Top 4 # Xem Nhiều Nhất Soạn Bài Ngữ Văn 10 Bài Tỏ Lòng Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Techcombanktower.com

Soạn Bài Tỏ Lòng Trang 115 Sgk Ngữ Văn 10

Soạn bài Tỏ lòng trang 115 SGK Ngữ Văn 10

1. Hào khí Đông A. Hào khí Đông A là hào khí đời Trần (chữ Đông và chữ A trong tiếng Hán ghép lại thành chữ Trần).

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Hào khí Đông A. Hào khí Đông A là hào khí đời Trần (chữ Đông và chữ A trong tiếng Hán ghép lại thành chữ Trần).

Hào khí Đông A là hào khí đời Trần (chữ Đông và chữ A trong tiếng Hán ghép lại thành chữ Trần). Cụm thuật ngữ này từ lâu đã được dùng để chỉ cái không khí oai hùng, hào sảng của thời Trần (thời kì mà chúng ta có những chiến công lừng lẫy khi cả ba lần đều đánh tan sự xâm lược của giặc Nguyên- Mông).

Hào khí Đông A là chỉ cái khí thế hừng hực của niềm vui chiến thắng, chỉ cái khát khao mang tính thời đại mà ở đó ai ai cũng muốn góp sức dựng xây hay dang tay bảo vệ cho sự vững bền mãi mãi của non sông đất nước mình.

Hào khí Đông A từ xã hội đi vào thơ văn trở thành sự kết tinh cho những biểu hiện cao đẹp của lòng yêu nước. Có không ít tác phẩm nổi tiếng mang hơi thở của Hào khí Đông A : Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lao, Tụng giá hoàn kinh sư (Phò giá về kinh) của Trần Quang Khải, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn,…

2. Tỏ lòng là một bài thơ ngắn nh­ưng lại mang đậm dấu ấn của cả một thời (dấu ấn về âm hư­ởng của hào khí Đông A). Bài thơ là một bức tranh kì vĩ, hoành tráng bởi vẻ đẹp của hình t­ượng ngư­ời anh hùng vệ quốc hiên ngang, lẫm liệt với lí tư­ởng và nhân cách lớn lao. Bài thơ cũng là vẻ đẹp của thời đại với khí thế hào hùng mang tinh thần quyết chiến và quyết thắng.

II. SOẠN BÀI

1. So sánh câu thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán với câu thơ dịch, ta thấy hai từ “múa giáo” chư­a thể hiện đư­ợc hết ý nghĩa của hai từ “hoành sóc”. “Hoành sóc” là cầm ngang ngọn giáo mà trấn giữ non sông. Từ ý nghĩa lẫn âm hư­ởng, từ “hoành sóc” đều tạo ra cảm giác kì vĩ và lớn lao hơn.

Trong câu thơ đầu này, con ngư­ời xuất hiện trong bối cảnh không gian và thời gian đều rộng lớn. Không gian mở theo chiều rộng của núi sông và mở lên theo chiều cao của sao Ngư­u thăm thẳm. Thời gian không phải đo bằng ngày bằng tháng mà đo bằng năm, không phải mới một năm mà đã mấy năm rồi (cáp kỉ thu). Con ngư­ời cầm cây tr­ường giáo (cũng đo bằng chiều ngang của non sông), lại đư­ợc đặt trong một không gian, thời gian như­ thế thì thật là kì vĩ. Con ng­ười hiên ngang ấy mang tầm vóc của con ng­ười vũ trụ, non sông.

2. Câu thơ “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” có hai cách hiểu : Thứ nhất, ta có thể hiểu là “ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”. Nhưng cũng có thể giải thích theo cách khác, với cách hiểu là: Ba quân hùng mạnh khí thế át sao Ngưu. Có thể nói quân đội nhà Trần mạnh cả về trí và lực, không những nó có được đầy đủ binh hùng tướng mạnh mà còn có những vị đại tướng quân trí dũng song toàn (như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật…). Vì thế thật không quá khoa trương khi nói: cái khí thế ấy đúng là đủ sức làm đổi thay trời đất.

3. Tỏ lòng là bài thơ nói chí. Đó là cái chí của những bậc nam nhi trong thiên hạ. Chính vì thế, món “nợ công danh” mà nhà thơ nói đến ở đây vừa là khát vọng lập công, lập danh (mong để lại tiếng thơm, sự nghiệp cho đời) vừa có ý “ch­ưa hoàn thành nghĩa vụ đối với dân, với nước”. Theo quan niệm lí tưởng của trang nam nhi thời phong kiến thì công danh đư­ợc coi là một món nợ đời phải trả. Trả xong nợ công danh mới hoàn thành nghĩa vụ với đời, với dân, với nư­ớc. Ở phần cuối của bài thơ, tác giả vẫn “thẹn” vì mình ch­a đ­ược như­ Vũ Hầu Gia Cát Lư­ợng, nghĩa là vẫn muốn lập công lập danh để giúp nư­ớc giúp đời.

