Sóng Elliott Tk 21: Cách Vẽ & Đếm Sóng Elliott (Cụ Thể)

--- Bài mới hơn ---

  • Sóng Elliott Là Gì? Cách Sử Dụng Sóng Elliott Hiệu Quả Nhất
  • Cách Sử Dụng Lý Thuyết Sóng Elliott Trong Giao Dịch
  • Hướng Dẫn Giao Dịch Theo Sóng Elliott 4 Phương Pháp Vẽ Sóng Elliott
  • Đề Tham Khảo Khối Tiểu Học Bài Vẽ Đèn Ông Sao 5 Cánh
  • Cách Làm Đèn Ông Sao Đón Tết Trung Thu
  • Sóng elliot là gì mà các trader quan tâm quá vậy! Mô hình sóng elliot gồm 5 đợt sóng, nhưng liệu các trader chúng ta có hiểu đúng & toàn diện về sóng elliott?

    Nhà đầu tư theo trường phái phân tích kỹ thuật, hay gọi là trader hay hỏi Ngọ về vấn đề này. Ví dụ như: nguồn gốc hay định nghĩa sóng elliott? Cách vẽ sóng elliott, cách đếm sóng elliott hiệu quả? Một chu kỳ sóng elliott đầy đủ? Sự kết hợp giữa sóng elliott với dãy số Fibonacci?

    Thì đây sẽ là bài viết toàn diện Ngọ chia sẻ đến nhà đầu tư.

    Nội dung bài viết sóng ellott bao gồm:– Lịch sử về sóng elliott

    – Những nguyên lý và cách đếm sóng elliott

    – Ứng dụng lý thuyết sóng elliott và dãy số Fibonacci

    Kho sách chứng khoán lớn nhất Việt Nam với 100+ ebook.

    I. Lịch sử sóng elliott

    Nguyên lý sóng Elliott là phát minh của Ralph Nelson Elliott dựa vào các hành vi xã hội, hoặc đám đông, có khuynh hướng theo xu hướng và được lặp đi lặp lại, vì bản chất con người trong đầu tư rất ít hoặc không thay đổi, nó thế hiện ở các mô hình và các chu kỳ.

    Sóng Elliott đã được nghiên cứu và sử dụng trong thị trường chứng khoán, và thể hiện qua biểu đồ của nhà đầu tư trong giao dịch. Ông đã xác định một số mô hình chuyển động, sự hồi lại, chúng kết hợp lại với nhau tạo thành mẫu hình lớn với thời gian dài hoặc ngắn. Một sóng hoàn chỉnh sẽ có tất cả 144 sóng nhỏ.

    II. Những nguyên lý và cách đếm sóng elliott

    1. Sóng elliott đơn giản

    “Nguyên lý sóng Elliott” được xuất bản lần đầu và được công bố rộng rãi vào năm 1938.

    Theo lý thuyết sóng Elliott, mô hình cơ bản nhất sẽ được chia làm 5 đợt sóng. Gồm 3 sóng chính 1, 3 và 5 di chuyển theo xu hướng, và 2 sóng 2, 4 là sóng điều chỉnh.

    Cụ thể hơn:

    Các sóng tăng giảm đan xen nhau, sau sóng tăng là sóng giảm và ngược lại.

    Trong các sóng thì lại có những sóng nhỏ, siêu nhỏ khác.

    Một số quy tắc:

    • Sóng 4 không xâm phạm vào sóng 1. (Tức là giá thấp nhất sóng điều chỉnh 4 phải lơn hơn giá đỉnh của sóng tăng số 1)
    • Sóng 2 không hồi lại hết toàn bộ sóng 1
    • Sóng 3 sẽ là sóng tăng mạnh nhất so với sóng 1 và sóng 5.

    2. Chu kỳ sóng Ellliot

    Một chu kỳ sóng hoàn chỉnh sẽ gồm 8 sóng với 2 giai đoạn:

    • 1) sóng tăng chia thành 5 đợt
    • 2) sóng điều chỉnh ba sóng

    Sóng tăng chính sẽ được gắn số 1, 2, 3,4 ,5 và sóng giảm chính sẽ gắn chữ số A, B, C. Sóng A & C sẽ ngược chiều với giảm giá, sóng B là sóng tăng, tức cùng chiều với sóng gốc.

    Lưu ý: Đỉnh sóng B phải thấp hơn đỉnh sóng A.

    Sóng A-B-C bản chất giống sóng 1-2-3-4-5, tuy nhiên ở đây chỉ có 3 sóng thay vì xu hướng chính gồm 5 sóng. Khi đó gộp lại, chúng ta sẽ có chu kỳ sóng “5-3”. Hãy tưởng tượng giống hình zigzag vậy.

    Một sóng hoàn chỉnh sẽ có tất cả 144 sóng nhỏ!

    III. Ứng dụng lý thuyết sóng elliott và dãy số Fibonacci

    Tuy lý thuyết là vậy, tuy nhiên tùy theo cách nhìn nhận mà mỗi người sẽ có cách đếm sóng riêng, kết hợp với dãy số Fibonacci để tạo ra khung thời gian và các ngưỡng mua và bán phù hợp.

    Đối với các nhà đầu tư mới bắt đầu theo trường phái phân tích kỹ thuật muốn đánh theo sóng elliott, chỉ nên tập trung vào sóng 3 vì đó là sóng có khả năng tăng giá mạnh nhất. Yên tâm là bạn là NĐT nhỏ lẻ tài sản tầm 1 tỷ trở lại nên với TTCK với hơn 1000 mã, sẽ đủ chỗ cho bạn giải ngân vào sóng 3. Phân tích kỹ thuật khá phong phú và đa dạng, để hiểu tường tận về PTKT, bạn nên tham dự khóa học phân tích kỹ thuật của Ngọ, Ngọ sẽ hướng dẫn và hỗ trợ bạn đến khi thuần thục.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Tạo Hiệu Ứng Bóng Đổ Trong Photoshop, Đổ Bóng Chữ Bằng Photoshop
  • Vẽ Tĩnh Vật Bằng Bút Chì
  • 3 Bước Hướng Dẫn Vẽ Tĩnh Vật Chai Thủy Tinh
  • Bóng Của Các Khối Hình Học Cơ Bản
  • Bài 13. Đề Tài Bộ Đội
  • Cách Vẽ Sóng Elliott Chính Xác

    --- Bài mới hơn ---

  • Sóng Elliott Là Gì? Cách Xác Định Biên Độ Sóng Chuẩn Xác Nhất
  • Tổng Hợp Các Dạng Bài Tập Vật Lý 10 Và Cách Giải
  • Tìm Hiểu Phần Mềm Inventor Và Khả Năng Ứng Dụng
  • Các Mẫu Thiết Kế Nhà Ống 1 Tầng 2 Phòng Ngủ Hiện Đại Nhất
  • Top 100 Mẫu Nhà Ống 1 Tầng Đẹp 2022 Do Hiệp Hội Xây Dựng Bình Chọn
  • Như chúng ta đã biết sóng Elliott được hình thành bởi 5 đợt sóng, nhưng bạn dã thực sự hiểu về cấu tạo cũng như cách ứng dụng, và cách vẽ sóng Elliott trong giao dịch? Bài viết này sẽ trả lời câu hỏi này, bằng những trải nghiệm thực tiễn của chuyên gia.

    Sóng Elliot là gì?

    Theo nguyên tắc sóng Elliott sẽ có một xu hướng tăng hoặc giảm được chia thành hai pha là pha dịch chuyển theo hướng chính – motive phase và pha điều chỉnh – corrective phase. Pha dịch chuyển theo 5 xu hướng sóng và 3 sóng đối với pha điều chỉnh.

    Cụ thể đối với một xu hướng tăng được cấu tạo đầy đủ bởi:

    • Pha tăng, 5 sóng xuất hiện đầu tiên được gọi là sóng đẩy – impluse waves – sóng 1, sóng 3 và sóng 5 là sóng tăng và sóng 2,4 là sóng giảm.
    • Mô hình 3 sóng cuối (sóng điều chỉnh) là sóng điều chỉnh trong đó có sóng A, sóng B, sóng C – Sóng A,C là sóng giảm và sóng B là sóng tăng.

    Theo nguyên lý sóng Elliott, trong sóng thông thường còn tồn tại nhiều sóng nhỏ hơn được gọi là “trong sóng có sóng”, và sóng cũng được chia thành nhiều cấp độ khác nhau, sóng nhỏ trên đồ thị phút và sóng lớn kéo dài đến hàng trăm năm.

    Cách vẽ sóng Elliott

    Trong các phương pháp vẽ sóng Elliott việc vẽ kênh giá là điều cần thiết nhất, nó quyết định vị trí của sóng nội bộ và dự đoán xu hướng di chuyển của sóng trong tương lai. Kênh giá bao gồm hành động giá của một sóng và những đường xu hướng song song, Triangle không có xu hướng song song nhưng vẫn xem là một kênh giá.

    Cách vẽ sóng Elliott và dự đoán mục tiêu:

    Sóng 3 hoặc sóng C: khi sự bắt đầu hình thành của sóng 1 và sóng 2, nhà giao dịch cần tiến hành vẽ kênh giá, nối điểm đầu của sóng 1 với điểm cuối của sóng 2, sau đó vẽ đường song song từ đỉnh sóng 1.

    Trong trường hợp sóng 3 không thể vượt khỏi đường song song hoặc không thể chạm đến thì có lẽ đó là sóng C chứ không phải sóng 3.

    Đường hỗ trợ từ 0 đến sóng 2 là mức chặn, khi đường này phá vỡ thì sóng 2 và sóng B di chuyển lộn xộn và làm sóng 3 và sóng C không thể bắt đầu hình thành.

    Sóng 4 sau khi sóng 3 xuất hiện thì ta sẽ vẽ kênh giá bằng cách nối các điểm cuối của sóng 1 và điểm cuối sóng 3 và 1 đường song song từ điểm cuối của sóng 2. Điều này sẽ giúp bạn dự đoán được hướng đi của sóng 4. Lưu ý đường nằm dưới sóng 2 sẽ bị phá vỡ nhỏ bởi hành động giá của sóng 4. Đường hỗ trợ này thể hiện được mục tiêu của sóng 4.

    Trong trường hợp sóng 4 không chạm hoặc đến gần được đường hỗ trợ thì đây là dấu hiệu của xu hướng rất mạnh. Có thể xu hướng giá vẫn đang tồn tại ở sóng 3 hoặc chuẩn bị cho một sự bức phá ở sóng 5.

    Sóng 5: có hai cách để vẽ sóng 5 như sau:

    • Ngay khi sóng 4 được hình thành ta có thể vẽ kênh giá nối điểm cuối của sóng 2 và điểm cuối của sóng 4 bằng một đường xu hướng tiếp đó vẽ một đường song song từ điểm cuối của sóng 3. Từ cách này nhà đầu tư có thể dự đoán được hướng đi của sóng 5. Lưu ý sóng 5 sẽ hiếm khi chạm đến đường xu hướng nằm trên, trừ khi sóng 5 theo mô hình mở rộng Extension 5 hoặc sóng 3 có dấu hiệu yếu đi. Mô hình Extension 5 có thể hiện khối lượng giao dịch cao và các chỉ báo xung lượng mạnh hiện tượng vượt quá mức sẽ xuất hiện.
    • Sóng 1 và sóng 5 sẽ không có tốc độ di chuyển bằng sóng 3. Trong trường hợp sóng 3 biểu hiện được một đợt sóng tăng hoặc giảm giá tạo dốc gần như là thẳng đứng thì trader vẽ một đường xu hướng nối sóng 2 với sóng 4 sau đó vẽ đường song song từ sóng 1. Đường song song này cắt sóng 3 và hình thành xu hướng của sóng 5. Đây là kênh giá rất tiềm năng.

    Sóng D và E: khi sóng B được hình thành trader vẽ một đường nối điểm đầu của sóng A với điểm cuối của sóng B dự đoán xu hướng sóng D. Sau đó khi sóng C hình thành ta tiếp tục vẽ đường xu hướng nối sóng A với điểm cuối của sóng C để dự đoán hướng đi của sóng E, thông thường sóng E sẽ không bao giờ thay đổi tại đường xu hướng nó chỉ chạm đường xu hướng tạm thời và nhanh chóng.

    Mở rộng, Mô hình Double Zigzag, mô hình sóng xu hướng có nhiều điểm giống nhau vì vậy nhà giao dịch phải biết vẽ sóng Elliott trên kênh giá. Các mô hình Double Zigzag có xu hướng chạm kênh giá gần như là tốt nhất khi ở mô hình sóng đẩy thì sóng 3 phá vỡ ra khỏi kênh giá.

    Cách vẽ sóng Elliott là một phương pháp mà trader cần phải biết và ứng dụng nhuần nhuyễn. Thực tế sóng Elliott có khả năng bị nhiễu trader cần thật tỉnh táo để xác định và xử lý tình huống này, đảm bảo vốn giao dịch của chính mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Cách Vẽ Sóng Elliott Cực Hay Dành Cho Người Mới
  • Sóng Elliott Tk 21: Cách Vẽ & Đếm Sóng Elliott (Cụ Thể) – Cophieux
  • Cách Vẽ Ông Già Noel
  • Cách Đổ Bóng Chữ Trong Photoshop Đơn Giản Nhất
  • Cách Vẽ Bóng Đổ Khối Cơ Bản
  • Sóng Elliott Tk 21: Cách Vẽ & Đếm Sóng Elliott (Cụ Thể) – Cophieux

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Cách Vẽ Sóng Elliott Cực Hay Dành Cho Người Mới
  • Cách Vẽ Sóng Elliott Chính Xác
  • Sóng Elliott Là Gì? Cách Xác Định Biên Độ Sóng Chuẩn Xác Nhất
  • Tổng Hợp Các Dạng Bài Tập Vật Lý 10 Và Cách Giải
  • Tìm Hiểu Phần Mềm Inventor Và Khả Năng Ứng Dụng
  • Sóng elliot là gì mà các trader quan tâm quá vậy! Mô hình sóng elliot gồm 5 đợt sóng, nhưng liệu các trader chúng ta có hiểu đúng & toàn diện về sóng elliott?

    Nhà đầu tư theo trường phái phân tích kỹ thuật, hay gọi là trader hay hỏi Ngọ về vấn đề này. Ví dụ như: nguồn gốc hay định nghĩa sóng elliott? Cách vẽ sóng elliott, cách đếm sóng elliott hiệu quả? Một chu kỳ sóng elliott đầy đủ? Sự kết hợp giữa sóng elliott với dãy số Fibonacci?

