Top 7 # Xem Nhiều Nhất Cách Vẽ Trình Bày Khẩu Hiệu Học Học Nữa Học Mãi Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Techcombanktower.com

Có Nên Để Khẩu Hiệu “Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn” Trong Nhà Trường Nữa Không?

LTS: Từ năm 1973, giáo sư Nguyễn Lân, trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật, đã nêu lên: “Có nên vận dụng phương châm: “Tiên học lễ, hậu học văn” trong việc giáo dục thế hệ trẻ của ta ngày nay không?”.

Sau năm 1975, khẩu hiệu đó đã được kẻ ở hầu hết các trường phổ thông trong cả nước.

Ảnh hưởng của lễ giáo Nho học, khẩu hiệu trên mang ý nghĩa tốt đẹp của môi trường giáo dục. Nó như một lời nhắc nhở mỗi học sinh và giáo viên khi đã bước chân vào ngành giáo dục thì điều đầu tiên phải học là học về lễ độ, về cách ứng xử.

Tuy nhiên, trong bài tham luận của mình, nhà Nghiên cứu phê bình Văn học Lại Nguyên Ân cho rằng: “Việc sử dụng lại khẩu hiệu “Tiên học lễ hậu học văn” từ hơn chục năm nay, theo tôi, chỉ nên được xem là giải pháp tình thế. Đã đến lúc nên chấm dứt. Phải dục cái Lễ trước vì nó là cái gốc; “Lễ chính là GIỮ KHOẢNG CÁCH LUÂN LÝ”; Lễ nhắc nhở và dạy chúng ta tiếp xúc như thế nào cho tròn bổn phận của mỗi một nhân đạo, của mỗi một cặp nhân luận và kết luận: Nếu cần khẩu hiệu, hãy gắng tìm lấy từ nguồn thuần Việt” đã gây nên tranh luận xoay quanh vấn đề này.

Hôm nay, trong bài viết này, Ths Võ Thanh Vân (hiện đang công tác tại TP.Hồ Chí Minh) với nhiều năm kinh nghiệm trong ngành giáo dục và có nhiều trăn trở với định hướng giáo dục sẽ trình bày quan điểm của mình về vấn đề này.

Có nên tồn tại khẩu hiệu ” Tiên học lễ, hậu học văn” trong nhà trường hay không là một đề tài hấp dẫn và quan trọng, nó góp phần định hướng giáo dục nước nhà.

Đề tài này đang gây tranh luận, chưa có hồi kết. Là một nhà giáo lâu năm và có nhiều trăn trở với định hướng giáo dục, tôi xin được tham gia, trình bày quan điểm của mình.

1. Hai quan điểm trái chiều hiện nay:

Thứ nhất: Cần duy trì khẩu hiệu này trong nhà trường:

Những người theo quan điểm này hiểu và lập luận tương tự hai tác giả Huỳnh Minh Đức và NGƯT-TS Phạm Văn Khanh, như sau:

Tác giả Huỳnh Minh Đức cho rằng: ” Học Lễ” thuộc về dục, tức là học cái gốc để làm người, phân biệt hẳn với giáo, là cái học làm nghề. . . .

Câu “Tiên học Lễ” phải treo trong trường học chính là kêu gọi người thầy nên chú trọng việc dạy cho trẻ con biết rằng cái học làm người là quan trọng hơn, là cái gốc của cái học làm nghề “.[1]

Còn NGƯT-TS Phạm Văn Khanh dẫn từ điển Hán Việt, định nghĩa: “Lễ là cái khuôn mẫu đã được định ra thành phép tắc từ quan, hôn, tang, tế, đi đứng, nói năng, ứng xử…”

Nhưng sau đó nâng cao quan điểm: ” Hiểu rộng hơn thì “Tiên học lễ, hậu học văn” là: Trước tiên phải học lễ nghĩa, đạo đức làm người, sau đó học văn tự, chữ nghĩa của thánh hiền hoặc hiểu gọn hơn: Học làm người trước, học tri thức sau“.

Và kết luận: ” Từ “Tiên học lễ – hậu học văn” đến “Dạy chữ, dạy người, dạy nghề” và “Học để biết, học để làm việc, học để làm người, học để sống chung” là một quá trình biến đổi, tiến hóa và hiện đại hóa một quan niệm căn bản về giáo dục ở nước ta.

Trong suốt tiến trình đó, lịch sử đã chỉ ra rằng kiến thức, kỹ năng và tính chuyên nghiệp ngày càng quan trọng nhưng vấn đề cốt lõi, tinh hoa của giáo dục nước ta vẫn là dạy người, học làm người“. [2]

Một số tác giả khác cho rằng: ” Lễ là văn minh, văn hóa, kỉ cương phép cư xử trong gia đình và xã hội, là những nền tảng luân lí, nền tảng tổ chức gia đình, xã hội, quốc gia, là sự phân định tôn ti trật tự với những khuôn phép được công nhận và thực thi “.

Hoặc mở rộng phạm vi của Lễ sang thế giới động vật, môi trường . . . để kết luận về sự cần thiết của khẩu hiệu “Tiên học Lễ- hậu học văn” trong trường học

Thứ hai: Không nên duy trì khẩu hiệu này trong nhà trường

Các tác giả theo quan điểm này chủ yếu cho rằng khái niệm “Lễ” không được xác định một cách chính thống, mỗi người tự hiểu theo kiểu của mình.

2) Chắc chắn Bộ Giáo dục chẳng dại gì mà đưa vào chương trình phổ thông để dạy cho kỳ được mục tiêu “lễ”. Thế thì tại sao cứ “tiên học lễ” lấy được?”. [4]

Đồng thời, đó là châm ngôn của một nền giáo dục lạc hậu, không còn thích hợp với giáo dục hiện đại.

