Top 12 # Xem Nhiều Nhất Cách Vẽ Cổng Làng / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Techcombanktower.com

File Cad Bản Vẽ 11 Mẫu Cổng Làng Văn Hóa / 2023

Đi vào những câu ca dao, tục ngữ từ ngàn xưa của người Việt, cùng với cây đa, bến nước, sân đình…thì cổng làng là biểu tượng của rất nhiều làng quê, đặc biệt là ở khu vực đồng bằng Bắc Trung Bộ. Cổng làng ra đời từ rất sớm, gắn liền với sự hình thành và phát triển của làng. Mỗi làng có một nét văn hóa đặc thù riêng và tất nhiên, cổng làng cũng mang nét đặc thù riêng không giống nhau…Kiến trúc cổng làng xưa không cầu kỳ, phô trương mà chỉ nhằm khẳng định chỗ đứng của mình trong khoảng không gian của làng quê. Vẻ đẹp của cổng làng gắn với nền văn minh lúa nước, mang tính phác họa và gợi nên những ước vọng của cộng đồng từ đời này qua đời khác.

Phía sau mỗi cánh cổng làng Việt ấy, xưa nay vẫn là sự kết nối cộng đồng gia tộc, là những nét chung về phong tục, tập quán, những nét văn hoá riêng biệt. Cánh cổng làng dù hiện hữu hay vô hình vẫn là nỗi nhớ là hình ảnh mang tiếng quê hương của những người con xa xứ. Cổng làng không chỉ tạo nên hồn quê đất Việt mà qua dáng vẻ kiến trúc còn thể hiện chiều sâu văn hóa mỗi ngôi làng.

Ngày nay kiến trúc cổng làng không còn cổ kính như xưa với các trụ lớn xây gạch, mái vòm …. thay vào đó người ta biến tấu nhiều, hình dáng cổng làng không bó hẹp trong những khuôn thước cũ, nó đã mang trong mình hơi hướng của màu sắc hiện đại, đa diện và chịu sự ảnh hưởng của nhiều nguồn văn hóa, nét thẩm mỹ đương đại. Bài viết này, xin giới thiệu với các bạn đọc File thư viện cad bản vẽ 11 mẫu cổng làng văn hóa được thiết kế tại tỉnh Ninh Bình để những người trong nghề, bà con đang quan tâm đến đề tài này có thể dễ dàng tập hợp được nguồn tư liệu sử dụng cho mục đích mình cần tìm kiếm.

THUYẾT MINH THIẾT KẾ

CÔNG TRÌNH:

THIẾT KẾ MẪU, THIẾT KẾ ĐIỂN HÌNH ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TRÌNH QUY MÔ NHỎ, KỸ THUẬT ĐƠN GIẢN PHỤC VỤ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH

HẠNG MỤC: CỔNG LÀNG VĂN HÓA

1. MỤC ĐÍCH

Cổng làng là sản phẩm kiến trúc của người Việt. Cổng làng phân chia phần đất thổ cư và phần đất canh. Người sống thì sống sau cái cổng làng, người chết thì chôn bên ngoài cổng làng. Cổng làng có vị trí rất quan trọng trong đời sống thực và đời sống tâm linh của con người.

Cổng làng là thời hiện đại thì phần lớn nặng phần tượng trưng với giá trị lịch sử hoặc mỹ thuật

2. QUY HOẠCH SỬ DỤNG

Xây dựng ở vị trí đánh mốc gianh giới của Làng, Cổng làng có thể xây dựng trên nền cổng làng cũ, hoặc xây dựng ở vị trí khác tùy vào phong tục, đặc trưng văn hóa của làng mỗi làng.

3. GIẢI PHÁP THIẾT KẾ

3.1. GIẢI PHÁP KIẾN TRÚC

Cổng làng cho người công giáo

Với sự thoáng đạt về tư duy kiến trúc, kết cấu không phải là vấn đề yêu cầu lớn, các mẫu thiết kế cổng làng (giáo xứ) được thể hiện đơn giản là hình khối, các chi tiết đặc trưng, thể hiện cho sự hiện hữu của văn hóa công giáo phổ biến là chữ thập thánh giá, cánh chim bồ câu thể hiện hòa bình hay các họa tiết trang trí mang đậm phong cách châu âu thời kỳ phục hưng.