    Thì đây sẽ là bài viết toàn diện Ngọ chia sẻ đến nhà đầu tư.

    Nội dung bài viết sóng ellott bao gồm:

    • Lịch sử về sóng elliott
    • Những nguyên lý và cách đếm sóng elliott
    • Ứng dụng lý thuyết sóng elliott và dãy số Fibonacci

    I. Lịch sử sóng elliott

    Nguyên lý sóng Elliott là phát minh của Ralph Nelson Elliott dựa vào các hành vi xã hội, hoặc đám đông, có khuynh hướng theo xu hướng và được lặp đi lặp lại, vì bản chất con người trong đầu tư rất ít hoặc không thay đổi, nó thế hiện ở các mô hình và các chu kỳ.

    Sóng Elliott đã được nghiên cứu và sử dụng trong thị trường chứng khoán, và thể hiện qua  biểu đồ  của nhà đầu tư trong giao dịch. Ông đã xác định một số mô hình chuyển động, sự hồi lại, chúng kết hợp lại với nhau tạo thành mẫu hình lớn với thời gian dài hoặc ngắn. Một sóng hoàn chỉnh sẽ có tất cả 144 sóng nhỏ.

    II. Những nguyên lý và cách đếm sóng elliott

    1. Sóng elliott đơn giản

    “Nguyên lý sóng Elliott” được xuất bản lần đầu và được công bố rộng rãi vào năm 1938.

    Theo lý thuyết sóng Elliott, mô hình cơ bản nhất sẽ được chia làm 5 đợt sóng. Gồm 3 sóng chính 1, 3 và 5 di chuyển theo  xu hướng,  và 2 sóng 2, 4 là sóng điều chỉnh.

    Cụ thể hơn:

    Các sóng tăng giảm đan xen nhau, sau sóng tăng là sóng giảm và ngược lại.

    Trong các sóng thì lại có những sóng nhỏ, siêu nhỏ khác.

    Một số quy tắc:

    • Sóng 4 không xâm phạm vào sóng 1. (Tức là giá thấp nhất sóng điều chỉnh 4 phải lơn hơn giá đỉnh của sóng tăng số 1)
    • Sóng 2 không hồi lại hết toàn bộ sóng 1
    • Sóng 3 sẽ là sóng tăng mạnh nhất so với sóng 1 và sóng 5.

    2. Chu kỳ sóng Ellliot

    Một chu kỳ sóng hoàn chỉnh sẽ gồm 8 sóng với 2 giai đoạn:

    • 1) sóng tăng chia thành 5 đợt
    • 2) sóng điều chỉnh ba sóng

    Sóng tăng chính sẽ được gắn số 1, 2, 3,4 ,5 và sóng giảm chính sẽ gắn chữ số A, B, C. Sóng A & C sẽ ngược chiều với giảm giá, sóng B là sóng tăng, tức cùng chiều với sóng gốc.

    Lưu ý: Đỉnh sóng B phải thấp hơn đỉnh sóng A.

    Sóng A-B-C bản chất giống sóng 1-2-3-4-5, tuy nhiên ở đây chỉ có 3 sóng thay vì xu hướng chính gồm 5 sóng. Khi đó gộp lại, chúng ta sẽ có chu kỳ sóng “5-3”. Hãy tưởng tượng giống hình zigzag vậy.

    Một sóng hoàn chỉnh sẽ có tất cả 144 sóng nhỏ!

    III. Ứng dụng lý thuyết sóng elliott và dãy số Fibonacci

    Tuy lý thuyết là vậy, tuy nhiên tùy theo cách nhìn nhận mà mỗi người sẽ có cách đếm sóng riêng, kết hợp với dãy số Fibonacci để tạo ra khung thời gian và các ngưỡng mua và bán phù hợp.

    Đối với các nhà đầu tư mới bắt đầu theo trường phái phân tích kỹ thuật muốn đánh theo sóng elliott, chỉ nên tập trung vào sóng 3 vì đó là sóng có khả năng tăng giá mạnh nhất. Yên tâm là bạn là NĐT nhỏ lẻ tài sản tầm 1 tỷ trở lại nên với TTCK với hơn 1000 mã, sẽ đủ chỗ cho bạn giải ngân vào sóng 3. Phân tích kỹ thuật khá phong phú và đa dạng, để hiểu tường tận về PTKT, bạn nên tham dự khóa học phân tích kỹ thuật của Ngọ, Ngọ sẽ hướng dẫn và hỗ trợ bạn đến khi thuần thục.

    Nguyễn Hữu Ngọ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Vẽ Ông Già Noel
  • Cách Đổ Bóng Chữ Trong Photoshop Đơn Giản Nhất
  • Cách Vẽ Bóng Đổ Khối Cơ Bản
  • Vẽ Tranh Minh Họa Truyện Cổ Tích Lớp 8 Sao Cho Dễ Dàng Và Đẹp Nhất
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Công Cụ Vẽ Ống Gió Trong Autocad (Lisp Nam)
  • Hướng Dẫn Giao Dịch Theo Sóng Elliott 4 Phương Pháp Vẽ Sóng Elliott

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tham Khảo Khối Tiểu Học Bài Vẽ Đèn Ông Sao 5 Cánh
  • Cách Làm Đèn Ông Sao Đón Tết Trung Thu
  • Cách Giải Bài Tập Lực Điện Tổng Hợp Tác Dụng Lên Một Điện Tích Hay, Chi Tiết
  • Cách Tổng Hợp, Phân Tích Lực Đồng Quy Theo Quy Tắc Hình Bình Hành Hay, Chi Tiết
  • Điều Kiện Cân Bằng Của Chất Điểm, Phân Tích Tổng Hợp Lực Và Bài Tập
  • Giới thiệu khái quát:

    Vẽ kênh giá là phương pháp quan trọng không chỉ quyết định vị trí các sóng nội bộ mà còn dự đoán được các mục tiêu cho sóng kế tiếp.

    Kênh giá là những đường xu hướng song song, ít nhiều cũng chứa toàn bộ dao động giá của một sóng. Dù các đường xu hướng của mô hình Triangle không song song nhưng chúng cũng được coi là kênh giá.

    Cách vẽ kênh giá và dự đoán mục tiêu sử dụng kênh giá: a) Mục tiêu sóng 3 hoặc sóng C:

    Vẽ một kênh giá ngay sau khi sóng 1 và sóng 2 hoàn thành. Nối điểm khởi đầu của sóng 1 (được đánh dấu là 0) với điểm cuối của sóng 2, sau đó vẽ một đường song song kéo từ đỉnh sóng 1.

    Đường song song này có vai trò là mục tiêu tối thiểu của sóng 3 đang phát triển. Nếu sóng 3 không thể bức phá qua đường song song này hoặc không thể chạm đến nó thì có thể đó là sóng C chứ không phải là sóng 3.

    Chú ý rằng sóng 3 thường là sóng mạnh nhất và sẽ vượt qua đường xu hướng trên.

    b) Mục tiêu sóng 4:

    Ngay sau khi sóng 3 hoàn thành thì có thể vẽ một kênh giá bằng cách nối điểm cuối của sóng 1 với điểm cuối của sóng 3 bằng một đường xu hướng rồi vẽ một đường song song từ điểm cuối của sóng 2. Bằng cách này có thể dự đoán mục tiêu sóng 4. Chú ý rằng thông thường đường nằm dưới từ sóng 2 sẽ bị phá vỡ một chút do hành động giá của sóng 4. Đường hỗ trợ này có vai trò là mục tiêu tối thiểu của sóng 4.

    c) Mục tiêu sóng 5:

    – Phương pháp 1:

    Ngay sau khi sóng 4 hoàn thành thì có thể vẽ một kênh giá nối điểm cuối của sóng 2 với điểm cuối của sóng 4 bằng một đường xu hướng sau đó vẽ đường song song từ điểm cuối của sóng 3. Bằng cách này có thể dự đoán mục tiêu sóng 5.

    Phương pháp 2:

    Thường thì sóng 3 là sóng mạnh nhất cho thấy tốc độ di chuyển rất nhanh khi so sánh với sóng 1 và sóng 5. Nếu sóng 3 cho thấy một đợt tăng giá hoặc giảm giá gần như thẳng đứng thì vẽ một đường xu hướng nối sóng 2 với sóng 4 rồi vẽ đường song song từ sóng 1.

    d) Mục tiêu sóng D và E:

    Ngay sau khi sóng B hoàn thành thì có thể vẽ một đường xu hướng nối điểm khởi đầu sóng A với điểm cuối sóng B để định mục tiêu cho sóng D khi mô hình Triangle đang phát triển. Điều này chắc chắn hơn sau khi sóng C hoàn thành.

    e) Mục tiêu trong mô hình Double Zigzag:

    Việc vẽ một kênh giá là điều rất quan trọng để phân biệt các mô hình Double Zigzag với các mô hình sóng đẩy (Impulse) trong khi việc phân biệt chúng vốn khó khăn do chúng đều có đặc trưng sóng chủ. Các mô hình Double Zigzag có xu hướng chạm kênh giá gần như hoàn hảo trong khi ở mô hình Impulse thì sóng 3 thường phá vỡ ra khỏi kênh giá.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Sử Dụng Lý Thuyết Sóng Elliott Trong Giao Dịch
  • Sóng Elliott Là Gì? Cách Sử Dụng Sóng Elliott Hiệu Quả Nhất
  • Sóng Elliott Tk 21: Cách Vẽ & Đếm Sóng Elliott (Cụ Thể)
  • Cách Tạo Hiệu Ứng Bóng Đổ Trong Photoshop, Đổ Bóng Chữ Bằng Photoshop
  • Vẽ Tĩnh Vật Bằng Bút Chì
  • Sóng Elliott Là Gì? Cách Sử Dụng Sóng Elliott Hiệu Quả Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Sử Dụng Lý Thuyết Sóng Elliott Trong Giao Dịch
  • Hướng Dẫn Giao Dịch Theo Sóng Elliott 4 Phương Pháp Vẽ Sóng Elliott
  • Đề Tham Khảo Khối Tiểu Học Bài Vẽ Đèn Ông Sao 5 Cánh
  • Cách Làm Đèn Ông Sao Đón Tết Trung Thu
  • Cách Giải Bài Tập Lực Điện Tổng Hợp Tác Dụng Lên Một Điện Tích Hay, Chi Tiết
  • Một trong những phát hiện hết sức thú vị của thị trường tài chính là sóng Elliott. Điều đặc biệt là nó có mối quan hệ bí ẩn với dãy số Fibonacci. Sóng Elliott ra đời còn bổ xung cho Lý thuyết Dow, khiến cho trường phái phân tích kỹ thuật có thêm sức sống mới và nền tảng vững chắc.

    Sóng Elliott là gì?

    Lý thuyết sóng Elliott được đặt theo tên của người đã phát minh ra nó – Ralph Nelson Elliott (1871-1948). Sau khi Elliott phân tích dữ liệu của thị trường chứng khoán Mỹ trong 75 năm, ông đã phát hiện ra rằng thị trường không thực sự biến động một cách hỗn loạn mà theo một quy luật nhất định. Năm 66 tuổi, ông đã nghiên cứu kỹ lưỡng về các bằng chứng và có niềm tin mạnh mẽ vào lý thuyết của mình và bắt đầu chia sẻ nó cho các nhà đầu tư bằng việc xuất bản cuốn sách có tên là ” Công thức sóng ” (The Wave Principle).

    Theo ông, giá cổ phiếu bị biến động trong những chu kỳ lặp đi lặp lại. Nó phản ánh cảm xúc của các nhà đầu tư bị ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài hay tâm lý chung của phần lớn nhà đầu tư tại thời điểm đó và ông gọi các chu kỳ này là sóng. Vì vậy, nếu bạn có thể nhận biết được những con sóng như vậy thì bạn hoàn toàn có thể áp dụng nó vào việc dự đoán giá cổ phiếu và đầu tư kiếm lời từ đó. Điều này hiển nhiên rất hấp dẫn và lôi cuốn các nhà đầu tư. Và ông đã tự đặt tên cho phát minh của mình là Lý thuyết sóng Elliott.

    Mối quan hệ giữa sóng Elliott và dãy số Fibonacci

    Nhân tiện nói luôn về mối quan hệ giữa sóng Elliott và dãy số Fibonacci. Sau khi phát minh ra Lý thuyết sóng Elliott thì người ta phát hiện ra một sự trùng hợp kỳ lạ. Đó là các nguyên lý sóng Elliott cũng tuân theo quy luật của dãy số Fibonacci.

    Các sóng tăng trong sóng đẩy là sóng 1, sóng 3, sóng 5….. chính là các con số nằm trong dãy số Fibonacci. Mỗi một con sóng điều chỉnh có thể phân chia ra thành 13 con sóng nhỏ hơn theo mô hình Fractals. Tương tự, mỗi một con sóng đẩy có thể phân chia ra thành 21 con sóng nhỏ hơn theo mô hình Fractal. Tổng số sóng nhỏ trong một con sóng điều chỉnh lớn là 55 = (21 + 21 + 13) sóng. Tổng số sóng nhỏ trong một con sóng đẩy lớn là 89 = (21 + 21 + 21 + 13 + 13). Xem hình dưới. Mà những con số 1, 3, 5, 7…..13, 21, 55, 89 đều là những con số nằm trong dãy số Fibonacci.

    Ralph Nelson Elliott khẳng định khi phát minh ra Lý thuyết sóng Elliott, ông không hề biết về dãy số Fibonacci trước đó. Sau này khi bổ xung và hoàn thiện cho Nguyên lý sóng Elliott, người ta cũng sử dụng các mức giảm 23.8%, 38.2%, 50% và 61.8% của tỷ lệ Fibonacci để áp dụng cho các mức điều chỉnh trong các sóng điều chỉnh của Elliott wave.

    Cách vẽ sóng Elliott

    Trong một giai đoạn mà thị trường đang trầm lắng kéo dài, nhiều người không quan tâm, báo chí cũng không đưa tin nhiều, thị trường đi ngang. Nhưng đến một thời điểm mà thực lực thị trường đã được cải thiện nhiều so với trước đó, một số nhà đầu tư có dư giả tiền bạc và có tầm nhìn xa hơn, nhìn thấy những dấu hiệu tăng trưởng của thị trường đã bắt đầu mua vào. Thị trường có chút nhúc nhíc kèm theo khối lượng giao dịch tăng hơn. Sóng 1 trong nguyên lý sóng Elliott bắt đầu hình thành từ đó. Nhưng ban đầu sẽ không rõ ràng và ít người nhận ra. Tiếp đó, ngày càng có nhiều nhà đầu tư nhảy vào thị trường hơn làm cho giá cổ phiểu tăng mạnh hơn, kèm theo khối lượng cũng tăng mạnh hơn nữa.

