Top 11 # Xem Nhiều Nhất Soạn Bài Ngữ Văn 10 Ca Dao Than Thân Yêu Thương Tình Nghĩa / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Techcombanktower.com

Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 10: Ca Dao Than Thân, Yêu Thương, Tình Nghĩa / 2023

CA DAOCa dao thuộc loại hình trữ tình của văn học dân gian, diễn tả đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong các quan hệ gia đình, lứa đôi, quê hương, đất nước và trong các mối quan hệ xã hội khác. Đó là những tiếng hát than thân, những lời ca yêu thương, tình nghĩa, những bài ca hài hước… của người bình dân Việt Nam sau lũy tre xanh, bên giếng nước, gốc đa, sân đình,…

Ca dao kết tinh nghệ thuật ngôn từ của nhân dân, mang những đặc trưng riêng khác với thơ của văn học viết. Ca dao thường ngắn gọn, ngôn ngữ thơ gần gũi với lời nói hằng ngày, giàu hình ảnh so sánh ẩn dụ, biểu tượng truyền thống và đặc biệt là hình thức lặp lại, lối diễn đạt bằng một số công thức in đậm sắc thái dân gian.

Ca dao được nhân dân yêu chuộng, được các nhà thơ lớn đánh giá cao về tính chân thực, hồn nhiên, cô đúc, về sức gợi cảm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi ca dao là “những hòn ngọc quý”.

CHÙM CA DAO TRỮ TÌNHI. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

Chùm ca dao trữ tình gồm 6 bài, tiêu biểu cho nhiều mặt của đời sống tình cảm của người bình dân Việt Nam trong xã hội phong kiến xưa. Các em cần tập đọc diễn cảm các bài ca dao này:

– Đọc các bài ca than thân với giọng xót xa, thông cảm.

– Đọc các bài ca yêu thương, tình nghĩa với giọng tha thiết, lắng sâu.

2. Tìm hiểu, cảm nhận các bài ca daoCâu 1 Tiếng hát than thân (bài 1, 2)

Cảm nhận về hai bài ca dao than thân này, cần tìm hiểu nét chung của hai bài ca dao và sắc thái tình cảm riêng của từng bài.

– Nét chung: Ca dao than thân thường đề cập đến một loại người khổ nhất trong xã hội cũ: đó là người phụ nữ (mô thức mở đầu Thân em như… được lặp lại, vừa phiếm chỉ lại mang ý nghĩa xác định). Khổ vì thân phận của họ bị phụ thuộc, giá trị của họ không được ai biết đến (hình ảnh so sánh ẩn dụ và câu miêu tả bổ sung hình ảnh so sánh đã nói lên một cách thấm thía nỗi khổ đó):

+ Tấm lụa đào phất phơ giữa chợ biết vào tay ai? + Củ ấu gai ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen…

– Sắc thái tình cảm riêng:

+ Bài 1: Vẻ đẹp phơi phới tuổi xuân của người phụ nữ cũng chỉ là một món hàng để mua bán giữa chợ. Nỗi đau xót nhất chính là ở chỗ khi người con gái bước vào cái tuổi đẹp nhất, hanh phúc nhất của đời mình thì nỗi lo về thân phận lại ập đến ngay với họ. Nỗi đau và nỗi lo đó được bộc lộ qua sự đối lập giữa hai dòng thơ: Thân em như tấm lụa đào (đẹp, hạnh phúc)

+ Bài 2: Sự tự ý thức rõ hơn, và ở đây được nhấn mạnh đến giá trị thực của người con gái: Ruột trong thì trắng / vỏ ngoài thì đen. Họ phải bộc bạch kĩ và mời mọc da diết (Ai ơi, nếm thử mà xem – Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi) vì giá trị của họ không được ai biết đến. Và đó chính là nỗi ngậm ngùi chua xót cho thân phận người con gái trong xã hội cũ. Cảm hứng này đã được Hồ Xuân Hương nói đến trong bài Bánh trôi nước (“Thân em vừa trắng lại vừa tròn, Bảy nổi ba chìm với nước non…”).

Câu 2 (bài 3)

Bài ca dao không mở đầu bằng Thân em như… mà bằng Trèo lên cây khế nửa ngày… (dùng lối đưa đẩy, gợi cảm hứng từ một sự việc bên ngoài). Lối mở đầu này cũng đã thành môtíp trong ca dao: Trèo lên cây bưởi hái hoa…, Trèo lèn cây gạo cao cao… thường được dùng trong trường hợp người con trai thất tình, lỡ duyên.

Nhân vật trữ tình trong bài ca này là một chàng trai như vậy. Mặc dầu duyên kiếp không thành nhưng tình nghĩa con người thì trước sau vẫn không thay đổi. Người bình dân đã lấy hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ là cái to lớn, vĩnh hằng để nói lên tình nghĩa con người bền vững, thủy chung. Tình nghĩa đó được ví như mặt trời, mặt trăng, sao từ xưa đến nay vẫn thế. Như nỗi lòng chàng trai đối với người yêu:

Mình ơi, có nhớ ta chăngTa như sao Vượt chờ trăng giữa trời.

