Top 17 # Xem Nhiều Nhất Soạn Bài 6 Ngữ Văn 7 / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Techcombanktower.com

Soạn Bài Nói Quá Ngữ Văn 7 / 2023

Soạn bài Nói quá Ngữ văn 7

Bài làm

I- Nói quá và tác dụng của nói quá

1. Người ta nói

Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng

Ngày tháng mười chưa cười đã tối

Hay Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày là quá sự thật.

+ Thực chất, ta biết được câu tục ngữ này muốn nhấn mạnh tới sự đối lập về thời gian hai mùa trong năm đó chính là về mùa hè – mùa đông.

+ Hai câu trên cũng đã khuyên chúng ta cần biết trân trọng thời gian, biết cách sắp xếp hợp lývào những công việc của mình.

2. Chính cách nói cường điệu có tác dụng nhấn mạnh, dường như cũng đã lại gây ấn tượng tới điều được nói tới.

Luyện tập

Bài 1 (Sách giáo khoa trang 102 Ngữ văn 8 tập 1) Tìm biện pháp nói quá và giải thích ý nghĩa của chúng trong các ví dụ sau

a, Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

– Câu nói này nói quá nhấn mạnh vai trò của những sức lao động con người có thể cải tạo tự nhiên mang lại nguồn sống cho chính con người.

b, Em có thể đi lên tới tận trời được

– Câu này nói quá nhằm khẳng định không ngại khó, không ngại khổ gì cả

c, cụ bà thét ra lửa

– Trong trường hợp này nói quá thể hiện nhân vật bà cụ có thế lực và cũng lại có quyền lực.

a) Ở nơi l…l thế này, cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà. b) Nhìn thấy tội ác của giặc, ai ai cũng l…l. c) Cô Nam tính tình xởi lởi, l…l. d) Lời khen của cô giáo làm cho nó l…l. e) Bọn giặc hoảng hồn l…l mà chạy.

a, Chó ăn đá gà ăn sỏi

b, Bầm gan tím ruột

c, Ruột để ngoài da

d, Nở từng khúc ruột

e, Vắt chân lên cổ

Bài 3 (Sách giáo khoa trang 102 Ngữ văn 8 tập 1) Đặt câu với các thành ngữ dùng biện pháp nói quá sau đây: nghiêng nước nghiêng thành, dời non lấp hiển, lấp biển vá trời, mình đồng da sắt, nghĩ nát ốc.

+ Nàng Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” của tác giả Nguyễn Du có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành.

+ Thực sự thì nhân dân ta có sức mạnh dời non lấp biển để có thể đánh tan mọi âm mưu, đánh tan mọi thủ đoạn của bọn đế quốc Mĩ và tay sai.

+ Mong muốn của tôi là luôn thích nghe cô ấy kể về chuyện thần Nữ Oa lấp biển vá trời.

+ Hiện tại thì chúng tôi đâu phải mình đồng da sắt để có thể chịu được thời tiết biến đổi nóng hầm hập như vậy chứ.

+ Tôi và các nạn cũng đã nghĩ nát óc mà chưa tìm ra cách giải bài toán thầy giao.

Bài 4 (Sách giáo khoa trang 103 Ngữ Văn 8 tập 1) Tìm năm thành ngữ so sánh có dùng biện pháp nói quá.

– Lấy 5 thành ngữ so sánh có sử dụng biện pháp nói quá

5 thành ngữ so sánh có sử dụng biện pháp nói quá đó chính là:

+ Đen như than

+ Ngáy như sấm

+ Đau như đứt ruột

+ Kêu như tránh đánh

+ Nắng như đổ lửa

Bài 5 (Sách giáo khoa trang 103 Ngữ Văn 8 tập 1) Viết một đoạn văn hoặc làm một bài thơ có dùng biện pháp nói quá.

Em cũng hoàn toàn có thể chọn bài ca dao/ câu tục ngữ để phân tích về biện pháp nói quá có sử dụng trong bài tập.

+ Hãy nghị luận về sức mạnh của tuổi trẻ, ý chí cũng như nghị lực của con người…như Bác Hồ từng nói :

Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên.

Điểm giống nhau:

– Đều nói lên những điều không có thật, nói phóng đại lên.

Khác nhau đó là:

– Nói quá để có thể nhằm gây ấn tượng mạnh, khẳng định, tăng sức biểu cảm cho câu, cho lời nói.

– Nói khoác được hiểu là nói những điều không đúng sự thật, và cũng lại không có thật để phô trương, khoe khoang…

Thông qua bài học này các em nhận biết được đâuu là từ khóa, từ khóa có tác dụng gì trong giao tiếp cũng như trong sác tác để từ đó có thẻ vận dụng một cách nhuần nhuyễn nhất, hay nhất.