4. Trong câu thơ cuối, nỗi “thẹn” đã thể hiện vẻ đẹp nhân cách của ngư­ời anh hùng. Phạm Ngũ Lão “thẹn” vì chư­a có đ­ược tài năng m­ưu l­ược như­ Vũ Hầu Gia Cát Lư­ợng (Khổng Minh – đời Hán) để giúp dân cứu nư­ớc, thẹn vì trí và lực của mình thì có hạn mà nhiệm vụ khôi phục giang sơn, đất nư­ớc còn quá bộn bề. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão cũng là những day dứt của Nguyễn Trãi hay của Nguyễn Khuyến sau này. Đó là những nỗi thẹn có giá trị nhân cách – nỗi thẹn của những con ngư­ời có trách nhiệm với đất n­ước, non sông.

5. Ngư­ời xư­a nói “Quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách”. Câu nói ấy quả rất đúng với tinh thần của bài thơ “Tỏ lòng”. Đọc những dòng thơ hào hùng khí thế, ta có thể cảm nhận rât rõ vẻ đẹp sức vóc và ý chí của những trang nam nhi thời đại nhà Trần. Âm h­ưởng anh hùng ca của thời đại do những con ngư­ời ấy tạo nên và cũng chính âm h­ưởng ấy tôn lên vẻ đẹp anh hùng của họ. Họ đã từ bỏ lối sống tầm th­ường, ích kỉ, để sẵn sàng chiến đấu và hy sinh cho sự nghiệp cứu n­ước, cứu dân. Tinh thần và ý chí ngoan cư­ờng của những con ng­ười ấy sẽ vẫn mãi là lí t­ưởng cho nghị lực và sự phấn đấu của tuổi trẻ hôm nay và mai sau.

“Tỏ lòng’ khắc họa vẻ đẹp của người anh hùng có sức mạnh, lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại Anh/chị hãy làm rõ ý kiến trên qua bài thơ Tỏ lòng của nhà thơ Phạm Ngũ Lão.

1. Xác định thể loại bài viết: phân tích – chứng minh.

2. Nội dung: vẻ đẹp của người anh hùng trong bài thơ “Tỏ lòng”. Anh/chị cần phân tích rõ vẻ đẹp ấy qua các hình ảnh:

– Tầm vóc, tư thế, hành động, lớn lao, kì vĩ.

– Chí công lập công danh trong sự nghiệp cứu nước, cứu dân. Cái tâm mang giá trị nhân cách, nỗi “thẹn” tôn lên vẻ đẹp con người.

– Khí thế hào hùng mang tinh thần quyết chiến, quyết thắng

Từ phân tích làm sáng tỏ được nhận xét; đó là vẻ đẹp của người anh hùng có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thể hào hùng của thời đại.

3. HS biết lấy thêm dẫn chứng từ một số tác phẩm cùng thòi để làm nổi bật nội dung trên. Đồng thòi chú ý cách diễn đạt qua câu, chữ.

chúng tôi

Giáo Án Bài Tỏ Lòng Ngữ Văn 10

Giáo án điện tử Ngữ văn 10

Giáo án bài Tỏ lòng – môn Ngữ văn lớp 10

Giáo án bài Tỏ lòng Ngữ văn 10 được chọn lọc kỹ càng, chi tiết giúp các em học sinh hiểu được hào khí Đông A thể hiện ở bài thơ, các vẻ đẹp ngôn ngữ cô đọng hàm xúc trong bài thơ. Mời quý thầy cô và các bạn tham khảo và tải giáo án miễn phí.

TỎ LÒNG(Thuật hoài) – Phạm Ngũ Lão

Cảm nhận được vẻ đẹp của con người và thời đại nhà Trần, thế kỉ XIII qua hình tượng trang nam nhi với lí tưởng và nhân cách lớn lao, sức mạnh và khí thế hào hùng- hào khí Đông A.

Sự nghiệp công danh của cá nhân thống nhất với sự nghiệp chung, sự nghiệp cứu nước, cứu dân.

Nghệ thuật thơ: hàm súc, xây dựng hình tượng nhân vật trữ tình lớn lao, mang tầm vóc sử thi.