Đây là sự đợi chờ trong vô vọng được gửi vào một hình ảnh so sánh ẩn dụ của thiên nhiên. Sao Vượt (từ cổ của sao Hôm) mọc rất sớm từ lúc chiều hôm và khi lên đến đỉnh bầu trời (lúc đã khuya) thì trăng mới mọc. Vậy mà vẫn đợi chờ thì đấy mới là nghĩa tình bền vững, tình yêu thủy chung của con người. Duyên kiếp có thể, và đã dở dang không thành (“Ai làm chưa xót lòng này, khế ơi !”), nhưng tình yêu thì mãi mãi vẫn còn, không thể đổi thay. Hình ảnh sao Vượt chờ trăng giữa trời có cái mỏi mòn của sự chờ đợi, cái cô đơn của sự ngóng trông, nhưng chính vì thế, nó mới cao đẹp.

Câu 3

Nỗi niềm của cô gái đối với người yêu đọng lại trong một tấm khăn thương nhớ (bài 4).

Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung – nhất là thương nhớ người yêu; nhưng ở bài ca dao này lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm.

Đó là cách nói bằng hình ảnh, biểu tượng mà ca dao rất hay dùng để diễn tả những điều trừu tượng. Ở đây, nỗi niềm thương nhớ của cô gái đối với người yêu đã được biểu hiện một cách cụ thể, sinh động bằng các biểu tượng khăn, đèn, mắt – đặc biệt là hình ảnh chiếc khăn như một môtíp nghệ thuật trong ca dao trữ tình của người bình dân Việt Nam.

Khăn, đèn chính là cô gái (đã được nhân hóa), còn mắt là phép hoán dụ (dùng một bộ phận để chỉ toàn thể) để nói lên nhân vật trữ tình. Cô gái hỏi khăn, hỏi đèn, hỏi mắt chính là cô tự hỏi lòng mình. Và hẳn là nhớ thương phải bồn chồn lắm thì cô mới hỏi dồn dập đến vậy.

– Cái khăn được nói đến đầu tiên và được hỏi nhiều nhất trong 6 dòng thơ (tức nửa bài ca). Đó là vật trao duyên, vật kỉ niệm gợi nhớ người yêu, lại luôn luôn quấn quýt bên mình người con gái như cùng chia sẻ với họ trong niềm thương nhớ. Nó mang màu sắc nữ tính. Nó chính là người con gái.

Hãy đọc lại 6 câu thơ và lắng nghe trong đó:

Có phải đằng sau chiếc khăn là một con người đang thương nhớ bồn chồn không nguôi? Thương nhớ đến không làm chủ được mình, đứng ngồi không yên, ra ngẩn vào ngơ, như đứng đống lửa, như ngồi đống than thì mới có cái cảnh khăn rơi, khăn vắt… như vậy. Sáu câu thơ được cấu trúc theo lối vắt dòng láy lại 6 lần từ “khăn” ở vị trí đầu câu và láy lại 3 lần “khăn thương nhớ ai” như một điệp khúc, cùng với cách gieo vần (cả vần chân và vần lưng) tạo nên những láy âm trong thể văn bốn (ai và ắt) đã bộc lộ rõ nỗi niềm thương nhớ của cô gái. Đó là nỗi nhớ có không gian (khăn rơi xuống đất, khăn vắt lên vai, khăn chùi nước mắt).

– Đến ngọn đèn, nỗi nhớ còn được đo theo thời gian: nhớ từ ngày sang đêm, từ “tấm khăn” đến “ngọn đèn”. Đèn thương nhớ ai, Mà đèn không tắt – hay chính cô gái đang trằn trọc thâu đêm trong nỗi nhớ thương đằng đẵng với thời gian? “Cái khăn” biết giãi bày, thì “ngọn đèn” cũng biết thổ lộ, nó đã nói với ta nhiều điều không có trong lời ca..

– Cuối cùng là đôi mắt của chính cô gái. “Cái khăn”, “ngọn đèn” gợi nhiều liên tưởng nhưng chỉ là cách nói gián tiếp theo lối biểu tượng, nhân hóa. Đến đây, như không kìm lòng được nữa, cô gái đã hỏi trực tiếp chính mình: Mắt thương nhớ ai, Mắt ngủ không yên. ỞA trên “đèn không tắt” thì ở đây “mắt ngủ không yên”: hình tượng thật là hợp lí, nhất quán, và đôi mắt không ngủ ấy xoáy vào lòng ta một niềm khắc khoải khôn nguôi…

– Những câu hỏi không có câu trả lời liên tiếp cất lên như nén chặt nỗi thương nhớ trong lòng, để rồi cuối cùng trào ra bằng một niềm lo âu mênh mông cho hạnh phúc lứa đôi của mình:

Đêm qua em những lo phiền Lo vì một nỗi không yên một bề…

Trong cuộc sống của người phụ nữ xưa, một nỗi lo như thế là hoàn toàn có thể có.

Câu 4 Cái cầu – dải yếm trong ca dao tình yêu (bài 5)

Bài ca dao là lời ước muốn của cô gái, cũng là lời cô thầm nói với người yêu của mình. Cô đã thổ lộ ước muốn đó trong một ý tưởng táo bạo bằng một hình ảnh độc đáo:

Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi.

Ước muốn đã độc đáo, tạo ra cái cầu để thực hiện ước muốn đó lại càng độc đáo hơn. Ở đây, con sông không thực mà cái cầu lại càng ảo. Có con sông ấy thì mới có cái cầu ấy. Song, cái hay của bài ca dao lại chính là ở những cái không thực ấy và tình ý mà chúng gợi lên. Và đó mới là ước muốn táo bạo, tình yêu mãnh liệt, là nghệ thuật của ca dao.

