Chữa Viêm Mũi Dị Ứng Bằng Thuốc Tây

--- Bài mới hơn ---

  • 8 Cách Cắt Nhanh Cơn Ngứa Dị Ứng, Mề Đay
  • Cách Điều Trị Dị Ứng Hải Sản Nhanh Chóng Và Đơn Giản
  • Phải Làm Gì Khi Bị Dị Ứng Hải Sản?
  • Kinh Nghiệm Chữa Dị Ứng Hải Sản Nhanh Nhất Tại Nhà
  • 5 Mẹo Chữa Dị Ứng Hải Sản Nhanh Nhất Và Đơn Giản Nhất
  • Hiện nay có rất nhiều cách chữa viêm mũi dị ứng được áp dụng như đông y, bài thuốc dân gian, tây chúng tôi nhiên có thể nói chữa viêm mũi dị ứng bằng thuốc Tây y là phương pháp phổ biến nhất.

    Những Nội Dung Cần Lưu Ý

    Sở dĩ đông đảo người bệnh lựa chọn điều trị viêm mũi dị ứng bằng thuốc tây y do tính tiện lợi. Đặc điểm của bệnh là tái đi tái lại nhiều lần. Bệnh khởi phát trong điều kiện có thay đổi đột ngột về môi trường, thời tiết hoặc giảm miễn dịch… Do đó, người bệnh thường phải mang theo thuốc bên mình. Ưu điểm về sự gọn nhẹ của thuốc Tây phát huy tác dụng.

    Bên cạnh đó việc sử dụng cũng thuận tiện nhẹ nhàng, không cần sắc thuốc hay chế biến thêm.

    So với thuốc đông y hoặc các bài thuốc dân gian, thuốc Tây có thể bảo quản lâu hơn và dễ dàng hơn.

    Đặc biệt, thuốc tây giúp giảm các triệu chứng của viêm mũi dị ứng một cách nhanh chóng hơn đáng kể so với các loại khác.

    Việc chữa viêm mũi dị ứng phụ thuộc vào các triệu chứng và đặc điểm mắc bệnh. Bên cạnh việc dùng thuốc cũng cần kết hợp các yếu tố khác:

    Các dị nguyên thường gặp trong bệnh này là: bụi, khí độc, phấn hoa, phấn cây cỏ,…

    Dị nguyên là điều kiện cần dẫn tới phát bệnh viêm mũi dị ứng. Do đó, về lý thuyết, tránh được dị nguyên là việc cần thiết nhất trong điều trị bệnh. Tuy nhiên, trên thực tế điều này rất khó có thể thực hiện được.

    Hiện nay Tây y cũng chưa có thuốc đặc hiệu điều trị viêm mũi dị ứng. Việc chữa bệnh chủ yếu là nhằm giảm bớt các triệu chứng bệnh gây ra và có tác dụng tạm thời. Bệnh chỉ được khống chế một khoảng thời gian ngắn trong và sau khi dùng thuốc.

    Mục tiêu của việc sử dụng thuốc Tây là giảm tới mức tối thiểu các triệu chứng của bệnh. Và lựa chọn phương pháp điều trị viêm mũi dị ứng tối ưu nhất, ít có tác dụng không mong muốn.

    Các thuốc sử dụng trong điều trị viêm mũi dị ứng rất đa dạng:

      Thuốc uống: gồm các nhóm thuốc kháng histamin; thuốc cường giao cảm gây co mạch; nhóm corticoid; kháng sinh …
      Thuốc dùng tại chỗ: các loại thuốc xịt, thuốc hít hoặc thuốc nhỏ. Dạng này thường là các thuốc nhỏ có tác dụng làm co mạch; các loại corticoid dạng xịt chứa flutiason, hay là thuốc nhỏ mũi nước muối sinh lý.

    Ngoại trừ nước muối sinh lý, các thuốc tác dụng tại chỗ thường có lợi điểm là tác dụng trực tiếp cho hiệu quả nhanh chóng. Tuy nhiên cũng cần chú ý nguy cơ phản ứng phụ, hoặc hiện tượng nhờn thuốc, nghiện thuốc…

    • Thuốc Corticosteroid là nhóm thuốc chứa lượng kháng sinh cao. Do đó, các bác sỹ thường hạn chế sử dụng hoặc dùng ở liều thấp. Nếu lạm dụng những thuốc này có thể gây ra những hậu quả với thận và xương. Thuốc thường chỉ được chỉ định với nhóm viêm mũi dị ứng nặng và mãn tính. Những bệnh nhân này được chỉ định sử dụng liều thấp nhất trong thời gian ngắn (5-7 ngày).
    • Kháng histamine giúp cải thiện các triệu chứng như chảy nước mũi, tắc mũi, khó thở. Trong đó, những thuốc kháng histamine thế hệ 1 có hiệu quả không triệt để, đồng thời có nguy cơ gặp các tác dụng phụ như tiểu buốt, tiểu rắt, buồn ngủ, khô miệng…Thuốc kháng histamine thế hệ 2 có thể khắc phục các nhược điểm kể trên, tuy nhiên lại có nguy cơ gây loạn nhịp tim.
    • Thuốc co mạch thường được sử dụng kèm với các thuốc kháng histamine kể trên. Tác dụng chính là giảm các triệu chứng như sưng, viêm vùng niêm mạc mũi. Do đó, thuốc có tác dụng ức chế tình trạng nhiễm trùng; đồng thời loại bỏ hoặc giảm nhẹ các biểu hiện khó chịu. Tuy nhiên nhóm này thường gây các tác dụng phụ như bồn chồn, chóng mặt, bủn rủn chân tay, buồn nôn…
    • Thuốc nhỏ, rửa mũi Nacl 0,9% (nước muối sinh lý) được khuyên dùng để rửa mũi, giúp giải tỏa dịch nhày trong mũi, thông thoáng đường thở và hạn chế bội nhiễm vi khuẩn.
    • Ngoài ra, trong trường hợp có nhiễm khuẩn, các bác sỹ cũng xem xét chỉ định các kháng sinh phù hợp
    • Thuốc Tây không thể chữa khỏi bệnh mà chỉ làm giảm, mất các triệu chứng.
    • Chỉ có thể khỏi bệnh nếu loại trừ được dị nguyên
    • Nên sử dụng thuốc phòng ngừa hơn là chữa viêm mũi dị ứng khi bệnh khởi phát.
    • Nên gặp bác sỹ chuyên khoa để được khám và tư vấn phác đồ điều trị tốt nhất
    • Sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sỹ, tuyệt đối không tự ý sử dụng các thuốc điều trị viêm mũi dị ứng.
    • Các biện pháp dự phòng hoặc hỗ trợ điều trị cần thực hiện như: giữ ấm khi trời lạnh, tránh các tác nhân dị ứng, làm sạch, thoáng môi trường…

    (Visited 125 times, 1 visits today)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Chữa Dị Ứng Nổi Mề Đay Tại Nhà Nhanh Chóng
  • Dị Ứng Thời Tiết, Dị Ứng Cơ Địa: Triệu Chứng, Cách Chữa Hết Nổi Mẩn Đỏ
  • Hướng Dẫn Cách Xử Lý Khi Bị Dị Ứng Thuốc Tại Nhà
  • Xử Trí Khi Bị Dị Ứng Thuốc
  • Cách Giải Phương Trình Bậc 3 Nhanh Chóng
  • Xử Trí Khi Bị Dị Ứng Thuốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Xử Lý Khi Bị Dị Ứng Thuốc Tại Nhà
  • Dị Ứng Thời Tiết, Dị Ứng Cơ Địa: Triệu Chứng, Cách Chữa Hết Nổi Mẩn Đỏ
  • Cách Chữa Dị Ứng Nổi Mề Đay Tại Nhà Nhanh Chóng
  • Chữa Viêm Mũi Dị Ứng Bằng Thuốc Tây
  • 8 Cách Cắt Nhanh Cơn Ngứa Dị Ứng, Mề Đay
  • Dị ứng thuốc là một biến chứng rất hay gặp trong quá trình điều trị, biểu hiện lâm sàng đa dạng, phong phú với những tổn thương ở da, niêm mạc và cả ở các cơ quan nội tạng. Mọi loại thuốc đều có thể gây ra những phản ứng dị ứng, tuy nhiên dị ứng thuốc tây hay gặp nhất như thuốc kháng sinh, thuốc chống co giật, chống viêm không steroid và các thuốc điều trị gout là những thuốc có tỷ lệ gặp cao nhất gây ra các phản ứng dị ứng.

    1. Dấu hiệu và triệu chứng khi xảy ra dị ứng thuốc

    Các dấu hiệu và triệu chứng dị ứng thuốc kháng sinh thường xảy ra trong vòng một giờ sau khi dùng thuốc, hoặc thậm chí có thể xảy ra vài giờ, vài ngày hoặc vài tuần sau đó.

    Các dấu hiệu và triệu chứng dị ứng thuốc bao gồm:

    • Mề đay. Các loại thuốc đều có thể gây mày đay, hay gặp nhất là kháng sinh, huyết thanh, vắc xin, NSAID… Mày đay thường là biểu hiện hay gặp và ban đầu của phần lớn các trường hợp dị ứng thuốc. Sau khi dùng thuốc vài phút, chậm có thể hàng ngày, người bệnh có cảm giác nóng bừng, râm ran một vài chỗ trên da như côn trùng đốt, sau đó xuất hiện những sẩn phù màu hồng hoặc đỏ đường kính vài milimet đến vài centimet, ranh giới rõ, mật độ chắc, hình tròn hoặc bầu dục, xuất hiện ở nhiều nơi, có thể chỉ khu trú ở đầu, mặt cổ, tứ chi hoặc toàn thân. Ngứa là cảm giác khó chịu nhất, xuất hiện sớm, thường làm người bệnh mất ngủ, càng gãi càng làm sẩn to nhanh hoặc xuất hiện những sẩn phù khác. Đôi khi kèm theo có khó thở, đau bụng, đau khớp, chóng mặt, buồn nôn, sốt cao. Mày đay dễ tái phát trong thời gian ngắn, ban vừa mất đi đã xuất hiện trở lại.
    • Viêm da dị ứng tiếp xúc thường do thuốc và hoá chất gây ra chủ yếu là thuốc bôi và mỹ phẩm. Viêm da dị ứng tiếp xúc thực chất là chàm (eczema), thương tổn cơ bản là mụn nước kèm theo có ngứa và tiến triển qua nhiều giai đoạn. Bệnh thường xảy ra ít giờ sau tiếp xúc với thuốc, biểu hiện ngứa dữ dội, nổi ban đỏ, mụn nước, phù nề ở chỗ tiếp xúc với thuốc.
    • Đỏ toàn thân. Thường gây ra do các thuốc như penicillin, ampicillin, streptomycin, sulfamid, chloramphenicol, tetracyclin, các thuốc an thần, NSAIDs… 4 – Đỏ da toàn thân là tình trạng đỏ da diện rộng trên ≥ 90% diện tích cơ thể hoặc toàn thân như tôm luộc, gồm 2 giai đoạn: đỏ da và bong vẩy trắng. Bệnh xuất hiện 2-3 ngày, trung bình 6-7 ngày, đôi khi 2-3 tuần lễ sau khi dùng thuốc. Người bệnh ngứa khắp người, sốt cao, rối loạn tiêu hoá, nổi ban và tiến triển thành đỏ da toàn thân, trên da có vẩy trắng, kích thước không đều, các kẽ tay kẽ chân nứt chảy nước vàng, đôi khi bội nhiễm có mủ.

