Top 8 # Xem Nhiều Nhất Soạn Bài Ánh Trăng Cực Ngắn Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Techcombanktower.com

Soạn Bài Ánh Trăng Siêu Ngắn

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Trả lời câu 1 (trang 157 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

– Bố cục (3 phần)

+ Phần 1 ( hai khổ thơ đầu): Cảm nghĩ về vầng trăng trong quá khứ.

+ Phần 2 (hai khổ tiếp): Cảm nghĩ về vầng trăng trong hiện tại.

+ Phần 3 (hai khổ cuối): Suy ngẫm của tác giả về trăng.

– Nhận xét: bố cục bài thơ diễn ra theo trình tự thời gian, sự việc nào diễn ra trước kể trước, sự việc nào diễn ra sau kể sau.

– Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng lớp ý nghĩa:

+ Vầng trăng của thiên nhiên.

+ Biểu tượng cho quá khứ đẹp đẽ.

Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 157 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

+ Trăng là biểu tượng cho tình nghĩa, cho tình cảm gắn bó.

– Khổ thơ cuối thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng của tác phẩm. Con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng vầng trăng nghĩa tình, quá khứ thì luôn tròn đầy, nguyên vẹn và bất diệt. Ánh trăng như muốn nhắc nhở con người về quá khứ thiêng liêng, về sự bội bạc.

– Hai khổ thơ đầu: hình ảnh vầng trăng trong quá khứ.

Câu 4 Trả lời câu 4 (trang 157 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

– Hai khổ thơ sau: suy ngẫm của tác giả như một sự hối hận, tự vấn.

– Giọng điệu tâm tình, nhịp thơ khi tuôn chảy tự nhiên, nhịp nhàng theo nhịp kể, khi ngân nga, khi trầm lắng suy tư.

ND chính

– Bài thơ được viết năm 1978, sau hòa bình ba năm.

chúng tôi

– Chủ đề: bài thơ không chỉ là chuyện của riêng nhà thơ mà có ý nghĩa đối với cả một thế hệ bởi vì nó đặt ra vấn đề về thái độ với quá khứ, với người đã khuất, với cả chính mình.

Với tôi trăng như người bạn tri kỉ cùng tôi đi qua những năm tháng cuả tuổi thơ. Ngày ấy, tôi và trăng rất gần gũi, hồn nhiên, vô tư với nhau. Khi lớn lên, tôi tham gia chiến tranh, trăng cũng theo tôi vào ở rừng. Trong những ngày tháng gian lao ấy, trăng đã trở thành người bạn đồng hành cùng tôi qua những thăng trầm cuộc đời. Rồi hòa bình lập lại, tôi trở về thành phố với cuộc sống hiện đại, tiên nghi. Đắm chìm trong cuộc sống ấy, tôi vô tình đã lãng quên vầng trăng và quên đi cả lời hứa năm xưa của mình. Tôi đã quay lưng lại với vầng trăng, quay lưng lại với quá khứ, với thiên nhiên và chính mình. Trong một lần mất điện, tôi đã gặp lại vầng trăng. Trăng vẫn thế, vẫn tròn đầy, thủy chung và không trách cứ tôi nhưng tôi thấy thật ăn năn và hối hận vì sự vô tâm, bạc bẽo của mình.

Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ sống ” Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương.

Soạn Bài Thơ Ánh Trăng Ngắn Nhất

– Nguyễn Duy sinh năm 1948, tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, quê ở thành phố Thanh Hóa. – 1966, ông gia nhập quân đội, vào binh chủng Thông tin, tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường. – Sau năm 1975, ông chuyển về làm báo Văn nghệ giải phóng. Từ năm 1977, Nguyễn Duy là đại diện thường trú báo Văn nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh. – Nguyễn Duy thuộc thế hệ các nhà thơ quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc và trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu. – Thơ ông gần gũi với văn hóa dân gian, nhưng sâu sắc mà rất đỗi tài hoa, đi sâu vào cái nghĩa, cái tình muôn đời của con người Việt Nam.