Cái cầu – dải yếm đích thực là cái cầu tình yêu trong ca dao. Mà lại là cái cầu của người con gái chủ động bắc cho người mình yêu trong sự ràng buộc, tỏa chiết của lễ giáo phong kiến thời xưa. Nó táo bạo, mãnh liệt nhưng đằm thắm, đầy nữ tính bởi nó là cái dải yếm, cái vật cụ thể mềm mại luôn luôn quấn quýt bên thân hình người con gái: nó chính là người con gái! Cái cầu – dải yếm đã được tạo nên bằng chính máu thịt, cuộc đời, trái tim rạo rực yêu đương của những người con gái làng quê.

Họ muốn dùng cái vật thân thiết, gần gũi nhất của mình để bắc cầu mời mọc người mình yêu. Trong cái phi lí lại có cái có lí. Dải yếm nhỏ và mềm làm sao bắc thành cầu được, nhưng tình yêu của người con gái đã khiến nó trở nên bền vững để có thể bắc thành cái cầu tình cho “chàng sang chơi”. Trong hệ thống môtíp cái cầu của ca dao (xem phần giải bài tập ở dưới), nó là cái cầu tình yêu độc đáo và đẹp nhất, và chỉ có tư duy nghệ thuật dân gian thì mới sáng tạo ra được một cái cầu như thế.

Câu 5 Tình nghĩa thủy chung của người bình dân trong ca dao (bài 6)

Muối ba năm muối đang còn mặnĐôi ta nghĩa nặng tình dày Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa. Gừng chín tháng gừng hãy còn cay.

Ca dao có nhiều biểu tượng nói lên tình nghĩa thủy chung của con người. Nếu thuyền – bến, trúc – mai là của những đôi lứa đang yêu thì gừng cay – muối mặn lại dành cho những cặp vợ chồng, bởi vợ chồng đã từng chung sống với nhau thì mới trải qua những ngày gừng cay – muối mặn, mới thấm thía nghĩa tình thủy chung. Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay, muối mặn (Nguyễn Khoa Điềm – Đất Nước).

II. LUYỆN TẬP– Thân em như hạt mưa rào– Thân em như miếng cau khô– Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ– Nhớ khi khăn mở trầu traoMiệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình. Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai? – Cách nhau có một con đầm– Gần đây mà chẳng sang chơi Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu.Sợ rằng chàng chả đi cầuCho tốn công thợ, cho sầu lòng em. Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang.Cành trầm lá dọc lá ngang Đố người bèn ấy bước sang cành trầm. Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày.– Thân em như cá ở trong lờHết phương vùng vẫy không biết nhờ nơi đâu. Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa. Bài tập 1: Gợi ý một số câu ca dao có mô thức mở đầu Thân em như…, các em tìm thêm cho đủ 5 câu:

Nghĩa tình ấy bền vững như:

Và hương vị của gừng – muối đã thành hương vị của tình người:

Ở câu lục, nghĩa được nói trước (nghĩa nặng) rồi mới đến tình (tình dày) cho thấy nhân dân ta chú trọng đến nghĩa nhiều hơn. Đường mòn ân nghĩa không mòn (tục ngữ). Còn câu bát được kéo dài thành 13 tiếng đã khẳng định mạnh mẽ cái đạo lí đó của nhân dân ta. Chú ý: Ba vạn sáu ngàn ngày mới xa có nghĩa là không bao giờ xa cách cả vì đó chính là một trăm năm, chỉ một đời người.

Câu 6 Những biện pháp nghệ thuật mà ca dao thường sử dụng:

– Sự lặp lại mô thức mở đầu bài ca: Thân em như… – Các môtíp đã thành biểu tượng trong ca dao: Cái cầu, bến nước, con thuyền, tấm khăn, ngọn đền, gừng cay – muối mặn,… – Hình ảnh so sánh ẩn dụ lấy từ trong cuộc sống đời thường: tấm lụa đào…, củ ấu gai… – Thời gian và không gian nghệ thuật có sức gợi cảm (bài 4). – Thể thơ lục bát; lục bát biến thể; thể vãn bốn; song thất lục bát (biến thể).

Bài tập 2 a) Ca dao về nỗi nhớ người yêu:– Nhớ ai bổi hổi bồi hồiNhư đứng đống lửa, như ngồi đống than.

b) Ca dao về cái khăn:– Gửi khăn, gửi áo, gửi lờiGửi đôi chàng mạng cho người đàng xa.

c)Bài ca dao Khăn thương nhớ ai vừa nằm trong hệ thống các bài ca dao nói trên, lại vừa có một vị trí riêng: nó cụ thể, sinh động hơn và cũng tổng hợp, trọn vẹn hơn. Có thể xem đây là bài ca dao hoàn chỉnh và hay nhất về nỗi nhớ của cô gái Việt ngày xưa. Nỗi nhớ của cô gái đã thành một nét đẹp trong tâm hồn của dân tộc: “Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” (Nguyễn Khoa Điềm)

Bài tập (bổ sung) Ngoài cái cầu – dải yếm, trong hệ thống môtíp cái cầu của ca dao còn có những cái cầu nào khác, mang những sắc thái ý nghĩa khác nhau như thế nào?

Gợi ý:– Hai ta cách một con sôngMuốn sang anh ngả cành hồng cho sang.

Các em đọc kĩ để phân biệt sắc thái ý nghĩa của chiếc cầu cành hồng, cành trầm và ngọn mồng tơi.

Soạn Văn 10 Bài: Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa / 2023

VnDoc mời thầy cô và các bạn học sinh tham khảo Soạn văn 10 bài: Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa, với nội dung bài soạn ngắn gọn và chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh có kết quả cao hơn trong học tập. Mời thầy cô và các bạn tham khảo.

