Nhạc Chú Đại Bi Tiếng Việt: 84 Câu Dễ Thuộc

--- Bài mới hơn ---

  • Các Bước Tụng Chú Đại Bi Ngắn Gọn, Dễ Nhớ
  • Chú Đại Bi Tiếng Việt Có Video Hướng Dẫn Cụ Thể
  • Cách Giúp Bạn Thuộc Làu Những Môn Xã Hội “khó Nuốt”
  • Mách Teen 2K1 Cách Học Thuộc Lòng Nhanh Siêu Tốc Các Môn Xã Hội
  • Mẹo Hay Để Học Thuộc Lòng Các Môn Xã Hội
  • Với nhiều người, học thuộc Kinh Phật thật sự rất khó khăn, học thuộc các bài chú lại càng khó hơn nhiều. Nếu học mãi mà không thuộc, nghe thầy tụng mãi mà không nhớ, nhìn quyển kinh đọc ra rả suốt ngày nhưng rời ra lại quên ngay… thì hãy nghe ngay Nhạc Chú Đại Bi tiếng Việt.

    Bài chú Đại Bi tiếng Việt – Bài chú Đại Bi 84 câu

    Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát ( 3 lần ) Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni

    1. Nam Mô Hắc Ra Đát Na Đa Ra Dạ Da

    2. Nam Mô A Rị Da

    3. Bà Lô Yết Đế Thước Bát Ra Da

    4. Bồ Đề Tát Đỏa Bà Da

    5. Ma Ha Tát Đỏa Bà Da

    6. Ma Ha Ca Lô Ni Ca Da

    7. Án

    8. Tát Bàn Ra Phạt Duệ

    9. Số Đát Na Đát Tỏa

    10. Nam Mô Tất Kiết Lật Đỏa Y Mông A Rị Da

    11. Bà Lô Yết Đế Thất Phật Ra Lăng Đà Bà

    12. Nam Mô Na Ra Cẩn Trì

    13. Hê Rị Ma Ha Bàn Đa Sa Mế

    14. Tát Bà A Tha Đậu Du Bằng

    15. A Thệ Dựng

    16. Tát Bà Tát Đa (Na Ma Bà Tát Đa) Na Ma Bà Già

    17. Ma Phạt Đạt Đậu

    18. Đát Điệt Tha

    19. Án A Bà Lô Hê

    20. Lô Ca Đế

    21. Ca Ra Đế

    22. Di Hê Rị

    23. Ma Ha Bồ Đề Tát Đỏa

    24. Tát Bà Tát Bà

    25. Ma Ra Ma Ra

    26. Ma Hê Ma Hê Rị Đà Dựng

    27. Cu Lô Cu Lô Yết Mông

    28. Độ Lô Độ Lô Phạt Xà Da Đế

    29. Ma Ha Phạt Xà Da Đế

    30. Đà Ra Đà Ra

    31. Địa Rị Ni

    32. Thất Phật Ra Da

    33. Giá Ra Giá Ra

    34. Mạ Mạ Phạt Ma Ra

    35. Mục Đế Lệ

    36. Y Hê Y Hê

    37. Thất Na Thất Na

    38. A Ra Sâm Phật Ra Xá Lợi

    39. Phạt Sa Phạt Sâm

    40. Phật Ra Xá Da

    41. Hô Lô Hô Lô Ma Ra

    42. Hô Lô Hô Lô Hê Rị

    43. Ta Ra Ta Ra

    44. Tất Rị Tất Rị

    45. Tô Rô Tô Rô

    46. Bồ Đề Dạ Bồ Đề Dạ

    47. Bồ Đà Dạ Bồ Đà Dạ

    48. Di Đế Rị Dạ

    49. Na Ra Cẩn Trì

    50. Địa Rị Sắc Ni Na

    51. Ba Dạ Ma Na

    52. Ta Bà Ha

    53. Tất Đà Dạ

    54. Ta Bà Ha

    55. Ma Ha Tất Đà Dạ

    56. Ta Bà Ha

    57. Tất Đà Du Nghệ

    58. Thất Bàn Ra Dạ

    59. Ta Bà Ha

    60. Na Ra Cẩn Trì

    61. Ta Bà Ha

    62. Ma Ra Na Ra

    63. Ta Bà Ha

    64. Tất Ra Tăng A Mục Khê Da

    65. Ta Bà Ha

    66. Ta Bà Ma Ha A Tất Đà Dạ

    67. Ta Bà Ha

    68. Giả Kiết Ra A Tất Đà Dạ

    69. Ta Bà Ha

    70. Ba Đà Ma Yết Tất Đà Dạ

    71. Ta Bà Ha

    72. Na Ra Cẩn Trì Bàn Dà Ra Dạ

    73. Ta Bà Ha

    74. Ma Bà Lợi Thắng Yết Ra Dạ

    75. Ta Bà Ha

    76. Nam Mô Hắc Ra Đát na Đa Ra Dạ Da

    77. Nam Mô A Rị Da

    78. Bà Lô Yết Đế

    79. Thước Bàn Ra Dạ

    80. Ta Bà Ha

    81. Án Tất Điện Đô

    82. Mạn Đà Ra

    83. Bạt Đà Dạ

    84. Ta Bà Ha

    (Lặp lại 3 lần từ câu Chú 81 đến 84 khi quý vị trì biến cuối cùng)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chú Đại Bi Tiếng Việt Bản Chuẩn
  • Chỉ Trong 1 Nốt Nhạc, Bạn Sẽ Có Cách Học Thuộc Tiếng Anh Nhanh Nhất
  • Cách Đọc Sheet Piano Và Ghi Nhớ Nhanh Nốt Nhạc Cho Người Mới
  • Top 9 Cách Học Thuộc Lòng Nhanh Siêu Tốc Nhớ Lâu Cho Sinh Viên
  • Những Cách Học Thuộc Nhanh Nhất Để Đạt Kết Quả Cao
  • Trì Niệm Chú Đại Bi Đúng Cách

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Học Collocations Hiệu Quả Nhất Giúp Nhớ Lâu
  • Cách Học Collocations Hiệu Quả
  • Collocation: Bí Quyết Dùng Ngôn Từ Tự Nhiên Như Người Bản Xứ
  • Collocations Là Gì? Cách Học Và Tài Liệu Học Collocations For Ielts Hay Nhất
  • Cách Học Tiếng Anh Dễ Nhớ
  • Như vậy, thế nào là tụng trì chú đại bi đúng pháp?

    Trong phần hình trạng tướng mạo đã chỉ rõ mười đặc tính cốt yếu của Thần chú Đại Bi mà quan trọng hàng đầu là tâm Đại Từ Bi, cho nên mỗi lần trì tụng thần chú này hành giả phải bắt đầu hướng tâm vào việc quán tưởng khởi lòng thương xót tất cả chúng sanh. Một cách lý tưởng, để đạt được những công năng mà thần chú mang lại, trong thời gian trì tụng, hành giả phải giữ gìn giới hạnh, đặc biệt là sát, đạo, dâm, vọng. Phải kiêng cử rượu thịt, các thứ hành, hẹ, tỏi, cùng các thức ăn hôi hám. Tốt nhất là nên ăn chay.

    Phải giữ vệ sinh thân thể, thường xuyên tắm gội, thay đổi y phục sạch sẽ, không nên để cho trong người có mùi hôi. Trước khi trì chú cũng phải đánh răng, súc miệng sạch sẽ, nếu trước đó có đi đại tiện, tiểu tiện thì phải rửa tay sạch sẽ trước khi trì tụng.Tóm lại, “Giữ gìn trai giới,ở nơi tịnh thất,tắm gội sạch sẽ, mặc y phục sạch, treo phan đốt đèn, dùng hương hoa cùng thực phẩm cúng dường, buộc tâm một chỗ”, đó là tất cả những điều kiện lý tưởng để hành giả trì chú Đại Bi. Tuy nhiên, như phần trên đã nói, Bồ Tát Quán Thế Âm chỉ yêu cầu chúng ta hai điều mỗi khi trì tụng chú Đại Bi, đó là thành tâm và không mưu cầu những việc bất thiện. Điều này cho phép hành giả có thể trì tụng bất cứ lúc nào mà điều kiện cho phép. Trên xe, trên tàu, trên máy bay, tại sở làm, tại nhà… Với tâm thành, tâm chúng ta lúc đó sẽ hòa nhập vào lời trì tụng đểø cùng thể nhập vào pháp giới, mười phương chư Phật. Bơỉ vì Bồ Tát đã cho chúng ta biết, mỗi lần trì tụng thần chú Đại Bi, thập phương chư Phật đều đến chứng minh.

    Bàn thờ:

    Hành giả nên có một phòng riêng yên tỉnh để lập bàn thờ Bồ tát. Bàn thờ nên có hình tượng Bồ Tát ngàn tay, ngàn mắt. Nếu không có thì có thể sử dụng bất cứ hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm nào mà mình hiện có. Hình tượng Bồ Tát nên để day mặt về hướng Tây. Trên bàn thờ tuy không bắt buộc nhưng nên có hoa tươi, trái cây, lư hương để cắm nhang, nước cúng. Nên để đèn sáng mỗi khi hành lễ. Có thể sử dụng chuỗi hạt gỗ để trợ lực khi trì tụng.

    Lạy là nghi thức biểu lộ sự cung kính, tôn trọng. Mỗi thời đại có một cung cách khác nhau để biểu lộ sự tôn trọng. Lối lạy kiểu cũ theo cách thức của người Trung Hoa có nhiều điểm rất bất tiện, không thích hợp cho không khí thiền đường. Trước hết, với kiểu lạy này, khi hành lễ mỗi người chiếm một khoảng diện tích đáng kể đủ để có thể đứng và qùy xuống lạy, gây trở ngại cho những thiền đường nhỏ. Việc đứng lên qùy xuống gây ra những tiếng động của động tác, tiếng sột soạt của quần áo, những động tác này cũng có thể làm phóng ra những bụi bặm, vi trùng mà ta mang trên quần áo, những mùi hôi của cơ thể – nhất là trong những xứ khí hậu nóng nực-, làm mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường ta cần có để thở. Chưa kể là việc đứng lên qùy xuống lộn xộn trong những tư thế rất khó coi… Cho nên, chúng ta có thể thực hành một cách lạy tương đối đơn giản trong khi hành lễ, là thiền sinh cứ ngồi theo tư thế hành thiền, kiết già hay bán già, khi lạy chỉ cúi gập đầu xuống sàn phía trước, kéo dài tư thế này một khoảng thời gian ngắn đủ để niệm một câu “Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm BồTát”, xong ngồi dậy.

    Cách thức tụng đọc chú đại bi :

    Chú Đại Bi phải nên được trì tụng lớn tiếng, giọng điệu trầm hùng, nhanh và liên tục bằng cách lấy hơi từ bụng ra. Lớn tiếng ở đây không có nghĩa là ta phải la lớn lên, nhưng giọng đọc phải rõ ràng, nghe đủ tiếng, không lờ mờ, trại giọng.

    Kinh “Nghiệp Báo Sai Biệt” cho biết việc niệm Phật, tụng kinh, trì chú lớn tiếng có mười công đức sau đây :

    Thật sự, ta cũng sẽ không lo ngại cơn buồn ngủ ám ảnh. Bởi vì khi trì tụng chú Đại Bi, các vị Thiên, Long, Hộ Pháp sẽ luôn ở bên cạnh ta, khi ta rơi vào cơn buồn ngủ, các Ngài sẽ giúp đánh thức ta -mà rồi qúy vị sẽ chứng nghiệm khi thực hành trì chú một cách nghiêm túc- bằng một âm thanh như tiếng sấm nổ ở trong đầu khiến ta hoảng hồn, giật mình tỉnh thức. Thông thường sau đó ta sẽ không còn (hoặc không dám) buồn ngủ nữa. Tuy nhiên, nếu việc này xảy ra một lần thứ hai trong buổi hành Thiền, điều này có nghĩa là thể xác ta quá mỏi mệt, ta nên xin phép được xả thiền để nghỉ ngơi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Làm Thế Nào Để Tụng Chú Đại Bi Được Linh Nghiệm?
  • Hướng Dẫn Cách Trì Tụng Chú Đại Bi Ngắn Gọn
  • Hướng Dẫn Cách Tụng Trì Chú Đại Bi Ngắn Gọn
  • Nữ Thủ Khoa Toàn Quốc Khối D1 Chia Sẻ Bí Quyết Đạt Điểm Cao
  • Kinh Nghiệm Học Của Thủ Khoa Khối A
  • Chú Đại Bi Tự Học Thuộc Lòng ( Giọng Đọc Miền Nam) Dễ Nghe

    --- Bài mới hơn ---

  • Dj Phạm Thành: ‘tôi Tự Học Chơi Nhạc Qua Sách Báo, Internet’
  • Tôi Không Thể Truy Cập Tài Khoản Hoặc Đặt Lại Mật Khẩu Của Mình!
  • Cuộc Chơi Ngôn Ngữ Của Duolingo
  • Duolingo Plus Apk V4.7.1 Full Unlocked Cho Android
  • Tải Về Tin Học Văn Phòng
  • Nam mô đại bi hội thượng Phật BỒ TÁT (3 lần). THIÊN THỦ THIÊN NHÃN VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM ĐÀ RA NI

    1. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da

    2. Nam mô a rị da

    3. Bà lô yết đế thước bát ra da

    4. Bồ Đề tát đỏa bà da

    5. Ma ha tát đỏa bà da

    6. Ma ha ca lô ni ca da

    7. Án

    8. Tát bàn ra phạt duệ

    9. Số đát na đát tỏa

    10.Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da

    11.Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà

    12.Nam mô na ra cẩn trì

    13.Hê rị, ma ha bàn đa sa mế

    14.Tát bà a tha đậu du bằng

    15.A thệ dựng

    16.Tát bà tát đa (Na ma bà tát đa)

    17.Na ma bà dà

    18.Ma phạt đạt đậu đát điệt tha

    19.Án. A bà lô hê

    20.Lô ca đế

    21.Ca ra đế

    22.Di hê rị

    23.Ma ha bồ đề tát đỏa

    24.Tát bà tát bà

    25.Ma ra ma ra

    26.Ma hê ma hê rị đà dựng

    27.Cu lô cu lô yết mông

    28.Độ lô độ lô phạt xà da đế

    29.Ma ha phạt xà da đế

    30.Đà ra đà ra

    31.Địa rị ni

    32.Thất Phật ra da

    33.Giá ra giá ra

    34.Mạ mạ phạt ma ra

    35.Mục đế lệ

    36.Y hê di hê

    37.Thất na thất na

    38 A Ra sâm Phật ra xá lợi

    39.Phạt sa phạt sâm

    40.Phật ra xá da

    41.Hô lô hô lô ma ra

    42.Hô lô hô lô hê rị

    43.Ta ra ta ra

    44.Tất rị tất rị

    45.Tô rô tô rô

    46.Bồ Đề dạ Bồ Đề dạ

    47.Bồ đà dạ bồ đà dạ

    48.Di đế rị dạ

    49.Na ra cẩn trì

    50.Địa rị sắc ni na

    51.Ba dạ ma na

    52.Ta bà ha

    53.Tất đà dạ

    54.Ta bà ha

    55.Ma ha tất đà dạ

    56.Ta bà ha

    57.Tất đà du nghệ

    58.Thất bàn ra dạ

    59.Ta bà ha

    60.Na ra cẩn trì

    61.Ta bà ha

    62.Ma ra na ra

    63.Ta bà ha

    64.Tất ra tăng a mục khê da

    65.Ta bà ha

    66.Ta bà ma ha a tất đà dạ

    67.Ta bà ha

    68.Giả kiết ra a tất đà dạ

    69.Ta bà ha

    70.Ba đà ma kiết tất đà dạ

    71.Ta bà ha

    72.Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ

    73.Ta bà ha

    74.Ma bà lợi thắng yết ra dạ

    75.Ta bà ha

    76.Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da

    77.Nam mô a rị da

    78.Bà lô kiết đế

    79.Thước bàn ra dạ

    80.Ta bà ha

    81.Án. Tất điện đô

    82.Mạn đà ra

    83.Bạt đà dạ

    84.Ta bà ha.(3 lần).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chú Đại Bi Tiếng Phạn (Sanskrit)
  • Tự Học 600 Chữ Kanji Căn Bản
  • Phương Pháp Học Tiếng Nhật
  • Phương Pháp Học Chữ Kanji Trong Tiếng Nhật
  • 1.liệt Kê Các Thì Đã Học Trong Môn Tiếng Anh Từ Lớp 6 Đến Lớp 9 Theo Thứ Tự Đã Học Từ Lớp 6 Đến Lớp 9,nêu Cách Dùng,công Thức, Cho 3 Ví Dụ Của Mỗi Công Thức 2.
  • Chú Đại Bi Tiếng Phạn (Sanskrit)