Chúc các em thành công!

Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 6: Mưa / 2023

Soạn bài Ngữ văn lớp 6: Mưa do Trần Đăng Khoa sáng tác

I. VỀ TÁC GIẢ

Nhà thơ Trần Đăng Khoa sinh năm 1958, nguyên quán: xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương; Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; hiện công tác tại Tạp chí Văn nghệ quân đội.

Tác phẩm đã xuất bản: Từ góc sân nhà em (thơ, 1968); Góc sân và khoảng trời (thơ, 1968); Thơ Trần Đăng Khoa (tập I, 1970); Em kể chuyện này (thơ, 1971); Khúc hát người anh hùng (trường ca, 1974); Trường ca trừng phạt (thơ, 1973); Trường ca dông bão (thơ, 1983); Thơ Trần Đăng Khoa (tập II, 1983); Bên cửa sổ máy bay (thơ, 1986); Chân dung và đối thoại (tiểu luận, 1999); Đảo chìm (truyện và kí, 1999),…

Nhà thơ đã được nhận: Giải thưởng thơ báo Thiếu niên Tiền phong (1968-1969-1971); Giải A cuộc thi thơ báo Văn nghệ (1981-1982); Giải thưởng Nhà nước năm 2001 với các tác phẩm: Thơ Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng trời, Bên cửa sổ máy bay.

II. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Bài thơ tả cơn mưa rào mùa hạ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ kèm với mưa thường có giông, sấm chớp, gió mạnh.

Bài thơ tả cơn mưa qua hai giai đoạn: Lúc sắp mưa và khi trời mưa. Bốn câu cuối cùng khi trời mưa có thể tách thành một phần riêng. Từ đó, có thể chia bài thơ thành ba phần.

Phần 1: Từ đầu đến “ngọn muông tơi nhảy múa”: Khung cảnh sắp mưa.

Phần 2: Tiếp đến “cây lá hả hê”: Trong khi mưa.

Phần 3: Còn lại: Hình ảnh người nông dân trong mưa thật to lớn, đẹp đẽ.

2. Bài thơ làm theo thể tự do ngắt nhịp linh hoạt gồm các nhịp 1, 2, 3, 4 mà chủ yếu là nhịp 2. Điều đó tạo thuận lợi cho việc diễn tả một cách phóng túng những quan sát về sự vật của người viết.

3. Tác giả đã quan sát và miêu tả sinh động trạng thái, hoạt động của cây cối, loài vật trước và trong cơn mưa.

Các con vật khi sắp mưa có phản ứng khác nhau

Các cây cỏ cũng mỗi loại mỗi vẻ:

Trong cơn mưa:

Những động từ như rối rít, hành quân, múa, rung tai nghe, đu đưa… những tính từ như tròn trọc lóc, mù trắng, chéo, chồm chồm, hả hê… được sử dụng rất đúng chỗ, góp phần diễn tả sinh động cảnh vật.

Phép nhân hóa được sử dụng hết sức rộng rãi

Ông trời mặc áo, mía múa gươm, kiến hành quân, cỏ gà rung tai nghe, bụi tre tần ngần gỡ tóc, hàng bưởi bế lũ con đầu tròn trọc lóc, sấm ghé xuống sân khanh khách cười, cây dừa sử dụng tay bơi, ngọn mùng tơi nhảy múa…

Phép nhân hóa này làm cho cả thế giới cây cỏ, thiên nhiên hoạt động sinh động, đa dạng như thế giới con người. Thiên nhiên như đang vào trận chiến: ông trời mặc áo gióng đen, mía múa gươm, kiến hành quân nhưng lại vẫn có những hoạt động bình dị khác như gỡ tóc, bơi, nhảy múa, bế con…

Phép nhân hóa được sử dụng thành công là nhờ sự quan sát tinh tế của tác giả, kết hợp với sự liên tưởng dồi dào. Nhân hóa nhiều, nhưng không có sự lập lại, mà có những nét độc đáo.

4. Bài thơ chỉ tả cảnh thiên nhiên, đến cuối bài mới hiện ra hình ảnh con người:

Ông bố chỉ là một người nông dân bỗng nhiên trở nên lớn lao khác thường, ông đội cả sấm, cả chớp, cả một trời mưa. Hình ảnh người nông dấn có tầm vóc lớn lao tư thế vững vàng, hiên ngang, như là một vị thần đội trời đạp đất có sức mạnh có thể sánh với thiên nhiên. Trong con mắt nhìn của một em bé chín tuổi, người cha đi cày quả là một tráng sĩ có vẻ đẹp lớn lao, kỳ vĩ.

