Giải Lịch Sử 8 Bài 15: Cách Mạng Tháng Mười Nga Năm 1917 Và Cuộc Đấu Tranh Bảo Vệ Cách Mạng (1917

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Bài Bài Toán Dân Số
  • Soạn Bài Bài Toán Dân Số Sách Bài Tập Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài Tôi Đi Học Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 1 Văn Tự Sự Lớp 8
  • Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 1: Văn Tự Sự Trang 37 Sgk Ngữ Văn 8 T
  • Những nét chính của nước Nga đầu thế kỉ XX:

    • Là đế quốc quân chủ chuyên chế, đứng đầu là Nga hoàng Ni -cô – lai II.
    • Hoàng Nga tham gia chiến tranh thế giới thứ nhất gây nên hậu quả nghiêm trọng cho đất nước.
    • Phong trào phản chiến đòi lật đổ chế độ Nga Hoàng lan rộng.
    • Chính phủ Nga Hoàng bất lực không còn khả năng tiếp tục thống trị được nữa.
    • Đảng CNXHDC Nga kêu gọi đấu tranh.

    Cách mạng đã lật đổ chế độ Nga Hoàng, quyền lực chuyển sang Chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản Nga và các Xô – Viết của công -nông -binh, thực hiện thành công một phần nhiệm vụ của cách mạng tư sản.

    Sau một thời gian chuẩn bị, đêm 24/10, Lê Nin đến điện Xmô – nưi trực tiếp chỉ huy cuộc khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân. Cũng trong đêm đó, quân khởi nghĩa đã chiếm được toàn bộ Pê – tơ – rô – grat, sau đó bao vậy Cung điện mùa dông – nơi ẩn náu cuối cùng của chính phủ tư sản.

    Đến đêm 25/10, toàn cung điện mùa Đông bị chiếm, các bộ trưởng của chính phủ tư sản bị bắt. Chính phủ lâm thời tư sản đến đây sụp đổ hoàn toàn. Ngày 25/ 10 đã đi vào lịch sử nước Nga được xem là ngày thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga vĩ đại.

    “Sắc lệnh hòa bình” và “sắc lệnh ruộng đất” đem lại những quyền lợi gì cho quần chúng nhân dân?

    Sắc lệnh hòa bình đã đáp ứng mong muốn hòa bình, chấm dứt chiến tranh của đại đa số quần chúng nhân dân lao động, những người đã bị chiến tranh làm cho kiệt quệ, khốn đốn và vô cùng đau khổ.

    Sắc lệnh ruộng đất đem lại hơn 150 triệu ha ruộng đất cho nông dân, đáp ứng quyền lợi thiết thực của nông dân. Lần đầu tiên toàn thể nông dân ở Nga có ruộng đất để cày cấy.

    Giôn Rit đặt tên cho cuốn sách của mình là “Mười ngày rung chuyển thế giới” vì những tác động của Cách mạng tháng Mười đối với thế giới, làm thay đổi cục diện thế giới – chế độ mới, nhà nước đế quốc hoảng sợ. Đồng thời, cuộc cách mạng này cũng để lại nhiều bài học quý báu cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

    Cuộc cách mạng lần thứ nhất vào tháng 2/1917 nhằm lật đổ chế độ phong kiến Nga Hoàng, đem lại quyền tự do, dân chủ cho nhân dân. Cuộc cách mạng này do Lê- Nin và Đảng Bô- sê- vich lãnh đạo, lực lượng chủ yếu là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Cuộc cách mạng này mang tính chất là cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới.

    Tuy nhiên, sau cách mạng tháng Hai, cục diện 2 chính quyền song song tồn tại ở nước Nga:

    • Một là chính quyền Xô viết của Công – Nông
    • Hai là chính phủ lâm thời Tư sản (chính phủ của giai cấp bóc lột), vì vậy, Lênin và Đảng Bô- sê – vich đặt ra nhiệm vụ tiếp theo của cách mạng là phải tiếp tục lật đổ chính phủ lâm thời Tư sản, giành chính quyền hoàn toàn về tay Vô sản.

    Vì vậy cuộc cách mạng lần thứ 2 bùng nổ vào tháng Mười năm 1917 và đó là cuộc cách mạng XHCN.

    Xây dựng Chính quyền Xô viết:

    • Ngay trong đêm 25-10-1917 (7-11-1917), Đại hội Xô viết toàn Nga lần thứ hai khai mạc ở Điện Xmô-nưi, tuyên bố thành lập Chính quyền Xô viết do Lê-nin đứng đầu. Nhiệm vụ hàng đầu của Chính quyền Xô viết là đập tan bộ máy nhà nước cũ của giai cấp tư sản và địa chủ, khẩn trương xây dựng bộ máy nhà nước mới của những người lao động.
    • Các sắc lệnh đầu tiên của Chính quyền Xô viết đã được thông qua : Sắc lệnh hòa bình và Sắc lệnh ruộng đất. Chính quyền Xô viết nhanh chóng thực hiện các biện pháp nhằm thủ tiêu những tàn tích của chế độ phong kiến, xóa bỏ phân biệt đẳng cấp, những đặc quyền của Giáo hội, thực hiện nam nữ bình quyền, các dân tộc bình đẳng và có quyền tự quyết. Các cơ quan trung ương và Xô viết các địa phương được thành lập, thay thế hoàn toàn chính quyền tư sản. Hồng quân công nông được thành lập để bảo vệ chính quyền mới.
    • Nhà nước tiến hành quốc hữu hóa các nhà máy, xí nghiệp của gia cấp tư sản, thành lập Hội đồng Kinh tế quốc dân tối cao để xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.

    Bảo vệ Chính quyền Xô viết:

    • Cuối năm 1918, quân đội 14 nước đế quốc câu kết với lực lượng phản cách mạng trong nước mở cuộc tấn công vũ trang nhằm tiêu diệt nước Nga Xô viết non trẻ. Trong suốt 3 năm (1918-1920), nhân dân Nga đã tập trung toàn bộ sức lực tiến hành cuộc chiến đấu chống thù trong, giặc ngoài trong những điều kiện vô cùng khó khăn để giữ vững Chính quyền Xô viết.
    • Trong hoàn cảnh đất nước bị bao vây, từ năm 1919 Chính quyền Xô viết thực hiện Chính sách cộng sản thời chiến.

    Trả lời:

    Đối với nước Nga :

    • Làm thay đổi hòan tòan vận mệnh đất nước và số phận hàng triệu con người Nga .
    • Đưa những người lao động lên chính quyền ,xây dựng chế độ mới – chế độ xã hội chủ nghĩa .

    Đối với thế giới :

    • Dẫn đến biến đổi lớn lao trên thế giới.
    • Để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản , nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức .
    • Tạo ra những điếu kiện thuận lợi cho sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế , phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 1 Trang 15 Sgk Ngữ Văn 8
  • Bài 2 Trang 15 Sgk Ngữ Văn 8
  • Giải Lịch Sử 8 Bài 13: Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 13: Bài Toán Dân Số
  • Giải Gdcd 8 Bài 10: Tự Lập
  • Bài Viết Số 2 Lớp 9 Đề 2: Kể Về Một Giấc Mơ Trong Đó Em Được Gặp Lại Người Thân Đã Xa Cách Lâu Ngày

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 7 Lớp 9
  • Viết Bài Tập Làm Văn Số 3 Lớp 9 Đề 3 Trang 191 Sgk Ngữ Văn 9
  • Soạn Bài Việt Bắc Phần 1 Ngắn Nhất
  • Soạn Văn 8: Chương Trình Địa Phương (Phần Tiếng Việt)
  • Soạn Bài Tức Cảnh Pác Bó Ngữ Văn 8
  • Viết bài tập làm văn số 2 lớp 9 đề 2

    Viết bài tập làm văn số 2 lớp 9 đề 2: Kể về một giấc mơ trong đó em được gặp lại người thân đã xa cách lâu ngày là tài liệu tham khảo môn Ngữ văn lớp 9 hay dành cho thầy cô và các em học sinh tham khảo. Hi vọng 11 bài kể lại một giấc mơ trong đó em được gặp lại người thân đã xa cách lâu ngày này giúp các em biết cách làm bài văn tự sự, tránh lạc đề khi viết văn, hoàn thành tốt bài tập làm văn số 2 lớp 9.

    Viết bài tập làm văn số 2 lớp 9 đề 2: Kể về một giấc mơ em gặp lại người thân

    1. Dàn ý Viết bài tập làm văn số 2 lớp 9 đề 2

    1.1 Dàn ý bài viết số 2 lớp 9 đề 2 mẫu 1

    1. Mở bài

    Giới thiệu câu chuyện: có những người tuy xa mặt nhưng vẫn chiếm một phần quan trọng trong lòng. Chính giấc mơ đêm qua đã mang dì em lại gần em hơn sau bao ngày xa cách.

    2. Thân bài

    Sau một ngày học tập mệt mỏi, được đặt lưng lên chiếc giường và có một giấc ngủ ngon lành là điều vô cùng hạnh phúc.

    Bỗng em thấy mình được bố mẹ cho về quê thăm ông bà, cả nhà ăn uống và trò chuyện với nhau vô cùng vui vẻ.

    Tuy sum họp đông vui nhưng trong lòng em vẫn cảm thấy trống trải vì thiếu người dì của em. Dì là người luôn yêu thương em, chăm sóc em như người mẹ vậy. Mấy năm nay, dì đi lấy chồng ở xa rất ít khi về, có năm em không được gặp dì.

    Cả nhà đang trò chuyện vui vẻ bỗng có tiếng xe máy đi vào nhà, giọng nói quen thuộc vang lên, dì từ từ bước vào nhà với nụ cười tươi và ánh mắt hiền hậu.

    Em chạy đến ôm chầm lấy dì, dì xoa đầu em, cảm giác thật ấm áp như đứa con nằm trong lòng mẹ.

    Dì hỏi han em về cuộc sống, học tập, dặn dò em phải biết nghe lời bố mẹ và cố gắng vươn lên. Khi nghe em kể về thành tích học tập của mình, dì thưởng cho em và khen em rất giỏi.

    Hai dì cháu ngồi ôn lại những kỉ niệm ngày xưa khi còn ở chung với ông bà, hồi ấy bố mẹ em đi làm xa, ở nhà dì chăm sóc em, cho em đi chơi và yêu thương em như con của mình. Những khoảnh khắc ấy hiện về rõ mồn một như ngày hôm qua.

    Đang nói chuyện vui vẻ bỗng dì có điện thoại phải về nhà gấp, em chạy theo xe níu dì ở lại, hai hàng nước mắt lưng chòng. Đúng lúc ấy, em bừng tỉnh dậy. Hóa ra đó chỉ là một giấc mơ.

    Ngày hôm sau em kể cho bố mẹ nghe câu chuyện đêm qua nằm mơ thấy dì. Bố mẹ cũng hiểu nỗi nhớ của em và hứa cuối tuần cho em về thăm dì làm em cảm thấy rất vui và háo hức.

    3. Kết bài

    Dù ở gần hay xa nhưng trong tim chúng ta vẫn có hình hài của những người thân quen mà mình yêu quý thì khi gặp lại cảm xúc vẫn đong đầy.

    1.2 Dàn ý Viết bài tập làm văn số 2 lớp 9 đề 2 mẫu 2

    1. Mở bài

    Em đi vào giấc mơ như thế nào? Lúc đó tâm trạng em như thế nào?

    Em gặp lại người thân là ai? Quan hệ với em như thế nào? Cách xa bao lâu? Lí do gì xa cách em lâu thế? Cảm xúc của em khi gặp lại người thân?

    2. Thân bài

    Giới thiệu chung về người thân: Người thân bây giờ ở đâu? Làm gì? Tình huống nào em gặp lại người thân?

    Khi gặp lại quan sát thấy người thân như thế nào? Diện mạo? Hình dáng? Y phục? Cử chỉ? Nét mặt? Động tác? Lời nói… (Chủ yếu tả người và hành động)

    Người thân có những nét gì khác so với lúc trước khi xa không? (So sánh từ hình dáng bên ngoài với tính cách bên trong trước đó và bây giờ?)

    Nhận xét và suy nghĩ của em.

    Nhớ và kể lại những kỉ niệm gắn bó với người thân.

    Em và người thân đã trò chuyện như thế nào? Nói với nhau những gì? (Kể lại sinh động và lồng vào cảm xúc)

    Cuối buổi gặp gỡ những việc gì xảy ra? Cảm xúc của em?

    Cái gì đã đánh thức em dậy? Tâm trạng em như thế nào? Cảm xúc lâu lắng?

    3. Kết bài

    Giấc mơ tan biến trở về hiện thực ấn tượng sâu sắc nhất của em và người thân là gì?

    Cảm xúc của em ra sao, khi nhớ lại cuộc gặp gỡ này?

    Em có cảm nghĩ gì? Sẽ làm gì để người thân vui lông?

    * Gợi ý bổ sung:

    Có thể người thân đã qua đời: (ông, bà, cô….)

    Nhắc nhở em: sống tốt, phấn đấu có tương lại xán lạn hơn.

    Là anh (hoặc chị) chết sớm (do lầm lỗi… hoặc tai nạn…) nhắc nhở em biết suy nghĩ chín chắn để có hành động đúng để người thân vui lông ở cõi hư không.

    2. Viết bài tập làm văn số 2 lớp 9 đề 2

    2.1 Viết bài tập làm văn số 2 lớp 9 đề 2 mẫu 1

    Sau kì thi căng thẳng, lần đầu tiên trong hai tuần qua tôi đi ngủ sớm hơn mười giờ, vốn đã mệt, tôi ngủ ngay lập tức mà không trằn trọc như mọi khi, và giấc mơ cũng đến nhanh như giấc ngủ vậy. Trong mơ, tôi được gặp lại bà nội, người thân thiết mà tôi đã xa cách lâu ngày. Đây thực sự là một giấc mơ đẹp và gây xúc động cho tôi.

    Bà nội tôi đã qua đời được ba năm, cho đến tận bây giờ, tôi vẫn chỉ muốn tin rằng bà chỉ là đã đi đâu đó xa lắm chứ không muốn tin rằng bà mãi mãi rời xa thế gian này. Người ta vẫn hay nói, nếu lòng luôn nghĩ về một người nào đó, trong mơ sẽ gặp được người ấy và sau ba năm, tôi đã có giấc mơ đẹp về bà. Trong mơ, tôi chỉ nhớ rằng mình xuất hiện trong ngôi nhà cũ của bà ở quê, có một mảnh vườn nhỏ bên cạnh bờ sông. Tôi cứ bất giác bước đi theo linh tính qua làn sương mờ đi tiếp vào vườn và như muốn tìm lại tuổi thơ khi tôi chơi đùa ở đây ngày còn bé nhỏ ngây thơ. Tôi cứ thế đi, đi mãi mà tưởng như mảnh vườn nhỏ bé không biết từ lúc nào biến thành mê cung rộng lớn mãi không thấy đường ra. Trong màn sương mù ảo ảnh, đôi chân tôi cứ cất bước và chợt sững lại khi thoáng thấy hình ảnh quen thuộc. Bên gốc cây dừa, hình dáng quen thân thương hiện ra khiến cho trái tim tôi vỡ òa vì vui sướng, đó là bà nội. Vẫn y như ngày nào, bà ngồi dưới gốc dừa khoan thai độ lượng như một bà tiên với giỏ len đan trên tay. Mái tóc bạc phơ của bà càng khiến cho tôi liên tưởng đến những câu chuyện cổ tích mà trước kia bà hay kể. Như chừng thấy tôi, bà ngẩng lên, nở một nụ cười hiền từ như một vị thánh, bà dang hai tay ra như chờ đón tôi vào lòng. Trong lòng tôi bấy giờ chẳng còn điều gì ngoài khao khát được vỗ về chở che của một đứa cháu xa cách bà kính yêu của mình đã lâu. Tôi liền chạy nhanh tới ôm chầm lấy bà để bà che chở, vuốt ve với những dòng nước mắt hạnh phúc. Thấy tôi xúc động, bà vuốt mái tóc tôi:

    – Cháu ngoan, đừng khóc, bà về rồi đây mà.

