lư (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) ra thành Đại La (tức Hà Nội ngày nay). Văn bản Chiếu dời đô là do Nguyễn Đức Vân dịch.

    * Thể loại: Văn bản Chiếu dời đô được viết theo thể loại chiếu. Chiếu là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh. Chiếu có thể viết bằng văn vần, văn biền ngẫu hoặc văn xuôi; được công bố và đón nhận một cách trang trọng. Một số bài chiếu thể hiện tư tưởng chính trị lớn lao, có ảnh hưởng đến vận mệnh của cả triều đại, đất nước.

    Mặc dù là một bài chiếu có ý nghĩa ban bố mệnh lệnh, nhưng Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn rất có sức thuyết phục bởi nó hợp với lẽ trời, lòng dân. Tác giả đã sử dụng một hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, giọng điệu mạnh mẽ để dân chúng tin tưởng vào quyết định dời đô của mình.

    II. Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1:

    Mở đầu Chiếu dời đô, Lí Công Uẩn viện dẫn sử sách Trung Quốc nói về việc các vua đời xưa bên Trung Quốc cũng từng có những cuộc dời đô. Sự viện dẫn này nhằm mục đích khẳng định dời đô là một việc đã từng có người làm chứ không phải lần đầu tiên. Mặt khác, những triều đại Trung Quốc dời đô là thuận theo ý trời mà lại hợp với lòng dân. Không những thế, Lí Công Uẩn còn cho biết kết quả sau những lần dời đô của các triều đại Trung Quốc là mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu sau này. Sự viện dẫn này sẽ là cơ sở cho ý kiến dời đô được Lí Công Uẩn đưa ra ở những đoạn sau.

    Câu 2:

    * Theo Lí Công Uẩn, kinh đô cũ ở vùng núi Hoa Lư (Ninh Bình) của hai triều Đinh, Lê là không còn thích hợp, bởi vì hai nhà Đinh, Lê này đã làm theo ý riêng của mình, khinh thường mệnh trời, nhất quyết không theo dấu cũ của Thương, Chu, chính điều này đã dẫn đến hậu quả là “khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi”.

    Tuy nhiên, nếu xét trên thực tế, hai triều đại Đinh, Lê vì thế lực còn yếu nên phải chọn nơi vùng núi đá vôi hiểm trở ở Ninh Bình để đóng đô, từ đó có thể dễ bề chống lại sự xâm lược của các thế lực phương Bắc.

    Câu 3:

    Theo tác giả, địa thế thành Đại La có những thuận lợi để có thể chọn làm nơi đóng đô là:

    • Đại La là kinh đô cũ của Cao Vương.

    Câu 4:

    Chứng minh Chiếu dời đô có sức thuyết phục lớn bởi có sự kết hợp giữa lí và tình.

    * Về lí:

    • Tác giả đã đưa ra những dẫn chứng là sử sách làm tiền đề để khẳng định việc dời đô là hoàn toàn hợp lý, thuận với lẽ trời.
    • Đưa ra những lập luận đầy sức thuyết phục về địa thế thuận lợi của thành Đại La.

    * Về tình:

    Câu 5:

    Nói việc Chiếu dời đô ra đời phản ánh ý chí độc lập, tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt là vì khi quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La tức là nhà Lí cũng đủ sức để chấm dứt nạn phong kiến, đồng thời, khẳng định thế lực của Đại Việt cũng sánh ngang với thế lực của các nước phương Bắc. Mặt khác, việc đóng đô ở Đại La cũng là thuận theo nguyện vọng của nhân dân muốn thu giang san về một mối và nguyện vọng xây dựng đất nước độc lập, tự cường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Tiếng Gà Trưa Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Văn Tiếng Gà Trưa Chương Trình Ngữ Văn Lớp 7
  • Bài Văn Tả Hồ Gươm Lớp 5 Ngắn Gọn Hay
  • Bài Soạn Lớp 6: Sự Tích Hồ Gươm
  • Giáo Án Văn 8 Bài Văn Bản Tường Trình
  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 21: Chiếu Dời Đô

