Bài 11. Đoàn Thuyền Đánh Cá

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tổng Kết Về Ngữ Pháp (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tiếng Việt Trang 109 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 2 (Chi Tiết)
  • Giải Đề 3 (Trang 34 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 2)
  • Viết Bài Tập Làm Văn Số 2 Lớp 9 Đề 3: Kể Lại Một Trận Chiến Đấu Ác Liệt Mà Em Đã Đọc Đã Nghe Kể Hoặc Đã Xem Trên Màn Ảnh
  • Kể Lại Cuộc Đi Xem Triển Lãm Về Nạn Nhân Chất Độc Màu Da Cam
  • Nhà thơ Huy Cận: Người sắm cả “hai vai”

    (Toquoc)- Sinh thời, nhà biên kịch Tào Mạt (1) có một câu nói khá nổi tiếng, mà trong giới văn nghệ thời ấy ai cũng biết: “Đã làm Hề thì đừng làm Quan, đã làm Quan thì đừng làm Hề” (2), tức là làm chính trị thì đừng làm nghệ sĩ. Thế nhưng, trớ trêu là ở đời có không ít người có tài sắm cả “hai vai” và xem ra khá thuận nữa đằng khác. Nhà thơ Huy Cận, có thể coi là một trường hợp điển hình về mẫu con người ấy.

    Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, sinh ngày 31/5/1919, trong một gia đình nhà nho nghèo gốc nông dân dưới chân núi Mồng Gà, bên bờ sông Ngàn Sâu (thượng nguồn sông La, nay là xã Ân Phú, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh). Ngày sinh trên giấy tờ công khai là do ông cậu của Huy Cận khai khi vào học ở Huế, còn ngày sinh chính xác là ngày 29 tháng Chạp năm Bính Thìn, tức ngày 22/01/1917.

    Lúc nhỏ ông theo học ở quê, sau vào Huế học trung học, đậu tú tài Pháp; rồi ra Hà Nội học trường Cao đẳng Canh nông. Trong thời gian học Cao đẳng, ông ở phố Hàng Than, quận Hoàn Kiếm cùng nhà thơ Xuân Diệu- bạn tâm giao của nhà thơ Huy Cận và cũng là một nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ Mới. Từ năm 1942, ông tham gia phong trào sinh viên yêu nước và Mặt trận Việt Minh. Huy Cận đã tham dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào (tháng 8/1945) và được bầu vào Ủy ban Giải phóng (tức Chính phủ Cách mạng lâm thời sau đó). Tháng 8/1945, Cù Huy Cận là một trong ba thành viên của phái đoàn Chính phủ Lâm thời, trong đó có nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng, nhà sử học Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận, vào kinh đô Huế để tiếp nhận lễ thoái vị của Vua Bảo Đại.

    Cách mạng tháng 8 thành công (8/1945), khi mới 28 tuổi, Cù Huy Cận đã là Bộ trưởng Bộ Canh nông trong Chính phủ Liên hiệp lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh đứng đầu. Trong những năm 1945-1946, ông là Ủy viên Ban thanh tra đặc biệt của Chính phủ.

    Sau này ông làm Thứ trưởng Bộ Văn hóa, rồi Bộ trưởng đặc trách Văn hóa Thông tin trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ở cả hai thời kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phụ trách công tác văn hóa văn nghệ.

    Từ 1984, ông là Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học- Nghệ thuật Việt Nam. Ông cũng đã từng là Đại biểu Quốc hội các khóa I, II, và VII. Huy Cận mất ngày 19/2/2005.

    Như vậy, đường quan lộ của Huy Cận dù chưa đạt tới đỉnh cao nhất, nhưng xem ra cũng không đến nỗi nào với hàm Bộ trưởng gần như suốt đời. Với hàm ấy, nhiều người đã có những đóng góp đáng kể trong lĩnh vực mà mình phụ trách, còn đối với Huy Cận dường như chỉ làm cho hết trách nhiệm trên giao hoặc giả là làm cho vui để lấy cảm hứng cho sáng tác thơ. Bởi lẽ những lĩnh vực mà ông từng phụ trách, dấu ấn cá nhân của ông để lại khá mỡ nhạt, nếu như không muốn nói là chẳng có gì đáng kể.

    Nhà thơ Huy Cận (ảnh http://truyenthong.omard.gov.vn)

    Sự ngiệp sáng tác của nhà thơ Cù Huy Cận được chia làm hai giai đoạn khá rõ nét.

    Giai đoạn trước tháng 8 năm 1945

    So với nhiều người cùng thời, Huy Cận có thơ đăng báo từ lúc còn khá trẻ, 19 tuổi và sau đấy 4 năm (1940) ông đã cho in tập thơ đầu tay “Lửa thiêng”. Bắt đầu từ đây Huy Cận trở thành một trong những tên tuổi hàng đầu của phong trào Thơ Mới (1932-1941) lúc bấy giờ. Có người cho rằng, bao trùm “Lửa thiêng” là một nỗi buồn mênh mang da diết. Thiên nhiên trong tập thơ thường bao la, hiu quạnh, đẹp nhưng thường buồn. Nỗi buồn đó dường như vô cớ, siêu hình, theo kiểu: “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” (Chiều- Xuân Diệu). Dù có vẻ như buồn vô cớ, nhưng xét đến cùng, chủ yếu là buồn thương về cuộc đời, kiếp người, về quê hương đất nước. Hồn thơ ảo não, bơ vơ đó vẫn cố tìm được sự hài hòa và mạch sống âm thầm trong tạo vật và cuộc đời. Nếu không nói quá, chỉ cần một bài “Tràng giang” trong tập “Lửa thiêng” cũng đủ làm nên thơ hiệu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Bắc Sơn Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Bắc Sơn (Chi Tiết)
  • Soạn Bài: Bắc Sơn ( Nguyễn Huy Tưởng )
  • Bài 31. Con Chó Bấc
  • Lập Dàn Bài Cho Một Trong Các Đề Sau:
  • Soạn Bài: Đoàn Thuyền Đánh Cá

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá Sbt Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Bài 3 Trang 142 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Bài 1 Trang 202 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Bài 1 Trang 203 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • I. Tác giả, tác phẩm

    1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Huy Cận trong SGK Ngữ văn 9 Tập 1).

    2. Tác phẩm

    * Xuất xứ: Văn bản Đoàn thuyền đánh cá được sáng tác trong thời gian Huy Cận đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh vào năm 1958. Từ chuyến đi thực tế này, hồn thơ Huy Cận mới thực sự nảy nở trở lại và dồi dào trong cảm hứng về thiên nhiên đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới.

    * Thể thơ: Văn bản Đoàn thuyền đánh cá được viết theo thể thơ 7 chữ.

    II. Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1:

    * Bố cục: Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá có thể được chia làm 3 phần:

    • Phần 1: Hai khổ đầu: Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi
    • Phần 2: 4 khổ thơ tiếp: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển.
    • Phần 3: khổ thơ cuối: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về trong bình minh.

    * Thời gian và không gian được miêu tả trong bài thơ: không gian rộng lớn, bao la với mặt trời, biển, trăng, sao, gió. Còn thời gian ở đây là nhịp tuần hoàn của vũ trụ từ hoàng hôn đến bình minh, cũng là thời gian của một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá.

    Câu 2:

    * Hình ảnh người lao động và công việc của họ được miêu tả trong không gian rộng lớn của vũ trụ, giữa biển cả bao la, rộng lớn.

    * Tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp và sức mạnh của con người lao động trước thiên nhiên vũ trụ bằng những biện pháp nghệ thuật là: cảm hứng lãng mạn, bay bổng; liệt kê, nhân hóa, so sánh thể hiện được sự phong phú của các loài cá, vẻ đẹp kì diệu và sự giàu có của biển khơi. Qua đó, hiện lên hình ảnh người lao động thật đẹp, thật hăng say, con người như hòa quyện vào với vẻ đẹp của thiên nhiên.

    Câu 3:

    Bài thơ có nhiều hình ảnh đẹp và tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động. Một số hình ảnh đặc sắc trong các khổ 1,3,4 và 7: Đó là hình ảnh cảnh biển về đêm rộng lớn, thật gần gũi với con người:

    Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa.

    Tác giả so sánh mặt trời giống như hòn lửa đang từ từ lặn xuống biển. Ở đây, trời và biển có sự giao hòa trọn vẹn, mặt biển mênh mông, rộng lớn sẽ làm cho “hòn lửa” mặt trời dịu êm hơn. Nhà thơ đã liên tưởng vũ trụ là một ngôi nhà lớn, còn màn đêm là cánh cửa khổng lồ, những con sóng là then cửa cài chặt cánh cửa đêm đen. Hay nói cách khác, vũ trụ đi vào trạng thái nghỉ ngơi theo nhịp tuần hoàn của thời gian.

    Câu 4:

    Bài thơ có nhiều từ “hát”, cả bài thơ cũng như một khúc ca, đây là khúc ca ngợi ca lao động, tinh thần làm chủ và niềm vui phơi phới mà tác giả viết thay cho người dân lao động, cụ thể ở đây là những người lao động trên biển.

    Âm hưởng và giọng điệu của bài thơ rất sôi nổi, khỏe khoắn, phơi phới và bay bổng. Có sự kết hợp của cả vần bằng và vần trắc, vần liền xen lẫn vần bằng. Vần trắc tạo nên sức dội, sức mạnh, còn vần bằng tạo nên sự vang xa, bay bổng.