Có ý thức về bản thân, rèn ý chí, biết ước mơ và nỗ lực hết mình để thực hiện ước mơ đó để hoàn thiện bản thân.

* Giới thiệu bài mới: (1). Nội dung chủ đạo của VHTĐVN giai đoạn từ thế kỉ X-XIV là nội dung yêu nước với âm hưởng hào hùng. Âm hưởng đó được thể hiện rõ trong những tác phẩm VH đời Trần. Hào khí Đông A cuộn trào trong lời Hịch tướng sĩ vang dậy núi sông của Trần Hưng Đạo, khúc khải hoàn ca đại thắng Phò giá về kinh của Trần Quang Khải, áng văn vô tiền khoáng hậu Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu,… và cả trong lời Tỏ lòng của kẻ làm trai thời loạn- Phạm Ngũ Lão. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu nỗi lòng của bậc võ tướng toàn tài, người con của làng Phù Ủng ấy.

Khi giặc Nguyên – Minh sang xâm chiếm nước ta thế của chúng rất mạnh, vua Trần phái quan quân trong triều đi tìm người tài giỏi giúp đất nước. Trên đường tới làng Phù Ủng huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên, Quan quân gặp một người đan sọt giữa đường. Quân lính quát người ấy không nói gì, quân lĩnh đâm mũi giáo vào đùi không hề nhúc nhích. Biết là người có chí khí, khi được hỏi tại sao không tránh. Người ấy thưa đang mải nghĩ cách đánh giặc Nguyên. Người ấy chính là Phạm Ngũ Lão tác giả bài ” Tỏ Lòng”.

Soạn Bài Tỏ Lòng Ngữ Văn 10 Đầy Đủ Hay Nhất

Hình tượng người anh hùng trong thơ ca trung đại Việt Nam hiện lên với vẻ đẹp kỳ vĩ với những hình ảnh to lớn, mang tầm vóc hiên ngang, lẫm liệt. Hôm nay, chúng ta sẽ được tìm hiểu một tác phẩm như thế qua bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão. Bài thơ miêu tả vẻ đẹp thời đại với sức mạnh và khí thế hào hùng của những người chiến sĩ trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên. Qua bài thơ, ta sẽ cảm nhận hết được một sức mạnh của thời đại của quân và dân ta, cảm nhận hết được hào khí Đông A đã làm lên lịch sử. Mình sẽ hướng dẫn các bạn soạn bài Tỏ lòng Ngữ văn 10 tập 1 để thấy được vẻ đẹp của con người với sức mạng và lí tưởng, khí thế hào hùng của con người trong giai đoạn này.

SOẠN BÀI TỎ LÒNG NGỮ VĂN 1 TẬP 1

I. Tìm hiểu bài Tỏ lòng Ngữ văn 10 tập 1

1. Tác giả

Phạm Ngũ Lão (1255 -1320) là người có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên. Ông không chỉ là một võ tướng mà còn là một nhà thơ, ông thích đọc sách, ngâm thơ và được người đời ca ngợi là người văn võ song toàn.

2. Tác phẩm

Bài thơ Tỏ lòng là tác phẩm đầu tay của ông. Nó là một trong hai bài thơ của ông còn lưu lại tới ngày nay.

II. Hướng dẫn soạn bài Tỏ lòng Ngữ văn 10 tập 1

1. Câu 1 trang 116 SGK Ngữ văn 10 tập 1

Điểm khác nhau giữa câu thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán và câu thơ dịch là:

Trong câu thơ đầu “hoành sóc” chỉ tư thế hiên ngang của người chiến sĩ khi cầm ngang ngọn giáo bảo vệ đất nước. Trong câu thơ dịch hai từ “múa giáo” chưa thể hiện được hết ý nghĩa của câu thơ.

Không gian trong bài thơ nguyên tác “giang sơn” trong một bối cảnh về thời gian “kháp kỷ thu”, không gian rộng lớn, thời gian như trải dài vô tận, làm cho hình ảnh người chiến sĩ hiện lên với một vẻ đẹp kỳ vĩ, mang tầm vóc lịch sử. Vẻ đẹp của con người không chỉ toát lên từ hình dáng bên ngoài mà nó còn được bộc lộ từ khí chất bên trong. Cầm ngang ngọn giáo là tư thế con người luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, so với phần dịch “múa giáo” thì hình ảnh đó mạnh mẽ, hào hùng hơn nhiều.