    --- Bài mới hơn ---

  • Chú Đại Bi Tự Học Thuộc Lòng ( Giọng Đọc Miền Nam) Dễ Nghe
  • Dj Phạm Thành: ‘tôi Tự Học Chơi Nhạc Qua Sách Báo, Internet’
  • Tôi Không Thể Truy Cập Tài Khoản Hoặc Đặt Lại Mật Khẩu Của Mình!
  • Cuộc Chơi Ngôn Ngữ Của Duolingo
  • Duolingo Plus Apk V4.7.1 Full Unlocked Cho Android
  • MA HA KA RU NA ĐA RA NI

    (phiên âm Phạn – Việt)

    Nam mô rát na tra da da. Na ma a ria va lô ki tê soa ra da, bô đi sát toa da, ma ha sát toa da, ma ha ka ru ni ka da. Om, sa va, ra ba da, su đa na đa siê. Na más, kri toa, i mam, a ria ya va lô ki tê soa ra, ram đa va. Nam mô na ra kin đi, ha ra dê, ma ha va đa sa mê. Sa va, a tha đu, su bam, a jê yam, sa va sát toa, na ma va sát toa. Nam mô va ka, ma ra đa tu.

    Ta đi ya tha: Om, a va lô kê, lô ka tê, ka ra tê, ê hi rê, ma ha bô đi sát toa, sa va sa va, ma la ma la, ma hê ma hi rê đa yam, ku ru ku ru, ka mum, đu ru đu ru, vi ja da tê, ma ha vi ja da tê, đa ra đa ra, đi ri ni, soa ra da, cha la cha la, ma ma, va ma ra, múc tê lê, ê hê ê hê, chin đa chin đa, a ra sam, pra cha li, va sa va sam, pra sa da, hu ru hu ru, ma ra, hu ru hu ru hi ri, sa ra sa ra, si ri si ri, su ru su ru, bô đi da, bô đi da, bô đa da, bô đa da, mai tri da, na ra kin đi.

    Đa si ni na, pa da ma na, soa ha. Sít đa da, soa ha. Ma ha sít đa da, soa ha. Sít đa dô gê, soa ra da, soa ha. Na ra kin đi, soa ha. Ma ra na ra, soa ha. Si ra sam, a mu kha da, soa ha. Sa va, ma ha a sít đa da, soa ha. Chác ra, a sít đa da, soa ha. Pát ma kás ta da, soa ha. Na ra kin đi, va ga ra da, soa ha. Ma va ri, san kha ra da, soa ha.

    Na ma rát na tra da da. Nam mô a ri ya va lô ki tê soa ra da, soa ha.

    Om, sít đa yăn tu, man tra, pa đa da, soa ha.

    ***

    Chú Đại Bi Tiếng Bắc Phạn (Sanskrit)

    o नीलकण्ठ धारनी

    Nīlakaṇṭha Dhāranī

    o नमो रत्नत्रयाय नमह् अर्य अवलोकितेश्वराय

    namo ratnatrayāya namah arya avalokiteśvarāya

    o बोधिसत्त्वाय महासत्वाय महाकारुनिकाय

    bodhisattvāya mahāsatvāya mahākārunikāya

    o ॐ सर्वरभय सुधनदस्ये नमस्क्र्त्वा इमम्

    oṃ sarvarabhaya sudhanadasye namaskrtvā imam

    o आर्यावलोकितेश्वर रंधव नमो नरकिन्दि।

    āryāvalokiteśvara raṃdhava namo narakindi.

    o ह्रिह् महावधसम सर्व अथदु शुभुं अजेयं।

    hrih mahāvadhasama sarva athadu śubhuṃ ajeyaṃ.

    o सर्व सत्य नम वस्त्य नमो वाक मार्ग दातुह्।

    sarva sattva nama, vastya namo vāka, mārga dātuh.

    o तद्यथा ॐ अवलोकि लोचते करते ए ह्रिह्

    tadyathā oṃ avaloki locate karate, e hrih

    o महाबोधिसत्त्व। सर्व सर्व मल मल महिम हृदयम्

    mahābodhisattva. sarva sarva, mala mala, mahima hṛdayam,

    o कुरु कुरु कर्मुं धुरु धुरु विजयते महाविजयते

    kuru kuru karmuṃ, dhuru dhuru vijayate mahāvijayate,

    o धर धर धिरीनिश्वराय चल चल मम विमल मुक्तेले

    dhara dhara dhirīniśvarāya, cala cala, mama vamāra muktele,

    ehi ehi, śina śina, āraṣaṃ pracali viṣa viṣaṃ prāśaya.

    o हुरु हुरु मर हुलु हुलु ह्रिह्

    huru huru mara hulu hulu hrih

    o सर सर सिरि सिरि सुरु सुरु बोधिय बोधिय

    sara sara siri siri suru suru bodhiya bodhiya

    o बोधय बोधय । मैत्रिय नारकिन्दि

    bodhaya bodhaya. maitriya nārakindi

    o धर्षिनिन भयमान स्वाहा सिद्धाय स्वाहा

    dharṣinina bhayamāna svāhā siddhāya svāhā

    o महासिद्धाय् स्वाहा सिद्धयोगेश्वराय स्वाहा

    mahāsiddhāya svāhā siddhayogeśvarāya svāhā

    o नरकिन्दि स्वाहा मारणर स्वाहा

    narakindi svāhā māraṇara svāhā

    o शिर संह मुखाय स्वाहा सर्व महा असिद्धाय स्वाहा

    śira saṃha mukhāya svāhā sarva mahā asiddhāya svāhā

    o चक्र असिद्धाय स्वाहा पद्म हस्त्राय स्वाहा

    cakra asiddhāya svāhā padma kastāya svāhā

    o नारकिन्दि वगलय स्वाहा मवरि शन्खराय स्वाहा

    nārakindi vagaraya svāhā mavari śankharāya svāhā

    o नमः रत्नत्रयाय नमो आर्यवलोकितेश्वराय स्वाहा

    namah ratnatrayāya namo āryavalokiteśvarāya svāhā

    o ॐ सिधयन्तु मन्त्र पदाय स्वाहा

    oṃ sidhayantu mantra padāya svāhā

    Chú Đại Bi tiếng Việt Chú Đại Bi – Thầy Thích Huệ Duyên Tụng Chú Đại Bi – Thầy Thích Trí Thoát Tụng Hướng Dẫn Tụng Chú Đại Bi Tiếng Phạn Hướng Dẫn Trì Tụng Chú Đại Bi Đúng Cách Hướng Dẫn Cách Tụng Trì Chú Đại Bi Ngắn Gọn Nhạc Chú Đại Bi Tiếng Phạn 21 biến Nhạc Chú Đại Bi Tiếng Việt 21 Biến Tổng hợp nhạc Chú Đại Bi (Phạn-Việt)

    Bản Chú Đại Bi tiếng Phạn 84 câu

    1. Namah Ratnatrayaya.

    2. Namo Arya-

    3. VaLokitesvaraya.

    4. Bodhisattvaya

    5. Mahasattvaya.

    6. Mahakaruniakaya.

    7. Om.

    8. Sarva Rabhaye.

    9. Sudhanadasya.

    10. Namo Skrtva i Mom Arya-

    11. Valokitesvara Ramdhava.

    12. Namo Narakindi.

    13. Herimaha Vadhasame.

    14. Sarva Atha. Dusubhum.

    15. Ajeyam.

    16. Sarva Sadha. (Nama vasatva)

    17. Namo Vaga.

    18. Mavadudhu. Tadyatha.

    19. Om. Avaloki.

    20. Lokate.

    21. Karate.

    22. Ehre.

    23. Mahabodhisattva.

    24. Sarva Sarva.

    25. Mala Mala

    26. Mahe Mahredhayam.

    27. Kuru Kuru Karmam.

    28. Dhuru Dhuru Vajayate.

    29. Maha Vajayate.

    30. Dhara Dhara.

    31. Dhirini.

    32. Svaraya.

    33. Cala Cala.

    34. Mamavamara.

    35. Muktele.

    36. Ehe Ehe.

    37. Cinda Cinda.

    38. Arsam Pracali.

    39. Vasa Vasam

    40. Prasaya.

    41. Huru Huru Mara.

    42. Huru Huru Hri.

    43. Sara Sara.

    44. Siri Siri.

    45. Suru Suru.

    46. Bodhiya Bodhiya.

    47. Bodhaya Bodhaya.

    48. Maitriya.

    49. Narakindi.

    50. Dharsinina.

    51. Payamana.

    52. Svaha.

    53. Siddhaya.

    54. Svaha.

    55. Maha Siddhaya.

    56. Svaha.

    57. Siddhayoge

    58. Svaraya.

    59. Svaha.

    60. Narakindi

    61. Svaha.

    62. Maranara.

    63. Svaha.

    64. Sirasam Amukhaya.

    65. Svaha.

    66. Sarva Maha Asiddhaya

    67. Svaha.

    68. Cakra Asiddhaya.

    69. Svaha.

    70. Padmakastaya.

    71. Svaha.

    72. Narakindi Vagaraya.

    73. Svaha

    74. Mavari Samkraya.

    75. Svaha.

    76. Namah Ratnatrayaya.

    77. Namo Arya-

    78. Valokites-

    79. Varaya

    80. Svaha

    81. Om. Siddhyantu

    82. Mantra

    83. Padaya.

    84. Svaha.

    1. Na mô Rát na tra dạ da

    2. Na mô A rị da

    3. A va lô ki tê sa va ra da

    4. Bô đi Sát toa da

    5 -Ma ha Sát toa da

    6. Ma ha ca ru ni ca da

    7. UM !

    8. Sa va la va ti

    9. Súyt đa na tát si-a

    10. Na ma sất cờ rít toa ni manh a rị da

    11. A va lô ki tê sa va ra lanh ta pha

    12. Na mô ni la canh tha

    13. Sất ri ma ha ba ta sa mi

    14. Sạt vách va ta su băn

    15. Át si dum !

    16. Sạt va sát toa na mô ba sát toa

    17. Na mô pha ga

    18. Ma pha tê tu. Tát đi-da tha

    19. OM ! A va lô ca

    20. Lô ca tê

    21. Ca la ti

    22. I Si ri

    23. Ma ha bô đi sát toa

    24. Sa phô sa phô

    25. Ma ra ma ra

    26. Ma si ma si rít đà du

    27. Gu ru gu ru gà ma-in

    28. Đu ru đu ru phạ si da ti

    29. Ma ha Phạ si da ti

    30. Đà ra đà ra

    31. Đi ri ni

    32. Xoa ra da

    33. Já la já la

    34. Mạ mạ Phạ ma ra

    35. Muýt đi li

    36. Ê hy ê hy

    37. Si na si na

    38. A la sin ba la sá ri

    39. Ba sa phạ si-nin

    40. Phạ ra xá da

    41. Hu lu hu lu bờ ra

    42. Hu lu hu lu sít-ri

    43. Sa ra sa ra

    44. Si ri si ri

    45. Su ru su ru

    46. Buýt đà da buýt đà da

    47. Bô đà da bô đà da

    48. Mét tri dê

    49. Ni la canh ta

    50. Tri sa ra na

    51. Pha da ma nê

    52. Soa va ha

    53. Si ta da

    54. Soa va ha

    55. Ma ha Si ta da

    56. Soa va ha

    57. Si ta da dê

    58. Xoa va ra da

    59. Soa va ha

    60. Ni la canh thi

    61. Soa va ha

    62. Bờ-ra ni la

    63. Soa va ha

    64. Sít ri sim ha muýt kha da

    65. Soa va ha

    66. Sạt va ma ha a sít ta da

    67. Soa va ha

    68. Sắt cờ-ra a sít ta da

    69. Soa va ha

    70. Bát-đơ-ma Kê sít ta da

    71. Soa va ha

    72. Ni la canh tê banh ta la da

    73. Soa va ha

    74. Mô phô li săn ca ra da

    75. Soa va ha

    76. Na mô rát na tra dạ da

    77. Na mô a rị da

    78. A va lô ki tê

    79. Sa va ra da

    80. Soa va ha

    81. UM ! Sít đi dăn tu

    82. Manh tra

    83. Ba ta da

    84. Soa va ha.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tự Học 600 Chữ Kanji Căn Bản
  • Phương Pháp Học Tiếng Nhật
  • Phương Pháp Học Chữ Kanji Trong Tiếng Nhật
  • 1.liệt Kê Các Thì Đã Học Trong Môn Tiếng Anh Từ Lớp 6 Đến Lớp 9 Theo Thứ Tự Đã Học Từ Lớp 6 Đến Lớp 9,nêu Cách Dùng,công Thức, Cho 3 Ví Dụ Của Mỗi Công Thức 2.
  • Tổng Hợp Công Thức Các Thì Trong Tiếng Anh
  • Chú Đại Bi 7 Biến 84 Câu Dễ Thuộc, Chữ To Dễ Đọc

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Học Thuộc Lòng Chú Lăng Nghiêm
  • Hướng Dẫn Cách Học Thuộc Lòng Thần Chú Lăng Nghiêm
  • Giảng Giải Chú Lăng Nghiêm
  • Sự Linh Ứng Của Chú Đại Bi
  • Bỏ Túi Bảng Các Thì Trong Tiếng Anh Cực Kỳ Ngắn Gọn Và Dễ Nhớ
  • Chú Đại Bi (hay còn được gọi là Đại Bi Tâm Đà La Ni) là một bài chú cơ bản minh họa công đức nội chứng của Đức Quán Tự Tại Bồ Tát. Bài chú này còn được biết tới với rất nhiều tên gọi khác nhau như: Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni, Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni…

    Theo như kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni thì bài chú này được Bồ Tát Quán Thế Âm đọc trong một cuộc hội kiến của các vị Phật, Bồ Tát, các vị Thần và Vương. Ở khu vực Đông Á, Đại Bi chú được xem là chân ngôn phổ biến cùng với Quán Thế Âm.