    Nghe được những lời này, tôi lại càng khó kìm chế trái tim xúc động của mình nhưng rồi cũng quệt nước mắt, ngẩng đầu nhìn bà và cười trong niềm hạnh phúc lấp lánh. Bà vẫn y như ngày còn ở với tôi, hay thích đan len bên gốc dừa và quàng chiếc khăn màu nâu sáng. Vậy là trong lòng bà, bà hỏi tôi về chuyện học tập, về cha, về mẹ, rồi bà lại dặn tôi phải học hành chăm chỉ, nghe lời bố mẹ, lớn lên nhất định phải thành người tốt, nhưng tôi chỉ trả lời qua loa rồi cứ thế cuộn mình trong vòng tay yêu thương của bà mà tận hưởng sự hạnh phúc. Bà ôm tôi thật chặt, âu yếm vuốt ve, hôn vào má, vào trán vào tóc tôi như những ngày tôi còn thơ dại. Chợt tôi nhớ đến những tháng ngày trước đây, bà hay kể chuyện cho tôi nghe và tôi muốn nghe lại giọng kể ấy:

    Đáp lại tôi, bà nở một nụ cười đẹp như bà tiên rồi giọng bà vang lên trong không gian huyền bí của sương mờ và khói bay. Vẫn là giọng kể truyền cảm ngày nào, giống cái ngày còn bé, đã đưa tôi vào những giấc mơ đẹp nhất. Câu chuyện mà bà kể tôi đã nghe không biết bao nhiêu lần nhưng đều không thấy chán, và đặc biệt ngay lúc này đây, tôi còn thấy cả sự thiêng liêng diệu kì trong từng nhịp ngắt của bà, bà ơi, ước gì cháu được mãi nghe bà kể những câu chuyện như vậy trước khi đi vào giấc ngủ!

    Nhưng chưa kịp nghe hết câu chuyện, giọng kể của bà đã đưa tôi về với hiện tại, tôi choàng tỉnh do tiếng chuông đồng hồ báo thức và tôi nhận ra đó chỉ là một giấc mơ. Một giấc mơ đẹp tuyệt vời vì tôi được gặp bà nội.

    Giấc mơ ấy tôi vẫn còn nhớ từng chi tiết nhỏ vì đó là giấc mơ xúc động nhất đời tôi. Giấc mơ làm tôi thêm nhớ bà nhưng cũng đem lại cho tôi động lực trong cuộc sống vì lời hứa với bà sẽ chăm ngoan học giỏi để trở thành người có ích. Và tôi mong mình có thể có thêm nhiều giấc mơ đẹp như vậy nữa!

    2.2 Kể lại một giấc mơ trong đó em được gặp lại người thân đã xa cách lâu ngày mẫu 2

    Ông ngoại là người rất thân yêu đối với em. Trong suốt quãng đời thơ ấu của mình, hình ảnh ông là hình ảnh thân thương yêu quý nhất trong tâm trí em. Ông cho em ăn, ru em ngủ, dạy em vẽ nhà, chơi trò chơi với em. Vậy mà giờ đây, ông không còn bên em nữa. ông ra đi trong một chiều chủ nhật thật lặng lẽ. Tuy ông đã mất nhưng em vẫn mong phép lạ xảy ra, ống có thể trở về và em đã gặp lại ông trong một giấc mơ của mình.

    Hôm đó, em học rất mệt nên đi ngủ sớm. Sau khi nhắm mắt lại, em thấy mình chìm sâu vào giấc ngủ. Bỗng trước mắt em hiện ra khu vườn thân thương của nhà ông ngoại. Đúng là khu vườn ấy rồi. Góc vườn là cây khế ngọt ông thường hái cho em ăn. Lá cây vẫn xanh mướt và trên cành xuất hiện những quả khế nho nhỏ, xanh xanh. Còn giữa vườn là cây hồng xiêm là cây mà ông ngoại cưng nhất. Rồi hai cây bưởi mẹ con, chỗ rau ngải cứu mọc sát đất, cả cày liễu lá dài đến cây xoài đang trổ hoa vẫn nguyên như lúc em còn bé, ở dưới quê với ông ngoại. Trong khu vườn này, ông đã cùng em chăm sóc những cây xanh cho chúng lớn, ra hoa, kết quả. ông dạy em biết giá trị khi làm việc, đó là niềm vui, niềm Tự hào khi thấy cây mình bỏ công chăm sóc cho ra những trái ngọt đầu tiên. Nhìn khu vườn, bao nhiêu kỉ niệm với ông ngoại lại ùa về trong tâm trí em. Em thấy nhớ ông quá và đột nhiên em cất tiếng gọi – một tiếng gọi từ trái tim, em gọi thật to: Ông ơi! Bỗng ông từ từ hiện ra. Vì không tin vào mắt mình, em đưa tay lên dụi mắt. Và ông cất tiếng gọi: Chó cún của ông, ông đây mà. Đúng là giọng nói thân thương của ông rồi. Cái giọng nói đã từng mất đi bây giờ lại trở lại bên em. Em chạy thật nhanh ra chỗ ông. Lúc ấy không hiểu sao miệng em thì cười còn mắt lại đầy nước mắt. Em nhào vào lông ông, khóc thật to. Ông xoa đầu em thật nhẹ: Cháu đừng khóc nữa, đừng khóc nữa, ông ở đây mà. Em ngửng mặt lên nhìn ông. Tóc ông vẫn bạc trắng như ngày xưa. Em còn nhớ hồi bé mỗi lần nghịch tóc ông, em lại ngô nghê hỏi: Sao tóc ông trắng thế?

    Tuy ông đã ra đi nhưng cuối cùng em cũng đã hiểu ra, trước khi ông ra đi ông đã để lại cho cháu hai món quà. Món quà của sự trí thức, ông ra đi nhưng cháu vẫn thấy linh hồn ông đang ở bên cháu. Còn món quà nữa đó là khu vườn nhỏ mà ông đã chăm chút khi còn sống. Và em luôn tin rằng: Dù ông không còn nữa nhưng linh hồn ông vẫn sẽ còn hiện diện ngay ở bên cạnh tôi, với vườn cây đầy hoa trái mà ông trồng.

    2.3 Viết bài tập làm văn số 2 lớp 9 mẫu 3

    Cầm đề bài tập làm văn yêu cầu viết bài tập làm văn số 2 lớp 9 trong tay, tôi thật sự lo lắng vì không biết làm bài tập đó như thế nào. Cô giáo cho đề bài Kể về bà của em và hẹn ngày mai phải nộp. Bà tôi ra đi từ lúc tôi chưa lọt lông mẹ nên bà tôi ra sao, tính tình thế nào, giọng nói ra làm sao,… tôi đều không biết. Cơn gió thổi nhè nhẹ, bầu trời trong xanh, ngồi trước bàn học tôi cứ miên man suy nghĩ đến hình phạt mà bố mẹ sẽ dành cho tôi khi bị điểm kém. Thế rồi, không biết từ lúc nào, tói ngủ thiếp đi mất và có một giấc mơ tuyệt đẹp. Trong mơ, tôi thấy mình được gặp lại bà và được nghe bà kể rất nhiều chuyện mà tôi chưa biết.

    Trong giấc mơ, tôi thấy mình đang ở trong ngôi nhà của bà ngày trước. Tất cả đồ đạc đều gọn gàng, ngăn nắp và sạch sẽ. Ngoài sân có một bóng người gầy gầy, xương xương, lưng cũng đã công thế nhưng dáng vẫn còn nhanh nhẹn lắm. Tôi chạy vội ra sân và không biết đó là ai. Nghe thấy tiếng chân chạy, người đó quay lại. Điều bất ngờ nhất là khi quay người lại, tôi chợt reo lên vui sướng: Bà, bà ơi. Đúng, đó là bà tôi, người bà mà tôi luôn yêu quý cho dù chưa một lần gặp mặt. Tôi chỉ biết bà qua tấm ảnh mà bố cho tôi xem. Bà thấp, nhỏ người, khuôn mặt rạn vết chân chim của bao thời gian vất vả. Đôi mắt đã không còn vẻ sáng ngời mà nó đã trở nên mờ nhoà. Mái tóc bà bạc trắng, được vấn lên gọn gàng. Khi nghe thấy tiếng reo của tôi, bà xoa đầu tôi và bảo: Vào trong nhà đi cháu, ngoài này nắng to lắm., vào đi không lại ốm. Giọng bà mang đậm chất của quê tôi – vùng quê Nam Định nhưng ấm áp lạ lùng. Tôi ngoan ngoãn nghe theo lời bà, chạy vào trong nhà. Một lát sau, bà cũng vào và bảo: Lâu lắm rồi cháu mới về chơi với bà được một hôm nhỉ? Tôi cười và nói: Cháu cũng muốn về lắm nhưng chẳng có thời gian. Bà cười hiền từ, đôi mắt nhìn tôi âu yếm: Cô học cho giỏi rồi sau này bà sẽ lên chơi với cháu thường xuyên hơn. Tôi dựa đầu vào vai bà mà cảm thấy trong lông mình một niềm vui khôn xiết. Giọng bà chợt ngậm ngùi: Thời gian trôi qua nhanh thật, mới ngày nào còn bé tí cứ khóc suốt ngày nhưng được cái nhanh nín. Thế mà bây giờ đã… Bà bỏ lửng câu nói rồi thở dài. Tôi bỗng thầm ước mình có thể bé đi được để bà có thể dẫn đi chơi, được bà mua kẹo cho sau mỗi lần bà đi chợ về. Nước mắt tôi chợt chảy ra giàn giụa. Bà cười, lau nước mắt cho tôi rồi nói: Lớn tướng rồi mà còn khóc nhè như trẻ con thế. Tôi ôm chặt lấy bà mà thấy chưa bao giờ hạnh phúc như lúc này.

    Suốt cả ngày hôm đó, tôi cứ bám lấy bà như cái đuôi. Bà đi xuống bếp tôi cũng di theo, bà ra vườn tôi cũng chẳng rời nửa bước, ngoài vườn, cây cối xum xuê, trĩu trịt quả. Tôi với một quả ổi, gặm thấy ngon hơn những quả ổi mà mẹ mua ở chợ. Bà cười nheo nheo mắt và nói: Cả vườn cây này bà trồng dành cả cho cháu. Người ta cũng tới mấy lần muốn mua hoa quả đấy nhưng bù không muốn vì sợ cháu về lại không có cái gì ăn… Hơn lúc nào hết, tôi cảm nhận được tình yêu thương của bà dành cho tôi. Lúc đó tôi chỉ muôn nói thật to: Bà ơi, cháu yêu bà lắm nhưng lại thấy nghẹn ngào không nói được thành lời. Trong lông tôi, tôi chỉ muốn thời gian ngừng trôi để cho tôi luôn được sống trong sự chở che, yêu thương của bà dành cho tôi. Lúc ăn cơm, bà chẳng ăn mấy, chỉ chăm chăm gắp hết cho tôi. Vừa gắp cho tôi, bà vừa nói: Món này bà biết cháu thích ăn nhất nên bà làm. Ăn nhiều vào cho chóng lớn.

    Tôi ước rằng tuần nào mình cũng được gặp lại bà trong giấc mơ. Những người thân đã xa ta, có thể là xa mãi mãi nhưng họ vẫn luôn hiện hữu bên ta. Dù chỉ là trong những giấc mơ thì ta vẫn luôn cảm thấy hạnh phúc, có một sự động viên, an ủi lớn lao. Bà ơi, bà có nghe thấy cháu nói gì không? Dẫu bà có ở chốn thiên đường hay hư vô cháu vẫn luôn muốn nói rằng: Bà ơi, cháu yêu bà nhiều lắm! Bà sẽ mãi mãi là thiên thần hộ mệnh tuyệt vời và thân thương nhất của cháu!

    2.4 Kể lại một giấc mơ trong đó em được gặp lại người thân đã xa cách lâu ngày mẫu 4

    Những giấc mơ là những phút giây tuyệt vời nhất giúp ta được sống trong những gì mà cuộc sống đời thường không đem lại. Tôi cũng đã mơ rất nhiều, nhưng giấc mơ có thể để lại một giá trị tinh thần to lớn cho tôi chỉ có thể là khi tôi được gặp lại người ông thân yêu của mình. Đó là một giấc mơ thần tiên, tuy ngắn ngủi nhưng đầy xúc động.

    2.5 Viết bài tập làm văn số 2 lớp 9 mẫu 5

    Đã bao giờ bạn tin rằng sau một giấc mơ những điều bạn hằng mong ước bấy lâu nay sẽ biến thành sự thật, y như một câu chuyện cổ tích chưa? Đã có lúc tôi rất tin vào điều đó và rồi lại phải thất vọng. Nhưng tôi luôn nhớ khoảnh khắc mà chỉ giấc mơ kì diệu mới đem đến cho tôi, như vừa mới xảy ra đây thôi.

    Năm tôi học lớp năm, vào Tết năm ấy cũng là lúc ông tôi qua đời. Người ông mà tôi hằng kính yêu đã vĩnh biệt tôi trước khi kịp đón Tết cùng tôi. Tôi buồn bã vô cùng và tự nhủ sẽ không bao giờ tôi được đón một cai tết có ông bên cạnh nữa. Mấy năm sau vào lúc sắp sửa bốc mộ ông tôi và gần đến tết, lông tôi lại bâng khuâng nhớ đến cái tết năm nào. Tôi thắp một nén hương lên bàn thờ ông, hi vọng cháy bỏng được nhìn lại ông bên mâm cơm giao thừa lại bùng lên trong tôi, y như hồi còn nhỏ. Hôm đó là ngày 29 Tết, trước đúng một ngày vào cái năm buồn bã ấy, ông tôi mất. Tôi nghe mẹ đi ngủ sớm để ngày mai còn theo mẹ đi chợ. Lông tôi chộn rộn mãi không sao ngủ được. Mắt tôi nhòa đi.

    Tôi đang nằm trên chính chiếc giường mà ông tôi đã nằm ngày trước. Đến khi mẹ tôi tắt đèn đầu giường, tôi mới thiếp đi.

    Sau khi đi chợ xong, tôi chạy ù té vào phòng quên cả đặt thức ăn vào bếp. Nhìn thấy ông đang đọc sách, tôi mừng lắm. Ông bảo với tôi rằng ông sẽ dẫn tôi đi chợ Tết, chọn một cành đào thật đẹp về cắm trong nhà. Tôi mừng rỡ, tíu tít giục ông đi ngay. Ông vẫn nhớ ý thích của tôi như hồi tôi còn nhỏ. Ông chở tôi trên chiếc xe đạp cọc cạch ông vẫn thường đi. Trên chiếc xe đạp này, đã bao lần ông đèo tôi đến nhà trẻ. Tôi sẽ nhớ mãi những giây phút ấy. Tôi cùng ông đi giữa phố phường, cảm thấy Tết năm nay nhộn nhịp hơn các năm trước. Phố xá đông nghìn nghịt, dường như ai ai cũng muốn ra đường để sắm sửa cho Tết.

    Rồi hai ông cháu cũng đến được chợ hoa ngày Tết. Mới từ đầu vào tôi đã thấy tấp nập bao nhiêu là người, từ những cô gái đến những người phụ nữ lớn tuổi. Phải một lúc lâu sau, ông tôi mới gửi được xe và dẫn tôi đi xem cây cảnh. Chợ hoa ngày Tết mở ra trước mắt tôi vô số loài hoa rực rỡ khoe sắc. Nào là hoa lay-ơn, hoa thược dược, nào hoa cúc, hoa vi-ô-lét. Có những loài hoa tôi chưa biết tên, có những loài hoa tôi không hề biết. Ông tôi vốn là thầy giáo dạy Sinh học nên chỉ cho tôi biết bao nhiêu là hoa thật độc đáo. Vừa nghe ông nói vừa ngắm các loại hoa, tôi bỗng thấy mở mang thêm nhiều điều. Nhiều điều trước đây tôi thờ ơ giờ hiện lên rõ ràng trong trí óc tôi tựa như những bông hoa ngày càng tươi tắn, đầy sức sống hơn. Ông dẫn tôi xem hoa một lúc rồi cùng tôi chọn một cành đào ưng ý. Tôi rất thích cành đào với đầy hoa màu hồng nở rộ. Nhưng ông tôi chỉ chọn một cành đào mới chớm nở vài ba bông hoa, còn lại là biết bao nụ hoa xanh mướt và những lá non. Ông bảo với tôi rằng, tuy bây giờ cành đào không đẹp nhưng chỉ một hai hôm sau Tết đào sẽ nở đầy hoa rất đẹp và lâu tan. Tôi mới vỡ lẽ cành đào ấy bây giờ đây ẩn chứa bao điều đẹp đẽ với tôi và ông trở thành một ông tiên hiểu tất cá những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

    Tôi giữ sự ngưỡng mộ ấy như hồi thơ bé, ông như người thầy giáo mở ra cho tôi bao điều lí thú để tôi khám phá. Và ông đã thay mẹ tôi dạy tôi học khi còn tiểu học. Ông cháu tôi ra về. Tôi ngồi sau giữ cành đào còn ông mải miết đạp xe về đến nhà, tôi khoe ngay cánh đào, bà bảo có cành đào nhiều lộc này, Tết năm nay sẽ vui lắm đây. Ông chỉ mỉm cười, nụ cười đồng tình lẫn niềm vui rạng rỡ. Đêm đến, gia đình tôi sum họp quanh mâm cơm giao thừa. Tôi hạnh phúc biết nhường nào bởi có ông tôi bên cạnh, ông không xa tôi nữa. Chỉ còn ba tiếng nữa là đến giao thừa, tôi chỉ mong được sống mãi những giờ phút này, mong thời gian đừng trôi quá nhanh để luôn có tình yêu thương của mọi người trọn vẹn bên tôi. Tôi cũng thầm hứa với bản thân sẽ mãi ngoan ngoãn như hôm nay để ông khỏi phiền lông. Vậy mà sao ngày hôm nay qua thật mau. Đã đến giao thừa rồi. ông vuốt lên mái tóc tôi, bảo tôi ở nhà, ông sẽ hái lộc đầu năm mới cho tôi. Tôi dạ và hứa sẽ thức đợi ông về.