    Mặc dù sóng 1 đã hình thành và tăng cao hơn so với những biến động thông thường trong giai đoạn đó, nhưng nhiều người vẫn còn nghi ngờ, rằng nó cũng chỉ giống như những gợn sóng trước đó, lên rồi lại xuống. Những người đã mua vào trước đó hoặc những người bị kẹt đã lâu tìm thấy cơ hội để bán ra thu lời hoặc giải phóng chứng khoán đã nắm giữ quá lâu khiến cho thị trường tạm thời điều chỉnh. Nhưng khác với những lần trước, thị trường không giảm quá sâu, thường là không giảm thấp hơn mức 61,8% kể từ khi sóng 1 hình thành, kèm theo đó là khối lượng giao dịch cũng thấp.

    Do thực lực của thị trường đã mạnh lên, tình hình kinh tế vĩ mô đã được cải thiện, tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp cũng khả quan hơn nên tiềm năng tăng giá là có thật. Lúc này có một lực vô hình khiến các doanh nghiệp, các nhà đầu tư lạc quan hơn. Báo chí cũng đưa nhiều tin tức hơn, đưa tin tích cực hơn khiến cho các nhà đầu tư có niềm tin mạnh mẽ hơn vào xu hướng tăng trưởng mới của thị trường và đẩy mạnh mua vào khiến cho giá các loại cổ phiểu tăng trưởng nhanh chóng, tăng vượt qua xa đỉnh của sóng 1 . Chính vì thế sóng 3 thường là sóng dài nhất trong mô hình sóng 5 – 3 của Lý thuyết sóng Elliott.

    Khi giá các loại cổ phiếu đã tăng mạnh thì một số nhà đầu tư đã mua vào trước đó bán ra để thu lời. Hành động này khiến cho thị trường tạm thời điều chỉnh xuống, nhưng sẽ giảm không nhiều, và thường không giảm xuống quá 50% so với sóng 3.

    Nguyên tắc cơ bản về cách đếm sóng Elliott:

    Vì giá của các loại chứng khoán thường diễn biến rất phức tạp nên đôi khi rất khó để nhận ra các con sóng trong mô hình Elliott wave nên Ralph Nelson Elliott đã đưa ra môt số quy tắc để nhận diện các con sóng này như sau:

    • Nguyên tắc số 1: Sóng thứ 3 không bao giờ là sóng ngắn nhất.
    • Nguyên tắc số 2: Sóng thứ 2 không bao giờ xa hơn điểm đầu của sóng thứ 1
    • Nguyên tắc số 3: Sóng thứ 4 không bao giờ đi vào biên độ giá của sóng thứ 1.

    Các đặc điểm của Sóng Elliott – Sóng Elliott nâng cao

    1). Cấu trúc Fractal – Sóng trong sóng

    Một trong những đặc điểm quan trọng của sóng Elliott đó là cấu trúc Fractals. Vậy cấu trúc Fractals là gì?

    là một loại cấu trúc hình học mà trong toán học gọi là Ví dụ như từ một tam giác cân ban đầu, ta chia thành 4 tam giác nhỏ bằng nhau. Sau khi tô đen tam giá nhỏ ở giữa ta sẽ có 3 tam giác nhỏ còn lại giống hệt nhau và giống hệt tam giác lớn ban đầu. Cứ tiếp tục phân chia như vậy đến vô cùng thì ta vẫn thu được một cấu trúc giống nhau, chỉ khác nhau về độ lớn. Về vật thể, lấy ví dụ như một cây súp lơ, ta sẽ thấy mỗi nhánh của cây súp lơ sẽ có cấu trúc giống như là một cây sup lơ nguyên vẹn vậy. Khi càng phát triển thì nó càng cho ra nhiều nhánh, các nhánh luôn có cấu trúc giống nhau và đồng dạng với cây súp lơ ban đầu. Và còn vô số các hình thể trong tự nhiên khác như bông tuyết, vỏ sò… cũng đều có cấu trúc hình thể dạng Fractal. Đó là dạng cấu trúc đồng dạng vô tận khi chúng ta cứ tiếp tục chia nhỏ một hình hay một vật thể đến mức nhỏ hơn thì nó vẫn có hình dạng như vậy, chỉ khác nhau về độ lớn mà thôi.

    Mô hình sóng Elliott cũng mang đặc điểm của cấu trúc Fractals

    Một Elliott wave lớn có thể được chia thành nhiều Elliott wave nhỏ hơn, gọi là sóng trong sóng. Như vậy, nó cũng mang cấu trúc của Fractals.

    Lý thuyết sóng Elliott cũng phân biệt và đặt tên cho các loại sóng từ lớn đến nhỏ như sau:

    • Siêu chu kỳ lớn – Grand Supercycle – Thường kéo dài vài thế kỷ
    • Siêu chu kỳ – Supercycle – Thường kéo dài vài thập kỷ
    • Chu kỳ – Cycle – Thường kéo dài vài năm
    • Chính – Primary – Thường kéo dài vài tháng
    • Trung gian – Intermediate – Thường kéo dài vài tuần
    • Nhỏ – Minor – Thường kéo dài vài ngày
    • Vụn vặt – Minute
    • Rất vụn – Minuette
    • Siêu vụn – Sub-minuette

    Theo Lý thuyết sóng Elliott thì sẽ có một trong 3 sóng đẩy được mở rộng và lớn hơn so với các sóng còn lại. Thông thường là sóng 3 hoặc sóng 5 sẽ được mở rộng, hiếm khi là sóng 1.

    4). Mô hình sóng Elliott theo cấu trúc tam giác chéo

    Đây là trường hợp đặc biệt mà sóng 4 có thể xuống thấp tới mức nằm trong vùng của sóng 1.

    • Mô hình Tam giác chéo bao gồm 5 sóng.
    • Sóng 3 không bao giờ là sóng ngắn nhất so với các sóng khác.
    • Sóng 4 và Sóng 1 chéo nhau (vì thế nó có tên gọi là Tam giác chéo), tức là đáy Sóng 4 đi vào biên độ của Sóng 1.
    • Sóng 4 không vượt qua điểm khởi nguồn của Sóng 3.
    • Sóng 5 phải vượt qua điểm cuối của Sóng 3.
    • Tam giác chéo được phân chia thành 2 loại: Leading Diagonal Triangle và Ending Diagonal Triangle

    Mối quan hệ giữa Nguyên lý sóng Elliott và Lý thuyết Dow

    Elliott thừa nhận rằng ông chịu ảnh hưởng lớn bởi từ Lý thuyết Dow. Như chúng ta có thể thấy, trong Lý thuyết Dow có Ba giai đoạn tăng trưởng của thị trường thì trong nguyên lý sóng Elliott có Mẫu hình sóng đẩy 5 – 3 như nói ở trên. Trong Lý thuyết Dow có Ba cấp độ của một xu hướng lớn thì trong nguyên lý sóng Elliott có Cấu trúc sóng dạng Fractal – Sóng trong sóng. Tuy nhiên Elliott nói rằng, nguyên lý sóng Elliott là một “phụ trưởng cần thiết của Lý thuyết Dow” và cho rằng nó phát triển chi tiết hơn, sâu hơn cho Lý thuyết Dow.

    Bạn vừa đọc bài viết: “Sóng Elliott là gì? Cách vẽ sóng Elliott“.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sóng Elliott Tk 21: Cách Vẽ & Đếm Sóng Elliott (Cụ Thể)
  • Cách Tạo Hiệu Ứng Bóng Đổ Trong Photoshop, Đổ Bóng Chữ Bằng Photoshop
  • Vẽ Tĩnh Vật Bằng Bút Chì
  • 3 Bước Hướng Dẫn Vẽ Tĩnh Vật Chai Thủy Tinh
  • Bóng Của Các Khối Hình Học Cơ Bản
  • Kỹ Thuật Cách Vẽ Sóng Elliott Cực Hay Dành Cho Người Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Vẽ Sóng Elliott Chính Xác
  • Sóng Elliott Là Gì? Cách Xác Định Biên Độ Sóng Chuẩn Xác Nhất
  • Tổng Hợp Các Dạng Bài Tập Vật Lý 10 Và Cách Giải
  • Tìm Hiểu Phần Mềm Inventor Và Khả Năng Ứng Dụng
  • Các Mẫu Thiết Kế Nhà Ống 1 Tầng 2 Phòng Ngủ Hiện Đại Nhất
  • Cách vẽ sóng Elliott cũng là 1 trong những cách phân tích kỹ thuật rất quan trọng để đầu tư Forex và bạn cũng nghe rất nhiều trader chuyên nghiệp nhắc về công cụ này. Vậy sóng Elliott là gì? nó được ứng dụng như thế nào trong Forex mà sao nhiều người lại sử dụng nó. Bài viết sau đây của Học Chơi Forex sẽ cho bạn biết giá trị mà sóng Elliott mang lại cho bạn khi biết cách sử dụng.

    Lý thuyết sóng Elliott

    Theo nguyên lý sóng Elliott, một xu hướng (tăng & giảm) được chia phân thành 2 pha: pha điều chỉnh (corrective phase) và pha dịch chuyển trong xu hướng chính (motive phase). Trong đó corrective phase có 3 sóng và motive phase có 5 sóng và thường mỗi sóng chuẩn gồm 144 sóng nhỏ.

    Nguyên tắc và cách đếm sóng elliott trong forex

    • Sóng 2 sẽ được bắt đầu khi sóng 1 hoàn tất
    • Sóng 3 vì nằm trong xu hướng tăng rất mạnh nên không được quá ngắn
    • Sóng 4 sẽ không được đi vào khu vực sóng 1
    • Sóng A, B, C tương tự như sóng 1, 2, 3, 4, 5 nhưng chỉ có 3 sóng thay vì xu hướng chính 5 sóng.

    Cách vẽ sóng Elliott

    Phương pháp vẽ sóng cốt yếu là vẽ kênh giá, nó có vai trò quyết định vị trí sóng nội bộ và đoán được xu hướng của các sóng trong tương lai. Các kênh giá chứa chuyển động giá của sóng và là các đường có xu hướng song song. Đối với mô hình Tam giác (Triangle) là một ngoại lệ mặc dù nó không song song nhưng vẫn được gọi là kênh giá.

    Cách vẽ kênh giá và dự đoán mục tiêu khi sử dụng kênh giá:

    Sóng 3 hoặc C: khi sóng 1 và 2 được hình thành bạn hãy vẽ kênh giá bằng cách bạn nối từ điểm đầu sóng 1 với điểm đuôi sóng 2 rồi vẽ đường song song từ đỉnh của sóng 1. Nếu sóng 3 không vượt qua đường song song hoặc không thể chạm đến đường song song thì có thể đó là sóng C không phải là sóng 3.

    Đường hỗ trợ từ 0 đến sóng 2 giữ vai trò làm mứt chặn. Và khi mức chặn này bị phá vỡ thì khả năng sóng 2 hoặc B di chuyển phức tạp hơn và vì thế sóng 3 hay C sẽ không được hình thành.

    Sóng 4: Sau khi sóng 3 hình thành bạn hãy vẽ kênh giá bằng việc nối điểm cuối sóng 1 với điểm cuối sóng 3 và cũng vẽ một đường song song từ điểm cuối sóng 2. Cách này có thể dự đoán được mục tiêu của sóng 4.

    Bạn hãy lưu ý thường đường nằm dưới từ sóng 2 sẽ dễ bị phá vỡ một chút do hành động giá của sóng 4. Đường hỗ trợ này giữ vai trò là mục tiêu tối thiểu của sóng 4. Nếu sóng 4 không đến gần được đường này thì có lẽ đó là biểu hiện của một xu hướng rất mạnh. Có thể xu hướng giá vẫn đang nằm ở sóng 3 hoặc sẵn sàng cho sự bức phá mạnh ở sóng 5.

    Sóng 5:

    Cách 1: Như các cách thông thường khi sóng 4 hoàn thành bạn vẽ một kênh giá nối điểm cuối sóng 2 và điểm cuối sóng 4 bằng một đường xu hướng và sau đó vẽ đường song song từ điểm cuối sóng 3, cách này có thể giúp bạn dự đoán mục tiêu sóng 5.

    Thường thì sóng 5 không bao giờ chạm đến đường xu hướng nằm ở trên, trừ khi sóng 5 theo mô hình mở rộng Extension 5 hoặc lúc sóng 3 tương đối yếu. Trong mô hình Extension 5 với biểu hiện khối lượng giao dịch cao cùng những chỉ báo xung lượng mạnh mẽ thì hiện tượng vượt quá (throw over) có thể xuất hiện.

    Cách 2: Sóng 3 có tốc độ di chuyển nhanh hơn so với sóng 1 và 5. Nếu sóng 3 hiển thị đợt tăng hoặc giảm gần như thẳng đứng thì bạn hãy vẽ một đường xu hướng nối sóng 2 với sóng 4 rồi vẽ đường song song từ sóng 1 và đường song song bạn vừa vẻ sẽ cắt qua Sóng 3 và sẽ tạo mục tiêu cho Sóng 5. Theo kinh nghiệm đây có lẽ là kênh giá rất có giá trị.

    Sóng D và E: Khi sóng B hình thành bạn hãy vẽ đường nối điểm đầu của sóng A và điểm cuối của sóng B nhằm giúp xác định phương hướng cho sóng D. Kế tiếp khi sóng C hoàn thành thì bạn cũng có thể vẽ đường xu hướng nối sóng A với điểm cuối của sóng C nhằm xác định mục tiêu sóng E. Có lẽ như không bao giờ sóng E dừng ngay tại đường xu hướng mà chỉ ghé sát đường xu hướng một cách nhanh chóng và tạm thời và trên là những cách vẽ sóng Elliott.

    Mối quan hệ giữa sóng elliott và fibonacci

    Theo tỷ lệ Fibonacci thường bộc lộ mức hỗ trợ hoặc kháng cự quan trọng sau:

    Nguyên lý sóng Elliott tạo ra hình dáng và khung sườn trong khi tỷ lệ Fibonacci tạo ra công cụ để đo lường các biến động giá kể cả về biên độ lẫn thời điểm kết thúc. Sự kết hợp tỷ lệ Fibonacci với nguyên lý sóng Elliott quả thật là một sự kết hợp khoa học.