    Chú Đại Bi 7 biến 84 câu dễ thuộc tiếng Việt

    Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát ( 3 lần )

    Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni

    1. Nam Mô Hắc Ra Đát Na Đa Ra Dạ Da

    2. Nam Mô A Rị Da

    3. Bà Lô Yết Đế Thước Bát Ra Da

    4. Bồ Đề Tát Đỏa Bà Da

    5. Ma Ha Tát Đỏa Bà Da

    6. Ma Ha Ca Lô Ni Ca Da

    7. Án

    8. Tát Bàn Ra Phạt Duệ

    9. Số Đát Na Đát Tỏa

    10. Nam Mô Tất Kiết Lật Đỏa Y Mông A Rị Da

    11. Bà Lô Yết Đế Thất Phật Ra Lăng Đà Bà

    12. Nam Mô Na Ra Cẩn Trì

    13. Hê Rị Ma Ha Bàn Đa Sa Mế

    14. Tát Bà A Tha Đậu Du Bằng

    15. A Thệ Dựng

    16. Tát Bà Tát Đa (Na Ma Bà Tát Đa) Na Ma Bà Già

    17. Ma Phạt Đạt Đậu

    18. Đát Điệt Tha

    19. Án A Bà Lô Hê

    20. Lô Ca Đế

    21. Ca Ra Đế

    22. Di Hê Rị

    23. Ma Ha Bồ Đề Tát Đỏa

    24. Tát Bà Tát Bà

    25. Ma Ra Ma Ra

    26. Ma Hê Ma Hê Rị Đà Dựng

    27. Cu Lô Cu Lô Yết Mông

    28. Độ Lô Độ Lô Phạt Xà Da Đế

    29. Ma Ha Phạt Xà Da Đế

    30. Đà Ra Đà Ra

    31. Địa Rị Ni

    32. Thất Phật Ra Da

    33. Giá Ra Giá Ra

    34. Mạ Mạ Phạt Ma Ra

    35. Mục Đế Lệ

    36. Y Hê Y Hê

    37. Thất Na Thất Na

    38. A Ra Sâm Phật Ra Xá Lợi

    39. Phạt Sa Phạt Sâm

    40. Phật Ra Xá Da

    41. Hô Lô Hô Lô Ma Ra

    42. Hô Lô Hô Lô Hê Rị

    43. Ta Ra Ta Ra

    44. Tất Rị Tất Rị

    45. Tô Rô Tô Rô

    46. Bồ Đề Dạ Bồ Đề Dạ

    47. Bồ Đà Dạ Bồ Đà Dạ

    48. Di Đế Rị Dạ

    49. Na Ra Cẩn Trì

    50. Địa Rị Sắc Ni Na

    51. Ba Dạ Ma Na

    52. Ta Bà Ha

    53. Tất Đà Dạ

    54. Ta Bà Ha

    55. Ma Ha Tất Đà Dạ

    56. Ta Bà Ha

    57. Tất Đà Du Nghệ

    58. Thất Bàn Ra Dạ

    59. Ta Bà Ha

    60. Na Ra Cẩn Trì

    61. Ta Bà Ha

    62. Ma Ra Na Ra

    63. Ta Bà Ha

    64. Tất Ra Tăng A Mục Khê Da

    65. Ta Bà Ha

    66. Ta Bà Ma Ha A Tất Đà Dạ

    67. Ta Bà Ha

    68. Giả Kiết Ra A Tất Đà Dạ

    69. Ta Bà Ha

    70. Ba Đà Ma Yết Tất Đà Dạ

    71. Ta Bà Ha

    72. Na Ra Cẩn Trì Bàn Dà Ra Dạ

    73. Ta Bà Ha

    74. Ma Bà Lợi Thắng Yết Ra Dạ

    75. Ta Bà Ha

    76. Nam Mô Hắc Ra Đát na Đa Ra Dạ Da

    77. Nam Mô A Rị Da

    78. Bà Lô Yết Đế

    79. Thước Bàn Ra Dạ

    80. Ta Bà Ha

    81. Án Tất Điện Đô

    82. Mạn Đà Ra

    83. Bạt Đà Dạ

    84. Ta Bà Ha

    Lưu ý: Khi Quý vị trì đến biến cuối cùng, hãy lặp lại 3 lần từ câu chú thứ 81 đến 84.

    Kinh Chú Đại Bi tiếng Phạn (Sanskrit)

    Namo ratnatràyàya.

    Namo Aryàvalokites’varàya Bodhisattvaya Mahasattvaya Mahàkarunikàya.

    Om sarva rabhaye sunadhàsya.

    Namo skirtva imam aryàvalotites’vara ramdhava.

    Namo narakindhi hrih mahàvadhasvàme.

    Sarvàrthato subham ajeyam sarvasata. Namo varga mahàdhàtu.

    Tadyathà: om avaloki lokate karate.

    Ehrih mahà bodhisattva sarva sarva mala mala.

    Mahi hrdayam kuru kuru karman.

    Dhuru dhuru vijàyate mahàvijayati.

    Dhara dhara dhirini svaràya.

    Cala cala mama vimala muktir.

    Ehi ehi s’ina s’ina àrsam prasari.

    Basha basham prasàya hulu hulu mara.

    Hulu hulu hrih sara sara siri siri suru suru.

    Bodhiya bodhiya bodhaya bodhaya.

    Maitreya narakindi dhrish nina.

    Bhayamana svaha siddhaya svàhà.

    Maha siddhàya svaha.

    Siddha yoge s’varaya svaha. Nirakindi svàhà.

    Mara nara svaha s’ira Simha mukhàya svaha.

    Sarva maha asiddhaya svaha. Cakràsiddhaya svaha.

    Padma kastàya svaha.

    Nirakindi vagalàya svaha.

    Mavari śankaraya svāhā.

    Namo ratnatràyàya. Namo aryàvalokites’varaya svaha.

    Om siddhyantu mantra pàdàya svàhà.n

    Chú Đại Bi 7 biến MP3

    Nếu có nhu cầu trang bị tai nghe nhạc, loa vi tính…, bạn vui lòng truy cập website chúng tôi để đặt mua hoặc liên hệ với chúng tôi theo số hotline bên dưới:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Tụng Chú Đại Bi Tại Nhà Đúng Nhất
  • Hướng Dẫn Đọc Chú Đại Bi Tiếng Phạn Chuẩn Nguyên Tác
  • Hướng Dẫn Tụng Chú Đại Bi Tiếng Phạn
  • Chú Đại Bi Tiếng Việt Và Tiếng Phạn
  • Khối D Gồm Những Môn Nào? Bí Quyết Ôn Thi Hiệu Quả.
  • Hướng Dẫn Cách Tụng Chú Đại Bi Tại Nhà Đúng Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Chú Đại Bi 7 Biến 84 Câu Dễ Thuộc, Chữ To Dễ Đọc
  • Hướng Dẫn Cách Học Thuộc Lòng Chú Lăng Nghiêm
  • Hướng Dẫn Cách Học Thuộc Lòng Thần Chú Lăng Nghiêm
  • Giảng Giải Chú Lăng Nghiêm
  • Sự Linh Ứng Của Chú Đại Bi
  • Chú đại bi là gì?

    Thần chú Đại Bi được phát xuất từ kim khẩu của Bồ tát Quán Thế Âm. Thường được gọi là thần chú, linh chú. Bởi vì ai tin và thành tâm hành trì thần chú này thì bản thân người ấy đã có đủ Đại bi tâm.

    Thần chú nầy do Bồ tát Quán Thế Âm nói ra và được chư Phật ấn chứng mà gần nhất là đức Thích Ca Như Lai Từ Phụ của chúng ta nghe và đức Thích Ca cũng ấn chứng. Chú Đại Bi có nhiều tên khác nhau như:

    • Quảng đại Viên mãn
    • Vô ngại Đại bi
    • Cứu khổ Đà la ni
    • Diên thọ Đà la ni
    • Mãn nguyện Đà la ni
    • Diệt ác thú Đà la ni
    • Phá ác nghiệp chướng Đà la ni
    • Tối siêu thượng Đà la ni,..

    Căn cứ vào sự ghi chép trong kinh điển (kinh Đại bi tâm Đà La Ni, bản dịch Thích Thiền Tâm), lúc ấy Bồ tát Quán Thế Âm sau khi nghe đức Phật hướng dẫn, Ngài liền phát nguyện trì tụng liên tục bài chú và ngài phát đại nguyện: Cầu cho kiếp sau phổ độ hết thảy chúng sanh đều được an lạc và mong cho Ngài có được ngàn cánh tay, ngàn con mắt để cứu vớt muôn loài.

    Sau khi phát nguyện xong, phút chốc, toàn thân ngài đã đầy đủ cả ngàn tay, ngàn mắt; tất cả mười phương đều chấn động và mưa hoa cúng dường. Chư Phật cũng phóng hào quang rực rỡ, soi khắp đó đây. Từ đó, Thần chú này mới có nhiều danh hiệu như vậy.

    Đức Phật bảo ngài An Nan rằng: Kết quả có được của Bồ tát Quán Thế Âm là do sự phát đại thệ nguyện vì chúng sanh.

    Tác dụng của thần chú đại bi?

    Niệm Kinh, niệm Chú, niệm Phật cũng đều mục đích như nhau để tam nghiệp hằng thanh tịnh. Khi tâm mình thanh tịnh tức tâm bình, tâm bình tạo ra thế giới bình “tướng tự tâm sanh,” mây tan thì trăng tự nhiên hiển bày tỏa sáng.

    Khi chúng ta niệm chú một cách nhất tâm thì sẽ đoạn trừ được phiền não.

    Đây là kinh Chú Đại Bi

    Oai linh thần chú chẳng chi sánh bằng

    Trong kinh có nói rõ rằng

    Ai trì tụng chú toại hằng ước mong

    Ai đang vất vả long đong

    Chí tâm tụng chú thong dong cuộc đời

    Tám mươi bốn vị Phật Trời

    Hoá thân ở tám bốn lời trong kinh

    Không tụng thì chú chẳng linh

    Tụng đi sẽ thấy thật minh vô vàn

    Ngày đêm năm biến tàn tàn

    Lâm chung được đến bến ngàn lạc bang

    Mỗi lần gặp cảnh trái ngang

    Tôi trì tụng chú bình an tới liền

    Bà con ở khắp mọi miền

    Hãy mau tụng chú thấy liền oai linh.!

    Những ai phát nguyện nhất tâm trì tụng thì sẽ được tiêu trừ tội chướng trong đời này và kiếp vị lai. Trong giây phút lâm chung, nếu mình tự niệm hoặc được thiện tín thành tâm hộ niệm thì sẽ được vãng sanh hoặc đến quốc độ mà mình muốn đến. Có đức Phật A Di Đà và chư vị Bồ tát thùy từ tiếp dẫn.

    Tụng chú đại bi vào thời gian nào?

    Hành giả nên tự mình sắp xếp thời khoá biểu thích hợp và cố định cho việc hành thiền tu tập của mình hằng ngày, vào buổi sáng hoặc buổi tối hoặc cả sáng lẫn tối. Đức Phật dạy rằng mỗi người nên hành thiền ngày hai buổi, buổi sáng sớm lúc mới rạng đông và buổi hoàng hôn lúc ngày chuyển qua đêm, còn nữa đêm thì nên thức dậy để đọc kinh.

    Đó là thời khóa biểu lý tưởng cho người tu tập, tuy nhiên nếu ta không có điều kiện thì chọn một thời khóa trong ngày cũng được. Thời gian lựa chọn để thiền định vào buổi sáng hay buổi tối rất quan trọng đối với mỗi cá nhân bởi vì có người chỉ hành thiền kết quả vào buổi sáng hoặc ngược lại.

    Kinh nghiệm cho thấy những người còn sống đời sống thế tục thì hành Thiền vào buổi sáng sớm kết quả hơn, bởi vì buổi tối sau một ngày làm việc, thể xác còn mệt mỏi, tâm hồn lại bị vướng mắc bởi bao nhiêu chuyện lo nghĩ từ chuyện gia đình đến chuyện sở làm … rất khó định tâm.

    Ngoài ra, mỗi cuối tuần nên có một buổi hành lễ chung của những người trong nhóm; đây cũng là dịp để tự sám hối, trao đổi kinh nghiệm tu tập. Việc tu học sẽ tăng tiến nhanh chóng nếu ta có những bạn đồng tu, những thiện trí thức đúng nghĩa.

    Nghi thức tụng chú đại bi đúng cách

    Chuẩn bị trước khi tụng chú:

    Một cách lý tưởng, để đạt được những công năng mà thần chú mang lại, trong thời gian trì tụng, hành giả phải giữ gìn giới hạnh, đặc biệt là sát, đạo, dâm, vọng. Phải kiêng cử rượu thịt, các thứ hành, hẹ, tỏi, cùng các thức ăn hôi hám. Tốt nhất là nên ăn chay.

    Khi bắt đầu tụng chú, trước tiên phải phát tâm từ bi đối với chúng sanh. Nghĩa là quý Phật tử phải thả lỏng tâm, đừng để cơ thể, đầu óc căng thẳng. Nếu quý Phật tử đang có suy nghĩ hận thù, ghét, khó chịu, vui thích, lo lắng, suy nghĩ về ai đó hay điều gì, trước khi tụng chú, cũng phải nên thả lỏng tâm, xả bỏ hết những suy nghĩ trong đầu, để tâm yên tĩnh. Phương pháp thả lỏng tâm rất dễ, quý Phật tử chỉ cần chú ý đến chỗ đang căng thẳng, chỗ đang ghét yêu giận hờn, suy nghĩ trong đầu, thả ra, buông nó ra, thì tự nhiên tâm được thả lỏng.

    Nên tụng chú đại bi trước ban thờ Phật tại gia. Trên bàn thờ tuy không bắt buộc nhưng nên có hoa tươi, trái cây, lư hương để cắm nhang, nước cúng. Nên để đèn sáng mỗi khi hành lễ. Có thể sử dụng chuỗi hạt gỗ để trợ lực khi trì tụng. Nếu gia đình không có ban thờ Phật thì có thể tụng trước ban thờ gia tiên.

    Có rất nhiều cách trì tụng chú đại bi nhưng nhìn chung thì có 3 cách cơ bản:

    • Đọc rõ thành tiếng
    • Đọc thầm trong tâm.

    Mục đích của việc tụng chú là dùng âm thanh của chú, và cách đọc chú làm cho tâm trong sạch, không còn phiền não, không còn suy nghĩ lăng xăng trong đầu, nhờ đó tâm được định tĩnh. Khi tâm được định tĩnh, đây được gọi là giải thoát, nghiệp chướng tiêu trừ. Tùy vào điều kiện và hoàn cảnh lúc bắt đầu trì chú mà quý Phật tử có thể chọn 1 trong 3 cách trên.

    Nghi thức ngồi để tụng chú đại bi:

    Hành giả ngồi xuống theo tư thế kiết già nhưng nếu gặp khó khăn thì có thể ngồi theo cách thức bán già (ngồi xếp bằng, chân phải gác lên chân trái hay ngược lại), lòng bàn tay để ngửa hướng lên trên, bàn tay mặt để lên trên bàn tay trái, hai đầu ngón cái đụng vào nhau. Mắt nên mở hé, nếu nhắm hẳn thì dễ rơi vào trạng thái hôn trầm, nếu mở lớn thì khó định tâm. Điều chỉnh thế ngồi, lắc vai, lay chuyển thân thể chừng 5 lần, sửa xương sống cho ngay, chuẩn bị cho mình một thế ngồi thoải mái.

    Rải ba tiếng chuông.