” Thơ Nguyễn Duy sâu lắng, thắm thiết cái hồn cái vía của ca dao, dân ca Việt Nam. Những bài thơ của ông không cố gắng tìm kiếm những hình thức mới mà đi sâu vào cái nghĩa cái tình muôn đời của con người Việt Nam. Ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy cũng không bóng bẩy mà gần gũi, dân dã, đôi khi hơi “bụi”, phù hợp với ngôn ngữ thường nhật”. (Theo “Văn lớp 9 không khó như bạn nghĩ”).

– Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. – Tác phẩm tiêu biểu: Cát trắng (1973), Mẹ và em (1987), Đường xa (1990), Về (1994)…

2. Tác phẩm:

– Nguyễn Duy viết bài thơ “Ánh trăng” vào năm 1978, tại thành phố Hồ Chí Minh – nơi đô thị của cuộc sống tiện nghi hiện đại, nơi những người từ trận đánh trở về đã để lại sau lưng cuộc chiến gian khổ mà nghĩa tình. – In trong tập thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy – tập thơ đạt giải A của Hội nhà Văn Việt Nam năm 1984.

– Hai khổ đầu: Vầng trăng trong quá khứ. – Hai khổ tiếp: Vầng trăng trong hiện tại. – Hai khổ cuối: Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng.

c. Mạch cảm xúc:

Bài thơ là câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại gắn với các mốc sự kiện trong cuộc đời con người. Theo dòng tự sự ấy mạch cảm xúc đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái “giật mình” cuối bài thơ.

d. Chủ đề:

Thông qua hình tượng nghệ thuật “Ánh trăng” và cảm xúc của nhà thơ, bài thơ đã diễn tả những suy ngẫm sâu sắc về thái độ của con người đối với quá khứ gian lao, tình nghĩa.

– Hoàn cảnh sống:

+ Đất nước hòa bình. + Hoàn cảnh sống thay đổi: xa rời cuộc sống giản dị của quá khứ, con người được sống sung túc trong “ánh điện cửa gương” – cuộc sống đầy đủ, tiện nghi, khép kín trong những căn phòng hiện đại, xa rời thiên nhiên.

– “Vầng trăng đi qua ngõ – như người dưng qua đường”:

– Con người gặp lại vầng trăng trong một tình huống bất ngờ:

– Từ “mặt” được dùng với nghĩa gốc và nghĩa chuyển – mặt trăng, mặt người – trăng và người cùng đối diện đàm tâm.

– Với tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” người đọc cảm nhận sự lặng im, thành kính và trong phút chốc cảm xúc dâng trào khi gặp lại vầng trăng: “có cái gì rưng rưng”. Rưng rưng của những niềm thương nỗi nhớ, của những lãng quên lạnh nhạt với người bạn cố tri; của một lương tri đang thức tỉnh sau những ngày đắm chìm trong cõi u mê mộng mị; rưng rưng của nỗi ân hận ăn năn về thái độ của chính mình trong suốt thời gian qua. Một chút áy náy, một chút tiếc nuối, một chút xót xa đau lòng, tất cả đã làm nên cái “rưng rưng”, cái thổn thức trong sâu thẳm trái tim người lính.

– Và trong phút giây nhân vật trữ tình nhìn thẳng vào trăng – biểu tượng đẹp đẽ của một thời xa vắng, nhìn thẳng vào tâm hồn của mình, bao kỉ niệm chợt ùa về chiếm trọn tâm tư. Kí ức về quãng đời ấu thơ trong sáng, về lúc chiến tranh máu lửa, về cái ngày xưa hồn hậu hiện lên rõ dần theo dòng cảm nhận trào dâng, “như là đồng là bể, như là sông là rừng”. Đồng, bể, sông, rừng, những hình ảnh gắn bó nơi khoảng trời kỉ niệm.

– Hình ảnh “trăng cứ tròn vành vạnh” là tượng trưng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung, đầy đặn, bao dung, nhân hậu.

– Hình ảnh “ánh trăng im phăng phắc” mang ý nghĩa nghiêm khắc nhắc nhở, là sự trách móc trong lặng im. Chính cái im phăng phắc của vầng trăng đã đánh thức con người, làm xáo động tâm hồn người lính năm xưa. Con người “giật mình” trước ánh trăng là sự bừng tỉnh của nhân cách, là sự trở về với lương tâm trong sạch, tốt đẹp. Đó là lời ân hận, ăn năn day dứt, làm đẹp con người.