Cổng làng cho người Mường

Với họa tiết trang trí đặc trưng cho văn hóa Mường, kết cấu không cầu kỳ, các khoảng trống được bố trí để sử dụng các họa tiết theo ý muốn của địa phương.

Cổng làng cho người Kinh.

Xây dựng 5 mẫu phù hợp thể hiện nét văn hóa từ truyền thống đến hiện đại, từ đơn giản đến phức tạp. 5 mẫu này sẽ là cơ sở để thiết kế và xây dựng cổng các làng văn hóa, ta dễ dàng điều chỉnh qui mô, kích thước hình học tùy thuộc vào thực địa bố trí công trình cũng như yêu cầu về nét riêng, đặc trưng của mỗi địa phương..

3.2. GIẢI PHÁP KẾT CẤU

Các hạng mục công trình được thiết kế và dự toán thiết kế cơ sở từ cốt ± 0.00 trở lên, từng xã trên địa bàn Tỉnh cần có công tác khảo sát để có giải pháp thiết kế phần móng phù hợp với địa chất tại khu vực xây dựng công trình

Loại kết cấu 1: Cổng xây dựng bằng kết cấu bê tông cốt thép, dán gạch, lắp ghép hoa văn họa tiết trang trí, có thể sử dụng sơn hoặc quét vôi bề mặt

Loại kết cấu 2: Sử dụng kết cấu khung thép.

3.3. GIẢI PHÁP THIẾT KẾ CHIẾU SÁNG – ĐIỆN

Sử dụng đèn compact tiết kiệm điện nếu có.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG FILE CAD BẢN VẼ 11 MẪU CỔNG LÀNG VĂN HÓA

Đây chỉ mới là bản vẽ 11 mẫu cổng làng văn hóa tiêu biểu và hiện đang được sử dụng phổ biến ở một số vùng quê thuộc tỉnh NInh Bình, qua file cad mẫu cổng làng ta dễ nhận ra những nét biến tấu, cách điệu cả về hình dáng, kích thước, hình thức, quy mô…của mỗi cổng làng. Mong rằng với FIle cad bản vẽ 11 mẫu cổng làng văn hóa trên sẽ có ích cho các bạn, trong thười gian đến, lenhan sẽ cập nhật thêm một số mẫu cổng làng văn hóa khác để bạn đọc có thể hệ thống, tập hợp tài liệu một cách thuận tiện nhất. Thân ái!

Mẫu Thiết Kế Cổng Làng Đẹp Nhất 2022 Với File Cad Đầy Đủ / 2023

1.MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG

Cổng làng là sản phẩm kiến trúc của người Việt, nó mang giá trị thực tế và giá trị tâm linh trong đời sống của con người từ xưa tới nay. Cổng làng phân chia ranh giới giữa phần đất canh tác và phần đất được sử dụng làm đất ở. Cổng làng cũng là điểm báo hiệu cho người ngoài biết ranh giới giữa các làng ở các vùng quê. Trên cơ sở đó chúng tôi đã đưa ra thư viện cad 2D thiết kế cổng làng phù hợp nhất.

2.VỊ TRÍ XÂY DỰNG

Cổng làng thường được xây đầu làng có thể xây dựng trên nền cổng làng cũ, hoặc xây dựng ở vị trí khác tùy vào phong tục, đặc trưng văn hóa của làng mỗi làng.

3. GIẢI PHÁP THIẾT KẾ

3.1. GIẢI PHÁP KIẾN TRÚC

Cổng làng cho người công giáo

Với sự thoáng đạt về tư duy kiến trúc, kết cấu không phải là vấn đề yêu cầu lớn, các mẫu thiết kế cổng làng (giáo xứ) được thể hiện đơn giản là hình khối, các chi tiết đặc trưng, thể hiện cho sự hiện hữu của văn hóa công giáo phổ biến là chữ thập thánh giá, cánh chim bồ câu thể hiện hòa bình hay các họa tiết trang trí mang đậm phong cách châu âu thời kỳ phục hưng.