Để minh chứng, tôi xin trích dẫn câu của dịch giả Phạm Anh Tuấn, người dịch cuốn Democracy and Education (Dân chủ và giáo dục) của John Dewey, trả lời phỏng vấn của Thời báo kinh tế Sài Gòn rằng:

” Trẻ em học trong lúc chúng tự thực hành và trong lúc chúng được tự mình sống cuộc sống thực đang diễn ra ngay hôm nay. Hãy bỏ hai khẩu hiệu. Khẩu hiệu thứ nhất là: “Tiên học lễ hậu học văn”. Khẩu hiệu thứ hai là: “Học để làm người“”.[3]

Hoặc, như tác giả Nguyễn Ngọc Lanh trong bài “Xin thôi học “lễ””:

” Chúng ta chưa rõ “lễ” là gì, mà cứ hô hào học nó trước, thì đành để mỗi người tự suy ra – dù có cơ sở hay không?

Nếu (giả sử) nội dung “lễ” đã được xác định rất cụ thể với sự đồng thuận cao thì vẫn có hai điều chắc chắn:

1) Nó sẽ quá xa khái niệm gốc do đức Khổng Tử đề ra, khiến mọi người thắc mắc: Hà cớ gì phải mượn chữ “lễ” của thánh nhân để gọi một khái niệm hoàn toàn mới mẻ;

Nhiều lý do khiến cần bỏ “tiên học lễ” như đã đề cập ở trên nhưng lý do bao trùm và cơ bản là nó thể hiện một triết lý giáo dục quá cũ kỹ, lạc hậu.

Cần minh định rằng, bản thân “tiên học lễ” không có lỗi gì nhưng nó không còn vai trò tích cực như dưới thời phong kiến và văn minh nông nghiệp nữa.

Nội dung của Chu lễ rất phong phú, đồ sộ, bao gồm các chế độ luật lệ, quy phạm hành vi và nghi thức lễ tiết của các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, pháp luật, hôn nhân gia đình, đạo đức luân lý và phong tục tập quán của Trung Quốc cổ đại.

Trong Chu lễ có rất nhiều quy định, do nhà nước cưỡng chế thi hành có hiệu lực pháp luật – Vì thời Tây Chu chưa phải là thời pháp trị nên chưa có pháp luật (tác giả).[5]

Kinh Lễ, còn gọi là Lễ ký, là một kinh trong bộ Ngũ Kinh của Khổng Tử, ghi chép các lễ nghi thời trước. Chu Hy soạn sách Chu Tử gia lễ, cho rằng Lễ ký chỉ dùng để giải thích Nghi lễ. [6]

Nghi lễ ghi chép các loại lễ nghi trước thời Tần, trong đó chủ yếu ghi chép lễ nghi của sĩ đại phu. Nghi lễ ghi chép tường tận về chế độ cung thất, trang phục, ẩm thực, tang lễ thời cổ đại“. [7]

-“Lễ” theo Khổng Tử: Trong thiên Thái Bá của Luận ngữ, Khổng Tử nói: ” Lập ư Lễ, hưng ư Thi, thành ư Nhạc “.[8]

Bầu chọn Theo bạn, có nên để khẩu hiệu “Tiên học Lễ, hậu học Văn” trong nhà trường nữa không?

Nghĩa là: Muốn tạo lập (một guồng máy nhân sự, một mối quan hệ) thì phải dùng Lễ, xây dựng hệ thống Lễ; muốn guồng máy này trở nên thịnh phải dùng Thơ; muốn hoàn thành mỹ mãn phải dùng Nhạc.

-“Lễ” theo Lão Tử: Chương 38 Đạo Đức Kinh, Lão tử viết:

“. . . . Thượng lễ vi chi nhi mạc chi ứng, tắc nhương tí nhi nhưng chi. Cố thất đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ. Phù lễ giả, trung tín chi bạc, nhi loạn chi thủ “. [9]

Nghĩa là: Người đề cao Lễ thì khi giữ lễ mà không được đáp lại thì xắn tay áo, trừng mắt. Cho nên mất Đạo mới cần đến Đức, mất Đức mới cần đến Nhân, mất Nhân mới cần đến Nghĩa, mất Nghĩa mới cần đến Lễ. Lễ là lớp vỏ mỏng của sự Trung Tín và là đầu mối của hỗn loạn.

– Theo từ điển Hán Việt, Lễ là cái khuôn mẫu đã được định ra thành phép tắc từ quan, hôn, tang, tế, đi đứng, nói năng, ứng xử…

Từ các khảo văn trên, nếu tách các quy định có tính cưỡng chế thi hành trong Chu Lễ sang luật pháp, ta thấy rất rõ ràng nghĩa của từ Lễ ngày xưa:

Lễ là những nghi thức HÌNH THỨC (ngôn ngữ, động tác, thái độ khuôn mẫu mà mọi người phải làm theo) giao tiếp giữa các ngôi thứ trong một tổ chức, trong một xã hội; giữa các tổ chức và giữa con người với thế giới vô hình (thần linh).

Tôi muốn nhấn mạnh đến từ HÌNH THỨC, nghĩa là loại trừ những nội hàm mà nhiều người gán ghép vào nghi thức giao tiếp ra khỏi từ Lễ, dành nghĩa gian cho các từ khác. Ví dụ:

– Con đối với cha mẹ phải đi thưa về trình, hành động, ngôn ngữ phải cung kính . . . là Lễ.

Nhưng tận tình chăm sóc khi cha mẹ đau yếu, không quản thân mình bảo vệ cha mẹ khi hoạn nạn thì không còn là Lễ nữa; đó là Hiếu.

– Vợ chồng phải xem nhau như khách (tương kính như tân) là Lễ; nhưng xa nhau vài bữa thì nhung nhớ không nguôi thì không còn là Lễ nữa, đó là Tình yêu.

– Trò gặp Thầy phải cúi đầu khoanh tay, Thầy vào lớp học trò phải đứng dậy, phát biểu phải dạ thưa . . . là Lễ. Nhưng khi thầy đau yếu, hoạn nạn trò hết lòng giúp đỡ; hết học rồi vẫn nhớ công ơn của Thầy . . . thì không còn là Lễ nữa, đó là Nghĩa.

– Khi giao tiếp với người trong xã hội phải bắt tay là Lễ; nhưng nói năng, cử chỉ đúng mực, thái độ ôn hòa thì không là Lễ nữa, đó là Nhã.