    Câu 5:

    Qua những bức tranh về thiên nhiên và con người lao động trong bài thơ, em thấy tác giả có một cái nhìn khá tươi mới, tràn đầy cảm xúc hào hứng. Mỗi hình ảnh thơ đều mang sức sống, mang niềm vui, cuốn theo tình yêu say đắm, mãnh liệt trước biển khơi bao la, hùng vĩ, giàu có vô tận của nhà thơ: cảnh cửa vũ trụ với hòn lửa mặt trời, cá bạc, cá thu, cá nhụ, cá chim,…người lao động đang hăng say làm việc. Qua đó, cho chúng ta thấy tình yêu của tác giả đối với quê hương, đất nước, phải là một con người gắn bó với quê hương, gắn bó với người dân lao động làng chài thì mới có thể viết nên những vần thơ đẹp như thế.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Thuật Ngữ Sách Bài Tập Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Thuật Ngữ Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Giáo Án Ngữ Văn 9 Tiết 121: Sang Thu (Hữu Thỉnh)
  • Giáo Án Ngữ Văn 9, Tiết 124
  • Giáo Án Bài Sang Thu
  • Bài Soạn Lớp 9: Đoàn Thuyền Đánh Cá

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Cố Hương Của Lỗ Tấn Lớp 9
  • Bài 11: Ôn Tập Văn Bản Nhật Dụng
  • Soạn Bài Ôn Tập Truyện Lớp 9
  • Soạn Bài Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh Đầy Đủ Lớp 8 Hay Nhất
  • Soạn Bài Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh Lớp 8
    • Tác giả:
      • Huy Cận (1919-2005) quê huyện Vụ Quang,tỉnh Hà Tĩnh.
      • Trước cách mạng:nổi tiếng trong phong trào Thơ mới .
      • Sau cách mạng:Thơ ông có sự chuyển mình, ấm áp hơi thở cuộc sống và dào dạt niềm vui. Huy Cận là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam.
      • Phong cách thơ: Bút pháp hiện thực đậm chất lãng mạn.Cảm hứng chính hướng về thiên nhiên, vũ trụ.
    • Tác phẩm:
      • Viết năm 1958, trong một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh, in trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng”.
      • Thể thơ: thất ngôn trường thiên
      • Phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm
    • Bố cục: 3 phần
      • Hai khổ đầu: cảnh đoàn thuyền ra khơi và tâm trạng của người đi biển
      • Bốn khổ thơ tiếp theo: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển
      • Khổ thơ cuối: cảnh đoàn thuyền trở về.

    Bài thơ được triển khai theo trình tự chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá. Dựa theo trình tự ấy, em hãy tìm bố cục của bài thơ. Hãy nêu thời gian và không gian được miêu tả trong bài thơ.

    Trả lời:

    • Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” được triển khai theo bố cục ba phần:
    • Không gian và thời gian trong bài thơ được miêu tả:
      • Không gian: biển cả bao la và khoáng đạt, người lao động hòa mình vào với thiên nhiên.
      • Thời gian: sự thay đổi của vũ trụ từ lúc hoàng hôn đến bình minh của ngày hôm sau.

    Hình ảnh người lao động và công việc của họ được miêu tả trong không gian nào? Bằng những biện pháp nghệ thuật gì, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp và sức mạnh của người lao động trước thiên nhiên, vũ trụ?

    Trả lời:

    Hình ảnh người lao động và công việc của họ được miêu tả giữa thiên nhiên bao la của biền và trời như đã gắn liền, hải hòa với nhịp sống của thiên nhiên đất trời: “Thuyền ta lái gió với buồm trăng – Lướt giữa mây cao với biển bằng:, “Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao”, ” Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”…

    Thông qua biện pháp nghệ thuật nhân hóa, so sánh, tác giả đã miêu tả con thuyền lướt giữa gió trăng lồng lộng. Bằng cảm hứng lãng mạn, bay bổng, với những liên tưởng sáng tạo làm nổi bật lên hình ảnh con người lao động mới hăng say, vẻ đẹp của biển trời hoà quyện với vẻ đẹp của con người lao động đã tạo nên bức tranh thiên nhiên đầy sống động.

    Bài thơ có nhiều hình ảnh đẹp tráng lệ, thể hiện sự hài hoà giữa thiên nhiên và con người lao động. Em hãy chọn phân tích một số hình ảnh đặc sắc trong các khổ thơ 1, 3, 4 và 7. Bút pháp xây dựng hình ảnh của tác giả trong bài thơ có đặc điểm gì nổi bật?

    Trả lời:

    Mở đầu bài thơ tác giả đã vẽ lên bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ với những ánh hoàng hôn trên biển đẹp kì vĩ, rực rỡ. Biển cả lúc này như mọt ngôi nhà kì vĩ, những con sóng là then cửa cài chặt cánh cửa đêm đen.Vũ trụ đi vào trạng thái nghỉ ngơi theo nhịp tuần hoàn của thời gian. Và khi ấy:

    “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

    Câu hát căng buồm cùng gió khơi”.

    Công việc đánh cá của bà con ngư dân lại bắt đầu, lại một chuyến tàu ra khơi đánh bắt. Họ ra khơi với một niềm vui, sự phấn chấn, tinh thần hăng sau của những con người đi lao động, chinh phục thiên nhiên. Qua khổ thơ này, cho người đọc thấy được sự hòa hợp giữa sức mạnh con người và thiên nhiên bao la, vũ trụ.

    Bước sang khổ thơ thứ ba, hình ảnh con thuyền lướt đi giữ trời cao biển lặng có cái lâng lâng sảng khoái lạ thường:

    Thuyền ta lái gió với buồm trăng

    Lướt giữa mây cao với biển bằng.

    Hai câu thơ đẹp như một bức tranh lồng lộng mây trời, mênh mông biển cả. Hình ảnh đoàn thuyền được làm đẹp thêm bởi một sức tưởng tượng kì diệu, giàu chất lãng mạn: gió là người lái, trăng là cánh buồm. Cách tả như vậy giúp ta cảm nhận được thuyền và con người như hòa nhập vào thiên nhiên bát ngát, lâng lâng trong cái thơ mộng của trời, biển gió, trăng….

    Bút pháp nghệ thuật trong bài thơ nổi bật là bút pháp lãng mạn, cảm xúc dạt dào của nhà thơ cùng với những hình ảnh kì vĩ, đã làm nổi bật vẻ đẹp của con người lao động giữa thiên nhiên bao la.

    Bài thơ có nhiều từ hát, cả bài cũng như một khúc ca. Đây là khúc ca gì và tác giả làm thay lời ai? Em có nhận xét gì về âm hưởng, giọng điệu của bài thơ? Các yếu tố: thể thơ, vần, nhịp đã góp phần tạo nên âm hưởng của bài thơ như thế nào?

    Trả lời:

    Trong bài thơ có tất cả 4 từ “hát”, cả bài như một khúc ca, ngợi ca lao động, với tinh thần làm chủ, với niềm vui phơi phới mà nhà thơ viết thay cho những người lao động. Câu thơ “Câu hát căng buồm cùng gió khơi” ở khổ đầu bài thơ gần như được lặp lại ở khổ cuối bài thơ “Câu hút căng buồm với gió khơi” tạo nên một sự tương ứng đẹp, thể hiện một sự trọn vẹn của cuộc hành trình của đoàn thuyền đánh cá và sự vận hành của thời gian, không gian. Đây là khúc ca về lao động hào hùng, tràn đây sức sống mà tác giả đã thay lời cho những người lao động cất lên tiếng hát.

    Giọng điệu bài thơ sôi nổi, khỏe khoắn, tràn đầy không khí hứng khởi. Lời thơ dõng dạc giọng điệu như khúc hát mê say hào hứng, cách gieo vần linh hoạt tạo nên âm hưởng hào hùng cho bài thơ.

    Qua những bức tranh về thiên nhiên và con người lao động trong bài thơ, em có nhận xét gì về cái nhìn và cảm xúc của tác giả trước thiên nhiên đất nước và con người lao động?

    Trả lời:

    Qua bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” ta thấy được, nhà thơ Huy Cận có cái nhìn tươi mới và cảm xúc hào hứng, tràn đầy niềm vui về cuộc sống.

    Thiên nhiên tráng lệ, giàu có là nguồn tài nguyên vô tận luôn phục vụ con người, tham gia tích cực vào cuộc sống. Con người hăng hái say mê lao động làm chủ cuộc sống, xây dựng cuộc sống mới. Chính nhà thơ đã viết “Không khí lúc này thật vui, cuộc đời phấn khởi, nhà thơ cũng rất phấn khởi. Cả một vùng than, vùng biển đang hăng say lao động từ bình minh cho đến hoàng hôn và cả từ hoàng hôn cho đến bình minh”.

    Đây là một cái nhìn tin tưởng và phấn khởi của nhà thơ trước cuộc đời mới. Cái nhìn ấy, cảm xúc ấy là kết quả của quá trình đi thực tế dài ngày tại vùng mở Quảng Ninh. Bắt đầu từ đây hồn thơ Huy Cận này nở trở lại trong niềm vui say cuộc sống mới.

    Trả lời:

    Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” là bài thơ được Huy Cận sáng tác vào năm 1958, nhân một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Hồng Gia – Cẩn Phả -Quảng Ninh. Bài thơ đã dụng được một không khí khẩn trương, hăng say của những người lao động đánh cá trong một đêm trên biển, với tư thế làm chủ thiên nhiên, biển cả. Bốn câu thơ đầu diển tả cảnh ra khơi của “Đoàn thuyềnđánh cá”, mở đầu cho một đêm đánh cá trên biển.