    Lắng lòng thanh tịnh theo tiếng chuông ngân, hành giả thanh lọc nội tâm, tiêu trừ các tội chướng thân khẩu ý để bắt đầu bước vào nghi thức tụng chú đại bi.

    Trước khi đến bàn Phật phát nguyện tụng thần chú Đại bi, người Phật tử đọc bài:

    Kính lạy Quan Âm chú đại bi Sức nguyện rộng sâu thân tướng đẹp Ngàn mắt quang minh khắp chiếu soi Ngàn tay trang nghiêm khắp nâng đỡ Nơi tâm vô vi khởi lòng bi Trong thể chân thật tuyên lời mật Hay cho đầy đủ những mong cầu Hay khiến dứt trừ nhiều tội nghiệp Thiên long các thánh đều từ hộ Muôn ngàn tam muội đã huân tu Thân thọ trì là quang minh tràng Tâm thọ trì là thần thông tạng Rữa sạch trần lao khơi bể nguyện Mở môn phương tiện đến bồ đề Nay con khen ngợi thệ quy y Nguyện chổ mong cầu được thành tựu Nam mô Hiển Thánh Viên Thông Tầm Thinh Cứu Khổ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)

    Tiếp theo tụng thần chú Đại bi:

    Khi dứt bài thần chú Đại bi, thì niệm:

    Nam mô Hiển Thánh Viên Thông Tầm Thinh Cứu Khổ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần, tiếp tụng bài kinh Bát nhã, niệm Phật, hồi hướng, tự quy y, lui ra khỏi bàn Phật) – Hết.

    Nên niệm chú đại bi bao nhiêu biến?

    Tùy thuộc vào ý định và bổn nguyện tụng bao nhiêu biến chú của mỗi người, việc lựa chọn số lần tụng chú sao cho phù hợp.

    Thường thì thần chú Đại bi được các Phật tử cư gia đến trước bàn thờ Phật tụng từ 3 biến đến 21 biến. Số lần tụng chú không được quá nhiều và cũng không được quá ít. Tụng chú là quá trình điều khiển tâm từ đang loạn động, suy nghĩ lăng xăng trở nên định tĩnh, thư thái dễ chịu.

    Không vừa lái xe, vừa học… vừa niệm chú

    Bồ Tát Quán Thế Âm chỉ yêu cầu chúng ta hai điều mỗi khi trì tụng chú Đại Bi, đó là thành tâm và không mưu cầu những việc bất thiện. Điều này cho phép hành giả có thể trì tụng bất cứ lúc nào mà điều kiện cho phép. Với tâm thành, tâm chúng ta lúc đó sẽ hòa nhập vào lời trì tụng để cùng thể nhập vào pháp giới, mười phương chư Phật. Bởi vì Bồ Tát đã cho chúng ta biết, mỗi lần trì tụng thần chú Đại Bi, thập phương chư Phật đều đến chứng minh.

    Nhưng niệm chú là niệm chú, đi xe là đi xe, đó là 2 công việc – vừa niệm chú vừa đi xe là tạp niệm – không có lợi trong việc trì tụng thần chú đại bi. Tốt hơn hết là lái xe thì cứ giữ niệm lái xe tức là chánh niệm – tụng chú thì giữ niệm tụng chú đó là chánh niệm… như thế mới gọi là niệm chú Đại bi.

    Muốn cho các cháu nhỏ niệm chú đại bi: Ngoài giờ trì niệm, đến giờ học thì để cho các cháu học, dạy cho các cháu làm việc theo thời dụng biểu gia đình. Mỗi lần làm một việc, không nên cho cháu làm một lúc hai việc sẽ bị phân tâm, cháu sẽ bị rối mù lên và tâm loạn động, không còn thông minh nữa!

    CON QUỶ NƠI CÂY ME

    Hạnh Đoan lược kể

    Bà Xuân mẹ ông Thanh đã già lắm rồi. Tuổi đại lão đáng lẽ chỉ hưởng nhàn và nghỉ ngơi. Vậy mà cả xóm xôn xao khi hay tin bà Xuân bị quỷ nhập: Con quỷ này cực kỳ hung dữ, mỗi lần nó nhập vào luôn cử động mạnh khỏe và chuyên môn đòi ăn gà.

    Ông Thanh năn nỉ quỷ: Má tui già yếu lắm, không chịu nổi bị nhập hành hạ như vậy đâu, làm ơn xuất ra đi.

    Con quỷ cười hô hố: Làm gà cho ta ăn rồi ta xuất.

    Cực chẳng đã ông Thanh đành bảo vợ làm gà. Con quỷ ăn xong thì xuất ra. Nhưng rồi tuần nào nó cũng nhập vào bà Xuân, quậy tưng cả nhà và ồn ào đòi ăn. Nhẫn nhịn hết nổi, ông Thanh phản kháng và cương quyết không làm gà cho quỷ ăn nữa.

    Thế là quỷ tuyên bố:

    – Không chịu làm gà cho ta ăn thì ta sẽ giết chết gà nhà mi!

    Sáng hôm sau, ông Thanh hãi hùng khi chứng kiến bầy gà mình nuôi bị lăn đùng nằm chết la liệt… chỉ còn gà con là được toàn mạng.

    Con quỷ còn nhập vào xác mẹ ông, khoe khoang:

    – Thấy chưa, ta vừa giết chết đám gà của nhà ngươi đấy!

    Chịu hết thấu, ông Thanh đành đi thỉnh một thầy pháp chuyên trị ma. Nghe đồn thầy này rất giỏi. Thầy tới, con quỷ vẫn ngồi trên ván, tỏ vẻ ngông nghênh, ngó thầy nửa mắt, nó cất giọng đàn ông khàn khàn thách thức:

    – Làm gì được ta nào? Ta không sợ trời, không sợ Phật. Trời đánh ta còn không chết, có phép gì giỏi hãy cho ta xem?

    Con quỷ xưng nó là giao liên, bị địch treo lên cây me đầu làng xử bắn, khiến nó bị gãy một chân và chết. Giờ nó thành là quỷ cụt giò, không biết ngán hay sợ bất cứ gì.

    Thầy lập bàn hương án, vẽ bùa, vòng tay đi đường quyền như các đạo sĩ hay diễn cách tập trung năng lực trong phim, rồi thầy hướng về phía con quỷ chưởng một cái… (lúc này mọi người bu xem đông nghịt ngoài cửa) ai cũng thấy tuy thầy chưởng vô hình, nhưng áo bà Xuân lai bị hất tung lên rất mạnh. Con quỷ liếc mắt nhìn chỗ bị chưởng trên thân mình, cười khẩy, rồi tỏ vẻ thản nhiên khinh thường.

    Thầy bèn rút ra một lá bùa, vừa vẽ vừa đọc chú, xong thầy tiến tới đặt trên đầu bà Xuân.

    Mọi người đều thấy khói đen bốc nghi ngút trên đầu bà Xuân, con quỷ hét một tiếng rồi xuất ra, bà Xuân ngã xuống xỉu, hồi lâu tỉnh dậy, bà lộ vẻ yếu lão như thường ngày và hoàn toàn không nhớ gì.

    Thầy bảo gia đình ông Thanh:

    – Con yêu tinh này do là quỷ lâu năm nên hung tợn lắm. Sức tôi không trị nổi hắn. Tạm thời bùa của tôi chỉ có thể trấn áp, cản không cho nó nhập vào bà Xuân khuấy phá trong mười ngày thôi.

    Nhưng qua ngày thứ 11, con quỷ sẽ trở lại và nhập vào tác quái, chừng ấy quý vị hãy đi tới chùa X mà thỉnh chư Tăng đến thu phục nó.

    Nói xong thầy cuốn gói từ giã, nhất quyết từ chối không chịu lấy một xu.

    Đúng như lời thầy phán, sau mười ngày yên ổn thì con quỷ lại nhập vào tiếp. Lần này ông Thanh vội đến chùa X, kể lễ tình cảnh nhà mình và xin Sư trụ trì mở lòng từ bi cứu giùm mẹ ông.

    Khi Sư trụ trì tới, con quỷ vẫn ngồi trên ván ngó Sư nửa mắt tỏ vẻ khinh thường và tuyên bố:

    – Có phép gì giỏi thì bày ra hết đi! Ta đây không ngán ai, dù là trời hay Phật gì ta cũng chả sợ!

    Thầy bèn gọi điện thoại, lịnh cho hai đệ tử mang tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn và tượng Hộ pháp tới.

    Khi hai đệ tử thỉnh tượng tới, cả ba thầy trò cùng lập bàn hương án, trân trọng làm lễ cung thỉnh chư Phật, Bồ tát, hộ pháp xong, thì đồng tụng chú Đại Bi. Mới đầu con quỷ còn tỏ vẻ ngông nghênh, sau đó nó hét lên:

    – Trời ơi, nhức đầu quá! Đừng tụng nữa! Đừng đánh nữa! Tôi sợ rồi!

    Lúc ấy con quỷ tỏ vẻ rất sợ hãi, hai tay nó ôm đầu, không ngừng rên rỉ, van xin thầy đừng tụng nữa.

    Thầy hỏi: Bây giờ có chịu về chùa nghe kinh, tập tu… để siêu thoát không?

    Con quỷ liền nhào tới trước tượng Quan Âm, lễ như giã gạo, mồm rối rít thưa:

    – Con chịu! Con chịu! Con sợ rồi! Con xin theo Sư về chùa tu. Từ nay không dám quậy phá nữa, xin hãy tha cho con! Xin đừng tụng nữa!

    Vừa nói nó vừa lạy tượng Quan Âm không ngừng.

    Thế là con quỷ ngoan ngoãn theo quý thầy về chùa tu. Từ đó nhà ông Thanh được yên, cảnh quấy phá không còn xảy ra nữa.

    (Kể theo tâm sự độc giả và lời thuật của My Su. Chuyện có thật nhưng tên các nhân vật đã tạm đổi và địa danh không tiết lộ)

    Hạnh Đoan – Post 19/7/2019

    Tamlinh.org (tổng hợp)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Đọc Chú Đại Bi Tiếng Phạn Chuẩn Nguyên Tác
  • Hướng Dẫn Tụng Chú Đại Bi Tiếng Phạn
  • Chú Đại Bi Tiếng Việt Và Tiếng Phạn
  • Khối D Gồm Những Môn Nào? Bí Quyết Ôn Thi Hiệu Quả.
  • Thủ Khoa Đh Khối C,d Chia Sẻ Bí Kíp Làm Bài Thi
  • Chú Đại Bi Tiếng Việt Bản Chuẩn

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhạc Chú Đại Bi Tiếng Việt: 84 Câu Dễ Thuộc
  • Các Bước Tụng Chú Đại Bi Ngắn Gọn, Dễ Nhớ
  • Chú Đại Bi Tiếng Việt Có Video Hướng Dẫn Cụ Thể
  • Cách Giúp Bạn Thuộc Làu Những Môn Xã Hội “khó Nuốt”
  • Mách Teen 2K1 Cách Học Thuộc Lòng Nhanh Siêu Tốc Các Môn Xã Hội
  • Nam-mô Đại-bi Hội-Thượng Phật Bồ-tát (3 lần).

    Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại-bi tâm đà-la-ni.

    Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.

    Nam mô a rị da bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.

    Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da, bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà.

    Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô, kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.

    Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.

    Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.

    Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ ta bà ha. (3 lần khi trì biến cuối cùng)

    Học chú Đại Bi qua hình ảnh

    Học Chú Đại Bi qua bài nhạc:

    Cắt nghĩa các phần trong chú Đại Bi ?

    Trong tất cả Kinh điển và Mật Chú của Phật giáo đều chia làm hai phần: Phần hiển (Phần Kinh) và Phần mật (phần câu Chú).

    • Phần hiển: Là hiển bày ra ý nghĩa và chân lý trong Kinh để hành giả tụng niệm, hoặc nghiên cứu theo đó áp dụng tu tập, thì gọi là: “Tụng Kinh minh Phật chi lý,” để hiểu biết công năng của câu kinh và câu chú gọi là phần hiển. Ví dụ: Kinh Bát Nhã phần hiển từ “Quán tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã cho đếncâu…..Cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết”: phần mật là phần câu chú: “Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha”. Kinh Lăng Nghiêm: phần tựa là từ “Diệu Trạm Tổng….cho đến hết lời tựa là phần hiển còn phần mật là 5 đệ Lăng Nghiêm. Phần hiển: Chú Đại Bi “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi” câu Kinh này là phần hiển giải thích công năng và diệu dụng của 84 câu Chú ở sau, để giúp hành giả hiểu mà hành trì cho đúng mới có hiệu nghiệm.
    • Còn phần mật của Chú Đại Bi là phần “câu Chú” từ câu chú “tâm đà la ni cho đến câu 84. Ta bà ha” phần câu Chú là phần ẩn nghĩa chỉ là phạn ngữ chỉ có chư Phật mới thấu hiểu còn hàng phàm phukhông hiểu ý nghĩa, chỉ biết công năng và lợi ích để hành trì.

    1. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da

    Giảng giải chi tiết 10 câu thần chú Đại Bi:

    Hàng ngày chúng ta vẫn thường tụng Nam mô A – di – đà Phật. Nam mô Bổn sư Thích – ca Mâu – ni Phật. Nhưng quí vị có biết Nam – mô có nghĩa là gì không? Chắc là rất ít người biết được.

    Nói tổng quát. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da có nghĩa là “Xin quy y Tam Bảo vô biên vô tận trong khắp mười phương”. Đó chính là bản thể của Bồ – tát Quán Thế Âm. Quí vị nên khởi tâm Từ Bi mà trì niệm. Mặc dù đó là bản thể của Bồ – tát Quán Thế Âm, nhưng cũng có nghĩa là quy y với toàn thể chư Phật trong mười phương, suốt cả ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Khi quí vị trì niệm thần chú này. Không những chỉ nhắc nhở mình quy y với Tam Bảo thường trụ trong khắp mười phương vô biên vô tận mà còn khiến cho tất cả mọi loài hữu tình khi nghe được thần chú này cũng đều quay về quy y, kính lễ mười phương ba đời thường trụ Tam Bảo.

    Quí vị có biết Tam bảo là gì không? Đó là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Quí vị nên biết rằng, trên thế gian này Phật bảo là cao quý nhất. Cũng thế, Pháp bảo và Tăng bảo là điều cao thượng và quý báu nhất. Không những cao quý ở thế gian mà còn cao quý đối với những cảnh giới xuất thế gian, cho đến đối với cõi trời phi tưởng phi phi tưởng nữa. Không còn có gì cao quý hơn Tam bảo trong Phật pháp nữa. Trong mười pháp giới thì cảnh giới Phật là cao nhất. Thế nên chúng ta cần phải cung kính quy ngưỡng và tín thọ nơi Tam bảo cao quý, phát khởi tín tâm kiên cố và thâm sâu, không một mảy may nghi ngờ.

    Có người sẽ hỏi: Quy y Tam bảo sẽ có lợi ích gì? Tối thiểu nhất là khi quí vị quy y Phật rồi thì đời đời kiếp kiếp không còn đọa vào địa ngục nữa; khi quí vị quy y Pháp rồi thì đời đời kiếp kiếp không còn đọa vào hàng ngạ quỷ (quỷ đói) nữa; khi quí vị quy y Tăng rồi thì quí vị không còn bị đọa làm loài súc sinh nữa. Đây là những đạo lý căn bản của việc quy y Tam bảo.