1. Soạn văn: Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa (siêu ngắn) mẫu 1

1.1. Câu 1 (trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Hai lời ca dao than thân có hình thức mở đầu “thân em như…”

+ Âm điệu ngậm ngùi, xót xa.

+ Người than thân ở đây được hiểu là cô gái đang độ xuân thì, ngậm ngùi xót xa khi vẻ đẹp của họ không được trân trọng.

+ Họ không có quyền tự quyết cuộc đời của mình.

– Bài ca 1: người phụ nữ – tấm lụa đào.

+ Thân phận trôi nổi, không tự quyết định được tương lai (phất phơ giữa chợ biết vào tay ai)

– Bài ca 2: người phụ nữ – củ ấu gai (xấu ngoài, đẹp trong)

+ Lời bộc bạch tha thiết của cô gái ý thức được giá trị bản thân

+ Khát khao muốn khẳng định giá trị chân thực vẻ đẹp.

+ Nỗi ngậm ngùi, chua xót cho thân phận người phụ nữ xưa.

1.2. Câu 2 (trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

a) – Sử dụng từ “ai” – đại từ phiếm chỉ để mở đầu bài ca dao, chỉ chung tất cả mọi người – để mở đầu bài ca để chỉ các thế lực ngăn cản tình cảm nam nữ xuất hiện nhiều lần

+ Gợi ra sự than trách nghe xót xa, ngậm ngùi

b, Cặp ẩn dụ Sao Hôm- sao Mai và mặt Trăng- mặt Trời (để chỉ hai người xứng đôi vừa lứa)

– Biện pháp so sánh “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”: tình duyên bị ngăn cách nhưng lòng người đơn phương vẫn chờ đợi, mong mỏi ngày gặp

– Sử dụng hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ (tính bền vững) gắn với đời sống của con người, để dễ liên tưởng, cũng là để khẳng định tính thủy chung, son sắt của lòng người.

– Hình ảnh thiên nhiên gần gũi đời sống, có vẻ đẹp riêng, ngụ ý, diễn tả tâm hồn

c, Câu cuối sử dụng biện pháp so sánh nhằm thể hiện dù mình không nhớ ta thì ta

+ Sao Vượt tên gọi cổ của sao Hôm, đặc tính, mọc sớm vào buổi chiều, sao lên tới đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc

+ Câu thơ khẳng định tấm lòng chung thủy, nghĩa tình son sắt và ý chí vượt qua những rào cản của tình yêu.

1.3. Câu 3 (trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Các thủ pháp diễn tả tình thương nhớ trong bài ca dao và tác dụng:

– Ẩn dụ và hoán dụ

+ Chiếc khăn ẩn dụ cho việc gửi gắm nỗi lòng, tình cảm của cô gái tới chàng trai, chiếc khăn còn là hiện thân của cô gái

+ Đôi mắt: hoán dụ nỗi lòng thao thức vì thương nhớ.

– Phép điệp (lặp từ ngữ)

+ “Khăn thương nhớ ai”: được lặp nhiều lần, nhằm nhấn mạnh, tô đậm nỗi nhớ.

+ Nỗi nhớ có nhiều trạng thái, cung bậc khác nhau.

c, Câu hỏi tu từ “khăn thương nhớ ai- khăn rơi xuống đất? / Đèn thương nhớ ai- Mà đèn chẳng tắt?/ Mắt thương nhớ ai- Mà mắt không yên?

– Tình cảm, sự nhớ nhung, bồn chồn vì người yêu thể hiện trong mọi hoạt động, mọi khung cảnh.

d, Những câu thơ ngắn gồm 4 tiếng: thôi thúc, diễn tả tâm trạng bồn chồn.

Kết hợp với câu lục bát nhằm làm nổi bật sự mong ngóng, trông chờ tới khắc khoải của người con gái.

1.4. Câu 4 (trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Chiếc cầu: hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho sự nối kết khoảng cách tình cảm giữa con người với con người.

+ Chiếc cầu- dải yếm là hình tượng độc đáo, kì lạ trong ca dao, thể hiện khát vọng tình cảm mặn nồng của nam nữ

+ Chiếc cầu phản ánh ước mơ chính đáng của các cặp đôi yêu nhau, đó cũng là ý tưởng táo bạo của cô gái.

Những bài ca dao xuất hiện hình ảnh chiếc cầu cũng với ý nghĩa tương tự:

Ước gì sông rộng một gang Để em ngắt ngọn mồng tới bắc cầu

1.5. Câu 5 (Trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

– Cặp hình ảnh ẩn dụ quen thuộc trong ca dao truyền thống gừng cay- muối mặn

+ Được xây dựng từ hình ảnh thực chỉ gia vị trong bữa ăn hằng ngày.

+ Hình ảnh nghệ thuật có tính sóng đôi, biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống- tình nghĩa thủy chung gắn bó son sắt

+ Bài ca dao nói về tình nghĩa thủy chung, hướng nhiều tới tình nghĩa vợ chồng son sắt, thủy chung

– Ba năm, chín tháng: sự bền lâu, vĩnh cửu

Ba vạn, sáu ngàn ngày là 100 năm: trọn kiếp, suốt đời, vĩnh hằng

→ Bài ca dao là câu hát thủy chung, nghĩa tình hướng tới tình cảm vợ chồng mặn nồng, son sắt

Một số câu ca dao có biểu tượng muối gừng:

Tay nâng chén muối đĩa gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau

1.6. Câu 6 (Trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong ca dao:

+ Nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, điệp, nói quá

– Đặc điểm khác biệt: Lấy những sự vật gần gũi cụ thể với người lao động để gọi tên, trò chuyện, so sánh: khăn, con sông, chiếc cầu, vườn hồng…

– Trong khi đó thơ bác học trong văn học sử dụng trang trọng hơn, có nhiều nét phức tạp hơn

1.7. Luyện tập

Bài 1 (Trang 85 sgk ngữ văn 10 tập 1) – Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày – Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa – Thân em như trái bần trôi Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu – Thân em như miếng cau khô Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày – Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàn rửa chân.