    Hai câu thơ đầu diển tả thời điểm ra khơi của “Đoàn thuyền đánh cá”. Thời gian ở đây là lúc ngày tàn, được miêu tả bằng những chi tiết, hình ảnh cụ thể, giàu giá trị gợi cảm:

    “Mặt trời xuống biển như hòn lửa

    Sóng đãcài then đêm sập cửa”.

    Ở câu thơ này, tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh.Màu đỏ của “mặt trời” được so sánh với “hòn lửa”. Viết về cảnh biển đêm,ngày tàn, nhưng cảnh vẫn không hoang vắng nhờ hình ảnh rực sáng này.Trong cản quan của Huy Cận, vũ trụ là một ngôi nhà khổng lồ. Khi ngày đã tàn, “Mặt trời xuống biển”, màn đêm buông xuống “Đêm sập cửa” thì sóngbiển như “then cài” đóng lại cánh cửa khổng lồ ấy. Những hình ảnh ẩn dụ này chứng tỏ nhà thơ có trí tưởng tượng phong phú.

    Đối với thiên nhiên thì một ngày đã khép lại, nhưng với đoàn thuyền đánh cá thì đây lại là thời điểm bắt đầu cho công việc đánh cá trên biển trong đêm.

    “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

    Câu hát căng buồm cùng gió khơi”

    Từ “lại” nói lên rằng hằng ngày vào cái thời điểm ấy, khi trời yên biển lặng, đoàn thuyền ra khơi đã thành một cảnh quen thuộc. Hình ảnh thơ “Câu hát căng buồn cùng gió khơi” là một hình ảnh được xây dựng nhờ một trí tưởng tượng phong phú. Huy Cận đã miêu tả, đã cụ thể hoá tiếng hát của những người lao động. Những người lao động đánh cá ra khơi cùng với tiếng hát khoẻ khoắn đến mức tạo nên một sức mạnh(cùng với gió khơi) làm căng những cánh buồm. Họ ra khơi với một niềm phấn khởi, niềm tin vào thành quả lao động.

    Như vậy, bốn câu thơ mở đầu miêu tả cảnh ra khơi của “Đoàn thuyền đánh cá”. Cảnh ngày tàn mà vẫn ấm áp, vẫn tràn đầy niềm vui, niềm lạc quan của người lao động. Không khí chung của bốn câu thơ mở đầu này chi phối không khí chung của cả bài thơ.

    Thống nhất với cảm hứng và bút pháp lãng mạn của tác phẩm, khổ cuối của bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” (Huy Cận) là bức tranh hoành tráng với âm thanh, hình ảnh tràn đầy sức mạnh của con người, đoàn thuyền và ngập tràn ánh sáng:

    Câu hát căng buồm cùng gió khơi

    Đoàn thuyền chạy đua củng mặt trời

    Câu hát cùng gió khơi đưa thuyền đi nay vẫn câu hát ấy căng buồm đưa thuyền về. Nhưng giờ đây không chỉ còn là sức mạnh của gió mà sức mạnh niềm vui con người như được nhân lên vì thuyền đầy cá. Nếu như ở khổ thơ đầu, sau khi màn đêm bao trùm trên biển thì con người mở cửa đêm ra khơi đánh cá thì giờ đây họ – những người dân chài đang “chạy đua cùng mặt trời”. Không còn là sự nốì tiếp của nhịp sống thiên nhiên, con người mà quan hệ của thiên nhiên, con người là quan hệ song song, đua tranh. Chạy đua với mặt trời cũng là chạy đua với thời gian. Con người đang giữ lấy từng giây, từng phút, đang vượt lên trên cả thời gian để tạo của cải cho cuộc sống mới, để xây dựng và cống hiến. Những con người lao động đã về đến bến khi bình minh vừa ló dạng:

    Mặt trời đội biển nhô màu mới

    Cảnh biển một ngày mới được mở rộng đến muôn dặm và ngập tràn ánh sáng. Hình ảnh nhân hoá “mặt trời đội biến” đi lên mở ra một ngày mới tốt đẹp hơn, ánh sáng của mặt trời không chỉ mang đên màu của cảnh vật mà còn mang “màu mới” cho cuộc sống mà những người lao động đang từng ngày, từng giờ cống hiến. Sức tưởng tượng của bút pháp lãng mạn khiến bờ bãi thuyền về trong dòng thơ cuối rực rỡ huy hoàng trong ánh sáng:

    Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi

    Mắt của ngàn vạn con cá phơi trên bờ biển như cùng hướng về một phía phản chiếu tia sáng bình minh rực sáng muôn dặm dài xa như bờ biển đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Lớp 9: Bàn Về Đọc Sách
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Bàn Về Đọc Sách
  • Soạn Bài Bàn Về Đọc Sách Của Chu Quang Tiềm
  • Soạn Bài Bàn Về Đọc Sách (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Lớp 9: Đoàn Thuyền Đánh Cá

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng (Tiếp Theo) Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng
  • Soạn Bài Lớp 9: Sự Phát Triển Của Từ Vựng
  • Soạn Văn 9: Sự Phát Triển Của Từ Vựng (Tiếp Theo)
  • Soạn bài: Đoàn thuyền đánh cá

    Soạn bài lớp 9: Đoàn thuyền đánh cá do Huy Cận sáng tác được VnDoc sưu tầm và chọn lọc giới thiệu tới các bạn học sinh tham khảo giúp học tốt môn Ngữ Văn lớp 9 hiểu rõ hơn vẻ đẹp kì vĩ tráng lệ của thiên nhiên mà còn luyện phân tích những hình ảnh thơ vừa cổ điển vừa mới mẻ trong bài thơ.

    ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ Huy Cận

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

    1. Nhà thơ Huy Cận đã từng gọi bài thơ Đoàn thuyền đánh cá (1958) của mình là “khúc tráng ca”. Quả đúng như vậy, bài thơ là khúc tráng ca ca ngợi vẻ đẹp khoẻ khoắn của con người lao động trong sự hài hoà với vẻ đẹp tráng lệ của thiên nhiên kì vĩ. Không còn thấy dấu vết của một “nỗi buồn thế hệ” cô đơn, li tán đã từng dằng dặc, triền miên trong thơ ông hồi trước Cách mạng tháng Tám, mà tràn đầy sức sống của niềm vui lao động:

    Mặt trời xuống biển như hòn lửa, Sóng đã cài then, đêm sập cửa. Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi. Hát rằng: Cá bạc biển Đông lặng Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn màu sáng Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!

    Đó là sự khác nhau của hai nguồn sống, ở hai giai đoạn sống của một tâm hồn. Đoàn thuyền đánh cá là hình ảnh của cuộc sống mới, cuộc sống mà người ta tìm thấy niềm tin vui bất diệt trong lao động.

    2. Bài thơ miêu tả trọn vẹn một đêm lao động trên biển của đoàn thuyền đánh cá. Hai khổ thơ đầu là cảnh ra khơi. Khung cảnh thiên nhiên dẫu chỉ phác hoạ ít nét mà vẫn cho ta cảm nhận được vẻ chắc nịch, thấm đậm không khí khẩn trương của một buổi xuất bến ra khơi. Hai câu thơ đầu gợi tả sự vận động của thời gian, mặt trời xuống biển, từng đợt sóng gợn những nét ngang luân chuyển qua lại như then cửa và mặt trời xuống đến đâu, cánh cửa đêm như được kéo xuống đến đó. Khi những ánh sáng mặt trời tắt hẳn cũng là lúc “sóng đã cài then”, “đêm sập cửa”. Đúng thời điểm ấy, trong không gian của một đêm đã bắt đầu ấy, thênh thênh vút lên, bừng sáng tiếng hát của ngư dân. Không phải ánh sáng toát lên từ cánh buồm trắng trong một buổi mai như ở Quê hương của Tế Hanh:

    Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…

    Mà là ánh sáng của thanh âm, của khúc hát lãng mạn cất lên từ lòng tin, từ tình yêu lao động, của sắc cá bạc đan dệt thành. Những vần trắc trong khổ thơ đầu (lửa, cửa, khơi, khơi) hoà điệu cùng khúc hát, rất có giá trị trong việc gợi tả vẻ thoáng đạt, sáng láng ấy. Một cách tự nhiên, những vần thơ mở đầu hút người đọc vào không khí lao động của ngư­ dân lúc nào không hay.

    3. Bốn khổ thơ tiếp theo là cảnh lao động trên biển đêm. Những khổ thơ này tập trung nhiều hình ảnh tráng lệ, vẻ tráng lệ đã được gợi ra từ đầu bài thơ với hình ảnh “Mặt trời… như hòn lửa”. Đến đây, cảnh đánh cá đêm trên biển được miêu tả hết sức sinh động. Đó là những động từ mạnh mẽ (lái gió, lướt, dàn đan, quẫy, kéo xoăn tay,…), là những hình ảnh gợi tả cái kì vĩ, lớn lao (mây cao, biển bằng, dặm xa, bụng biển, thế trận, vây giăng, đêm thở), là những sắc màu lộng lẫy, rực rỡ như trẩy hội, và cả những nét thơ mộng, bay bổng (buồm trăng, lấp lánh đuốc đen hồng, trăng vàng choé, sao lùa, vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông, nắng hồng,…). Vẻ đẹp của biển trời hoà quyện với vẻ đẹp của con người lao động dệt lên bức tranh tráng lệ, rạo rực sức sống, rạng rỡ vẻ đẹp giàu say lòng người. Có lẽ không ở đâu nữa vẻ đẹp và cái nguồn sống bất tận diệu kì của biển Đông lại đẹp hơn ở những câu thơ này:

    Cá nhụ cá chim cùng cá đé, Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé, Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.