    Ông đi rồi tôi cố thức, nhưng sao cơn buồn ngủ cứ kéo đến, kéo sụp hai mí mắt tôi lại. Tôi thiếp đi lúc nào không biết. Tôi nghe thấy những tiếng gọi rồi tiếng lịch kịch. Tôi mở mát choàng dậy. Bây giờ đã sáng rồi sao? Tôi ngạc nhiên quá. Tôi nháo nhác tìm ông mà không thấy đâu Thật kì lạ, mới lúc trước tôi còn mường tượng bàn tay khẳng khiu ông đặt lên đầu tôi cơ mà. Tôi xem lại lịch, hôm nay là ngày ba mươi Tết. Tôi òa khóc, vậy đó chỉ là một giấc mơ. Giấc mơ quá thực khiến tôi hụt hẫng và buồn rầu. Ông tôi đã ra đi thật chứ không về lại với tôi như tôi tưởng. Tôi nuối tiếc giấc mơ hạnh phúc. Tôi thầm tự hỏi: Liệu trong mơ nếu tôi thức chờ ông, tôi có gặp lại ông không? Nhưng cuộc sống không dừng lại để tôi nuối tiếc, tôi chuẩn bị quần áo đi chợ cùng mẹ. Tôi có kể lại cho mẹ giấc mơ, mẹ chỉ im lặng, chắc tâm trạng mẹ khó có thể nói thành lời.

    Giấc mơ chỉ là sự mong ước tưởng tượng, chuyện cổ tích vẫn là chuyện cổ tích. Tôi sẽ vẫn nuối tiếc nhưng chỉ là nhỏ nhoi thôi. Tôi đã học được nhiều điều từ giấc mơ ấy, học được niềm tin và hi vọng và cả nỗ lực cố gắng cho giấc mơ của chính mình.

    2.6 Viết bài tập làm văn số 2 lớp 9 mẫu 6

    “Một năm mới lại về rồi, mẹ à!” Tôi ngước mắt nhìn lên bầu trời đêm và nghĩ về người mẹ kính yêu. Đã 3 năm kể từ ngày mẹ đi sang nước ngoài rồi. Nhớ lại hồi mẹ còn ở đây, mẹ đều đưa tôi đi chợ hoa và mua sắm vào những ngày năm mới gần kề thế này. Tôi cứ ngồi suy nghĩ mông lung rồi chìm vào giấc ngủ.

    “Hồng ơi!”, tôi nghe thấy có tiếng gọi từ đằng xa. Tôi quay lại thì thấy mình đang đứng giữa khu công viên mà ngày tôi còn bé mẹ thường dắt tôi đến đây chơi. Từ xa bước lại phía tôi là một bóng người mà tôi cảm thấy vừa thân quen, vừa lạ lẫm. “Phải chăng là mẹ?” – Tôi thầm nghĩ bụng. Tôi chạy lại gần để nhìn cho rõ. Ồ! Đúng là mẹ rồi. Lông tôi vô cùng sung sướng và hạnh phúc. Không kìm nổi xúc động, tôi gọi thật to: “Mẹ, mẹ ơi!” rồi tôi chạy đến ôm chầm lấy mẹ. Mẹ cũng dang rộng đôi vông tay bé nhỏ của mình để ôm tôi. Mẹ nghẹn ngào nói: “Hồng! Con của mẹ!” Tôi òa khóc trong giây phút được gặp lại người mẹ kính yêu đã xa cách bao ngày. Đến bây giờ tôi mới có dịp nhìn kĩ mẹ hơn. Mái tóc của mẹ đã điểm vài sợi bạc. Những nếp nhăn của tháng ngày vất vả khó khăn bên xứ người hằn lên bên khóe mắt của mẹ. Chỉ có một điều ở mẹ mà tôi thấy không hề thay đổi, đó chính là nụ cười. Nụ cười của mẹ vẫn thật hiền dịu và đem lại cho tôi cảm giác yên bình, hạnh phúc. Đang mải ngắm nhìn người mẹ hiền dịu đã xa cách bao ngày thì giọng mẹ vang lên khiến tôi hơi giật mình:

    – Mẹ con mình ra ghế đá kia tâm sự đi. Lâu lắm rồi mẹ con mình không được nói chuyện với nhau.

    Tôi gật đầu:

    – Vâng ạ!

    Tôi và mẹ ra hàng ghế đá thân thuộc ngày nào. Mẹ vuốt nhẹ lên mái tóc tôi và hỏi:

    – Dạo này gia đình mình thế nào hả con?

    Tôi liền trả lời:

    – Mọi người vẫn khỏe mẹ à! Ông ngoại thì thỉnh thoảng bị thấp khớp. Còn các bác thì vẫn đi làm đều. Mọi người vẫn nhắc tới mẹ luôn đấy ạ. Ai cũng nhớ mẹ nhiều lắm.

    Mẹ mỉm cười hiền dịu:

    – Ừ! Vậy việc học của con bây giờ sao rồi? Con vẫn giữ ước mơ về sau trở thành phóng viên chứ?

    Tôi nhanh nhảu trả lời:

    Lời nói của mẹ như truyền thêm niềm tin cho tôi:

    2.7 Viết bài tập làm văn số 2 lớp 9 mẫu 7

    Mưa tầm tã, giã thêm cho nát thân xác hoang tàn của một công trình đổ nát hiện vẫn còn đè bẹp vài số phận hẩm hiu. Lực bất tông tâm, mấy anh mấy chú cứu trợ đành chịu buông xuôi trước nhịp vẫy của đôi tay mỗi phút trôi qua yếu dần đi của một con người xui xẻo đang quằn quại, ngột ngạt trong đống sắt thép.

    “Hức… hức…” tiếng nấc xé lông của mẹ, đã một tháng qua, cái bức họa thảm khốc ấy vẫn chưa buông tha cho tâm trí của mẹ. Cứ đến chiều trời vừa chập tối là hình ảnh của cha lại hiện về nhiều hơn, mẹ cứ tự tưởng tượng ra cái cảnh cha vùng vẫy một cách vô vọng, rồi cố cảm nhận cái nỗi đau ấy để mà khóc nấc lên. Rồi lại len lẻn ra chỗ bàn thờ cha, ngồi bên linh cữu cha mà than thở:

    – Anh này, số mình xui thế anh nhỉ? Cũng đúng chứ, người nghèo có cái khổ của người nghèo, cái khổ của người nghèo là “khổ liên miên”- rồi khẽ nấc lên, cái giọng nói mỗi lúc lại thêm nghẹn ngào – hức… anh bỏ con bỏ em mà đi, anh đi được thì anh ráng mà sống cho sướng với ông bà, còn lại nỗi khổ của anh ở nơi này thì em thay anh em gánh… em sẽ gánh tất cả… một mình em gánh…hư…hư…

    Mẹ khiến tôi muốn khóc, tâm trí tôi hỗn loạn và sao sự hỗn loạn cứ sinh sôi nảy nở thêm trong đầu, càng hỗn loạn, không thể chứa được ngần ấy suy nghĩ nữa, tôi cảm thấy…

    Căn nhà này thật ngột ngạt,

    Căn nhà này thật buồn chán, thật rùng rợn.

    Tôi ước mong được rời khỏi đây thật nhanh,

    Rời khỏi mẹ là một người phu nữ nhiều nước mắt và hay than vãn.

    Tôi muốn rời khỏi đây thật nhanh,

    Rời khỏi sự bi quan đó như thể nó sẽ đuổi theo tôi và biến tôi thành một con người đau khổ như mẹ.

    Chạy trốn khỏi đây là điều tôi muốn.

    Trốn đến nơi nào chỉ có mình tôi thôi.

    Tôi còn muốn…

    Đột nhiên xung quanh tôi tất cả đều là màu đen, như thể hai mắt đang nhắm tịt nhưng mà sự thật là nó đang mở to, bốn bề im lặng, tôi tự hỏi mẹ tôi đâu, sao không đi thắp nến đi, cái nệm đâu, không đến được chỗ cái nệm thì làm sao mò được cái quạt tay để quạt cho mát thì mới ngủ được chứ, tôi cứ đinh ninh là cúp điện và theo thói quen thì khi cúp điện cứ mò theo bức tường khi nào đụng phải cái ghế thì rẽ trái và khi nào đụng cái nệm thì cúi xuống và mò xem cái quạt ở đâu, đó là nhiệm vụ của tôi, nhiệm vụ của mẹ là thắp nến và… nhiệm vụ của ba là bất ngờ hét to lên và cố hù cho mẹ và tôi sợ phát khiếp, đó là cái niềm vui của ba khi cúp điện.

    Nhưng không phải vậy, xung quanh tôi không có chút động tĩnh, không có tiếng la thất thanh và đôi bàn tay bất chợt nắm chặt vai tôi của ba cũng không có ánh nến lấp ló, lập lòe của mẹ,

    Tôi đi mãi đi mãi, mò mẫm hai bên nhưng không thấy bất cứ cái ghế nào đụng cái cốp vào chân như thường lệ. Sư khác lạ làm tôi sợ, bất giác nhớ lại câu chuyện ma của Ngọc Ngạn vừa xem hôm rồi, tôi rùng mình, cảm thấy toàn thân muốn rụng rời. Tự nhiên, cái gì đó nắm lấy chân tôi, cái gì lành lạnh, kéo tôi muốn ngã xuống:

    – Á…á…á…! Cứu con với mẹ ơi. Cứu! Cứu con! Cứu con mẹ ơi…

    Tôi cố vùng chạy, tim đập như trống đánh, lúc này thật kinh dị, thật kinh khủng, tôi nhắm mắt lại, cố nghĩ đây chỉ là một giấc mơ, chợt có ánh sáng nhỏ du hành vào nơi tối tăm này, tôi mừng hết lớn, vừa sợ vừa hi vọng. Thế mà ánh sáng đó vô tình cho tôi thấy một hình ảnh kinh khủng nhất trong đời mà tôi chưa từng nhìn thấy cái hình ảnh nào khủng khiếp hơn thế trong suốt thời gian tôi sinh ra đến giờ. “Cái gì đó” nắm chặt chân tôi chính là một bàn tay, bàn tay trầy trụa, có ít máu nhòe ở các vết trầy, mà cái rùng rợn nhất, đó là bàn tay của một người đàn ông mặc cái áo có thêu cái chữ N là chữ kí của mẹ tôi khi may áo cho cha tôi. Thật điên rồ, chưa có chuyện gì điên rồ hơn chuyện này, cha tôi đã chết rồi và cha đẹp trai lắm, còn người đang nằm đây thật ghê rợn, hốc hác, xanh xao, bầm dập, tôi sợ quá, sợ lắm, ước gì có mẹ ở đây với tôi hay nếu có thằng Ù cũng tốt, thằng ấy chả sơ cái gì bao giờ cả, vì thế có thể nó sẽ làm cho tôi hết sợ hãi.

    Nhưng thực tế là tôi chỉ có một mình, tôi thừa nhận là tôi đã ước được ở một mình nhưng một mình ở thế giới giống thế này thì chưa bao giờ tôi nghĩ đến. Bàn tay ấy dần nới lỏng ra và rớt xuống đất. Cha của tôi đây sao? Mười hai năm sống bên cha có lúc yêu cha có lúc giận cha, một tháng không còn cha và đây là giây phút gặp lại thật khó ngờ, khi đã khẳng định được đó là cha của mình, và sau những giây phút hoàng hồn, sợ hãi thì lúc này đây lông tôi nặng nề làm sao, niềm vui đoàn tụ đè nặng lên tất cả những cảm xúc khác, tôi nhìn cha, lúc này đây cha thật yên lặng, cha chẳng nói gì cả, chẳng buồn nói một câu bông đùa, ánh sáng mỗi lúc thêm tỏ hơn, tỏa rộng ra xung quanh cha, ba thanh thép đã rỉ, chắc tại mấy bữa ông trời khóc quá chừng, trên chân phải của cha, một miếng bê tông còn ẩm và lạnh tanh, đè chân cha nát tan, máu loang ra đất, tôi tự hỏi, còn bao nhiêu người đã chịu cảnh như cha? Bỗng tối dần lại, một, hai, ba giọt nước rơi rơi, có hạt rơi rất nhanh, có hạt rơi chậm rãi, có hạt thật nặng và đầy nước, có hạt bé xíu như bụi phấn, chúng nó cứ rơi vô tư như thế, tạo nên một giai điệu thật đẹp đẽ nhưng buồn và rất buồn. Chúng rủ rê cả nước mắt của tôi rơi theo, rớt lên khuôn mặt của cha, khuôn mặt vốn dĩ đang gầy gò và rất xanh. Người ta nói tình phụ tử là một tình cảm thiêng liêng và kì diệu, người ta đúng, tôi có thể nghe tiếng cha thở, và cơ thể cha chuyển động, cha đang sống lại, tôi bắt đầu thấy nghi ngờ sự việc này, nó giống truyện cổ tích và thường chỉ có trong phim, cớ nào lại đến với một con người “chẳng có gì” như tôi? Mọi thứ trở nên mơ hồ, huyền huyền ảo ảo, mờ nhạt và phai nhòa thấy hẳn, bấy giờ, tôi chỉ thấy cha ngồi dậy, và tôi nhớ từng lời cha nói:

    Thật hạnh phúc khi được nghe lại cái điệu cười và lời nói quen thuộc như thế, tôi thấy cha dễ thương quá, và thoáng nghĩ “trên đời này không ai có được cha như cha của mình”, bỗng cha đổi giọng trầm xuống:

    – Con gái, từ nay, có lẽ cuộc đời con sẽ có chút thay đổi đấy, biết không con? Cha sẽ không thể giúp đỡ mẹ được nữa, vì vậy mẹ sẽ rất cơ cực, mẹ sẽ rất mệt, và mẹ sẽ cáu lên! Con thấy mẹ cáu chưa? Ôi cha sợ lắm đấy. Ha ha. Này con, cha thật là buồn vì từ nay sẽ bỏ lỡ rất nhiều chuyện nhưng có một điều cha muốn con nhớ: “sự mất mát dẫn đến một sự khắc phục, sự khắc phục phải đưa đến một sự tốt đẹp hơn, như thế thì sự mất mát ấy mới không vô ích”. Rồi mọi thứ sẽ lại như bình thường, quan trọng là từ đây, ta có tốt lên hay không và ta phải cố gắng làm sao không để xảy ra thêm sự mất mát khác. Từ nay, con phải thay cha an ủi, động viên mẹ này, giúp mẹ những việc mà mẹ vẫn làm, để mẹ có thời gian làm những công việc ba “nhường” lại cho mẹ đó con, nhớ lời cha chưa nào?

    Thật dễ dàng cho tôi trả lời: “Dạ vâng ạ!”