III. RÈN KĨ LUYỆN NĂNG

Mưa là bài thơ được sáng tác theo thể tự do. Khi đọc, chú ý mạch thơ để các định tiết tấu thể hiện sự quan sát và miêu tả hiện tượng thiên nhiên của một cậu bé chín tuổi. Ví dụ:

2. Quan sát và miêu tả cảnh mưa rào ở thành phố hay vùng núi, vùng biển hoặc mưa xuân ở làng quê.

Tham khảo đoạn văn sau:

Tôi chưa thấy nơi nào mưa nhiều như ở Huế. Mưa rả rích bắt đầu từ cuối đông cho đến lúc sang thu khi đã loáng thoáng có những cơn gió heo may từ miền Bắc thổi vào. Mưa gần như quanh năm làm cho Huế lúc nào cũng mát mẻ. Cây cối ở Huế xanh um và bốn mùa hoa trái xum xuê, đặc biệt là ở vùng thôn Vĩ Dạ. Cỏ ở Huế, nhất là cỏ ở ven bờ sông Hương non tơ đến mỡ màng. Có lúc, chúng mềm oặt đi vì mưa nhiều và vì phải ngâm mình nhiều trong mưa. Song điều đáng nói nhất về mưa Huế chính là những cơn mưa cuối xuân đầu hạ. Có lẽ không ở đâu mưa lại dài và dai như thế. Nó là thứ mưa khác hẳn mưa ngâu, mưa phùn, hai thứ mưa cũng dai dẳng hay diễn ra ở miền Bắc Bộ. Mưa Huế ào ào, xối xả khiến người ta có cảm giác như ông trời đang trút tất cả nước xuống Thừa Thiên. Chả thế mà, lúc còn sống, nhà thơ Tố Hữu đã đề những câu thơ bất tử về mưa Huế: Nỗi niềm chi rứa Huế ơi!Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên.

Soạn Bài Lớp 7: Văn Bản Báo Cáo Soạn Ngữ Văn / 2023

Soạn bài Văn bản báo cáo Soạn bài lớp 7: Văn bản báo cáo được VnDoc sưu tầm, hy vọng tài liệu này sẽ giúp quý thầy cô và các em học sinh sẽ có thêm nhiều tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập. Mời quý thầy cô giáo và các em học sinh tham khảo nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong chương trình THCS. Ôn tập phần tập làm văn Ngữ văn lớp 7 Soạn bài Ôn tập phần văn lớp 7 Văn mẫu lớp 8: Cảm nhận về bài Hai cây Phong VĂN BẢN BÁO CÁO I. ĐẶC ĐIỂM …

Soạn bài Văn bản báo cáo

Soạn bài lớp 7: Văn bản báo cáo được VnDoc sưu tầm, hy vọng tài liệu này sẽ giúp quý thầy cô và các em học sinh sẽ có thêm nhiều tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập. Mời quý thầy cô giáo và các em học sinh tham khảo nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong chương trình THCS. VĂN BẢN BÁO CÁO I. ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN BÁO CÁO

1. Văn bản báo cáo (t.133, 134)

a) Viết báo cáo để tổng hợp trình bày về tình hình, sự việc và các kết quả đạt được của một cá nhân hay một tập thể.

b) Báo cáo cần phải chú ý những yêu cầu sau:

– Về hình thức trình bày: Trang trọng, rõ ràng và sáng sủa theo một số quy định sẵn.

– Về nội dung: Không nhất thiết phải trình bày đầy đủ tất cả nhưng cần chú ý các mục sau: Báo cáo với ai? Báo cáo về việc gì? Kết quả như thế nào?

c) Một số trường hợp cần viết báo cáo:

Lớp trưởng báo cáo kết quả buổi lao động vệ sinh đầu năm học của lớp cho thầy (cô) chủ nhiệm.

Lớp trưởng báo cáo kết quả đợt thi đua tìm hiểu về Đoàn trong tháng 3 cho thầy (cô) chủ nhiệm

Lớp trưởng báo cáo về buổi tham quan địa đạo Củ Chi cho thầy (cô) chủ nhiệm.

2. Tình huống phải viết báo cáo:

– Tình huống b: Cần viết báo cáo.

– Tình huống a: Cần viết văn bản đề nghị.

– Tình huống c: Cần viết đơn xin nhập học.

II. CÁCH LÀM VĂN BẢN BÁO CÁO

1. Cách làm văn bản báo cáo (t. 135, 136)

a) Các mục trong cả hai văn bản báo cáo được trình bày theo thứ tự:

(1) Quốc hiệu và tiêu ngữ.

(2) Địa điểm làm báo cáo và ngày tháng.

(3) Tên văn bản: Báo cáo về…

(4) Nơi nhận báo cáo.

(5) Người (tổ chức) báo cáo.