    Chỉ một hình ảnh “Đêm thở” mà ta như thấy cả màn đêm phập phồng, thấy cả gió, cả sóng nước. Theo nhịp thở của vũ trụ, ngàn con sóng dồn đuổi ánh lên những đợt vàng sáng lấp lánh của vẩy cá phản chiếu ánh trăng, của ánh trăng, của sao… Thật huyền diệu!

    4. Cá đã đầy khoang, lấp loá trong ánh rạng đông cũng là lúc đoàn thuyền kết thúc một đêm lao động. Buồm lại căng lên đón ánh nắng sớm. Khổ thơ cuối là cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá:

    Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới, Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.

    Lại một sự hoà quyện tuyệt vời giữa thiên nhiên và con người. Vẻ đẹp của bài thơ bừng lên trong ánh sáng huy hoàng, ánh sáng của mặt trời, ánh sáng của sức lao động đã thành thành quả, của niềm vui lao động chân chính.

    5. Nhìn lại toàn bộ bức tranh mà tác giả đã miêu tả trong bài thơ, ta càng thấy rõ hình ảnh con người vừa làm chủ tự nhiên(Ra đậu dặm xa dò bụng biển; Dàn đan thế trận lưới vây giăng), vừa phô vẻ đẹp hoà quyện cùng thiên nhiên (Câu hát căng buồm cùng gió khơi; Thuyền ta lái gió với buồm trăng, Lướt giữa mây cao với biển bằng; Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời). Trong sự hài hoà ấy, vũ trụ cũng được cảm nhận cùng với sự vận động theo nhịp sống của con người: Ta hát bài ca gọi cá vào, gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Đúng như nhà thơ Huy Cận đã bày tỏ:

    “Khung cảnh trên biển khi mặt trời tắt không nặng nề tăm tối mà mang vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật trong quy luật vận động tự nhiên của nó. Ở đây, tôi đã miêu tả khung cảnh tạo vật với cảm hứng vũ trụ. Nếu trước cách mạng, vũ trụ ca còn buồn thì bây giờ vui, trước là tách biệt, xa cách với cuộc đời thì hôm nay, lại gần gũi với con người. Bài thơ của tôi là cuộc chạy đua giữa con người và thiên nhiên, và con người đã chiến thắng. Tôi coi đây là một khúc tráng ca, ca ngợi con người trong lao động với tinh thần làm chủ, với niềm vui.”

    II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

    “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận được xem là một khúc tráng ca, một bài ca lao động, dạt dào cảm hứng về thiên nhiên và đất nước, con người trước cuộc sống mới.

    Vì vậy, khi đọc cần chú ý thể hiện chất giọng khoẻ khoắn, sảng khoái, làm nổi bật vẻ đẹp và sức mạnh của con người lao động làm chủ thiên nhiên và vũ trụ.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • Soạn Bài Lớp 9: Xưng Hô Trong Hội Thoại
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Xưng Hô Trong Hội Thoại Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Tuyên Bố Thế Giới Về Sự Sống Còn, Quyền Được Bảo Vệ Và Phát Triển Của Trẻ Em
  • Soạn Bài Tuyên Bố Thế Giới Về Sự Sống Còn, Quyền Được Bảo Vệ Và Phát Triển Của Trẻ Em
  • Bài Thơ: Đoàn Thuyền Đánh Cá (Huy Cận

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Văn: Phân Tích Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • 2 Bài Văn Suy Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá Của Huy Cận
  • Phân Tích Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • Dàn Ý Và Văn Mẫu Phân Tích Toàn Bộ 7 Khổ Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • 5 Bài Văn Cảm Nghĩ Của Em Sau Khi Học Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá Của
  • Đoàn thuyền đánh cá được Huy Cận sáng tác năm 1958, trong chuyến đi thực tế tại vùng mỏ Hòn Gai. Bài thơ là khúc tráng ca ca ngợi con người lao động với tinh thần làm chủ và niềm vui, niềm tin trước cuộc sống mới trong những năm đầu xây dựng đất nước.

    Bài thơ là sự kết hợp của hai nguồn cảm hứng: cảm hứng lãng mạn, tràn đầy niềm vui, sự hào hứng trong thời kì miền Bắc bước vào xây dựng cuộc sống mới và cảm hứng vũ trụ vốn là nét nổi bật trong hồn thơ Huy Cận. Sự gặp gỡ, giao hoà của hai nguồn cảm hứng đó đã tạo nên những hình ảnh rộng lớn, tráng lệ, lung linh như những bức tranh sơn mài của bài thơ.

    Đoàn thuyền ra khơi được miêu tả trong một khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp:

    Mặt trời xuống biển như ngọn lửa.

    Sóng đã cài then đêm sập cửa.

    Nghệ thuật so sánh và nhân hoá được sử dụng thật độc đáo. Mặt trời được ví như hòn lửa đang lặn dần vào lòng biển. Vũ trụ như một ngôi nhà lớn, màn đêm xuống mau khép lại ánh sáng như đóng sập cánh cửa khổng lồ mà những lượn sóng là chiếc then cài. Ngày đã khép lại, vũ trụ như đang bước vào trạng thái thư giãn sau một ngày lao động thì chính lúc ấy một ngày lao động mới của người dân đánh cá lại bắt đầu:

    Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,

    Câu hát căng buồm cùng gió khơi.

    Khi vị chủ nhân thứ nhất của thiên nhiên là mặt trời đi ngủ thì vị chủ nhân thứ hai – những người dân chài của cuộc sống mới lại mở cửa đêm để ra biển đánh cá. Công việc của những người dân chài diễn ra như một nhịp sống đều đặn trở thành quen thuộc, nền nếp. Nếu như sức sống của thiên nhiên như ngưng lại thì sự có mặt của đoàn thuyền như nối tiếp nhịp sống đó. Dù đã cài then, sập cửa nhưng biển không chìm trong lạnh lẽo hoang vu mà trái lại biển đang là chứng nhân cho sự làm việc hăng say, không nghỉ của những người lao động:

    Câu hát căng buồm cùng gió khơi.

    Câu thơ xuất hiện ba sự vật khác biệt là câu hát, căng buồm và gió khơi nhưng lại được gắn kết, hoà quyện với nhau. Tiếng hát khoẻ khoắn của cả tập thể hoà với tiếng gió thổi căng buồm đẩy thuyền phăng phăng rẽ sóng. Câu hát là niềm tin, sự phấn chấn của người lao động. Sự kết hợp của nhịp điệu gấp gáp khẩn trương ở hai câu đầu với cái thanh thoát, đĩnh đạc của nhịp thơ hai câu sau đã vẽ nên bức tranh hào hùng về cảnh đoàn thuyền ra khơi. Khổ thơ còn là sự kết hợp của những liên tưởng táo bạo với những phép tu từ so sánh, nhân hoá đặc sắc đã giúp tác giả thể hiện khúc ca ra khơi hào hùng của người dân chài.

    Không chỉ hát khi ra khơi mà những con người lao động luôn cất tiếng hát hoà cùng với công việc của mình. Tiếng hát là mong ước, là niềm tin thu hoạch:

    Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,

    Cá thu biển Đông như đoàn thoi.

    Từ con cá bạc báo biển lặng, biển hiện lên trong đêm như một khung cửi lớn và đẹp. Cá thu từng đoàn rẽ nước toả sáng, di chuyển như những con thoi. Sự liên tưởng từ khung cửi dệt đến khung cửa biển là sự liên tưởng độc đáo, là kết qủa của sự quan sát thực tế. Qua sự liên tưởng ấy, trong cảm xúc vũ trụ của Huy Cận biển không còn xa lạ mà trở nên gần gũi. Trong lời hát của người ngư dân, biển thật giàu có:

    Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.

    Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!

    Nguyên liệu biển dồi dào, chỉ cần một tiếng gọi để thu cá vào lưới. Khổ thơ mang âm hưởng của dòng cảm hứng vũ trụ với sự lãng mạn của tâm hồn đã làm nên những khúc ca hoành tráng của người lao động.

    Trên cái nền tráng lệ của thiên nhiên là sức mạnh của cánh buồm, sức mạnh của con người làm chủ biển cả:

    Thuyền ta lái gió với buồm trăng

    Lướt giữa mây cao với biển bằng,

    Thuyền có lái, có buồm nhưng lái bằng gió, buồm là buồm trăng. Đoàn thuyền lướt đi trong dêm không phải bằng sức mạnh của con người mà bằng sức mạnh của câu hát hoà cùng sức mạnh của gió, cộng hưởng sức mạnh của trăng. Bởi thế mà thuyền như lướt đi, như bay lên. Con thuyền đánh cá còn nhỏ bé qua cảm hứng vũ trụ đã trở nên kì vĩ, khổng lồ, sánh ngang tầm với vũ trụ. Và trên con thuyền ấy, người như dần hiện lên trong tư thế làm chủ:

    Ra đậu dặm xa dò bụng biển,

    Dàn đan thế trận lưới vây giăng.