    Các mối quan hệ tỷ lệ Fibonacci phổ biến nhất và tin cậy hiện nay bạn có thể dễ dàng được tìm thấy chúng ở giữa các sóng elliott và được nối lại với nhau bằng một sóng khác chứ không phải giữa 2 sóng liền nhau.

    Ví dụ ở chiều dài của sóng 3 trong một chuỗi 5 sóng sẽ chịu sự ảnh hưởng từ các chiều dài của sóng 1 chứ không phải từ chiều dài của sóng 2 nữa

    Tiếp theo bạn sẽ được biết chi tiết cách tính mục tiêu biên độ của từng sóng với tỷ lệ Fibonacci.

    5

    /

    5

    (

    1

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sóng Elliott Tk 21: Cách Vẽ & Đếm Sóng Elliott (Cụ Thể) – Cophieux
  • Cách Vẽ Ông Già Noel
  • Cách Đổ Bóng Chữ Trong Photoshop Đơn Giản Nhất
  • Cách Vẽ Bóng Đổ Khối Cơ Bản
  • Vẽ Tranh Minh Họa Truyện Cổ Tích Lớp 8 Sao Cho Dễ Dàng Và Đẹp Nhất
  • Cách Sử Dụng Lý Thuyết Sóng Elliott Trong Giao Dịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Giao Dịch Theo Sóng Elliott 4 Phương Pháp Vẽ Sóng Elliott
  • Đề Tham Khảo Khối Tiểu Học Bài Vẽ Đèn Ông Sao 5 Cánh
  • Cách Làm Đèn Ông Sao Đón Tết Trung Thu
  • Cách Giải Bài Tập Lực Điện Tổng Hợp Tác Dụng Lên Một Điện Tích Hay, Chi Tiết
  • Cách Tổng Hợp, Phân Tích Lực Đồng Quy Theo Quy Tắc Hình Bình Hành Hay, Chi Tiết
  • Sóng Elliott hoạt động ở mọi thị trường, trên mọi khung thời gian, với bất kỳ kích thước tài khoản nào. Nhưng giống như bất cứ điều gì đáng để học hỏi, đến đó cần sự kiên nhẫn. Thông qua các quy tắc và hướng dẫn thực tế, dễ hiểu và các chi tiết cụ thể từng bước, bạn sẽ học cách áp dụng những gì phù hợp nhất với mình. Cho dù bạn có ý định sử dụng nghiên cứu này làm mục đích của mình cho phương pháp, làm mới nhanh hoặc hướng dẫn tham khảo hữu ích, bạn sẽ chuyển sang nội dung của nó hết lần này đến lần khác.

    Giới thiệu về sóng Elliott – Sóng Elliot là gì? Sóng Elliot trong Forex

    R.N. Elliott đã phát triển Lý thuyết sóng Elliott vào những năm 1920. Ông Elliott phát hiện ra không có sự hỗn loạn trên thị trường, nhưng ngược lại, đây là một trật tự tự nhiên trong các thị trường thể hiện ở dạng sóng, liên tục lặp lại. Những mô hình sóng này liên tục lặp đi lặp lại nhiều lần trên thị trường. Các mẫu sóng cũng có dạng fractal trong tự nhiên, điều đó có nghĩa là bạn có thể chia các sóng này thành các sóng nhỏ hơn và nhỏ hơn và chúng có cùng một kiểu, chỉ là một mức độ khác nhau.

    Bí mật của Lý thuyết sóng Elliott là tìm hiểu cách phát hiện chính xác các kiểu sóng này có xu hướng xảy ra lặp đi lặp lại trên thị trường. Những dạng sóng này có thể được chia thành hai loại cơ bản là sóng xu hướng và sóng không có xu hướng. Một số người gọi chúng là sóng xung và sóng điều chỉnh. Các thị trường có xu hướng chỉ có 20% thời gian và họ đi vào điều chỉnh 80% thời gian. Sóng xung có năm biến động giá. Ba trong số đó là theo hướng của thị trường và hai trong số đó là theo hướng ngược lại của thị trường.

    Năm sóng này cũng có thể được chia thành các sóng nhỏ hơn. Mỗi sóng xung có năm sóng và mỗi sóng điều chỉnh có 3 sóng.

    Các sóng điều chỉnh cũng có thể được chia thành một mức độ nhỏ hơn. Sóng A và C theo hướng phản ứng. Điều này sẽ minh họa phản ứng trong một xu hướng tăng.

    Bây giờ rất dễ dàng để phân biệt giữa xu hướng của thị trường và sự điều chỉnh.

    Bạn phải nhớ rằng số độ sóng có thể là vô hạn. Bạn chỉ có thể giao dịch rất nhiều sóng xuống. Mẫu sóng có thể phát hiện nhỏ nhất sẽ sử dụng biểu đồ thanh 1 phút. Ưu điểm của việc có các mức độ sóng khác nhau là bạn có thể giao dịch mức độ mà bạn cảm thấy thoải mái nhất. Nhà giao dịch hàng ngày có thể giao dịch Cấp độ sóng phụ Minuette và các nhà đầu tư trung gian có thể sử dụng Cấp độ sóng chính để giao dịch.

    Tiếp tục đọc hoặc bắt đầu giao dịch và chú ý cách Elliott Wave hoạt động trong thời gian thực. Sử dụng mã WELCOME20 khi đăng ký để nhận phần thưởng chào mừng MIỄN PHÍ $ 20.

    Hướng dẫn giao dịch theo sóng Elliott Wave – Cách đếm sóng Elliot

    Hướng dẫn giao dịch theo Elliot Wave hoặc nhận ra mô hình của sóng khi chúng đang phát triển là điều quan trọng nhất bạn có thể làm. Nhiều kỹ thuật viên của Elliott Wave có thể phân tích chính xác một biểu đồ đã hoàn thành với các mẫu chính xác, nhưng điều đó có ích gì. Bạn cần phải làm điều đó như nó đang xảy ra và phải biết cách đếm sóng elliot đúng đắn. Bạn có thể xác định chính xác vị trí của mình trong mẫu sóng Elliott, vì nó đang mở ra, nó sẽ cho bạn biết mức độ thị trường sẽ tăng hoặc giảm. Đó là tầm quan trọng của lý thuyết sóng Elliott và cách vẽ sóng elliott.

    Bây giờ, hãy nhìn vào các mẫu sóng Elliott khác nhau một cách rất nghiêm ngặt theo các quy tắc theo sau bởi các kỹ thuật viên của Elliott Wave:

    Xu hướng

    a. Impulse (Thúc đẩy)

    Mô hình

    • Sóng đẩy gồm năm sóng có nhãn 1,2,3,4,5.
    • Sóng 1, 3, 5 là sóng đẩy.
    • Sóng 1, 3, 5 thường có độ dài bằng nhau.
    • Sóng 2 và 4 là sóng điều chỉnh.

    Miêu tả Quy tắc và hướng dẫn

    Các mô hình sóng đẩy xuất hiện ở sóng 1, 3, 5 và sóng A và C

    Trong sóng Elliot nào

    Bao gồm năm sóng 5-3-5-3-5

    Cấu trúc bên trong

    b. Mô hình mở rộng

    Mô hình Quy tắc

    Mở rộng (extension) xảy ra ở sóng 1, 3, 5 và ở sóng A và C.

    Cấu trúc

    Trong sóng Elliot nào

    Số lượng sóng tối thiểu của sóng mở rộng là 9, 13 hoặc 17.

    Cấu trúc tối thiểu của 9 sóng là 5-3-5-3-5-3-5-3-5.

    c. Tam giác chéo loại 1

    Mô hình

    • Nó bao gồm 5 sóng.
    • Sóng 4 và 1 chồng chéo.
    • Sóng 4 có thể vượt xa nguồn gốc của sóng 3.
    • Sóng 3 có thể là sóng ngắn nhất.
    • Bên trong tất cả các sóng của đường chéo có cấu trúc điều chỉnh.
    • Sóng 1 là sóng dài nhất và sóng 5 ngắn nhất.
    • Các đường của đường chéo phải hội tụ
    • Cấu trúc sóng bên trong sẽ hiển thị xen kẽ.

    Miêu tả Quy tắc và hướng dẫn

    Tam giác chéo loại 2 xảy ra ở sóng 1 và A..

    Trong sóng Elliot nào

    Năm sóng của đường chéo loại 2 cho thấy cấu trúc bên trong 5-3-5-35.

    d. Failure or Truncated 5th

    Cấu trúc

    Mô hình

    • Sóng đẩy trong đó sóng thứ năm không vượt quá thứ ba.
    • Sóng thứ năm chỉ đi xa hơn một chút so với sóng thứ ba.
    • Phân loại như một sóng thất bại.
    • Xu hướng là một tuần và sẽ tăng tốc theo hướng ngược lại.

    Miêu tả

    Nó phải bao gồm năm sóng.

    Quy tắc và hướng dẫn

    Corrections – Điều chỉnh

    Cấu truc bên trong

    a. Zigzag

    Mô hình

    • Cấu trúc sóng điều chỉnh phổ biến nhất.
    • Nó bắt đầu với một sự đảo ngược mạnh mẽ.
    • Nó trông giống như một sóng đẩy
    • Nó có thể mở rộng thành một zigzag đôi hoặc ba. (không phổ biến)

    Miêu tả

    Hầu hết thời gian nó xảy ra trong A, X hoặc 2.

    Quy tắc và hướng dẫn

    Cũng phổ biến trong sóng B hoặc một phần của hình phẳng hoặc hình tam giác hoặc trong 4.

    Ở trong sóng elliot nào

    Cấu trúc bên trong của 3 sóng là 5-3-5 trong một Zigzag, 5-3-5-3-5-3-5 trong một đôi.

    b. Mô hình Flat (Phẳng)

    Ví dụ về Double Zigzag (Zigzag đôi)

    Mô hình

    Miêu tả

    Nó xảy ra chủ yếu ở sóng B, cũng phổ biến ở 4 và 2.

    Quy tắc và hướng dẫn Trong sóng elliot nào

    Cấu trúc bên trong của các sóng này là 3-3-5. Cả hai sóng A và B thường là Zigzags.

    c. Flat mở rộng hoặc Flat bất thường

    Cấu trúc bên trong Mô hình

    • Nó bao gồm 3 sóng.
    • Sóng C là một xung, sóng A và B là chính xác.
    • Sóng B lùi lại sau khi kết thúc sóng A.
    • Sóng C thường dài hơn A.

    Miêu tả

    Nó có thể xảy ra trong 2, 4, B và X. Nó có thể xảy ra trong 2 và C tương đối ngắn, thông thường việc tăng tốc trong lần thứ ba sẽ diễn ra.

    Quy tắc và hướng dẫn

    Bao gồm năm sóng, có cấu trúc 3-3-5-5.

    Trong sóng Elliot nào

    d1. Hình tam giác (Contracting)

    Mô hình

    Cấu trúc bên trong

    • Một hình tam giác là một mô hình điều chỉnh, có thể co lại hoặc mở rộng.
    • Nó có thể lên hoặc xuống.
    • Nó bao gồm năm sóng; mỗi sóng trong số đó có một bản chất điều chỉnh.

    Miêu tả

    Tam giác xảy ra ở sóng B, X và 4, không bao giờ ở sóng 2 hoặc A.

    Quy tắc và hướng dẫn

    Nó bao gồm năm sóng, cấu trúc bên trong 3-3-3-3-3.

    Trong sóng Elliot nào

    d2. Triangle (Tam giác) mở rộng

    Cấu trúc bên trong

    • Tam giác này dốc lên.
    • Mô hình này đã được thực hiện trong Modern Rules

    Mô hình

    • Đây là một hình tam giác, dốc xuống dưới.
    • Mô hình này đã được thực hiện trong Modern Rules.

      Running Triangles

    • Đây là một tam giác trong đó sóng B vượt quá nguồn gốc của sóng A.

    e. WXY hay Combination (kết hợp)

    Tam giác tăng dần Tam giác giảm dần

    • Kết hợp một số loại điều chỉnh.
    • Dán nhãn WXY và WXYXZ.

    Mô hình

    • Hình thành các mẫu nhỏ để làm cho một lớn hơn.
    • Tam giác thường xuất hiện ở cuối.
    • Nói chung, sự kết hợp xảy ra chủ yếu ở B, X và 4.
    • Ít phổ biến hơn ở A và hiếm gặp ở 2.

    Miêu tả

    Một Zigzag theo sau là một Flat, theo sau là Tam giác có cấu trúc bên trong sau. 5-3-5 (Zigzag) -5-3-3-5

    Quy tắc và hướng dẫn

    f. Running Flat

    Trong sóng nào Cơ cấu bên trong

      Hầu hết thời gian nên xảy ra trong sóng 2 hoặc B.

    Mô hình

    Đó là cấu trúc ba sóng 3-3-5.

    Mục tiêu của sóng Elliott – Hướng dẫn giao dịch theo sóng Elliott

    Miêu tả

    Mục tiêu cho Elliott Wave 3 hoặc C

    Quy tắc và hướng dẫn

    Để bắt đầu, bạn có thể vẽ một kênh ngay sau khi sóng 1 và 2 kết thúc. Kết nối nguồn gốc của sóng 1, được gắn nhãn là 0 và kết thúc của sóng 2. sau đó vẽ một đường thẳng song song từ đỉnh của sóng 1.

    Trong sóng Elliott

    Nói chung, kênh này được coi là không hữu ích, nhưng trước hết, các dịch vụ đường song song là mục tiêu tối thiểu tuyệt đối cho làn sóng thứ 3 đang được phát triển. Nếu sóng thứ 3 có thể phá vỡ đường trên hoặc không đến được đường trên, thì có lẽ bạn đang xử lý sóng C thay vì sóng 3.

    Hơn nữa, đường cơ sở từ 0 đến sóng 2 đóng vai trò là điểm dừng. Khi đường cơ sở này bị phá vỡ, có khả năng mạnh mẽ là sóng 2 (hoặc B) trở nên phức tạp hơn, do đó sóng 3 hoặc C chưa bắt đầu.

