Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Cách Học Thuộc Nhanh Bài Thơ Việt Bắc Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Like | Techcombanktower.com

Bài Thơ: Việt Bắc (Tố Hữu

Hướng Dẫn Cách Học Thuộc Nhanh Nhất

Cách Học Nhanh Và Lâu Quên Bài

Cách Học Bài Mau Thuộc Lâu Quên Môn Địa Lý

Mách Bạn Cách Làm Bài Thi Trắc Nghiệm Hiệu Quả

Cảm Nhận Hình Tượng Người Lính Bài Tây Tiến

10-1954

Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, tháng 7-1954, Hiệp định Genever về Đông Dương được kí kết. Hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới. Một trang sử mới của đất nước được mở ra. Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ cân cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô. Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc. Bài thơ có hai phần: phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến, phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ngợi ca công ơn của Đảng, Bác Hồ đối với dân tộc.

Trích đoạn bài thơ này từ đầu tới câu “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” được sử dụng trong các chương trình SGK Văn học 12 giai đoạn 1990-2006, SGK Ngữ văn 12 từ 2007.

Một phụ lưu của sông Hồng, chảy ở các huyện phía tây tỉnh Yên Bái, bắt nguồn từ hợp lưu nhiều suối ở vùng núi huyện Trạm Tấu.

Tức sông Phó Đáy, bắt nguồn từ vùng núi Tam Tạo thuộc huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn, là phụ lưu lớn thứ hai của sông Lô sau sông Gâm. Chiều dài sông khoảng 170km, chảy qua địa phận các tỉnh Bắc Kạn, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc rồi đổ vào sông Lô ở TP Việt Trì (Phú Thọ), vào Tuyên Quang ở xã Trung Minh, sang Hùng Lợi rồi chảy qua nhiều xã thuộc Yên Sơn và Sơn Dương tổng cộng dài hơn 84km. Nhiều tên đất, tên làng dọc bên sông này còn lưu giữ nhiều dấu tích của Thủ đô Cách mạng và kháng chiến: Trung Minh, Hùng Lợi, Trung Sơn, Kim Quan, Trung Yên, Minh Thanh, Tân Trào, Bình Yên…

Địa danh nay ở giáp ranh giữa hai xã Phú Đình, huyện Định Hoá, và Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Đây là nơi “Chùa rách bụt vàng” như lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bởi dưới chân đèo De là Tỉn Keo, nơi đặt trụ sở Phủ Chủ tịch trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Nguồn:

1. Tố Hữu, Việt Bắc, NXB Văn học, 1962

2. Thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục, 2003

Cảm Nhận Về Bức Tranh Tứ Tình Trong Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu

Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Và Các Dạng Câu Hỏi Hay Thi Nhất

Top 3 Bài Văn Mẫu Cảm Nhận 8 Câu Đầu Bài Thơ Việt Bắc Hay Nhất

Phân Tích Đoạn 1 Bài Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi

Phân Tích Tác Phẩm Bình Ngô Đại Cáo, 3 Bài Văn Mẫu, Mở Bài, Thân Bài,

Phân Tích Khổ Thơ Thứ Ba Bài Thơ Việt Bắc

Phân Tích Khổ 3 Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Hay Nhất (Dàn Ý

Bình Giảng Đoạn Thơ Thứ 3 Bài Việt Bắc

Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Khổ 1

Phân Tích Việt Bắc Khổ 1 Của Tố Hữu

Soạn Bài Thơ Việt Bắc Lớp 12 Của Nhà Thơ Tố Hữu

Nhắc đến Tố Hữu người đọc không thể nào quên được những danh hiệu xứng đáng như: nhà cách mạng lão thành, nhà hoạt động chính trị xuất sắc, nhà thơ cách mạng lớn nhất của đất nước ở thế kỷ 20, nhà thơ lớn của dân tộc, nhà thơ lớn của thời đại.. Và đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác thơ của ông là bài thơ Việt Bắc. Bởi nó không chỉ thể hiện những tình cảm lớn lao của nhà thơ đối với kháng chiến, cách mạng mà nó còn kết tinh trong đó những đặc sắc trong thế giới nghệ thuật của Tố Hữu. Điều này được thể hiện rõ ở khổ thơ:

“Mình đi có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

Mình về, còn nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Tào Hồng Thái mái đình cây đa”

Thật vậy, Việt Bắc là đỉnh cao để đời thơ Tố Hữu. Nó là tác phẩm trường thiên dài. Việt Bắc là quê hương của cách mạng, là căn cứ kháng chiến. Bài thơ viết vào tháng 10/1954, khi các cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu việt Bắc trở về Hà Nội, để nhớ về những kỉ niệm đẹp nơi căn cứ địa ấy, ông đã chắp bút tạo nên một tác phẩm xuất sắc.