    Đã qua rồi thời con người còn nhỏ bé, đơn độc trước sức mạnh bí ẩn của biển cả. Mang trong mình khí thế của người làm chủ, biển như hẹp lại để con người ra đậu dặm xa, dàn đan thế trận và dò bụng biển để con người tìm tòi, khám phá. Họ đàng hoàng ra những nơi xa để bắt thiên nhiên phục vụ. Họ – những dân chài mang theo cả sức trẻ, sức khoẻ, mang theo cả sự tìm tòi, khám phá để tung phá thế giới bí hiểm của thiên nhiên. Việc đánh bắt ấy như một trận chiến mà mỗi người lao dộng như một chiến sĩ.

    Hát khi ra khơi, hát cho cuộc hành trình và những người lao động còn hát để ca ngợi sự giàu đẹp của biển cả:

    Cá nhụ cá chim cùng cá đé,

    Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,

    Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé.

    Các loài cá được kể tên: cá nhụ, cá chim, cá đé, cá song đã nói lên sự phong phú, giàu có của biển. Không chỉ, giàu mà biển còn rất đẹp:

    Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,

    Dưới ánh trăng, cá song quẫy mặt nước. Thân cá có khoang màu hồng lấp lánh như ánh sáng chuyển động dưới làn nước biển. Đoạn thơ mang nhiều màu sắc, ánh sáng: ánh sáng đen hồng, lấp lánh của cá song, ánh sáng vàng choé của trăng vỡ trên mặt nước. Những gam sắc ánh sáng hoà cùng bóng tối của màn đêm tạo ra bức tranh sơn mài lóng lánh sắc màu, biển lại như thấy hơi thở:

    Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.

    Hình ảnh nhân hoá thật độc đáo. Đêm vẫn thư giãn và thuỷ triều lên xuống tạo ra hơi thở của đêm. Những đốm sao bạt ngàn in trên mật nước, trôi dạt trên đầu những ngọn sóng chiều đập vào bãi cát được ví như: lùa nước Hạ Long. Sao với nước cũng xuất hiện và tồn tại trong nhịp thở của đêm. Nối những miền không gian lại với nhau, thiên nhiên như bức tranh sơn mài tráng lệ và kì ảo. Đặc biệt, nhà thơ gọi cá bằng em. Một cách gọi trìu mến, cá không còn là dối tượng đánh bắt mà trở nên thân gần đáng mến.

    Tiếng hát theo những người dân chài trong suốt cả cuộc hành trình và giờ đây tiếng hát cất lên là để gọi cá vào lưới:

    Ta hát bài ca gọi cá vào,

    Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.

    Người dân gọi cá bằng tiếng hát và trăng tạo ra nhịp gõ. Động tác lao động bình thường: gõ nhịp vào mạn thuyền để dồn cá, qua lăng kính cảm xúc bỗng trở nên đẹp đẽ lạ thường. Trăng lên cao dần từng lúc, trăng tan vào nước biển, vỏ vào mạn thuyền làm nhịp hay con thuyền đang lướt dập dềnh, bồng bềnh giữa biển khơi như chạm vỡ ánh trăng tạo thành nhịp. Công việc đánh bắt cá tư nặng nhọc bỗng trở nên thi vị, lãng mạn. Từ sự giàu đẹp của biển là những suy ngẫm về lòng biển bao dung:

    Biển cho ta cá như lòng mẹ

    Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.

    Nhà thơ Huy Cận đã thật tài tình khi so sánh lòng biển với lòng mẹ. Lòng biển mênh mông, rộng rãi đầy cá như tấm lòng mẹ bao dung, độ lượng. Chính lòng biển là lòng mẹ đã nuôi lớn đời ta tự buổi nào. Câu thơ là khúc tâm tình thiết tha với biển thân yêu, là lời cảm ơn biển, biển vừa bao la mà lại trĩu nặng yêu thương.

    Suốt dọc cả bài thơ là tiếng hát, sau những tiếng hát ca ngợi, những tiếng hát lao động hăng say là tiếng hát niềm vui thu hoạch:

    Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,

    Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng.

    Đây là chi tiết cụ thể duy nhất về hình ảnh con người hiện ra trong sớm mai trên biển. Hình ảnh những người dân chài như có hình, có khối đó là hình ảnh khoẻ mạnh, đẹp đẽ của con người trong sự làm chủ. Kéo xoăn tay – kéo mạnh, kéo bằng tất cả sức lực, khiến cho các cơ bắp nổi lên cuồn cuộn. Hình ảnh thơ như tạc bức tượng đồng về người ngư dân:

    Vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông,

    Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.

    Câu thơ vừa thực mà vừa có nghĩa ẩn dụ. Không chỉ tả màu của vẩy, sắc của đuôi cá trong sớm mai mà còn gợi nghĩ đến bạc, vàng – những tài sản quý giá lấy lên từ biển cả. Bởi không chỉ nhận ánh sáng phản chiếu từ tràng sao. Vẩy bạc đuôi vàng tự phát sáng loé rạng đông tạo nên ngày mới, làm cuộc sống đổi thay. Đó cũng chính là mục đích của người lao động, là hướng đi của nhân dân ta trong những năm đó.

    Thống nhất với cảm hứng và bút pháp lãng mạn, khổ cuối của bài thơ là bức tranh hoành tráng với âm thanh, hình ảnh tràn đầy sức mạnh của con người, đoàn thuyền và ngập tràn ánh sáng:

    Câu hát căng buồm cùng gió khơi,

    Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.

    Câu hát cùng gió khơi đưa thuyền đi, nay vẫn câu hát ấy căng buồm đưa thuyền về. Nhưng giờ đây không chỉ còn là sức mạnh của gió mà sức mạnh niềm vui con người như được nhân lên vì thuyền đầy cá. Nếu như ở khổ thơ đầu, sau khi màn đêm bao trùm trên biển thì con người mở cửa đêm ra khơi đánh cá thì giờ đây họ – những người dân chài đang chạy đua cùng mặt trời. Không còn là sự nối tiếp của nhịp sống thiên nhiên, con người mà quan hệ của thiên nhiên, con người là quan hệ song song, đua tranh. Chạy đua với mặt trời cũng là chạy đua với thời gian. Con người đang giữ lấy từng giây, từng phút, đang vượt lên trên cả thời gian để tạo của cải cho cuộc sống mới, để xây dựng và cống hiến. Những con người lao động đã về đến bến khi bình minh vừa ló dạng: Mặt trời đội biển nhô màu mới,

    Cảnh biển một ngày mới được mở rộng đến muôn dặm và ngập tràn ánh sáng. Hình ảnh nhân hoá mặt trời đội biển đi lên mở ra một ngày mới tốt đẹp hơn. Ánh sáng của mặt trời không chỉ mang đến màu của cảnh vật mà còn mang màu mới cho cuộc sống mà những người lao động đang từng ngày, từng giờ cống hiến. Sức tưởng tượng của bút pháp lãng mạn khiến bờ bãi thuyền về trong dòng thơ cuối rực rỡ huy hoàng trong ánh sáng:

    Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.

    Mắt của ngàn vạn con cá phơi trên bờ biển như cùng hướng về một phía phản chiếu tia sáng bình minh rực sáng muôn dặm dài xa như bờ biển đất nước. Đây là hình ảnh đẹp lung linh, kì ảo, thể hiện thành quả tốt đẹp của người ngư dân sau một đêm lao động vất vả.

    Ngợi ca vẻ đẹp hùng tráng và thơ mộng của biển khơi, ngợi ca cuộc sống tưng bừng niềm vui xây dựng, bài thơ thực sự là tiếng hát cất lên từ hồn thơ Huy Cận để dâng tặng cuộc đời. Mang trong mình cả phong vị cổ điển nhưng lại rất hiện đại ở những liên tưởng bất ngờ, cả cảm hứng vũ trụ hoà cùng luồng cảm hứng lãng mạn, bài thơ mở ra một viễn cảnh thật huy hoàng và tràn đầy niềm tin vào một tương lai nhất định nở hoa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá Của Huy Cận
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Bức Tranh Thiên Nhiên Và Hình Ảnh Người Lao Động Trong Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • Hướng Dẫn Cách Học Thuộc Nhớ Lâu Lịch Sử Cho Học Sinh
  • Cách Học Thuộc Bài Nhanh Nhất Trong Giai Đoạn Nước Rút
  • Thảo Luận Mẹo Thi Toeic Hiệu Quả Nhanh Gọn Lẹ Testexpert Vn
  • Soạn Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá (Siêu Ngắn)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Đoàn Thuyền Đánh Cá (Siêu Ngắn Gọn)
  • Soạn Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá Siêu Ngắn
  • Bài Soạn Siêu Ngắn: Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Ngắn Nhất)
  • Soạn Văn 9 Ngắn Nhất Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn bài Đoàn thuyền đánh cá

    Bài giảng: Đoàn thuyền đánh cá – Cô Nguyễn Dung (Giáo viên VietJack)

    Câu 1 (trang 142 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1): Bố cục:

    – Phần 1: 2 khổ đầu: Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi

    – Phần 2: 4 khổ thơ tiếp: Cảnh đánh bắt cá trong đêm

    – Phần 3: Khổ cuối: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về

    – Thời gian được miêu tả trong bài thơ: Từ hoàn hôn, đến đêm, đến rạng sáng

    – Không gian rộng mênh mông của biển Hạ Long

    Câu 2 (trang 142 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):

    – Người lao động hiện lên trong không gian biển rộng lớn

    – Bằng biện pháp nhân hóa, so sánh tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp và sức mạnh của con người lao động trước thiên nhiên, vũ trụ: “Thuyền ta lái gió với buồm trăng …. Dàn đan thế trận lưới vây giăng”