    Nhưng khi đã quy y rồi, quí vị phải tự nguyện và tinh tấn thực hành các việc lành, tương ứng với lời dạy của đức Phật thì mới xứng đáng gọi là quy y. Nếu quí vị vẫn còn giữ nguyên các tập khí ngày trước như sát sanh, trộm cắp, tà hạnh dâm dục, nói dối, nghiện ngập và làm mọi điều mình thích để thỏa mãn ngũ dục thì quí vị không thể nào tránh khỏi đọa vào 3 đường ác (ngạ quỷ, địa ngục, súc sinh). Bở vì trong Phật pháp không có sự nhân nhượng. Quí vị không thể nói: “Tôi đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng rồi, nên tôi sẽ không bao giờ bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nữa. Vậy nên tôi có quyền làm điều gì tôi muốn…”

    Quí vị phải thay đổi, chuyển hóa mọi tập khí xấu của mình và tích cực thực hành những việc thiện, dứt khoát không bao giờ làm những việc ác nữa. Nếu quí vị còn tiếp tục làm những việc xấu ác, thì quí vị sẽ bị đọa ngay vào địa ngục.

    Đạo Phật không giống như ngoại đạo. Họ tuyên bố rằng: “Quan trọng nhất là niềm tin. Nếu có niềm tin thì dù có làm việc ác, cũng có thể vào được thiên đường. Còn ngược lại, nếu ai thiếu lòng tin, dù có gắng sức làm việc phúc đức, thì cũng sẽ rơi vào hỏa ngục”.

    Nếu quí vị tin vào đức Phật mà vẫn tạo các nghiệp ác thì nhất định quí vị sẽ bị đọa vào địa ngục. Dù quí vị không tin vào đức Phật, mà vẫn gắng sức làm việc phước thiện thì quí vị vẫn được lên thiên đàng. Phật pháp không bao giờ mê hoặc con người bằng cách nói: “Nếu quí vị tin vào đức Phật, thì mọi điều sẽ được như ý.” Ngược lại, nếu quí vị tin vào đức Phật mà vẫn không chịu từ bỏ các việc ác thì quí vị vẫn phải bị đọa vào địa ngục. “Được rồi”. Quí vị lại thắc mắc: “Nếu đã tin Phật rồi mà cũng đọa vào địa ngục như không tin, thì tại sao phải quy y Tam bảo?”

    Chân chính quy y Tam bảo có nghĩa là phải từ bỏ việc ác, quay về đường thiện, sửa đổi mọi lỗi lầm. Như một người được khai sinh lại với tên mới, từ đây chỉ làm thuần túy những việc lành. Không làm những việc xấu ác nữa. Như thế mới đạt được lợi ích thiết thực. Chính vì vậy mà câu chú: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da có nghĩa là: “Quy y Tam bảo vô cùng vô tận trong khắp mười phương”.

    Khi quí vị trì niệm chú này, cũng có thể giúp tiêu trừ được những ách nạn cho quí vị. Lúc gặp tai chướng, quí vị hay thường trì niệm: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da thì tai chướng ấy liền được tiêu trừ. Tai nạn lớn sẽ biến thành tai nạn nhỏ, và nếu gặp tai nạn nhỏ thì cũng sẽ được tiêu sạch. Chú này được gọi là “Tiêu tai pháp”, là một trong năm bộ chú hộ ma.

    Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da: cũng còn được gọi là “Tăng ích pháp”. Nghĩa là từ trước đến nay quí vị đã từng gieo trồng nhiều thiện căn, và vẫn thường trì tụng chú này, thì thiện căn của quí vị sẽ tăng trưởng thêm gấp nhiều lần, lợi lạc không kể xiết. Nên chú này được gọi là “Tăng ích pháp”.

    Tóm lại, trong câu Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da, thì Nam mô có nghĩa là “quy mạng kính đầu”. Hắc ra đát na là “bảo”. Đá ra dạ có nghĩa là “Tam”. Da nghĩa là “Lễ”. Nghĩa toàn câu là: “Xin đem hết thân, tâm, tính mạng của mình quy y và kính lễ Tam Bảo vô tận vô biên trong khắp cả mười phương, suốt cả ba đời”. Chúng ta phải cúi đầu đảnh lễ thường trụ Tam bảo.

    2. Nam mô a rị da

    Vì sao gọi là vô tận vô biên? Vì chư Phật trong thời quá khứ là vô cùng vô tận. Chư Phật trong thời hiện tại là vô cùng vô tận. Chư Phật trong thời vị lai là vô cùng vô tận. Cho nên Tam bảo là vô biên vô tận.

    3. Bà lô yết đế thước bát ra da

    • Nam mô như đã giảng ở trên, nghĩa là “đem hết thân tâm, tánh mạng quy y và kính lễ, học tập chư Phật và chư Bồ – tát”.
    • A rị có nghĩa là “Thánh giả”. Có nghĩa là người xa lìa tất cả các ác pháp. Nên Nam mô A rị da có nghĩa là kính lễ các bậc Thánh giả, người đã xa lìa tất cả các pháp bất thiện.
    • Bà lô yết đế có nghĩa là “quán” trong danh hiệu Quán Thế Âm Bồ – tát. Cũng được dịch là “quang” từ danh hiệu Vairocana (Tỳ – lô – giá – na) nghĩa là Quang Minh Biến Chiếu – hào quang chiếu khắp mọi nơi. Còn được dịch là: “Sở quán sát” nghĩa là cảnh giới được quán chiếu, được quán sát đến.
    • Thước bát ra da có nghĩa là “tự tại”.

    4. Bồ đề tát đỏa bà da

    Ý nghĩa toàn câu là quán chiếu quán sát một cách rộng khắp và tự tại. Đó chính là ý nghĩa của danh hiệu Bồ – tát Quán Tự Tại, Bồ – tát Quán Thế Âm. Có nghĩa là quan sát, lắng nghe âm thanh ở cõi thế gian để cứu độ một cách tự tại.

    5. Ma ha tát đỏa bà ha

    Câu thần chú này là muốn nhắc đến Bồ – tát Bất Không Quyến Sách áp đại binh. Nghĩa là khi quí vị tụng câu thần chú này thì Bồ – tát Bất Không Quyến Sách đem binh tướng của cõi trời đến để hộ trì cho quí vị.

    Ma – ha có 3 nghĩa: Đại: lớn; Đa: nhiều; và Thắng: hoàn hảo.

    Tát – đỏa nghĩa của chữ Tát – đỏa trong câu chú này không giống như nghĩa trong câu trên. Trong câu chú trên, Tát – đỏa có nghĩa là “độ” – vượt qua bờ bên kia. Có nghĩa là giải thoát. Còn trong câu chú này. Tát – đỏa có nghĩa là “Dõng mãnh giả” là người can đảm, không sợ hãi. Cũng có nghĩa là “Tinh tấn giả”, là người tu hành rất siêng năng.

    Bà – Da Hán dịch là “Hướng tha đảnh lễ” nghĩa là: “Con xin đê đầu đảnh lễ các vị đại Bồ – tát, là những người rất dõng mãnh, rất tinh tấn, không bao giờ sợ hãi, và nguyện phát tâm bồ đề trước chư vị Bồ – tát này.”

    6. Ma ha ca lô ni ca da

    Các vị đại Bồ – tát đã tự giác ngộ, giải thoát cho chính mình rồi còn phát nguyện giúp cho vô số chúng sanh khác được giác ngộ và giải thoát như mình.

    7. Án

    Hợp lại, Ma ha ca lô ni ca có nghĩa là “Tâm đại bi”. Da có nghĩa là đảnh lễ, như đã giảng ở trên. Toàn câu chú Ma ha ca lô ni ca da có nghĩa là: “Cúi đầu đảnh lễ thần chú Đại bi tâm Đà – la – ni.”

    Án nghĩa là “Bổn mẫu”, là “Chú mẫu” mẹ của tất cả mọi thần chú; cũng chính là “Phật mẫu” mẹ của tất cả chư Phật. Mẹ của chư Phật có nghĩa là mẹ của nguồn tâm trong mọi loài chúng sinh, vì nguồn tâm của chúng sinh vốn có sẵn mọi trí tuệ, thường xuất sinh các pháp lành, nên gọi là “Bổn mẫu”. Thông qua năng lực của thần chú mà mười pháp muôn được hiển bày.

    • 1. Pháp môn thứ nhất là “Tự”: là đầu nguồn, làm xuất sinh mọi chủng tự.
    • 2. Thứ hai là “Cú”. Trong kinh văn hoặc trong thần chú, “Cú” có nghĩa là một câu.
    • 3. Thứ ba là “Quán”: là quán chiếu, quán sát, vận dụng năng lực quán chiếu mà hành trì.
    • 4. Thứ tư là “Trí”: là trí tuệ, dùng thanh gươm trí tuệ để cắt đứt tất cả phiền não. Trí tuệ tức là pháp môn lưu xuất từ Bát Nhã Ba La Mật, đó là trí tuệ viên mãn nhất. Còn “quán” là lưu xuất từ pháp môn Thiền định Ba La Mật.
    • 5. Thứ năm là “Hành”: nghĩa là tu tập, nương theo giáo pháp mà hành trì.
    • 6. Thứ sáu là “Nguyện”: nghĩa là cần phải phát nguyện, nương theo giáo pháp chân chính mà tu hành.
    • 7. Thứ bảy là “Giáo”: nghĩa là y cứ theo giáo pháp chân chính mà tu hành. Nếu quí vị không nương theo lời dạy của đức Phật mà tu hành, thì dù quí vị có tu hành đến nhiều kiếp như số cát sông Hằng đi nữa thì vẫn không có kết quả gì cả. Cũng như thể nấu cát mà mong thành cơm vậy.
    • Tuy nhiên, để có thể tu tập xứng hợp với giáo lý chân chính của đức Phật thì trước hết, quí vị phải thông hiểu về giáo pháp đó một cách tường tận.
    • 8. Thứ tám là “Lý”: nghĩa là đạo lý. Nếu quí vị có thể nhập được vào Phật pháp vi diệu thì mới có được sự hiểu biết thông đạt về giáo pháp ấy. Nếu quí vị không khế hội được diệu pháp này, thì quí vị chỉ là người tu tập trong sự mù quáng. Dù quí vị có tu hành bao lâu đi nữa, cũng không đạt được sự thành tựu.
    • 9. Thứ chín là “Nhân”: Trong đời này quí vị phải gieo trồng những nhân thù thắng, nhân tốt lành, nhân thanh tịnh, thì quá khứ quí vị sẽ gặt được quả thù thắng, quả vi diệu và quả thanh tịnh.
    • 10. Thứ mười là “Quả”: Quả tương ứng sẽ đạt được sau khi đã gieo trồng nhân. Đó là diệu quả, quả vị giác ngộ tối thượng.

    8. Tát bàn ra phạt duệ

    Như vậy từ chữ án, xuất sinh ra mười pháp môn vi diệu. Nên khi quí vị trì niệm thần Chú Đại Bi, niệm đến chữ án thì tất cả các loài quỷ thần đều chắp tay vô cùng cung kính, không dám tỏ ra khinh suất hoặc lơ là khi nghe hành giả trì tụng thần Chú Đại Bi. Chữ án có một năng lực mạnh mẽ mà đến nỗi khiến cho các loài ác quỷ, ác thần đều phải cung kính chấp trì. Công năng của thần chú thật to lớn, thần lực thật không thể nghĩ bàn.

    • Tát bàn ra, Hán dịch là “tự tại”. Nghĩa là khi quí vị trì tụng thần chú này, thì Tứ đại thiên vương đều đến làm Hộ pháp cho quí vị.
    • Phạt duệ, Hán dịch là Thế tôn, cũng dịch là Thánh tôn.

    9. Số đát na đát tả

    Nguyên câu chú này có nghĩa là Tự tại Thế tôn. Tự tại Thánh tôn, tức là Đức Phật tự tại, ý là xưng tán Phật bảo.

    10. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a lị da

    Cho nên toàn thể câu chú án tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tả là biểu tượng cho Tam bảo. Có nghĩa là chúng ta phải nên ngưỡng nguyện đến sự gia hộ của Tam bảo. Nên khi trì niệm đến câu thần chú này, có nghĩa là thỉnh cầu, ngưỡng nguyện đến lực gia trì của Tam bảo. Đát tả còn có nghĩa là dùng giáo pháp để răn dạy các loài quỷ thần và dùng thần chú để triệu tập quỷ thần đến mà dạy bảo chúng theo tinh thần chánh pháp.

    Xưa nay dường như quí vị luôn luôn Nam mô với một người nào khác chứ chưa bao giờ Nam mô với chính mình. Người tu hành không cần phải đi Nam mô một khách thể nào khác mà phải Nam mô ngay với chính mình.

    • Nam mô có nghĩa là tôi, chính tôi quay trở về quy y với Tam bảo vô cùng vô tận khắp mười phương. Nam mô còn có nghĩa là đem tự ngã của chính mình thể nhập trọn vẹn vào cả pháp giới khắp cả mười phương. Tức là thể nhập vào Tam bảo vô cùng vô tận khắp cả mười phương.
    • Tất kiến lật có nghĩa là “hoàn toàn”. Tức là đem hết toàn tâm, toàn ý để quy y và đảnh lễ Tam bảo.
    • Đỏa y mông có nghĩa là “Ngã”. Đó chính là cái Ngã của Vô Ngã. Nên quí vị phải đem toàn tâm toàn ý đảnh lễ bản ngã của chính mình, nhưng đảnh lễ cái ngã của vô ngã. Như thế có nghĩa là không có mình hay sao? Ví như khi có người đánh quí vị, quí vị không cảm thấy đau; nếu họ mắng chửi, quí vị không thấy khó chịu; nếu họ nhục mạ, quí vị thấy như thể không có việc gì xảy ra. Quí vị không nhất thiết cần phải nhẫn nhục, vì nếu dùng phép nhẫn nhục, là quí vị đã rơi vào “đệ nhị nghĩa” rồi. Trong trường hợp này, quí vị không nhất thiết cần phải “nhẫn”, vì vốn không có một bản ngã để dùng pháp nhân và không có một bản ngã để cho pháp nhẫn ấy tác động tới. Có nghĩa là quí vị phải hành pháp nhẫn trong “vô nhẫn”. Đó gọi là Ngã của vô ngã vậy.
    • A lị da ở trên đã giảng qua, có nghĩa là “Thánh giả”. ở đây tức là phải hết lòng đảnh lễ “cái ngã” ấy của Thánh giả. Vô lượng vô biên chư Bồ Tát, hết thảy Thiên Long bát bộ đều phải đảnh lễ cái ngã trong vô ngã của bậc Thánh giả. Cái ngã ấy bao trùm khắp vô lượng vô biên vũ trụ. Có rất nhiều bậc Thánh giả. Họ là ai? Bài sau chúng tôi sẽ giảng rõ.

    chúng tôi

    Theo kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, bài chú này được Bồ tát Quán Thế Âm đọc trước một cuộc tập họp của các Phật, bồ tát, các thần và vương. Cũng như câu Om Mani Padme Hum rất phổ biến ngày nay, Đại Bi chú là chân ngôn phổ biến cùng với phật Quán Thế Âm ở Đông Á, bài chú này thường được dùng để bảo vệ hoặc để làm thanh tịnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chỉ Trong 1 Nốt Nhạc, Bạn Sẽ Có Cách Học Thuộc Tiếng Anh Nhanh Nhất
  • Cách Đọc Sheet Piano Và Ghi Nhớ Nhanh Nốt Nhạc Cho Người Mới
  • Top 9 Cách Học Thuộc Lòng Nhanh Siêu Tốc Nhớ Lâu Cho Sinh Viên
  • Những Cách Học Thuộc Nhanh Nhất Để Đạt Kết Quả Cao
  • Cách Học Thuộc Nhanh Bảng Công Thức Lượng Giác Bằng Thơ, “thần Chú”
  • Sự Linh Ứng Của Chú Đại Bi

    --- Bài mới hơn ---

  • Bỏ Túi Bảng Các Thì Trong Tiếng Anh Cực Kỳ Ngắn Gọn Và Dễ Nhớ
  • 2 Bí Kíp Học Từ Vựng Tiếng Nhật Nhớ Siêu Lâu
  • 6 Phương Pháp Ghi Nhớ Từ Vựng Tiếng Nhật Hiệu Quả
  • Phương Pháp Học Từ Vựng Tiếng Nhật Nhanh Và Dễ Nhớ Nhất ” Học Tiếng Nhật
  • 6 Cách Học Tiếng Nhật Nhanh Nhớ Được Các Từ Vựng Từ Dễ Đến Khó
  • Sự linh ứng của Chú Đại Bi trong việc cầu sinh con

    Câu chuyện 1: Câu chuyện của bạn Hoatubi:

    Hôm nay, sau một vài lần cân nhắc liệu có nên viết về câu chuyện của gia đình mình hay không, Hoatubi đã quyết định đặt bút viết bài. Câu chuyện Hoatubi muốn chia sẻ với các bạn đó là sự linh ứng của Chú Đại Bi và câu phật hiệu A Di Đà Phật.