– Vào chùa lạy Phật, tụng kinh là Lễ; nhưng có tin những lời kinh mình đọc hay không không phải là Lễ nữa, đó là Tín

Nói rõ hơn, nếu ta lập trình cho một người máy những nghi thức giao tiếp nào đó thì dù nội hàm của các giao tiếp chỉ là số 0, nhưng người máy này vẫn là mẫu hình Lễ độ nhất, không bao giờ có sai sót trong giao tiếp.

Ngày nay, ta cần mở rộng khái niệm Lễ ra thiên nhiên:

– Đi công viên, chợ hoa không giẫm đạp lên hoa, cỏ là Lễ với hoa, cỏ; nhưng say mê một chậu hoa nào đó đến luyến tiếc không thể rời đi thì không còn là Lễ nữa mà là yêu hoa.

– Không xả rác ở bờ biển là giữ Lễ với biển, nhưng nhặt rác ở bờ biển, dù đó không phải là nhiệm vụ của mình, thì không còn là Lễ nữa, đó là yêu biển và quang cảnh biển.

Cố ý xả nước thải xuống biển không còn là Vô Lễ với biển và động vật biển nữa, đó là tàn phá môi trường; yêu thương, chăm sóc và xả thân chống những kẻ phá hoại để bảo vệ biển thì không còn là Lễ nữa, đó là Tình yêu thiên nhiên, là bảo vệ môi trường.

Với các lập luận trên, tôi đề xuất định nghĩa từ Lễ cho ngày nay: Lễ là những nghi thức hình thức về giao tiếp giữa các ngôi thứ trong một tổ chức, trong một xã hội; giữa các tổ chức; giữa con người với tự nhiên và thế giới vô hình. 3. Vấn đề khẩu hiệu “Tiên học Lễ, hậu học Văn” trong Nhà trường

Thống nhất định nghĩa về Lễ như trên ta sẽ dễ dàng hiểu được quan điểm của Khổng Tử và Lão Tử:

Một tổ chức, một xã hội, một mối quan hệ mà không có Lễ thì giao tiếp sẽ hỗn loạn tôn ty, không có cơ chế ràng buộc nhau nên sẽ không hoạt động và không tồn tại được.

Nhưng nếu chỉ chăm chăm vào Lễ thì tổ chức, xã hội, mối quan hệ ấy chỉ có một lớp vỏ mỏng hình thức, không có một nội hàm tốt đẹp nào, có tồn tại cũng như không.

Do đó, cơ quan, tổ chức, xã hội, mối quan hệ nào chưa có Lễ thì dứt khoát phải thiết lập và thượng tôn Lễ (đặt Lễ lên cao).

Cơ quan, tổ chức, xã hội, mối quan hệ nào đã hoàn thiện Lễ thì phải quên Lễ đi để các chú trọng vào phẩm hạnh quý giá của con người, những tình cảm ấm nồng của mối quan hệ và những năng lực chuyên môn khác, nếu không chúng sẽ bị xem nhẹ dần và có thể mất đi vĩnh viễn.

Áp vào trường học và khẩu hiệu “Tiên học Lễ – Hậu học Văn”, có hai vấn đề cần cân nhắc: Trường nào cần treo khẩu hiệu này và trường cấp nào cần treo khẩu hiệu này? Trường nào cần treo khẩu hiệu này: Theo lập luận trên, không kể là trường ở cấp nào, nếu chưa thiết lập được một cách vững vàng các nghi thức giao tiếp trong trường thì phải thượng tôn Lễ và treo khẩu hiệu cho đến khi Lễ hoàn thiện.

Trường nào đã hoàn thiện các nghi thức giao tiếp thì nên bỏ đi để thượng tôn những đức hạnh khác, kỹ năng khác có hiệu quả trong việc tạo dựng nhân cách và nghề nghiệp hiện đại hơn thay vì cứ chăm chăm vào cái vỏ hình thức Lễ.

Theo tôi, tất cả các trường bậc THCS và THPT, đặc biệt là THPT, phải gấp rút hoàn thiện Lễ cho học sinh ngay những ngày đầu vào trường và nhanh chóng gỡ bỏ khẩu hiệu ” Tiên học Lễ – Hậu học Văn ” xuống.

Do đó, hơn ai hết, lãnh đạo nhà trường và hội đồng giáo dục nhà trường cần học và nghiên cứu Lễ một cách thấu đáo để hành xử chính xác.

Vấn đề trường cấp nào cần treo khẩu hiệu “Tiên học Lễ – Hậu học Văn” là một vấn đề chuyên sâu về tâm lý lứa tuổi, tôi xin đề xuất trong một bài viết khác, bài viết về các đức tính cần giáo dục ở từng lứa tuổi học trò

[1]. http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/

[2]. http://sgddt.tiengiang.gov.vn/

[3]. http://www.thesaigontimes.vn/65884/Dich-gia-Pham-Anh-Tuan-Giao-duc-Viet-Nam-se-chuyen-minh-neu-biet-lang-nghe.html

[4]. http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/hoc_le-f.html.

[5] https://vi.wikipedia.org/wiki/Chu_l%E1%BB%85

[6]. https://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_L%E1%BB%85

[7]. https://vi.wikipedia.org/wiki/Nghi_l%E1%BB%85

[8]. Khổng tử, Luận ngữ.

[9]. Lão tử, Đạo đức kinh.

Vẽ Trang Trí Trình Bày Khẩu Hiệu

– Hs hiểu cách sắp xếp bố cục chữ trong một khẩu hiệu.

– Củng cố thêm kiến thức về 2 kiểu chữ in hoa nét đều và nét thanh nét đậm

– Kẻ được một dòng chữ nét đều hoặc nét thanh nét đậm trong một khẩu hiệu ngắn, biết sử dụng màu sắc và trang trí đẹp mắt.

_Nhận ra vẻ đẹp của khẩu hiệu được trang trí.

2.NỘI DUNG HỌC TẬP:

– Hs kẻ được một khẩu hiệu ngắn.

3.1.Giáo viên:

_Một số khẩu hiệu mẫu.

_Sưu tầm khẩu hiệu trên sách,báo.

_Dụng cụ học tập:giấy vẽ,bút chì,gôm,thước,màu vẽ.