Cổng làng cho người Mường

Với họa tiết trang trí đặc trưng cho văn hóa Mường, kết cấu không cầu kỳ, các khoảng trống được bố trí để sử dụng các họa tiết theo ý muốn của địa phương.

Cổng làng cho người Kinh.

Với 5 mẫu thiết kế cổng làng phù hợp thể hiện nét văn hóa từ truyền thống đến hiện đại, từ đơn giản đến phức tạp. Các mẫu này sẽ là cơ sở để thiết kế và xây dựng cổng các làng văn hóa, ta dễ dàng điều chỉnh qui mô, kích thước hình học tùy thuộc vào thực địa bố trí công trình cũng như yêu cầu về nét riêng, đặc trưng của mỗi địa phương..

3.2.GIẢI PHÁP KẾT CẤU

Các hạng mục công trình được thiết kế và dự toán thiết kế cơ sở từ cốt ± 0.00 trở lên, từng xã trên địa bàn Tỉnh cần có công tác khảo sát để có giải pháp thiết kế phần móng phù hợp với địa chất tại khu vực xây dựng công trình

Loại kết cấu 1: Cổng xây dựng bằng kết cấu bê tông cốt thép, dán gạch, lắp ghép hoa văn họa tiết trang trí, có thể sử dụng sơn hoặc quét vôi bề mặt

Loại kết cấu 2: Sử dụng kết cấu khung thép.

3.3.GIẢI PHÁP THIẾT KẾ CHIẾU SÁNG – ĐIỆN

Sử dụng đèn compact tiết kiệm điện nếu có.

4.HÌNH ẢNH MẪU THIẾT KẾ CỔNG LÀNG

Chủ đề được quan tâm nhiều nhất

Đến Cổng Trời… Xem Người Mông Vẽ Sáp Ong / 2023

Sản phẩm váy của người Mông ở bản Cổng Trời có hoa văn độc đáo

Đón chúng tôi giữa đỉnh đèo, ông Hạng Xá Thằng, trưởng bản Cổng Trời, xã Sa Lông, huyện Mường Chà (Điện Biên) vừa đi vừa kể lại thời gian đầu khi người dân mới chuyển từ bản Huổi Toóng, xã Huổi Lèng về đây lập bản. Ngày mới đến, đời sống gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn, cơm không đủ no, áo không đủ ấm… Nhưng với tính cần cù, chịu thương chịu khó, “không có đỉnh núi nào cao hơn đầu gối người Mông, không có việc khó nào người Mông không thể làm bằng đôi tay của mình” nên chúng tôi đã sớm ổn định cuộc sống, tích cực lao động sản xuất. Nhờ đó, những công cụ sản xuất như: Bừa, dao cuốc, súng kíp, đồ mây tre đan; những sản phẩm truyền thống như: váy áo, vòng cổ, vòng tay của người Mông… đã ra đời với trình độ kỹ thuật cao, tinh xảo, phục vụ cho cuộc sống thiết yếu. Người Mông ở Cổng Trời còn lưu giữ kỹ thuật vẽ hoa văn bằng sáp ong dệt, thêu hoa văn trên trang phục truyền thống. Một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc trong cách tạo hoa văn, phối màu trên các sản phẩm vải góp phần tạo nên những trang phục đẹp, độc đáo, riêng của người phụ nữ Mông.

Như để minh chứng cho lời nói của mình, ông Hạng Xá Thằng cùng chúng tôi tới nhà bà Vàng Thị Sua (93 tuổi) – người nắm giữ những tinh hoa trong loại hình nghệ thuật độc đáo này. Mặc dù tuổi đã cao, chân đã yếu song bà Sua vẫn còn minh mẫn. Cầm mảnh vải với những hoa văn độc đáo, bà Sua kể: Bao đời nay, người Mông bản Cổng Trời vẫn trồng lanh, xe sợi, dệt vải để gìn giữ nghề thủ công truyền thống, tạo ra các sản phẩm như: Váy áo, thắt lưng, khăn cuốn đầu, xà cạp… thêu, trang trí bằng cách chắp vải màu, vẽ sáp ong với các hình chữ thập, chữ đinh kết hợp với ô hình quả trám, tam giác, tạo nên sự linh hoạt, khác biệt, không hề lẫn lộn với các kiểu trang trí của các dân tộc khác. Đầu tiên, lanh được cắt về phơi khô, đem giã cho mềm rồi mới nối. Trước khi dệt vải, sợi lanh được đem ngâm với tro bếp. Tro bếp phải là tro trắng, đun từ củi nghiến mà thành. Tro bếp càng trắng bao nhiêu thì khi ngâm vỏ lanh càng trắng bấy nhiêu. Để miếng vải có được màu trắng tinh giúp chàm bám chắc hơn khi nhuộm, vải phải được giặt, phơi cẩn thận, sau đó là cho mặt vải bóng mịn.