Các bài ca dao nói về thân em có sắc thái biểu cảm:

+ Than thân, hờn trách người không biết trân trọng vẻ đẹp của người con gái

+ Sự ý thức cao về giá trị của bản thân của người con gái.

Bài 2 (trang 85 sgk ngữ văn 10 tập 1) – Nhớ ai như nhớ thuốc lào Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên – Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai? – Đêm qua ra đứng bờ ao Trông cá cá lặn trông sao sao mờ Buồn trông con nhện giăng tơ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ. – Gửi khăn, gửi áo, gửi lời Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa – Nhớ khi khăn mở trầu trao Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình.

Bài ca dao Khăn thương nhớ ai nằm trong hệ thống những bài ca dao nỗi nhớ người yêu.

Câu thơ: “Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” (Nguyễn Khoa Điềm) lấy ý từ ca dao nhưng sáng tạo vượt bậc khi tình cảm nam nữ hòa quyện vào tình yêu đất nước.

2. Soạn văn: Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa (siêu ngắn) mẫu 2

Hướng dẫn soạn bài

2.1. Câu 1 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1)

Bài 1,2

a. Hai lời than thân đều mở đầu bằng “Thân em như…” với âm điệu xót xa, ngậm ngùi, gây ấn tượng cho người nghe. Người than thân là của những cô gái, những người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Những số phận bé nhỏ, không có quyền định đoạt hạnh phúc của chính bản thân mình.

b. Thân phận có nét chung nhưng nỗi đau của từng người lại mang sắc thái riêng được diễn tả bằng hình ảnh so sánh, ẩn dụ khác nhau.

Bài 1:

Cách mở đầu bằng “Thân em như…” cho thấy người phụ nữ ý thức được sắc đẹp, tuổi xuân của mình nhưng số phận lại rẻ mạt, không có quyền quyết định hạnh phúc của mình. Họ như món hàng – “tấm lụa đào” bị bán ở chợ. Ý thức được điều ấy, người phụ nữ gửi gắm tiếng lòng của mình vào hai câu ca dao. Hai câu ca dao ấy đã nói lên nỗi xót xa, lo lắng cho thân phận mình.

Bài 2:

Cũng mở đầu bằng cụm “Thân em như…” nhưng bài này có 4 dòng – dung lượng dài gấp đôi bài trên cho thấy sự ý thức về thân phận của người phụ nữ trở nên rõ ràng, mạnh mẽ hơn. Từ đó, bà ca dao không chỉ đơn giản là khẳng định vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ nữa mà nó còn là lời mời mọc, mong muốn, khát khao được khẳng định giá trị, vẻ đẹp của những người phụ nữ trong xã hội xưa.

2.2. Câu 2 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1)

Bài 3

a. Nếu như hai bài ca dao trên mở đầu bằng “Thân em như…” thì bài ca dao này lại được mở đầu bằng đại từ phiếm chỉ “Ai” – một từ cũng khá quen thuộc trong ca dao xưa. Trong ca dao, từ “Ai” thường dùng để chỉ các thế lực ép gả, ngăn cản tình yêu và trong bài ca dao này cũng như vậy. “Ai” ở đây có thể là cha mẹ, những hủ tục cưới xin hay cũng có thể là chính người tình…

b. Mặc dù lỡ duyên nhưng tình nghĩa vẫn bền vững, thủy chung. Điều đó được nói lên bằng một hệ thống những hình ảnh của thiên nhiên vũ trụ: mặt trăng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai. Tác giả dân gian đã lấy cái vĩnh hằng, bất biến của thiên nhiên, vũ trụ để khẳng định tính bền vững, sự thủy chung trong tình yêu, dù không ở gần nhau nhưng mãi mãi có nhau.

c. Vẻ đẹp của câu thơ cuối: Dẫu không đến được với nhau nhưng chàng trai vẫn một lòng chờ cô gái: “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”. Dù cho có cách xa nhưng chàng trai vẫn một lòng thủy chung chờ cô gái dẫu biết tình yêu này là không thể như sao Vượt chờ mặt trăng ngưng mãi mãi không thể đến gần nhau được.

2.3. Câu 3 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1)

Bài 4:

– Bài ca dao diễn tả tình cảm thương nhớ của lứa đôi yêu nhau qua những biểu tượng bình dị, gần gũi: khăn, đèn, mắt. Tác giả dân gian đã sử dụng phét nhân hóa (khăn, đèn) và phép hoán dụ (mắt) để bộc lộ một cách ý nhị, kín đáo tâm tư, tình cảm của cô gái đối với người mình yêu.

+ Chiếc khăn được hỏi đến đầu tiên và nhiều nhất thể hiện nỗi nhớ triền miên, da diết cùng với đó là sự vận động lên, xuống, rơi, vắt làm hiện lên một cách rõ ràng tâm trạng bất an của người con gái.