Tuần 6 Tiết 5 Ngày dạy: 23/9/2013 VẼ TRANG TRÍ TRÌNH BÀY KHẨU HIỆU 1.MỤC TIÊU: 1.1.Kiến thức: - Hs hiểu cách sắp xếp bố cục chữ trong một khẩu hiệu. - Củng cố thêm kiến thức về 2 kiểu chữ in hoa nét đều và nét thanh nét đậm 1.2.Kỹ năng: - Kẻ được một dòng chữ nét đều hoặc nét thanh nét đậm trong một khẩu hiệu ngắn, biết sử dụng màu sắc và trang trí đẹp mắt. 1.3.Thái độ: _Nhận ra vẻ đẹp của khẩu hiệu được trang trí. 2.NỘI DUNG HỌC TẬP: - Hs kẻ được một khẩu hiệu ngắn. 3.CHUẨN BỊ: 3.1.Giáo viên: _Một số khẩu hiệu mẫu. 3.2.Học sinh: _Sưu tầm khẩu hiệu trên sách,báo. _Dụng cụ học tập:giấy vẽ,bút chì,gôm,thước,màu vẽ. 4..TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP: 4.1.Ổn định tổ chức và kiểm diện 8a1 8a2 8a3 4.2.Kiểm tra miệng: Gv goi 3 hs nộp bài vẽ. yêu cầu hs nhận xét về: hình ảnh, bố cục, màu sắc Gv:nhậnxét 4.3.Tiến trình bài học: *Giới thiệu bài: _Vào những ngày lễ lớn chúng ta thường thấy trên đường phố hoặc trước các cơ quan có treo những băng rôn ghi khẩu hiệu.Khẩu hiệu thường được trình bày trên vải,trên giấy,trên tườngHôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu cách trình bày một khẩu hiệu trên giấy. Hoạt động của giáo viên-học sinh Nội dung bài học *Hoạt động 1: Hướng dẫn Hs quan sát,nhận xét(Hs nhận xét được khẩu hiệu) 8p _Gv cho Hs quan sát một số khẩu hiệu. ?Khẩu hiệu thường được trưng bày ở đâu? ?Nội dung của khẩu hiệu thường là gì? ?Màu sắc của khẩu hiệu có đặc điểm gì? _Gv treo một vài khẩu hiệu có bố cục khác nhau để Hs nhận xét. Gv kết luận:dựa vào nội dung và ý thích của mỗi người mà có cách trình bày khẩu hiệu khác nhau. *Hoạt động 2: Hướng dẫn Hs cách trình bày khẩu hiệu(Hs biết cách trình bày khẩu hiệu)10p ?Có mấy cách trình bày khẩu hiệu? +Trình bày trên băng dài. +Trình bày trong mảng dạng hình chữ nhật đứng. +Trình bày trong mảng dạng hình chữ nhật ngang +Trình bày trong mảng dạng hình vuông. _Gv hướng dẫn Hs cách sử dụng kiểu chữ(chữ đơn giản,rõ ràng,dễ đọc như chữ nét đều hoặc nét thanh nét đậm) _Tìm ra cách ngắt dòng hợp lí. ?Để trình bày một khẩu hiệu chúng ta thực hiện mấy bước?(5 bước) +Sắp xếp chữ thành dòng:Tùy theo số lượng chữ và khuôn khổ tờù giấy để chia dòng mà vẫn đảm bảo nội dung. +Ước lượng khuôn khổ dòng chữ:tỉ lệ chiều cao,chiều ngang dòng chữ. +Vẽ phác khoảng cách con chữ:chia khoảng cách giữa các con chữ và giữa các chữ cho cân đối. +Phác nét chữ,kẻ chữ.Có thể trang trí thêm đường diềm xung quanh hàng chữ cho đẹp. +Tìm và vẽ màu chữ,màu nền và màu đường diềm trang trí.Màu nền nhạt thì màu chữ phải đậm và ngược lại. _Gv minh họa lên bảng các bước thực hiện để Hs tiện theo dõi. _Gv treo một số khẩu hiệu mắc lỗi(ngắt dòng không hợp lí,chia khoảng cách không đều,kiểu chữ không phù hợp) để Hs nhận ra cái sai mà tránh. *Hoạt động 3:Hướng dẫn Hs làm bài(Hs trình bày được khẩu hiệu)15p _Gv yêu cầu Hs nghiên cứu nội dung khẩu hiệu để tìm ra cách ngắt ý cho phù hợp. _Tìm kiểu chữ(nét đều hoặc nét thanh nét đậm) _Tìm màu nền và màu chữ cho nổi bật nội dung. *Hs làm bài theo cách mà Gv đã hướng dẫn. I.Quan sát,nhận xét: II.Cách trình bày khẩu hiệu: _Chia dòng và chọn kiểu chữ. _Ước lượng khuôn khổ dòng chữ. _Phác khoảng cách các con chữ. _Phác nét chữ,kẻ chữ. _Vẽ màu. III.Thực hành: _Trình bày khẩu hiệu:"Không có gì quý hơn độc lập,tự do" 4.4.Tổng kết: _Gv chọn một số bài vẽ đã hoàn thành treo lên bảng.Hướng dẫn Hs nhận xét về: +Bố cục. +Kiểu chữ. +Màu sắc. _Hs nhận xét theo cảm nhận của riêng mình. _Gv kết luận,chỉ rõ chỗ vẽ sai để Hs kịp thời chỉnh sửa. 4.5.Hướng dẫn học tập: * Đối với bài học tiết này: _Về nhà hoàn thành bài vẽ và nộp vào tiết sau. _Có thể trình bày thêm một vài khẩu hiệu với những cách bố cục khác nhau. *Đối với bài học tiết sau: _Chuẩn bị bài 7:Vẽ tĩnh vật(lọ và quả)-vẽ hình: +Chuẩn bị mẫu vẽ:lọ và quả +Sưu tầm tranh tĩnh vật. +Chuẩn bị giấy vẽ,bút chì,gôm. 5.PHỤ LỤC ........................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

Về Khẩu Hiệu “Tiên Học Lễ Hậu Học Văn”

Posted on by nguyentrongtao

LẠI NGUYÊN ÂN        

Thế hệ tôi, sinh trưởng ở miền Bắc, đi học trường phổ thông 10 năm (từ lớp 1 đến lớp 10) vào những năm 1954-1964, thì khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” hầu như không để lại ký ức gì. Là vì ở miền Bắc thời đó, những gì được xem như gắn với “tư tưởng phong kiến” đều bị coi là lạc hậu, cần tránh xa, cần chống lại; mà “tiên học lễ hậu học văn” thì rõ ràng là tư tưởng Nho giáo, là thuộc hệ tư tưởng phong kiến rồi! Cho nên dễ hiểu là không hề thấy khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” xuất hiện trong khuôn viên bất cứ ngôi trường nào trên miền Bắc thời gian ấy; cũng hầu như không có giáo viên hay cán bộ nào trong ngành giáo dục thời ấy dám nói đến khẩu hiệu đó trước các đám đông. Tôi cũng chưa đọc thấy trong hồi ức những người lớn lên và đi học tiểu học, trung học ở miền Nam vào quãng thời gian ấy nói rằng khẩu hiệu kể trên có ghi đâu đó trong khuôn viên các ngôi trường.