    Cấu trúc bên trong

    Hãy nhớ rằng sóng 3 thường là sóng mạnh nhất và thường sẽ vượt xa đường xu hướng trên. Cách vẽ sóng Elliot như sau:

    Mục tiêu cho Elliott Wave 4

    Ngay sau khi sóng 3 kết thúc, bạn có thể vẽ một kênh kết thúc điểm cuối của sóng 1 và sóng 3 bằng một đường xu hướng và vẽ một đường song song từ cuối sóng 2. bằng cách này, bạn có thể chiếu mục tiêu cho sóng 4. Giữ lưu ý rằng thông thường đường cơ sở từ sóng 3 sẽ bị phá vỡ đôi chút do tác động giá của sóng 4. Nếu sóng 4 không đến gần đường cơ sở thì đây là dấu hiệu của một xu hướng rất mạnh. Bạn có thể vẫn ở trong sóng 3 hoặc bạn nên sẵn sàng để bắt đầu ở sóng 5.

    Mục tiêu cho Elliott Wave 5

    Ngay sau khi sóng 4 kết thúc, bạn có thể vẽ một kênh kết thúc điểm cuối của sóng 2 và sóng 4 bằng một đường xu hướng và vẽ một đường song song từ cuối sóng 3 và chiếu lên sóng 5. Đây là mục tiêu của bạn cho sóng 5 . Điều này sẽ dành cho sóng bình thường 5. Sóng 5 mở rộng sẽ đẩy cao hơn. Nếu giá không chạm được đường xu hướng dự kiến đến sóng 5 thì thị trường yếu và bạn nên tìm cách bán tháo.

    Chủ yếu là sóng 3 là sóng mạnh nhất cho thấy gia tốc rất nhanh so với sóng 1 và 5. Nếu sóng 3 thực sự cho thấy sự tăng hoặc giảm gần như thẳng đứng, thì hãy vẽ một đường xu hướng – kết nối sóng 2 và 4 và vẽ một đường thẳng song song từ sóng 1 Đường song song này sẽ cắt qua sóng 3 và sẽ nhắm vào sóng 5. Kinh nghiệm cho thấy đây là một kênh rất có giá trị.

    Mục tiêu cho Elliott Wave D và E

    Ngay sau khi sóng B kết thúc, bạn có thể vẽ đường xu hướng kết nối nguồn gốc của sóng A và kết thúc sóng B để có mục tiêu cho sóng D, với điều kiện là một tam giác thực sự đang phát triển, điều này chắc chắn hơn sau khi hoàn thành sóng C.

    Ngay sau khi sóng C kết thúc, bạn có thể thu thập một đường xu hướng kết nối sóng A và kết thúc sóng C để có được mục tiêu cho sóng E gần như không bao giờ dừng lại ở đường xu hướng một cách chính xác, nó không bao giờ chạm tới đường xu hướng hoặc nó làm lu mờ xu hướng dòng nhanh và tạm thời.

    Phương pháp 1

    Mục tiêu trong một Zigzag đôi

    Phương pháp 2

    Vẽ một kênh rất hữu ích để tách đôi Zigzags khỏi sóng xung, điều này rất khó vì cả hai đều có đặc điểm đẩy (impulse). Zigzags đôi có xu hướng phù hợp với một kênh gần như hoàn hảo, trong khi trong một sóng đẩy, sóng thứ ba rõ ràng thoát ra khỏi kênh.

    Tỷ lệ Fibonacci

    Tổng số sóng của các xung và các mẫu hiệu chỉnh 5 + 3 = 8 là các số Fibonacci.

    Phân tích mối quan hệ Fibonacci giữa các biến động giá rất quan trọng vì nhiều lý do:

    1) Bạn có thể kiểm soát phân tích sóng của bạn.

    3) Bạn có thể chiếu các mục tiêu thực tế một khi bạn đã phân biệt các kịch bản khác nhau, cùng một hướng.

    5) Hầu hết thời gian làn sóng thứ ba là mạnh nhất, vì vậy thường xuyên bạn sẽ thấy rằng sóng 3 là khoảng 1.618 lần sóng 1.

    6) Sóng 4 thường hiển thị mức thoái lui, nhỏ hơn sóng 2, như 0,236 hoặc 0,382. Nếu sóng ba là sóng dài nhất, mối quan hệ giữa sóng 5 và ba thường là 0,618.

    7) Ngoài ra sóng 5 bằng sóng 1 hầu hết thời gian.

    8) Mối quan hệ tương tự có thể được tìm thấy giữa sóng A và C. Thông thường C bằng A hoặc bằng 1,618 lần chiều dài của A.

    9) Bạn thậm chí có thể kết hợp sóng để tìm vùng hỗ trợ và kháng cự. Ví dụ: chuyển động giá tiếp theo của sóng 1 và 3 lần 0,618 tạo ra một mục tiêu thú vị khác cho sóng 5.

    10) Nó là đáng giá để thử nghiệm rất nhiều với số lượng sóng của bạn, Fibonacci sẽ giúp bạn giải quyết những nhịp điệu của thị trường.

    Mục tiêu – Targets

    Làn sóng đầu tiên của một chuyển động giá đẩy (impulse) mới có xu hướng dừng lại ở cơ sở của sự điều chỉnh trước đó, đó là sóng B. Thường trùng với một 38,2% hay Fibonacci retracement 61,8% của đợt điều chỉnh trước đó.

    Sóng 2 hồi tối thiểu 38,2% và chủ yếu là sóng 61,8% trở lên 1. Nó thường dừng ở sóng con 4 và thường xuyên hơn ở sóng 2 của sóng trước 1. Việc truy xuất hơn 76% là rất đáng ngờ, mặc dù nó không bị hỏng bất kỳ quy tắc nào.

    Sóng 3 tối thiểu bằng sóng 1, ngoại trừ Tam giác. Nếu sóng 3 là dài nhất vậy nó sẽ có xu hướng 161% của sóng 1 hoặc thậm chí 26l%.

    Sóng 4 hồi lại tối thiểu 23% của sóng 3 và thường xuyên hơn đạt mức thoái lui 38,2%. Nó thường đạt đến lãnh thổ của sóng con 4 của làn sóng thứ 3 trước đó. Ở những thị trường rất mạnh, sóng 4 chỉ có thể hồi lại 14% của sóng 3.

    Sóng 1

    Sóng 5 thường bằng sóng 1 hoặc truyền đi được khoảng cách 61,8% chiều dài của sóng 1. Nó cũng có thể có cùng mối quan hệ với sóng 3 hoặc có thể truyền 61,8% chiều dài ròng của sóng 1 và 3 với nhau. Nếu sóng 5 là sóng mở rộng thì phần lớn sẽ là 161,8% sóng 3 hoặc 161,8% chiều dài ròng của sóng 1 và 3 với nhau.

    Sóng 2

    Sau Tam giác trong sóng thứ năm, sóng A chuyển sang sóng 2 của Tam giác của sóng trước 5. Khi sóng A là một phần của Tam giác, B hoặc 4, nó thường hồi lại 38,2% của 5 sóng hoàn chỉnh trước đó (vì vậy không chỉ thứ năm của thứ năm) vào lãnh thổ của sóng thứ 4 trước đó. Trong Zigzag, nó thường hồi lại 61,8% của sóng thứ năm.

    Sóng 3

    Trong sóng Zigzag B chủ yếu hồi lại 38,2% hoặc 61,8% sóng A. Trong một Mặt phẳng, nó xấp xỉ bằng sóng A. Trong một Mặt phẳng mở rộng, nó thường sẽ truyền đi một khoảng cách 138,2% sóng A.

    Sóng 4

    Sóng C tối thiểu có độ dài 61,8% của sóng A. Nó có thể ngắn hơn trong trường hợp nó thường là một sự cố, điều này báo trước sự tăng tốc theo hướng ngược lại. Thông thường sóng C bằng sóng A hoặc truyền đi được khoảng cách 161,8% sóng A. Sóng C thường đạt 161,8% chiều dài của sóng A trong một Mặt phẳng mở rộng. Trong một hợp đồng sóng tam giác C thường là 61,8% sóng A.

    Sóng 5

    Trong một sóng tam giác contracting D thường di chuyển 61,8% sóng B.

    Sóng A

    Trong một Triangle contracting sóng E thường đi 61,8% của sóng C. Nó không thể dài hơn sóng C!

    Sóng B

    Wave X hồi tối thiểu 38,2% hiệu chỉnh A-B-C trước đó; mức thoái lui 61,8% cũng là phổ biến.

    Sóng C

    Hiểu hướng dẫn giao dịch theo sóng Elliott Wave rất quan trọng, nhưng nếu bạn cần trợ giúp thì MetaTrader 5 của AM Broker cung cấp một số công cụ nâng cao để xác định sóng đúng cách. Ngoài ra, hãy sử dụng Expert Advisor Builder và tạo chiến lược Elliott Wave tự động trong vài cú nhấp chuột mà không cần viết mã (14 ngày dùng thử MIỄN PHÍ).

    Sóng D

    Kết nối với những người quản lý thành công hoặc trở thành một người quản lý từ chính mình: Trở thành một Đối tác – Trở thành Nhà quản lý

    Đừng chỉ tin lời nói từ chúng tôi. Hãy dùng thử miễn phí – Robot Forex

    Sóng E Sóng X

    Tiếp theo?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sóng Elliott Là Gì? Cách Sử Dụng Sóng Elliott Hiệu Quả Nhất
  • Sóng Elliott Tk 21: Cách Vẽ & Đếm Sóng Elliott (Cụ Thể)
  • Cách Tạo Hiệu Ứng Bóng Đổ Trong Photoshop, Đổ Bóng Chữ Bằng Photoshop
  • Vẽ Tĩnh Vật Bằng Bút Chì
  • 3 Bước Hướng Dẫn Vẽ Tĩnh Vật Chai Thủy Tinh
  • Sóng Elliott Là Gì? Cách Xác Định Biên Độ Sóng Chuẩn Xác Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Các Dạng Bài Tập Vật Lý 10 Và Cách Giải
  • Tìm Hiểu Phần Mềm Inventor Và Khả Năng Ứng Dụng
  • Các Mẫu Thiết Kế Nhà Ống 1 Tầng 2 Phòng Ngủ Hiện Đại Nhất
  • Top 100 Mẫu Nhà Ống 1 Tầng Đẹp 2022 Do Hiệp Hội Xây Dựng Bình Chọn
  • Mẫu Nhà Ống 1 Tầng 2 Phòng Ngủ Đơn Giản Đầy Đủ Công Năng
  • Nhắc đến phân tích kỹ thuật thì không thể không nhắc đến Lý thuyết Dow, đây được xem là nền tảng nguyên lý cơ bản cho sự ra đời của trường phái này. Bên cạnh đó, một lý thuyết khác cũng có khá nhiều điểm tương đồng với lý thuyết Dow nhưng đi sâu vào phân tích cụ thể cấu trúc chu kỳ của xu hướng giá và lý thuyết mà kienthucforex muốn nhắc đến chỉ có thể là Sóng Elliott.

    Một trong những điều quan trọng nhất của Lý thuyết này là xác định thị trường đang ở giai đoạn nào của chu kỳ hay nói cách khác là đang ở sóng nào của sóng Elliott, từ đó dự đoán được những bước đi tiếp theo của thị trường mà giao dịch cho phù hợp.

    Bài viết lần này sẽ giúp các bạn tìm hiểu về nội dung của Lý thuyết sóng Elliott, các điều kiện cần có, các mẫu hình sóng Elliott và cách thức xác định biên độ của biến động giá trong giao dịch forex.

    Lý thuyết sóng Elliott là gì?

    Lý thuyết sóng Elliott được phát triển bởi một kế toán chuyên nghiệp, một tác giả nổi tiếng người Mỹ – Ralph Nelson Elliott (28/07/1871 – 15/01/1948).

    Lý thuyết này ra đời dựa trên quan điểm “kết quả của diễn biến tâm lý đám đông chính là sự hình thành các mô hình và xu hướng của giá cả trên thị trường”. Tâm lý và hành vi của đám đông diễn ra một cách tự nhiên nhưng thường tuân theo một chu kỳ nhất định, có lúc hưng phấn, có lúc bi quan nên kết quả của nó chính là những chuyển động của giá cũng sẽ tuân theo những chu kỳ giống như thế, lúc tăng lúc giảm. Những chu kỳ tăng giảm này đều được xác định bởi các mô hình riêng biệt, mà tác giả gọi là sóng, và được lặp đi lặp lại.

    Không phải là một chỉ báo kỹ thuật hay phương pháp giao dịch nào cụ thể nhưng Lý thuyết sóng Elliott giúp trader xác định và nhận biết xu hướng thị trường một cách tường tận nhất có thể và được áp dụng rộng rãi trên nhiều loại thị trường tài chính khác nhau như chứng khoán, forex, tiền điện tử và cả hàng hóa, bất kể thị trường nào bị tác động bởi hành vi của đám đông đều có thể sử dụng Lý thuyết sóng Elliott.

    Cấu trúc cơ bản của chu kỳ sóng Elliott

    Một chu kỳ sóng Elliott hoàn chỉnh và cơ bản nhất bao gồm 8 sóng và có cấu trúc 2 pha, dạng 5-3, trong đó pha đầu tiên có 5 bước sóng được đánh dấu bằng số từ 1 đến 5 và là 5 bước sóng di chuyển theo xu hướng chính và pha thứ hai có 3 bước sóng điều chỉnh, di chuyển ngược xu hướng chính, được đánh dấu bằng các chữ cái A, B, C.

    Cấu trúc của chu kỳ sóng Elliott trong xu hướng tăng:

    Pha tăng bao gồm 5 sóng từ 1 đến 5 được gọi là mô hình sóng đẩy hay sóng động lực (impulse waves), trong đó: sóng 1, 3 và 5 là các sóng tăng và sóng 2, 4 là những sóng giảm.

    Pha giảm bao gồm 3 sóng A, B, C được gọi là mô hình sóng điều chỉnh, trong đó: sóng A, C là 2 sóng giảm và một sóng B tăng.

    Trong xu hướng tăng thì mô hình sóng động lực là một pha tăng giá, mô hình sóng điều chỉnh là một pha giảm giá, ngược lại, trong xu hướng giảm, mô hình sóng động lực là một pha giảm giá và mô hình sóng điều chỉnh là một pha tăng giá.