1. Nội dung:

– Bài thơ là một lời tự nhắc nhở của tác giả về những năm tháng gian lao của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. – Gợi nhắc, củng cố ở người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ.

2. Nghệ thuật:

– Thể thơ 5 chữ, phương thức biểu đạt tự sự kết hợp với trữ tình. – Giọng thơ mang tính tự bạch, chân thành sâu sắc. – Hình ảnh vầng trăng – “ánh trăng” mang nhiều tầng ý nghĩa

Soạn Bài Ánh Trăng Lớp 9 Ngắn Gọn

Hướng dẫn soạn bài Ánh trăng của Nguyễn Duy trong chương trình Ngữ văn 9 ngắn gọn

Con người đã dần quên lãng vầng trăng trong thời bình.

Nguyễn Duy là một trong những nhà thơ trẻ tiêu biểu thuộc giai đoạn chống Mỹ cứu nước. Ông từng là bộ đội của binh chủng Thông tin và hoạt động cách mạng rất sôi nổi. Một trong những sáng tác tiêu biểu nhất của ông phải kể đến là tập thơ Ánh trăng. Tác phẩm này đã đoạt giải thưởng hạng A do Hội nhà văn Việt Nam trao tặng. Bài thơ Ánh trăng đã khắc họa lại những hình ảnh khó khăn, gian khổ trong thời kì kháng chiến của người lính gắn bó với vẻ đẹp bình dị, mộc mạc của thiên nhiên. Để tìm hiểu rõ hơn về nội dung cũng như giá trị của bài học, Vforum sẽ hướng dẫn các em soạn bài Ánh trăng trong chương trình Ngữ văn 9 một cách ngắn gọn nhất.

Bố cục bài thơ chia làm 3 phần:

Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng ý nghĩa, điều này được thể hiện qua: – Dù trăng là một phần của thiên nhiên nhưng trăng vẫn mang ánh sáng chiếu xuống thế gian. – Trăng gắn bó với con người như một người bạn tri kỉ, luôn dõi theo, chia sẻ mọi buồn vui. – Trăng làm gợi nhớ lại những kí ức tuổi thơ thật ngọt ngào. – Trăng thể hiện sự thủy chung. Khổ thơ thể hiện tập trung ý nghĩa biểu tượng của vầng tăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triết lí của tác phẩm là khổ thơ cuối. Đó như là lời oán trách của trăng đối với con người. Con người đã vô tình quên đi ánh trăng, quên đi những gian khổ khi đã có cuộc sống sung túc, đầy đủ.

Trả lời:

Kết cấu của bài thơ được tác giả thể hiện theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại. Con người vô tình quên lãng ánh trăng khi có được cuộc sống yên bình, đầy đủ, sung túc và lần gặp lại ánh trăng khi cúp điện khiến tác giả cảm thấy ngỡ ngàng, bất ngờ. Dù bài thơ mang kết cấu, giọng điều đơn giản, mộc mạc nhưng mang lại triết lí sâu xa, khiến chúng ta phải xem lại chính bản thân mình.

Giọng điều bài thơ đã đi qua nhiều cung bậc cảm xúc từ nhẹ nhàng đến bất ngờ, ngỡ ngàng và sau đó là suy tư, trầm lắng, cảm động.

Trả lời:

Bài thơ được viết trong thời điểm đất nước đã hòa bình được 3 năm, tức vào năm 1978. Tác giả Nguyễn Duy nhập ngũ vào năm 1966 và phục vụ 10 năm đến 1975 thì xuất ngũ. Trong 10 năm ấy, Nguyễn Duy đã có nhiều kỉ niệm gắn bó đời người lính, chúng đã trở thành những kỉ niệm vô giá đối với riêng tác giả.

Chủ đề bài thơ như muốn khắc họa lại một phần trước đây của thời kì chiến tranh rất gian lao, khổ nhọc. Và trong thời đại này, khi đã được ấm no, đầy đủ thì những thế hệ trẻ cần phải biết ghi nhớ công ơn của ông cha ta đã xây dựng, bảo vệ đất nước. Bài thơ cũng thể hiện được truyền thống của Việt Nam: Uống nước nhớ nguồn.