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Văn 8 Bài Thiên Đô Chiếu
  • Phân Tích Tác Phẩm Chiếu Dời Đô Hay Nhất
  • Top 3 Soạn Bài Thiên Đô Chiếu Ngắn Nhất.
  • Top 3 Soạn Bài Sông Nước Cà Mau Ngắn Nhất.
  • Tóm Tắt Sông Nước Cà Mau Hay Nhất (4 Mẫu).
  • Soạn văn 8 VNEN Bài 21: Chiếu dời đô

    A. Hoạt động khởi động

    (trang 30, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2)

    1. Học sinh nghe 1 bài hát về thủ đô Hà Nội.

    2. Chia sẻ những suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc,… của em về vị trí, vai trò của Thủ đô đối với một đất nước.

    Trả lời:

    2. Chia sẻ những suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc,… của em về vị trí, vai trò của Thủ đô đối với một đất nước:

    Thủ đô là trung tâm hành chính quan trọng nhất của mỗi quốc gia. Thủ đô là cũng là nơi tọa lạc của nhiều cơ quan nhà nước quan trọng.

    Để trở thành thủ đô của một quốc gia, thành phố đó phải có điều kiện địa lí, vị trí thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa mang bản sắc của đất nước.

    Đối với nhiều người, thủ đô cũng giống như trái tim của đất nước, là nơi mà họ luôn muốn được đến ít nhất một lần trong đời.

    B. Hoạt động hình thành kiến thức

    1. (trang 30, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Đọc văn bản “Chiếu dời đô”

    2. (trang 32, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Tìm hiểu văn bản:

    a. Bài Chiếu dời đô được Lí Công Uẩn viết nhằm mục đích gì?

    b. Mở đầu Chiếu dời đô, Lí Công Uẩn đã nhắc đến việc dời đô của nhà Thương, nhà Chu trong sử sách Trung Quốc. Theo em, tác giả nêu lên dẫn chứng đó nhằm mục đích gì?

    c. Lí Công Uẩn đã chỉ ra những ưu thế nào của thành Đại La nếu được chọn là nơi đóng đô? Nhận xét về cách lập luận của tác giả và sức thuyết phục của văn bản.

    d. Tại sao nói Chiếu dời đô đã phản ánh ý chí độc lập, tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt?

    Trả lời:

    a. Bài Chiếu dời đô được Lí Công Uẩn viết nhằm mục đích thông báo cho quân chúng được biết về sự việc dời đô: Năm 1010, vua Lí Thái Tổ đã rời từ kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) ra Đại La (Thăng Long – Hà Nội ngày nay). Đây là một sự kiện lịch sử mang tính trọng đại của dân tộc, đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của triều đại phong kiến Việt Nam thời đó.

    b. Mở đầu Chiếu dời đô, Lí Công Uẩn đã nhắc đến việc dời đô của nhà Thương, nhà Chu trong sử sách Trung Quốc:

    + Nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô.

    + Nhà Chu ba lần dời đô.

    → Các triều đại lớn trước đó dời đô nhằm mục tích mưu toan nghiệp lớn, xây dựng vương triều thịnh vượng, mở tương lai lâu bền cho thế hệ sau.

    – Kết quả các cuộc dời đô mang lại sự bền vững, hưng thịnh cho quốc gia.

    → Lý Thái Tổ dẫn ra dẫn chứng cụ thể về triều đại Thương Chu để làm cứ liệu khẳng định việc ông dời đô là điều tất yếu hợp đạo lý.

    c. Lí Công Uẩn đã chỉ ra những ưu thế của thành Đại La:

    + Từng là kinh đô cũ của Cao Vương.

    + Thuận lợi địa hình: rộng rãi, bằng phẳng, cao ráo, thoáng đãng, không bị lụt, muôn vật phong phú.