Mở đầu khổ 3 bài thơ, Tố Hữu đã khéo léo đưa ra những câu hỏi để bộc lộ tình cảm về những ngày tháng khi bên nhau giữa hai chủ thể giữa “ta” – “mình”. Nỗi nhớ ấy được bộc lộ ở trong câu từ bài thơ:

“Mình đi có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”

Đó là một tâm trạng quan tâm lo lắng của người ở lại bày tỏ nỗi niềm với người ra đi. Không biết khi cán bộ về xuôi có nhớ tới những con người kỉ niệm nơi chiến khu Việt Bắc với biết bao nhiêu yêu thương đong đầy vẫn còn vẹn nguyên như mới hôm qua. Với nỗi nhớ về thiên nhiên “mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù”. Câu thơ lột tả vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ nhưng đầy bí hiểm của núi rừng Việt Bắc thơ mộng. Hình ảnh “chiến khu” với “miếng cơm chấm muối” thể hiện cuộc sống chiến đấu vô cùng khó khăn thiếu thốn nhiều gian truân. Tố Hữu tinh tế khi sử dụng biện pháp tu từ hóan dụ “mối thù nặng vai” khéo léo khiến ta liên tưởng đến mối thù chung của dân tộc lúc bấy giờ xen lẫn giọng điệu nhẹ nhàng như nhắc nhở tình nghĩa luôn nồng nàn và còn mãi trường tồn theo thời gian.

Mạch cảm xúc vẫn tiếp tục tuôn chảy để ông chắp bút:

” Mình về rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng măng mai để già

Mình đi có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son

Mình về có nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh”

Ở đọan thơ này, Tố Hữu đã tiếp tục sử dụng biện pháp hóan dụ để diễn tả nỗi nhớ của người ở lại với cách mạng. Nỗi nhớ ấy như luôn kéo dài, nó da diết khó nói thành lời. Thiên nhiên việt Bắc như thấm nhuần nỗi nhớ. Tình cảm của người Việt Bắc lan tỏa vào cảnh vật khiến “trám bùi để rụng măng mai để già”. Đại từ “mình về” khiến rừng núi Việt Bắc bỗng trở nên trống vắng hơn. Cụm từ “nhớ những nhà” cũng gợi cho ta cảm nhận được tâm trạng lo lắng không biết các bộ có nhớ tới Việt Bắc không?Từ láy “hắt hiu” kết hợp rất tài tình với hình ảnh đặc trưng của thiên nhiên. Nhưng đối lập với nó là hình ảnh tấm lòng chân thành của con người. Nhân dân Việt Bắc muốn họ nhớ “núi non”, nhớ thời kì kháng chiến “kháng Nhật” “thuở còn Việt minh”. Đó đều là những khỏang thời gian hạnh phúc, nhiều kỉ niệm khi cùng sát cánh bên nhau vượt qua mọi khó khăn, cùng nhau bảo vệ quê hương đất nước trước kẻ thù.

Tình cảm của người dân Việt Bắc vẫn tiếp tục tuôn chảy. Họ còn kể về những địa danh lịch sử hào hùng:

“Mình đi mình có nhớ mình

Tân Tào Hồng Thái mái đình cây đa”

Chỉ kết ngắn gọn với hai câu thơ ở khổ 3 đặc sắc này nhưng chính 2 câu thơ này tạo điểm nhấn rất lớn cho cả khổ này. Chỉ với hai câu thơ nhưng tình cảm mà Tố Hữu gửi gắm vào nó là vô cùng nhiều. Đặc biệt, ông đã khéo léo khi chỉ một từ “mình” được ông sử dụng nhưng nó mang tới hai nghĩa vừa chỉ người dân, vừa chỉ người cán bộ cách mạng về xuôi. Nhà thơ đã hình dung ra được diễn biến tâm lí của con người sau chiến thắng. Đây là câu thơ mang tính triết lí cao. Ở câu cuối, nhà thơ đã nhắc về những địa danh lịch sử nổi tiếng ở Việt Bắc với những sự kiện quan trọng gắn liền với nó. Cây đa Tân Trào là nơi đội việt Nam tuyên truyền giải phóng quân làm lễ xuất phát còn mái đình Hồng Thái nơi Bác Hồ chủ trì cuộc họp quyết định làm cuộc cách mạng tháng tám. Tố Hữu đã đặt hai địa danh này ở cùng một câu thơ nhấn mạnh tầm quan trọng cũng như ý nghĩa lịch sử của nó.