Vẽ hoa văn sáp ong trên vải đòi hỏi sự cầu kì, tỉ mỉ trong từng đường nét

Tiếp đó là công đoạn chế sáp ong để vẽ. Sáp ong có màu vàng là sáp non, màu đen là lớp sáp già, lấy hết mật rồi nấu mỗi loại một nồi khác nhau cho đến khi nóng chảy, đem đổ ra bát riêng. Lấy một lượng sáp đen vừa đủ, trộn đều với một lượng sáp vàng tương ứng và đặt lên bếp. Khi bắt đầu vẽ sáp lên váy thì nấu hai loại sáp này trộn với nhau để chảy ra. Khi đun sáp, luôn phải giữ lửa đều ở nhiệt độ 70 – 80 độ, sáp mới không bị khô. Để vẽ sáp ong lên vải phải dùng bút vẽ. Gọi là bút, nhưng kỳ thực đó là một thanh tre nhỏ dài khoảng 7cm, ngòi bút là một lá đồng bé xíu hình tam giác được nẹp vào thanh tre. Ngòi bút càng mỏng hoa văn vẽ càng đẹp và dễ. Khi vẽ, người vẽ luôn phải ngồi bên bếp lửa, chấm bút vào chảo sáp ong đang nóng đặt trên than hồng, đưa tay kẻ những đường thẳng trên vải. Khi kẻ, phải giữ sao cho lượng sáp chảy đều, không loang lổ cho đến hết rồi mới chấm bút vào sáp tiếp nét vẽ. Nếu vẽ sáp ong trên vải, người vẽ dùng một cái lu cở, trên miệng lu cở để một miếng gỗ. Miếng gỗ là một tấm ván bằng phẳng và nhẵn, một đầu để phần đã vẽ xong, một đầu cuộn vải để tiếp tục vẽ. Vẽ đến đâu quấn đến đấy để không bị bẩn. Vẽ xong hoa văn thì bỏ vải vào nồi nước đun sôi, đảo đều tay để lớp sáp bong hết, để lại những nét hoa văn đẹp trên nền vải. Sau khi luộc, vải được nhuộm chàm, phơi nắng.

Quy trình vẽ hoa văn sáp ong trên vải mới nghe tưởng như đơn giản nhưng để làm được một chiếc váy hoàn chỉnh, phụ nữ Mông phải bỏ ra rất nhiều công sức, thời gian. Kỹ thuật vẽ hoa văn sáp ong ở bản Cổng Trời được tiếp nối từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này đến thế hệ khác theo đường mẹ truyền con nối. Các cháu ở đây từ 7, 8 tuổi đã được các bà, các mẹ cầm tay chỉ bảo từng đường kim mũi chỉ. Đến khi trưởng thành, các em đã có đôi bàn tay khéo léo và thuần thục cách tạo hình, trang trí hoa văn, điêu luyện trong kỹ thuật triết nếp, khâu đột, khâu luồn sợi, khâu vắt. Điều khiến chúng tôi ngạc nhiên là người Mông hoa có những bí quyết tạo họa tiết hoa văn trên vải hết sức độc đáo và phong phú. Họ thêu không có mẫu vẽ sẵn mà bằng trí nhớ, thêu ở mặt trái, hoa văn hiện lên ở mặt phải vải với các mô típ hoa văn phong phú hàm chứa những giá trị đẹp đẽ.