    Câu 3 (trang 142 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):

    – Hình ảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi dưới khung cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp, tráng lệ. “Mặt trời xuống biển như hòn lửa – Sóng đã cài then đêm sập cửa”. Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh và nhân hóa để làm cho cảnh hoàng hôn trên biển trở nên lung linh hơn, có hồn và sắc thái hơn. Trên nền không gian ấy là hình ảnh đoàn thuyến lái gió ra khơi với những câu hát ru của gió rít bên cánh buồm

    – Hình ảnh con thuyền và người dân lao động được thể hiện trong khổ thơ “Thuyền ta lái gió với buồm trăng …. Dàn đan thế trận luwois vây giăng” cho thấy sự mạnh mẽ của con thuyền và con người. Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa làm cho con thuyền giống như con người, có hành động trạng thái. Hanh động này có được nhờ sự điều khiển điêu luyện, khỏe mạnh của con người. Con người hiện lên tràn đầy kinh nghiệm trong công việc đánh bắt cá

    Câu 4 (trang 142 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):

    – Đây là khúc ca ca ngợi lao động với tinh thần làm chủ thiên nhiên

    – Tác giả thay lời những người lao động để viết lên khúc ca này

    – Giọng điệu của bài thơ nhanh, dứt khoát, dõng dạc tạo âm hưởng vui tươi, hào sảng, mạnh mẽ. Các câu thơ, khổ thơ vần với nhau tạo ra âm hưởng vang vọng, vươn xa.

    Câu 5 (trang 142 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):

    Nhà thơ Huy Cận có cái nhìn tươi mới và tràn đầy sức sống trước thiên nhiên và người dân lao động. Thiên nhiên dưới điểm nhìn của ông bao giờ cũng huy hoàng, nguy nga, tráng lệ, giàu đẹp và tràn đầy sức sống, sự vận động. Con người lao động trong công việc của mình bao giờ cũng là người làm chủ, mạnh mẽ, rắn rỏi, quyết liệt và tràn đầy kinh nghiệm.

    Luyện tập

    Khổ thơ đầu là bức tranh về đoàn thuyền đánh cá lúc giăng buồm ra khơi. Hai câu thơ đầu của khổ thơ miêu tả không gian, thời gian trong thời điểm ấy. “Mặt trời xuống biển như hòn lửa”, không gian bước vào buổi chiều tà, lúc hoàng hôn bắt đầu buông xuống. Thời gian tiến dần về đêm, bóng đêm bao phủ cả không gian ở câu thơ thứ hai “sóng đã cài then, đêm sập cửa”. Tác giả miêu tả không gian, thời gian trong cái nhìn nhân hóa, mọi sự vật hiện tượng hiện lên sinh động, có hồn, như những sinh thể mang sự sống đang đắm mình vào màn đêm của thiên nhiên.

    Hai câu thơ sau miêu tả hình ảnh đoàn thuyền ra khơi. Tiếng hát của những con người lao động hòa vào với gió của đất trời, thổi căng cánh buồm của sự sống, của niềm hăng say lao động . Tác giả Huy Cận đã sử dụng hình ảnh rất độc đáo “câu hát căng buồm cùng gió khơi”. Câu hát được sử dụng như một phép hoán dụ, đó là hình ảnh của những người dân lao động hăng say với công việc, là tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu thiên nhiên của họ. Khổ thơ đầu không chỉ là bức tranh đoàn thuyền đánh cá ra khơi mà còn thể hiện sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên đất nước.

    Bài giảng: Đoàn thuyền đánh cá – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    Các bài Soạn văn lớp 9 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 9 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 9 hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Nói Với Con Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Viếng Lăng Bác, Soạn Văn Lớp 9 Trang 58 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 2,
  • Soạn Bài Viếng Lăng Bác (Viễn Phương)
  • Soạn Bài: Viếng Lăng Bác
  • Soạn Bài: Viếng Lăng Bác (Siêu Ngắn Gọn)
  • Soạn Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 9: Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng (Tiếp Theo) Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng
  • Soạn Bài Lớp 9: Sự Phát Triển Của Từ Vựng
  • Soạn bài Đoàn thuyền đánh cá

    Bài giảng: Đoàn thuyền đánh cá – Cô Nguyễn Dung (Giáo viên VietJack)

    Bố cục:

    – Hai khổ đầu : cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi.

    – Bốn khổ thơ tiếp : cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển.

    – Khổ cuối : đoàn thuyền trở về.

    Đọc hiểu văn bản

    Câu 1 (trang 142 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

    Không gian miêu tả trong bài thơ khoáng đạt, bao la, rộng lớn.

    Thời gian từ hoàng hôn đến bình minh ngày hôm sau.

    Câu 2 (trang 142 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

    – Hình ảnh người lao động và công việc của họ được miêu tả trong không gian rộng lớn của vũ trụ, giữa biển khơi bao la, tráng lệ.

    – Biện pháp nghệ thuật : cảm hứng lãng mạn, bay bổng ; liệt kê, so sánh, nhân hóa thể hiện được sự phong phú của các loài cá, vẻ đẹp kì diệu và sự giàu có của biển khơi, hiện lên hình ảnh người lao động mới thật đẹp, thật hăng say, con người hòa quyện với vẻ đẹp thiên nhiên.

    Câu 3 (trang 142 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

    Một số hình ảnh đặc sắc :

    – Cảnh biển vào đêm vừa rộng lớn vừa gần gũi với con người:

    Mặt trời xuống biển như hòn lửa

    Sóng đã cài then đêm sập cửa

    Nhà thơ so sánh mặt trời như một hòn lửa đang từ từ lặn xuống biển. Trời và biển có sự giao hòa trọn vẹn. Mặt biển mênh mông, mát mẻ kia sẽ làm cho “Hòn lửa” mặt trời dịu êm đi. Nhà thơ đã liên tưởng vũ trụ là một ngôi nhà lớn, có màn đêm là cánh cửa khổng lồ, những con sóng là then cửa cài chặt cánh cửa đêm đen. Vũ trụ đi vào trạng thái nghỉ ngơi theo nhịp tuần hoàn của thời gian.

    Câu 4 (trang 142 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

    – Đây là khúc ca về lao động, tinh thần làm chủ và niềm vui phơi phới.

    – Âm hưởng, giọng điệu bài thơ : khỏe khoắn, sôi nổi, phơi phới bay bổng.

    – Các yếu tố góp phần tạo nên âm hưởng bài thơ : gieo vần biến hóa, vần trắc xen lẫn vần bằng, vần liền, vần cách… tạo âm vang cho tinh thần lao động. Nhịp thơ có khi đầy sức trẻ, sức lao động, có khi hân hoan những chùm cá nặng.

    Câu 5 (trang 142 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

    Trước thiên nhiên và con người lao động, tác giả có một cái nhìn tươi mới, tràn đầy cảm xúc hào hứng. Mỗi hình ảnh thơ đều mang sức sống, mang niềm vui, cuốn theo tình yêu say đắm, mãnh liệt trước biển khơi bao la, hùng vĩ, giàu có vô tận của nhà thơ : cánh cửa vũ trụ với hòn lửa mặt trời, cá bạc, cá thu, cá nhụ, cá chim,…, người lao động hăng say làm việc. Đây chính là cái nhìn tin tưởng, phấn khởi của nhà thơ trước cuộc đời mới.

    Luyện tập

    (trang 142 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Viết một đoạn văn …

    Đoạn văn tham khảo :

    – Phân tích khổ thơ đầu :

    Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh so sánh đầy ấn tượng : Mặt trời xuống biển như hòn lửa. Không gian đang khép lại được mở ra mênh mông nhờ sắc đỏ rực của ánh mặt trời chiều hoàng hôn. Vũ trụ là ngôi nhà lớn mà sóng và đêm được nhân hóa biết cài then, sập cửa. Đêm đã buông xuống! Cả vũ trụ đang bước vào trạng thái nghỉ ngơi. Nhưng biển không như vậy, biển đi cùng con người vào cuộc sống mới – cuộc sống lao động hăng say phấn khởi. Con người nối tiếp làm chủ nhân thứ hai khi thiên nhiên đã an giấc nghỉ ngơi : Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi – Câu hát căng buồm cùng gió khơi. Tiếng hát tập thể hòa với tiếng sóng, thổi căng cánh buồm. Câu hát thể hiện niềm lạc quan, niềm tin của người lao động về một thành quả bội thu với tinh thần say mê lao động.

    – Phân tích khổ thơ cuối :

    Bút pháp lãng mạn lần nữa bay bổng ở khổ thơ cuối. Câu hát đưa đoàn thuyền ra khơi nay lại theo thuyền cá trở về. Mặt trời lặn đi khi đoàn thuyền nhổ neo thì nay nhô màu mới khi thuyền trở về. Câu thơ thứ nhất trong khổ cuối lặp gần như nguyên vẹn với câu cuối khổ thơ đầu như sự nối tiếp tự nhiên một công việc liên tục. Tất cả khẩn trương, hân hoan trong cuộc đua con người và vũ trụ, tầm vóc người lao động cao hơn, to lớn hơn. Điều đặc biệt ở đây là khổ thơ cuối khép lại bằng hình ảnh thật rực rỡ, huy hoàng của triệu triệu mắt cá phơi trên muôn dặm biển khơi. Đó là thành quả bội thu đã được gợi mở ở khổ thơ đầu.