    Và nhanh như thời gian cho một cái xe tải từ trên ngôi nhà hai tầng rớt xuống đất, tôi trở về căn nhà yêu dấu của tôi. Sau bức tường, tiếng mẹ hòa với tiếng nấc: “Sao không bật đèn vậy con gái?”. “A! Mẹ mẹ.”- người tôi lảo đảo, đến ôm me một cái thật chặt, cảm thấy tâm hồn thật bình yên và hạnh phúc. Tôi nói với mẹ:

    – Mẹ này, con yêu mẹ lắm! Mẹ có mệt không con lấy cho li nước?

    Rồi tôi nói với ba “Con cũng yêu ba lắm! Ba yên tâm, con gái ba sẽ làm cho mẹ thật hạnh phúc, con sẽ ngoan hơn bất kì đứa trẻ nào trên đời, con rất buồn đó ba, vì mai này con sẽ không bình thường nữa, con sẽ thành mồ côi, là một đứa vừa nghèo vừa mồ côi, nhưng mà ba ơi, con gái ba sẽ cố gắng, dù điều đó thật khó khăn. “Sự mất mát dẫn đến một sự khắc phục, sự khắc phục phải đưa đến một sự tốt đẹp hơn, như thế thì sự mất mát ấy mới không vô ích”, phải không ba?

    2.8 Viết bài tập làm văn số 2 lớp 9 mẫu 8

    Trong gia đình, người tôi yêu mến và thân thiết nhất chính là anh Hai. Cách đây hai năm, anh Hai tôi vừa tốt nghiệp đại học quân sự đã được điều đến vùng biên giới để công tác. Từ ngày ra đi, anh rất ít khi về thăm nhà, chỉ thỉnh thoảng viết thư cho gia đình. Khi còn ở nhà, anh rất thương yêu tôi. Mỗi tối anh đều kèm tôi học, giúp tôi giải toán thật nhanh. Tình cảm giữa hai anh em tôi vô cùng thắm thiết. Nay anh đi xa, tôi buồn và thấy cô đơn nhiều lắm.

    Ngày mai có bài thi môn toán nên tôi cố gắng giải các đề ôn tập để làm bài thi thật tốt. Tôi đã giải gần hết các bài toán, chỉ còn duy nhất một bài rất khó, tôi suy nghĩ mãi mà không tìm được lời giải. Bây giờ, tôi chỉ ước có anh Hai bên cạnh tôi để giảng bài cho tôi. Trời đã khuya, bài toán khó khiến tôi mệt mỏi và mọi thứ xung quanh tôi mờ dần, mờ dần…

    Bỗng, có tiếng gõ cửa với tiếng gọi quen thuộc: “Nhóc ơi, ra mở cửa cho anh!” A, đó chính là anh Hai! Anh Hai đã về rồi. Tôi nhảy cẫng lên rồi vội mở cửa, đưa anh vào nhà. Anh đặt ba lô xuống đất rồi xoa đầu tôi:

    – Em đang giải toán à? Giỏi quá vậy ta!

    Rồi anh kéo tôi cùng ngồi xuống ghế, hỏi thăm về chuyện học hành của tôi. Tôi hào hứng khoe với anh về những thành tích học tập của mình. Anh nghe xong, cười đắc chí:

    – Thế mới là em của anh chứ!

    Tôi đòi anh kể chuyện những ngày ở biên giới. Anh vui vẻ kể tôi nghe hàng tá chuyện vui của đời quân ngũ. Lúc chăm chú ngồi nghe anh kể, tôi mới để ý thấy rằng da anh tôi đen hơn trước rất nhiều, có lẽ do anh luôn phải dãi nắng dầm sương. Cả người anh trông cũng to lớn, vạm vỡ hơn trước nhờ rèn luyện sức khỏe hằng ngày để khỏe mạnh, đủ sức chống chọi với thời tiết khắc nghiệt vùng biên giới. Nhưng đôi mắt anh vẫn sáng và tinh anh như ngày nào. Anh vẫn nhìn tôi thật dịu dàng và trìu mến.

    – Em hứa sẽ cố gắng học, không làm anh Hai thất vọng đâu. Em phải thật xứng đáng là em gái của một chiến sĩ bộ đội chứ.

    Anh ôm tôi vào lông, vỗ vai tôi rồi đứng lên, đeo ba lô và bước ra cửa. Anh vẫy tay chào:

    – Anh đi đây! Nhiệm vụ đang chờ anh!

    Anh bước ra khỏi cửa. Cánh cửa đóng sầm lại khiến tôi giật mình choàng tỉnh. Ồ, hóa ra đó chỉ là một giấc mơ.

    Dù chỉ gặp được anh Hai trong giấc mơ nhưng tôi vẫn cảm thấy rất vui. Khi tỉnh giấc, tôi cảm thấy khỏe khoắn và đầu óc minh mẫn hẳn lên. Tôi quyết tâm giải bằng được bài toán khó này để không phụ lông mong mỏi của anh tôi. Ngày mai, sau khi thi xong, tôi sẽ viết thư kể cho anh nghe giấc mơ vừa rồi, chắc là anh Hai sẽ vui lắm.

    Trong giấc một giấc mơ, em được gặp lại người thân xa cách đã lâu. Hãy kể lại giấc mơ đó – Bài văn mẫu 9

    Thời gian cứ vô tình trôi, muốn cuốn đi tất cả. và bụi thời gian cứ phủ lên, cứ muốn xóa nhòa kí ức. Không biết sóng gió cuộc đời đánh ta đi về đâu. Trong cuộc đời, bao sự việc xảy ra, bao người bạn mới đến với ta. Và có thể: ta đã lãng quên quá khứ. Nhưng khi ta bỗng chững lại, bỗng gặp lại bản thân ta, khi mọi kí ức bỗng tràn về, ta giật mình, khẽ gọi: bạn.

    “Hẹn gặp cậu trong mơ”- lời tôi thường nói. Nhưng điều ấy chưa bao giờ thành hiện thực. Phải chăng vì tôi đã quá vô tâm, đã tụ tha hóa bản thân, tự thay đổi mình? Nên bà tiên đã đến, vung cây đũa thần, hóa phép nhiệm màu, đi tôi đi tìm tôi, tìm lại kí ức.

    Trong mơ, tôi đứng lặng giữa một cơn phòng lớn, rông thênh thang, thẫm một màu u uất. Tôi mệt mỏi bởi cứ phải lê gót, lê gót giữa bãi cát dài. Biết đâu tâm hồn mình đã hóa thành cát bụi.

    Trong mơ, tôi co người vì lạnh. Lạnh da lạnh thịt, buốt giá tâm can. trong mơ, lông tôi thổn thức, biết đâu là đích đến của cuộc hành trình, biết nơi nao dừng lại?? Tôi buồn, tôi cô đơn, tôi trống rỗng. Tôi đang đi trong căn phòng kín của tâm hồn mình- nơi tôi đã tự chôn vùi kí ức!!

    Trong mơ, bạn xuất hiện. Trong mơ, Sử – bạn của tôi vẫn vậy. Vẫn nước ra ngăm đen vì nắng cháy; vẫn bàn tay khô ráp, đã sẫm lại do nhựa cỏ; vẫn đôi mắt đày tự tin, đầy nghị lực. Và nụ cười vẫn chưa hề nở trên môi tới một lần. Tôi chạy tới, muốn ôm chặt lấy bạn, muốn được bạn trở che. Bạn của tôi – sóng gió cuộc đời không đánh gục được. Bạn của tôi- vẫn mãi như Asin kiên cường.

    Tôi từng là một cô bé hồn nhiên, sống trong vông tay ấm áp của mẹ, của cha. Tôi luôn nghe lời, luôn biết: không được chơi với thằng Sử chăn trâu. Và cứ thế, cứ thấy bạn từ xa, lũ trẻ chúng tôi chạy xa. “Phải “cạch” thằng Sử”. Cuộc đời tôi – phẳng lặng.

    Bạn – một số phận bất hạnh. Bất hạnh ngay từ cái tên: thằng không cha. Bạn bất hạnh vì không phải là dân bản địa, không có ruộng đất. Bạn bất hạnh vì con mắt người đời: “Bố nó chết vì AIDS, anh nó đi tù”. Cuộc đời bạn – đầy bão tố.

    Nhưng bạn hiên ngang đi ra từ bão tố, hiên ngang kéo tôi ra khỏi bàn tay tử thần dưới dông ông Hồng đục đỏ. Tại tôi ham chơi, ham hái hoa rau muống tím biếc mọc sát bờ sông. Tin con bé sém bị chết đuối khi cả vùng ai cũng biết. Còn bạn – vị anh hung thì mãi mãi vô danh.

    Và tôi lần đầu tiên cãi lại lời mama: kết bạn với bạn. Có thể với bạn, tôi chỉ là cơn gió nhẹ. Nhưng với tôi, bạn còn mạnh hơn cả giông tố cuộc đời mình. Bạn đến, tôi nhận ra được nhiều điều. Nhờ có bạn, tôi yêu hơn biết bao điều giản dị quanh mình.

    Quên sao được những buổi chiều lộng gió, nằm giữa một rừng hoa đồng nội, lắng nghe tiếng sáo diều vi vu vi vu. Quên sao được niềm vui khi chạy trên triền đê, khi cỏ may bám đầy áo, và hét to: “Tôi yêu quê tôi”

    Niềm hạnh phúc của cô bé vùng quê Bác Bộ đâu chỉ có vậy. Bạn tối ngày đi làm thuê cho cả làng, quần quật suốt ngày, nhọc nhằn lẫn nhọc nhằn, bạn vẫn không thể hiện chút cảm xúc nào trên nét mặt. Xã cho con trâu, bạn làm bạn với nó. Vậy thôi!! Tôi dậy bạn chữ, dạy bạn làm toán. Nhưng biết không Sử ơi: bạn cũng chính là một người thầy của tôi đó. Cuộc đời bạn là một thiên truyện dài. bạn kể nhiều, nhiều lắm, nhiều hơn rất nhiều tôi có thể nghĩ về cuộc đời của cậu bé 12 tuổi. Bạn rất mong ước có một gia đình. bạn ước được như tôi, mong một lần được cất tiếng gọi mẹ. Nhưng đâu có được. “Đời là vậy. Sóng gió đánh có chọn ai đâu.” Tôi biết được giá trị của đồng tiền; biết thương giọt mồ hôi rơi trên má mẹ, yêu giọt nước mắt cay khóe mi cha hơn, biết cha mẹ phải vất vả như thế nào để nuôi “2 cô vịt giời” khôn lớn. Tôi hối hận vì đã bỏ cơm vì không có con búp bê. Tôi hiểu hơn giá trị của hạnh phúc gia đình. Tôi hối hân, tôi giận mình vì đã trốn học đi chơi, đâu biết đó là ước mơ, là nỗi khao khát lớn của bạn.

    Nhưng đúng thật: “Sóng gió cuộc đời có chọn ai đâu”. Do làm ăn tốt, cả nhà tôi đã rời khỏi miền quê nghèo ấy. Biết tin, bạn chỉ ừ. Và hôm tôi đi, tôi không gặp lại bóng dáng thuở nào. Thời gian trôi, thấm thoắt đã 6 năm, tôi gần như đã quên: mình có một người bạn.

    Trong mơ – bạn gặp tôi. Vẫn vậy. Tôi bỗng ngượng ngùng, bẽn lẽn, xấu hổ… Vẫn cái nhìn ấm áp. Bạn của tôi – Bạn mỉm cười. Và tôi bừng tỉnh.

    Hôm nay, trên chuyến xe này, tôi trở lại quê hương, tìm lại tuổi thơ, tìm lại một người bạn. Và tìm lại một miền kí ức.

    2.9 Viết bài tập làm văn số 2 lớp 9 mẫu 9

    Những ngày đầu mùa đông, trời trở lạnh, em đi ngủ sớm hơn mọi khi. Em nằm bên cạnh bà và được nghe những câu hát mượt mà của ngày xưa bà thường hay hát. Chẳng mấy chốc, giọng hát ngọt ngào ấy đã đưa em chìm sâu vào giấc ngủ. Trong giấc mơ, em thấy ông nội trở về trò chuyện cùng với em.

    Ông nội em năm nay cũng khoảng 70 tuổi nhưng ông đã không còn từ khi em mới bỡ ngỡ bước vào lớp một. Thời gian trôi qua thật nhanh, thấm thoắt cũng đã gần chục năm rồi em không được sống bên cạnh ông, không được nghe giọng nói ồm ồm chứa đựng bao tình thương của ông.

    Em vẫn nhớ như in giấc mơ hôm đó, em thấy ông nội với hình dáng gầy gầy thân quen đi về phía em đang học bài. Em vui sướng chạy ra ôm chầm lấy ông. Đôi bàn tay ấm áp của ông nhẹ nhàng xoa lên đầu em rồi ông dắt em từ bàn học ra chiếc ghế nhỏ ngày xưa hai ông cháu dạy nhau tập đọc đặt ở phòng ngoài. Đã lâu lắm rồi mà nhìn ông vẫn không thay đổi là bao so với trước. Khuôn mặt vấn rạng ngời phúc hậu đã xuất hiện thêm nhiều nếp nhăn. Đôi mắt sâu hơi mờ đi nhưng đôi tai ông vẫn còn tinh lắm. Dường nhu chỉ có mái tóc bạc thêm là thấy rõ vì dấu ấn thời gian.

    Ông hỏi han về tình hình học tập của em có tốt không? Em tự hào kể cho ông nghe về những thành tích mà mình đã đạt được. Nói đến đâu ông cũng gật đầu tỏ vẻ hài lông và khen em đã có tiến bộ hơn ngày trước rất nhiều. Em cảm thấy ông rất vui và hãnh diện vì mình. Song ông vẫn nhắc nhở em phải biết lấy đó làm động lực để mình cố gắng. Ông mong em luôn chăm chỉ học tập, rèn luyện bản thân, không lúc nào được nguôi nhớ công ơn sinh thành và nuôi dưỡng của bố mẹ, thầy cô. Em ngồi im lặng và thấm thía những lời dạy đầy ý nghĩa của ông vào tâm trí. Rồi em hỏi thăm sức khoẻ của ông. Ông nói rằng ông rất khoẻ và luôn nhớ về mọi người. Ông hy vọng rằng em sẽ thay ông chăm sóc bà thật tốt. Em cảm động lắm, không biết nói gì em chỉ biết nhìn ông và gật đầu thay cho câu trả lời của mình. Ngồi nói chuyện được khá lâu, ông kể tiếp cho em nghe nhiều câu chuyện hay mà ngày trước ông vấn thường hay kể. hai ông cháu nói chuyện vui vẻ, giọng nói và tiếng cười ấm áp của ông vang khắp căn nhà bé nhỏ.

    Trời về khuya hơn, màn đêm yên ắng, tĩnh mịch lạ thường. Em hỏi ông hay nói đúng hơn nó là lời trách móc ngây thơ rằng: “Sao ông không thường xuyên về thăm gia đình hay là ông đã quên mọi người? Lần này về ông phải ở đây thật lâu để chơi với chúng cháu”. Ông khẽ nói với em rằng: “Hãy nhớ ông luôn ở bên cạnh mọi người”. Nói xong, ông lẳng lặng bước ra cửa, vì sợ phải xa ông em vội chạy theo nhưng hình ảnh ông cứ xa dần, chỉ thỉnh thoảng ông ngoảnh lại vẫy tay tạm biệt. Em khóc gọi theo ông. Thấy mình khóc, em tỉnh dậy thì ra những gì mình vừa thấy chỉ là mơ. Đó là một giấc mơ mà em không bao giờ quên được.

    Em sẽ luôn ghi nhớ và trân trọng giấc mơ quý giá này. Em tin rằng dù không có thật nhưng mỗi lời nói, cử chỉ ông dành cho em đều là động lực để em vươn lên trong cuộc sống.

    2.10 Viết bài tập làm văn số 2 lớp 9 mẫu 10

    ” À ơi … à ời…”

    Tiếng hát ru ngọt ngào làm tôi tỉnh giấc. Ánh mặt trời không gay gắt nhưng cũng đủ làm tôi bị lóa. Dụi dụi đôi mắt, tôi nhận ra mình đang nằm trước hiên nhà, gối đầu lên đôi chân gầy gầy xương xương quen thuộc. “Là bà nội! Đúng là nội rồi!” -Tôi reo thầm rồi rụt rè ngước mắt lên. Trước mắt tôi là khuôn mặt hiền từ phúc hậu đang nhìn tôi đầy yêu thương trìu mến. Tôi choàng dậy, ôm trầm lấy nội mà nức nở:” Bà ơi! Cháu nhớ bà nhiều lắm”.