Kỹ thuật tạo hình hoa văn trên vải cho thấy người Mông hoa phản ánh cá tính, ước vọng của con người trong suốt chiều dài lịch sử phát triển. Đồng bào dân tộc Mông hoa quan niệm hoa văn trên trang phục, đồ dùng sinh hoạt sẽ giúp họ được giao tiếp với các thần linh mời được các thần linh tới nhà ban phát cho họ điềm lành, xua đi những điều dữ. Mỗi họa tiết hoa văn đều thể hiện những khát vọng cao đẹp của con người. Đó là vốn tri thức dân gian quý giá phản ánh trình độ kinh tế, văn hoá, xã hội, lịch sử, dấu ấn thời đại, bản sắc văn hoá của những người nghệ nhân Mông hoa. Phụ nữ Mông hoa ở Cổng Trời vẫn duy trì kỹ thuật vẽ hoa văn sáp ong truyền thống và được không ít du khách đến tham quan và mua làm quà lưu niệm sản phẩm này. Để bảo tồn, duy trì nghề thủ công truyền thống, bản thường xuyên vận động, tạo điều kiện thuận lợi giúp các gia đình duy trì và phát triển sản phẩm vào lúc nông nhàn. Tri thức dân gian kỹ thuật vẽ hoa văn bằng sáp ong trên vải của người Mông hoa bản Cổng Trời chứa đựng những giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật đặc sắc. Dù đứng trước cuộc sống hiện đại thì người dân bản Cổng Trời vẫn cùng nhau bảo vệ và phát huy giá trị di sản mang đậm tính thẩm mỹ, sự tài hoa, tinh tế và khéo léo như câu hát của người phụ nữ Mông: Lớn lên em theo mẹ tập thêu/Theo chị nhuộm chàm, in hoa trên váy mới/Gái đẹp không biết làm lanh cũng xấu/Gái xinh chưa biết cầm kim là hư…

(baodienbienphu.info.vn)