Tất nhiên, đừng nghĩ rằng vì khẩu hiệu đó không “hiển thị” trong cộng đồng thì tư tưởng ngụ trong khẩu hiệu ấy không chi phối tâm thức người dạy, người học, và nói chung, tâm thức cộng đồng thời ấy.

Nhưng cần ghi nhận sự thực vừa kể về sự không hiện diện khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” trong khuôn viên trường học. Và đến sau tháng 4/1975, tình hình vừa nêu lại cũng phổ cập vào nhà trường từ vĩ tuyến 17 trở vào đến chót mũi Cà Mau.

Thế thì khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” đã “sống lại” trong ngành giáo dục Việt Nam từ bao giờ? Nó được thể hiện như ta thấy hiện nay trên rất nhiều (rất nhiều chứ không phải toàn bộ) khuôn viên các ngôi trường từ Bắc chí Nam là từ khi nào? Do ai? Do chủ trương của ngành giáo dục hay do “sáng kiến” tự động, tự phát của các trường?

Theo sự ghi nhận – như một dữ liệu nghiên cứu – của tác gia Trần Đình Hượu (1927-1995) thì vào năm 1973, nhà giáo Nguyễn Lân (1906-2003) viết bài “Có nên vận dụng phương châm “tiên học lễ hậu học văn” trong việc giáo dục thế hệ trẻ của ta ngày nay không?” (đăng tạp chí “Văn hóa nghệ thuật” ở Hà Nội, số 31, tháng 7/1973) mà động cơ viết bài này, theo lời của chính tác giả Nguyễn Lân, là do thực tế “một số trẻ em không ngoan, trong nhà thì bướng bỉnh với cha mẹ, ra đường thì hỗn láo với mọi người, đến trường thì xấc xược với thầy giáo” (trích bài báo đã dẫn). Ngay sau khi bài báo này xuất hiện, trên báo “Tiền phong” của T.Ư. Đoàn (số 2351, ra ngày 16/8/1973) có bài báo dài của tác giả Thanh Bình nhan đề “Quét sạch những tàn dư tệ hại của Khổng giáo”, với những kết luận chém đinh chặt sắt: “… chúng ta không thể dung hòa được với Khổng giáo cùng với hệ tư tưởng phản động và bảo thủ của nó”, … “chúng ta phải kiên trì đấu tranh để quét sạch nó ra khỏi mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như quét sạch những đống rác bẩn vậy”!

Tiếp theo bài này, báo “Tiền phong” còn định ra cả một loạt bài khác nữa để công kích sự đề xuất kể trên của nhà giáo Nguyễn Lân, nhưng thủ tướng Phạm Văn Đồng đã can thiệp dừng lại. [1]

[Những năm 1970, thái độ chính thống đối với Nho giáo nói chung và các tư tưởng của nó, ngoài việc duy trì định hướng “phản phong” vốn được đề ra từ trước, có lẽ còn được tăng cường do việc cảnh giác đề phòng “cách mạng văn hóa” qua của Hữu Nghị tràn vào đồng bằng sông Hồng!]

Trở lại câu hỏi: khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” xuất hiện trở lại trong ngành giáo dục từ khi nào? Thật chi tiết về việc này, nhất là khía cạnh “là chủ trương hay do tự phát” mà khẩu hiệu này được trương cao trên khuôn viên các ngôi trường? – thì cần có xác nhận của những người ghi sử ký ngành giáo dục (hiện ở ngành này bộ này có vị trí người ghi biên niên hay không?).

Đứng ngoài quan sát như tôi và phần đông bạn đọc, thì khẩu hiệu này có lẽ đã tái xuất hiện trong nhà trường Việt Nam từ những năm 1990. Mấy năm cao trào đổi mới có một số đề xuất cải cách giáo khoa, nhất là môn Văn, sao cho bớt khô cứng, chứ chưa nêu đến quan hệ thầy trò hay việc tăng trọng môn đức dục.

Có thể nói, tâm lý coi trọng và đề cao người thầy và lao động dạy học chính là cơ sở tâm lý xã hội khiến cho khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” từ chỗ bị cấm đoán miệt thị trong “đêm dài bao cấp”, lại bỗng chốc được nêu cao trên khuôn viên các ngôi trường vẫn được những người quản lý nó mệnh danh là “nhà trường xã hội chủ nghĩa”.

Tất nhiên, như đã nói, điều đã khiến các ban quản trị nhà trường dùng đến khẩu hiệu trên, còn là những lo ngại về tình trạng được gọi là “xuống cấp” đạo đức xã hội có vẻ như biểu hiện ngày càng nặng và đáng báo động trong nhà trường, tuy rằng ban đầu người ta chỉ nhấn mạnh chuyện học trò hư, vô lễ, chứ rất khó khăn để ghi nhận các chuyện không hay trong giới giáo viên.

***

Thế nhưng có nên tiếp tục trương cao khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” cả trên khuôn viên các ngôi trường Việt Nam hiện nay cũng như trong lời nói hàng ngày hay không?

Tôi vẫn chưa quên cảm giác gì đó rất không thoải mái mỗi khi nhìn thấy khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” được sơn vẽ sao cho kích cỡ thật lớn, lại đặt ở vị trí đáng chú ý nhất, tại các ngôi trường Việt Nam.