    + Thuận lợi chính trị, văn hóa: chốn hội tụ bốn phương trời, mảnh đất muôn vật tốt tươi.

    + Thuận lợi phong thủy: trung tâm trời đất, thế rồng cuộn hổ ngồi.

    → Thành Đại La hội tụ đủ những ưu thế vượt trội của vùng đất xứng đáng kinh đô của đất nước.

    Nhận xét về cách lập luận của tác giả và sức thuyết phục của văn bản: Chiếc dời đô là một bài văn nghị luận giàu sức thuyết phục bởi nó có sự kết hợp giữa lý và tình.

    – Thứ tự trình bày lập luận:

    + Dẫn sử các triều đại lớn từng dời đô trở nên hưng thịnh, bền vững.

    + Đối chiếu với thực trạng hai nhà Đinh, Lê khi đóng đô ở Hoa Lư.

    + Đưa ra những ưu điểm về mặt địa hình và điều kiện tự nhiên của thành Đại La.

    → Tất cả những lý lẽ trên để đi tới kết luận việc dời đô là cần thiết, hợp đạo lý.

    – Yếu tố về tình cảm:

    + Dời đô nghĩa là thuận theo ý trời, noi gương lịch sử.

    + Mục đích triều đại được trường tồn, trăm họ không hao tổn.

    + Tác giả bộc lộ sự thương xót cho trăm họ dưới triều Đinh, Lê.

    + Tôn trọng ý kiến của bề tôi – “Các khanh nghĩ thế nào?”.

    d. Chiếu dời đô đã phản ánh ý chí độc lập, tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt vì:

    + Khi từ bỏ vùng núi hiểm trở Ninh Bình ra thành Đại La, nơi giao lưu trọng yếu có nghĩa là nhà Lý đủ sức mạnh phòng thủ đất nước, chống lại sự xâm lược phương Bắc.

    + Đại La là nơi trung tâm, có địa thế thuận lợi, để đất nước phát triển về kinh tế, dân có cơ hội phát triển.

    + Dời đô là dám đưa kinh đô ra đồng bằng chính là phản ánh sự lớn mạnh về thế lực, sự bản lĩnh khi dám đương đầu với thách thức.

    + Dời đô còn thể hiện tầm nhìn chiến lược, sự hiểu biết sâu rộng của người đứng đầu đất nước.

    → Việc dời đô khẳng định ý chí độc lập, tự cường, sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt có thể tự dựa vào sức mạnh của mình để đương đầu với thách thức mới.

    3. (trang 32, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Tìm hiểu về câu phủ định

    a. Đọc những câu sau và trả lời câu hỏi:

    (1) An đi đá bóng.

    (2) An không đi đá bóng.

    (3) An chẳng đi đá bóng.

    (4) An chưa đi đá bóng.

    – Câu 1 đưa ra thông tin gì?

    – Các câu 2, 3, 4 đưa ra thông tin gì?

    – Chỉ ra sự khác biệt về mặt hình thức giữa câu (1) và các câu còn lại.

    b. Điền tiếp vào chỗ trống để hoàn thành phiếu học tập sau:

    Phiếu học tập

    a) Câu phủ định là câu có chứa những từ ngữ phủ định như:…………….

    b) Câu phủ định dùng để thông báo, xác nhận…….sự vật, sự việc, tính chất, quan hệ nào đó hoặc….. một ý kiến, một nhận định.

    Trả lời:

    a. Đọc câu và trả lời câu hỏi;

    – Câu (1) đưa ra thông tin khẳng định việc An đi đá bóng.

    – Các câu (2), (3), (4) phủ định thông tin An đi đá bóng.

    – Về hình thức, các câu còn lại có chứa các từ phủ định: không, chẳng, chưa.

    b. Hoàn thành phiếu học tập:

    Phiếu học tập

    a) Câu phủ định là câu có chứa những từ ngữ phủ định như: không, chẳng, chả, chưa, không phải (là), chẳng phải (là), đâu có phải (là), đâu (có) …

    b) Câu phủ định dùng để thông báo, xác nhận không có sự vật, sự việc, tính chất, quan hệ nào đó hoặc phản bác một ý kiến, một nhận định.