(6) Nêu lí do, sự việc và các kết quả đã làm được.

(7) Kí tên.

– Hai văn bản báo cáo trên giống nhau về cách trình bày các mục và khác nhau ở nội dung cụ thể.

– Những mục quan trọng, cần chú ý trong hai câu văn bản báo cáo trên là: (5) Báo cáo của ai, (4) báo cáo với ai, (3) báo cáo về việc gì, (6) kết quả như thế nào.

b) Cách làm một văn bản báo cáo.

– Dàn mục: 7 Mục như câu trả lời a.

– Trình bày cần trang trọng, rõ ràng và sáng sủa.

– Nội dung không nhất thiết phải trình bày đầy đủ tất cả, nhưng cần chú ý các mục sau:

Báo cáo của ai.

Báo cáo với ai.

Báo cáo về việc gì.

Kết quả như thế nào.

III. LUYỆN TẬP (t.136)

Các lỗi lầm cần tránh

– Thiếu một trong các mục sau đây:

(1) Quốc hiệu và tiêu ngữ.

Cho thuê phòng trọ Cho thuê phòng trọ hà nội Cho thuê phòng quận 7 Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ

Bài 6 Trang 142 Sgk Ngữ Văn 7 Tập 1 / 2023

Trả lời câu hỏi bài 6 trang 142 SGK Ngữ văn lớp 7 tập 1 phần hướng dẫn soạn bài Cảnh khuya và Rằm tháng Giêng

Tài liệu hướng dẫn trả lời câu hỏi bài 6 trang 142 SGK Ngữ văn 7 tập một phần trả lời câu hỏi đọc – hiểu, soạn bài Cảnh khuya và Rằm tháng Giêng chi tiết và đầy đủ nhất.

Cảnh khuya và Rằm tháng giêng được viết trong những năm đầu rất khó khăn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hai bài thơ đó đã biểu hiện tâm hồn và phong thái của Bác Hồ như thế nào trong hoàn cảnh ấy?

Trả lời bài 6 trang 142 SGK Ngữ văn 7 tập 1

Câu trả lời tham khảo

Mặc dù ra đời trong hoàn cảnh hết sức khó khăn của đất nước, vận mệnh dân tộc đang nghìn cân treo sợi tóc, nhưng hai bài thơ vẫn thể hiện được phong thái ung dung, tinh thần lạc quan của Bác, cụ thể là:

– Tâm hồn chan hòa thiên nhiên, say đắm thưởng ngoạn vẻ đẹp của thiên nhiên trong mọi hoàn cảnh.

– Hình ảnh trong hai bài thơ mang đậm vẻ đẹp cổ điển, những hình ảnh quen thuộc của thơ ca cổ phương Đông: con thuyền, dòng sông, ánh trăng, giọng thơ khỏe khoắn, trẻ trung.

– Cả hai bài thơ đều thể hiện vẻ đẹp ung dung tự tại của người chiến sĩ cách mạng, đêm ngày lo vận nước.

Tâm hồn và phong thái của Bác được biểu hiện qua hai bài thơ trên đó là phong thái ung dung lạc quan. Cụ thể:

– Những rung động tinh tế và dồi dào của tâm hồn nghệ sĩ trước cái đẹp của thiên nhiên đất nước đã sáng tạo nên bức tranh đẹp về cảnh trăng nơi núi rừng Tây Bắc

– Tâm trạng của tác giả trong bài Cảnh khuya: mặc dù lo việc nước đến tận canh khuya nhưng vẫn không quên cảm nhận vẻ đẹp kì thú của cảnh trăng rừng của tiếng suối trong

– Cảnh con thuyền của vị lãnh tụ và các đồng chí sau lúc bàn bạc cách mạng trở về phơi phới nhẹ nhàng chở đầy trăng( bài Rằm tháng riêng)

– Giọng thơ khỏe khoắn trẻ trung có suy tư trăn trở nhưng vẫn hào hứng đầy niềm tin tưởng

Điểm chung của hai bài thơ là chúng đều được sáng tác trong quãng thời gian khó khăn khi đất nước phải chiến đấu chống lại giặc ngoại xâm. Và cả hai bài thơ đều thể hiện tinh thần lạc quan của Hồ Chủ Tịch.

Thông qua hai bài thơ, ta thấy được tình yêu thiên nhiên, say mê cái đẹp của bác Hồ và thấy được phong cách đậm chất cổ điển trong từng hình ảnh thơ mà Người sáng tác.

Các em vừa tham khảo cách trả lời bài 6 trang 142 SGK ngữ văn 7 tập 1 được Đọc Tài Liệu tổng hợp và biên soạn giúp em ôn tập và soạn bài Cảnh khuya và Rằm tháng Giêng tốt hơn trước khi đến lớp.