    Các triệu chứng khác bao gồm:

    Các dấu hiệu và triệu chứng của sốc phản vệ bao gồm:

    • Co thắt đường thở và cổ họng, gây khó thở
    • Buồn nôn hoặc quặn bụng
    • Nôn hoặc tiêu chảy
    • Bồn chồn, hoảng hốt
    • Mạch nhanh nhỏ khó bắt
    • Hạ huyết áp
    • Mất ý thức

    2. Ai là người dễ bị dị ứng thuốc kháng sinh?

    Mặc dù bất cứ ai cũng có thể có phản ứng dị ứng với thuốc kháng sinh nhưng nếu có một vài yếu tố có thể làm tăng nguy cơ hơn, bao gồm:

    • Tiền sử dị ứng với các chất khác, chẳng hạn như dị ứng thực phẩm hoặc sốt hoa cỏ (tên tiếng Anh là Hay fever)
    • Phản ứng dị ứng với một loại thuốc khác
    • Tiền sử gia đình bị dị ứng thuốc
    • Tăng tiếp xúc với chính loại thuốc kháng sinh gây dị ứng đó, vì dùng liều cao, sử dụng lặp đi lặp lại hoặc sử dụng kéo dài

    3. Làm gì khi bị dị ứng thuốc?

    Gọi ngay 115 khi bạn hoặc người thân sau khi sử dụng thuốc mà có các triệu chứng của dị ứng như:

    • Khó thở hoặc thở khò khè
    • Co thắt trong cổ họng hoặc cảm giác rằng đường thở đang đóng lại
    • Khàn giọng hoặc khó nói
    • Sưng môi, lưỡi hoặc cổ họng
    • Buồn nôn, đau bụng hoặc nôn
    • Nhịp tim nhanh hoặc mạch đập
    • Lo lắng hay chóng mặt
    • Mất ý thức
    • Phát ban và khó thở
    • Các triệu chứng khác của phản ứng dị ứng nghiêm trọng (sốc phản vệ)

    Các bước xử lý tiếp theo bao gồm:

    • Ngưng sử dụng loại thuốc gây dị ứng hoặc nghi ngờ gây dị ứng
    • Tiêm ngay thuốc epinephrine tự động. Chích thuốc epinephrine vào bắp thịt đùi phía ngoài, chích xuyên qua quần áo nếu cần thiết
    • Đặt người bệnh nằm ngửa, đầu thấp, chân cao. Nếu bị buồn nôn hoặc ói, cho người bệnh nằm nghiêng một bên, người bệnh không nên ngồi dậy hoặc đứng lên.
    • Không nên để người bệnh một mình
    • Nếu các triệu chứng của người bệnh không đỡ hơn hoặc bị tệ hơn, tiêm epinephrine lần thứ 2 sau liều thứ nhất 5 phút.
    • Người nhà cần chắc chắn sẽ đưa được người bệnh đến bệnh viện

    4. Điều trị dị ứng thuốc tại bệnh viện

    Một vấn đề cần lưu ý mang tính nguyên tắc là khuyến cáo tuyệt đối không để bệnh nhân tiếp xúc với các loại thuốc điều trị và phòng bệnh đã gây nên hiện tượng dị ứng cho bản thân họ và hạn chế sử dụng các loại thuốc khác. Về điều trị, có thể sử dụng các loại thuốc chống dị ứng kháng histamin anti H1 thế hệ 2 như cetirizin, fexofenadin, astemisol, loratadin…; trường hợp dị ứng thuốc nặng hơn có thể kết hợp với thuốc corticoid như pdnisolon, methylpdnisolon tiêm truyền; đồng thời cũng phối hợp với các thuốc điều trị triệu chứng.

    Trong một số trường hợp nên bù nước và chất điện giải khi có yêu cầu, kể cả thuốc lợi tiểu. Nếu có hiện tượng bội nhiễm có thể sử dụng kháng sinh, nên lựa chọn loại kháng sinh thích hợp và bảo đảm sử dụng hợp lý, an toàn. Để phòng ngừa sốc phản vệ có thể xảy ra, cần xử trí kịp thời các trường hợp bị đỏ da, hội chứng Stevens-Johnson, hội chứng Lyell; việc xử lý can thiệp thực hiện giống như các trường hợp nặng do dị ứng thuốc, chú ý đến công tác hộ lý, hỗ trợ, giúp đỡ.

    Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

    Bài viết tham khảo nguồn: chúng tôi Maiphuongus.net

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Giải Phương Trình Bậc 3 Nhanh Chóng
  • 6 Cách Dễ Dàng Để Chèn Ký Hiệu Delta (Δ) Trong Excel
  • Cách Tính Delta Và Delta Phẩy Phương Trình Bậc 2
  • Cách Giải Dạng Toán Tìm Hai Số Khi Biết Tổng Và Tỉ Của 2 Số Đó
  • Phương Pháp Giải Bài Toán Tổng Tỉ
  • Dấu Hiệu Khi Bị Dị Ứng Thuốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Chăm Sóc Da Sau Khi Bị Dị Ứng Mỹ Phẩm Giúp Lành Nhanh
  • 9 Cách Giảm Ngứa Khi Bị Dị Ứng Cho Hiệu Quả Nhanh Nên Áp Dụng
  • Các Biện Pháp Xử Trí Khi Bị Ngộ Độc Thực Phẩm Tại Nhà
  • Cách Xử Lý Tại Nhà Khi Bị Dị Ứng, Ngộ Độc Dứa
  • Dị Ứng Thức Ăn Nổi Mẩn Ngứa Có Nguy Hiểm Không? Cách Xử Lý
  • Các dấu hiệu dị ứng thuốc biểu hiện rất phong phú và đa dạng trên các cơ quan, tổ chức của cơ thể. Dấu hiệu dị ứng xảy ra được biểu hiện dưới các hình thức nhẹ, trầm trọng và nặng. Có nhiều triệu chứng dị ứng thuốc không có biểu hiện rõ ràng mà người bệnh không thể nào biết như sau khi uống thuốc bị rối loạn tiền đình, suy thận, mất tế bào máu…

    1. Dị ứng thuốc là gì?

    Dị ứng thuốc là trường hợp cơ thể không dung nạp được với thuốc uống, chích, thoa vào cơ thể dẫn đến các biểu hiện phản ứng quá mức, bất thường, có hại cho cơ thể người khi dùng hoặc tiếp xúc với thuốc.

    Dị ứng thuốc không phụ thuộc vào liều lượng nên sẽ xảy ra dị ứng dù thuốc được dùng đúng liều hoặc thậm chí dùng liều rất thấp. Tùy theo cơ địa mà người dùng thuốc có thể bị dị ứng với bất cứ thuốc nào kể cả những thuốc được xem như vitamin B1. Trường hợp dị ứng thuốc nặng, người dùng thuốc bị sốc thuốc gọi là choáng phản vệ có thể dẫn đến tử vong.

    Người dị ứng thuốc thường dị ứng với một số loại thuốc như dị ứng thuốc kháng sinh, vitamin dạng tiêm, dị ứng paracetamol, dị ứng thuốc gây tê, gây ngủ, dãn cơ, một số nội tiết tố,…

    Nguyên nhân dẫn đến dị ứng thuốc là do một chất có sẵn trong cơ thể tên là histamine và các mô dưới dạng liên kết tĩnh điện histamine-héparine không có hoạt tính. Khi có chất lạ vào cơ thể người dễ bị dị ứng thì nối tĩnh điện này bị cắt đứt, phóng thích histamine tạo nên tác dụng dược lực tác động lên hệ tuần hoàn làm:

    • Giãn mạch gây tụt huyết áp
    • Làm tim đập nhanh
    • Gây nhức đầu do bị tăng áp lực nội sọ
    • Làm co thắt khí phế quản gây nghẹt thở
    • Làm co thắt cơ trơn lên hệ tiêu hóa

    Vì thế các thuốc chống dị ứng thường được gọi chung là nhóm kháng histamine. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đã cho thấy có mối liên hệ di truyền giữa cha mẹ và con cái. Nếu cha mẹ bị dị ứng thì xác suất sinh con có 50% bị dị ứng và có liên hệ với cùng một nguyên nhân dị ứng. Ở một số trường hợp là nhân viên y-dược bệnh viện, qua nghiên cứu người ta cũng thấy họ có nguy cơ bị dị ứng thuốc cao gấp 2,5 lần người khác; Việc sử dụng thuốc đã quá thời gian sử dụng khiến chúng không chỉ hết tác dụng mà có thể biến thành chất khác, gây ngộ độc cho người sử dụng.

    Ngoài ra, có quá nhiều loại thuốc được đưa vào thị trường nhưng lại thiếu thông tin hướng dẫn sử dụng an toàn hợp lý và chúng ta chưa quản lý được các nguồn thuốc sản xuất trong nước cũng như nhập khẩu này.

    2. Dấu hiệu dị ứng thuốc

    Nổi mề đay:

    • Nổi mề đay thường là biểu hiện hay gặp và là triệu chứng ban đầu của phần lớn các trường hợp dị ứng thuốc, trong đó có những dị ứng thuốc rất nặng.
    • Tất cả các loại thuốc đều có thể gây nên tình trạng nổi mề đay nhưng đa số là dị ứng thuốc kháng sinh, vắc-xin, huyết thanh, thuốc chống viêm, giảm đau, hạ sốt…
    • Mề đay có thể xuất hiện sau dùng thuốc từ 5-10 phút đến vài ngày tuỳ theo từng loại thuốc gây dị ứng và cơ địa người bệnh. Người bệnh có cảm giác nóng bừng, ngứa, trên da nổi ban cùng sẩn phù này. Trường hợp nặng kèm theo với mề đay có thể đau bụng, đau khớp, chóng mặt, buồn nôn, đau đầu, mệt mỏi, sốt cao…

    Nổi mẩn, ban đỏ:

    • Trên da xuất hiện nổi mẩn hoặc dạng ban sẩn hoặc ban dạng sởi, nhỏ như đầu đinh ghim ở thân mình và có thể liên kết lại với nhau tạo thành mảng, gây ngứa…
    • Ban đỏ có thể xuất hiện sau dùng thuốc khoảng 1 tuần và tồn tại đến một vài tuần.

    Phù Quincke:

    • Phù Quincke là một dạng mề đay khổng lồ với các biểu hiện sưng phù cục bộ dưới da, có thể gây ngứa và đau nhức. Nguyên nhân có thể do dị ứng thuốc kháng sinh, huyết thanh, hạ sốt, chống viêm, giảm đau…
    • Sau khi dùng thuốc, phù Quincke thường xuất hiện ở những vùng da mỏng, môi, cổ, quanh mắt, bụng, các chi, bộ phận sinh dục…
    • Kích thước phù Quincke thường to, có khi bằng bàn tay, nếu ở gần mắt có thể làm mắt híp lại, ở môi làm môi sưng to biến dạng.
    • Màu da phù Quincke bình thường hoặc hồng nhạt, đôi khi phối hợp với mày đay…
    • Phù Quincke biểu hiện ở mặt, thường khiến người mắc sưng to 2 mí mắt, môi và da mặt, kèm theo triệu chứng đau đầu, buồn nôn.
    • Phù Quincke còn biểu hiện ở họng, thanh quản – đây là tình trạng bệnh gây nguy hiểm nhất cho bệnh nhân gây khó thở, ho khan, mặt mất máu và tím tái. Bệnh nghiêm trọng có thể làm co thắt khí quản khiến bệnh nhân bị nghẹt thở, có thể tử vong nếu không được cấp cứu và chữa trị nhanh chóng
    • Phù Quincke đường tiêu hóa còn khiến bệnh nhân tiêu chảy, nôn ói dữ dội.

    Hội chứng hồng ban đa dạng có bọng nước (Hội chứng Stevens – Johnson):

    • Đây là phản ứng dị ứng nặng, nguy hiểm. Hội chứng này có thể xuất hiện sau khi dùng thuốc vài giờ đến nhiều ngày sau đó.
    • Người bệnh thấy mệt mỏi, ngứa khắp người, có cảm giác nóng ran, sốt cao, nổi ban đỏ, nổi các bọng nước trên da, các hốc tự nhiên như mắt, miệng, họng, bộ phận sinh dục dẫn tới viêm loét, hoại tử niêm mạc các hốc này
    • Có thể kèm theo tổn thương gan thận, thể nặng có thể gây tử vong.

    Hội chứng hoại tử tiêu thượng bì nhiễm độc (Hội chứng Lyell):

    • Hội chứng Lyell cũng là một trong những phản ứng dị ứng thuốc nặng, có thể xuất hiện vài giờ đến vài tuần sau khi dùng thuốc.
    • Người bệnh cảm thấy mệt mỏi, mất ngủ, sốt cao, ngứa khắp người, trên da xuất hiện các mảng đỏ, đôi khi có các chấm xuất huyết, vài ngày sau, lớp thượng bì tách khỏi da, khẽ động tới là trợt ra từng mảng
    • Có thể gây viêm gan, thận, tình trạng người bệnh thường rất nặng, nhanh dẫn tới tử vong.

    3. Làm thế nào khi dị ứng thuốc?

    Khi nhận thấy các triệu chứng dị ứng thuốc, người bệnh cần:

    • Ngừng ngay thuốc đang tiêm, uống, bôi, nhỏ mắt, mũi,…
    • Nếu dị ứng nhẹ, dùng các thuốc chống dị ứng,
    • Trường hợp nặng như khó thở, rối loạn tiêu hóa, tức ngực, phát ban khắp người… Thì cần phải nhanh chóng đưa người bệnh đến các trung tâm y tế để được cấp cứu kịp thời.
    • Người bệnh phải ghi nhớ loại thuốc gây ra dị ứng cho cơ thể mình, thông báo cho bác sĩ biết loại thuốc mình đã từng bị dị ứng, để bác sĩ không chỉ định uống thuốc đó nữa, bác sĩ sẽ sử dụng thuốc khác thay thế để chữa trị khi bị bệnh.

    4. Phòng ngừa dị ứng thuốc?

    Tình trạng dị ứng đối với một loại thuốc xảy ra ở những lần sau đều trầm trọng hơn lần trước. Việc dùng thuốc chống dị ứng chỉ mang tính chất tạm thời chứ không giải quyết được căn nguyên dị ứng, do đó, cách tốt nhất không để bị dị ứng và phải dự phòng. Người bệnh cần tuân theo những quy tắc sau:

    • Chỉ nên dùng thuốc điều trị bệnh theo đúng toa chỉ định của bác sĩ và sử dụng thuốc đúng theo sự hướng dẫn của bác sĩ điều trị.
    • Không tự ý mua thuốc để tự điều trị cũng như giới thiệu thuốc điều trị cho người khác vì đơn giản nghĩ rằng họ có bệnh lý giống mình.
    • Khi đã bị dị ứng loại thuốc nào thì tuyệt đối không được dùng loại thuốc đó nữa.
    • Khi đi khám bệnh ở bác sĩ hoặc đến nhà thuốc mua thuốc thì phải thông báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ biết những loại thuốc mà mình đã bị dị ứng trước đây và những loại thuốc hiện đang dùng để được hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý, an toàn.

    Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nên Làm Gì Khi Bị Dị Ứng Thuốc Kháng Sinh ? (Tư Vấn)
  • Dấu Hiệu Và Cách Điều Trị Khi Bị Dị Ứng Thuốc Penicillin
  • Top 10 Loại Thuốc Chữa Dị Ứng Thời Tiết Tốt Nhất Hiện Nay
  • Review Bài Thuốc Tiêu Ban Giải Độc Thang Đặc Trị Mề Đay, Mẩn Ngứa, Dị Ứng
  • Bài Thuốc Tiêu Ban Giải Độc Thang Đặc Trị Mề Đay 10 Người Dùng 9 Người Khỏi
  • Thuốc Và Cách Chữa Trị Dị Ứng Da Tốt Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Bị Dị Ứng Bột Ngọt Phải Làm Sao Để Khắc Phục Tốt Nhất?
  • Dị Ứng Bột Ngọt Dấu Hiệu Và Cách Chữa Trị Tốt Nhất
  • Dấu Hiệu Dị Ứng Bột Ngọt
  • Dị Ứng Bột Ngọt: Triệu Chứng Và Cách Chữa Hiệu Quả
  • Triệu Chứng Dị Ứng Bột Ngọt
  • Với suy nghĩ bệnh dị ứng da là một bệnh nhẹ không mấy nguy hiểm nên khi bị bệnh thói quen tự ý chuẩn đoán mua thuốc về điều trị là không hiếm nữa. Nhiều người còn dự trữ sẵn thuốc để khi phát bệnh hay mẹ mua sẵn thuốc về điều trị dị ứng da cho con em. Sẽ thật là sai lầm khi không biết tới mức độ nguy hiểm, rủi ro tiềm tàng từ việc tự ý dùng thuốc mà ít ai biết tới.

    * Hay trường hợp của Chị Trương Thị H. Lâm Đồng: Chị đã tự ý dùng thuốc trị dị ứng da nhưng gặp phải phản ứng dị ứng với thuốc làm bệnh dị ứng nặng hơn, tụt huyết áp và hôn mê. Nhờ gia đình phát hiện sớm nên chị đã qua khỏi lưỡi hái tử thần.

    Sử dụng thuốc chữa trị dị ứng da như thế nào là đúng?

    Được bác sĩ Bệnh viện Y Dược TP. HCM cố vấn tư vấn rõ về thuốc chữa bệnh dị ứng da an toàn nên một vài thông tin mà người bệnh cần cập nhập tránh gặp phải những rủi ro không mong muốn khi dùng thuốc. Các loại thuốc tây hiện nay đang được bác sĩ chỉ định dùng trị bệnh dị ứng da nhiều như:

    ♦ Thuốc Phenergan Cream: Có tác dụng giảm ngứa, ngứa nổi mẩn sần da, giảm kích ứng da, làm mát da. Thường được chỉ định dùng trong trường hợp bị nổi mề đay mẩn ngứa, côn trùng đốt, bỏng da do cháy nắng.

    ♦ Thuốc Mentol 1%: là thuốc dạng kem có tác dụng giảm đau tại chỗ, giảm kích ứng da.

    ♦ Thuốc Mỡ corticoides: Một số trường hợp bị dị ứng diện rộng gây tổn thương da nặng, nhờ tính chất kháng viêm mạnh, giảm sưng. Tuy nhiên đây là loại thuốc đang được hạn chế sử dụng vì có nhiều tác dụng phụ nguy hiểm như teo da, viêm da nặng, mụn trứng cá… Do đó dùng thuốc còn tùy vào trường hợp mà bác sĩ sẽ cân nhắc chỉ định dùng.

      Điều trị bệnh dị ứng da bằng thuốc uống ( chủ yếu là thuốc kháng histamin )

    Một số thuốc kháng histamin khác như: Citirizine, loratin, dometin, Desloratidin…

    ♥ Lời khuyên bác sĩ khi dùng thuốc:

    • Phối hợp thuốc phù hợp với từng mức độ của bệnh theo hướng dẫn bác sĩ.
    • Tuyệt đối không tự ý dùng thuốc hoặc phối hợp thuốc dẫn tới tương tác thuốc gây hại cho cơ thể người dùng thuốc.
    • Chỉ định thuốc chữa trị ứng da phù hợp với công việc vì thuốc thế hệ 1 thường gây tác dụng phụ là buồn ngủ. Tránh dùng cho trường hợp vận hành máy móc, người cần tỉnh táo.
    • Chuẩn đoán đúng bệnh trước khi dùng thuốc.

    Một số biện pháp khác điều trị dị ứng da hiện nay

    1/ Biện pháp miễn dịch liệu pháp

    Phương pháp miễn dịch liệu pháp dựa trên cơ chế chiết xuất chất gây dị ứng tinh khiết, sau đó được chuyển tiêm ngừa vào cơ thể một thời gian tiêm khoảng 1 vài năm cơ thể sẽ hình thành phản ứng chống lại với tác nhân gây dị ứng da.

    2/ Áp dụng tiêm Epinephrine khẩn cấp

    Trường hợp bị dị ứng da nặng gặp phải các triệu chứng cấp tính như uy hô hấp, tụt huyết áp, phù da các bác sĩ sẽ chỉ định tiêm 1 mũi epinephrine để làm thuyên giảm các triệu chứng nặng. Ngăn ngừa tình trạng sốc phản vệ dẫn tới tử vong. Trường hợp này chỉ sử dụng khi được chuẩn đoán bệnh rõ ràng và tiến hành dựa trên bác sĩ có chuyên môn.

    ◊ Áp dụng cho những trường hợp:

    3/ Tận dụng mẹo dân gian chữa trị dị ứng da

    • Bị dị ứng da dạng nặng
    • Không đáp ứng bằng thuốc trong điều trị

    Dân gian có rất nhiều cách chữa trị dị ứng da tận dụng bằng những nguyên liệu thiên nhiên. Quá lẽ khi nhắc tới khổ qua, bí đao, trà xanh, hoa cúc, mật cá bạn sẽ không cảm thấy xa lạ gì? nên áp dụng cách này tại nhà cũng khá tiện lợi mà mọi người có thể thử:

    ♦ Đã thử cách chữa dị ứng da bằng mướp đắng với mật cá trắm đen chưa?

    Cách chữa dị ứng da từ mướp đắng cùng các vị thuốc tren giúp giải độc, mát gan, giải độc tố cải thiện các triệu chứng của bệnh dị ứng da nhanh. Học thử theo dân gian hay dùng như:

    ♦ Thế còn cách chữa dị ứng da bằng vỏ bí đao thì sao?

    Mẹo này có tác dụng thanh nhiệt, trừ gió phong, cải thiện các triệu chứng dị ứng da khá hay, dân gian thường tận dụng thêm bí đao với một số thảo dược khác để ngăn chặn cơn dị ứng bùng phát như sau:

      1 mật của cá trắm đen, 100g thịt quả mướp đắng, cây cải dầu 30g.
      Cách dùng: Lấy mướp đắng đem sấy khô, tán thành bột mịn, cây cải dầu rửa sạch giã nát. Sau đó bạn trộn bột mướp đắng với dịch mật cá trắm đen và cải dầu với nhau cho thật đều. Dùng 1 phần hỗn hợp đắp lên vùng da bị dị ứng để khoảng 1- 2 giờ thì rửa sạch lại với nước. Phần còn lại cho vào tủ lạnh dùng dần, ngày dùng 2 lần. Liên tục khoảng 3 ngày liên tiếp là các triệu chứng dị ứng thuyên giảm rõ rệt.

    Còn rất nhiều bài thuốc trị dị ứng da khác từ thiên nhiên như: đu đủ, gừng tươi, chè xanh , cam thảo, giấm gạo, táo chua, hoa quế…. Các dùng tương tự như 2 bài thuốc hướng dẫn ở trên. Tuy nhiên việc áp dụng bài thuốc dân gian trị dị ứng da vẫn còn nhiều mặt hạn chế đó là chỉ cho tác dụng trị bệnh tức thời, hiệu quả trị bênh chưa được xác định rõ, phụ thuộc nhiều.

      Cần phối hợp: Lấy khoảng 30g vỏ bí đao, hoa cúc vàng phơi khô 10g, thược dược đỏ 12g, mật ong vừa đủ.
      Cách tận dụng: Rửa sạch các dược liệu trên rồi cho vào nồi, đổ khoảng 1,3 lít nước vào đun sôi khoảng 25 phút. Sau khi đun vừa đủ thì lấy ra, rót vào ly, thêm khỏng 1/2 thìa mật ong vào uống đều đặn mỗi ngày. Bình quân ngày dùng 2 lần. Liên tiếp khoảng 3-4 ngày là khỏi bệnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mối Nguy Hiểm Của Dị Ứng Thuốc & Cách Phòng Tránh
  • Dị Ứng Hải Sản Cần Kiêng Gì Và Nên Làm Gì?
  • Bí Quyết Hay Trị Ngay Dị Ứng Hải Sản
  • Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Cách Xử Lý Khi Bị Dị Ứng Hải Sản
  • Khi Bị Dị Ứng Hải Sản Cần Biết Điều Này
  • Mối Nguy Hiểm Của Dị Ứng Thuốc & Cách Phòng Tránh

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuốc Và Cách Chữa Trị Dị Ứng Da Tốt Nhất
  • Bị Dị Ứng Bột Ngọt Phải Làm Sao Để Khắc Phục Tốt Nhất?
  • Dị Ứng Bột Ngọt Dấu Hiệu Và Cách Chữa Trị Tốt Nhất
  • Dấu Hiệu Dị Ứng Bột Ngọt
  • Dị Ứng Bột Ngọt: Triệu Chứng Và Cách Chữa Hiệu Quả
  • 18-01-2011

    Khi dùng thuốc điều trị bệnh, bao gồm tất cả các loại thuốc tây, thuốc nam, thuốc y học dân tộc, thuốc đông y… tức là ta đưa những “chất lạ” vào cơ thể. Cơ thể ta có thể chấp nhận những “chất lạ” đó với phản ứng bình thường, không ảnh hưởng đến các quá trình sinh học khác của hoạt động sống.

    Nhưng đôi khi, những hóa chất trong các thuốc điều trị lại gây ra các phản ứng quá mẫn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động khác của cơ thể. Đó là tình trạng dị ứng thuốc, có khi chỉ là các triệu chứng nhẹ như ngứa ngáy, nổi mày đay…, nhưng cũng có thể nghiêm trọng như sốc phản vệ, dẫn đến tử vong.

    Dị ứng thuốc được định nghĩa là phản ứng khác thường của cơ thể khi tiếp xúc lần thứ hai hay những lần sau với một loại thuốc mà thành phần của thuốc có tính chất gọi là “gây dị ứng” (dị nguyên). I. Dị ứng thuốc có những đặc điểm gì?

    Nên lưu ý một số đặc điểm của dị ứng thuốc như sau:

    – Dị ứng thuốc không phụ thuộc vào liều lượng nên sẽ xảy ra dị ứng dù thuốc được dùng đúng liều hoặc thậm chí dùng rất ít. Đây là những phản ứng không đoán trước được của hệ miễn dịch. Trường hợp bị dị ứng thuốc thì hệ thống miễn dịch sẽ tạo ra mức độ nhạy thuốc cực lớn, nhất là khi dùng thuốc lần đầu nhưng cũng có trường hợp dùng thuốc lần đầu không bị dị ứng nhưng những lần tiếp theo lại có thể bị dị ứng.

    – Phản ứng dị ứng chỉ xảy ra ở một số ít bệnh nhân được gọi là người dễ dị ứng hoặc người có “cơ địa dị ứng”. Cho nên, có thuốc nhiều người dùng chẳng việc gì nhưng ở người khác thì bị dị ứng, thậm chí dị ứng rất nặng.

    – Trong thuốc, ngoài dược chất còn có tá dược, chất bảo quản, kể cả tạp chất và người dùng thuốc có thể bị dị ứng với bất cứ thành phần nào trong đó.

    – Phản ứng dị ứng sẽ biến mất khi ngưng dùng thuốc.

    Dị ứng thuốc không phải là tác dụng phụ của thuốc. Tất cả các loại thuốc chữa bệnh đều có thể có những tác dụng phụ không mong muốn và những tác dụng phụ đó đều được ghi cụ thể bên ngoài nhãn mác, trong khi đó dị ứng thuốc lại ít xảy ra hơn, chiếm 5-10% các trường hợp điều trị.

    – Dị ứng thuốc cũng không phải là trường hợp tích lũy thuốc do dùng môt số thuốc lâu dài như: thuốc có chứa thủy ngân, vàng, arsen, belladone (cà độc dược), strychnine (mã tiền).