Vì sao vậy? Vì nó lời lẽ bằng ngôn từ Hán Việt, không phải lời lẽ thuần Việt. Vì nó gắn với những thời kỳ rõ ràng là đã qua của giáo dục Việt Nam. Vì nó ngày càng bộc lộ yếu tố vay mượn ngoại lai mà cũng ngày càng rõ là không nên tiếp tục.

Nếu bảo ta vẫn có thể dùng “tiên học lễ hậu học văn” như khẩu hiệu trong giáo dục bởi nền giáo dục ta từ ban đầu vốn chịu ảnh hưởng Trung Hoa; thì cần đáp lại rằng: đúng là giáo dục ở Việt Nam xa xưa thuở ban đầu chịu ảnh hưởng giáo dục Trung Hoa, tiếp nhận cái học của Nho giáo, trong ngàn năm Bắc thuộc và suốt 9 thế kỷ các nền quân chủ độc lập. Nhưng từ cuối thế kỷ XIX và nhất là từ đầu thế XX, nền giáo dục ở Việt Nam đã chuyển sang tiếp nhận giáo dục của châu Âu, trực tiếp là của Pháp. Cho đến ngày nay, thử nhìn xem toàn bộ học vấn mà 12 lớp thuộc hệ nhà trường phổ thông của ta cung cấp cho học sinh là nguồn từ đâu? Rõ ràng có ít ra đến 99% các tri thức là từ nguồn Âu-Mỹ! Hãy xem từng môn vật lý, hóa học, toán, thực vật, động vật, … các tri thức là lấy từ đâu? Chắc chắn không lấy từ Khổng (Nho), Đạo hay Lão Trang. Chằng riêng gì ta, giáo dục phổ thông ở Hàn Quốc, Nhật Bản, ở chính Trung Hoa, Đài Loan, cũng đều như vậy. Vậy là về giáo dục thì toàn bộ các vùng châu Á trong đó có ta đều đã “thoát Á” rồi, có còn là kiểu trường học “chi hồ giã giả”, học tứ thư ngũ kinh, học viết văn bát cổ,… nữa đâu? Chẳng riêng gì châu Á, mà khắp hành tinh chúng ta, hệ thống các tri thức dạy cho các trường phổ thông, đều có nguồn Âu-Mỹ. Vậy thì nhà trường hiện tại đâu có còn dính líu gì nhiều với Nho giáo mà toan quay lại dùng các phương châm, khẩu hiệu rút từ nó?

Cốt lõi mệnh đề “tiên học lễ hậu học văn” là nhấn mạnh việc trau dồi tư cách đạo đức bên cạnh việc học lấy tri thức và kỹ năng. Đây là một phương châm không riêng gì của giáo dục ở phương Đông. Nhưng cách diễn đạt lấy chữ “lễ” đại diện cho toàn bộ phương diện đạo đức thì rõ ràng là một quy nạp quá lệch, tỏ ra cũ kỹ, lại rất dễ phát sinh hiểu lầm và bị lạm dụng; toàn bộ phương diện tri thức và kỹ năng mà người ta cần tiếp nhận trong sự học, đem gói vào chữ “văn” thì quả là sơ giản hóa đến mức khó chấp nhận.

          Trong cuộc sống thường ngày, ngoài ý nghĩa lễ độ thông thường, “lễ” thường ám ảnh người ta ở một vài hàm nghĩa thông tục. Đối với phía người học, “lễ” dễ gợi tới sự khuất phục, – đòi hỏi học trò phải vâng phục, – điều mà càng học trò lớp trên càng khó có thể sẵn sàng thể hiện, do tư cách “người lớn” đang đậm dần lên ở các cô gái, chàng trai, họ không thể “phục” nếu người thầy không thật giỏi và không thật có tư cách. Đối với phụ huynh, “lễ” nổi bật nhất ở ý nghĩa cống nạp, – nó có cái gì đó nặng nề hơn so với sự trả công thông thường.

          Tôi biết là có bạn sẽ yêu cầu phải nêu những hàm nghĩa của “lễ” từ gốc, từ các kinh điển Nho giáo. Song đấy là lĩnh vực của giới nghiên cứu học thuật; người ngoài đời thường không đủ hiểu biết để tiếp cận như thế; họ chỉ hiểu và đụng chạm với “lễ” ở ý nghĩa thông tục mà thôi.

Cho nên, việc sử dụng lại khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” từ hơn chục năm nay, theo tôi, chỉ nên được xem là giải pháp tình thế. Đã đến lúc nên chấm dứt tình thế tạm thời này. Nếu cần khẩu hiệu, hãy gắng tìm từ những nguồn thuần Việt”; và nếu không tìm được từ nguồn “thuần Việt”, thì nên tham khảo những nguồn có quy mô thế giới, chẳng hạn từ nguồn của tổ chức UNESCO.

Trong bối cảnh thế giới hiện tại, ta cũng nên lưu ý đến những hiện tượng như các viện mang tên Khổng Tử được Trung Quốc lập ra ở các nước với tính cách những cơ quan truyền bá văn hóa Trung Quốc ở nước ngoài. Cái tên của Khổng Tử và có lẽ cả học thuyết của ngài nữa, như vậy, đang được đóng dấu đậm bản quyền quốc gia Trung Hoa. Ta nên tế nhị với chuyện này. Ta nên tự chứng tỏ rằng: từ thời hiện đại, người Việt Nam chúng ta đã đứng ngoài biên giới của nền văn hóa Trung Hoa rồi, không còn đứng trong đó nữa, như ở thời trung đại. Khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” – vốn có xuất xứ từ Khổng Tử – càng nên được chúng ta sớm chấm dứt sử dụng trong hiện tại, để từ nay chỉ nên được ghi nhận như một trong những thứ ta đã từng vay mượn thời quá khứ xa xưa.

20/7/2012

Chú thích

[1] Trần Đình Hượu (1995): Đến hiện đại từ truyền thống, Hà Nội: Nxb. Văn hóa, in lần 2 có bổ sung, 1996, tr. 7 – 9; Trần Đình Hượu (2001): Các bài giảng về tư tưởng phương Đông /Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn/ Hà Nội: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2001, tr. 171-172.