+ Ngọn đèn: hiện thân của nỗi nhớ được đo theo thời gian, thể hiện tình yêu của người con gái luôn cháy sáng, không bao giờ lụi tắt.

+ Đôi mắt: là lời bộc bạch trực tiếp nỗi lòng của mình: nhớ thương người yêu nhưng lòng vẫn nặng trĩu ưu tư nên “Mắt ngủ không yên”.

2.4. Câu 4 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1)

Bài 5

– Chiếc cầu – dải yếm là một hình ảnh nghệ thuật chỉ có trong ca dao, nói lên ước muốn mãnh liệt của người dân trong tình yêu. Đây là lời tỏ tình đầy ý nhị của cô gái. Có thể thấy đây là hình ảnh quen thuộc thường xuất hiện trong ca dao:

“Cô kia cắt cỏ bên sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang.”

– Đó là những cây cầu không có thực nhưng lịa mang đến cho người đọc vẻ đẹp rất dân gian, rất đồng quê và rồi từ đó ước muốn của cô gái trở nên độc đáo, táo bạo hơn:

“Ước gì sông rộng một gang, Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi.”

– Người con gái đã chủ động bắc cầu cho người mình yêu. Đây là một suy nghĩ rất táo bạo trong xã hội phong kiến đầy những hủ tục, những ràng buộc của lễ giáo. Cái cầu dải yếm này vừa gần gũi thân quen, táo bạo mà trữ tình, lại đằm thắm đầy nữ tính. Nó trở thành biểu tượng đẹp cho tình yêu mà chỉ có tư duy nghệ thuật dân gian mới sáng tạo ra được.

2.5. Câu 5 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1)

Bài 6

– Hình ảnh muối – gừng: được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong cuộc sống ( gia vị trong bữa ăn) tượng trưng cho tình nghĩa của con người: sự gắn bó thủy chung khi trải qua hết những “vị” của cuộc sống (Gừng cay – muối mặn)

– Giá trị biểu cảm của hình ảnh muối – gừng trong bài ca dao:

+ Là nghĩa tình chung thủy dành cho những cặp vợ chồng.

+ Nghĩa tình ấy bền vững như Muối ba năm muối đang còn mặn – Gừng chin tháng gừng hãy còn cay

+ Hương vị của gừng – muối đã thành hương vị của tình người.

+ Khẳng định lòng chung thủy sắt son, không bao giờ xa cách.

2.6. Câu 6 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1)

– Sự lặp lại cách mở đầu bài ca: Thân em như…

– Những hình ảnh thành biểu tượng trong ca dao: cái cầu, tấm khăn, ngọn đèn, gừng cay – muối mặn,…

– Hình ảnh so sánh, ẩn dụ (lấy từ trong cuộc sống đời thường: tấm lụa đào, củ ấu gai,…; lấy từ thiên nhiên, vũ trụ: mặt trời, trăng, sao).

– Thời gian và không gian nghệ thuật (bài 4).

– Thể thơ lục bát; thể văn bốn, song thất lục bát (biến thể); thể hỗn hợp.

Soạn Bài Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa (Siêu Ngắn) / 2023

Soạn bài Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa

I. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Bài 1, 2

a.

– Người than thân: cô gái trẻ

– Thân phận của họ: gian truân, long đong, lận đận, phụ thuộc vào người khác.

b.

– Bài 1: người phụ nữ – tấm lụa đào.

+ Thân phận trôi nổi, chơi vơi, mất phương hướng trong cuộc đời.

– Bài 2: người phụ nữ – củ ấu gai.

+ Lời khẳng định phẩm chất và vẻ đẹp của người con gái

+ Nỗi ngậm ngùi, chua xót cho thân phận người con gái.

Câu 2 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Bài 3

a.

– Cách mở đầu, motip dùng từ “Ai”

– Từ “ai” gợi sự than trách nghe xót xa, ngậm ngùi.

b.

– Hình ảnh ẩn dụ: mặt trăng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai (chỉ hai người xứng đôi vừa lứa).

– Biện pháp so sánh: “ta như sao vượt chờ trăng giữa trời”: khẳng định sự thủy chung, son sắt của lòng người.

c.

– Câu thơ cuối sử dụng biện pháp so sánh.

+ Lời khẳng định về tình nghĩa thủy chung, son sắt.

+ Ý chí quyết tâm vượt qua những rào cản của tình yêu.

+ Khát khao mong tình yêu có thể cập đến bến bờ hạnh phúc.

Câu 3 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Bài 4

– Thủ pháp nghệ thuật:

+ Ẩn dụ: khăn, đèn.

+ Hoán dụ: mắt.

+ Phép điệp: “Khăn thương nhớ ai”: nhấn mạnh tô đậm, nỗi nhớ.

+ Câu hỏi tư từ: “khăn thương nhớ ai?”, “Đèn thương nhớ ai?”, “Mắt thương nhớ ai?”: sự nhớ nhung, bồn chồn, trằn trọc thâu đêm.

+ Câu thơ ngắn gồm 4 tiếng kết hợp với câu lục bát nhấn mạnh sự mong ngóng, trông chờ, khắc khoải của người con gái.

Câu 4 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Bài 5

– Chiếc cầu – dải yếm trong ca dao tình yêu.

+ Lời ước muốn của cô gái và cũng là lời nói thầm với người yêu.

+ Thổ lộ ước muốn bằng một ý tưởng độc đáo, táo bạo.

– Những bài ca dao xuất hiện hình ảnh chiếc cầu cùng với ý nghĩa tương tự:

Hai ta cách một con sông

Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang

– Gừng – muối: biểu trưng cho hương vị của tình người – tình nghĩa thủy chung, gắn bó, sắt son.