2. Câu 2 trang 116 SGK Ngữ văn 10 tập 1

Cảm nhận về sức mạnh của quân đội thời Trần qua câu thơ: “Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”

Thứ nhất: Ta có thể hiểu đó là sức mạnh và ý chí chiến đấu của quân và dân nhà Trần mang một sức mạnh như hổ báo – không gì có thể ngăn cản được, sức mạnh ấy được so sánh với “nuốt trôi trâu”.

Thứ hai: Ta có thể hiểu sức mạnh và ý chí của quân và dân nhà Trần mang một sức mạnh của vũ trụ, sức mạnh ấy có thể được so sánh như át cả sao Ngưu trên bầu trời – sức mạnh của vũ trụ rộng lớn, có thể thay đổi cả giang san đất nước.

3. Câu 3 trang 116 SGK Ngữ văn 10 tập 1

“Nợ” công danh mà tác giả nói tới trong bài thơ có thể hiểu theo đó là chí làm trai của người quân tử theo quan điểm của Nho giáo. Người nam nhi theo quan điểm đó phải lập được công danh, mang lại tiếng thơm cho đời, đó là “món nợ” của người làm trai theo quan điểm Nho giáo. Trong giai đoạn lịch sử, khi đất nước đang bị quân Nguyên – Mông xâm chiếm thì người “nam nhi” mang có trách nhiệm bảo vệ đất nước, hoàn thành nghĩa vụ bảo vệ non sông là một trong những món “nợ” mà người làm trai phải gánh vác.

4. Câu 4 trang 116 SGK Ngữ văn 1 tập 1

Nỗi “thẹn” trong câu thơ cuối đó chính là nỗi hổ thẹn của người anh hùng khi mình không có được những chiến công hiển hách, mưu lược tài ba như Vũ Hầu Gia Cát Lượng. “Thẹn” vì tài năng, trí lực của bản thân không thể so sánh, có hạn để đem ra giúp dân, giúp nước. Đó là những nỗi thẹn của một người có giá trị nhân cách lớn – của những con người có trách nhiệm với đất nước, non sông.

5. Câu 5 trang 116 SGK Ngữ văn 10 tập 1

Qua bà thơ Tỏ lòng, ta thấy hình ảnh nam nhi thời Trần mang vẻ đẹp của thời đại, của ý chí chiến đấu chống giặc ngoại xâm, ý chí đó có thể sáng ngang cùng với vũ trụ, mang tầm vóc và hào khí Đông A. Chính ý chí và lòng quyết tâm đó đã mang đến một sức mạnh không gì có thể ngăn cản được tạo ra một sức mạnh thời đại.

Thế hệ trẻ hôm nay học được ở bài thơ cách sống hết mình và cách cống hiến hết mình của người đời xưa cho công cuộc xây dựng, bảo vệ đật nước. Con người đời xưa sống hết mình cho dân cho nước, hết lòng ước mơ cống hiến để đem lại cuộc sống an vui, thái bình cho nhân dân. Lí tưởng sống cao đẹp của họ là điều mà thế hệ trẻ hôm nay nên vươn tới.

Nguồn Internet

Soạn Bài Lớp 10: Tỏ Lòng Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 10 Học Kì I

Soạn bài lớp 10: Tỏ lòng Soạn bài môn Ngữ văn lớp 10 học kì I

Soạn bài: Tỏ lòng

Giáo án bài Tỏ lòng Ngữ văn 10 Soạn bài lớp 10: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Soạn bài lớp 10: Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX

TỎ LÒNG(Thuật hoài)PHẠM NGŨ LÃO

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Hào khí Đông A

Hào khí Đông A là hào khí đời Trần (chữ Đông và chữ A trong tiếng Hán ghép lại thành chữ Trần). Cụm thuật ngữ này từ lâu đã được dùng để chỉ cái không khí oai hùng, hào sảng của thời Trần (thời kì mà chúng ta có những chiến công lừng lẫy khi cả ba lần đều đánh tan sự xâm lược của giặc Nguyên- Mông).

Hào khí Đông A là chỉ cái khí thế hừng hực của niềm vui chiến thắng, chỉ cái khát khao mang tính thời đại mà ở đó ai ai cũng muốn góp sức dựng xây hay dang tay bảo vệ cho sự vững bền mãi mãi của non sông đất nước mình.