Chia sẻ:

Twitter

Facebook

Về Khẩu Hiệu “Tiên Học Lễ Hậu Học Văn”

Lại Nguyên Ân

Thế hệ tôi, sinh trưởng ở miền Bắc, đi học trường phổ thông 10 năm (từ lớp 1 đến lớp 10) vào những năm 1954-1964, thì khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” hầu như không để lại ký ức gì. Là vì ở miền Bắc thời đó, những gì được xem như gắn với “tư tưởng phong kiến” đều bị coi là lạc hậu, cần tránh xa, cần chống lại; mà “tiên học lễ hậu học văn” thì rõ ràng là tư tưởng Nho giáo, là thuộc hệ tư tưởng phong kiến rồi! Cho nên dễ hiểu là không hề thấy khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” xuất hiện trong khuôn viên bất cứ ngôi trường nào trên miền Bắc thời gian ấy; cũng hầu như không có giáo viên hay cán bộ nào trong ngành giáo dục thời ấy dám nói đến khẩu hiệu đó trước các đám đông. Tôi cũng chưa đọc thấy trong hồi ức những người lớn lên và đi học tiểu học, trung học ở miền Nam vào quãng thời gian ấy nói rằng khẩu hiệu kể trên có ghi đâu đó trong khuôn viên các ngôi trường.

Tất nhiên, đừng nghĩ rằng vì khẩu hiệu đó không “hiển thị” trong cộng đồng thì tư tưởng ngụ trong khẩu hiệu ấy không chi phối tâm thức người dạy, người học, và nói chung, tâm thức cộng đồng thời ấy.

Nhưng cần ghi nhận sự thực vừa kể về sự không hiện diện khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” trong khuôn viên trường học. Và đến sau tháng 4/1975, tình hình vừa nêu lại cũng phổ cập vào nhà trường từ vĩ tuyến 17 trở vào đến chót mũi Cà Mau.

Thế thì khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” đã “sống lại” trong ngành giáo dục Việt Nam từ bao giờ? Nó được thể hiện như ta thấy hiện nay trên rất nhiều (rất nhiều chứ không phải toàn bộ) khuôn viên các ngôi trường từ Bắc chí Nam là từ khi nào? Do ai? Do chủ trương của ngành giáo dục hay do “sáng kiến” tự động, tự phát của các trường?

Theo sự ghi nhận – như một dữ liệu nghiên cứu – của tác gia Trần Đình Hượu (1927-1995) thì vào năm 1973, nhà giáo Nguyễn Lân (1906-2003) viết bài “Có nên vận dụng phương châm “tiên học lễ hậu học văn” trong việc giáo dục thế hệ trẻ của ta ngày nay không?” (đăng tạp chí “Văn hóa nghệ thuật” ở Hà Nội, số 31, tháng 7/1973) mà động cơ viết bài này, theo lời của chính tác giả Nguyễn Lân, là do thực tế “một số trẻ em không ngoan, trong nhà thì bướng bỉnh với cha mẹ, ra đường thì hỗn láo với mọi người, đến trường thì xấc xược với thầy giáo” (trích bài báo đã dẫn). Ngay sau khi bài báo này xuất hiện, trên báo “Tiền phong” của T.Ư. Đoàn (số 2351, ra ngày 16/8/1973) có bài báo dài của tác giả Thanh Bình nhan đề “Quét sạch những tàn dư tệ hại của Khổng giáo”, với những kết luận chém đinh chặt sắt: “… chúng ta không thể dung hòa được với Khổng giáo cùng với hệ tư tưởng phản động và bảo thủ của nó”, … “chúng ta phải kiên trì đấu tranh để quét sạch nó ra khỏi mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như quét sạch những đống rác bẩn vậy”!

Tiếp theo bài này, báo “Tiền phong” còn định ra cả một loạt bài khác nữa để công kích sự đề xuất kể trên của nhà giáo Nguyễn Lân, nhưng thủ tướng Phạm Văn Đồng đã can thiệp dừng lại. [1]

[Những năm 1970, thái độ chính thống đối với Nho giáo nói chung và các tư tưởng của nó, ngoài việc duy trì định hướng “phản phong” vốn được đề ra từ trước, có lẽ còn được tăng cường do việc cảnh giác đề phòng “cách mạng văn hóa” qua của Hữu Nghị tràn vào đồng bằng sông Hồng!]

Trở lại câu hỏi: khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” xuất hiện trở lại trong ngành giáo dục từ khi nào? Thật chi tiết về việc này, nhất là khía cạnh “là chủ trương hay do tự phát” mà khẩu hiệu này được trương cao trên khuôn viên các ngôi trường? – thì cần có xác nhận của những người ghi sử ký ngành giáo dục (hiện ở ngành này bộ này có vị trí người ghi biên niên hay không?).

Đứng ngoài quan sát như tôi và phần đông bạn đọc, thì khẩu hiệu này có lẽ đã tái xuất hiện trong nhà trường Việt Nam từ những năm 1990. Mấy năm cao trào đổi mới có một số đề xuất cải cách giáo khoa, nhất là môn Văn, sao cho bớt khô cứng, chứ chưa nêu đến quan hệ thầy trò hay việc tăng trọng môn đức dục.

Có thể nói, tâm lý coi trọng và đề cao người thầy và lao động dạy học chính là cơ sở tâm lý xã hội khiến cho khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” từ chỗ bị cấm đoán miệt thị trong “đêm dài bao cấp”, lại bỗng chốc được nêu cao trên khuôn viên các ngôi trường vẫn được những người quản lý nó mệnh danh là “nhà trường xã hội chủ nghĩa”.

Tất nhiên, như đã nói, điều đã khiến các ban quản trị nhà trường dùng đến khẩu hiệu trên, còn là những lo ngại về tình trạng được gọi là “xuống cấp” đạo đức xã hội có vẻ như biểu hiện ngày càng nặng và đáng báo động trong nhà trường, tuy rằng ban đầu người ta chỉ nhấn mạnh chuyện học trò hư, vô lễ, chứ rất khó khăn để ghi nhận các chuyện không hay trong giới giáo viên.

***

Thế nhưng có nên tiếp tục trương cao khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” cả trên khuôn viên các ngôi trường Việt Nam hiện nay cũng như trong lời nói hàng ngày hay không?