    II. Thuốc nào gây dị ứng?

    Tất cả các thuốc đều có khả năng gây ra phản ứng có hại. Trong số các loại thuốc gây dị ứng, kháng sinh là nhóm thuốc xếp “đầu bảng” chiếm tới hơn 50%. Các thuốc kháng sinh thường gây dị ứng là Penilicilin, Ampicillin, Streptomicine, Sulfonamide. Kế đến là các thuốc điều trị động kinh, thuốc giảm đau, kháng viêm, giảm sốt, vitamin, các thuốc có nguồn gốc từ chất đạm (protein, peptid) như các hormon… Một số thuốc ảnh hưởng trên hệ tim mạch như thuốc tê novocain, lidocain, vitamin C chích, vitamin B1 chích… có thể gây choáng phản vệ. Ngay cả aspirin uống cũng có thể gây choáng phản vệ. Có thuốc dùng nhiều lần trước đó không việc gì nhưng sau lại bị phản ứng.

    – Đặc biệt lưu ý có hiện tượng gói là phản ứng chéo giữa thuốc gây dị ứng với thuốc khác cùng nhóm. Thí dụ, người đã bị dị ứng với kháng sinh amoxicillin thì có thể bị dị ứng với các thuốc khác nằm cùng nhóm beta-lactam (gọi là nhóm penicillin, nhóm cephalosporin). Người đã dị ứng với aspirin cũng có thể bị dị ứng với các thuốc khác nằm trong nhóm thuốc kháng viêm không steroid (NSAID).

    – Dị ứng thuốc do đường uống nhiều nhất (hơn 70%), thường gây ra các hội chứng loại hình dị ứng muộn, tiếp đó là đường tiêm chích (gần 20%). Các loại thuốc nhỏ mắt, nhỏ mũi, bôi ngoài da, tẩy-nhuộm lông,tóc… cũng đều có khả năng gây ra các dị ứng tại chỗ và toàn thân như dùng đường uống, đường tiêm chích.

    – Trong các trường hợp dị ứng với kháng sinh thường xảy ra, đáng lo ngại nhất là Penicillin và nhóm beta-lactam. Đây là kháng sinh đầu được tìm ra và áp dụng vào điều trị và cũng chính Penicillin gây sốc phản vệ do dùng kháng sinh.

    – Sốc phản vệ là tai họa khủng khiếp, là trường hợp nặng nhất của dị ứng thuốc, có thể dẫn đến khó thở, hạ huyết áp, trụy mạch và tử vong có thể xảy ra trong vài phút nếu không cấp cứu đúng và kịp thời. Vì thế có kiến thức về tình trạng dị ứng thuốc và sốc thuốc là điều rất cần thiết cho tất cả mọi người.

    – Thuốc đông y đứng thứ ba trong số các nhóm thuốc gây dị ứng. Đây thực sự là điều rất đáng báo động vì người dân vẫn thường quan niệm không những các thuốc đó lành tính, không độc mà còn mát, bổ và hợp với tạng người Việt. Vì vậy, mọi người cứ “thoải mái” sử dụng mà không cần phải đề phòng”.

    – Theo các chuyên gia y tế, việc lạm dụng, chữa bệnh theo kiểu mách bảo, xem nhẹ tác dụng phụ của thuốc đông y là vấn đề hết sức nguy hiểm. Thực ra, thuốc đông y không đơn giản là lành, mát, bổ như nhiều người lầm tưởng. Thuốc tây, thuốc đông y, thuốc nam, y học dân tộc về bản chất đều như nhau, chỉ khác chăng là phương thức trích ly hoạt chất để sử dụng. Cách sử dụng thuốc đông y là đun để chiết suất ra thuốc với hàm lượng thấp, còn thuốc tây là được “hoá liệu” để tổng hợp tinh chất và hàm lượng cao hơn. Ngoài ra, việc sử dụng thuốc đông y cũng phức tạp hơn thuốc tây vì không những có dược chất chính mà còn rất nhiều chất khác nữa. Thông thường, trong mỗi thang thuốc có hàng chục vị, mà mỗi vị lại có nhiều chất khác nhau mà cho đến giờ, kể cả người bốc thuốc cũng chưa hiểu được hết tác dụng của các vị thuốc. Bên cạnh đó, người sử dụng thuốc đông y cũng có nguy cơ nhiễm độc với các loại hoá chất bảo quản như: lưu huỳnh, phosphor, thuốc chống ẩm, mốc…Tình trạng dị ứng thuốc đông y thường chậm, nhiều bệnh nhân khi đến cơ sở y tế cũng không biết mình bị dị ứng thuốc đông y.

    III. Nguyên nhân dẫn đến dị ứng thuốc.

    1. Tùy theo cơ địa mà người dùng thuốc có thể bị dị ứng với bất cứ thuốc nào kể cả những thuốc bổ, thuốc nam. Ở những người có cơ địa dị ứng, việc dùng thuốc gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy có mối liên hệ di truyền giữa cha mẹ và con cái. Nếu cha mẹ bị dị ứng thì xác suất sinh con có 50% bị dị ứng và có liên hệ với cùng một nguyên nhân dị ứng. Trường hợp cha mẹ không bị dị ứng thì tỉ lệ con mắc bệnh dị ứng chỉ là 10%. Ngoài ra, ở một số trường hợp là nhân viên y-dược bệnh viện, qua nghiên cứu người ta cũng thấy họ có nguy cơ bị dị ứng thuốc cao gấp 2,5 lần người khác.

    – Có người xuất hiện các triệu chứng dị ứng thuốc ngay sau khi uống một vài giờ, nhưng cũng có khi sau một vài ngày, thậm chí hằng tuần. Đáng lưu ý là trong rất nhiều trường hợp thấy bị sốt, ngứa, nổi mày đay, bệnh nhân lại nghĩ rằng mình bị một bệnh khác và dùng thêm vài loại thuốc nữa, càng làm cho tình trạng dị ứng thuốc trầm trọng hơn.

    2. Thuốc đã quá thời gian sử dụng: khi đó, chúng không chỉ hết tác dụng mà có thể biến thành chất khác, gây ngộ độc cho người sử dụng.

    3. Tình trạng tự điều trị và sử dụng thuốc bừa bãi. Không ít trường hợp tự kê đơn cho mình hoặc nhờ người bán thuốc kê đơn.

    – Những người bệnh trước khi uống thuốc cần phải làm thử phản ứng cơ thể với loại thuốc đó như đặt vào lưỡi, hốc mũi (thuốc uống), hoặc thử ngoài da đối với các loại thuốc tiêm, bôi thử một lượng nhỏ thuốc vào da vùng sau tai…

    – Ngoài ra, có quá nhiều loại thuốc được đưa vào thị trường nhưng lại thiếu thông tin hướng dẫn sử dụng an toàn hợp lý và chúng ta chưa quản lý được các nguồn thuốc sản xuất trong nước cũng như nhập khẩu này.

    IV. Vì sao cơ thể bị dị ứng thuốc?

    Histamine là một chất có sẵn trong cơ thể như máu và các mô dưới dạng liên kết tĩnh điện histamine-héparine không có hoạt tính. Khi có chất lạ vào cơ thể người dễ bị dị ứng thì nối tĩnh điện này bị cắt đứt, phóng thích histamine tạo nên tác dụng dược lực tác động lên hệ tuần hoàn làm giãn mạch gây tụt huyết áp, lên tim làm tim đập nhanh, lên não gây nhức đầu do bị tăng áp lực nội sọ, lên hô hấp làm co thắt khí phế quản gây nghẹt thở, lên hệ tiêu hóa làm co thắt cơ trơn… Vì thế các thuốc chống dị ứng thường được gọi chung là nhóm kháng histamine.

    Khi Histamin được phóng thích tự do trong cơ thể, hiện tượng dị ứng xảy ra được biểu hiện dưới các hình thức:

    1. Dị ứng thuốc nhẹ: xuất hiện sớm ngay sau khi dùng thuốc hay trễ hơn sau đó.

    – Mẩn ngứa, phát ban, nổi mề đay tại chỗ hay toàn thân, mắt ngứa, đỏ, tụt huyết áp do mao mạch bị giãn nở.

    – Khó thở, hen suyễn do khí phế quản bị co thắt.

    – Kích thích cơ trơn đường tiêu hóa gây co thắt, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy.

    2. Dị ứng thuốc trầm trọng: xảy ra sau vái giờ hay vài ngày dùng thuốc: Hội chứng Lyell, hội chứng Stevens- Johnson.

    3. Dị ứng thuốc nặng: “sốc” thuốc còn gọi là choáng phản vệ

    – Xảy ra rất nhanh sau khi tiêm hoặc uống thuốc, bệnh nhân khó thở, tím tái, trụy tim mạch. Đây là trường hợp dễ dẫn đến tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

    – Có nhiều triệu chứng dị ứng thuốc không có biểu hiện rõ ràng mà người bệnh không thể nào biết như sau khi uống thuốc bị rối loạn tiền đình, suy thận,mất tế bào máu…

    V. Các nhóm bệnh lý dị ứng thuốc

    Dị ứng thuốc thuộc nhóm bệnh lý quá mẫn, được chia thành 4 nhóm:

    2. Type II: Phản ứng quá mẫn độc tế bào, xảy ra do cơ thể bị kích thích sinh quá nhiều kháng thể (IgM và IgG) dị ứng chống tế bào của chính mình, kết hợp với kháng nguyên (thuốc) tạo ra phức hợp miễn dịch kháng nguyên – kháng thể. Các bệnh phổ biến thuộc nhóm này là tan máu tự nhiên, giảm tiểu cầu tự miễn sau truyền máu, hạ bạch cầu hoặc do thuốc (hội chứng Stevens-Johnson, hội chứng Lyell).

    3. Type III: Nhóm quá mẫn do phức hợp miễn dịch kháng nguyên – kháng thể lắng đọng ở thành mạch máu nhỏ gây viêm mao mạch, kết dính tiểu cầu gây tắc nghẽn, thiếu máu, hoại tử các mô. Kháng thể là IgG, IgM. Bệnh thường xảy ra 5-7 ngày sau khi dùng thuốc, gặp trong bệnh huyết thanh, viêm mao mạch do thuốc với các biểu hiện viêm mao mạch, mề đay, viêm khớp, viêm thận, thiếu máu tán huyết, mất bạch cầu hạt, viêm cơ tim, viêm đa dây thần kinh.

    4. Type IV: Nhóm quá mẫn chậm qua trung gian tế bào do phản ứng quá mức của tế bào Lympho T đối với đáp ứng miễn dịch. Thường gặp trong viêm da tiếp xúc dị ứng, hồng ban cố định nhiễm sắc và bệnh chàm do thuốc.

    VI. Làm thế nào để phòng ngừa dị ứng thuốc?

    Chỉ nên dùng thuốc điều trị bệnh theo đúng toa chỉ định của bác sĩ, không tự ý mua thuốc để tự điều trị cũng như giới thiệu thuốc điều trị cho người khác vì đơn giản nghĩ rằng họ có bệnh lý giống mình. Việc sử dụng thuốc đúng hướng dẫn của bác sỹ điều trị và được theo dõi, chăm sóc là điều cần thiết nhằm giảm thiểu các phản ứng có hại của thuốc.

    Dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ & ngưng sử dụng thuốc, gặp bác sĩ ngay khi có phản ứng bất thường xảy ra Khi đã bị dị ứng loại thuốc nào thì tuyệt đối không được dùng loại thuốc đó nữa.

    Dị ứng thuốc là tình trạng xảy ra ngoài ý muốn của bác sĩ điều trị cũng như của bệnh nhân. Khi đang dùng thuốc, nếu xảy ra các phản ứng bất thường như ngứa, nổi mề đay, khó thở, hoặc cảm thấy khó chịu thì lập tức ngưng sử dụng thuốc đó, đến khám ngay ở cơ sở y tế gần nhất để có thể được cấp cứu hay được hướng dẫn xử trí thích hợp. Sau đó, ta nên đến tái khám ở bác sĩ đã chỉ định thuốc để bác sĩ có thể thay đổi thuốc điều trị nếu cần. Các biện pháp dân gian như uống nước đậu xanh để giã thuốc, uống nước chanh, lòng trắng trứng… đều chưa có cơ sở khoa học để chứng minh.

    Việc dùng thuốc chống dị ứng chỉ mang tính chất tạm thời để giải trừ tác động của Histamin trong cơ thể chứ không giải quyết được căn nguyên dị ứng.

    Nên nhớ rằng tình trạng dị ứng đối với một loại thuốc xảy ra ở những lần sau đều trầm trọng hơn lần trước!

    – Khi đi khám bệnh ở bác sĩ hoặc đến nhà thuốc mua thuốc thì phải thông báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ biết những loại thuốc mà mình đã bị dị ứng trước đây và những loại thuốc hiện đang dùng để được hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý, an toàn.

    VII. Các dạng biểu hiện bệnh lý hay gặp trong dị ứng thuốc:

    1. Ban đỏ (Exanthems):là dạng ban sẩn hoặc ban dạng sởi, nhỏ như đầu đinh ghim ở thân mình và có thể liên kết lại với nhau tạo thành mảng, người bệnh thường ngứa, thời gian xuất hiện sau dùng thuốc thường khoảng 1 tuần và tồn tại đến một vài tuần. Những thuốc hay gây dị ứng dạng này là: ampicillin, amoxycillin, cotrimoxazole, carbamazepine, cefaclor, những thuốc bôi ngoài da, những thuốc có khả năng khuếch tán trong môi trường (các mỡ kháng sinh, chống viêm, bảo vệ da, tiếp xúc trực tiếp với thuốc trong công nghệ sản xuất thuốc, khí dung kháng sinh…).