Tóm lại, chỉ với 12 câu thơ nhẹ nhàng mà sâu lắng, Tố Hữu đã đưa ta vào thế giới kỉ niệm của cách mạng. Ông rất tinh tế và khôn khéo trong việc hòa quyện giữa các biện pháp tu từ quen thuộc với những địa danh, đại từ “mình – ta” đặc sắc. Giọng thơ tâm tình ngọt ngào mà sâu lắng được ông thể hiện một cách triệt để qua nhịp thơ nhẹ nhàng. Tố Hữu đã tạo ra một kiệt tác để đời bất hủ.

Top 3 Soạn Bài Việt Bắc (Tố Hữu)

Tập Đọc Lớp 3: Nhớ Việt Bắc

Soạn Bài Việt Bắc (Trích) (Ngắn Gọn)

Soạn Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu

Hoàn Cảnh Ra Đời Bài Thơ Việt Bắc, Tố Hữu

Soạn Bài Thơ Việt Bắc Phần Tác Giả

Soạn Bài Việt Bắc Chương Trình Ngữ Văn 12

Soạn Bài: Việt Bắc (Trích

Soạn Bài Việt Bắc (Trích) Sbt Ngữ Văn 12 Tập 1

Tuần 9. Việt Bắc (Trích

Soạn Bài Đồng Chí Sbt Ngữ Văn 9 Tập 1

Đề bài: Soạn bài thơ Việt Bắc phần Tác giả

Câu 1. Những nét lớn trong cuộc đời Tố Hữu:

– Tố Hữu (1920 – 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kinh Thành, quê ở làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

– Ông thân sinh Tố Hữu là một nhà nho nghèo, bà mẹ nhà thơ cũng là con một nhà nho,cả hai người đã truyền cho con tình yêu tha thiết với văn học dân gian.

– Năm 12 tuổi, Tố Hữu mồ côi mẹ, một năm sau lại xa gia đình vào học Trường Quốc học Huế.

– Bước vao tuổi thanh niên, Tố Hữu tham gia phong trào đấu tranh cách mạng và trở thành người lãnh đạo chủ chốt của Đoàn thanh niên Dân chủ ở Huế.

– Ông được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương.

Cuối tháng 4/1939, Tố HỮu bị thực dân Pháp bắt giam vào nhà lao thừa thiên, rồi lần lượt bị giam trong nhiều nhà tù ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.

– Tháng 3/1942, Tố Hữu vượt ngục Đắc Lay (Kon Tum), tiếp tục hoạt động Cách mạng.

– Trong cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, Tố Hữu là Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa ở Huế.

– Đến năm 1986 Tố Hữu liên tục giữ những cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

– Năm 1996, ông được tặng GIải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Câu 2. Những chặng đường thơ của Tố Hữu gắn liền với cuộc cách mạng Việt Nam:

– Đầu tiên là tập thơ Từ ấy (1937 – 1946), đánh dấu bước trưởng thành của người thanh niên quyết tâm đi theo ngọn cờ của Đảng. Tập thơ gồm 3 phần:

+ Máu lửa được sáng tác trong thời kì mặt trận Dân chủ, là tâm sự của người thanh niên đang băn khoăng đi kiếm lẽ yêu đời.

+ Xiêng Xích gồm những bài sáng tác trong các nhà lao lớn ở Trung bộ và Tây Nguyên. Đó là tâm tư của một người trẻ tuổi thiết tha yêu đời và khát khao tự do, là ý chí kiên cường của người chiến sĩ quyết tâm tiếp tục cuộc chiến đấu ngay trong nhà tù.

+ Giải phóng gồm những bài sáng tác từ khi Tố Hữu vượt ngục đến những ngỳ đầu giải phóng vĩ đại của toàn dân tộc. Nhà thơ nồng nhiệt ca ngợi thắng lợi của các mạng, nền độc lập, tự do Tổ quốc, khẳng định niềm tin tưởng vững chắc của nhân dân vào chế độ mới.

– Tập thơ thứ hai là tập Việt Bắc (1946 – 1954) là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc kháng chiến chống Pháp và những con người kháng chiến.

– Gió lộng (1955 – 1961) được Tố Hữu sáng tác trong giai đoạn cách mạng mới. Lúc này, đất nước bị chia cắt, Tố Hữu thể hiện tình cảm thiết tha sâu nặng với miền Nam ruột thịt.

– Hai tập thơ Ra trận (1962 – 1971), Máu và hoa (1972 – 1977) âm vang khi thế quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước và niềm vui toàn thắng.