    Đôi bàn tay đầy những vết chân chim vuốt ve mái tóc tôi:

    -Cháu gái yêu của bà! Bà cũng rất nhớ con… Chà! Cháu gái của nội đã lớn thế này rồi ư?- Nội vừa nói, vừa đẩy tôi ra, lau nước mắt trên mặt tôi.

    Tôi nhìn nội thật lâu. Vẫn là khuôn mặt hiền từ ấy. Vẫn là ánh mắt đong đầy yêu thương và những nếp đồi mồi trên đôi má, những vết tích của thời gian đời người vội vã qua đi kịp để lại. Mái tóc nội bác trắng như cước. Dường như tóc nội đã bạc đi nhiều hơn thuở tôi còn bé. Vẫn là chiếc áo cánh máu nâu giản dị, chiếc quần vải sờn màu đen đã bạc. Nhưng sao hôm nay tôi thấy nội tôi đẹp đế lạ. Vẫn là những nét đẹp của một người phụ nữ tần tảo một đời vì con vì cháu, nhưng lại được cộng hưởng thêm một điều gì nữa khiến trong mắt tôi nội đẹp như một bà tiên ban phép lạ cứu rỗi những mảnh đời.

    -Để nội ngắm cháu gái của nội một chút nào! Vẫn cái trán bướng như ngày nào! Đôi mắt vẫn tinh nghịch như thuở con còn bé. Mái tóc đã để dài rồi này. Ngày còn nhỏ, cháu cứ đòi cắt tóc mãi thôi, chẳng bao giờ chịu mặc váy và cột tóc hai bên cả.- Nội cười âu yếm vuốt ve lên đôi má tôi- Cháu gái nội đã lớn thật rồi! Ra dáng một cô bé gái đáng yêu rồi!

    – Mấy năm nội vắng nhà, mọi thứ đã thay đổi nhiều quá!-Nội đưa mắt nhìn xung quanh, giọng nói chứa chan điều gì như là tiếc nuối.

    – Vâng ạ! Ba nói sửa sang lại nhà cửa để đón nội về nhà mà! Chiếc giường của nội vẫn ở đó. Nội thấy không?- Nói rồi tôi đưa tay về phía gian nhà trong- Còn nữa, cái chăn ngày trước nỗi vẫn dùng, bây giờ sưởi ấm con và em cu Tí mỗi đêm trời trở gió. Mọi thứ trong nhà vẫn bày trí y chang cách nội thường làm ngày trước. Thật may vì nội đã trở lại với chị em con và ba mẹ. Ba mẹ và em cu Tí khi về nhà chắc sẽ vui lắm!

    Cứ thể tôi ngồi bên cạnh nội, kể cho nội nghe mọi thứ đã xảy ra trong mười năm qua, khi nội vắng nhà. Chuyện ở nhà, chuyện ở trường, tất cả những gì có thể nhớ, tôi đều lần lượt kể tỉ mỉ cho nội nghe. Đôi lúc, có những chỗ tôi chưa nhớ ra, nội lại nhắc tôi. Tôi lấy làm ngạc nhiên lắm. Tôi hỏi nội thì nội nói rằng ở một nơi nào đó, nội vẫn luôn dõi theo ba mẹ và chúng tôi.

    Nhớ ngày còn bé, tôi vừa thường nhổ tóc sâu cho nội vừa nghe nội kể chuyện ngày xửa ngày xưa, những chuyện có thật và những chuyện cổ tích. Tôi bèn nảy ra sáng kiến vừa kể chuyện cho nội nghe vừa nhổ tóc sâu cho nội như ngày nào.

    Mặt trời khuất bóng sau rặng tre, hoàng hôn buông xuống trên con xóm nhỏ. Nội nhắc tôi sắp đến giờ em cu Tí và ba má về nhà và hai bà cháu bắt đầu sửa soạn nấu bữa rồi dọn dẹp nhà cửa. Nếu ngày còn nhỏ, tôi chỉ chạy lăng xăng theo nội từ nhà sang bếp, từ bếp ra vườn thì bây giờ tôi đã có thể giúp nội nhặt rau, quét nhà. Nấu nước, thổi cơm xong, tôi cùng nội cho gà cho lợn ăn, rồi tưới rau, nhặt cỏ vườn. Vừa làm, nội vừa kể cho tôi nghe những chuyện lý thú mà nội đã gặp khi vắng nhà. Xong xuôi, bà cháu tôi đợi đến khi trời tối rồi mà vẫn chưa thấy ba mẹ và em cu Tí về nhà. Bỗng cái Liên ở đầu làng chạy vào hớt hải báo tối nay ba mẹ và cu Tí sẽ đi về muộn, mẹ tôi nhắn nó lúc chiều mà đến giờ nó mới nhớ ra.

    Tôi và nội cùng nhau ăn cơm tối. Đã lâu lắm rồi tôi mới được ăn lại món ăn mình yêu thích. Món canh củ mỡ mẹ tôi cũng nấu rất ngon, nhưng chỉ khi ăn món canh đó do nội làm tôi mới thấy đầy đủ hương vị. Có lẽ đó là một chút vị của tình yêu thương của người bà, một chút hương vị của sự chở che đùm bọc cho đứa cháu gái bé nhỏ, cộng với một chút hương vị của những kinh nghiệm và sự từng trải.

    Sau bữa cơm, tôi nhận phần rửa chén và pha cho nội một chén trà gừng. Hai bà cháu tôi ngồi trước hiên nhà, trong cái gió mát lành của đêm hè, nội nhâm nhi chén trà gừng nóng, vuốt ve mái tóc tôi và lại kể tôi nghe những chuyện ngày xửa ngày xưa như ngày thơ bé… Và cứ thể, tôi đi vào giấc ngủ một cách bình yên và an tâm biết nhường nào!

    -Mai! Dậy đi học đi con! Mặt trời sắp lên cao rồi đó!- Tiếng mẹ gọi làm tôi bừng tỉnh giấc.

    Tôi choàng dậy, chạy từ sân vào bếp rồi lại ra vườn… ” Không có! Nội không có trở về! Thì ra đó chỉ là giấc mơ!” Tôi thầm nghĩ rồi chẳng hiểu sao nước mắt bắt đầu rơi lã chã. Ngồi bệt xuống tán cây nhãn khi xưa nội trồng, tôi bưng mặt khóc thút thít. Gió buổi sớm làm các tán cây xào xạc như gửi lời an ủi của nội tới tôi. Rồi như thực như mơ, tôi khẽ nghe trong tiếng lá ” Mạnh mẽ lên, cháu gái yêu của bà! Bà vẫn luôn dõi theo con! Bà yêu con!”

    Thời gian thấm thoắt tựa thoi đưa. Đã mười năm kể từ ngày nội bỏ tôi ở lại và đi xa mãi mãi. Nội thường nói đời người ai mà chẳng phải trải qua sinh ly tử biệt và luôn nhắc nhở tôi không được buồn hay khóc quá nhiều khi một người mất đi, như vậy họ sẽ không đành lòng mà bước sang thế giới bên kia. Nội thường hay bảo tôi rằng sự sống ở trần gian kết thúc là lúc cuộc sống ở một thế giới khác bắt đầu, một thế giới tốt đẹp hơn và tất cả mọi người đều được hạnh phúc. Tuy vậy, vẫn có những lúc nhớ nội không ngủ được. Nhớ vòng tay nội, nhớ những câu chuyện của nội, nhớ ánh mắt yêu thương trìu mến… Hãy trân trọng những giây phút mà ta có để ở bên và yêu thương gia đình của mình.

    2.11 Viết bài tập làm văn số 2 lớp 9 mẫu 11

    Hiện ra trước mắt tôi là khung cảnh quen thuộc của nhà bà. Ánh nắng chiều vàng vọt rọi lên khoảng trời đầy lá khô và bức tường rêu làm tôi bồi hồi. Ngôi nhà bà ở thật bình yên. Đẩy cánh cửa gỗ, tôi bước. Tôi gần như không thể tin vào mắt mình, bà đang ngồi trên ghế, bàn tay đang đan thoăn thoắt. Hình ảnh bà lúc ấy giống hệt trong bức vẽ của tôi. Vẫn là mái tóc bạc trắng được búi gọn gàng, vẫn là ánh mắt luôn ánh lên tình yêu thương con cháu, vẫn là nụ cười hiền hậu như bà Tiên trong câu chuyện cổ tích bà thường hay kể cho tôi nghe, vẫn là đôi vai gầy guộc nhưng đã gánh cả cuộc đời con cháu. Tôi chạy vội đến bên bà, ôm chầm lấy bà mà nước mắt không ngừng tuôn rơi.

    – Con bé hôm nay lạ nhỉ. Cháu về thăm bà sao không báo bà một tiếng để bà còn chuẩn bị cơm nước – Bà xoa đầu tôi âu yếm

    Tôi cứ ôm chặt lấy bà, hết thơm má, thơm trán rồi lại thơm lên bàn tay gầy guộc, đầy những chấm đồi mồi đã từng nuôi tôi khôn lớn.

    – Chỉ là…chỉ là… cháu nhớ bà quá

    Bà mắng yêu:

    – Bố cô!

    Rồi như sực nhớ ra, tôi liền vội vàng khoe:

    – Bà ơi, hôm nay cháu đã được 10 điểm môn Mỹ Thuật. Bà biết cháu vẽ ai không? Đó chính là bà kính yêu của cháu đấy ạ

    – Cháu bà giỏi lắm, cháu muốn bà thưởng gì cho cháu nào?

    – Chè kho ạ – Tôi hào hứng nói

    Hồi nhỏ, do công việc ba mẹ bận rộn nên tôi về sống với bà ở quê. Cuộc sống nơi đây cũng không dư dả gì nên khác với các bạn thành phố, tôi rất quen thuộc với những món ăn giản dị mà đậm đà hương vị của người Việt. Bà cưng tôi lắm, cái gì cũng chiều. Bà bảo ăn đi, rồi mai sau có đi đến phương trời xa xôi nào cũng nhớ về quê cha đất tổ, dòng dõi tổ tiên. Tôi theo bà xuống bếp, bà bảo tôi lấy từng thanh củi cho vào bếp. Nồi đỗ xanh trên bếp sôi lên rồi dần dần cạn đi. Sau đó bà cẩn thận ước chừng lượng đường sao cho chè đổ ra không quá ngọt cũng không quá nhạt. Bà khuấy đều đường cùng đỗ. Lâu thật lâu, khi nước trong nồi sánh lại, bà mới bảo được rồi. Lúc đầu chè đổ ra còn nóng, tôi phải ăn dè dặt. Đến khi nguội, hai tay hai miếng chè mà như thấy cả cái ngọt thơm tan ra trong miệng. Vị ngọt vừa của đường quyện với vị béo ngậy của đỗ khiến cho tôi ăn năm, sáu miếng liền tù tì mà sao vẫn thấy thòm thèm. Chao ôi, những đĩa chè kho có vị ngọt của đường đỗ lẫn trong niềm háo hức trẻ thơ, khiến cho không có món chè nào ngọt hơn thế, hấp dẫn hơn món ăn của bà.

    Tỉnh dậy, tôi mới biết mình đã mơ. Một giấc mơ thật đẹp và nếu cho tôi được chọn, tôi muốn được ở trong giấc mơ ấy thêm nữa, được đắm chìm trong thế giới cổ tích và bà hiện ra là bà Tiên hiền hậu, nhân từ. Bên tai tôi vẫn còn văng vẳng những lời nói dịu dàng của bà cùng câu hát à ơi mà bà thường ngâm nga ru tôi vào giấc ngủ thuở còn tấm bé. Dù bà đã đi xa nhưng trong lòng tôi tin rằng, dáng hình hiền hậu ấy sẽ mãi luôn bên tôi, dõi theo bước đường mà tôi đi.

    3. Bài viết số 2 lớp 9 đề 1, 3, 4

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Tập Làm Văn Số 3 Lớp 9
  • Bài Viết Số 3 Lớp 9 Văn Tự Sự
  • Tưởng Tượng 20 Năm Sau Em Về Thăm Trường Cũ
  • Bài 19. Tiếng Nói Của Văn Nghệ
  • Bài Luận Tiếng Anh 9
  • Soạn Bài: Khái Quát Văn Học Việt Nam Từ Đầu Cách Mạng Tháng Tám 1945 Đến Thế Kỉ Xx

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 12 Tuyên Ngôn Độc Lập Tiếp Theo Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Tiếp Theo) Trang 38 Sgk Ngữ Văn 12 Tập 1
  • Soạn Bài Nghị Luận Về Một Tư Tưởng, Đạo Lí Siêu Ngắn
  • Bài 2 Trang 9 Sgk Ngữ Văn 7 Tập 1
  • II. Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1 (trang 18 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1): Nêu những nét chính …

    – Nền văn học của chế độ mới vận động và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản tạo nên một nền văn học thống nhất về khuynh hướng, về tổ chức và quan niệm nhà văm kiểu mới: nhà văn – chiến sĩ.

    – Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt, kéo dài suốt 30 năm, tác động mạnh mẽ tới đến đời sống vật chất, tinh thần của toàn dân tộc.

    – Công cuộc xây dựng cuộc sống mới, con người mới.

    – Điều kiện giao lưu với nước ngoài không thuận lợi, chỉ giới hạn trong một số nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc).

    Câu 2 (trang 18 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1): Văn học Việt Nam …

    Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 trải qua các chặng:

    + Chặng đường từ 1945 đến 1954.

    + Chặng đường từ năm 1955 đến 1964.

    + Chặng đường từ 1965 đến 1975.

    Những thành tựu chủ yếu:

    * Chặng đường từ 1945 đến 1954

    – Từ năm 1945 – 1946: một số tác phẩm phản ánh không khí hồ hởi, vui sướng của nhân dân ta khi đất nước vừa giành được độc lập.

    – Từ năm 1946 – 1954:

    + Thể loại truyện và ký: đây là thể loại mở đầu cho văn xuôi kháng chiến chống Pháp. Tác phẩm tiêu biểu: Đôi mắt, Nhật ký ở rừng ( Nam Cao)…

    + Thơ ca: đạt được nhiều thành tựu xuất sắc, cảm hứng xuyên suốt là tình yêu quê hương, đất nước, lòng căm thù giặc, ca ngợi cuộc kháng chiến và con người và con người kháng chiến. Tác phẩm tiêu biểu: Cảnh khuya, Rằm tháng giêng (Hồ Chí Minh), Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm)…

    + Kịch: Một số vở kịch gây được sự chú ý, phản ánh hiện thực cách mạng và kháng chiến.

    Ngoài ra còn lí luận, nghiên cứu, phê bình văn học…

    * Chặng đường từ năm 1955 đến 1964:

    – Văn xuôi: bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, ký. Các tác giả mở rộng đề tài, bao quát được khá nhiều vấn đề và phạm vi của hiên thực cuộc sống.

    – Thơ ca phát triển mạnh mẽ, cảm hứng chủ đạo là sự hồi sinh của đất nước sau những năm kháng chiến chống Pháp, thành tựu bước đầu của công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, nỗi đau chia cắt hai miền Nam – Bắc. Những tác phẩm tiêu biểu: tập Gió lộng (Tố Hữu), tập thơ Ánh sáng và phù sa (Chế Lan Viên)…

    * Chặng đường từ 1965 đến 1975:

    – Văn xuôi: những truyện ký, viết trong máu lửa và chiến tranh đã phản ánh nhanh nhạy và kịp thời cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam anh dũng. Miền Bắc truyện ký cũng phát triển mạnh.

    – Thơ ca: đạt được nhiều thành tựu xuất sắc, là một bước phát triển mới của thơ ca Việt Nam hiện đại.

    + Tập trung thể hiện cuộc gia quân vĩ đại dân tộc.

    + Khám phá sức mạnh của con người.

    + Sự xuất hiện những đóng góp của thế hệ nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ cứu nước, họ đem đến cho thơ Việt nam hiện đại một tiếng thơ mới mẻ, sôi nổi và vẫn thấm đợm suy tư, triết lí.

    Câu 3 (trang 18 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1): Những đặc điểm cơ bản …

    Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ năm 1945 đến 1975

    a, Nền văn học chủ yếu vận động theo khuynh hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh của đất nước

    – Văn học phải là một thứ vũ khí, phục vụ sự nghiệp cách mạng và kháng chiến.

    – Quá trình vận động, phát triển của nền văn học mới ăn nhịp với từng chặng đường lịch sử của dân tộc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước.

    – Các đề tài lớn:

    + Đề tài Tổ quốc.