    2. Viêm da bong vảy (Exfoliative dermatitis): là dạng ít gặp với biểu hiện đỏ da bong vảy và ngứa toàn thân. Bệnh có thể tiến triển nặng nề và có thể đe doạ đến tính mạng người bệnh. Dạng này thường xuất hiện sau dùng thuốc khoảng 1 tuần và tồn tại trong 3 – 4 tuần. Các thuốc hay gây dị ứng dạng này là: allopurinol, thuốc chống sốt rét, giảm đau, hạ nhiệt, carbamazepine, penicillin, streptomycin, chloramphenicol, tetracyclin và sulfonamide.

    3. Mày đay (Urticaria):Thường là biểu hiện lâm sàng nhẹ và ban đầu của phần lớn các trường hợp dị ứng thuốc. Các loại thuốc đều có thể gây mày đay, hay gặp hơn là kháng sinh, văcxin, huyết thanh, thuốc chống viêm giảm đau, hạ sốt… Sau khi dùng thuốc (nhanh từ 5-10 phút, chậm có thể vài ngày), người bệnh cảm thấy nóng bừng, ngứa, trên da nổi ban cùng sẩn phù, có thể kết hợp với phù mạch, phù nề mi mắt, môi. Trường hợp nặng có thể có khó thở, đau bụng, đau khớp, chóng mặt, buồn nôn, đau đầu, mệt mỏi, sốt cao…

    Mày đay cấp thường biểu hiện tăng sẩn phù, mất đi nhanh và xuất hiện lại cũng nhanh, diễn biến trong thời gian dưới 3 tuần. Mày đay diễn biến hằng ngày, kéo dài hơn 3 tuần là đã chuyển thành mạn tính.

    Những thuốc hay gây dị ứng dạng này là: kháng sinh, đặc biệt là penicillin, thuốc khác: captopril và các thuốc ức chế men chuyển khác, thuốc chống viêm giảm đau không – steroid (NSAIDs) bao gồm cả aspirin, và các thuốc quinine.

    4. Phù Quincke (Quincke’s oedema): Là tình trạng phù cục bộ, có thể do kháng sinh, văcxin, huyết thanh, các thuốc chống viêm không steroid… Phù thường xuất hiện nhanh sau khi dùng thuốc ở những vùng da mỏng, môi, cổ, quanh mắt, bụng, các chi, bộ phận sinh dục… Kích thước phù Quincke thường to, có khi bằng bàn tay, nếu ở gần mắt làm cho mắt híp lại, ở môi làm môi sưng to, biến dạng. Màu da vùng phù bình thường hoặc hơi hồng nhạt, đôi khi phối hợp với mày đay. Trường hợp phù Quincke ở họng, thanh quản, người bệnh có thể bị nghẹt thở; ở ruột, dạ dày gây đau bụng; ở não gây đau đầu…

    5. Da nhạy cảm ánh sáng (Photosensitivity): bình thường da không nhạy cảm với ánh sáng. Khi dùng một số loại thuốc thường là các loại như: ức chế men chuyển, NSAIDs, quinolone, nalidixic acid, phenothiazine, tetracycline, griseofulvin, amiodarone, sulfonamide và thiazide thì da trở nên tăng nhạy cảm với ánh sáng và bị tổn thương như: đỏ da giống bị phỏng, sạm da, đen da hoặc mất sắc tố da vv… Vị trí ở các vùng da hở như: mặt, cổ, mu bàn tay, mu bàn chân. Mức độ tổn thương phụ thuộc vào liều thuốc sử dụng và thời gian tiếp xúc với ánh nắng.

    6. Hồng ban đa dạng (Erythema multiforme): Bệnh bắt đầu sau một vài ngày dùng thuốc với những biểu hiện: sốt nhẹ, mệt mỏi, đau khớp, sưng hạch, có cảm giác nóng bỏng toàn thân. Tổn thương là các hồng ban hình bia bắn điển hình có ba vòng tròn đồng tâm: ngoài cùng là vòng ban đỏ, tiếp trong là sẩn đỏ phù nề , ở giữa là mụn nước nhỏ hoặc vỡ, trợt, hoại tử. Bệnh có thể kèm theo tổn thương niêm mạc các hốc tự nhiên, tổn thương nội tạng (tim, gan, thận…), tái phát nhiều đợt; trường hợp nặng có thể gây tử vong.

    Nguyên nhân do thuốc gây hồng ban đa dạng chỉ chiếm khoảng 10%, các thuốc thường gây hồng ban đa dạng là: ức chế men chuyển, allopurinol, carbamazepine, phenytoin, NSAIDs, penicillins, sulfonamide và tetracyclin

    7. Viêm mao mạch (Cutaneous vasculitis necrolysis): là tình trạng viêm hoại tử các mao mạch ngoài da do các thuốc như: Ức chế men chuyển, NSAIDs, allopurinol, penicillins, sulfonamides và thiazides lợi tiểu. Biểu hiện ngoài da là các ban xuất huyết sờ thấy được trên mặt da. Ngoài ra thuốc còn có thể gây viêm mạch nội tạng và gây nguy hiểm hơn cho người bệnh.

    8. Ban dạng lichen (Lichenoid eruptions): gọi tên này bởi vì tổn thương ngoài da giống lichen phẳng: là các sẩn màu hơi tím, phẳng, trên đó có các rãnh, khía…tổn thương có thể liên kết thành mảng lớn. Các thuốc hay gây dị ứng dạng này là: thuốc chẹn beta, thuốc ức chế men chuyển, thuốc chống sốt rét, furosemide, thiazides, chlorpropamide, methyldopa, phenothiazine và quinidine.

    9. Hồng ban cố định nhiễm sắc (Fixed drug eruptions): là dạng dị ứng thuốc biểu hiện ở vị trí cố định trên da, thường là các vị trí liên kết da – niêm mạc. Tổn thương là các dát sẫm màu ranh giới rất rõ với da lành, số lượng thường chỉ 1 hoặc vài tổn thương. Xuất hiện lại tại đúng vị trí lần trước, sau khi uống thuốc khoảng 30 phút đến 8 giờ kèm theo cảm giác nóng rát hoặc châm chích tại vị trí tổn thương. Các thuốc thường gây dị ứng loại này là: tetracycline, sulfonamide, NSAIDs, paracetamol, phenolphthalein và barbiturat.

    10. Chứng mất bạch cầu hạt (Agranulocytosis): Có thể xuất hiện sau khi người bệnh dùng các thuốc như: sulfamid, penicillin liều cao, streptomycin, pyramidon, chloramphenicol, analgin… Bệnh cảnh lâm sàng điển hình: sốt cao đột ngột, mệt mỏi, sức khỏe giảm sút nhanh, nổi ban dạng sởi, dạng xuất huyết, loét hoại tử niêm mạc miệng, mũi họng, cơ quan sinh dục, viêm phổi, viêm tắc tĩnh mạch, nhiễm xuất huyết, dễ dẫn tới tử vong.

    11. Bệnh huyết thanh (Serum sickness): Là một tai biến dị ứng thuốc hay gặp, chủ yếu là do kháng sinh như penicillin, ampicillin, streptomycin… và một số thuốc khác. Bệnh thường xuất hiện vào ngày thứ hai đến ngày thứ 14 sau khi dùng thuốc với biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ, buồn nôn, đau khớp, sưng nhiều hạch, sốt cao 38-39 độ C, gan to, nổi ban mày đay khắp người. Nếu phát hiện kịp thời và ngừng ngay việc dùng thuốc, các triệu chứng trên sẽ dần hết.

    12. Sốc phản vệ (Anaphylactic shock): Là tai biến dị ứng nghiêm trọng, dễ gây tử vong. Khá nhiều loại thuốc có thể gây sốc phản vệ như kháng sinh (thường gặp khi tiêm chích Penicillin, Streptomycin), văcxin, huyết thanh, các thuốc chống viêm không steroid, tinh chất gan, một số loại viamin, thuốc gây tê, thuốc cản quang có iode…

    – Bệnh cảnh lâm sàng sốc phản vệ khá đa dạng, thông thường có thể xảy ra ngay sau khi dùng thuốc vài giây cho đến 20-30 phút, khởi đầu bằng cảm giác lạ thường (tê môi, lưỡi, bồn chồn, sợ hãi…). Tiếp đó là sự xuất hiện nhanh các triệu chứng như khó thở, mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt (có khi không đo được), ngứa ran khắp người, đau quặn bụng, tiểu tiện, đại tiện không tự chủ. Trong thể cấp tính người bệnh có thể hôn mê, nghẹt thở, rối loạn nhịp tim, ngừng tim và tử vong sau ít phút.

    13. Hội chứng Stevens-Johnson (Stevens-Johnson syndrome): Thường do các thuốc kháng sinh penicillin, ampicillin, streptomycin, tetracylin, allopurinol, zyloric, các sulfamid chậm, an thần, chống viêm không steroid. Sau khi dùng thuốc từ vài giờ đến 10-15 ngày, người bệnh mệt mỏi, ngứa khắp người, có cảm giác nóng ran, sốt cao, nổi ban đỏ, nổi bọng nước trên da, viêm loét hoại tử niêm mạc các hốc tự nhiên (miệng, mắt, mũi, tai, hậu môn, sinh dục, tiết niệu) và có thể kèm theo tổn thương gan thận, nếu nặng có thể gây tử vong.

    BS. LÊ ĐỨC THỌ

    Trưởng khoa Da Liễu – BV Hoàn Mỹ Sài Gòn

    14. Hội chứng Lyell (Toxic epidermal necrolysis): Là tình trạng nhiễm độc hoại tử thượng bì nghiêm trọng nhất do dị ứng các thuốc như sulfamid chậm, allopurinol, zyloric, carbamazepin, phenytoin, nevirapine, barbiturate, penicillin, ampicillin, streptomycin, tetracylin, cephalosporin, analgin, phenacetin… Bệnh diễn biến từ vài giờ đến vài tuần sau khi dùng thuốc. Người bệnh mệt mỏi, choáng váng, mất ngủ, sốt cao, ngứa khắp người, trên da xuất hiện các mảng đỏ, đôi khi có những chấm xuất huyết; vài ngày sau, có khi sớm hơn, lớp thượng bì tách khỏi tổ chức da, khẽ động đến là tuột từng mảng, tương tự hội chứng bỏng toàn thân. Bệnh nhân có thể bị viêm loét các hốc tự nhiên, viêm phổi, màng phổi, viêm gan, thận, rối loạn nước điện giải, rối loạn chuyển hóa, nhiễm độc, nhiễm trùng. Tình trạng người bệnh thường rất nặng, nhanh dẫn đến tử vong.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dị Ứng Hải Sản Cần Kiêng Gì Và Nên Làm Gì?
  • Bí Quyết Hay Trị Ngay Dị Ứng Hải Sản
  • Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Cách Xử Lý Khi Bị Dị Ứng Hải Sản
  • Khi Bị Dị Ứng Hải Sản Cần Biết Điều Này
  • Cách Chữa Dị Ứng Tôm
  • Hướng Dẫn Cách Xử Lý Khi Bị Dị Ứng Thuốc Tại Nhà

    --- Bài mới hơn ---

  • Dị Ứng Thời Tiết, Dị Ứng Cơ Địa: Triệu Chứng, Cách Chữa Hết Nổi Mẩn Đỏ
  • Cách Chữa Dị Ứng Nổi Mề Đay Tại Nhà Nhanh Chóng
  • Chữa Viêm Mũi Dị Ứng Bằng Thuốc Tây
  • 8 Cách Cắt Nhanh Cơn Ngứa Dị Ứng, Mề Đay
  • Cách Điều Trị Dị Ứng Hải Sản Nhanh Chóng Và Đơn Giản
  • Dị ứng thuốc nếu không được chữa trị sớm và đúng cách có thể khiến bệnh nhân gặp phải nguy hiểm, đe dọa đến cả tình mạng. Vậy dị ứng thuốc là gì? Cách xử lý khi bị dị ứng thuốc ra sao? Cùng tìm hiểu rõ hơn các thông tin về vấn đề này thông qua bài viết sau đây.

    1. Dị ứng thuốc là gì? Ai có nguy cơ bị dị ứng thuốc?

    Sử dụng các loại thuốc tây để điều trị bệnh là phương pháp được nhiều người lựa chọn. Bởi chúng có ưu điểm là tiện lợi, đem lại tác dụng mau chóng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, thuốc tây lại trở thành “con dao hai lưỡi”. Nếu dùng không đúng cách hoặc lựa chọn sai thuốc, nó có thể gây nên các vấn đề nghiêm trọng cho sức khỏe của người dùng. Trong đó, nhiều trường hợp bị dị ứng thuốc. Tuy nhiên, đây lại là một khái niệm khá mơ hồ, do đó nhiều người vẫn chưa rõ liệu dị ứng thuốc là gì.