– Một tiếng đờn (1992) và Ta với ta (1999) là hai tập thơ đánh dấu bước chuyển biến mới trong thơ Tố Hữu. Tố Hữu tìm đến những chiêm nghiệp mang tính phổ quát về cuộc đời và con người.

Câu 3. Thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị vì:

– Hồn thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người cách mạng, của cả dân tộc.

– Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu là cái tôi chiến sĩ, cái tôi nhân dang Đảng, nhân danh cộng đồng dân tộc.

– Nếu ở tập thơ Từ ấy Tố Hữu khẳng định lí tưởng dẹp nhất của mỗi người lúc đó là dũng cảm dấn thân vào con đường cách mạng giải phóng dân tộc thì từ tập Việt Bắc trở đi, nhà thơ nhấn mạnh mục đích cao cả của đời người là phấn đấu vì cuộc sống tươi đẹp của dân tộc.

– Thơ Tố Hữu mang tính chất tiêu bieur, phổ biến của con người cách mạng: đó là tình yêu lí tưởng, tình quân dân, tình cảm quốc tế vô sản, tình cảm kính yêu lãnh tụ.

Mỗi chặng đường thơ của Tố Hữu đều gắn liền với chặng đường của cách mạng Việt Nam. Trong thơ ông thể hiện niềm tin tưởng vào cách mạng và tình yêu quê hương, con người, đất nước.

Câu 4. Tính dân tộc trong hình nghệ thuật thơ Tố Hữu được biểu hiện ở những điểm cơ bản:

– Về thể thơ, Tố Hữu có tiếp thu những tinh hoa của phong trào Thơ mới, của thơ ca thế giới cổ điển và hiện đại, nhưng ông đặc biệt thành công khi vận dụng những thể thơ truyền thống của dân tộc.

+ Những thể hơ lục bát: Khi con tu hú, Việt Bắc, Bầm ơi, Kính gửi cụ Nguyễn Du… mang sắc thái lục bát ca dao và lục bát cổ điển, dạt dào những aamhuowngr nghĩa tình của hồn thơ dân tộc.

+ Thơ thất ngôn: quê mẹ, Mẹ Tơm, Bác ơi!, Theo chân Bác… trang trọng nhưng không khuôn sáo, trái lại, hơi thơ rất liền mạch, tự nhiên, diễn tả được hiện thực đa dạng và nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau.

– Về ngôn ngữ, Tố Hữu không chú ý sáng tạo những nhóm từ mới, cách diễn đạt mới mà ông thường sử dụng những từ ngữ và cách nói quen thuộc với dân tộc. Nhà thơ sử dụng rất tài tình các từ láy, các thanh điệu, các vần thơ.

Soạn Việt Bắc (Tố Hữu)

Phân Tích Bài Thơ Cảnh Rừng Việt Bắc Của Hồ Chí Minh

Ðọc Lại Bài Thơ “cảnh Rừng Việt Bắc” Của Bác Hồ

Bài Thơ: Cảnh Rừng Việt Bắc (Hồ Chí Minh

Tuần 8. Việt Bắc (Trích)

Bài Thơ: Cảnh Rừng Việt Bắc (Hồ Chí Minh

Ðọc Lại Bài Thơ “cảnh Rừng Việt Bắc” Của Bác Hồ

Phân Tích Bài Thơ Cảnh Rừng Việt Bắc Của Hồ Chí Minh

Soạn Việt Bắc (Tố Hữu)

Soạn Bài Thơ Việt Bắc Phần Tác Giả

Soạn Bài Việt Bắc Chương Trình Ngữ Văn 12

Bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc của Bác Hồ là một bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú trong bố cục: đề, thực, luận, kết, niêm, đối, hình ảnh, từ ngữ. Bài thơ còn là biểu hiện sự sáng tạo trong kết cấu bởi vậy mà đọc bài thơ ta cảm nhận được vừa cũ, vừa mới, vừa truyền thống, vừa hiện đại.

1. Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng, một nhà hoạt động chính trị, lại là một nhà thơ.

Thơ của Bác chủ yếu, phần lớn tập trung ở Nhật ký trong tù. Bác sáng tác ở nhà tù Quảng Tây (Trung Quốc) hầu hết bằng thể thơ Đường luật. Sau đó Bác còn làm cả thơ mới, thơ tự do.

Bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc là một bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú khá độc đáo.

2. Bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc là một bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú.

– Trước hết nó có tám câu, năm vần, mỗi câu bảy chữ.

– Nó có bố cục rất thông thương của một bài thơ thất ngôn bát cứ: Đề, thực, luận, kết mỗi phần hai câu.