Soạn Bài Ánh Trăng Lớp 9

SOẠN BÀI ÁNH TRĂNG LỚP 9.

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Nguyễn Duy sinh năm 1948 tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ. Quê ở Đông Vệ, Thanh Hóa.

Năm 1966, ông gia nhập quân đội, vào binh chủng Thông tin, tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường. SAu 1975, ông chuyển về làm báo Văn nghệ giải phóng. Từ 1977, Nguyễn Duy là đại diện thường trú báo Văn nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Ông được trao giải Nhất cuộc thi của báo Văn nghệ năm 1972 – 1973. Trở thành gương mặt tiêu bieru trong lớp nhà thơ trẻ tuổi thời chống Mĩ cứu nước và tiếp tục bền bỉ sáng tác

2. Tác phẩm

Tập thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy được tặng giải A của Hội nhà văn Việt Nam năm 1984. Bài thơ “Ánh trăng” trích từ tập ầy và được sáng tác năm 1978 ở Thành phố Hồ Chí Minh.

II. Hướng dẫn soạn bài Ánh trăng đọc hiểu chi tiết

Câu 1 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

Nhận xét bố cục: Bố cục bài thơ đi theo trình tự từ quá khứ đến hiện tại như một câu chuyện bao gồm 3 phần:

Phần 1 (2 khổ đầu): thời quá khứ trăng cùng người gắn bó

Phần 2 (2 khổ giữa): thời hiện tại con người bội bạc với vầng trăng

Phần 3 (2 khổ cuối): sự ăn năn của con người khi gặp lại vầng trăng tình nghĩa

Câu 2 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang những tầng nghĩa sau:

Là thiên nhiên tươi đẹp: trăng vừa là trăng nhưng đồng thời trăng cũng là sông, là bể, là đồng, là thiên nhiên bao dung gần gũi, gắn bó với cuộc sống con người như một phần không thể thiếu

Là tuổi thơ ngọt ngào: trăng là biểu tượng cho quá khứ, cái thời còn được ngụp lặn trong dòng sông tuổi thơ, được “trần trụi với thiên nhiên, hồn nhiên như cây cỏ”

Là quá khứ của thời chiến đấu: đó là thời ” hồi chiến tranh ở rừng” trăng và người gắn bó thân thiết, quan hệ thân tình khăng khít, mấy ai có thể quên

Là tình nghĩa thủy chung: đây là điều được tập trung thể hiện ở khổ thơ cuối bài, nó làm cho bài thơ có chiều sâu về triết lí và tư tưởng

“Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình”

Câu 3 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

Tác phẩm có kết cấu độc đáo. Bài thơ như một chuyện nhỏ, phát triển theo thời gian. Quá khứ hồn nhiên, trần trụi với thiên nhiên, thân thiết với vầng trăng. Hiện tại, về thành phố sống với các tiện nghi, cửa gương, điện sáng. Vầng trăng bị lu mờ coi như người dưng qua đường. Nhờ mất điện mà gặp lại vầng tẳng, giật mình về thái độ sống vô tình của mình. Chính sự giật mình là một yếu tố quan trọng. nó là sự bừng thức để soi lại bản thân, xét lại cách sống vô tình, dửng dưng quay lưng với quá khứ tốt đẹp, tình nghĩa.

Giọng điệu tâm tình bằng thể thơ năm chữ, nhịp thơ khi tuôn chảy tự nhiên, nhịp nhàng theo nhịp kể, khi ngân nga, khi trầm lắng suy tư. Tất cả những điều đó góp phần quan trọng trong việc bộc lộ những cảm xúc sâu sa của một người lính khi nghĩ về chiến tranh về quá khứ.

Câu 4 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

Thời điểm ra đời của bài thơ: căn cứ nội dung bài thơ ta có thể xác định được thời điểm bài thơ ra đời là khoảng thời gian gần sau đại thắng 1975

III. Luyện tập bài Ánh trăng

Câu 1 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

Đọc diễn cảm bài thơ

Câu 2 trang 157 SGK ngữ văn 9 tập 1:

Gợi ý: sử dụng ngôi kể hợp lí và diễn cảm bằng cảm xúc chân thật và logic với mạch trong bài.

Nguồn Internet