Cổng Thông Tin Điện Tử / 2023

Theo đó, các gia đình hay dòng họ từ xưa và thậm chí cả ngày nay vẫn có tư tưởng coi trọng việc phải sinh con trai. Nếu không có con trai nối dõi dễ bị xem là tuyệt tự; khi bố mẹ hoặc ông bà chết đi sẽ không có người thờ cúng. Thế nên, phần lớn các gia đình hiện nay vẫn phải cố đẻ cho được con trai.     Còn có lý do nữa khiến một bộ phận trong xã hội không muốn sinh con gái là vì họ nghĩ “sinh con gái sau này khổ”. Lúc nhỏ đã khổ do bố mẹ lo lắng vì nguy cơ bị ăn hiếp, biến thái, bắt nạt rất cao; đến tuổi yêu đương cũng khổ, yêu một người thì dễ, dứt ra khỏi mối tình đó thì khó. Thậm chí, đến lúc lấy chồng, gặp chồng tử tế thì ít mà gặp vũ phu thì nhiều, khổ nhiều thì lại chạy về nhà than thở với cha mẹ…     Ngoài ra, ở châu Á thường con sẽ mang họ cha nên xảy ra tình trạng mất cân bằng giới tính rất nặng nề.     Bên cạnh đó, luật pháp, chính sách an sinh xã hội của nước ta vẫn còn dựa rất nhiều trên những thực hành truyền thống (bố mẹ già phải sống với con trai cả); mặt khác, sự hỗ trợ cho người già vẫn còn hạn chế dẫn đến việc họ phải sống phụ thuộc vào con trai. Một vấn đề nữa, việc xử phạt những cá nhân, đơn vị tiết lộ giới tính thai nhi cũng còn nan giải, bởi lẽ, họ có rất nhiều cách “lách luật” để thông báo “ngầm” về giới tính thai nhi mà cơ quan chức năng rất khó có thể kiểm tra và xử phạt.         Đáng sợ hơn, việc gây sức ép để người vợ phải mang thai rồi phá thai nhiều lần cho đến khi nào đẻ được con trai thì thôi là một trong những dạng bạo lực gia đình khủng khiếp nhất. Điều này làm tổn hại rất lớn đến sức khỏe cả về thể chất, tinh thần lẫn tâm lý, tình cảm của người phụ nữ.     Một trong những chỉ số quan trọng được Tổng cục Thống kê tiến hành điều tra trong cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 là Tỷ số giới tính khi sinh – SRB (chỉ số SRB phản ánh cân bằng giới tính của số bé trai và bé gái khi được sinh ra; tỷ số này thông thường là 104-106 bé trai/100 bé gái sinh ra sống).     Tuy nhiên, SRB của Việt Nam có xu hướng tăng hơn so với mức sinh học tự nhiên kể từ năm 2006 đến nay đã đưa ra bằng chứng về việc mất cân bằng giới tính khi sinh. Trong đó, SRB năm 2019 giảm so với năm 2018 nhưng vẫn ở mức cao (năm 2018: 114,8 bé trai/100 bé gái; năm 2019: 111,5 bé trai/100 bé gái).     Kết quả điều tra cho thấy, SRB của khu vực thành thị thấp hơn nông thôn, tương ứng là 110,8 và 111,8 bé trai/100 bé gái. SRB giữa các vùng có sự chênh lệch đáng kể, SRB cao nhất ở đồng bằng sông Hồng (115,5 bé trai/100 bé gái) và thấp nhất ở đồng bằng sông Cửu Long (106,9 bé trai/100 bé gái). Sự khác biệt của SRB giữa khu vực thành thị và nông thôn thuộc đồng bằng sông Hồng hiện cũng cao nhất cả nước.     10 tỉnh có tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh cao nhất hiện nay gồm: Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định, Hòa Bình, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Quảng Ngãi. Trong số này, có địa phương tỷ số giới tính khi sinh lên đến 120 trẻ trai/100 trẻ gái.     Hà Nội cũng nằm trong top những địa phương có tỷ lệ sinh con trai cao. Mặc dù đã triển khai nhiều hoạt động nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh nhưng tỷ số giới tính khi sinh của Hà Nội vẫn ở mức 114 trẻ trai/100 trẻ gái. Ở một số quận, huyện, con số này đã lên đến 120 trẻ trai/100 trẻ gái.     Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam chủ yếu do một số nguyên nhân như: Sự ưa thích sinh con trai trong bối cảnh giảm sinh; lựa chọn giới tính trước khi sinh…     Trong đó, việc lựa chọn giới tính trước khi sinh phản ánh tình trạng bất bình đẳng giới sâu sắc. Các nghiên cứu của quốc tế và Việt Nam đã chỉ ra những hệ lụy ảnh hưởng tới cấu trúc gia đình và các vấn đề xã hội, đó là tình trạng thiếu hụt số trẻ em gái ở nhiều quốc gia sẽ dẫn đến việc thiếu hụt phụ nữ ở tất cả các nhóm tuổi trong tương lai.     Do đó, nam giới trẻ tuổi sẽ bị dư thừa so với tỷ lệ nữ giới trong cùng một thế hệ và kết quả là họ có thể phải đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng khi tìm kiếm bạn đời. Trì hoãn hôn nhân trong nam giới hoặc gia tăng tỷ lệ sống độc thân là những khả năng có thể xảy ra trong tương lai do tình trạng thiếu phụ nữ ở độ tuổi kết hôn. Điều này sẽ tác động ngược lại hệ thống gia đình trong tương lai.     Trước thực trạng trên, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã rất quan tâm đến vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh. Tại Hội nghị lần thứ sáu, Khóa XII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ “Mất cân bằng giới tính khi sinh tăng nhanh, đã ở mức nghiêm trọng” và đặt mục tiêu “đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên”; “Đến năm 2030: Tỷ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống”. Chỉ đạo của Đảng về mục tiêu đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên đã được cụ thể hóa và tổ chức thực hiện thông qua Quyết định số 1679/QĐ-TTg ngày 22/11/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030.     Hiện nay, nền văn minh nhân loại đang hướng tới bình đẳng nam – nữ với sự đề cao quyền bình đẳng trong xã hội của nữ giới tương đương nam giới. Theo Liên Hợp Quốc, bình đẳng giới nghĩa là phụ nữ và nam giới được hưởng những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ quyền con người. Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình là vợ chồng có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong các hoạt động của gia đình, có ý thức trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ một cách công bằng như: Quyền quyết định số con, khoảng cách sinh, việc chăm sóc và nuôi dạy con cái…