    Thực chất, dị ứng thuốc còn được gọi là tình trạng mẫn cảm với thuốc. Nó là một phản ứng có hại cho cơ thể, xảy ra khi hệ miễn dịch phản ứng quá mức với các loại thuốc đang dùng và đang cố gắng để chống lại các loại thuốc này. Tuy nhiên, cần chú ý phân biệt dị ứng thuốc và tác dụng phụ của thuốc. Vì tác dụng phụ của thuốc là các vấn đề không mong muốn do thuốc gây ra và có thể gặp phải ở bất cứ bệnh nhân nào. Trong khi đó, dị ứng thuốc chỉ xảy ra ở một số đối tượng có cơ địa nhạy cảm đặc biệt.

    • Đã từng bị dị ứng với thuốc hoặc các chất khác như dị ứng thực phẩm.
    • Có cha mẹ hoặc những người thân khác trong đình bị dị ứng.
    • Tăng sự tiếp xúc với các loại thuốc đã từng bị dị ứng

    Các triệu chứng dị ứng thuốc

    Dị ứng thuốc được chia thành 2 dạng, bao gồm: Dị ứng “tức thời” và dị ứng “chậm”. Tùy vào mức độ phản ứng nhanh hay chậm mà các biểu hiện dị ứng thuốc cũng xảy ra ở những mức độ khác nhau. Cụ thể như sau:

    1. Đối với dị ứng “tức thời”

    Đây được cho là loại dị ứng nghiêm trọng, bởi những biểu hiện của nó khởi phát và diễn tiến nhanh. Các triệu chứng sẽ bắt đầu xuất hiện sau khi uống thuốc khoảng 1 giờ hoặc lâu hơn. Tình trạng này thường xảy ra khi bệnh nhân sử dụng các loại thuốc trước đó đã dùng mà không gây ra triệu chứng gì. Lúc này, bệnh nhân thường có các biểu hiện như sau:

    • Ngứa, nổi mẩn đỏ và phát ban trên da
    • Có cảm giác đỏ bừng do quá trình da chuyển từ màu đỏ sang nóng.
    • Tay, chân, cổ họng và mặt sưng phù.
    • Buồn nôn và nôn, đau bụng
    • Choáng váng
    • Đau họng, khàn giọng
    • Thở khò khè hoặc khó thở
    • Mẫn cảm với ánh sáng
    • Mạch nhanh, tim đập loạn

    Dị ứng “tức thời” được xem là loại dị ứng nghiêm trọng do nó có thể trở nên nặng nề hơn khi người bệnh vẫn cứ tiếp tục sử dụng thuốc. Lúc này, bệnh nhân có thể bị sốc phản vệ và đe dọa đến tính mạng.

    2. Dị ứng “chậm”

    So với dị ứng “tức thời”, dị ứng “chậm” thường diễn ra phổ biến hơn. Các biểu hiện dị ứng thường xảy ra sau khi uống thuốc khoảng vài ngày và thường không gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng. Lúc này, bệnh nhân có thể bị phát da, tình trạng này có thể lan đến nhiều vùng khác nhau, đôi khi kèm theo cảm giác ngứa hoặc không. Dị ứng “chậm” hiếm khi gây ra các triệu chứng như khó thở, sưng, nghẹt họng hoặc những biểu hiện khác như ở dị ứng “tức thời”. Do đó, nó cũng sẽ ít gây nên các biểu hiện trầm trọng hoặc làm ảnh hưởng đến các cơ quan ngoài da khác.

    Nếu trong gia đình không may có người bị dị ứng thuốc, hãy liên hệ ngay lập tức với các cơ sở y tế gần nhất khi thấy có các dấu hiệu sau:

    • Khó thở, hơi thở khò khè
    • Ngất xỉu
    • Đau thắt vùng ngực
    • Môi, lưỡi, cổ họng bị sưng
    • Xuất hiện các biểu hiện khác của tình trạng sốc phản vệ

    Tiếp theo, áp dụng các cách chữa dị ứng thuốc tại nhà sau đây:

    • Ngừng dùng các loại thuốc nghi ngờ hoặc trực tiếp gây dị ứng cho bệnh nhân
    • Tiêm thuốc epinephrine tự động vào vị trí bắp thịt đùi phía ngoài. Trong trường hợp cần thiết, có thể tiêm xuyên qua quần áo.
    • Cách xử lý dị ứng thuốc cần thực hiện tiếp theo là để bệnh nhân nằm ngửa, đầu thấp, chân cao hơn đầu. Nếu bị nôn hoặc ói, hãy đổi tư thế cho bệnh nhân sang nằm nghiêng, không để người bệnh ngồi hoặc đứng.
    • Không để bệnh nhân một mình mà luôn phải có người túc trực bên cạnh.
    • Sau khi đã tiêm epinephrine liều thứ nhất mà các triệu chứng trên không thuyên giảm, có thể tiêm epinephrine liều thứ 2. Lần tiêm thứ 2 cách lần thứ nhất khoảng 5 phút.

    Cách chữa trị dị ứng thuốc tại nhà chỉ đóng vai trò sơ cứu nhằm kéo dài thời gian trong khi chờ sự cấp cứu của các nhân viên y tế. Do đó, hãy đảm bảo đưa người bệnh đến bệnh viện càng sớm càng tốt để nhận được sự cấp cứu từ bác sĩ. Tại đây, các bác sĩ sẽ tiến hành điều trị như sau:

    • Đầu tiên, tuyệt đối không được để bệnh nhân tiếp xúc với các loại thuốc chữa và phòng bệnh đã hoặc có khả năng gây dị ứng.
    • Chỉ định cho bệnh nhân sử dụng các loại thuốc kháng histamin anti H1 thế hệ 2 như fexofenadin, cetirizin, loratadin, astemisol… Đối với những người bị dị ứng nặng, có thể kết hợp với các loại thuốc corticoid, chẳng hạn như methylpdnisolon, pdnisolon dạng tiêm truyền. Ngoài ra, những loại thuốc được dùng để điều trị triệu chứng cũng sẽ được chỉ định.
    • Bù nước, điện giải, sử dụng các loại thuốc lợi tiểu cũng là cách xử lý khi bị dị ứng thuốc có thể được áp dụng. Trường hợp bị bội nhiễm có thể cho dùng thêm cả kháng sinh. Nhưng các loại thuốc được dùng cần phải đảm bảo an toàn, đáp ứng được mục đích điều trị.

    Một vài biện pháp phòng ngừa dị ứng thuốc

    Để hạn chế được tình trạng dị ứng thuốc, hãy tham khảo và thực hiện theo một số biện pháp sau đây:

    • Khi điều trị bệnh bằng thuốc tây, hãy đảm bảo uống thuốc đúng theo sự chỉ định của bác sĩ về liều lượng, cách dùng, thời gian chữa trị.
    • Hạn chế việc tự mua thuốc chữa bệnh tại các hiệu thuốc khi không có đơn thuốc hoặc sự tư vấn từ bác sĩ.
    • Trước khi sử dụng cần kiểm tra chất lượng thuốc, khai thác kỹ các thông tin về tiền sử dị ứng. Đồng thời, test mức độ dị ứng bằng các loại thiết bị chuyên biệt tại bệnh viện.
    • Nếu là người có cơ địa nhạy cảm, nên chuẩn bị một ống tiêm epinephrine và mang theo bên mình để sử dụng khi cần thiết. Điều này sẽ giúp người bệnh tự bảo vệ được bản thân khi không may bị dị ứng.
    • Không nên sử dụng các thực phẩm hoặc những chất đã từng làm cho cơ thể bị dị ứng để tránh gặp phản ứng nghiêm trọng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xử Trí Khi Bị Dị Ứng Thuốc
  • Cách Giải Phương Trình Bậc 3 Nhanh Chóng
  • 6 Cách Dễ Dàng Để Chèn Ký Hiệu Delta (Δ) Trong Excel
  • Cách Tính Delta Và Delta Phẩy Phương Trình Bậc 2
  • Cách Giải Dạng Toán Tìm Hai Số Khi Biết Tổng Và Tỉ Của 2 Số Đó
  • Dấu Hiệu Và Cách Điều Trị Khi Bị Dị Ứng Thuốc Penicillin

    --- Bài mới hơn ---

  • Nên Làm Gì Khi Bị Dị Ứng Thuốc Kháng Sinh ? (Tư Vấn)
  • Dấu Hiệu Khi Bị Dị Ứng Thuốc
  • Cách Chăm Sóc Da Sau Khi Bị Dị Ứng Mỹ Phẩm Giúp Lành Nhanh
  • 9 Cách Giảm Ngứa Khi Bị Dị Ứng Cho Hiệu Quả Nhanh Nên Áp Dụng
  • Các Biện Pháp Xử Trí Khi Bị Ngộ Độc Thực Phẩm Tại Nhà
  • Dị ứng Penicillin (tên tiếng Anh là Penicillin Allergy) là một phản ứng không bình thường của hệ thống miễn dịch với thuốc Penicillin. Loại kháng sinh này thường được kê toa để điều trị các bệnh viêm da, nhiễm khuẩn khác nhau.

    Triệu chứng thường gặp của dị ứng Penicillin gồm nổi ban, phát ban và ngứa. Một số phản ứng nặng khi dùng thuốc người bệnh có thể gặp phải là sốc phản vệ, đe dọa tới tính mạng của người bệnh.

    Triệu chứng thường gặp của dị ứng Penicillin gồm nổi ban, phát ban và ngứa

    Dấu hiệu nhận biết khi bị dị ứng thuốc Penicillin

    Những triệu chứng khi bị dị ứng Penicillin thường xảy ra trong vòng một giờ đồng ngay sau khi dùng thuốc. Ở một số trường hợp, phản ứng có thể xảy ra hàng giờ, hàng ngày hay vài tuần sau khi dùng thuốc.

    Các triệu chứng dị ứng thuốc Penicillin bao gồm:

    Hiện tượng sốc phản vệ là một phản ứng dị ứng hiếm gặp, nhưng có thể đe dọa tới tính mạng của người bệnh. Vì gây ra những rối loạn chức năng của toàn bộ hệ thống cơ thể. Với những dấu hiệu thường gặp như:

    Những triệu chứng khi bị dị ứng Penicillin thường xảy ra trong vòng một giờ đồng ngay sau khi dùng thuốc.

    Những phản ứng do Penicillin thường ít gặp, xảy ra nhiều ngày hay vài tuần sau khi tiếp xúc với thuốc và tồn tại trong một thời gian khi ngừng dùng thuốc. Những điều kiện này thường là:

    • Gây sốt, đau khớp, sưng, buồn nôn và phát ban.

    • Mệt mỏi, nhịp tim bất thường, thở dốc, thiếu máu do thuốc gây ra, giảm tế bào hồng cầu.

    • Phản ứng thuốc với bạch cầu và những triệu chứng toàn thân, gây nổi ban, số lượng bạch cầu cao, sưng hạch bạch huyết, sưng tấy và tái phát viêm gan siêu vi.

    • Gây sốt, viêm thận, tiểu máu, sưng tấy.

    Bị dị ứng Penicillin khi nào cần đi khám bác sĩ?

    Nếu thấy có triệu chứng của dị ứng Penicillin nên đi khám bác sĩ càng sớm càng tốt. Trong trường hợp có phản ứng nặng hay nghi ngờ bị sốc phản vệ sau khi dùng Penicillin cần gọi cấp cứu ngay lập tức.

    Bị dị ứng Penicillin cần phải làm gì?

    Để điều trị tình trạng dị ứng Penicillin có thể chia thành hai chiến lược chung như sau:

    Điều trị các triệu chứng dị ứng thuốc Penicillin hiện tại

    Ngưng dùng thuốc: Nếu bác sĩ xác định bạn bị dị ứng với thuốc Penicillin thì trước tiên là cần ngưng sư dụng thuốc trong điều trị.

    Thuốc kháng sinh Histamin hoặc một số loại thuốc kháng Histamin để ngăn các chất hóa học được hệ miễn dịch kích hoạt trong phản ứng dị ứng.

    Dùng Corticosteroid đường tiêm hoặc đường uống để điều trị viêm kết hợp với các phản ứng nghiêm trọng hơn.

    Dùng Corticosteroid đường tiêm hoặc đường uống để điều trị viêm kết hợp với các phản ứng nghiêm trọng hơn. Khi sốc phản vệ cần tiêm Epinephrine và nhập viện để duy trì huyết áp và hỗ trợ hô hấp.

    Giảm nhạy cảm với Penicillin

    Trong trường hợp không có các biện pháp điều trị bằng kháng sinh khác, bác sĩ sẽ đề nghị điều trị bằng giảm nhạy cảm với thuốc. Người bệnh sẽ dùng một liều rất nhỏ và tăng dần liều 15 phút trong vài giờ hay vài ngày.

    Người bệnh sẽ được theo dõi trong thời gian can thiệp và chăm sóc để điều trị phản ứng dị ứng. Tuy nhiên phương pháp này ít được sử dụng, bởi Penicillin có thể gây ra tác dụng phụ nguy hiểm ảnh hưởng tới tính mạng.