– Một số bài ca dao có biểu tượng muối – gừng:

Tay nâng chén muối đĩa gừng

Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.

Câu 6 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

– Biện pháp nghệ thuật mà ca dao thường sử dụng:

+ Nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, hoán dụ.

+ Những hình ảnh (motip) mở đầu.

+ Thể thơ: lục bát, lục bát biến thể.

– Những biện pháp này có nét riêng so với nghệ thuật thơ của văn học viết:

+ Nó mang nhiều dấu ấn cộng đồng.

+ Đều quen thuộc, dễ nhận ra.

+ Thơ bác học mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ, trang trọng và quy phạm hơn.

II. Luyện tập

Câu 1 (trang 85 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

– Thân em như hạt mưa rào

Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

– Thân em như trái bần trôi

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu

– Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ dưới chợ biết vào tay ai

– Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày

– Thân em như giếng giữa đàng

Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân

Các bài ca dao mở đầu bằng “thân em…” có sắc thái ý nghĩa sau:

– Than thân, hờn trách người không biết trân trọng vẻ đẹp của người con gái.

– Tủi thân, thương cho số phận mình.

– Sự ý thức cao về giá trị và vẻ đẹp của bản thân mình.

Câu 2 (trang 85 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

-Nhớ ai như nhớ thuốc lào

Đã chôn cái điếu xuống lại đào điếu lên.

-Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai?

-Gửi khăn, gửi áo, gửi lời

Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa.

-Nhớ khi khăn mở trầu trao

Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình.

Bài ca dao Khăn thương nhớ ai nằm trong hệ thống những bài ca dao nỗi nhớ người yêu.

Câu thơ “Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” (Nguyễn Khoa Điềm) lấy ý từ ca dao nhưng khái quát lên cấp độ cao hơn khi tình cảm lứa đôi hòa quyện vào tình yêu đất nước.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Soạn Văn Lớp 10 Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa, Sgk Ngữ Văn 10 Tập 1 / 2023

Hai lời than thân đều mở đầu bằng “Thân em như…” với âm điệu xót xa, ngậm ngùi. Người than thân là ai và thân phận họ thế nào?

CA DAO THAN THÂN, YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA 1. Bài 1, 2 a) Hai lời than thân đều mở đầu bằng “Thân em như…” với âm điệu xót xa, ngậm ngùi. Người than thân là ai và thân phận họ thế nào?

Cả hai lời than thân đều của người con gái chưa có chồng.

Thân phận của họ chỉ là những người bất hạnh. Họ không thể tự quyết định được tương lai và hạnh phúc của mình. Họ có khát khao hạnh phúc nhưng phải cam chịu cuộc sống hôn nhân theo số phận định đoạt.

b) Thân phận có nét chung nhưng nỗi đau của từng người lại có những sắc thái riêng, được diễn ra bằng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ khác nhau:

“Thân em như tấm lụa đào – Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?” có ý nghĩa biểu thị nỗi đau của người con gái đẹp (được ví như tấm lụa đào) không biết sẽ phải lấy người chồng như thế nào? Đây cũng là nỗi đau của những thân phận con người bị rẻ rúng, bị coi như món hàng và càng đau xót hơn khi cô gái không thể quyết định hạnh phúc của riêng mình.

Nét đẹp của cô gái là nét đẹp quý phái, sang trọng(tấm lụa đào).

Nỗi đau của người con gái lại được biểu hiện trong hoàn cảnh không được đánh giá đúng mức chỉ vì hình thức bên ngoài xấu xí (như củ ấu). Sự trái ngược giữa hình thức với nội dung “Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen” khiến cho cô gái bị hiểu nhầm.

Nét đẹp của cô gái trong bài ca này chủ yếu nhấn mạnh vẻ đẹp nội tâm với tâm hồn nhân cách cao đẹp. Nhưng xót xa thay ít ai lại để ý đến vẻ đẹp bên trong ấy và dường như người phụ nữ bị đánh giá không đúng mực mang lại tủi cực.

2. Bài 3

a) Cách mở đầu không theo lối quen thuộc mà tình tứ hơn, có lỗi dẫn dắt khi miêu tả được khung cảnh, là cái cớ để dẫn đến những câu sau.

“Ai” là đại từ phiếm chỉ. Có thể chỉ chung tất cả mọi người, có thể chỉ đối phương. Dù từ “ai” chỉ đối tượng nào nó cũng nhằm chỉ đối tượng đã gây nên sự đau khổ tỏng tình yêu của nhân vật trữ tình.

b) Bị lỡ duyên, tình nghĩa vẫn bền vững thủy chung. Điều đó được khẳng định qua các cặp ẩn dụ. Sao Hôm, sao Mai, mặt Trăng – mặt Trời (để chỉ hai người vừa đôi phải lứa); còn thể hiện qua hình ảnh so sánh “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”, ý nói tình duyên tuy không thành nhưng lòng người vẫn đơn phương chờ đợi, vẫn mong có ngày gặp nhau.