    C. Hoạt động luyện tập

    1. (trang 33, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Chiếu được dùng để ban bố mệnh lệnh của nhà vua nhưng trong Chiếu dời đô lại có những đoạn mang tính chất đối thoại, tâm tình. Điều này có mâu thuẫn không? Vì sao?

    Trả lời:

    Chiếu được dùng để ban bố mệnh lệnh của nhà vua nhưng trong Chiếu dời đô lại có những đoạn mang tính chất đối thoại, tâm tình. Điều này không hề mâu thuẫn.

    1. Xét đến yếu tố tình cảm của lập luận:

    + Dời đô nghĩa là thuận theo ý trời, noi gương lịch sử.

    + Mục đích triều đại được trường tồn, trăm họ không hao tổn.

    + Tác giả bộc lộ sự thương xót cho trăm họ dưới triều Đinh, Lê.

    + Tôn trọng ý kiến của bề tôi – “Các khanh nghĩ thế nào?”.

    2. Dời đô là một quyết định trọng đại, mang tính bước ngoặt của cả một dân tộc. Vì vậy, nhà vua vừa bày tỏ nỗi lòng, vừa hỏi thăm ý kiến quần thần, nhưng vẫn giữ được tính chất ban bố của văn bản chiếu.

    Chiếu dời đô có những đoạn mang tính chất đối thoại, tâm tình là không hề mâu thuẫn.

    2. (trang 33, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

    Thầy sờ vòi bảo: – Tưởng con voi như thế nào, hoá ra nó sun sun như con đỉa.

    Thầy sờ ngà bảo:

    – Không phải, nó chần chẫn như cái đòn càn. Thầy sờ tai bảo: – Đâu có! Nó bè bè như cái quạt thóc.

    (Thầy bói xem voi)

    (1) Trong đoạn trích trên, những câu nào có từ ngữ phủ định? Chỉ ra những từ ngũ phủ định đó.

    (2) Mấy ông thầy bói xem voi đã sử dụng câu phủ định để làm gì?

    Trả lời:

    (1) Những câu có từ ngữ phủ định là:

    – Không phải, nó chần chẫn như cái đòn càn ( Từ phủ định: Không phải)

    – Đâu có! (Từ phủ định: đâu có)

    (2) Ông thầy bói thứ hai dùng câu phủ định Không phải, nó chần chẫn như cái đòn càn để phản bác ý kiến, nhận định của ông thầy bói sờ vòi. Ông thầy bói thứ ba (ông thầy bói sờ tai) dùng câu phủ định – Đâu có! để phủ định ý kiến, nhận định của cả hai ông thầy trước.

    Cả hai câu đều phủ định ý kiến, nhận định của người khác. Đây là những câu phủ định bác bỏ.

    3. (trang 33, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Các câu phủ định sau đều dùng để biểu thị ý phủ định, điều đó đúng hay sai ? Khoanh tròn vào Đ (đúng) hoặc S (sai) với từng câu và giải thích lí do.

    Trả lời:

    4. (trang 33, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Có thể điền bất kì từ phủ định nào trong các từ không, chưa, chẳng vào chỗ trống trong các câu sau được không? Tại sao?

    a) Tôi … tiếp tục ngồi học được nữa nên đành đứng dậy. Đầu óc tôi nặng trĩu những lo lắng về sức khỏe của mẹ.

    b) Mai… thể vào nhà lúc này. Bạn ấy đã làm mất chìa khóa.

    c) Dế Choắt … dậy được nữa. Nó đang nằm thoi thóp.

    d) Thưa cô, em mệt nên … làm bài tập a!