    • Mô hình sóng động lực (Impulse Waves)

    Theo Lý thuyết sóng Elliott thì một sóng động lực của xu hướng chính luôn bao gồm 5 sóng nhỏ, trong đó có 3 sóng đẩy (theo xu hướng chính) và 2 sóng điều chỉnh (ngược xu hướng chính). Tuy nhiên, để thỏa mãn điều kiện là một sóng động lực thì phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

    • Sóng 2 không thể điều chỉnh về quá sâu tức là không được vượt qua điểm bắt đầu của sóng 1. Thỏa mãn điều kiện đáy sau cao hơn đáy trước trong xu hướng tăng và đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước trong xu hướng giảm.
    • Sóng 3 không được là sóng ngắn nhất trong 3 sóng 1, 3, 5.
    • Sóng 4 không đi vào vùng giá của sóng 1, nghĩa là không vượt quá điểm cuối cùng của sóng 1.
    • Mô hình sóng điều chỉnh (Corrective waves)

    Một sóng điều chỉnh của xu hướng chính thường bao gồm 3 sóng nhỏ, trong nhiều trường hợp nó vẫn có thể có nhiều hơn 3 sóng nhưng không được nhiều hơn 5 sóng. Trong 3 sóng nhỏ, có 2 sóng điều chỉnh (ngược xu hướng chính) và 1 sóng đẩy (theo xu hướng chính).

    Sóng điều chỉnh này thường có cấu trúc nhỏ hơn về cả độ lớn và thời gian hình thành so với sóng động lực nhưng đôi lúc nó lại khá phức tạp và khó xác định.

    Trong bất kỳ một thị trường tài chính nào, giá cả sẽ luôn đi theo những chu kỳ tăng, giảm luân phiên nhau, nghĩa là trong một xu hướng chính đang tăng thì thị trường sẽ có những pha giảm xen kẽ và ngược lại, điều này hoàn toàn phù hợp với Lý thuyết Dow và bây giờ nó lại đúng với Lý thuyết sóng Elliott. Chính vì vậy, diễn biến của thị trường sẽ luôn rơi vào 2 giai đoạn đối nghịch: giai đoạn thị trường xác nhận xu hướng chính (thể hiện bằng các sóng động lực) và giai đoạn thị trường đang điều chỉnh xu hướng chính đó (các đợt sóng điều chỉnh).

    Tính chất “sóng trong sóng” của Lý thuyết sóng Elliott

    Một cấu trúc sóng Elliott hoàn chỉnh bao gồm một sóng động lực và một sóng điều chỉnh. Mỗi cấu trúc sóng Elliott (cấp 1) này tạo thành một mắt xích nhỏ trong một cấu trúc sóng Elliott lớn hơn (cấp 2), mỗi cấu trúc sóng Elliott cấp 2 lại tạo thành một mắt xích nhỏ trong một cấu trúc sóng Elliott lớn hơn nữa (cấp 3), điều này có thể lặp lại cho đến cấu trúc sóng Elliott thứ n, và cấu trúc thứ n này được lặp đi lặp lại trong một xu hướng lớn của thị trường. Phụ thuộc vào khung thời gian, độ dài khoảng thời xét đến mà giá trị của n là nhiều hay ít. Đây chính là tính chất sóng trong sóng của Lý thuyết sóng Elliott.

    Ở hình trên, ô vuông màu đen nhỏ nhất là mắt xích sóng Elliott tăng nhỏ nhất và tương ứng với các mắt xích lớn hơn là các ô vuông màu đen lớn hơn. Tương tự, ô vuông màu xanh nhỏ nhất là mắt xích sóng Elliott giảm nhỏ nhất.

    • Sóng Elliott lớn nhất ở hình trên là một cấu trúc sóng trong xu hướng tăng, bao gồm một sóng động lực tăng (X) gồm 5 sóng 1, 2, 3, 4, 5; và một sóng điều chỉnh giảm (Y) gồm 3 sóng A, B, C.
    • Trong đó, sóng động lực X được cấu thành từ 3 sóng Elliott nhỏ hơn và cả 3 sóng Elliott này đều là 3 cấu trúc sóng của xu hướng tăng. Mỗi sóng nhỏ hơn này bao gồm 1 sóng động lực (1’, 2’, 3’, 4’, 5’) cùng hướng với X và một sóng điều chỉnh (A’, B’, C’) cùng hướng với Y.
    • Sóng điều chỉnh Y cũng được cấu thành từ 2 sóng Elliott nhỏ hơn và cả 2 sóng này đều là cấu trúc sóng của xu hướng giảm. Mỗi sóng Elliott nhỏ này bao gồm 1 sóng động lực (1’, 2’, 3’, 4’, 5’) cùng hướng với Y và một sóng điều chỉnh (A’, B’, C’), cùng hướng với X.
    • Và tiếp tục tương tự cho những mắt xích nhỏ hơn.

    Các cấp độ sóng Elliott

    Ở ví dụ trên, sau khi sóng Elliott lớn nhất đó hoàn thành sẽ tiếp tục hình thành một sóng Elliott có cấu trúc tương tự và đồng dạng với nó, và liên tiếp như vậy tạo thành một sóng Elliott có cấp độ cao hơn. Trong Lý thuyết sóng Elliott thì có 9 cấp độ khác nhau, phụ thuộc vào thời gian hoàn thành mỗi cấp độ, tuy nhiên, tất cả những sự phân chia này đều mang tính tương đối. Bên cạnh đó, trong cùng một cấp độ, quy mô và thời gian hình thành của mỗi sóng cũng có thể rất khác nhau. 9 cấp độ sóng Elliott bao gồm:

    • Grand Supercycle (siêu chu kỳ lớn): thời gian kéo dài đến cả thế kỷ
    • Super Cycle (chu kỳ lớn): kéo dài vài thập kỷ
    • Cycle (chu kỳ): kéo dài từ một năm đến vài năm
    • Primary (sơ cấp): từ vài tháng đến 1 hoặc 2 năm
    • Intermediate (trung cấp): từ vài tuần đến vài tháng
    • Minor (nhỏ): kéo dài trong khoảng vài tuần
    • Minute (khá nhỏ): kéo dài trong vài ngày
    • Minuette: kéo dài trong vài giờ
    • Subminuette: chỉ trong vòng vài phút

    Các cấu trúc mô hình sóng nâng cao

    Cấu trúc sóng Elliott mà chúng ta đang nhắc đến từ đầu đến giờ là cấu trúc cơ bản nhất của sóng Elliott. Trên thực tế, các sóng động lực và điều chỉnh có cấu trúc phức tạp hơn rất nhiều. Ralph Nelson Elliott cũng đã chỉ ra các dạng mô hình sóng khác nhau, ông đã đặt tên và mô tả những cấu trúc này rất chi tiết.

    Mỗi sóng động lực có 5 sóng nhỏ, mỗi sóng điều chỉnh cơ bản có 3 sóng nhỏ, tổng cộng là 8 sóng nhỏ. Mỗi sóng nhỏ sẽ khác nhau về số bước sóng con cấu thành và hình dạng cụ thể của từng bước sóng. Vậy tổng số dạng mô hình của sóng Elliott sẽ là một con số rất lớn. Chính vì thế, trong phạm vi của bài viết này, chúng tôi chỉ sẽ giới thiệu đến các bạn các dạng mẫu hình phổ biến và đặc trưng nhất của sóng Elliott.

    Các dạng mẫu hình của sóng động lực (impulse waves)

    • Extension (mẫu hình sóng mở rộng)
    • Diagonal Triangle (Tam giác chéo)
      • Leading Diagonal Triangle
      • Ending Diagonal Triangle
    • Failed 5th (Thất bại sóng 5) hay Truncated 5th (mẫu hình cụt sóng 5)

    Mẫu hình sóng mở rộng (Extension)

    Mỗi sóng 1, 3, 5 đều có thể mở rộng thành một cấu trúc nhiều sóng hơn bên trong nó (thường là 5 sóng) và mở rộng nhiều lần. Trong mô hình Extension này, chỉ có một sóng được mở rộng và thường là sóng 3, tuy nhiên vẫn có trường hợp sóng 1 hoặc sóng 5 mở rộng. Nếu sóng 3 mở rộng thì sóng 1 và 5 sẽ tuân theo cấu trúc cơ bản và có xu hướng cân bằng nhau.

    Sóng mở rộng có cấu trúc của một impulse waves cơ bản.

    Nếu sóng 3 mở rộng một lần thì tổng số sóng của impulse waves là 9, mở rộng 2 lần là 13, thậm chí mở rộng 3 lần sẽ là 17.

    Mẫu hình sóng 3 mở rộng một lần có cấu trúc sóng là 5-3-5-3-5-3-5-3-5

    Sóng 3 mở rộng thành 5 sóng nhỏ, nếu nó mở rộng 2 lần thì một trong 5 sóng nhỏ này sẽ mở rộng thành 5 sóng nhỏ hơn nữa.

    Mô hình sóng 3 mở rộng 2 lần với sóng mở rộng là sóng i: cấu trúc sóng 5-3-5-3-5-3-5-3-5-3-5-3-5

    Dạng sóng mở rộng thường xuất hiện ở sóng 1, 3, 5 của sóng động lực và sóng A, C của sóng điều chỉnh.

    Mẫu hình sóng Tam giác chéo (Diagonal Triangle)

    Điểm đặc biệt của mô hình này là khi vẽ các đường xu hướng đi qua các đỉnh và đáy của các bước sóng sẽ tạo thành hình tam giác.

    Mẫu hình này được chia thành 2 dạng khác nhau, dựa vào cấu trúc sóng:

    Leading Diagonal Triangle có cấu trúc sóng 5-3-5-3-5 và Ending Diagonal Triangle có cấu trúc sóng 3-3-3-3-3

    Trong đó:

    • Sóng 1, 3, và 5 có dạng Zigzag (sẽ được mô tả cụ thể ở phần sau)
    • Sóng 2 và 4 có thể theo bất kỳ dạng mẫu hình điều chỉnh nào
    • Sóng 3 không thể là sóng ngắn nhất

    Lưu ý: hình tam giác trong mô hình này có xu hướng hội tụ ở sóng 5, tuy nhiên, vẫn có trường hợp phân kỳ, song nếu phân kỳ xảy ra thì nguyên tắc “sóng 4 không đi vào vùng giá của sóng 1” sẽ bị phá vỡ.

    Dạng sóng Leading Diagonal Triangle thường xuất hiện trong sóng 1 và sóng A. Dạng sóng Ending Diagonal Triangle thường xuất hiện trong sóng 5 và C, thỉnh thoảng xuất hiện ở sóng 1.

    Mẫu hình thất bại sóng 5 (Failed 5th)hay mẫu hình cụt sóng 5 (Truncated 5th)

    Là mẫu hình sóng động lực trong đó sóng 5 không thể vượt qua khỏi sóng 3, trong một vài trường hợp sóng 5 có vượt qua nhưng không đáng kể thì vẫn được xếp vào dạng mẫu hình này.

    Tất cả các sóng còn lại tuân theo cấu trúc của một impulse waves cơ bản.

    Mô hình thất bại sóng 5 chỉ thường xuất hiện ở sóng 5 của sóng C.

    Các dạng mẫu hình của sóng điều chỉnh (corrective waves)

    • Zigzag
    • Flag (mô hình phẳng)
    • Triangle (tam giác)

    Mẫu hình Zigzag

    Đặc điểm nhận dạng mẫu hình Zigzag mà dễ dàng nhìn thấy bằng mắt nhất chính là 2 đường xu hướng đi qua các đỉnh và đáy song song với nhau. Cấu trúc của mô hình Zigzag là 5-3-5.

    Trong đó:

    • Sóng B điều chỉnh không quá 61.8% độ dài của sóng A
    • Sóng C phải vượt qua điểm kết thúc của sóng A
    • Sóng A và C thông thường có độ dài bằng nhau

    Mẫu hình Zigzag có thể mở rộng chính nó thành Double Zigzag hoặc Triple Zigzag. Các mẫu hình Zigzag đơn được nối với nhau trong những biến thể này bằng một mẫu hình sóng điều chỉnh bất kỳ và được gọi là sóng X. Sóng X thường ngắn hơn các sóng Zigzag đơn và cũng có cấu trúc 5-3-5.

    Trong mẫu hình Triple Zigzag thì 3 sóng Zigzag đơn sẽ được nối với nhau bằng 2 sóng X, đều là các mẫu hình sóng điều chỉnh.

    Dạng mẫu hình Zigzag này hầu như chỉ xuất hiện trong các sóng 2, A và sóng ngắn X.

    Mẫu hình phẳng Flag

    Cũng là 2 đường xu hướng song song khi nối các đỉnh và đáy nhưng 2 đường xu hướng này đi ngang trong mô hình Flag thay vì dốc lên hoặc xuống trong mô hình Zigzag.

    Cấu trúc mẫu hình Flag cũng rất khác so với Zigzag: 3-3-5 hoặc đôi khi là 3-3-7

    Trong đó:

    • Sóng A và B là các mẫu hình sóng điều chỉnh
    • Sóng C có cấu trúc của một sóng động lực
    • Trong trường hợp sóng B điều chỉnh nhỏ hơn hoặc bằng 100% độ dài sóng A thì sóng C và A gần như bằng nhau và sóng C không thể vượt qua khỏi vùng giá của sóng A. Trường hợp điều chỉnh hơn 100% (B vượt qua điểm bắt đầu của sóng A) thì sóng C sẽ dài hơn sóng A và vượt ra ngoài vùng giá của sóng A.

    Dạng mẫu hình phẳng này đa phần xuất hiện trong các sóng 2, 4 và B, đôi khi xuất hiện ở sóng X.

    Mẫu hình sóng Tam giác (Triangle)

    Là một mẫu hình sóng điều chỉnh đặc biệt, bao gồm 5 sóng, mỗi sóng có 3 sóng nhỏ, nên cấu trúc của nó sẽ là 3-3-3-3-3. Hai đường xu hướng nối các đỉnh và đáy cắt nhau tạo thành hình tam giác có hướng hội tụ hoặc mở rộng (phân kỳ).

    Tam giác hội tụ

    Mẫu hình tam giác hội tụ lại được chia thành 3 dạng khác nhau: tam giác đi lên (ascending), tam giác đi xuống (descending) và tam giác đối xứng (symmetrical)

    Trong đó:

    • Có 5 sóng, A, B, C, D, E, và mỗi sóng là một mẫu sóng điều chỉnh bất kỳ
    • Sóng C không thể là sóng ngắn nhất
    • Sóng D không thể vượt ra khỏi vùng giá của sóng C
    • Sóng A là sóng dài nhất và sóng E là sóng ngắn nhất

    Tam giác mở rộng (phân kỳ)

    Trong đó:

    • Có 5 sóng, A, B, C, D, E, và mỗi sóng là một mẫu sóng điều chỉnh bất kỳ
    • Sóng C không thể là sóng ngắn nhất
    • Sóng D vượt ra khỏi vùng giá của sóng C
    • Sóng A là sóng ngắn nhất và sóng E là sóng dài nhất

    Mẫu hình sóng điều chỉnh tam giác chỉ xuất hiện trong các sóng B, X và 4. Không bao giờ xuất hiện trong sóng 2 hoặc sóng A.