Tác giả lấy các hình ảnh thiên nhiên vũ trụ này (sao Hôm, sao Mai, sao Vượt, mặt Trăng, mặt Trời) gắn bó với cuộc sông lao động của những chàng trai, cô gái nông thôn (trong lao động họ thường phải đi sớm, về khuya, một sương, hai nắng…) cho nên, những hình ảnh này dễ đi vào liên tưởng, suy nghĩ cảm xúc của họ. Hơn thế, những hình ảnh thiên nhiên vũ trụ này luôn vĩnh hằng, nó là biểu tượng cho tình yêu mãi mãi thủy chung, không bao giờ đổi thay.

c. Phân tích câu cuối.”Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”

– Ý nghĩa của câu cuối: Dù mình không còn nhớ đến ta, thì ta vẫn chờ đợi tình yêu của mình không bao giờ thôi, giống như sao Vượt cứ đứng giữa trời chờ đợi trăng lên.

– Vẻ đẹp của câu ca thể hiện trong hình tượng sao Vượt, cũng tức là nằm trong sự so sánh, liên tưởng độc đáo: chàng trai thấy sao Vượt (tức sao Hôm) thường mọc từ khi trời chưa tối và khi tròi mới tối xuống đã thấy sao sáng trên đỉnh trời rồi.

– Vẻ đẹp của câu ca dao còn thể hiện trong tình cảm. Tâm hồn tác giả, ở đây tác giả dân gian đã thể hiện vẻ đẹp của một tâm hồn cao thượng, với tình yêu thủy chung, son sắt, không đổi thay.

Câu 3. Bài 4

Các thủ pháp diễn tả tình thương nhớ trong bài ca dao và tác dụng của chúng:

– Ẩn dụ và hoán dụ: “Khăn thương nhớ ai… ” (Chiếc khăn là ẩn dụ gửi gắm nỗi lòng thương nhớ); “Đèn thương nhớ ai… (Chiếc đèn là ẩn dụ nói lên nỗi nhớ khôn nguôi); “Mắt thương nhớ ai… . ” (đôi mắt là hoán dụ nói lên nỗi lòng thao thức vì thương nhớ).

– Phép lặp (lặp từ ngữ và mô hình cú pháp)

Các từ thương, nhớ…được lặp lại nhiều lần, có tác dụng nhấn mạnh, tăng thêm nỗi nhớ thương. Các từ khăn, đèn, mắt cũng được lặp lại nhiều lần để tô đậm các hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ, gây dấu ấn trong lòng ngưòi đọc.

Mô hình câu:

“Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lên vai…”

– Các câu hỏi tu từ được sử dụng liên tục: “Khăn thương nhớ ai – Khăn rơi xuống đất?… Đèn thương nhớ ai – Mà đèn chẳng tắt? Mắt thương nhớ ai – Mà mắt không yên?…

Tác dụng của những câu hỏi tu từ liên tục làm cho tình cảm láy đi láy lại, hợp với tâm trạng bồn chồn, không yên vì thương nhớ.

– Những câu thơ ngắn gọn gồm 4 tiếng (hình thức văn bản) có tác dụng như một sự thôi thúc, diễn tả tâm trạng bồn chồn. Sự phối hợp với câu lục bát ở cuối càng làm nổi bật sắc thái sốt ruột trong những câu thơ bốn chữ.

4. Bài 5

Chiếc cầu – dải yếm là một mô-tip nghệ thuật chỉ có trong ca dao để nói lên ước muốn mãnh liệt của người bình dân trong tình yêu. Phân tích vẻ đẹp độc đáo của mô-tip nghệ thuật về hình ảnh chiếc cầu.

– “Chiếc cầu” có ý nghĩa tượng trưng cho sự nối liền khoảng cách tình cảm giữa con người với con người.

– “Chiếc cầu – dải yếm” là một hình tượng độc đáo trong ca dao thể hiện khát vọng tình cảm mãnh liệt của các đôi trai gái, khát vọng về kết nối tình yêu lứa đôi, xa hơn nữa đó là mong muốn được kết duyên trăm năm.

5. Bài 6

-Khi nói đến tình nghĩa, ca dao dùng hình ảnh muối và gừng vì đây là hai thứ quan trọng, gần gũi với đời sống người dân. Hơn thế, nó có những nét đặc trưng giống với tình cảm con người. Gừng là loại có vị cay để lại dư vị, muốn cũng là một loại có vị mặn. Nói chung cả hai vị đều rất cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người, và chúng đều mang đặc điểm chung là có dư vị dễ chịu. Điều đó thích hợp để ví với tình cảm có trước có sau, sâu nặng, mặn mà.

– Một số bài ca dao khác.

Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta tình nặng nghĩa dày Có xa nhau đi chăng nữa ba vạn sáu ngàn ngày mới xa Tay bưng chén muối đĩa gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau Muối càng mặn, gừng càng cay Đôi ta tình nặng nghĩa dày em ơi! 6. Những biện pháp nghệ thuật thường được dùng trong ca dao? Những biện pháp đó có gì khác với nghệ thuật thơ trong văn học viết?

a. Các biện pháp nghệ thuật thường dùng trong ca dao (qua các bài vừa học):

– Biện pháp so sánh (trong các bài 1, 2, 3)

– Biện pháp ẩn dụ (bài 2, 3, 4, 5, 6)

– Hoán dụ (bài 4)

– Nói quá (bài 5, 6)

b. Những biện pháp nghệ thuật trong ca dao có nét riêng: Lấy những sự vật gần gũi cụ thể với đời sống của người lao động để so sánh, để gọi tên, để trò chuyện như: nhện, sao, mận, đào, vườn hồng, cái đó, con sông, chiếc cầu, chiếc khăn, cái đèn, đôi mắt…Trong khi đó thơ bác học trong văn học viết sử dụng trang trọng hơn, có những nét khó hiểu hơn, uyên thâm hơn. Một bên đậm chất dân gian. Một bên mang tính chất bác học.