    Trả lời:

    1. Điền từ:

    a) Tôi không tiếp tục ngồi học được nữa nên đành đứng dậy. Đầu óc tôi nặng trĩu những lo lắng về sức khỏe của mẹ.

    b) Mai không/chưa thể vào nhà lúc này. Bạn ấy đã làm mất chìa khóa.

    c) Dế Choắt không dậy được nữa. Nó đang nằm thoi thóp.

    d) Thưa cô, em mệt nên chưa làm bài tập ạ!

    2. Giải thích:

    Không thể điền bất kì một từ phủ định trong các từ không, chưa, chẳng vào chỗ trống trong các câu, vì trong một số trường hợp câu sẽ vô nghĩa hoặc khiến nội dung thiếu logic.

    D. Hoạt động vận dụng

    1. (trang 34, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Trong giao tiếp, chúng ta thường gặp những câu nói không chứa dấu hiệu hình thức của câu phủ định nhưng lại biểu thị ý nghĩa phủ định.

    Ví dụ: Cậu ta giỏi gì mà giỏi!

    a. Hãy nêu một số ví dụ khác về loại câu này.

    b. Chỉ ra ý nghĩa phủ định của các ví dụ đó.

    c. Nhận xét về sắc thái biểu cảm thể hiện trong các ví dụ đã nêu.

    Trả lời:

    a. VD: – Cậu ta mà giỏi à ?

    – Làm gì có chuyện đó.

    – Cậu nghĩ tớ vui chắc ?

    b. Ý nghĩa phủ định trong mỗi câu :

    – Cái áo này không đẹp.

    – Không có chuyện đó.

    – Tớ không vui.

    c. Sắc thái phủ định trong những câu đã nêu được nhấn mạnh hơn.

    E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

    (trang 34, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Tưởng tượng trong một giấc mơ, em được gặp vua Lí Công Uẩn. Hãy giới thiệu với nhà vua về Thủ đô Hà Nội ngày nay.

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    Loạt bài Soạn văn 8 VNEN ngắn nhất của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sách Hướng dẫn học Ngữ văn 8 Tập 1, Tập 2 chương trình mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiếu Dời Đô (Lý Thái Tổ)
  • Soạn Bài Thiên Đô Chiếu (Lí Công Uẩn)
  • Tổng Hợp Câu Hỏi Tác Phẩm: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Tóm Tắt Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hay, Ngắn Nhất (5 Mẫu).
  • Bài Tóm Tắt: Hoàng Lê Nhất Thống Chí Cực Hay, Ngắn (5 Mẫu).
  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô (Thiên Đô Chiếu)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Chiếu Dời Dô Siêu Ngắn
  • Soạn Văn 8 Bài Chiếu Dời Đô Vnen
  • Phân Tích Tư Tưởng Yêu Nước Trong Bài Chiếu Dời Đô Của Lý Công Uẩn
  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô Siêu Ngắn
  • Giáo Án Bài Chiếu Dời Đô
  • Chiếc dời đô, Lí Công Uẩn viện dẫn sử sách Trung Quốc nói về việc các vua đời xưa bên Trung Quốc:

    + Nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô.

    → Các triều đại lớn trước đó dời đô nhằm mục tích mưu toan nghiệp lớn, xây dựng vương triều thịnh vượng, mở tương lai lâu bền cho thế hệ sau.

    – Kết quả các cuộc dời đô mang lại sự bền vững, hưng thịnh cho quốc gia.

    → Lý Thái Tổ dẫn ra dẫn chứng cụ thể về triều đại Thương Chu để làm cứ liệu khẳng định việc ông dời đô là điều tất yếu hợp đạo lý.

    Theo Lý Công Uẩn, kinh đô cũ ở vùng Hoa Lư (Ninh Bình) của hai triều Đinh, Lê không còn phù hợp với:

    + Hai nhà Đinh, Lê tự làm theo ý mình, khinh thường mệnh trời, không theo dấu cũ nhà Thương Chu.

    + Triều đại không hưng thịnh, vận nước ngắn ngủi, nhân dân khổ cực, vạn vật không thích nghi.