    Các công cụ xác định mục tiêu giá và biên độ sóng

    2 công cụ chủ yếu được được sử dụng một cách hiệu quả nhất để thực hiện chức năng này chính là kênh giá và Fibonacci.

    Kênh giá

    Kênh giá bao gồm 2 đường xu hướng song song với nhau và chứa gần như toàn bộ biên độ dao động của giá trong một sóng. Ở các mẫu hình sóng tam giác, 2 đường xu hướng này mặc dù không song song nhưng trong tình huống này, chúng ta vẫn xem nó như là một kênh giá.

    Công cụ kênh giá này thường được sử dụng để nhận diện các sóng có cùng cấp độ, hiệu quả trong các mẫu hình sóng động lực (impulse waves) cơ bản, mẫu hình Zigzag hay các mẫu hình sóng tam giác.

    Ví dụ:

    Kênh giá của mô hình impulse waves cơ bản và corrective waves có các sóng con là các mẫu sóng Zigzag

    Kênh giá xác định mục tiêu sóng 3 và sóng C

    Một trong những nguyên tắc khi xác định mục tiêu giá và biên độ của sóng dựa vào kênh giá chính là thị trường phải hình thành ít nhất 2 sóng.

    Sau khi sóng 1 và 2 hoặc A và B đã hình thành thì tiến hành vẽ kênh giá cho sóng động lực hoặc sóng điều chỉnh.

    • Sóng động lực: đường xu hướng dưới được xác định trước, đi qua điểm bắt đầu sóng 1 và điểm cuối sóng 2. Đường xu hướng trên xác định sau, đi qua điểm cuối sóng 1 và song song với đường xu hướng dưới.
    • Sóng điều chỉnh: đường xu hướng trên xác định trước, đi qua điểm đầu sóng A và điểm cuối sóng B. Đường xu hướng dưới xác định sau, đi qua điểm cuối sóng A và song song với đường xu hướng trên.

    Mục tiêu giá của sóng 3 và sóng C ít nhất phải nằm trên các đường xu hướng (như hình vẽ).

    Tuy nhiên, sóng 3 thường dài hơn sóng 1 và là sóng dài nhất trong mô hình sóng động lực nên nó bắt buộc phải chạm đến kênh giá hoặc vượt ra khỏi kênh giá, nếu không thì đó là sóng C và mô hình sóng ban đầu trở thành sóng điều chỉnh, không còn là sóng động lực.

    Đối với sóng C trong sóng điều chỉnh thì mục tiêu giá có thể chạm, vượt hoặc chưa vượt kênh giá đều được.

    Nếu sóng 2 và sóng B vượt ra khỏi kênh giá thì có thể chúng chưa hoàn thành và đang di chuyển với cấu trúc phức tạp hơn nên chưa thể xác định được sóng 3 và sóng C. Lúc này, cần một công cụ khác để xác định mục tiêu của sóng 3 và sóng C.

    Kênh giá xác định mục tiêu sóng 4

    Sau khi sóng 3 hình thành, chúng ta buộc phải vẽ lại kênh giá mới và kênh giá này có thể sẽ không trùng với kênh giá ban đầu khi sóng 1 và 2 hình thành như trường hợp ở trên.

    Kênh giá mới được xác định như sau: đường xu hướng trên vẽ trước, đi qua điểm cuối sóng 1 và điểm cuối sóng 3. Đường xu hướng dưới vẽ sau, đi qua điểm cuối sóng 2 và song song với đường xu hướng trên.

    Mục tiêu giá tối thiểu của sóng 4 phải nằm trên kênh giá, sóng 4 có thể vượt ra khỏi kênh giá, phá vỡ đường xu hướng dưới và đi vào vùng giá của sóng 1 (rơi vào mẫu sóng tam giác chéo phân kỳ), khi đó, nguyên tắc thứ 3 của Lý thuyết sóng Elliott sẽ bị phá vỡ.

    Nếu sóng 4 không thể chạm đến kênh giá có nghĩa là lực của xu hướng tăng này rất mạnh, có 2 trường hợp xảy ra, hoặc là sóng 3 chưa hoàn thành và tiếp tục đi theo một cấu trúc phức tạp hoặc là đó chính là sóng 4 với lực điều chỉnh giảm rất nhỏ và thị trường đang sẵn sàng cho một sự bức phá lớn ở sóng 5.

    Kênh giá xác định mục tiêu sóng 5

    Tương tự, sau khi sóng 4 hoàn thành, chúng ta sẽ lại tiếp tục xác định kênh giá mới để tìm mục tiêu của sóng 5.

    Kênh giá mới được thiết lập như sau: đường xu hướng dưới được vẽ trước, đi qua điểm cuối của sóng 2 và điểm cuối của sóng 4. Đường xu hướng trên vẽ sau, đi qua điểm cuối sóng 3 và song song với đường xu hướng dưới.

    Mục tiêu giá của sóng 5 ít nhất sẽ chạm vào đường xu hướng trên. Trong trường hợp sóng 3 tăng yếu thì sóng 5 sẽ vươn lên rất mạnh hoặc trong trường hợp sóng 5 mở rộng thì có thể vượt ra ngoài phạm vi của kênh giá. Ngược lại, nếu sóng 3 là một sóng tăng lên mạnh mẽ, khá dài thì sóng 5 sẽ là một sóng ngắn, có thể không chạm vào kênh giá.

    Fibonacci

    Khi nghiên cứu về tính chất toán học của sóng và các mẫu hình sóng, Ralph Nelson Elliott đã đi đến kết luận về mối quan hệ giữa Fibonacci và sóng Elliott rằng dãy số Fibonacci chính là cơ sở của Lý thuyết sóng Elliott. Các mức thoái lui quan trọng của Fibonacci xuất hiện nhiều lần trong cấu trúc sóng Elliott, bao gồm cả mô hình sóng động lực và sóng điều chỉnh cơ bản và trong tất cả các dạng mẫu hình sóng phức tạp hơn của chúng.

    Tìm hiểu:

    Để tính toán được biên độ của sóng thì ít nhất thị trường đã hình thành được sóng đầu tiên, là sóng 1 của sóng impulse waves hoặc sóng A của sóng corrective waves.

    Sóng 1 và sóng A là sóng cơ sở, độ dài và độ dốc của chúng sẽ quyết định đến biên độ của những sóng tiếp theo khi sử dụng Fibonacci.

    Trên phần mềm giao dịch, để xác định biên độ các sóng động lực (3, 5), chúng ta sử dụng Fibonacci Extension, các sóng điều chỉnh (2, 4) thì sử dụng Fibonacci Retracement.

    Sóng 2

    Theo nguyên tắc của Lý thuyết sóng Elliott, sóng 2 không được vượt quá điểm bắt đầu của sóng 1. Mức điều chỉnh hay thoái lui thường gặp của sóng 2 so với sóng 1 là ở khoảng trên 30%, tương ứng với các mức Fibo quan trọng như 38.2%, 50%, 61.8% hoặc 76.4%.

    Để xác định biên độ sóng 2, các bạn dùng Fibonacci Retracement cho đoạn xu hướng tăng sóng 1.

    Sóng 3

    Sóng 3 không là sóng ngắn nhất và thường là sóng dài nhất trong số các sóng 1, 3 và 5. Chính vì vậy, sóng 3 sẽ  có khả năng chạm vào các mức Fibo quan trọng cao hơn như 123.6% hay 161.8%. Trong trường hợp sóng 3 mở rộng thì nó sẽ tăng lên đến 261.8%, thậm chí 461.8% so với sóng 1.

    Để xác định biên độ sóng 3, các bạn dùng Fibonacci Extension cho đoạn xu hướng tăng sóng 1, điểm thoái lui là điểm cuối của sóng 2.

    Sóng 4

    Sóng 4 là đợt sóng điều chỉnh sau khi sóng 3 hình thành, nên độ dài sóng 3 sẽ là cơ sở để xác định biên độ của sóng 4.

    Nếu sóng 3 là một sóng impulse waves cơ bản thì sóng 4 sẽ thường điều chỉnh lại tại các mức thoái lui 38.2%, 50% hoặc 61.8% so với sóng 3. Nếu sóng 3 mở rộng thì sóng 4 chỉ điều chỉnh bằng 23.6% hoặc tối đa là 38.2% so với sóng 3.

    Tuy nhiên, để thỏa mãn nguyên tắc “sóng 4 không đi vào vùng giá của sóng 1” thì sóng 4 chỉ thường điều chỉnh về các mức 23.6% hoặc 38.2% so với sóng 3, trừ trường hợp mẫu sóng tam giác chéo phân kỳ.

    Để xác định biên độ của sóng 4, các bạn sử dụng Fibonacci Retracement cho đoạn xu hướng tăng sóng 3.

    Sóng 5

    Có 3 trường hợp cần lưu ý khi xác định biên độ của sóng 5.

    Nếu sóng 3 là một sóng ngắn, chỉ bằng khoảng 123.6% so với sóng 1 và thấp hơn 161.8% so với sóng 1 thì sóng 5 sẽ là một sóng mở rộng. Biên độ của nó sẽ được xác định theo nhiều cách khác nhau như:

    • Bằng 161.8% hoặc thậm chí 261.8% so với sóng 3.
    • Bằng 61.8% hoặc 100% hoặc 161.8% so với tổng độ dài của sóng 1 và sóng 3: được tính bằng khoảng cách từ điểm bắt đầu sóng 1 đến điểm kết thúc sóng 3.
    • Thậm chí có thể bằng 161.8% tổng độ dài sóng 1 và sóng 3, sau đó cộng thêm khoảng cách từ điểm cuổi sóng 3 đến điểm cuối sóng 4, tùy thuộc vào từng mẫu hình mở rộng của sóng 5.

    Nếu sóng 3 là một sóng rất dài, hoặc sóng 3 mở rộng thì biên độ sóng 5 sẽ ngắn lại, phổ biến nhất là sóng 5 sẽ bằng với sóng 1 hoặc dao động từ 123.6% – 161.8% so với sóng 1.

    Ví dụ: trường hợp sóng 3 ngắn, sóng 5 mở rộng.

    Trong trường hợp trên, chúng ta có thể sử dụng Fibonacci Extension cho đoạn tăng giá từ điểm bắt đầu sóng 1 đến điểm cuối sóng 3, điểm thoái lui là điểm cuối sóng 4.

    Trường hợp thứ 3 đặc biệt nhất là sóng 5 có biên độ bằng sóng 3, điểm cuối sóng 5 bằng điểm cuối sóng 3 hoặc cao hơn nhưng không đáng kể, nghĩa là sóng động lực lúc này có dạng failed 5th.

    Sóng B

    Ở dạng mẫu hình Zigzag, sóng B thường điều chỉnh sao cho không vượt ra khỏi vùng giá của sóng A và thường bằng 38.2%, 50% hoặc 61.8% so với sóng A.

    Ở dạng mẫu hình Flag, sóng B bằng với sóng A hoặc vượt ra khỏi phạm vi giá của sóng A một đoạn ngắn, thường bằng 123.6% hoặc 138.2% so với sóng A.

    Để xác định biên độ giá trong trường hợp này, các bạn sử dụng Fibonacci Retracement cho đoạn xu hướng giảm là sóng A.

    Sóng C

    Trong mẫu hình Zigzag thì độ dài sóng C ít nhất bằng 61.8% sóng 1. Trong trường hợp độ dài 2 sóng bằng nhau thì sóng C hồi về tỷ lệ Fibo 100%.

    Trong mẫu hình Flag, sóng C hồi về bằng điểm cuối của sóng A tức là bằng 100% so với sóng A trong trường hợp sóng B không vượt ra khỏi vùng giá sóng A hoặc sóng C bằng 123.6% – 161.8% so với sóng A trong trường hợp sóng B vượt khỏi vùng giá của sóng A.

    Công cụ được sử dụng trong trường hợp này là Fibonacci Extension của đoạn xu hướng giảm là sóng A, điểm thoái lui là điểm cuối của sóng B.

    Tất cả ví dụ minh họa của những phần nội dung ở trên đều áp dụng cho cấu trúc sóng Elliott trong xu hướng chính là tăng. Đối với xu hướng giảm, các bạn chỉ cần thực hiện ngược lại.

    Tổng kết

    Lý thuyết sóng Elliott không phải là một kỹ thuật giao dịch nên sẽ không có quy tắc cụ thể nào trong việc xác định các điểm ra hoặc vào lệnh. Hơn nữa, việc dự đoán chính xác sóng Elliott sẽ có cấu trúc như thế nào là rất khó bởi nó có quá nhiều biến thể khác nhau. Tuy nhiên, các trader trên thế giới vẫn rất ưa chuộng sử dụng Lý thuyết sóng Elliott bằng cách kết hợp với các công cụ phân tích khác mà Fibonacci là một điển hình, để vừa xác định được hướng di chuyển tiếp theo của thị trường, vừa xác định biên độ biến động của chúng để có hướng giao dịch hiệu quả nhất.

    CHÚC CÁC BẠN THÀNH CÔNG.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Vẽ Sóng Elliott Chính Xác
  • Kỹ Thuật Cách Vẽ Sóng Elliott Cực Hay Dành Cho Người Mới
  • Sóng Elliott Tk 21: Cách Vẽ & Đếm Sóng Elliott (Cụ Thể) – Cophieux
  • Cách Vẽ Ông Già Noel
  • Cách Đổ Bóng Chữ Trong Photoshop Đơn Giản Nhất
  • Bài 16: Vẽ Kênh Giá Vận Dụng Lý Thuyết Sóng Elliott

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Cụ Vẽ Đường Ống Khung, Chân, Sườn Máy… Trong Inventor (Frame Generator)
  • Thi Công Xây Dựng_Bài 19: Kỹ Thuật Xây Dựng Ống Khói Và Lò Sưởi
  • Bản Vẽ Thiết Kế Nhà Ống 2 Tầng 1 Tum
  • Thiết Kế Nhà Ống 1 Tầng 2 Phòng Ngủ Đẹp Miễn Chê Tại Bình Dương
  • 04 Bản Vẽ Thiết Kế Nhà Ống 1 Tầng Diện Tích 100M2 5×20
  • Vẽ kênh giá là phương pháp quan trọng không chỉ quyết định vị trí các sóng nội bộ mà còn dự đoán được các mục tiêu cho sóng kế tiếp.

    Kênh giá là gì?