    + Đề tài chủ nghĩa xã hội

    + Hai đề tài có mối quan hệ mật thiết với nhau trong sáng tác của từng tác giả.

    b, Nền văn học hướng về đại chúng

    – Cảm hứng chủ đạo: Đất nước của nhân dân.

    – Các nhà văn quan tâm đến đời sống của người lao động, nỗi bất hạnh của người lao động nghèo trong xã hội cũ.

    – Đặc điểm:

    + Quen thuộc với nhân dân, ngôn ngữ bình dị, dễ thuộc, dễ nhớ.

    c, Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

    – Khuynh hướng sử thi:

    + Các tác phẩm phản ánh những vấn đề cơ bản nhất, có ý nghĩa sống còn với đất nước.

    + Người cầm bút nhìn cuộc đời bằng con mắt có tầm bao quát lịch sử, dân tộc và thời đại.

    + Tác phẩm tiêu biểu: Đất nước đứng lên, Rừng xà nu – Nguyên Ngọc, Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi, thơ ca của Tố Hữu…

    – Cảm hứng lãng mạn:

    + Trong những năm có chiến tranh, dù có những chồng chất, khó khăn và hi sinh nhưng lòng người vẫn tràn đầy mơ ước và hướng tới tương lai.

    + Ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

    + Tác động đến, cảm hứng lãng mạn, nâng đỡ con người Việt Nam vượt lên mọi thử thách, gian lao.

    – Khuynh hướng sử thi kết hợp với khuynh hướng lãng mạn làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan và đáp ứng được yêu cầu phản ứng của quá trình vận động và phát triển cách mạng.

    Câu 4 (trang 18 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1): Căn cứ vào hoàn cảnh …

    Văn học Việt Nam từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX phải đổi mới:

    – Chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất, đất nước bước vào thời kì mới – thời kì độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Tuy nhiên, từ năm 1975 đến 1985, đất nước lại gặp những khó khăn, thử thách nhất là những khó khăn về kinh tế. Tình hình đó đòi hỏi đất nước phải đổi mới.

    – Đại hội Đảng lần thứ sáu năm 1986 chỉ rõ đổi mới là nhu cầu bức thiết, là vấn đề có ý nghĩa sống còn với cả dân tộc

    + Kinh tế: từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

    + Văn hóa cũng có điều kiện phát triển: có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với nhiều nước trên thế giới. Văn học dịch, báo chí và các phương tiện truyền thông phát triển mạnh mẽ.

    → Đòi hỏi văn học phải đổi mới phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc.

    Câu 5 (trang 18 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1): Hãy nêu những thành tựu …

    Những thành tựu ban đầu của văn học Việt Nam từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX:

    – Thể loại thơ: trường ca phát triển mạnh, những cây bút thuộc thế hệ sau 1975 xuất hiện rất nhiều, từng bước khẳng định mình: Nguyễn Quang Thiều…

    – Văn xuôi: có nhiều khởi sắc, một số cây bút đã bộc lộ cách thứ đổi mới: cách thể hiện chiến tranh, tiếp cận đời sống.

    + Tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu…

    – Phóng sự: đề cập tới những vấn đề bức xúc của đời sống.

    + Những tác phẩm tiêu biểu của Phùng Gia Lộc, Trần Minh Quang…

    – Ký: phát triển, có thành tựu mới.

    + Những tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Tuân…

    – Kịch nói: sau năm 1975 phát triển mạnh mẽ.

    + Tác phẩm tiêu biểu: tác phẩm tiêu biểu của Lưu Quang Vũ.

    Luyện tập

    (trang 19 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1): Trong bài Nhận Đường ..

    “Văn nghệ phụng sự kháng chiến”: Đây là quan điểm văn nghệ của Đảng ta, của các văn nghệ sĩ đem ngòi bút của mình phục vụ sự nghiệp kháng chiến của toàn dân tộc.

    “Nhưng chính kháng chiến đem đến cho văn nghệ một sức sống mới..” ý nói đến mối quan hệ giữa hiện thực cuộc kháng chiến đối với văn nghệ. Hiện thực đem đến cho văn nghệ những chất liệu phong phú. Trong đó, cuộc kháng chiến đã đem đến cho văn nghệ một nguồn sức sống mới, trẻ trung, khỏe khoắn để văn nghệ phụng sự kháng chiến tốt hơn. Nội dung này đã được Nguyễn Đình Thi nhấn mạnh: “sắt lửa mặt trận đang đúc nên văn nghệ mới của chúng ta”.

    Comments

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn: Bài Học Đường Đời Đầu Tiên
  • Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 12: Số Phận Một Con Người
  • Soạn Bài Số Phận Con Người Của Sô
  • Soạn Bài Thuốc Lớp 12 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Thuốc Của Lỗ Tấn Với Lời Giải Chi Tiết Ở Ngữ Văn Lớp 12
  • Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Từ Cách Mạng Tháng Tám Năm 1945 Đến Hết Thế Kỉ Xx (Ngắn Gọn)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Công Nghệ 8 Bài 25 Ngắn Nhất: Mối Ghép Cố Định Mối Ghép Không Tháo Được
  • Giáo Án Công Nghệ 8 Tiết 3 Bài 3: Thực Hành Hình Chiếu Của Vật Thể
  • Bài 3. Bài Tập Thực Hành
  • Soạn Công Nghệ 8 Ngắn Nhất: Tổng Kết Và Ôn Tập Phần 1
  • Soạn Công Nghệ 8 Vnen Bài 5: Bản Vẽ Nhà
  • Câu 1: Những nét chính về tình hình lịch sử, xã hội, văn hóa:

    – Đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản, sự lãnh đạo của Đảng.

    – Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mĩ kéo dài suốt 30 năm.

    – Nền kinh tế còn nghèo nàn và chậm phát triển.

    – Về văn hóa: điều kiện giao lưu bị hạn chế, nước ta chủ yếu tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của văn hóa các nước xã hội chủ nghĩa.

    Câu 2: Văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 có thể chia làm 3 chặng:

    – Chặng đường từ 1945 – 1954.

    – Chặng đường từ 1955 – 1964.

    – Chặng đường từ 1965 – 1975.

    * Chặng đường từ năm 1945 đến năm 1954:

    – Một số tác phẩm trong những năm 1945-1946 đã phản ánh được không khí hồ hởi, vui sướng của nhân dân ta khi đất nước vừa giành được độc lập.

    – Từ cuối năm 1946, văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

    – Truyện ngắn và kí: Đôi mắt và nhật kí Ở rừng của Nam Cao, Làng của Kim Lân,…

    – Thơ ca đạt được nhiều thành tựu xuất sắc. Tiêu biểu là những tác phẩm: Cảnh khuya, Cảnh rừng Việt Bắc, Rằm tháng giêng của Hồ Chí Minh; Bên kia sống Đuống của Hoàng Cầm, Tây Tiến của Quang Dũng, đặc biệt là tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu,…

    – Một số vở kịch gây được sự chú ý như Bắc Sơn, Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng…

    – Kịch cũng có những thành tựu đáng ghi nhận. Các vở kịch gây được tiếng vang: Quê hương Việt NamThời tiết ngày mai của Xuân Trình, Đại đội trưởng của tôi của Đào Hồng Cẩm,…

    Câu 3: Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975:

    – Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước.

    – Nền văn học hướng về đại chúng.

    – Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

    Câu 4:

    – Từ năm 1986, với công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản đề xướng và lãnh đạo, kinh tế nước ta từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, văn hóa nước ta có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với nhiều nước trên thế giới. Văn học dịch, báo chí và các phương tiện truyền thông khác phát triển mạnh mẽ. Đất nước bước vào công cuộc đổi mới, thúc đẩy nền văn học cũng phải đổi mới phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc cũng như quy luật phát triển khách quan của nền văn học.

    Câu 5: Những thành tựu ban đầu của văn học Việt Nam từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX:

    – Từ sau năm 1975, thơ không tạo được sự lôi cuốn hấp dẫn như ở giai đoạn trước. Tuy nhiên, vẫn có những tác phẩm ít nhiều tạo được sự chú ý của người đọc: Tự hát của Xuân Quỳnh, Ánh trăng của Nguyễn Duy… – Từ sau năm 1975, văn xuôi có nhiều khởi sắc hơn thơ ca. Một số cây bút đã bộc lộ ý thức muốn đổi mới cách viết về chiến tranh, cách tiếp cận hiện thực đời sống như Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Thời xa vắng của Lê Lựu, những tuyển tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hànhBến quê của Nguyễn Minh Châu,…

    – Từ năm 1986, văn học chính thức bước vào chặng đường đổi mới. Văn học gắn bó hơn, cập nhật hơn những vấn đề của đời sống hằng ngày. Phóng sự xuất hiện, đề cập tới những vấn đề bức xúc của đời sống. Văn xuôi thực sự khởi sắc với các tập truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp; tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Tường…

    – Từ sau năm 1975, kịch nói phát triển mạnh mẽ. Những vở kịch như: Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, Mùa hè ở biển của Xuân Trình,… là những vở tạo được sự chú ý.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Công Nghệ 8 Tiết 1 Bài 1: Vai Trò Của Bản Vẽ Kĩ Thuật Trong Sản Xuất Và Đời Sống
  • Giải Vbt Công Nghệ 8 Bài 4. Bản Vẽ Các Khối Đa Diện
  • Bài 18. Vật Liệu Cơ Khí
  • Soạn Công Nghệ 8 Bài 4 Ngắn Nhất: Bản Vẽ Các Khối Đa Diện
  • Soạn Văn 12 Bài Vợ Chồng A Phủ
  • Cách Soạn Bài Vợ Nhặt Khi Phân Tích Nhân Vật Tràng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Nhân Vật Tràng Trong Truyện Vợ Nhặt
  • Phân Tích Nhân Vật Tràng Trong Tác Phẩm Vợ Nhặt Của Kim Lân
  • Phân Tích Nhân Vật Tràng Trong Truyện Ngắn Vợ Nhặt Của Kim Lân
  • Phân Tích Nhân Vật Tràng Trong Truyện Ngắn Vợ Nhặt Của Nhà Văn Kim Lân
  • Phân Tích Nhân Vật Vợ Tràng Trong Tác Phẩm Vợ Nhặt Của Nam Cao
  • Nhắc tới văn học Việt Nam có lẽ không thể không nhắc tới tác phẩm “Vợ nhặt”. Đó là một tác phẩm để lại những dấu ấn riêng đi cùng năm tháng mà mãi sau này, mỗi chúng ta đều không thể quên hình ảnh một anh chàng được tạo hóa thô sơ, một cô vợ mà người ta lại có thể nhặt được trong thời kỳ khốn khó nhất lịch sử.

    Kim Lân là một trong những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông thường viết về nông thôn và những con người dân quê, lam lũ hồn hậu, chất phác mà giàu tình yêu thương. Vợ nhặt là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông. Tác phẩm đã khắc họa thành công nhân vật Tràng, một người hiện lên với những nét thô sơ chân chất, lao động nghèo khổ nhưng giàu tình yêu thương, luôn khao khát hạnh phúc gia đình giản dị, biết hướng tới tương lai tươi đẹp.

    Kim Lân rất am hiểu nông thôn và đời sống của nhân dân nên ông có những trang viết sâu sắc, cảm động. Truyện Vợ nhặt rút từ tập (Con chó xấu xí) được coi là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân. Thiên truyện có một quá trình sáng tác khá dài. Nó vốn được rút ra từ tiểu thuyết Xóm ngụ cư (cuốn tiểu thuyết viết dang dở ở thời kì trước Cách mạng). Hoà bình lập lại, Kim Lân viết lại. Vợ nhặt mang dấu ấn của cả một quá trình nghiền ngẫm lâu dài về nội dung và chiêm nghiệm kĩ lưỡng về nghệ thuật.

    Trong truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân bộc lộ một quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình. Nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của người lao động trong sự túng đói quay quắt, trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào, con người vẫn vượt lên cái chết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn yêu thương nhau và hi vọng vào ngày mai. Tiêu biểu cho những con người đó là nhân vật Tràng.

    Tràng được khắc họa nổi bật trong bối cảnh ngày đói vô cùng thê thảm ở nông thôn Việt Nam do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra năm 1945. Những người năm đói được miêu tả với “khuôn mặt hốc hác u tối”, “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma”, và “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”. Trong không gian của thế giới ngổn ngang người sống kẻ chết ấy, tiếng quạ “gào lên từng hồi thê thiết” cùng với “mùi gây của xác người” càng tô đậm cảm giác tang tóc thê lương. Cái đói huỷ diệt cuộc sống tới mức khủng khiếp. Trong một bối cảnh như thế Kim Lân đặt vào đó một mối tình thật là táo bạo, dở khóc, dở cười giữa Tràng và Thị, một mối duyên bắt nguồn từ bốn bát bánh đúc giữa ngày đói.

    Kim Lân đã tạo nên một tình huống độc đáo: Tràng nhặt được vợ để từ đó làm nổi bật khao khát hạnh phúc, tình yêu thương, cưu mang đùm bọc lẫn nhau của những con người đói. Ngay cái nhan đề Vợ nhặt đã bao chứa một tình huống như thế: nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ. Trong cảnh đói năm 1945, người dân lao động dường như khó ai thoát khỏi cái chết, giá trị một con người thật vô cùng rẻ rúng, người ta có thể có vợ theo, chỉ nhờ có mấy bát bánh đúc ngoài chợ. Như vậy thì cái thiêng liêng (vợ) đã trở thành rẻ rúng (nhặt). Nhưng tình huống truyện còn có một mạch khác: chủ thể của cái hành động “nhặt” kia là Tràng, một gã trai nghèo, xấu xí, dân ngụ cư, đang thời đói khát mà đột nhiên lấy được vợ, thậm chí được vợ theo thì quả là điều lạ. Lạ tới mức nó tạo nên hàng loạt những kinh ngạc cho hàng xóm, bà cụ Tứ – mẹ Tràng và chính bản thân Tràng nữa.

    Tình huống truyện trên đã khơi ra mạch chảy tâm lí cực kì tinh tế ở mỗi nhân vật, đặc biệt là Tràng.

    Lần đầu tiên Tràng được đi bên một người đàn bà mà cả cuộc đời nghèo khổ của anh chưa bao giờ dám mơ tới. Vốn là người thô kệch, vụng về, Tràng lại càng vụng về, ngượng nghịu hơn “tay nọ xoa vào tay kia lúng ta lúng túng”. Tràng muốn nói một câu gì đó với người đàn bà nơi vắng vẻ mà không sao nói nổi vì ngượng ngùng. Cuộc đối thoại giữa hai người thật rời rạc, cộc lốc. Hạnh phúc đơn sơ nhưng Tràng tự hào hãnh diện. “Hắn cười tủm tỉm, đôi mắ ánh lên lấp lánh”. Tràng khoe với người đàn bà chai dầu mới mua hai hào. Tràng muốn đêm tân hôn của mình sáng lên một chút trong cái thảm cảnh tối tăm ấy phần nào để người đàn bà đêm đầu tiên về nhà chồng đỡ tủi.

    Anh cu Tràng cục mịch, khù khờ, bỗng nhiên trở thành người thực sự hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc lớn quá, đột ngột quá, khiến Tràng rất đỗi ngỡ ngàng “đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”. Rồi cái ngỡ ngàng trước hạnh phúc kia cũng nhanh chóng đẩy thành niềm vui hữu hình cụ thể. Đó là niềm vui về hạnh phúc gia đình – một niềm vui giản dị nhưng lớn lao không gì sánh nổi. Chàng thanh niên nghèo khó “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng.

    Mặc dù người vợ được hắn nhặt vợ, nhưng Tràng không hề rẻ rúng, khinh miệt thị. Trái lại, Tràng vô cùng trân trọng, coi chuyện lấy Thị là một điều nghiêm túc. Khát vọng mái ấm gia đình đã khiến Tràng vượt qua lo lắng về cái đói ” đến thân còn chẳng lo nổi, lại còn đèo bòng”. Tràng chậc lưỡi ” kệ” cái đói, mua cho thị cái thúng con, vài xu dầu và dẫn thị về căn nhà lụp xụp rách nát của mẹ con mình. Tràng hồi hộp chờ câu đồng ý chấp thuận của bà cụ Tứ.