    Phòng chống dị ứng thuốc Penicillin

    • Báo ngay cho bác sĩ và chắc chắn rằng tình trạng dị ứng với Penicillin hoặc dị ứng kháng sinh khác được xác định rõ trong hồ sơ bệnh án của bạn.

    • Đeo một chiếc vòng tay để thông báo rằng bạn đang bị dị ứng thuốc.

    • Mang theo Epinephrine khẩn cấp. Nếu bị dị ứng gây ra sốc phản vệ hay phản ứng nặng, bác sĩ sẽ kê toa ống tiêm và thiết bị kim tiêm. Bác sĩ sẽ hướng dẫn bạn cách sử dụng máy tự động tiêm.

    Mong rằng với những thông tin tư vấn về dấu hiệu nhận biết, cách điều trị và phòng tránh khi bị dị ứng thuốc Penicillin ở trên sẽ giúp bạn nắm rõ hơn về loại dị ứng này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 10 Loại Thuốc Chữa Dị Ứng Thời Tiết Tốt Nhất Hiện Nay
  • Review Bài Thuốc Tiêu Ban Giải Độc Thang Đặc Trị Mề Đay, Mẩn Ngứa, Dị Ứng
  • Bài Thuốc Tiêu Ban Giải Độc Thang Đặc Trị Mề Đay 10 Người Dùng 9 Người Khỏi
  • Vtv2 Giới Thiệu Bài Thuốc Tiêu Ban Giải Độc Thang Đặc Trị Mề Đay
  • Uống Thuốc Giải Độc Gan Có Bị Nổi Mụn Không?
  • Giúp Bệnh Nhân Gút Đối Phó Với Dị Ứng Thuốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Xử Trí Dị Ứng Thuốc Allopurinol Trong Điều Trị Bệnh Gút
  • Tác Dụng Phụ Của Thuốc Chữa Bệnh Gout Allopurinol Bạn Nên Biết
  • Cách Chữa Bệnh Gout Bằng Lá Tía Tô Đơn Giản
  • Ngâm Chân Giải Cảm Bằng Lá Tía Tô Như Thế Nào Tốt?
  • Cách Trị Cảm Cúm Bằng Lá Tía Tô Hiệu Quả Nhất Cho Mọi Người
  • Allopurinol là hoạt chất được coi như “vũ khí lợi hại”, biện pháp chính để làm giảm axit uric máu, yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh gout (gút), có thể dùng cho mọi bệnh nhân gút. Dị ứng với allpourinol tuy chỉ gặp ở khoảng 5% số người sử dụng thuốc này nhưng đây lại là một điều rất không may cho bệnh nhân gút, vì họ sẽ phải chật vật thực hiện biện pháp khác thay thế để làm giảm bớt tiến triển xấu của bệnh gút.

    Axit uric là một sản phẩm của quá trình chuyển hoá protid trong cơ thể, khi được tăng tổng hợp hoặc giảm đào thải ra khỏi cơ thể, nồng độ trong máu sẽ tăng lên và khi bị bão hòa sẽ tạo thành các tinh thể. Sự lắng đọng các tinh thể axit uric ở khớp hoặc tổ chức liên kết gây ra triệu chứng của bệnh gút như: khớp bị viêm tấy, sưng nóng đỏ, đau nhức và hạn chế vận động. Nồng độ axit uric trong máu càng cao thì nguy cơ xuất hiện viêm khớp cấp do gút càng lớn.

    Tổn thương do bệnh gút ở bàn chân.

    Các biện pháp điều trị giảm nồng độ axit uric máu có vai trò quan trọng phòng ngừa những đợt cấp của bệnh gút và hạn chế các biến chứng mạn tính của bệnh như sỏi thận, suy thận mạn, tiêu xương… Đáp ứng mục tiêu này, thuốc allopurinol đã được bác sĩ cho người bệnh gút sử dụng rộng rãi và có hiệu quả trong nhiều năm qua nhờ tác dụng giảm tổng hợp và tăng đào thải axit uric qua nước tiểu. Allopurinol không phải là thuốc kháng viêm giảm đau nên không dùng lúc bệnh nhân đang có cơn viêm khớp gút cấp. Thuốc được sử dụng đều đặn, dài hạn (suốt đời) nhằm giữ cho lượng acid uric máu của người bệnh luôn ở mức bình thường, ngăn ngừa tái phát các đợt viêm khớp gút cấp, ngăn ngừa các biến chứng thận của bệnh gút, nên được coi là thuốc chữa bệnh gút.

    Tuy nhiên, cũng như mọi thuốc, bên cạnh tác dụng điều trị, allopurinol có thể gây nên những phản ứng không mong muốn như dị ứng, viêm gan nhiễm độc, xáo trộn chức năng gan, buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, chóng mặt… Dị ứng allopurinol là biểu hiện dễ gặp, thường xuất hiện sau dùng thuốc từ vài ngày đến vài tuần, hiện tượng này có thể nhẹ như nổi mẩn, ngứa nhưng cũng có thể nặng nề như tăng men gan, viêm thượng bì hoại tử, hội chứng Stevens Jonhson… Những phản ứng dị ứng nặng (hiếm gặp) thường xảy ra ở người có suy thận hoặc khi dùng cùng thuốc lợi tiểu thiazide.

    Phải làm gì khi dị ứng allopurinol?

    Xử trí dị ứng thuốc allopurinol bao gồm hai vấn đề cơ bản là điều trị tình trạng dị ứng và tìm biện pháp thích hợp để hạ axit uric máu.

    Để điều trị dị ứng: người bệnh cần ngừng sử dụng allopurinol, chăm sóc tổn thương da, niêm mạc, truyền dịch, dùng các thuốc chống dị ứng (như cetirizin, loratadin, chlorpheniramin…). Các loại glucocorticoid (pdnisolon, methylpdnisolon) chỉ nên sử dụng trong những trường hợp dị ứng nặng.

    Nếu dị ứng nặng, bệnh nhân sẽ phải ngừng sử dụng allopurinol suốt đời. Nếu dị ứng nhẹ, thầy thuốc có thể làm phương pháp giải mẫn cảm allopurinol (cho liều nhỏ, tăng dần) cho người bệnh, nếu không bị dị ứng nữa bệnh nhân sẽ được tiếp tục dùng thuốc, nếu vẫn tiếp tục bị dị ứng, người bệnh sẽ phải ngưng dùng thuốc.

    Sau khi tình trạng dị ứng đã ổn định, cần tìm ra phương pháp hạ axit uric máu thích hợp và an toàn. Trước khi quyết định điều trị giải mẫn cảm với allopurinol, nên áp dụng các phương pháp hạ axit uric khác. Đó là những biện pháp không dùng thuốc như: hạn chế ăn đạm, giảm lượng đạm tiêu thụ hàng ngày, kiêng bia rượu. Uống các loại nước khoáng có bicarbonate, ăn nhiều rau xanh, uống nhiều nước để tăng thải axit uric ra đường tiểu. Đặc biệt, người bệnh gút cần tránh sử dụng aspirin liều thấp, thuốc lợi tiểu và những thuốc làm tăng nồng độ axit uric máu.

    Giải pháp thay thế allopurinol: Hiện nay rất ít thuốc có thể thay được allopurinol, vì vậy dị ứng với allopurinol là một điều không may cho người bệnh đồng thời làm đau đầu các bác sĩ điều trị. Dùng thuốc thay thế khi dị ứng với allopurinol gồm:

    Dùng febuxostat – một chất ức chế men xathine oxydase có thể thay thế allopurinol (khi dị ứng allopurinol). Febuxostat có hiệu quả gần tương đương allopurinol và tương đối an toàn vì không có mẫn cảm chéo với allopurinol nhưng giá thành tương đối cao. Trong trường hợp cần thiết có thể phối hợp hai thuốc này với nhau để tăng tác dụng điều trị.

    Các thuốc làm tăng thải axit uric qua nước tiểu như probenecid và sulfinpyrazone có thể sử dụng ở bệnh nhân có chức năng thận còn tốt. Tuy nhiên, các thuốc này có nhiều tác dụng phụ và chống chỉ định (bệnh nhân lớn tuổi, bệnh nhân suy thận, bệnh nhân có sỏi thận…).

    Khi đang dùng allopurinol người bệnh cần lưu ý các tương tác thuốc

    Thuốc làm tăng khả năng dị ứng của allopurinol, được khuyến cáo không dùng khi bệnh nhân đang dùng allopurinol: Thận trọng khi dùng các thuốc ức chế men chuyển (đặc biệt là captopril) vì thuốc này làm tăng khả năng dị ứng với allopurinol. Không nên dùng corticosteroids và aspirin dài ngày vì hai loại thuốc này ảnh hưởng không tốt đến bệnh và gây tăng axit uric máu. Không dùng các thuốc lợi tiểu thiazide vì cản trở thải acid uric qua đường tiểu và tăng khả năng dị ứng alopurinol.

    Hơn nữa, khi đang dùng alopurinol người bệnh còn được khuyên không nên dùng kháng sinh nhóm beta lactam (bao gồm các loại penicilline và cephalosporine, trong đó hay gặp nhất là ampicilline và amoxyclline), vì allopurinol làm tăng khả năng dị ứng của các kháng sinh này lên nhiều lần.

    Đặc biệt lưu ý, allopurinol là thuốc sử dụng dài hạn nhưng người bệnh không thể tự dùng mà luôn luôn cần sự theo dõi và kiểm soát của thầy thuốc để điều chỉnh liều lượng cho hợp lý, tránh các tương tác bất lợi và tránh các tác dụng có hại của thuốc, đặc biệt là dị ứng với thuốc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Allopurinol An Toàn Và Hiệu Quả Trong Điều Trị Bệnh Gút
  • Cách Chữa Cảm Lạnh Sau Sinh Đơn Giản, Hiệu Quả Nhất
  • Cách Pha Trà Gừng Mật Ong Và Nấu Cháo Gừng Giải Cảm Cho Bé
  • Lý Giải Lý Do Mẹ Bị Ngứa Sau Sinh Và Cách Điều Trị Không Ảnh Đến Sữa Cho Bé Bú
  • Hướng Dẫn Các Mẹ Cách Xông Hơi Giải Cảm Cho Trẻ Nhỏ Hiệu Quả Nhất
  • Xử Trí Dị Ứng Thuốc Allopurinol Trong Điều Trị Bệnh Gút

    --- Bài mới hơn ---

  • Tác Dụng Phụ Của Thuốc Chữa Bệnh Gout Allopurinol Bạn Nên Biết
  • Cách Chữa Bệnh Gout Bằng Lá Tía Tô Đơn Giản
  • Ngâm Chân Giải Cảm Bằng Lá Tía Tô Như Thế Nào Tốt?
  • Cách Trị Cảm Cúm Bằng Lá Tía Tô Hiệu Quả Nhất Cho Mọi Người
  • Tổng Hợp Những Cách Chữa Cảm Chỉ Bằng Lá Tía Tô
  • Allopurinol là hoạt chất được coi như “vũ khí lợi hại”, biện pháp chính để làm giảm axit uric máu, yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh gout (gút), có thể dùng cho mọi bệnh nhân gút. Dị ứng với allpourinol tuy chỉ gặp ở khoảng 5% số người sử dụng thuốc này nhưng đây lại là một điều rất không may cho bệnh nhân gút, vì họ sẽ phải chật vật thực hiện biện pháp khác thay thế để làm giảm bớt tiến triển xấu của bệnh gút.

    Allopurinol điều trị bệnh gút

    Axit uric là một sản phẩm của quá trình chuyển hoá protid trong cơ thể, khi được tăng tổng hợp hoặc giảm đào thải ra khỏi cơ thể, nồng độ trong máu sẽ tăng lên và khi bị bão hòa sẽ tạo thành các tinh thể. Sự lắng đọng các tinh thể axit uric ở khớp hoặc tổ chức liên kết gây ra triệu chứng của bệnh gút như: khớp bị viêm tấy, sưng nóng đỏ đau nhức và hạn chế vận động. Nồng độ axit uric trong máu càng cao thì nguy cơ xuất hiện viêm khớp cấp do gút càng lớn.

    Các biện pháp điều trị giảm nồng độ axit uric máu có vai trò quan trọng phòng ngừa những đợt cấp của bệnh gút và hạn chế các biến chứng mạn tính của bệnh như sỏi thận suy thận mạn, tiêu xương… Đáp ứng mục tiêu này thuốc Allopurinol đã được bác sĩ cho người bệnh gút sử dụng rộng rãi và có hiệu quả trong nhiều năm qua nhờ tác dụng giảm tổng hợp và tăng đào thải axit uric qua nước tiểu Allopurinol không phải là thuốc kháng viêm giảm đau nên không dùng lúc bệnh nhân đang có cơn viêm khớp gút cấp thuốc được sử dụng đều đặn, dài hạn (suốt đời) nhằm giữ cho lượng acid uric máu của người bệnh luôn ở mức bình thường, ngăn ngừa tái phát các đợt viêm khớp gút cấp, ngăn ngừa các biến chứng thận của bệnh gút, nên được coi là thuốc chữa bệnh gút.