    Bài giảng: Đoàn thuyền đánh cá – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 9: Xưng Hô Trong Hội Thoại
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Xưng Hô Trong Hội Thoại Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Tuyên Bố Thế Giới Về Sự Sống Còn, Quyền Được Bảo Vệ Và Phát Triển Của Trẻ Em
  • Soạn Bài Tuyên Bố Thế Giới Về Sự Sống Còn, Quyền Được Bảo Vệ Và Phát Triển Của Trẻ Em
  • Soạn Bài Lớp 9: Tuyên Bố Thế Giới Về Sự Sống Còn, Quyền Được Bảo Vệ Và Phát Triển Của Trẻ Em
  • Soạn Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá (Chi Tiết)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 9 Bài Tiếng Nói Của Văn Nghệ Vnen
  • Soạn Bài Tiếng Nói Của Văn Nghệ Của Nguyễn Đình Thi
  • Soạn Bài Tiếng Nói Của Văn Nghệ (Chi Tiết)
  • Phân Tích Cách Dùng Từ Xưng Hô Và Thái Độ Của Người Nói Trong Đoạn Hội Thoại Sau
  • Soạn Văn 7 Vnen Bài 20: Thêm Trạng Ngữ Cho Câu
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Câu 1 Trả lời câu 1 (trang 142 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Bài thơ được triển khai theo trình tự chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá. Dựa vào trình tự ấy, em hãy tìm bố cục của bài thơ. Hãy nêu không gian và thời gian được miêu tả trong bài thơ. Lời giải chi tiết:

    – Đoạn 1: Hai khổ thơ đầu là cảnh đoàn thuyền đánh cá lên đường và tâm trạng náo nức của con người.

    – Đoạn 2: Bốn khổ thơ tiếp theo là cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển.

    – Đoạn 3. Còn lại là cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về trong bình minh.

    – Không gian là mặt biển bao la, rộng lớn với sự hiện diện của mặt trời, mặt biển, trăng sao, mây, gió.

    – Thời gian là nhịp tuần hoàn của vũ trụ: Từ lúc hoàn hôn buông xuống, trời biển vào đêm đến lúc mặt trời đội biển nhô lên, một ngày mới bắt đầu. Nhịp tuần hoàn của vũ trụ điểm nhịp thời gian cho đoàn thuyền đánh cá làm việc.

    Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 142 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Hình ảnh người lao động và công việc của họ được miêu tả trong không gian nào? Bằng những biện pháp nghệ thuật gì, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp và sức mạnh của con người trước thiên nhiên vũ trụ. Lời giải chi tiết:

    – Bài thơ miêu tả trọn vẹn một đêm lao động trên biển của đoàn thuyền đánh cá. Hai khổ thơ đầu là cảnh ra khơi. Khung cảnh thiên nhiên dẫu chỉ phác hoạ ít nét mà vẫn cho ta cảm nhận được vẻ chắc nịch, thấm đậm không khí khẩn tr­ơng của một buổi xuất bến ra khơi. Hai câu thơ đầu gợi tả sự vận động của thời gian, mặt trời xuống biển, từng đợt sóng gợn những nét ngang luân chuyển qua lại như­ then cửa và mặt trời xuống đến đâu, cánh cửa đêm nh­ư đ­ợc kéo xuống đến đó. Khi những ánh sáng mặt trời tắt hẳn cũng là lúc “sóng đã cài then”, “đêm sập cửa”. Đúng thời điểm ấy, trong không gian của một đêm đã bắt đầu ấy, thênh thênh vút lên, bừng sáng tiếng hát của ngư­ dân.

    Mà là ánh sáng của thanh âm, của khúc hát lãng mạn cất lên từ lòng tin, từ tình yêu lao động, của sắc cá bạc đan dệt thành. Những vần trắc trong khổ thơ đầu ( lửa, cửa, khơi, khơi) hoà điệu cùng khúc hát, rất có giá trị trong việc gợi tả vẻ thoáng đạt, sáng láng ấy. Một cách tự nhiên, những vần thơ mở đầu hút ng­ời đọc vào không khí lao động của ngư­ dân lúc nào không hay.

    – Bốn khổ thơ tiếp theo là cảnh lao động trên biển đêm. Những khổ thơ này tập trung nhiều hình ảnh tráng lệ, vẻ tráng lệ đã đ­ược gợi ra từ đầu bài thơ với hình ảnh ” Mặt trờinhư hòn lửa“. Đến đây, cảnh đánh cá đêm trên biển được miêu tả hết sức sinh động. Đó là những động từ mạnh mẽ ( lái gió, l­ớt, dàn đan, quẫy, kéo xoăn tay,…), là những hình ảnh gợi tả cái kì vĩ, lớn lao ( mây cao, biển bằng, dặm xa, bụng biển, thế trận, vây giăng, đêm thở), là những sắc màu lộng lẫy, rực rỡ như­ trẩy hội, và cả những nét thơ mộng, bay bổng ( buồm trăng, lấp lánh đuốc đen hồng, trăng vàng choé, sao lùa, vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông, nắng hồng,…). Vẻ đẹp của biển trời hoà quyện với vẻ đẹp của con ng­ời lao động dệt lên bức tranh tráng lệ, rạo rực sức sống, rạng rỡ vẻ đẹp giàu say lòng ngư­ời. Có lẽ không ở đâu nữa vẻ đẹp và cái nguồn sống bất tận diệu kì của biển Đông lại đẹp hơn ở những câu thơ này :

    Cá nhụ cá chim cùng cá đé, Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé, Đêm thở: sao lùa n­ước Hạ Long.

    Chỉ một hình ảnh “Đêm thở” mà ta như­ thấy cả màn đêm phập phồng, thấy cả gió, cả sóng nước. Theo nhịp thở của vũ trụ, ngàn con sóng dồn đuổi ánh lên những đợt vàng sáng lấp lánh của vẩy cá phản chiếu ánh trăng, của ánh trăng, của sao. Thật huyền diệu!.

    Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 142 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Em hãy chọn phân tích một hình ảnh đặc sắc trong các khổ 1,3,4,7. Bút pháp xây dựng hình ảnh của tác giả có gì nổi bật? Lời giải chi tiết:

    – Khổ 3: Con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé trước biển cả bao la đã trở thành con thuyền kì vĩ, khổng lồ, hòa nhập vào với kích thước rộng lớn của thiên nhiên: lái gió, buồm trăng, mây cao, biển bằng,…

    – Bút pháp lãng mạn nổi bật trong việc sáng tạo hình ảnh thơ, với những liên tưởng sáng tạo, độc đáo, nhiều so sánh thú vị, thủ pháp phóng đại được sử dụng hợp lí.

    Câu 4 Trả lời câu 4 (trang 142 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Bài thơ có nhiều từ hát, cả bài hát cũng như một khúc ca. Đây là khúc ca gì và tác giả làm thay lời ai? Em có nhận xét gì về âm hưởng, giọng điệu của bài thơ? Các yếu tố: thể thơ, vần, nhịp góp phần tạo nên âm hưởng bài thơ như thế nào? Lời giải chi tiết:

    Bài thơ có bốn từ “Hát”. Cả bài như một khúc ca, ngợi ca lao động, với tinh thần làm chủ, với niềm vui phơi phới mà nhà thơ viết thay cho những người lao động. Lời thơ dõng dạc giọng điệu như khúc hát mê say hào hứng, cách gieo vần biến hóa linh hoạt. Vần trắc xen lẫn vần bằng, vần liền xen lẫn vần cách. Vần trắc tạo nên sức dội, sức mạnh. Vần bằng tạo nên sự vang xa, bay bổng… tất cả góp phần làm nên âm hưởng của bài thơ vừa khỏe khoắn sôi nổi, vừa phơi phới bay bổng.

    Câu 5 Trả lời câu 5 (trang 142 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Qua những bức tranh về thiên nhiên và con người lao động trong bài thơ, em có nhận xét gì về cái nhìn và cảm xúc của tác giả trước thiên nhiên đất nước và con người lao động? Lời giải chi tiết:

    Nhà thơ Huy Cận có cái nhìn tươi mới và cảm xúc hào hứng, tràn đầy niềm vui về cuộc sống. Thiên nhiên tráng lệ, giàu có là nguồn tài nguyên vô tận luôn phục vụ con người, tham gia tích cực vào cuộc sống. Con người hăng hái say mê lao động làm chủ cuộc sống, xây dựng cuộc sống mới. Chính nhà thơ đã viết “Không khí lúc này thật vui, cuộc đời phấn khởi, nhà thơ cũng rất phấn khởi. Cả một vùng than, vùng biển đang hăng say lao động từ bình minh cho đến hoàng hôn và cả từ hoàng hôn cho đến bình minh”. Đây là một cái nhìn tin tưởng và phấn khởi của nhà thơ trước cuộc đời mới. Cái nhìn ấy, cảm xúc ấy là kết quả của quá trình đi thực tế dài ngày tại vùng mở Quảng Ninh. Bắt đầu từ đây hồn thơ Huy Cận này nở trở lại trong niềm vui say cuộc sống mới.

    Luyện tập Viết đoạn văn phân tích khổ thơ đầu và khổ thơ cuối của bài thơ. Lời giải chi tiết:

    Với đôi mắt quan sát sắc sảo, trí tưởng tượng phong phú, trái tim nhạy cảm và tài năng nghệ thuật điêu luyện, nhà thơ đã vẽ lên trước mắt chúng ta một khung cảnh lao động tuyệt vời trên biển. Cả bài thơ như một bức tranh sơn mài lộng lẫy với những sắc màu huyền ảo, cuốn hút vô cùng:

    Mặt trời xuống biển như hòn lửa

    Sóng đã cài then, đêm sập cửa

    Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

    Câu hát căng buồm cùng gió khơi.