    Trước tiên Hoatubi muốn nói một chút về bản thân. Hoatubi năm nay 28 tuổi còn vợ thì ít hơn 2 tuổi, hai vợ chồng lấy nhau hơn một năm mà chưa có con, hai bên nội ngoại đều rất nóng lòng có cháu. Nhiều khi vợ Hoatubi dường như bị trầm uất, Hoatubi cũng chỉ biết động viên cô ấy ăn uống và đừng nghĩ ngợi gì cả, cái gì phải đến thì một lúc nào đó sẽ đến.

    Lại nói thêm, Hoatubi và vợ sức khỏe đều không được tốt, nay đã lấy nhau hơn 1 năm mà chưa có con, Hoatubi hiểu rằng hai vợ chồng phước mỏng, nghiệp dày, chỉ còn cách tu hành giải nghiệp mà thôi.

    Bản thân Hoatubi lúc này đã hành trì Ngũ bộ chú của cư sĩ Triệu Phước đã chừng nửa năm và bắt đầu chuyển sang tu tịnh độ. Mỗi ngày vào thời khóa hành trì buổi tối, Hoatubi thường trì 3 biến Chú Đại Bi sau đó chuyển sang niệm phật 1080 biến (cũng xin nói thêm là Hoatubi không có ban thờ phật, chỉ hành trì trong phòng riêng của hai vợ chồng thôi, Hoatubi phải nói ra điều này để vững tâm các bạn đạo mới phát tâm tu học, đừng e ngại khi gia đình chưa có ban thờ phật).

    Trong kinh điển có đề cập rằng Chú Đại Bi có năng lực không thể nghĩ bàn, nếu hành giả trì một lòng tín tâm thọ trì thì mọi mong ước chi đều được như nguyện, cầu con trai, con gái tất sinh con trai, con gái,…Hoatubi từ khi giác ngộ phật pháp đã nguyện vãng sanh Tây Phương ngay trong kiếp này, nay nghe kinh điển chỉ dạy như vậy, lòng không chút nghi hoặc, phát tín tâm thọ trì. Sau mỗi thời khóa hành trì, Hoatubi đều khấn nguyện Đức Phật mở lượng từ bi, gia hộ cho vợ chồng Hoatubi sớm có con.

    Chừng hơn một tháng sau khi chuyển sang tu tịnh độ, Hoatubi đã khuyên được vợ mình niệm phật. Cô ấy hành trì cũng không thường xuyên, Hoatubi vẫn phải động viên nhắc nhở. Như trên Hoatubi đã nói, biết vợ chồng mình phước mỏng nghiệp dày, hành trì ở nhà chưa thể đủ để giải nghiệp, Hoatubi lại cùng vợ mình lên chùa dâng hương, công đức và làm một số việc thiện khác. Mỗi lần như vậy Hoatubi đều nguyện 2 điều: 1 là cầu xin Đức Phật gia hộ cho vợ chồng Hoatubi luôn giữ được chánh niệm, mạng chung được vãng sanh tây phương; 2 là cầu xin Đức Phật thương xót, ban ân phước cho vợ chồng Hoatubi một đứa con.

    Song song cùng với việc tu hành, làm công đức giải nghiệp, hai vợ chồng Hoatubi vẫn tiếp tục dùng thuốc (trước khi tu học, hai vợ chồng cũng đã uống thuốc nhiều nhưng không có kết quả). Đến chừng khoảng 2-3 tháng sau kể từ khi vợ Hoatubi biết niệm phật, làm công đức cùng với điều trị mà chưa có kết quả gì, cô ấy thực sự chán chường nên không còn uống thuốc nữa (điều này cô ấy giấu, mãi sau Hoatubi mới biết), còn về việc tu hành, Hoatubi vẫn luôn động viên cô ấy một lòng tin tưởng nơi Đức Phật. Hai tuần sau (kể từ ngày dừng uống thuốc) thì cô ấy âm thầm mua que thử và kết quả là hai vạch, lúc này cô ấy vẫn chưa cho Hoatubi biết, đến sáng hôm sau, cô ấy quyết định thử cả 4 que nữa thì cả 4 que cũng đều hai vạch, lúc này cô ấy mới cho Hoatubi biết.

    Hai vợ chồng rộn lên một niềm vui khôn xiết, lòng thầm tạ ơn Đức Phật. Tuy vậy vẫn còn chưa chắc chắn lắm bởi điều này đến quá bất ngờ, đến trong lúc hai vợ chồng rất chán chường, chỉ còn biết ngóng trông nơi ân phước của Đức Phật. Rồi Hoatubi đưa vợ đến nhà thầy thuốc, thầy bắt mạch và xác định có thai nhưng chưa nghe thấy tim thai. Lúc này hai vợ chồng mới chỉ chắc chắn thêm một chút, thầy hẹn vài ngày sau đến kiểm tra lại. Ba ngày sau, thầy bắt mạch và nói đã nghe thấy tim thai. Để kiểm tra một cách chắc chắn, Hoatubi đưa vợ đi siêu âm tại một cơ sở tư nhân nhưng kết quả là chỉ thấy túi ối, chưa có tim thai, một tuần sau đến kiểm tra lại. Quá sốt ruột, 3 ngày sau Hoatubi đưa vợ đến phòng khám tư của một bác sĩ viện Bạch Mai. Thật mừng làm sao khi nghe bác sĩ nói đã có thai trong tử cung, tim thai đã nghe thấy, thai phát triển bình thường. Khi nghe thấy tim con mình đập, Hoatubi thật hạnh phúc vô cùng, khi viết những dòng này lòng vẫn còn vô cùng xúc động.

    Hoatubi cũng xin bày tỏ thêm một vài suy nghĩ của mình: Hoatubi thấy nhiều người đi khắp nơi cầu con, có người thì đi chùa dâng lên Đức Phật đĩa trái cây, bánh kẹo, có người thì có thêm phần công đức cho nhà chùa. Khi về nhà rồi không biết tu hành, làm phước giải nghiệp cho bản thân, con cháu. Thực là một thiếu sót lớn. Nếu chỉ dâng lên Đức Phật đĩa trái cây, công đức một chút cho nhà chùa thì làm sao đủ phước đức để giải được nghiệp, làm sao để mà cầu được con. Nghiệp ác trong nhiều kiếp kể làm sao xiết, giải làm sao hết? Phải là người biết, tin sâu nhân quả, một lòng thành kính, tin tưởng nơi Đức Phật, tự lực tu hành, làm phước, độ tha thì mới có hi vọng lời cầu nguyện được linh ứng.

    Câu chuyện 2: Đây là một câu chuyện hoàn toàn chân thực, sau khi bạn đọc xong, bạn không thể không tin đó là sự thực. Chuyện bắt đầu từ 10 năm trước tức năm 1997, lúc đó tôi đã kết hôn được vài năm, trải qua biết bao gian nan khổ cực mới an cư lạc nghiệp.​

    Tôi bắt đầu lên kế hoạch sinh con, qua vài tháng nhưng không có thai, lúc đó tôi bắt đầu lo lắng. Tôi đi kiểm tra chi tiết tại bệnh viện chuyên khoa, nhưng tất cả đều bình thường! Bác sĩ cũng kê cho tôi một ít thuốc uống, nhưng qua mấy tháng cũng không có kết quả gì. Tôi cũng đi kiểm tra tại bệnh viên chuyên khoa mấy lần, nhưng kết quả vẫn vậy. Bản thân tôi là một nhân viên làm trong bệnh viện, đối với y học cũng có hiểu biết nhất định. Nhưng không tài nào hiểu được vì sao tôi không thể có thai. Điều này làm tôi rất hoang mang lo lắng.

    Qua bạn bè và người thân giới thiệu, tôi chuyển hướng sang phối hợp điều trị Đông Y, thuốc sắc đông y không biết tôi uống bao nhiêu thang nữa. Cứ như vậy lại qua nửa năm, nhưng cũng không có dấu hiệu nào xuất hiện, tôi thực sự thất vọng và buồn chán. Bạn bè và người nhà thấy vậy khuyên tôi đi hỏi Thần linh. Nói ra thật xấu hổ, bản thân vốn là một Phật tử, nhưng cũng chỉ là một phàm phu tục tử, không có gì đặc biệt hơn người khác cả, đứng trước tuyệt vọng, còn cái gì có thể thử được thì đều làm, chỉ mong có được đứa con mà thôi. Trong hơn nửa năm, tôi cả thảy mời thần linh ba lần, cũng dựa theo cách của họ hướng dẫn. Nhưng cũng không có hiệu quả.

    Tây y, Đông Y, Thần linh đều đã thử rồi, đi đi lại lại thấm thoát đã gần hai năm, thực sự số phận an bài, có thì ắt sẽ có, không có thì muốn cũng không được, nhưng tôi thực sự không cam tâm. Trong tình cảnh không còn cách nào khác, tôi quyết định dùng một trong những pháp môn mà tôi tu tập nhiều năm, là pháp môn phổ biến của các Phật tử, đó là trì niệm Chú Đại Bi và danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát.

    Sau khi tắm rửa, mặc quần áo chỉnh tề, dựa theo nghi quỹ sám hối chuẩn bị: hương, hoa, nến, quả, trà, sau đó phát nguyện: đệ tự tên là xyz, cầu xin Quan Thế Âm Bồ Tát từ bi xót thương, ban cho đứa con trai, để tận hiếu đạo, đệ tử nguyện mỗi ngày trì tụng Chú Đại Bi 20 lần, dù mưa dù gió, thời hạn là một năm. Cố gắng giữ Phật quy ngũ giới, hôm nay nguyện hành thọ, hộ trì Phật Pháp (phóng sinh, bố thí, tán trợ Phật pháp và Kinh Thư), không dám vi phạm.

    Tôi phát nguyện từ tháng 9 năm đó, đến cuối năm sau vẫn không có, tôi bắt đầu hoài nghi có phải tôi làm không đúng pháp, hay là mệnh đã ấn định, trong lòng quả thực thất vọng không thể hình dung được. Thật không ngờ vài hôm sau sau tôi cảm thấy cơ thể có dấu hiệu khác thường liền đi khám. Sau khi bác sĩ kiểm tra, kết luận tôi có tin vui. Tôi sung sướng muốn òa khóc, Quán Thế Âm Bồ Tát quả thực linh ứng cho tôi một đứa con trai như ý muốn.

    Một năm sau, tôi lại dựa theo Đại Bi sám hối nghi quỹ trên, cầu xin một đứa con gái, cũng được như sở nguyện.

    Hiện nay con trai tôi đã 7 tuổi, con gái 5 tuổi, hai đứa đều rất đáng yêu. Chính nhờ Quan Thế Âm Bồ Tát, nhờ sự linh ứng của Chú Đại Bi mà tôi có được ngày hôm nay. Hôm nay viết lại chuyện này hoàn thành tâm nguyện và lời hứa với Bồ Tát sẽ mang sự thực này viết lại và kể cho mọi người được biết. Hy vọng có thể giúp được những ai trong hoàn cảnh như tôi tìm được lối thoát cho bản thân mình. Hãy thành tâm, cung kính trì tụng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát và Chú Đại Bi, nhất định sẽ được Ngài cứu giúp!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giảng Giải Chú Lăng Nghiêm
  • Hướng Dẫn Cách Học Thuộc Lòng Thần Chú Lăng Nghiêm
  • Hướng Dẫn Cách Học Thuộc Lòng Chú Lăng Nghiêm
  • Chú Đại Bi 7 Biến 84 Câu Dễ Thuộc, Chữ To Dễ Đọc
  • Hướng Dẫn Cách Tụng Chú Đại Bi Tại Nhà Đúng Nhất
  • Hướng Dẫn Cách Trì Tụng Chú Đại Bi Ngắn Gọn

    --- Bài mới hơn ---

  • Cần Làm Thế Nào Để Tụng Chú Đại Bi Được Linh Nghiệm?
  • Trì Niệm Chú Đại Bi Đúng Cách
  • Cách Học Collocations Hiệu Quả Nhất Giúp Nhớ Lâu
  • Cách Học Collocations Hiệu Quả
  • Collocation: Bí Quyết Dùng Ngôn Từ Tự Nhiên Như Người Bản Xứ
  • Chú Đại Bi là thần chú do Quán Thế Âm Bồ Tát nói tại pháp hội của Phật Thích Ca Mâu Ni. Chú Đại Bi có thể tẩy trừ phiền não và nghiệp chướng của chúng sanh.

    I. Trước hết bạn nên thanh tịnh nơi thân, tắm gội sạch sẽ, mặc quần áo gọn gàng sạch sẽ.Bạn chọn một nơi yên tĩnh, quang đãng, sạch sẽ khiến bạn cảm thấy thoải mãi dễ chịu.

    Bạn có thể đối trước bàn thờ Phật hoặc đối trước ảnh Phật hoặc đối trước tượng Phật… Một bức ảnh bé có hình Đức Phật cũng đủ rồi.

    II. Đảnh lễ tam bảo, Quán Thế Âm Bồ Tát rồi chúng sanh (Quỳ lạy).Con xin cung kính đảnh lễ Chư Phật mười phương (1 lạy).

    Con xin cung kính đảnh lễ Pháp mười phương (1 lạy).

    Con xin cung kính đảnh lễ các vị Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác cùng Tăng sư và các vị theo học đạo Phật (1 lạy).

    Con xin cung kính đảnh lễ tất thảy các vị chúng sanh khác (1 lạy) mong các vị cùng tôi tu tập đoạn trừ hết phiền não, khổ đau mà sớm an lạc tự tại.

    Rồi phát nguyện sau đây:

    Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau biết tất cả pháp.

    Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được mắt trí huệ.

    Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau độ các chúng sanh.

    Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được phương tiện khéo.

    Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau lên thuyền bát nhã.

    Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được qua biển khổ.

    Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau được đạo giới định.

    Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm lên non Niết Bàn.

    Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau về nhà vô vi.

    Nam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm đồng thân pháp tánh.

    Nếu con hướng về nơi non đao, non đao tức thời liền sụp đổ.

    Nếu con hướng về lửa, nước sôi, nước sôi, lửa cháy tự khô tắt.

    Nếu con hướng về cõi địa ngục, địa ngục liền mau tự tiêu diệt.

    Nếu con hướng về loài ngạ quỷ, Ngạ quỷ liền được tự no đủ.

    Nếu con hướng về chúng Tu La, Tu la tâm ác tự điều phục.

    Nếu con hướng về các súc sanh, súc sanh tự được trí huệ lớn.

    Kế đến lại xưng niệm danh hiệu Phật A Di Đà.

    Nam Mô A Di Đà Phật (21 lần).

    Rồi khi tụng Chú Đại Bi thì tâm luôn nghĩ về một điều gì đó:

    Có thể là bệnh tật nơi thân mà hình dung đang được chữa bệnh.

    Có thể là khổ nơi những người thân mà hình dung ra đang đọc tụng ngay họ

    Có thể là khởi lòng thương sót những con vật sắp bị đưa đi giết thịt mà hình dung bên cạnh chúng đọc tụng cho chúng nghe.

    Có thể là khởi lòng thương sót chúng sanh đang đọa đày ở các cõi Địa ngục, Ngã quỷ… mà hình dung với thân trang nghiêm cao lớn với ánh sáng từ bi soi tới thân họ mà đọc tụng Chú Đại Bi để độ thoát họ.

    Có thể thấy cha mẹ, ông bà người thân già yếu mà tụng Chú Đại Bi sống khỏe mạnh, đi nhẹ nhàng.

    Có thể thấy những người thân hay làm những việc bất thiện mà tụng Chú Đại Bi để họ có thể tỉnh ngộ có cơ duyên được học đạo Phật.

    III. Chú Đại Bi

    Nam-mô Đại-bi Hội-Thượng Phật Bồ-tát (3 lần)

    Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại-bi tâm đà-la-ni.

    Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.

    Nam mô a rị da bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.

    Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da, bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà.

    Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô, kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.

    Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.

    Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.

    Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ ta bà ha. (3 lần)

    Nam mô Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật. (3 lần)

    Minh Chính (Tổng Hợp)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Tụng Trì Chú Đại Bi Ngắn Gọn
  • Nữ Thủ Khoa Toàn Quốc Khối D1 Chia Sẻ Bí Quyết Đạt Điểm Cao
  • Kinh Nghiệm Học Của Thủ Khoa Khối A
  • Bí Quyết Học Của Thủ Khoa Khối A Cụm Thanh Hóa Với 29 Điểm
  • Nam Sinh Xứ Thanh Đạt Thủ Khoa Khối A Với Bí Quyết Tự Học
  • Chú Đại Bi Tiếng Việt Và Tiếng Phạn

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Tụng Chú Đại Bi Tiếng Phạn
  • Hướng Dẫn Đọc Chú Đại Bi Tiếng Phạn Chuẩn Nguyên Tác
  • Hướng Dẫn Cách Tụng Chú Đại Bi Tại Nhà Đúng Nhất
  • Chú Đại Bi 7 Biến 84 Câu Dễ Thuộc, Chữ To Dễ Đọc
  • Hướng Dẫn Cách Học Thuộc Lòng Chú Lăng Nghiêm
  • Bài chú đại bi niệm tại nhà

    Chú Đại Bi, hay Đại Bi Tâm Đà La Ni (Maha Karunika citta Dharani), là bài chú căn bản minh họa công đức nội chứng của Đức Quán Tự Tại Bồ Tát (Avalokiteśvara Bodhisatva). Bài chú này còn có các tên gọi là: Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni, Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thanh Cảnh Đà La Ni…

    Câu Om Mani Padme Hum rất phổ biến ngày nay, Đại Bi chú là chân ngôn phổ biến cùng với phật Quán Thế Âm ở Đông Á, bài chú này thường được dùng để bảo vệ hoặc để làm thanh tịnh.

    Chú đại bi được rút ra từ Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni của Phật Quán Thế Âm, gọi tắt là Chú đại bi. Chú đại bi có thảy là 84 câu, 415 chữ.

    Trong tất cả Kinh điển và Mật Chú của Phật giáo đều chia làm hai phần: Phần hiển (phần Kinh) và Phần mật (phần câu Chú).

    Phần hiển: Là hiển bày ra ý nghĩa và chân lý trong Kinh để hành giả tụng niệm, hoặc nghiên cứu theo đó áp dụng tu tập, thì gọi là: ” Tụng Kinh minh Phật chi lý“, để hiểu biết công năng của câu kinh và câu chú gọi là phần hiển.

    Ví dụ: Phần hiển: Chú đại bi ” Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi” câu Kinh này là phần hiển giải thích công năng và diệu dụng của 84 câu Chú ở sau, để giúp hành giả hiểu mà hành trì cho đúng mới có hiệu nghiệm.

    Còn phần mật của Chú đại bi là phần “câu Chú” từ câu chú “tâm đà la ni cho đến câu 84. Ta bà ha” phần câu Chú là phần ẩn nghĩa chỉ là phạn ngữ chỉ có chư Phật mới thấu hiểu còn hàng phàm phu không hiểu ý nghĩa, chỉ biết công năng và lợi ích để hành trì.

    Lợi ích hành trì Chú đại bi

    Ngài Tuyên Hóa dạy rằng: Người trì kinh, chú sẽ được ba nghiệp thanh tịnh, khi ba nghiệp lắng đọng thì trí huệ sinh (nhân định tức huệ) đồng Phật vãng Tây Phương.

    Niệm Kinh Chú mục đích nhiếp phục tam nghiệp hằng thanh tịnh để trừ được ba ác nghiệp thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.

    • Thân nghiệp gồm ba: (Không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm).
    • Khẩu nghiệp có bốn: (Không nói dối, không nói ác khẩu, không nói lưỡi hai chiều, không nói thêu dệt”.
    • Ý nghiệp có ba: Tham, sân, si.

    Như vậy niệm Kinh, niệm Chú, niệm Phật cũng đều mục đích như nhau để tam nghiệp hằng thanh tịnh. Khi tâm mình thanh tịnh tức tâm bình, tâm bình tạo ra thế giới bình “tướng tự tâm sanh,” mây tan thì trăng tự nhiên hiển bày tỏa sáng.

    Khi chúng ta niệm chú một cách nhất tâm thì sẽ đoạn trừ được phiền não.

    Kinh chú của Phật, tất cả mọi người có thể trì, nhưng muốn được lợi lạc trong khi tụng Kinh trì Chú người Phật tử cố gắng giữ tam nghiệp thanh tịnh, giữ giới dứt các điều ác làm các việc lành mới được công đức tốt đẹp.

    Chú đại bi có nhiều cách trì

    Cách thứ nhất: Tụng nhanh, lớn tiếng, đọc rõ ràng, âm thanh trầm hùng, mục đích khỏi buồn ngủ tránh giải đãi, tránh tâm tán loạn. Nhờ âm thanh trầm hùng đó tạo nên sự mầu nhiệm đánh thức tâm Bồ đề của mình và những người xung quanh.

    Cho nên khi tụng Chú đại bi trong đại chúng, bao giờ cái tâm của mình cũng phấn khởi, nghe mầu nhiệm hơn là tụng một mình.

    Cách tụng này dễ dàng cho những người mới hành trì Chú đại bi.

    Phật tử có thể sử dụng nhiều cách để trì Chú đại bi.

    Cách thứ hai: Niệm thầm: Cách niệm này còn gọi là: “Duy niệm” tức là niệm không ra tiếng, ngồi niệm bằng cách tư duy quán tưởng nhớ nghĩ từng câu chú ngay lúc đó, cách niệm này rất khó cho những người mới tập niệm, dễ sinh chán nản, buồn ngủ và giải đãi, tâm dễ tán loạn khó hành trì, cách niệm này dành cho những vị hành trì lâu năm.

    Hai cách niệm trên là còn niệm tướng, còn thấy người niệm và câu Chú đại bi để niệm, cách niệm này gọi là phương tiện niệm, nhờ phương tiện niệm để đạt đến trạng thái tâm vô niệm, là xa lìa tất cả tướng, không trụ vào bất kỳ hình tướng nào để tâm thanh tịnh, thì trí tuệ mới hiển bày.

    Cách thứ ba: Niệm vô niệm niệm đồng nghĩa vô niệm tức là niệm, “vô niệm” có hai ý “vô tướng” và “vô trụ” vì thế Ngài Lục Tổ Huệ Năng nói:

    “Vô tướng là nơi tướng mà lìa tướng Vô niệm là ngay nơi niệm mà lìa niệm Vô Trụ là bản tính của con người”

    Tức là hành giả đừng để tâm mình bị ô nhiễm, không bị phan duyên (ảnh hưởng hay hướng theo, phân tâm) theo “trần cảnh” tức là ngay lúc niệm của mình thường lìa cách cảnh, đừng để tâm mình lay động chạy theo trần cảnh, niệm là niệm bản thể của tâm “Chân Như” đó là chánh niệm.

    Khi niệm cần quán tưởng “kỳ danh” đó là quán tưởng 84 câu Chú đại bi (niệm trong tâm), niệm mãi, niệm hoài đến khi trong óc, rồi trong tâm luôn có niệm, nhưng về cơ thể thì “vô niệm”.

    Khi đầy tâm rồi thì mỗi cử động của Tâm đều là niệm (niệm nhập tâm). Thế là niệm đến chỗ vô niệm: thì bấy giờ đạt đến trạng thái nhất tâm bất loạn. Đó là chánh niệm vậy.

    Như vậy, niệm Chú đại bi là mình luôn luôn nhớ cái tâm đại từ, đại bi của mình là niệm (Phật tính). Niệm ngay trong tứ oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi) đều trong chánh niệm, luôn nghĩ đến Phật.

    Chú đại bi tiếng Việt

    Nhạc niệm Chú đại bi tiếng Việt 84 câu

    Nam-mô Đại-bi Hội-Thượng Phật Bồ-tát (3 lần).

    Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại-bi tâm đà-la-ni.

    Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.

    Nam mô a rị da bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.

    Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da, bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà.

    Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô, kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.

    Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.

    Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.

    Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ ta bà ha. (3 lần khi trì biến cuối cùng)

    Chú đại bi chia theo 84 câu dễ học

    Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)

    Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni

    1. Nam Mô Hắc Ra Đát Na Đa Ra Dạ Da

    2. Nam Mô A Rị Da

    3. Bà Lô Yết Đế Thước Bát Ra Da

    4. Bồ Đề Tát Đỏa Bà Da

    5. Ma Ha Tát Đỏa Bà Da

    6. Ma Ha Ca Lô Ni Ca Da

    7. Án

    8. Tát Bàn Ra Phạt Duệ

    9. Số Đát Na Đát Tỏa

    10. Nam Mô Tất Kiết Lật Đỏa Y Mông A Rị Da

    11. Bà Lô Yết Đế Thất Phật Ra Lăng Đà Bà

    12. Nam Mô Na Ra Cẩn Trì

    13. Hê Rị Ma Ha Bàn Đa Sa Mế

    14. Tát Bà A Tha Đậu Du Bằng

    15. A Thệ Dựng

    16. Tát Bà Tát Đa (Na Ma Bà Tát Đa) Na Ma Bà Già

    17. Ma Phạt Đạt Đậu

    18. Đát Điệt Tha

    19. Án A Bà Lô Hê

    20. Lô Ca Đế

    21. Ca Ra Đế

    22. Di Hê Rị

    23. Ma Ha Bồ Đề Tát Đỏa

    24. Tát Bà Tát Bà

    25. Ma Ra Ma Ra

    26. Ma Hê Ma Hê Rị Đà Dựng

    27. Cu Lô Cu Lô Yết Mông

    28. Độ Lô Độ Lô Phạt Xà Da Đế

    29. Ma Ha Phạt Xà Da Đế

    30. Đà Ra Đà Ra

    31. Địa Rị Ni

    32. Thất Phật Ra Da

    33. Giá Ra Giá Ra

    34. Mạ Mạ Phạt Ma Ra

    35. Mục Đế Lệ

    36. Y Hê Y Hê

    37. Thất Na Thất Na

    38. A Ra Sâm Phật Ra Xá Lợi

    39. Phạt Sa Phạt Sâm

    40. Phật Ra Xá Da

    41. Hô Lô Hô Lô Ma Ra

    42. Hô Lô Hô Lô Hê Rị

    43. Ta Ra Ta Ra

    44. Tất Rị Tất Rị

    45. Tô Rô Tô Rô

    46. Bồ Đề Dạ Bồ Đề Dạ

    47. Bồ Đà Dạ Bồ Đà Dạ

    48. Di Đế Rị Dạ

    49. Na Ra Cẩn Trì

    50. Địa Rị Sắc Ni Na

    51. Ba Dạ Ma Na

    52. Ta Bà Ha

    53. Tất Đà Dạ

    54. Ta Bà Ha

    55. Ma Ha Tất Đà Dạ

    56. Ta Bà Ha

    57. Tất Đà Du Nghệ

    58. Thất Bàn Ra Dạ

    59. Ta Bà Ha

    60. Na Ra Cẩn Trì

    61. Ta Bà Ha

    62. Ma Ra Na Ra

    63. Ta Bà Ha

    64. Tất Ra Tăng A Mục Khê Da

    65. Ta Bà Ha

    66. Ta Bà Ma Ha A Tất Đà Dạ

    67. Ta Bà Ha

    68. Giả Kiết Ra A Tất Đà Dạ

    69. Ta Bà Ha

    70. Ba Đà Ma Yết Tất Đà Dạ

    71. Ta Bà Ha

    72. Na Ra Cẩn Trì Bàn Dà Ra Dạ

    73. Ta Bà Ha

    74. Ma Bà Lợi Thắng Yết Ra Dạ

    75. Ta Bà Ha

    76. Nam Mô Hắc Ra Đát na Đa Ra Dạ Da

    77. Nam Mô A Rị Da

    78. Bà Lô Yết Đế

    79. Thước Bàn Ra Dạ

    80. Ta Bà Ha

    81. Án Tất Điện Đô

    82. Mạn Đà Ra

    83. Bạt Đà Dạ

    84. Ta Bà Ha

    (Lặp lại 3 lần từ câu Chú 81 đến 84 khi quý vị trì biến cuối cùng)

    Chú đại bi tiếng Phạn (Maha Karuna Dharani)

    CHÚ ĐẠI BI – 藏传大悲咒( TIẾNG PHẠN ) 10 biến Namo ratnatràyàya. Namo Aryàvalokites’varàya Bodhisattvaya Mahasattvaya Mahàkarunikàya. Om sarva rabhaye sunadhàsya. Namo skirtva imam aryàvalotites’vara ramdhava. Namo narakindhi hrih mahàvadhasvàme. Sarvàrthato subham ajeyam sarvasata. Namo varga mahàdhàtu. Tadyathà: om avaloki lokate karate. Ehrih mahà bodhisattva sarva sarva mala mala. Mahi hrdayam kuru kuru karman. Dhuru dhuru vijàyate mahàvijayati. Dhara dhara dhirini svaràya. Cala cala mama vimala muktir. Ehi ehi s’ina s’ina àrsam prasari. Basha basham prasàya hulu hulu mara. Hulu hulu hrih sara sara siri siri suru suru. Bodhiya bodhiya bodhaya bodhaya. Maitreya narakindi dhrish nina. Bhayamana svaha siddhaya svàhà. Maha siddhàya svaha. Siddha yoge s’varaya svaha. Nirakindi svàhà. Mara nara svaha s’ira Simha mukhàya svaha. Sarva maha asiddhaya svaha. Cakràsiddhaya svaha. Padma kastàya svaha. Nirakindi vagalàya svaha. Mavari śankaraya svāhā. Namo ratnatràyàya. Namo aryàvalokites’varaya svaha. Om siddhyantu mantra pàdàya svàhà.