    + Việc đóng đô của hai triều Đinh, Lê vẫn cứ đóng đô ở Hoa Lư chứng tỏ thế và lực của cả hai triều chưa đủ mạnh (vẫn còn dựa vào thế núi sông).

    → Thể hiện tầm nhìn sâu rộng của vua Lý Thái Tổ.

    Câu 3 trang 51 – SGK Ngữ văn 8 tập 2: Theo tác giả, địa thế thành Đại La có những thuận lợi gì để có thể chọn làm nơi đóng đô? (Chú ý vị trí địa lí, hình thế núi sông, sự thuận tiện trong giao lưu, phát triển về mọi mặt).

    Thành Đại La có nhiều thuận lợi để đóng đô:

    – Là kinh đô cũ của Cao Vương

    + Là nơi trung tâm của trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi

    + Bốn hướng đều thông thoáng, lại ở thế “tựa núi nhìn sông” vững vàng.

    + “Địa thế rộng mà bằng phẳng, đất đai cao mà thoáng”.

    – Thuận lợi về mặt địa lí như vậy sẽ kéo theo những thuận lợi về thông thương, giao lưu, là chốn hội tụ trọng yếu của 4 phương đất nước, là nơi xứng đáng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.

    Câu 4 trang 51 – SGK Ngữ văn 8 tập 2: Chứng minh Chiếu dời đô có sức thuyết phục lớn bởi có sự kết hợp giữa lí và tình.(Gợi ý: – Trình tự lí lẽ mà Lí Công Uẩn đưa ra để khẳng định việc cần thiết phải dời đô. – Lời ban bố mệnh lệnh mà lại có những đoạn bày tỏ nỗi lòng, có những lời như đối thoại. Ngôn từ mang tính chất đối thoại, tâm tình ở hai câu cuối bài chiếu có tác dụng như thế nào?)

    Chiếc dời đô là một bài văn nghị luận giàu sức thuyết phục bởi nó có sự kết hợp giữa lý và tình.

    – Thứ tự trình bày lập luận:

    + Dẫn sử các triều đại lớn từng dời đô trở nên hưng thịnh, bền vững.

    + Đối chiếu với thực trạng hai nhà Đinh, Lê khi đóng đô ở Hoa Lư.

    + Đưa ra những ưu điểm về mặt địa hình và điều kiện tự nhiên của thành Đại La.

    → Tất cả những lý lẽ trên để đi tới kết luận việc dời đô là cần thiết, hợp đạo lý.

    + Dời đô nghĩa là thuận theo ý trời, noi gương lịch sử.

    + Mục đích triều đại được trường tồn, trăm họ không hao tổn.

    + Tác giả bộc lộ sự thương xót cho trăm họ dưới triều Đinh, Lê.

    + Tôn trọng ý kiến của bề tôi – “Các khanh nghĩ thế nào?”.

    Câu 5 trang 51 – SGK Ngữ văn 8 tập 2: Vì sao nói việc Chiếu dời đô ra đời phản ánh ý chí độc lập, tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt?

    Nói Chiếu dời đô phản ánh ý chí độc lập, tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt vì:

    – Đại La là nơi giao lưu trọng yếu, bằng phẳng rộng rãi. Khi dời đô ra Đại La, nhà Lí đã có đủ sức mạnh về quân sự để phòng thủ đất nước, chống lại sự xâm lược phương Bắc.

    – Đại La là nơi trung tâm, có nhiều điều kiện để phát triển.

    → Đưa kinh đô từ vùng núi ra đồng bằng đã phản ánh được thế lực đang lớn mạnh của đất nước Đại Việt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Tiếng Gà Trưa (Ngắn Gọn)
  • Tiết 53 Tiếng Gà Trưa Của Xuân Quynh
  • Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 53+ 54
  • Soạn Bài Tiếng Gà Trưa Ngắn Gọn
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Lớp 7 Bài Điệp Ngữ Ngắn Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100