    Đoàn thuyền đánh cá rời bến vào lúc hoàng hôn. Phía tây, mặt trời như một hòn lửa” đỏ rực đang lặn vào lòng đại dương mênh mông. Màn đêm buông xuống kết thúc một ngày. Chính vào thời điểm ấy, ngư dân bắt tay vào công việc quen chuộc của mình: ra khơi đánh cá. Măt biển đêm không lạnh lẽo mà ấm áp hẳn lên bởi tiếng hát âm vang, náo nức. thể hiện niềm vui to lớn của con người lao động được giải phóng: “Cầu hát căng buồm cùng gió khơi”. Đây là cách nói độc đáo. sáng tạo của Huy Cận, khiến chúng ta tưởng như tiếng hát hòa cùng gió mạnh, thổi căng cánh buồm, đẩy thuyền phăng phăng rẽ sóng. Cánh buồm no gió tượng trưng cho khí thế phơi phới đi lên của công cuộc dựng xây đất nước.

    ND chính

    Bài thơ là khúc tráng ca ca ngợi cuộc sống lao động tập thể của người dân chài trong công cuộc xây dựng và tái thiết đất nước, đồng thời bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thớ trước khung cảnh thiên nhiên đất nước giàu đẹp.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vẻ Đẹp Của Người Lao Động Qua Hai Tác Phẩm Lặng Lẽ Sa Pa Và Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • Soạn Văn 8 Bài Hai Cây Phong Vnen
  • Soạn Văn 9 Bài Cố Hương Vnen
  • Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Bài 28: Soạn Bài Viếng Lăng Bác
  • Bài Soạn Siêu Ngắn: Đoàn Thuyền Đánh Cá

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Ngắn Nhất)
  • Soạn Văn 9 Ngắn Nhất Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Văn 9 Ngắn Nhất Bài: Con Cò
  • Soạn Bài Con Cò (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Con Cò Siêu Ngắn
  • Trả lời:

    • Bố cục ba phần:
    • Không gian trong bài: Con người nhỏ bé giữa biển khơi rộng lớn.
    • Thời gian:Từ lúc hoàng hôn đến bình minh của ngày hôm sau.

    Trả lời:

    Hình ảnh người lao động và công việc của họ được miêu tả giữa thiên nhiên bao la của biền và trời.

    Thông qua biện pháp nghệ thuật nhân hóa, so sánh, tác giả đã miêu tả con thuyền lướt giữa gió trăng lồng lộng, hình ảnh con người lao động hăng say, hòa quyện với thiên nhiên tạo nên một bức tranh tráng lệ.

    Trả lời:

    Hình ảnh Đoàn thuyền ra khơi: trên nền hoàng hôn kì vĩ, rực rỡ, con thuyền căng buồm ra khơi với một niềm vui, sự phấn chấn và hăng say của người lao động.

    Bút pháp nghệ thuật trong bài thơ nổi bật là bút pháp lãng mạn, cảm xúc dạt dào của nhà thơ cùng với những hình ảnh kì vĩ.

    Trả lời:

    Đây là khúc ca ngợi ca lao động, với tinh thần làm chủ và niềm vui phơi phới.

    Âm hưởng hào hùng, tràn đầy sức sống cho thấy tinh thần và hi vọng của những người lao động.

    Giọng điệu bài thơ sôi nổi, khỏe khoắn, tràn đầy không khí hứng khởi. Lời thơ dõng dạc giọng điệu, cách gieo vần linh hoạt.

    Trả lời:

    Qua bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” ta thấy được, nhà thơ Huy Cận có cái nhìn tươi mới và cảm xúc hào hứng, tràn đầy niềm vui về cuộc sống. Trong công cuộc Xây dựng XHCN ở miền Bắc, đất nước đang dần đi lên nhờ những con người lao động hăng say, nhà thơ tin tưởng và phấn khởi rằng: đất nước sẽ ngày càng thêm giàu đẹp.

    Trả lời:

    Nội dung: Không khí khẩn trưởng, hăng say của người lao động đánh cá với khí thế làm chủ biển cả qua hình ảnh đoàn thuyền ra khơi.

    Nghệ thuật: so sánh (mặt trời – hòn lửa), ẩn dụ (then cài – sập cửa), bút pháp lãng mạn.

    Nội dung: Hình ảnh lao động huy hoàng, hoành tráng tràn đầy sức mạnh của người lao động.

    Nghệ thuật: nhân hóa (mặt trời đội biển, đoàn thuyề chạy đua ), bút pháp lãng mạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Đoàn Thuyền Đánh Cá (Siêu Ngắn Gọn)
  • Soạn Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Nói Với Con Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Viếng Lăng Bác, Soạn Văn Lớp 9 Trang 58 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 2,
  • Soạn Bài: Đoàn Thuyền Đánh Cá (Siêu Ngắn Gọn)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá Siêu Ngắn
  • Bài Soạn Siêu Ngắn: Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Ngắn Nhất)
  • Soạn Văn 9 Ngắn Nhất Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Văn 9 Ngắn Nhất Bài: Con Cò
  • Hướng dẫn Soạn bài Đoàn thuyền đánh cá siêu ngắn gọn. Với bản soạn văn 9 siêu ngắn gọn này các bạn sẽ chuẩn bị bài trước khi đến lớp nhanh chóng và nắm vững nội dung tác phẩm cô đọng và dễ dàng nhất.

    Soạn bài: Đoàn thuyền đánh cá (siêu ngắn gọn)

    – Hai khổ đầu: Đoàn thuyền đánh cá hào hứng ra khơi

    – Bốn khổ thơ tiếp: Công cuộc lao động trên biển của người dân chài

    – Khổ cuối: Đoàn thuyền đánh cá trở về mang theo bao thành quả lớn.

    Ý nghĩa nhan đề

    Không gian: biển cả rộng lớn, mênh mông

    – Hình ảnh người lao động và công việc của họ: được nhà thơ miêu tả giữa không gian rộng lớn, bao la của biển cả, sự cao rộng của vũ trụ, mây trời, trăng sao, sóng nước.

    – Để làm nổi bật vẻ đẹp và sức mạnh của người dân chài trong lao động, tác giả sử dụng các biện pháp nghệ thuật sau:

    + Các hình ảnh đa dạng, phong phú, gợi hình và giàu sức liên tưởng:

    “Thuyền ta lái gió với buồm trăng……..Dàn đan thế trận lưới vây giăng”: họ là những người nghệ sĩ thực sự trong lao động.

    + Cảm hứng lãng mạn, bay bổng: sự lạc quan, hào hứng của người dân chài trong lao động: hát bài ca mời gọi cá, cảm ơn biển khơi dạt dào mang cá đến nuôi lớn bao thế hệ người lao động

    Một số hình ảnh đặc sắc thể hiện sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên:

    + Biển đêm như ngôi nhà lớn của người dân chài vậy, khi biển khơi đang chìm đắm, lặng lẽ hòa mình vào giấc ngủ cũng là lúc người lao động bắt đầu bước vào cuộc hành trình đánh bắt cá tôm của mình.

    “Mặt trời xuống biển như hòn lửa

    Sóng đã cài then đêm sập cửa”

    + Thiên nhiên ưu ái, ban tặng cho con người nguồn cá tôm dồi dào, giúp người lao động phát triển kinh tế gia đình:

    “Cá nhụ, cá chim, cùng cá đé

    Cá sông lấp lánh đuốc đen hồng”

    Biển cả là người mẹ thiên nhiên, dang sóng nước ôm ấp con người, mang tình thương lớn lao dành cho người lao động, là nơi giúp người dân nuôi biết bao thế hệ khôn lớn và trưởng thành.

    – Đây là khúc ca mang đầy ánh sáng ngợi ca lao động, ngợi ca tinh thần nhiệt huyết, niềm vui của con người trong lao động

    – Âm hưởng, giọng điệu được thể hiện qua bài thơ đầy tươi vui, khỏe khoắn, lạc quan, sôi nổi, hào hùng.

    – Các yếu tố góp phần tạo nên âm hưởng bài thơ:

    + Thể thơ: thơ 7 chữ

    + Vần: cách gieo vần bằng trắc linh hoạt, vần liền, vần cách được phối hợp độc đáo

    + Nhịp thơ: 2/2/3;4/3;…ngắn , nhanh, dứt khoát, tạo âm hưởng lớn mạnh mẽ, khỏe khoắn

    + Cảm xúc của tác giả trước thiên nhiên:

    Trước biển cả quê hương giàu đẹp, tác giả rất đỗi tự hào và yêu mến vẻ đẹp của thiên nhiên, có những sự rung động và cảm xúc tinh tế trước sức hấp dẫn của biển lớn mênh mông.

    + Cảm xúc của tác giả trước con người lao đông: niềm hãnh diện về những người dân nhiệt huyết, hết mình trong lao động, họ dành cả niềm tin, sự yêu thương và lạc quan trong mỗi cuộc ra khơi của mình. Xem đó là một cuộc chinh phục thiên nhiên tuy vất vả nhưng xứng đáng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Nói Với Con Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Viếng Lăng Bác, Soạn Văn Lớp 9 Trang 58 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 2,
  • Soạn Bài Viếng Lăng Bác (Viễn Phương)
  • Soạn Bài: Viếng Lăng Bác