– Khi đọc làm cho người nghe sẽ nhận biết từ ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu… của một bài thơ Đường luật bình thường, không thể trộn lẫn vào đâu được. Đó là kết quả của một quá trình học tập, kế thừa vốn cũ của cha ông, của dân tộc, của nhân loại. Nghệ thuật đối, niêm, luật chỉnh như là một khuôn mẫu.

3. Bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc lại là biểu hiện của một sự sáng tạo của người viết.

Sáu câu thơ đầu là một kết cấu diễn dịch từ khái quát đến chi tiết cụ thể.

– Câu 1: Khái quát cảnh rừng Việt Bắc “hay”

– Câu 2, 3, 4, 5, 6 là hình ảnh cụ thể chi tiết minh hoạ cho cái “hay” của Việt Bắc đó là: vượt hót, chim kêu, ngô nếp nướng, thịt rừng quay, non xanh nước biếc, rượu ngọt, chè tươi tất cả hiện lên một cách phong phú, tươi sáng, hấp dẫn, dưới ngọn bút của tác giả. Các hình ảnh miêu tả đặc sản của Việt Bắc lại càng phong phú, hấp dẫn hơn trong nghệ thuật đối rất chuẩn của tác giả. Bởi vậy cảnh rừng Việt Bắc hấp dẫn tác giả, hấp dẫn mọi người. Nó như mời gọi tất cả mỗi người hãy đến Việt Bắc. Chính vì vậy mà câu 7, câu 8 bật ra như là một tất yếu. Nay Bác và mọi người còn bận đi kháng chiến không có thời gian để thưởng ngoạn, hưởng thụ cái giàu đẹp của Việt Bắc. Kháng chiến thắng lợi Bác hẹn với lòng mình sẽ trở lại Việt Bắc để được thưởng thức cái hay, cái đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc.

– Câu 7 và câu 8 của bài thơ rất khéo vừa đóng lại lời giới thiệu về Việt Bắc lại vừa làm nhiệm vụ kết thúc bài thơ Đường luật trong tình cảm thuỷ chung, son sắt của người đi kháng chiến với chiến khu Việt Bắc.

Bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc của Bác Hồ là một bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú trong bố cục: Đề, thực, luận, kết, niêm, đối, hình ảnh, từ ngữ. Bài thơ còn là biểu hiện sự sáng tạo trong kết cấu bởi vậy mà đọc bài thơ ta cảm nhận được vừa cũ, vừa mới, vừa truyền thống, vừa hiện đại. Cái mới, cái hiện đại của bài thơ là hiện thực của Việt Bắc trong cái sự phong phú, giàu có, đẹp đẽ. Cái hiện đại của bài thơ còn là ở kết cấu theo cấu trúc diễm dịch tạo nên sự chặt chẽ. Đọc bài thơ ta có cảm tưởng như Bác Hồ vừa khen Việt Bắc giàu đẹp vừa giới thiệu với mọi người sự giàu có hấp dẫn qua bàn tay chỉ của Bác.

Bác Hồ làm bài thơ trong hoàn cảnh đoàn cán bộ cách mạng đang hành trình đến địa điểm mới phải lội suối, trèo đèo, băng rừng, leo dốc, gánh nặng, đường xa, mệt mỏi, vất vả Bác Hồ cũng là người trong hoàn cảnh ấy nhưng ở Bác là một thái độ rất lạc quan, bài thơ có tác dụng động viên mình và động viên mọi người. Bài thơ còn chứng tỏ người làm thơ có tầm quan sát từ khái quát đến cụ thể trong bút pháp miêu tả rất sinh động. Câu thơ thứ 8 là một câu thơ đẹp. Nó như là thơ Đường của các cụ ngày xưa lại rất mới trong hiện thực của cách mạng Việt Nam thời kỳ đầu kháng chiến, rất mới trong tâm hồn lạc quan của người chiến sỹ cộng sản các hình ảnh trăng xưa, hạt cũ, xuân này vừa cũ lại vừa mới trong chuẩn mực của thơ ca. Người ta nói thơ của Bác Hồ vừa kế thừa, vừa canh tân, vừa truyền thống, vừa hiện đại thì bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc là một minh chứng đầy thuyết phục.

Tuần 8. Việt Bắc (Trích)

Giáo Án Bài Việt Bắc (Tố Hữu)

Giáo Án Bài Việt Bắc

Soạn Bài Việt Bắc (Tiếp Theo) Trang 109 Sgk Văn 12 Tập 1

Soạn Bài Việt Bắc Trang 94 Sgk Văn 12

🌟 Home
🌟 Top