Hào khí Đông A từ xã hội đi vào thơ văn trở thành sự kết tinh cho những biểu hiện cao đẹp của lòng yêu nước. Có không ít tác phẩm nổi tiếng mang hơi thở của Hào khí Đông A: Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lao, Tụng giá hoàn kinh sư (Phò giá về kinh) của Trần Quang Khải, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn,…

2. Tỏ lòng là một bài thơ ngắn nhưng lại mang đậm dấu ấn của cả một thời (dấu ấn về âm hưởng của hào khí Đông A). Bài thơ là một bức tranh kì vĩ, hoành tráng bởi vẻ đẹp của hình tượng người anh hùng vệ quốc hiên ngang, lẫm liệt với lí tưởng và nhân cách lớn lao. Bài thơ cũng là vẻ đẹp của thời đại với khí thế hào hùng mang tinh thần quyết chiến và quyết thắng.

II. RÈN KĨ NĂNG

1. So sánh câu thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán với câu thơ dịch, ta thấy hai từ “múa giáo” chưa thể hiện được hết ý nghĩa của hai từ “hoành sóc”. “Hoành sóc” là cầm ngang ngọn giáo mà trấn giữ non sông. Từ ý nghĩa lẫn âm hưởng, từ “hoành sóc” đều tạo ra cảm giác kì vĩ và lớn lao hơn.

Trong câu thơ đầu này, con người xuất hiện trong bối cảnh không gian và thời gian đều rộng lớn. Không gian mở theo chiều rộng của núi sông và mở lên theo chiều cao của sao Ngưu thăm thẳm. Thời gian không phải đo bằng ngày bằng tháng mà đo bằng năm, không phải mới một năm mà đã mấy năm rồi (cáp kỉ thu). Con người cầm cây trường giáo (cũng đo bằng chiều ngang của non sông), lại được đặt trong một không gian, thời gian như thế thì thật là kì vĩ. Con người hiên ngang ấy mang tầm vóc của con người vũ trụ, non sông.

2. Câu thơ “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” có hai cách hiểu: Thứ nhất, ta có thể hiểu là “ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”. Nhưng cũng có thể giải thích theo cách khác, với cách hiểu là: Ba quân hùng mạnh khí thế át sao Ngưu. Có thể nói quân đội nhà Trần mạnh cả về trí và lực, không những nó có được đầy đủ binh hùng tướng mạnh mà còn có những vị đại tướng quân trí dũng song toàn (như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật…). Vì thế thật không quá khoa trương khi nói: cái khí thế ấy đúng là đủ sức làm đổi thay trời đất.

3. Tỏ lòng là bài thơ nói chí. Đó là cái chí của những bậc nam nhi trong thiên hạ. Chính vì thế, món “nợ công danh” mà nhà thơ nói đến ở đây vừa là khát vọng lập công, lập danh (mong để lại tiếng thơm, sự nghiệp cho đời) vừa có ý “chưa hoàn thành nghĩa vụ đối với dân, với nước”. Theo quan niệm lí tưởng của trang nam nhi thời phong kiến thì công danh được coi là một món nợ đời phải trả. Trả xong nợ công danh mới hoàn thành nghĩa vụ với đời, với dân, với nước. Ở phần cuối của bài thơ, tác giả vẫn “thẹn” vì mình ch­a được như Vũ Hầu Gia Cát Lượng, nghĩa là vẫn muốn lập công lập danh để giúp nước giúp đời.

4. Trong câu thơ cuối, nỗi “thẹn” đã thể hiện vẻ đẹp nhân cách của người anh hùng. Phạm Ngũ Lão “thẹn” vì chưa có được tài năng mưu lược như Vũ Hầu Gia Cát Lượng (Khổng Minh – đời Hán) để giúp dân cứu nước, thẹn vì trí và lực của mình thì có hạn mà nhiệm vụ khôi phục giang sơn, đất nước còn quá bộn bề. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão cũng là những day dứt của Nguyễn Trãi hay của Nguyễn Khuyến sau này. Đó là những nỗi thẹn có giá trị nhân cách – nỗi thẹn của những con người có trách nhiệm với đất nước, non sông.

5. Người xưa nói “Quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách”. Câu nói ấy quả rất đúng với tinh thần của bài thơ “Tỏ lòng”.

Đọc những dòng thơ hào hùng khí thế, ta có thể cảm nhận rât rõ vẻ đẹp sức vóc và ý chí của những trang nam nhi thời đại nhà Trần. Âm hưởng anh hùng ca của thời đại do những con người ấy tạo nên và cũng chính âm hưởng ấy tôn lên vẻ đẹp anh hùng của họ. Họ đã từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, để sẵn sàng chiến đấu và hy sinh cho sự nghiệp cứu nước, cứu dân. Tinh thần và ý chí ngoan cường của những con người ấy sẽ vẫn mãi là lí tưởng cho nghị lực và sự phấn đấu của tuổi trẻ hôm nay và mai sau.