    Kênh giá là những đường xu hướng song song, ít nhiều cũng chứa toàn bộ dao động giá của một sóng. Dù các đường xu hướng của mô hình Triangle không song song nhưng chúng cũng được coi là kênh giá.

    Các sóng thuộc cùng cấp độ sóng có thể được nhận diện bằng cách vẽ các kênh giá. Đặc biệt trong trường hợp các cấu trúc sóng Impulse, sóng Zigzag và sóng Triangle. Nếu những sóng này không tương xứng nhau thì nên tìm kiếm cách tính sóng tùy chọn khác.

    Cách vẽ kênh giá và dự đoán mục tiêu sử dụng kênh giá

    Mục tiêu sóng 3 hoặc sóng C

    Vẽ một kênh giá ngay sau khi sóng 1 và sóng 2 hoàn thành. Nối điểm khởi đầu của sóng 1 (được đánh dấu là 0) với điểm cuối của sóng 2, sau đó vẽ một đường song song kéo từ đỉnh sóng 1.

    Đường song song này có vai trò là mục tiêu tối thiểu của sóng 3 đang phát triển. Nếu sóng 3 không thể bức phá qua đường song song này hoặc không thể chạm đến nó thì có thể đó là sóng C chứ không phải là sóng 3.

    Đường hỗ trợ từ 0 đến sóng 2 có vai trò là mức chặn. Khi đường này bị phá vỡ thì rất có khả năng sóng 2 hoặc B di chuyển phức tạp hơn vì thế sóng 3 hoặc C chưa bắt đầu hình thành.

    Chú ý rằng sóng 3 thường là sóng mạnh nhất và sẽ vượt qua đường xu hướng trên.

    Mục tiêu sóng 4

    Ngay sau khi sóng 3 hoàn thành thì có thể vẽ một kênh giá bằng cách nối điểm cuối của sóng 1 với điểm cuối của sóng 3 bằng một đường xu hướng rồi vẽ một đường song song từ điểm cuối của sóng 2. Bằng cách này có thể dự đoán mục tiêu sóng 4. Chú ý rằng thông thường đường nằm dưới từ sóng 2 sẽ bị phá vỡ một chút do hành động giá của sóng 4. Đường hỗ trợ này có vai trò là mục tiêu tối thiểu của sóng 4.

    Nếu sóng 4 không đến gần được đường này thì đây là biểu hiện của một xu hướng rất mạnh. Có thể xu hướng giá vẫn đang ở sóng 3 hoặc sẵn sàng cho sự bức phá mạnh ở sóng 5.

    Mục tiêu sóng 5

    Phương pháp 1

    Ngay sau khi sóng 4 hoàn thành thì có thể vẽ một kênh giá nối điểm cuối của sóng 2 với điểm cuối của sóng 4 bằng một đường xu hướng sau đó vẽ đường song song từ điểm cuối của sóng 3. Bằng cách này có thể dự đoán mục tiêu sóng 5.

    Thông thường sóng 5 sẽ không chạm đến đường xu hướng nằm trên, trừ khi song 5 theo mô hình mở rộng Extension5 hoặc khi sóng 3 tương đối yếu. Trong mô hình Extension5 với biểu hiện khối lượng giao dịch cao và các chỉ báo xung lượng mạnh mẽ thì hiện tượng vượt quá (throwover) có thể xuất hiện.

    Phương pháp 2

    Thường thì sóng 3 là sóng mạnh nhất cho thấy tốc độ di chuyển rất nhanh khi so sánh với sóng 1 và sóng 5. Nếu sóng 3 cho thấy một đợt tăng giá hoặc giảm giá gần như thẳng đứng thì vẽ một đường xu hướng nối sóng 2 với sóng 4 rồi vẽ đường song song từ sóng 1.

    Đường song song này sẽ cắt qua sóng 3 và sẽ tạo mục tiêu cho sóng 5. Kinh nghiệm cho thấy đây là kênh giá rất có giá trị.

    Mục tiêu sóng D và E

    Ngay sau khi sóng B hoàn thành thì có thể vẽ một đường xu hướng nối điểm khởi đầu sóng A với điểm cuối sóng B để định mục tiêu cho sóng D khi mô hình Triangle đang phát triển. Điều này chắc chắn hơn sau khi sóng C hoàn thành.

    Ngay sau khi sóng C hoàn thành thì có thể vẽ đường xu hướng nối sóng A với điểm cuối sóng C để định mục tiêu sóng E. Hầu như không bao giờ sóng E dừng ngay tại đường xu hướng mà chỉ ghé sát đường xu hướng một cách nhanh chóng và tạm thời.

    Mục tiêu trong mô hình Double Zigzag

    Việc vẽ một kênh giá là điều rất quan trọng để phân biệt các mô hình Double Zigzag với các mô hình sóng Impulse trong khi việc phân biệt chúng vốn khó khăn do chúng đều có đặc trưng sóng chủ. Các mô hình Double Zigzag có xu hướng chạm kênh giá gần như hoàn hảo trong khi ở mô hình Impulse thì sóng 3 thường phá vỡ ra khỏi kênh giá.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Cương Về Sóng Cơ, Trắc Nghiệm Vật Lý Lớp 12
  • Cách Vẽ Ông Già Noel Ngồi Bên Lò Sưởi Trong Đêm Giáng Sinh
  • Tương Tác Của Nhiều Điện Tích ( Đầy Đủ)
  • Phương Pháp Giải Một Số Dạng Bài Tập Về Tổng Hợp Và Phân Tích Lực Đồng Quy Theo Quy Tắc Hình Bình Hành
  • Điều Kiện Cân Bằng Của Chất Điểm, Phân Tích Tổng Hợp Lực Và Bài Tập
  • Sóng Dừng. Bài Tập Về Sóng Dừng Và Phương Trình Sóng Dừng

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Sóng Của Xuân Quỳnh Trang 156 Sgk Ngữ Văn 12, Tập 1
  • Bài Thơ Mây Và Sóng
  • Soạn Văn Lớp 12 Bài Sóng Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Vật Lý 12 Bài 22: Sóng Điện Từ
  • Soạn Bài Lưu Biệt Khi Xuất Dương
  • Sóng dừng. Bài tập về sóng dừng và phương trình sóng dừng là tâm huyết biên soạn của đội ngũ giáo viên dạy giỏi môn vật lý giúp các em giải thích v ậy sóng dừng là gì? điều kiện nào để có sóng dừng trên 1 sợi dây chiều dài l có 2 đầu cố định? phương trình sóng dừng được viết như thế nào? được tính theo công thức nào? và giải bài tập về sóng dừng sgk để các em hiểu rõ hơn.

    Sóng dừng. Bài tập về sóng dừng và phương trình sóng dừng thuộc: CHƯƠNG II. SÓNG CƠ VÀ SÓNG ÂM

    I. Sự phản xạ của sóng

    1. Phản xạ của sóng trên vật cản cố định

    – Khi phản xạ trên vật cản cố định, sóng phản xạ luôn luôn ngược pha với sóng tới ở điểm phản xạ.

    2. Phản xạ của sóng trên vật cản tự do

    – Khi phản xạ trên vật cản tự do, sóng phản xạ luôn luôn cùng pha với sóng tới ở điểm phản xạ.

    II. Sóng dừng

    – Sóng truyền trên sợi dây trong trường hợp xuất hiện các nút (điểm luôn luôn đứng yên) và các bụng (điểm luôn luôn dao động với biên độ cực đại) gọi là sóng dừng.

    1. Sóng dừng trên một sợi dây có hai đầu cố định

    – Điều kiện để có sóng dừng trên một sợi dây có hai đầu cố định là chiều dài của sợi dây phải bằng một số nguyên lần nửa bước sóng:

    – Trong đó:

    l: chiều dài dây

    k: số bụng sóng

    k + 1: số nút sóng

    k: số bó sóng.

    2. Sóng dừng trên một sợi dây có một đầu cố định, một đầu tự do

    – Điều kiện để có sóng dừng trên một sợi dây có một đầu cố định, một đầu tự do là chiều dài của sợi dây phải bằng một số lẻ lần λ/4:

    – Trong đó:

    l: chiều dài dây

    k: số bụng sóng

    k + 1: số nút sóng

    k + 1: số bó sóng.

    3. Phương trình sóng dừng:

      Xét sóng dừng trên dây đàn hồi. Sóng nguồn âm tại A . Dao động của một phần tử M đặt cách đầu B cố định một khoảng d.

      Phương trình sóng tới điểm M: (sớm pha hơn điểm B)

      Phương trình sóng phản xạ tại M: ( Chậm pha hơn sóng phản xạ tại B)

      Tại M nhận được sóng tới và sóng phản xạ, phương trình dao động tổng hợp tại M là:

      Công thức biên độ dao động tổng hợp là:

      Khoảng cách giữa hai bụng sóng liên tiếp là: l/2
      Khoảng cách giữa hai nút sóng liên tiếp là: l/2
      Nếu M là nút sóng thì vị trí của các nút sóng được tính thông qua biểu thức

      Nếu M là bụng sóng thì vị trí bụng tính bởi công thức:

    VD1: Trên sợi dây dài 2 m đang có sóng dừng với tần số 100 Hz. Người ta thấy ngoài 2 đầu dây cố định còn có 3 điểm khác luôn đứng yên. Tìm tốc độ truyền sóng?

    Giải:

    Trên dây có 5 nút

    Hai đầu có định

    ⇒ k = 4

    III. Bài tập về Sóng dừng, tính bước sóng

    * Bài 1 trang 49 SGK Vật Lý 12: Sự phản xạ của sóng trên vật cản cố định có đặc điểm gì?

    ° Lời giải bài 1 trang 49 SGK Vật Lý 12:

    – Khi phản xạ trên vật cản cố định thì sóng phản xạ ngược pha với sóng tới tại điểm phản xạ cố định.

    * Bài 2 trang 49 SGK Vật Lý 12: Sự phản xạ của sóng trên vật cản tự do có đặc điểm gì?

    ° Lời giải bài 2 trang 49 SGK Vật Lý 12:

    – Khi phản xạ trên vật cản tự do thì sóng phản xạ cùng pha với sóng tới tại điểm phản xạ tự do.

    * Bài 3 trang 49 SGK Vật Lý 12: Sóng dừng được tạo thành vì nguyên nhân gì?

    ° Lời giải bài 3 trang 49 SGK Vật Lý 12:

    – Sóng dừng được tạo thành là do sự giao thoa giữa sóng tới và sóng phản xạ.

    * Bài 4 trang 49 SGK Vật Lý 12: Nút, bụng của sóng dừng là gì?

    ° Lời giải bài 4 trang 49 SGK Vật Lý 12:

    – Nút dao động là điểm tại đó, dao động tổng hợp của sóng tới và sóng phản xạ triệt tiêu nhau, có biên độ bằng 0 (không dao động).

    – Bụng dao động là điểm tại đó, dao động tổng hợp của sóng tới và sóng phản xạ có biên độ cực đại (bằng tổng biên độ của hai nguồn).

    * Bài 5 trang 49 SGK Vật Lý 12: Nêu điều kiện để có sóng dừng trên một sợi dây có hai đầu cố định?

    ° Lời giải bài 5 trang 49 SGK Vật Lý 12:

    – Điều kiện để có sóng dừng trên một sợi dây có hai đầu cố định là chiều dài sợi dây bằng một số nguyên lần nửa bước sóng: l = k.(λ/2); (k là các số nguyên dương).

    * Bài 6 trang 49 SGK Vật Lý 12: Nêu điều kiện để có sóng dừng trên một sợi dây có một đầu cố định, một đầu tự do?

    ° Lời giải bài 6 trang 49 SGK Vật Lý 12:

    – Điều kiện để có sóng dừng trên một sợi dây dài có một đầu cố định, một đầu tự do là chiều dài của một sợi dây phải bằng một lẻ lần λ/4: l = (2k+1)(λ/4)

    * Bài 7 trang 49 SGK Vật Lý 12: Chọn câu đúng. Tại điểm phản xạ thì sóng phản xạ:

    A. luôn ngược pha với sóng tới

    B. ngược pha với sóng tới nếu vật cản là cố định

    C. ngược pha với sóng tới nếu vật cản là tự do.

    D. cùng pha với sóng tới nếu vật cản là cố định

    ° Lời giải bài 7 trang 49 SGK Vật Lý 12:

    ¤ Chọn đáp án: B.ngược pha với sóng tới nếu vật cản là cố định

    – Nếu sóng tới gặp một vật cản cố định thì tại điểm phản xạ sóng tới ngược pha với sóng phản xạ.

    * Bài 8 trang 49 SGK Vật Lý 12: Chọn câu đúng. Trong hệ sóng dừng trên một sợi dây, khoảng cách giữa hai nút hoặc hai bụng liên tiếp bằng:

    A. một bước sóng

    B. hai bước sóng

    C. một phần tư bước sóng.

    D. một nửa bước sóng

    ° Lời giải bài 8 trang 49 SGK Vật Lý 12:

    ¤ Chọn đáp án: D.một nửa bước sóng

    – Trong sóng dừng, khoảng cách giữa hai bụng hoặc hai nút liên tiếp bằng nửa bước sóng.

    * Bài 9 trang 49 SGK Vật Lý 12: Một dây đàn dài 0,6m hai đầu cố định dao động với một bụng độc nhất (ở giữa dây).

    a) Tính bước sóng λ của sóng trên dây.

    b) Nếu dây dao động với ba bụng thì bước sóng là bao nhiêu?

    ° Lời giải bài 9 trang 49 SGK Vật Lý 12:

    – Theo bài ra, dây hai đầu cố định nên ta có chiều dài dây là: với k là số bụng sóng

    a) Vì hai đầu cố định dao động với một bụng độc nhất (ở giữa dây) nên k = 1

    ⇒ Chiều dài dây thỏa mãn:

    b) Dây có ba bụng sóng, ta có k = 3 ⇒

    ⇒ Tần số dao động trên dây: .

    Xem Video bài học trên YouTube

    Giáo viên dạy thêm cấp 2 và 3, với kinh nghiệm dạy trực tuyến trên 5 năm ôn thi cho các bạn học sinh mất gốc, sở thích viết lách, dạy học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Soạn Bài Tập Trắc Nghiệm Sóng Cơ
  • Bài 7. Sóng Cơ Và Sự Truyền Sóng Cơ
  • Sóng Cơ Và Sự Truyền Sóng Cơ. Bài Tập Về Sóng Cơ, Phương Trình Sóng
  • Soạn Bài Mây Và Sóng Chi Tiết Hay Nhất
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Mây Và Sóng
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100