    Tuy nhiên, cũng như mọi thuốc bên cạnh tác dụng điều trị, allopurinol có thể gây nên những phản ứng không mong muốn như dị ứng viêm gan nhiễm độc, xáo trộn chức năng gan buồn nôn đau bụng tiêu chảy chóng mặt dị ứng allopurinol là biểu hiện dễ gặp, thường xuất hiện sau dùng thuốc từ vài ngày đến vài tuần, hiện tượng này có thể nhẹ như nổi mẩn, ngứa nhưng cũng có thể nặng nề như tăng men gan viêm thượng bì hoại tử hội chứng Stevens Jonhson… Những phản ứng dị ứng nặng (hiếm gặp) thường xảy ra ở người có suy thận hoặc khi dùng cùng thuốc lợi tiểu thiazide.

    Phải làm gì khi dị ứng allopurinol?

    Xử trí dị ứng thuốc allopurinol bao gồm hai vấn đề cơ bản là điều trị tình trạng dị ứng và tìm biện pháp thích hợp để hạ axit uric máu.

    Để điều trị dị ứng: người bệnh cần ngừng sử dụng allopurinol, chăm sóc tổn thương da niêm mạc truyền dịch dùng các thuốc chống dị ứng (như cetirizin loratadin chlorpheniramin…). Các loại glucocorticoid (pdnisolon, methylpdnisolon) chỉ nên sử dụng trong những trường hợp dị ứng nặng.

    Nếu dị ứng nặng, bệnh nhân sẽ phải ngừng sử dụng allopurinol suốt đời. Nếu dị ứng nhẹ, thầy thuốc có thể làm phương pháp giải mẫn cảm allopurinol (cho liều nhỏ, tăng dần) cho người bệnh, nếu không bị dị ứng nữa bệnh nhân sẽ được tiếp tục dùng thuốc, nếu vẫn tiếp tục bị dị ứng, người bệnh sẽ phải ngưng dùng thuốc.

    Sau khi tình trạng dị ứng đã ổn định, cần tìm ra phương pháp hạ axit uric máu thích hợp và an toàn. Trước khi quyết định điều trị giải mẫn cảm với allopurinol, nên áp dụng các phương pháp hạ axit uric khác. Đó là những biện pháp không dùng thuốc như: hạn chế ăn đạm, giảm lượng đạm tiêu thụ hàng ngày, kiêng bia rượu Uống các loại nước khoáng có bicarbonate, ăn nhiều rau xanh, uống nhiều nước để tăng thải axit uric ra đường tiểu. Đặc biệt, người bệnh gút cần tránh sử dụng aspirin liều thấp thuốc lợi tiểu và những thuốc làm tăng nồng độ axit uric máu.

    Giải pháp thay thế allopurinol: Hiện nay rất ít thuốc có thể thay được allopurinol, vì vậy dị ứng với allopurinol là một điều không may cho người bệnh đồng thời làm đau đầu các bác sĩ điều trị. Dùng thuốc thay thế khi dị ứng với allopurinol gồm:

    Dùng febuxostat – một chất ức chế men xathine oxydase có thể thay thế allopurinol (khi dị ứng allopurinol). Febuxostat có hiệu quả gần tương đương allopurinol và tương đối an toàn vì không có mẫn cảm chéo với allopurinol nhưng giá thành tương đối cao. Trong trường hợp cần thiết có thể phối hợp hai thuốc này với nhau để tăng tác dụng điều trị.

    Các thuốc làm tăng thải axit uric qua nước tiểu như probenecid và sulfinpyrazone có thể sử dụng ở bệnh nhân có chức năng thận còn tốt. Tuy nhiên, các thuốc này có nhiều tác dụng phụ và chống chỉ định (bệnh nhân lớn tuổi, bệnh nhân suy thận bệnh nhân có sỏi thận ).

    Khi đang dùng allopurinol người bệnh cần lưu ý các tương tác thuốc

    Thuốc làm tăng khả năng dị ứng của allopurinol, được khuyến cáo không dùng khi bệnh nhân đang dùng allopurinol: Thận trọng khi dùng các thuốc ức chế men chuyển (đặc biệt là captopril) vì thuốc này làm tăng khả năng dị ứng với allopurinol. Không nên dùng corticosteroids và aspirin dài ngày vì hai loại thuốc này ảnh hưởng không tốt đến bệnh và gây tăng axit uric máu Không dùng các thuốc lợi tiểu thiazide vì cản trở thải acid uric qua đường tiểu và tăng khả năng dị ứng alopurinol.

    Hơn nữa, khi đang dùng alopurinol người bệnh còn được khuyên không nên dùng kháng sinh nhóm beta lactam (bao gồm các loại penicilline và cephalosporine, trong đó hay gặp nhất là ampicilline và amoxyclline), vì allopurinol làm tăng khả năng dị ứng của các kháng sinh này lên nhiều lần.

    Đặc biệt lưu ý, allopurinol là thuốc sử dụng dài hạn nhưng người bệnh không thể tự dùng mà luôn luôn cần sự theo dõi và kiểm soát của thầy thuốc để điều chỉnh liều lượng cho hợp lý, tránh các tương tác bất lợi và tránh các tác dụng có hại của thuốc, đặc biệt là dị ứng với thuốc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giúp Bệnh Nhân Gút Đối Phó Với Dị Ứng Thuốc
  • Allopurinol An Toàn Và Hiệu Quả Trong Điều Trị Bệnh Gút
  • Cách Chữa Cảm Lạnh Sau Sinh Đơn Giản, Hiệu Quả Nhất
  • Cách Pha Trà Gừng Mật Ong Và Nấu Cháo Gừng Giải Cảm Cho Bé
  • Lý Giải Lý Do Mẹ Bị Ngứa Sau Sinh Và Cách Điều Trị Không Ảnh Đến Sữa Cho Bé Bú
  • 20 Cách Giải Rượu Hiệu Quả Không Cần Thuốc Tây

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Giải Rượu Nhanh Chóng 12/2020
  • Cách Giải Độc Rượu Bia Cho Cơ Thể Trong Những Ngày Tết
  • Cách Giải Rượu Bia Hiệu Quả.
  • Biện Pháp Giải Độc Gan Cho Người Uống Rượu Bia Hiệu Quả Là Gì?
  • Cách Giải Độc Gan Hiệu Quả Cho Người Hay Uống Bia Rượu
  • 1. Ăn một ít thức ăn dầu mỡ trước khi đi uống: Trước khi đi uống với bạn bè, hãy chủ động ăn trước một ít thức ăn nhiều dầu mỡ. Chúng sẽ tạo thành một lớp áo che kín mặt trong ruột, giảm sự thẩm thấu của rượu qua thành ruột vào máu. Nhờ đó bạn sẽ lâu bị say hơn.

    2. Uống một ly A-ti-sô to: A-ti-sô là một loại thảo dược có khả năng giải rượu và trị nhức đầu do say rượu rất tốt. Trước và sau khi uống rượu bạn hãy uống 1 ly A-ti-sô lớn. Nếu là A-ti-sô tươi thì bạn nấu 2 bông khoản 2 tiếng. Còn A-ti-sô khô sẵn dùng trong bao thì nấu khoản 2 nắm tay trong 15 phút là có thể dùng.

    3. Uống một ly sinh tố chuối: Chuối là nguồn bổ sung các khoáng chất và chất dinh dưỡng cho cơ thể rất tốt. Cho một trái chuối, nửa ly sữa và một muỗng mật ông vào máy say sinh tố. Xay hỗn hợp thành dung dịch lỏng để uống. Chuối bổ sung Kali còn mật bổ sung đường fructose cho cơ thể.

    4. Nước cà chua: Lấy 4-5 trái, cắt đôi, ép lấy nước không cần cho thêm gì cả, uống ngay sau khi đi nhậu về, bạn sẽ cảm thấy tỉnh người ra ngay. Hoặc buổi sáng hôm sau thức dậy, bạn đừng vội ăn sáng vì dạ dày chưa thể phục hồi ngay, hãy uống một ly nước cà chua to và nghỉ ngơi một lúc, đến khi thấy người đỡ mệt và đói bụng thật sự, lúc này ăn mới ngon miệng và dễ tiêu hóa.

    5. Nước khổ qua ép: Rửa sạch hai trái khổ qua (mướp đắng) lớn, cắt đôi theo chiều dọc, bỏ hạt. Ép lấy nước, hòa với một chút muối. Nếu không có máy ép, cắt nhỏ khổ qua cho vào máy xay sinh tố xay, xong lược bỏ xác. Uống lạnh sẽ ít đắng hơn, khổ qua tính mát, có tác dụng giải độc gan, vì thế ngoài tác dụng giã rượu, bác sĩ khuyên thường xuyên ăn khổ qua để giải nhiệt và giúp gan hoạt động tốt, ngăn ngừa được nhiều bệnh, đặc biệt là tiểu đường.

    6. Nước đậu xanh nấu: Nếu biết trước sẽ phải tham gia một cuộc nhậu ác liệt, trước khi đi bạn nên bỏ một nắm đậu xanh nguyên hạt vào nồi cùng với một tô nước to, nấu đến khi đậu xanh chín thì tắt lửa để đấy. Lúc nhậu về mà thấy say thật, nên cố gắng uống hết nước và ăn hết “cái” luôn (nếu vẫn còn ăn được) trước khi đi ngủ. Sáng mai, bạn sẽ thấy đỡ mệt nhiều.

    7. Nước cóc ép: Cóc là loại trái cây chứa nhiều vitamin C nhất, do đó nước cóc ép giã rượu rất tốt. Bạn gọt vỏ, dùng dao cắt chung quanh trái cóc rồi bỏ vào máy ép lấy nước, cho vào một ít muối cho đỡ chua. Chỉ nên uống nước cóc ép ngay sau bữa nhậu, không nên uống vào sáng hôm sau, sẽ không tốt cho dạ dày, nhất là những người bị chứng thừa axít.

    8. Nước chanh nóng: Nước chanh nóng không đường và có vài lát gừng sẽ rất tốt cho những lần đi uống rượu về bị mắc mưa. Nó giúp giải được rượu và chống cảm lạnh. Bạn rót nước nóng ra tách, pha thêm chút nước nguội cho vừa uống, vắt chanh vừa uống, cắt vài lát gừng thả vào, cho thêm một tí muối nữa cho đỡ chua. Chỉ cần nhắm mắt uống một hơi hết ly, ngậm luôn lát gừng vào miệng là cảm thấy đỡ mệt và đỡ lạnh ngay.

    9. Nước chè xanh: Nước chè xanh nóng chỉ dành cho những lần say nhẹ. Sau cuộc nhậu lai rai, câu chuyện vẫn chưa muốn dứt thì một bình chè xanh nóng, có thả vài bông cúc là lý tưởng nhất. Vừa uống chè xanh vừa chuyện trò sẽ rất thú vị. Sau vài chén chè xanh, mọi người sẽ thấy tỉnh táo hẳn, có thể ra về bằng xe máy như lúc đến.

    10. Lòng trắng trứng gà: Khi bị say rượu, có thể ăn 2 lòng trắng trứng gà còn tươi. Chất cồn chưa bị hấp thụ trong dạ dày khi gặp protein trong lòng trắng trứng sẽ bị kết tủa. Điều này không chỉ giảm bớt lượng rượu được hấp thu mà còn tránh hiện tượng bỏng niêm mạc dạ dày do rượu. Ngoài ra dùngthuốc kích dục nữ chính hãng cũng có thể làm giảm ảnh hưởng của rượu bia.

    11. Giấm 60g, đường đỏ 15g, gừng 3 lát giã nát, hoà lẫn rồi uống.

    12. Búp rau cải trắng rửa sạch, thái sợi, cho đường và giấm để ăn.

    13. Mía rửa sạch, róc vỏ, ép hoặc nghiền nát, chắt lấy cho người say uống dần, vài lần sẽ tỉnh.

    14. Cà phê đặc uống nhiều lần, dùng khi người say có hiện tượng thiếp đi.

    15. Uống nước cơm. Cồn gặp nước cơm sẽ tạo nên hiện tượng kết tủa, từ đó có thể giảm bớt lượng cồn bị hấp thụ.

    16. Rau cần vắt lấy nước uống, không những có thể giã rượu mà còn giúp người say không bị choáng váng khi tỉnh rượu.( cần ta)

    17. Trứng muối một quả, ăn từ từ với giấm.

    18. Củ cải trắng tươi 0,5 kg rửa sạch, gọt vỏ vắt lấy nước, uống thay trà, hay nước vắt củ cải trắng thêm đường cát trắng lượng vừa để uống. Mỗi lần 1 ly, uống liền vài lần, có tác dụng giải rượu và khử mùi rượu.

    19. Khoai lang: Lấy củ khoai lang xay nhuyễn, cho thêm với một lượng đường thích hợp, trộn đều lên ăn.

    20.Giải rượu bằng nước hoa, dầu thơm: Nhỏ một vài giọt nước hoa hoặc dầu thơm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Cách Giải Rượu Bia Nhanh Hiệu Quả Tức Thì
  • Làm Thế Nào Để Giải Rượu Tức Thì
  • Cách Giải Cơn Say Rượu Đơn Giản Tức Thì Không Thể Bỏ Qua
  • 5 Cách Giải Rượu Hiệu Quả Nhanh Chóng Tức Thì
  • 5 Cách Giải Rượu Tức Thì Và Hiệu Quả