    Buổi sáng hôm sau, Tràng thấy khoan khoái như người từ trong giấc mơ đi ra. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Đó là một điều thật bình dị nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong cuộc đời Tràng. Hắn thấy hắn nên người. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”. Một niềm vui thật cảm động, lẫn cả hiện thực lẫn giấc mơ.

    Chi tiết: “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà” là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt đổi thay cả số phận lẫn tính cách của Tràng: từ khổ đau sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây dại sang ý thức. Tràng đã có một ý thức bổn phận sâu sắc: “hắn thấy hắn có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này”. Tràng thật sự “phục sinh tâm hồn” đó là giá trị lớn lao của hạnh phúc.

    Câu kết truyện “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới chứa đựng bao sức nặng về nghệ thuật và nội dung cho thiên truyện. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng là tín hiệu thật mới mẻ về một sự đổi thay xã hội rất lớn lao, có ý nghĩa quyết định với sự đổi thay của mỗi số phận con người. Đây là điều mà các tác phẩm văn học hiện thực giai đoạn 1930 – 1945 không nhìn thấy được. Nền văn học mới sau Cách mạng tháng tám đã đặt vấn đề và giải quyết vấn đề số phận con người theo một cách khác, lạc quan hơn, nhiều hi vọng hơn.

    Bằng biện pháp nghệ thuật khắc họa nhân vật, tác phẩm Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, là tác phẩm giàu giá trị hiện thực, nhân đạo; là bài ca về tình người ở những người nghèo khổ, ca ngợi niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng của con người. Truyện xây dựng thành công hình tượng nhân vật Tràng, một người lao động nghèo khổ mà ấm áp tình thương, niềm hi vọng, lạc quan qua cách dựng tình huống truyện và dẫn truyện độc đáo, nhất là ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế, khiến tác phẩm mang chất thơ cảm động và hấp dẫn.

    Mỗi khi nhắc tới văn học Việt Nam hiện đại, tôi không bao giờ quên những cảm xúc của mình khi soạn bài Vợ nhặt. Ngày đó, hình ảnh của nạn đói năm 1945, hình ảnh của những cái thây hai bên đường, những con người vật vờ qua ngày cứ ám ảnh lấy tôi mãi. Hình ảnh về một anh Tràng dường như tạo hóa đã đẽo gọt quá thô sơ, hình ảnh về một người con gái mà phải mang trên mình hai chữ Vợ nhặt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Soạn Bài Vợ Nhặt Khi Phân Tích Nhân Vật Tràng Của Nhà Văn Kim Lân
  • Tóm Tắt Vợ Nhặt Lớp 12 Ngắn Gọn Nhất ?
  • Soạn Văn 12 Vợ Nhặt Tóm Tắt
  • Tóm Tắt Tác Phẩm Vợ Nhặt Của Kim Lân
  • Soạn Vợ Nhặt Siêu Ngắn
  • Cách Soạn Bài Vợ Nhặt Khi Phân Tích Nhân Vật Tràng Của Nhà Văn Kim Lân

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Soạn Bài Vợ Nhặt Khi Phân Tích Nhân Vật Tràng
  • Phân Tích Nhân Vật Tràng Trong Truyện Vợ Nhặt
  • Phân Tích Nhân Vật Tràng Trong Tác Phẩm Vợ Nhặt Của Kim Lân
  • Phân Tích Nhân Vật Tràng Trong Truyện Ngắn Vợ Nhặt Của Kim Lân
  • Phân Tích Nhân Vật Tràng Trong Truyện Ngắn Vợ Nhặt Của Nhà Văn Kim Lân
  • Cách soạn bài Vợ nhặt khi phân tích nhân vật Tràng của nhà văn Kim Lân

    Nhắc tới văn học Việt Nam có lẽ không thể không nhắc tới tác phẩm “Vợ nhặt”. Đó là một tác phẩm để lại những dấu ấn riêng đi cùng năm tháng mà mãi sau này, mỗi chúng ta đều không thể quên hình ảnh một anh chàng được tạo hóa thô sơ, một cô vợ mà người ta lại có thể nhặt được trong thời kỳ khốn khó nhất lịch sử.

    Kim Lân là một trong những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông thường viết về nông thôn và những con người dân quê, lam lũ hồn hậu, chất phác mà giàu tình yêu thương. Vợ nhặt là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông. Tác phẩm đã khắc họa thành công nhân vật Tràng, một người hiện lên với những nét thô sơ chân chất, lao động nghèo khổ nhưng giàu tình yêu thương, luôn khao khát hạnh phúc gia đình giản dị, biết hướng tới tương lai tươi đẹp.

    Kim Lân rất am hiểu nông thôn và đời sống của nhân dân nên ông có những trang viết sâu sắc, cảm động. Truyện Vợ nhặt rút từ tập (Con chó xấu xí) được coi là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân. Thiên truyện có một quá trình sáng tác khá dài. Nó vốn được rút ra từ tiểu thuyết Xóm ngụ cư (cuốn tiểu thuyết viết dang dở ở thời kì trước Cách mạng). Hoà bình lập lại, Kim Lân viết lại. Vợ nhặt mang dấu ấn của cả một quá trình nghiền ngẫm lâu dài về nội dung và chiêm nghiệm kĩ lưỡng về nghệ thuật.

    Trong truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân bộc lộ một quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình. Nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của người lao động trong sự túng đói quay quắt, trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào, con người vẫn vượt lên cái chết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn yêu thương nhau và hi vọng vào ngày mai. Tiêu biểu cho những con người đó là nhân vật Tràng.

    Tràng được khắc họa nổi bật trong bối cảnh ngày đói vô cùng thê thảm ở nông thôn Việt Nam do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra năm 1945. Những người năm đói được miêu tả với “khuôn mặt hốc hác u tối”, “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma”, và “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”. Trong không gian của thế giới ngổn ngang người sống kẻ chết ấy, tiếng quạ “gào lên từng hồi thê thiết” cùng với “mùi gây của xác người” càng tô đậm cảm giác tang tóc thê lương. Cái đói huỷ diệt cuộc sống tới mức khủng khiếp. Trong một bối cảnh như thế Kim Lân đặt vào đó một mối tình thật là táo bạo, dở khóc, dở cười giữa Tràng và Thị, một mối duyên bắt nguồn từ bốn bát bánh đúc giữa ngày đói.

    Kim Lân đã tạo nên một tình huống độc đáo: Tràng nhặt được vợ để từ đó làm nổi bật khao khát hạnh phúc, tình yêu thương, cưu mang đùm bọc lẫn nhau của những con người đói. Ngay cái nhan đề Vợ nhặt đã bao chứa một tình huống như thế: nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ. Trong cảnh đói năm 1945, người dân lao động dường như khó ai thoát khỏi cái chết, giá trị một con người thật vô cùng rẻ rúng, người ta có thể có vợ theo, chỉ nhờ có mấy bát bánh đúc ngoài chợ. Như vậy thì cái thiêng liêng (vợ) đã trở thành rẻ rúng (nhặt). Nhưng tình huống truyện còn có một mạch khác: chủ thể của cái hành động “nhặt” kia là Tràng, một gã trai nghèo, xấu xí, dân ngụ cư, đang thời đói khát mà đột nhiên lấy được vợ, thậm chí được vợ theo thì quả là điều lạ. Lạ tới mức nó tạo nên hàng loạt những kinh ngạc cho hàng xóm, bà cụ Tứ – mẹ Tràng và chính bản thân Tràng nữa.

    Tình huống truyện trên đã khơi ra mạch chảy tâm lí cực kì tinh tế ở mỗi nhân vật, đặc biệt là Tràng.

    Lần đầu tiên Tràng được đi bên một người đàn bà mà cả cuộc đời nghèo khổ của anh chưa bao giờ dám mơ tới. Vốn là người thô kệch, vụng về, Tràng lại càng vụng về, ngượng nghịu hơn “tay nọ xoa vào tay kia lúng ta lúng túng”. Tràng muốn nói một câu gì đó với người đàn bà nơi vắng vẻ mà không sao nói nổi vì ngượng ngùng. Cuộc đối thoại giữa hai người thật rời rạc, cộc lốc. Hạnh phúc đơn sơ nhưng Tràng tự hào hãnh diện. “Hắn cười tủm tỉm, đôi mắ ánh lên lấp lánh”. Tràng khoe với người đàn bà chai dầu mới mua hai hào. Tràng muốn đêm tân hôn của mình sáng lên một chút trong cái thảm cảnh tối tăm ấy phần nào để người đàn bà đêm đầu tiên về nhà chồng đỡ tủi.

    Anh cu Tràng cục mịch, khù khờ, bỗng nhiên trở thành người thực sự hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc lớn quá, đột ngột quá, khiến Tràng rất đỗi ngỡ ngàng “đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”. Rồi cái ngỡ ngàng trước hạnh phúc kia cũng nhanh chóng đẩy thành niềm vui hữu hình cụ thể. Đó là niềm vui về hạnh phúc gia đình – một niềm vui giản dị nhưng lớn lao không gì sánh nổi. Chàng thanh niên nghèo khó “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng.

    Mặc dù người vợ được hắn nhặt vợ, nhưng Tràng không hề rẻ rúng, khinh miệt thị. Trái lại, Tràng vô cùng trân trọng, coi chuyện lấy Thị là một điều nghiêm túc. Khát vọng mái ấm gia đình đã khiến Tràng vượt qua lo lắng về cái đói ” đến thân còn chẳng lo nổi, lại còn đèo bòng”. Tràng chậc lưỡi ” kệ” cái đói, mua cho thị cái thúng con, vài xu dầu và dẫn thị về căn nhà lụp xụp rách nát của mẹ con mình. Tràng hồi hộp chờ câu đồng ý chấp thuận của bà cụ Tứ.

    Buổi sáng hôm sau, Tràng thấy khoan khoái như người từ trong giấc mơ đi ra. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Đó là một điều thật bình dị nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong cuộc đời Tràng. Hắn thấy hắn nên người. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”. Một niềm vui thật cảm động, lẫn cả hiện thực lẫn giấc mơ.

    Chi tiết: “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà” là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt đổi thay cả số phận lẫn tính cách của Tràng: từ khổ đau sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây dại sang ý thức. Tràng đã có một ý thức bổn phận sâu sắc: “hắn thấy hắn có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này”. Tràng thật sự “phục sinh tâm hồn” đó là giá trị lớn lao của hạnh phúc.

    Câu kết truyện “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới chứa đựng bao sức nặng về nghệ thuật và nội dung cho thiên truyện. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng là tín hiệu thật mới mẻ về một sự đổi thay xã hội rất lớn lao, có ý nghĩa quyết định với sự đổi thay của mỗi số phận con người. Đây là điều mà các tác phẩm văn học hiện thực giai đoạn 1930 – 1945 không nhìn thấy được. Nền văn học mới sau Cách mạng tháng tám đã đặt vấn đề và giải quyết vấn đề số phận con người theo một cách khác, lạc quan hơn, nhiều hi vọng hơn.

    Bằng biện pháp nghệ thuật khắc họa nhân vật, tác phẩm Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, là tác phẩm giàu giá trị hiện thực, nhân đạo; là bài ca về tình người ở những người nghèo khổ, ca ngợi niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng của con người. Truyện xây dựng thành công hình tượng nhân vật Tràng, một người lao động nghèo khổ mà ấm áp tình thương, niềm hi vọng, lạc quan qua cách dựng tình huống truyện và dẫn truyện độc đáo, nhất là ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế, khiến tác phẩm mang chất thơ cảm động và hấp dẫn.

    Mỗi khi nhắc tới văn học Việt Nam hiện đại, tôi không bao giờ quên những cảm xúc của mình khi soạn bài Vợ nhặt. Ngày đó, hình ảnh của nạn đói năm 1945, hình ảnh của những cái thây hai bên đường, những con người vật vờ qua ngày cứ ám ảnh lấy tôi mãi. Hình ảnh về một anh Tràng dường như tạo hóa đã đẽo gọt quá thô sơ, hình ảnh về một người con gái mà phải mang trên mình hai chữ Vợ nhặt. Theo Tiepsucmuathi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Vợ Nhặt Lớp 12 Ngắn Gọn Nhất ?
  • Soạn Văn 12 Vợ Nhặt Tóm Tắt
  • Tóm Tắt Tác Phẩm Vợ Nhặt Của Kim Lân
  • Soạn Vợ Nhặt Siêu Ngắn
  • Soạn Văn 12 Siêu Ngắn Bài: Vợ Nhặt
  • Hướng Dẫn Cách Phân Tích Khổ 3 4 Bài Thơ Sóng Của Nữ Sĩ Xuân Quỳnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khổ 3 Và 4 Bài Thơ Sóng
  • Cảm Nhận Khổ 3 4 Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Văn Mẫu Đề Cảm Nhận Khổ 3 Và 4 Bài Sóng Xuân Quỳnh
  • Phân Tích Khổ 2, 3 Và 4 Bài Sóng
  • Cảm Nhận Khổ 5 6 7 Bài Thơ Sóng
  • Gợi ý mở đề phân tích khổ 3 4 bài Sóng của Xuân Quỳnh

    Những nét chính về nhà thơ Xuân Quỳnh và bài thơ Sóng

    Xuân Quỳnh tên khai sinh là Nguyễn Phạm Xuân Quỳnh, sinh vào năm 1922 mất năm 1980. Xuân Quỳnh từ nhỏ sống chung và được bà nuôi lớn. Chính những ngày tháng sống bên cạnh bà đã hun đúc cho Xuân Quỳnh một hồn thơ nhẹ nhàng đầy nữ tính.

    Bên cạnh sự nghiệp văn học, cuộc sống member của nhà thơ đã và đang có niềm hạnh phúc. Tuy ở giai đoạn đầu, Xuân Quỳnh có một cuộc hôn nhân gia đình không trọn vẹn nhưng cuối cùng cô đã tìm thấy bên đỗ bình yên bên cạnh Lưu Quang Vũ. Thế nhưng trong một tai nạn thương tâm định mệnh, đã cướp mất đi hai tài năng của văn học Việt Nam là Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ.

    “Trước muôn trùng sóng bể”

    Nhắc tới sự nghiệp sáng tác của Xuân Quỳnh, bà đã để lại cho đời một hồn nhẹ nhàng đằm thắm. Sự nhẹ nhàng ấy thể hiện rõ ở cả hai phương diện sáng tác của Xuân Quỳnh là thơ viết về tình yêu và thơ viết về thiếu nhi. Trong bài thơ Sóng, ta vẫn thấy một Xuân Quỳnh nhẹ nhàng sâu lắng nhưng không kém phần dữ dội mãnh liệt. Mượn hình ảnh sóng nhưng Xuân Quỳnh đã khéo léo đan cài vào sự chuyển động của sóng là những trạng thái tình cảm, cảm xúc của người phụ nữ trong tình yêu.

    Phân tích khổ 3 4 bài Sóng của tác giả Xuân Quỳnh

    Mở đầu khổ 3 là một không gian rộng lớn mênh mông:

    “Muôn trùng” ý chỉ số nhiều. Từ đó gợi mở không gian rộng lớn mênh mông. Biển vốn đã mênh mông nhưng giờ lại càng rộng to ra thêm gấp bội trong cách kết hợp “muôn tùng sóng bể”. Dường như chỉ có không gian rộng lớn mênh mông ấy, sóng mới có thể thỏa sức vẫy vùng. Trong không gian ấy, sóng mới có thể là chính mình sống thật với những suy nghĩ cảm xúc Và đó không chỉ là không gian hoạt động của sóng mà đó còn là một không gian tâm tưởng của chính em.

    “Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể Ôi con sóng xa xưa Và ngày này vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bổi hổi trong ngực trẻ”

    Trong không gian rộng lớn ấy, con người thường thấy mình nhỏ bé. Bởi lẽ mặt biển nhìn có vẻ êm đềm là thế nhưng phía dưới là việc vận động không ngừng nghỉ của nước. Thời gian cũng thế. Nó cứ diễn ra chậm chạp con người không cảm nhận được. Nhưng từ giây phút này đã khác giây phút qua. Mọi thứ luôn vận động không ngừng nghỉ. Trong sự vận động của thời gian ấy con người không thể làm được gì, không thể can thiệp được chỉ đành phó mặc cho thời gian xô đẩy. Con người không thể làm gì để thoát khỏi quy luật ấy nên có thể đành ngậm ngùi chấp thuận đồng ý như một lẽ tất yếu của cuộc sống.