    Ý nghĩa những câu Chú Đại Bi

    Mỗi câu trong bài chú tượng trưng với hình ảnh một vị Phật, Bồ Tát, Tôn Giả hoặc Thánh Thần do Đức Quan Âm Bồ Tát hóa thân.

    1) Nam Mô Hắt Ra Đát Na Đa Ra Dạ Da: Bổn thân Quan-Âm Bồ-Tát hóa hiện tướng hành giả cầm chuỗi lễ tụng cầu Bồ-Tát cảm ứng.

    2) Nam Mô A Rị Da: Quan Âm hóa hiện tướng tay bưng Như-Ý Pháp-Luân. Hành giả y giáo phụng hành.

    3) Bà Lô Yết Đế Thước Bát Ra Da: Quan Âm hóa hiện tướng Quán-Tự-Tại trì bát. Hành giả quán tưởng khiến chúng sanh được trường thọ.

    4) Bồ Đề Tát Đỏa Bà Da: Quan Âm hiện thân Bất Không Quyên Sách Bồ Tát tự giác giác tha, phổ độ chúng sanh.

    5) Ma Ha Tát Đỏa Bà Da: Quan Âm hiện tướng tụng chú, theo pháp tu trì, được thiện giải thoát.

    6) Ma Ha Ca Lô Ni Ca Da: Quan Âm hóa hiện tướng Mã-Minh Bồ Tát tự giác giác tha, tự đô tự tha.

    7) Án: Quan Âm hóa hiện tướng các Thần Quỷ Vương chắp tay tụng chú. Chư Phật quán tưởng chữ Án thành chánh giác.

    8) Tát Bàn Ra Phạt Duệ: Quan Âm hóa hiện tướng Tứ Đại Thiên Vương dùng lục độ hoá độ chúng ma.

    9) Số Đát Na Đát Tỏa: Quan Âm hóa hiện tướng Bộ-Lạc Tứ Đại Thiên Vương khiến cải ác theo thiện.

    10) Nam Mô Tất Cát Lật Đỏa Y Mông A Rị Da: Quan Âm hiện tướng Long Thọ Bồ Tát hộ trì người tu hành, hàng phục tất cả ma oán.

    11) Bà Lô Kiết Đế: Quan Âm hiện tướng Phật Viên Mãn báo Thân Lô Xá Na rộng độ vô lượng chúng sanh.

    12) Nam Mô Na Ra Cẩn Trì: Quan Âm hiện tướng Phật Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na gia hộ chúng sanh an lạc.

    13) Hê Rị Ma Ha Bàn Đa Sa Mế: Quan Âm hiện tướng Dương Đầu Thần Vương hộ trì hành giả xa lìa loài ác thú.

    14) Tát Bà A Tha Đậu Du Bằng: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Cam Lộ Vương tay cầm cành dương, tay cầm bình ngọc cam lộ độ chúng sanh.

    15) A Thệ Dựng: Quan Âm hiện tướng Phi Đằng Dạ Xoa Thiên Vương tuần sát bốn phương khuyến thiện ngừng ác.

    16) Tát Bà Tát Đa Na Ma Bà Tát Đa Na Ma Bà Già: Quan Âm hiện tướng Thần Vương Bà Già Bà Đế độ chúng sanh có duyên.

    17) Ma Phạt Đạt Đậu: Quan Âm hiện tướng Quân Tra Lợi Bồ Tát mặt có ba con mắt cảm hóa ác nhơn hướng thiện.

    18) Đát Điệt Tha: Quan Âm hiện tướng A La Hán thuyết pháp độ chúng sanh.

    19) Án A Bà Lô Hê: Quan Âm hiện tướng Quan Âm Bồ Tát từ bi vô lượng cứu khổ ban vui.

    20) Lô Ca Đế: Quan Âm hiện tướng Đại Phạm Thiên Vương ở trong mười phương thế giới độ thoát chúng sanh.

    21) Ca Ra Đế: Quan Âm hiện tướng Đế Thần ở trong mười phương thế giới thường cứu chúng sanh.

    22) Di Hê Rị: Quan Âm hóa hiện tướng Thiên Thần Ma Hê Đầu La thống lãnh thiên binh độ chúng sanh.

    23) Ma Ha Bồ Đề Tát Đỏa: Quan Âm dùng tâm nguyện thanh tịnh, từ bi vô ngã cảm ứng độ người chân thật tu hành.

    24) Tát Bà Tát Bà: Quan Âm hiện thân Bồ Tát Hương Tích điều phục năm phương chúng quỷ theo hầu cứu giúp chúng sanh.

    25) Ma Ra Ma Ra: Quan Âm hiện Bạch Y Bồ Tát tay mặt cầm Như Ý, tay trái dắt đồng tử khiến chúng sanh được trường thọ.

    26) Ma Hê Ma Hê Rị Đà Dựng: Quan Âm hiện tướng Phật A Di Đà khiến chúng sanh khi hết thân nầy đồng sanh Cực Lạc quốc.

    27) Cu Lô Cu Lô Yết Mông: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Không Thân hàng phục vạn ức thiên binh, hóa độ vô lượng chúng sanh.

    28) Độ Lô Độ Lô Phạt Xà Da Đế: Quan Âm hóa thân Bồ Tát Nghiêm Tuấn áp lãnh man binh Khổng Tước Vương hàng phục các ma oán.

    29) Ma Ha Phạt Xà Da Đế: Quan Âm hóa hiện Đại Lực Thiên Tướng tay cầm Bảo Xử hộ trì chúng sanh, tinh tấn tu hành.

    30) Đà La Đà La: Quan Âm hiện tướng trượng phu tu khổ hạnh khiến chúng sanh phá trừ ngã chấp pháp chấp.

    31) Địa Rị Ni: Quan Âm hiện tướng Sư Tử Vương xét nghiệm người tụng chú khiến chúng sanh tiêu trừ tai họa.

    32) Thất Phật Ra Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Thích Lịch tay cầm Kim Xử hàng phục các ma và quyến thuộc của chúng.

    33) Giá Ra Giá Ra: Quan Âm hiện thân Bồ tát Tồi Toái tay cầm Kim Luân hóa độ oán ma điều phục tùng.

    34) Mạ Mạ Phạt Ma Ra: Quan Âm hiện thân Đại Hàng Ma Kim Cang tay cầm Kim Luân hộ trì chúng sanh đắt đại cát tường.

    35) Mục Đế Lệ: Quan Âm hiện tướng chư Phật, Bồ Tát chắp tay lắng lòng nghe tụng thần chú, hành giả phụng trì chứng đắt Phật quả.

    36) Y Hê Y Hê: Quan Âm hiện thân Ma Hê Thủ La Thiên Vương cảm triệu nhơn thiên thuận tùng.

    37) Thất Na Thất Na: Quan Âm hiện thân Ca Na Ma Tướng Thiên Vương, hóa lợi chư Thiên, không gây tai hại nhân gian.

    38) A Ra Sâm Phật Ra Xá Lợi: Quan Âm hiện tướng tay cầm khiên, tay cầm cung tên kính tụng thần chú đắc pháp tự tại.

    39) Phạt Xa Phạt Xâm: Quan Âm hiện thân Kim Khôi Đại Tướng cầm linh thuận thời giáo hóa độ chúng sanh.

    40) Phật Ra Xá Da: Quan Âm hiện tướng Phật A Di Đà, chúng sanh tưởng niệm thì hiện tiền tương lai sẽ thấy Phật.

    41) Hô Lô Hô Lô Ma Ra: Quan Âm Hiện Tướng Bát Bộ Thần Vương chắp tay niệm từ bi hàng phục chúng ma.

    42) Hô Lô Hô Lô Hê Rị: Quan Âm hiện tướng Tứ Tý Tôn Thiên tay bưng Nhật Nguyệt chiếu sáng hóa độ nhơn thiên.

    43) Ta Ra Ta Ra: Quan Âm hóa độ Phổ Đà Sơn hiển linh bất khả tư nghì, có ý nghĩa Ta-Bà khổ như núi non hiểm trở.

    44) Tất Rị Tất Rị: Quan Âm hiện tướng mạo từ bi tay cầm cành dương, tay cầm tịnh bình rưới nước cam lồ cứu khổ độ sanh.

    45) Tô Rô Tô Rô: Quan Âm hóa tướng lá cây rụng, chúng sanh nghe tiếng được bốn lợi ích: quán đảnh, mát thân, tâm vui, đầy đủ.

    46) Bồ Đề Dạ Bồ Đề Dạ: Quan Âm hiện tướng diện mạo từ bi thân cận trẻ con giáo hóa lợi ích chúng sanh.

    47) Bồ Đà Dạ Bồ Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng A Nan tôn giả tay cầm bình bát hóa độ chúng sanh.

    48) Di Đế Rị Dạ: Quan Âm hiện tướng Di Lặc Bồ Tát chỉ dạy chúng sanh tu hạnh đại bi, được chơn giác ngộ an lạc.

    49) Na Ra Cẩn Trì: Quan Âm hiện tướng Địa Tạng Bồ Tát khai ngộ chúng sanh tỉnh giác mê chấp, được thoát khổ ác đạo.

    50) Địa Rị Sắc Ni Na: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Bảo Tràng tay kiết ấn, tay cầm Kim Xoa làm lợi ích chúng sanh.

    51) Ba Dạ Ma Na: Quan Âm hiện tướng Bảo Kim Quang Tràng Bồ Tát cầm Bạt Chiết La Xử lợi ích độ sanh.

    52) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng ba đầu Viên-Tịch Thắng-Nghĩa lợi ích độ sanh.

    53) Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng tôn giả Xá Lợi Phất tay kiết ấn Liêm Thủ thông đạt tất cả pháp.

    54) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Hằng Hà Sa đứng trên đầu rồng, dùng tâm cát tường hóa độ chúng sanh.

    55) Ma Ha Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Phóng-Quang tay cầm tràng phan báu lợi ích độ sanh.

    56) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Mục Kiền Liên tay cầm tích trượng, bình bát dứt trừ tai ương, cứu độ chúng sanh.

    57) Tất Đà Du Nghệ: Quan Âm hiện Tây Phương Cực Lạc, tất cả chư Thiên, Bồ Tát vân tập thính thọ pháp hỷ, hóa độ thập phương nhơn thiên.

    58) Thất Bàn Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng Thiên Nữ Tự Tại Viên Mãn

    59) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả A-Xà-Na hoan hỷ bưng cao bình bát tăng trưởng tâm lợi ích độ sanh.

    60) Na Ra Cẩn Trì: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Sơn Hải Huệ tay cầm kiếm vàng hóa độ thánh-giả Tiểu-thừa.

    61) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Chiên Đà La quảy nón lá vô trụ thắng nghĩa độ hóa chúng sanh.

    62) Ma Ra Na Ra: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Bảo Ấn Vương tay cầm búa vàng Như Ý kiểm nghiệm tâm hạnh chúng sanh.

    63) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Câu Hy La mang giầy cỏ đạp trên sóng nước phát sanh tiếng hải triều cảnh giác tâm chúng sanh.

    64) Tất Ra Tăng A Mục Khê Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Dược Vương tay cầm dược thảo trừ bịnh khổ chúng sanh.

    65) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Viên Mãn Bồ Tát thân mặc y đỏ chấp tay tâm viên mãn an lạc chúng sanh.

    66) Ta Bà Ma Ha A Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Dược Thượng Bồ Tát tay cầm bình ngọc giải trừ tật khổ chúng sanh.

    67) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Xá Lợi Phất tay cầm chơn kinh cứu cánh thắng nghĩa hóa đạo chúng sanh quy Tịnh Độ.

    68) Giả Kiết Ra A Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Thần Hổ gầm, tay cầm búa kiên định tâm hàng phục ma oán.

    69) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng chư Thiên Ma Vương tay cầm Xà Thương hóa đạo chúng sanh giải trừ tâm oán hận.

    70) Ba Đà Ma Yết Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Linh Hương Thiên Bồ Tát bưng lư Như Ý hộ trì chúng sanh.

    71) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Tán Hoa Thiên Bồ Tát tay cầm bảo liên ngàn cánh thành tựu chúng sanh lợi ích an lạc.

    72) Na Ra Cẩn Trì Bàn Già Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng Tôn Giả Phú Lâu Na tay bưng bình bát cứu độ chúng sanh lìa tai nạn.

    73) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Đà La Ni Từ tay bưng trái tươi bố thí độ sanh chân thật tu hành rõ pháp tánh không.

    74) Ma Bà Lợi Thắng Yết Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Tam Ma Thiền Na kiết già trên bánh xe, tay bưng đèn ngọc sáng khắp pháp giới.

    75) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Đại Ca Diếp tay trái cầm chuỗi, tay mặt cầm thiền trượng chỉ dẫn chúng sanh tu hành.

    76) Nam Mô Hắc Ra Đa Ra Dạ Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Hư Không Tạng cầm hoa ngồi trên đá khiến cho chúng sanh kiên định tín tâm dõng mãnh tinh tấn.

    77) Nam Mô A Rị Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Phổ Hiền kiết già thiền tọa trên Hương Tượng khiến chúng sanh viên mãn công hạnh.

    78) Bà Lô Kiết Đế: Quan Âm hóa thân Bồ Tát Văn Thù ngồi trên sư tử tay chỉ hư không khến chúng sanh khai ngộ.

    79) Thước Bàn Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng hoa sen ngàn cánh giải trừ chúng sanh ái sắc trần hư vọng, thấy tự tánh không.

    80) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng buông thõng hai tay giải trừ nhĩ căn phân biệt thanh trần hư vọng, nghe tự tánh không.

    81) Án Tất Điện Đô: Quan Âm hiện tướng mở hai bàn tay đoạn tỳ căn ái nhiễm hương trần, tự giác tánh không.

    82) Mạn Đà Ra: Quan Âm hiện tay Đâu La Miên đoạn trừ căn ái nhiễm vị trần hư vọng, tự giác tánh không.

    83) Bạt Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng tay bưng bát hương giải trừ tham ái chạm xúc, khiến chúng sanh đoạn thân căn xúc trần hư vọng, tự giác tánh không.

    84) Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tay cầm tràng phan giải trừ phân biệt các pháp, khiến chúng sanh đoạn ý căn chấp pháp trần hư vọng, biết tự tánh không.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khối D Gồm Những Môn Nào? Bí Quyết Ôn Thi Hiệu Quả.
  • Thủ Khoa Đh Khối C,d Chia Sẻ Bí Kíp Làm Bài Thi
  • Dậy Từ 4H30 Mỗi Sáng Học Bài, 10X Hà Nội Trở Thành Thủ Khoa Khối D1
  • Bí Quyết Kiếm Điểm Cao Của Thủ Khoa Khối D
  • Vừa Học, Vừa Ôm Em Cho Đỡ Buồn Ngủ, Nữ Sinh Trường Làng Đỗ Thủ Khoa Khối D1 Toàn Quốc Năm 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100