Tôi vẫn chưa quên cảm giác gì đó rất không thoải mái mỗi khi nhìn thấy khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” được sơn vẽ sao cho kích cỡ thật lớn, lại đặt ở vị trí đáng chú ý nhất, tại các ngôi trường Việt Nam.

Vì sao vậy? Vì nó lời lẽ bằng ngôn từ Hán Việt, không phải lời lẽ thuần Việt. Vì nó gắn với những thời kỳ rõ ràng là đã qua của giáo dục Việt Nam. Vì nó ngày càng bộc lộ yếu tố vay mượn ngoại lai mà cũng ngày càng rõ là không nên tiếp tục.

Nếu bảo ta vẫn có thể dùng “tiên học lễ hậu học văn” như khẩu hiệu trong giáo dục bởi nền giáo dục ta từ ban đầu vốn chịu ảnh hưởng Trung Hoa; thì cần đáp lại rằng: đúng là giáo dục ở Việt Nam xa xưa thuở ban đầu chịu ảnh hưởng giáo dục Trung Hoa, tiếp nhận cái học của Nho giáo, trong ngàn năm Bắc thuộc và suốt 9 thế kỷ các nền quân chủ độc lập. Nhưng từ cuối thế kỷ XIX và nhất là từ đầu thế XX, nền giáo dục ở Việt Nam đã chuyển sang tiếp nhận giáo dục của châu Âu, trực tiếp là của Pháp. Cho đến ngày nay, thử nhìn xem toàn bộ học vấn mà 12 lớp thuộc hệ nhà trường phổ thông của ta cung cấp cho học sinh là nguồn từ đâu? Rõ ràng có ít ra đến 99% các tri thức là từ nguồn Âu-Mỹ! Hãy xem từng môn vật lý, hóa học, toán, thực vật, động vật, … các tri thức là lấy từ đâu? Chắc chắn không lấy từ Khổng (Nho), Đạo hay Lão Trang. Chằng riêng gì ta, giáo dục phổ thông ở Hàn Quốc, Nhật Bản, ở chính Trung Hoa, Đài Loan, cũng đều như vậy. Vậy là về giáo dục thì toàn bộ các vùng châu Á trong đó có ta đều đã “thoát Á” rồi, có còn là kiểu trường học “chi hồ giã giả”, học tứ thư ngũ kinh, học viết văn bát cổ,… nữa đâu? Chẳng riêng gì châu Á, mà khắp hành tinh chúng ta, hệ thống các tri thức dạy cho các trường phổ thông, đều có nguồn Âu-Mỹ. Vậy thì nhà trường hiện tại đâu có còn dính líu gì nhiều với Nho giáo mà toan quay lại dùng các phương châm, khẩu hiệu rút từ nó?

Cốt lõi mệnh đề “tiên học lễ hậu học văn” là nhấn mạnh việc trau dồi tư cách đạo đức bên cạnh việc học lấy tri thức và kỹ năng. Đây là một phương châm không riêng gì của giáo dục ở phương Đông. Nhưng cách diễn đạt lấy chữ “lễ” đại diện cho toàn bộ phương diện đạo đức thì rõ ràng là một quy nạp quá lệch, tỏ ra cũ kỹ, lại rất dễ phát sinh hiểu lầm và bị lạm dụng; toàn bộ phương diện tri thức và kỹ năng mà người ta cần tiếp nhận trong sự học, đem gói vào chữ “văn” thì quả là sơ giản hóa đến mức khó chấp nhận.

Trong cuộc sống thường ngày, ngoài ý nghĩa lễ độ thông thường, “lễ” thường ám ảnh người ta ở một vài hàm nghĩa thông tục. Đối với phía người học, “lễ” dễ gợi tới sự khuất phục, – đòi hỏi học trò phải vâng phục, – điều mà càng học trò lớp trên càng khó có thể sẵn sàng thể hiện, do tư cách “người lớn” đang đậm dần lên ở các cô gái, chàng trai, họ không thể “phục” nếu người thầy không thật giỏi và không thật có tư cách. Đối với phụ huynh, “lễ” nổi bật nhất ở ý nghĩa cống nạp, – nó có cái gì đó nặng nề hơn so với sự trả công thông thường.

Tôi biết là có bạn sẽ yêu cầu phải nêu những hàm nghĩa của “lễ” từ gốc, từ các kinh điển Nho giáo. Song đấy là lĩnh vực của giới nghiên cứu học thuật; người ngoài đời thường không đủ hiểu biết để tiếp cận như thế; họ chỉ hiểu và đụng chạm với “lễ” ở ý nghĩa thông tục mà thôi.

Cho nên, việc sử dụng lại khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” từ hơn chục năm nay, theo tôi, chỉ nên được xem là giải pháp tình thế. Đã đến lúc nên chấm dứt tình thế tạm thời này. Nếu cần khẩu hiệu, hãy gắng tìm từ những nguồn thuần Việt”; và nếu không tìm được từ nguồn “thuần Việt”, thì nên tham khảo những nguồn có quy mô thế giới, chẳng hạn từ nguồn của tổ chức UNESCO.

Trong bối cảnh thế giới hiện tại, ta cũng nên lưu ý đến những hiện tượng như các viện mang tên Khổng Tử được Trung Quốc lập ra ở các nước với tính cách những cơ quan truyền bá văn hóa Trung Quốc ở nước ngoài. Cái tên của Khổng Tử và có lẽ cả học thuyết của ngài nữa, như vậy, đang được đóng dấu đậm bản quyền quốc gia Trung Hoa. Ta nên tế nhị với chuyện này. Ta nên tự chứng tỏ rằng: từ thời hiện đại, người Việt Nam chúng ta đã đứng ngoài biên giới của nền văn hóa Trung Hoa rồi, không còn đứng trong đó nữa, như ở thời trung đại. Khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” – vốn có xuất xứ từ Khổng Tử – càng nên được chúng ta sớm chấm dứt sử dụng trong hiện tại, để từ nay chỉ nên được ghi nhận như một trong những thứ ta đã từng vay mượn thời quá khứ xa xưa.

LẠI NGUYÊN ÂN

Chú thích

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 24-7-12