    “Em nghĩ về bạn hữu Em nghĩ về biển lớn”

    Dòng thời gian cũng như làn nước cứ chảy mãi dường như vô thủy vô chung với cuộc đời này. Đó là vì sao đứng trước không gian rộng lớn mênh mông con người luôn ý thức được rõ ràng hơn bản thân mình. Xuân Quỳnh cũng vậy. Xuân Quỳnh cũng bắt đầu suy ngẫm về cuộc sống, suy ngẫm về tình yêu.

    Nếu ở hai khổ thơ đầu,

    sự xuất hiện của nhân vật trữ tình “em” chỉ là việc xuất hiện gián tiếp, thì đến câu thơ này, nhân vật trữ tình đã trực tiếp xuất hiện

    Điệp cấu “em nghĩ về…” càng nhấn mạnh vấn đề nỗi niềm. Nỗi niềm ấy, suy tư ấy không phải của người nào, không thay ai nói mà đó là nỗi niềm của riêng một mình Xuân Quỳnh, của chỉ riêng Xuân Quỳnh mà thôi.

    “Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai Khăn thương nhớ ai Khăn chùi nước mắt Đèn thương nhớ ai Mà đèn không tắt Mắt thương nhớ ai Mắt ngủ không yên Đêm qua em những lo phiền Lo vì một nỗi không yên một bề”

    Bài thơ mượn hình ảnh của sóng, đáng lẽ phải là “sóng nghĩ về” nhưng Xuân Quỳnh lại trực tiếp nói lên nỗi lòng mình. Dường như em và sóng đã hòa vào làm một. Nói về sóng nhưng thực chất là nói về tình cảm của em dành riêng cho anh. Cảm xúc trào dâng không sao tạm ngưng được như những đợt sóng dâng cao vỡ òa trong cảm xúc, để rồi từ này mà tan ra vô vàn tình cảm.

    “Hòn đá đóng rong vì làn nước chảy Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa Em thương anh không dám nói ra Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời Anh với em cũng muốn kết đôi Sợ vầng mây bạc trên trời mau tan.”

    Đứng trước không gian rộng lớn ấy, đáng lẽ điều đầu tiên hoặc đối tượng người sử dụng đầu tiên phải nghĩ đến đó đấy là bản thân. Tuy nhiên với Xuân Quỳnh thì không. Điều đầu tiên hiển hiện trong tâm trí của em đó là anh. Chỉ có anh mà thôi. Anh luôn là điều đầu tiên em nghĩ đến, là ưu tiên hàng đầu và dường như đây đã đi sâu vào tiềm thức của em. Một khi đã đi vào tiềm thức thì ta cũng hiểu được tình cảm ấy phải sâu đậm đến dường nào. Nghĩ đến anh rồi mới nghĩ đến em. Vậy nghĩ gì về anh nghĩ gì về em nghĩ gì về tất cả chúng ta. Có lẽ lời giải đáp đích xác chỉ có thể em mới có thể trả lời được mà thôi.

    “Từ nơi nào sóng lên”

    Tuy không nói nhưng dường như ta vẫn cảm nhận được điều mà nhân vật “em” đang nghĩ gì lúc này. Đó là xoay quanh chuyện tình yêu của anh và em. Chuyện tình mình liệu có thành? Liệu anh có yêu em thật lòng sâu đậm như cách em yêu anh không? Liệu tình mình có đi đến cái đích cuối cùng của niềm hạnh phúc hay chỉ lại là một sự dở dang?… Biết bao nhiêu lo âu. Vì vậy mà không hề vô lý lúc các tác giả dân gian thường khắc họa nỗi lòng của cô gái trong tình yêu với biết bao nhiêu bộn bề lo toan như:

    “Sóng khởi đầu từ gió Gió khởi đầu từ đâu”.

    Hay những lời tâm sự:

    Từ chuyện của em và anh đột nhiên lại chuyển sang chuyện của sóng nước:

    “Em cũng không biết nữa”

    Sự chuyển đổi này còn có vẻ vô lý nhưng xét về quy luật của tâm trạng thì nó lại không vô lý chút nào. Bỏ lửng những dòng suy nghĩ về chuyện tình của anh và em về đích đến của mối tình này, để từ đó hướng đến cội nguồn của tình yêu. Mạch cảm xúc cứ trào dâng, mãi không thôi. Thắc mắc có vẻ ngây ngô “từ nơi nào sóng lên” còn đựng nhiều hơn thế. Đi tìm quy luật của sóng biển cũng đấy là tìm kiếm quy luật của tình yêu.

    “Khi nào ta yêu nhau”

    Thắc mắc “từ nơi nào sóng lên” đã được diễn giải thật thuyết phục. Sóng được tạo thành nhờ việc chuyển động của gió trên mặt nước. Vậy khúc mắc đầu tiên đã được gỡ bỏ. Nhưng liệu trái tim có thôi băn khoăn không. Lời đáp là không. Nối tiếp sự lí giải nó lại tiếp tục là một vướng mắc “gió khởi đầu từ đâu”. Thắc mắc như muốn đi sâu hơn vào cái gốc rễ cội nguồn của sóng hay của chính tình yêu mà lòng em đang thổn thức.

    Nếu cứ kéo dãn dài mãi liệu có thể đi đến tận cùng nguồn gốc không. Lời đáp là không bởi lẽ cứ một vấn đề được giải đáp thì một vấn đề khác lại nảy sinh. Nên ta nhận lại được một chiếc lắc đầu mỉm cười duyên dáng trước lời tự hỏi đó.

    “Làm thế nào định nghĩa được tình yêu Có nghĩa gì đâu một buổi chiều Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu” (Vì sao – Xuân Diệu)

    Cái lắc đầu đầy đằm thắm. Thật ra nếu trên góc độ lí trí khoa học thì hoàn toàn có thể lí giải được nơi khởi phát của gió – đó là việc chuyển động của không khí. Nhưng em đã từ chối suy nghĩ từ chối trả lời. Bởi lí trí lúc này chẳng có ý nghĩa gì chẳng là gì cả so với trái tim đang lỗi nhịp vì tình yêu. Đó không chỉ là cái lắc đầu không biết gió xuất phát từ đâu mà còn là một cái lắc đầu vì:

    Thắc mắc này cũng là vướng mắc muôn thuở trong tình yêu. Tình yêu là gì? Vì sao anh yêu em? Khi nào thì ta yêu nhau. Những lời giải đáp này nếu để trả lời một cách lí trí thì thật khó để tìm ra đáp án. Nhưng có lẽ rằng vướng mắc này chỉ có thể trả lời bằng trái tim, trái tim yêu thương sẽ chấp thuận đồng ý mọi lời giải đáp mà nó muốn nghe, từ những người dân mà nó muốn nghe…

    Em không biết khi nào tình ta bắt đầu, không phải vì em không yêu anh, cũng chẳng phải vì tình yêu ta chưa đậm sâu. Mà vì trái tim em không cần bất kỳ lời giải thích nào, bởi lẽ em biết mình yêu anh thế là đủ rồi.Tình yêu là thế càng đi tìm lời giải đáp thì sẽ càng bế tắc. Bởi lẽ tình yêu là chuyện của trái tim của cảm xúc như Xuân Diệu đã từng giải nghĩa tình yêu như sau.

    Và em cũng chẳng biết tình mình bắt đầu khi nào, em chỉ biết tôi đã yêu anh khi tâm hồn rung động. Đó là giây phút tình yêu em dành riêng cho anh chớm nở. Em cũng không cần quan tâm bởi lẽ điều em cần hiện tại là được sống trong tình yêu của anh, là hiện tại và tương lai của tất cả chúng ta sau này. Đi tìm về quy luật tình yêu để trân quý hiện tại hơn. Nhìn vào nó không phải để bới móc, oán trách mà nhìn vào để thêm yêu giây phút cạnh bên nhau.

    Thẩm định thẩm mỹ và nghệ thuật khi phân tích khổ 3 4 bài thơ Sóng

    Bằng việc sử dụng hình ảnh sóng, Xuân Quỳnh đã thật tinh tế trong việc đan cài vào đó tình cảm của trái tim. Thể thơ năm chữ gợi nhiều cảm xúc kết phù hợp với với những hình ảnh gợi tả dã tạo nên một nét nghĩa độc đáo cho bài thơ. Sự thành công ấy còn tới từ ngôn ngữ trần thuật có sự xen lẫn giữa giọng kể và giọng tâm tình. Người đọc đôi lúc có cảm tưởng sóng và em tuy hai mà một, cả hai đã hòa vào nhau.

    Gợi ý kết đề phân tích khổ 3 4 bài Sóng của Xuân Quỳnh

    Kết bài 1: Chỉ với hai khổ thơ ngắn gọn, cô đọng nhưng ta vẫn cảm nhận được nỗi niềm của người phụ nữ trong tình yêu. Đó là một tình yêu đằm thắm thiết tha nhưng không kém phần nồng hậu da diết. Này cũng đấy là một hồn thơ đầy thiên tính nữ. Gieo vào lòng người những xúc cảm nhẹ nhàng về tình yêu nhưng cũng đủ và lắng đọng để ta phải chiêm nghiệm.

    Kết bài 2: Cảm nhận bài thơ Sóng cũng như phân tích khổ 3 4 bài Sóng nói riêng đều cho thấy những cảm xúc rất chân thực của người phụ nữ khi đang yêu thương. Đó là mong ước vững chắc, là tình cảm dung dị tâm thành trong tình yêu đôi lứa mang đầy cảm hứng lãng mạn và bay bổng. Thơ của nữ sĩ, cũng vì thế, mà ngọt ngào biết bao trong tâm hồn độc giả…

    Kết bài 3: Phân tích khổ 3 4 bài Sóng cũng như tìm hiểu bài thơ, ta thấy được sự hồn nhiên yêu đời, sự hết mình cháy bỏng trong tình yêu của nữ sĩ. Không chỉ thế, thơ của Xuân Quỳnh cũng ngợi ca sự son sắt, chung tình, một lòng một dạ hy sinh vì tình yêu của người phụ nữ Việt. Hình tượng Sóng cũng đấy là em, là những xúc cảm yêu thương mà em dành riêng cho anh…

    Dàn ý phân tích khổ 3 4 bài Sóng của tác giả Xuân Quỳnh

    • Đề cập những nét chính về tác giả Xuân Quỳnh.
    • Giới thiệu bài thơ Sóng, tóm tắt nội dung ý nghĩa của tác phẩm.
    • Dẫn dắt vấn đề trong nội dung bài viết về khổ 3 4 bài Sóng.
    • Hình tượng sóng cùng những trăn trở của em.
    • Những băn khoăn và suy tư của nữ sĩ trước biển lớn.
    • Những nỗi nhớ nhung đáng yêu và dễ thương trong tình yêu của em.
    • Tóm tắt giá trị nội dung và thẩm mỹ và nghệ thuật của bài thơ cũng như khổ 3 4
    • Thể hiện những cảm nhận và suy nghĩ của chính bản thân mình khi tìm hiểu khổ 3 4.

    Những xúc cảm đa sắc trong tình yêu đã được Xuân Quỳnh diễn tả thăng hoa trong tác phẩm Sóng nói chung cũng như khổ 3 4 nói riêng. Thơ Xuân Quỳnh mang dư vị nhẹ nhàng, sâu lắng mà cũng không kém phần sôi nổi và đầy mãnh liệt…

    • Phân tích bài thơ Bác bỏ ơi của Tố Hữu và nêu suy nghĩ của em
    • Cảm nhận về hình tượng tiếng đàn ghi ta của Thanh Thảo
    • Phân tích hình tượng Lorca trong “Đàn ghita của Lorca”
    • Cảm nhận bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng – Ngữ Văn 12
    • Phân tích bài thơ Việt Bắc của tác giả Tố Hữu – Ngữ Văn 12
    • Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Khổ 3 4 Bài Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Phân Tích Bài Thơ Sóng Của Nhà Thơ Xuân Quỳnh
  • Phân Tích Khổ 5, 6 Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh Hay Nhất (Dàn Ý
  • Cảm Nhận Khổ 5, 6 Trong Bài Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Phân Tích Khổ 5 6 7 Bài Sóng Câu Hỏi 114108
  • Bài Soạn Lớp 9: Phong Cách Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Sinh 10 Bài 5 Ngắn Nhất: Protein
  • Bài 5. Prôtêin (Soạn Theo Chương Trình Mới) Chuyen De Protein Doc
  • Giáo Án Sinh Học 10 Bài 5: Protein
  • Khoa Học Tự Nhiên 9 Bài 43: Protein
  • Giải Hóa 9 Bài 43: Thực Hành: Tính Chất Của Hiđrocacbon
    • Lê Anh Trà 1927 – 1999, quê ở xã Phổ Minh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
    • Là Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam
    • Ông được phong giáo sư năm 1991

    2. Tác phẩm:

    • Văn bản trích trong: “Phong cách Hồ Chí Minh, cái vĩ đại gắn với cái giản dị”.
    • Kiểu loại văn bản: Văn bản nhật dụng
    • Phương thức biểu đạt: Chính luận
    • Bố cục: 2 phần

    Vốn tri thức văn hoá nhân loại của Chủ tịch Hồ Chí Minh sâu rộng như thế nào? Vì sao Người lại có vốn tri thức sâu rộng như vậy?

    Trả lời:

    • Vốn tri thức văn hóa nhân loại sâu rộng của Hồ Chí Minh được thể hiện: Đó là những hiểu biết uyên thâm về các dân tộc và nhân dân thế giới, văn hoá thế giới từ Đông sang Tây, từ văn hoá các nước châu Á, châu Âu cho đến châu Phi, châu Mĩ.
    • Người lại có vốn tri thức sâu rộng như vậy vì:
      • Vốn tri thức không phải trời cho mà nhờ thiên tài, Bác đã dày công học tập và rèn luyện.
      • Nhờ học hỏi nền văn hóa:
      • Đi nhiều nơi trên thế giới, làm nhiều nghề khác nhau, từ những công việc chân tay cực nhọc – đó là quá trình học hỏi từ thực tiễn và lao động.
      • Nói và viết thành thạo nhiều thứ tiếng nước ngoài
      • Người cũng học hỏi, tìm hiểu văn hoá, nghệ thuật của đất nước đó, vùng đất đó. Sự tiếp xúc, tìm hiểu, học hỏi về văn hoá của Người rất sâu sắc. Người luôn có ý thức chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại và không bị ảnh hưởng một cách thụ động.

    Trả lời:

    Những nét đẹp trong lối sống rất bình dị, Việt Nam, rất phương Đông của Bác được biểu hiện rõ nét trong trang phục, nơi ở, ăn uống cũng như tư trang.

    • Nơi ở: Bác ở trong nhà sàn độc đáo ở Hà Nội với nhũng đồ đạc đơn sơ, mộc mạc.
    • Trang phục: Vô cùng giản dị (quần áo bà ba nâu, áo trấn thủ, đôi dép lốp, cái quạt cọ, đồng hồ báo thức, radio…).
    • Ăn uống đạm bạc với những món dân dã, bình dị như cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa…
    • Tư trang ít ỏi với những vật dụng đơn sơ

    Trả lời:

    Lối sống của người là sự kết hợp giữa giản dị và thanh cao, đó chính là biểu hiện của vẻ đẹp tâm hồn. Đó không phải là lối sống khắc khổ của cảnh nghèo khó, cũng không phải là cách tự thần thánh hoá, tự làm cho khác đời, khác người. Lối sống của Bác là lối sống theo một quan niệm thẩm mĩ: vẻ đẹp giản dị và tự nhiên. Từ cách bài trí cho đến ăn ở, sinh hoạt hằng ngày đều thể hiện sự thanh thản, ung dung.

    Trả lời:

    Hồ Chí Minh là bậc đại trí, đại nhân, đại dũng. Cả cuộc đời Người là tấm gương sáng về sự tận tụy, đức hy sinh vì nước, vì dân, không một chút riêng tư. Sinh thời, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Đạo đức Hồ Chí Minh gồm 5 nội dung lớn, đó là những phẩm chất của một lãnh tụ vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, rất cao xa nhưng cũng rất đời thường mà mỗi chúng ta ở những mức độ và cấp độ khác nhau đều có thể học tập và noi theo. Một là, tấm gương trọn đời phấn đấu hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và nhân loại. Hai là, tấm gương của ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, vượt qua mọi khó khăn thử thách để đạt mục đích cách mạng. Ba là, tấm gương tuyệt đối tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Bốn là, tấm gương của một con người nhân ái, vị tha, bao dung, nhân hậu hết mực vì con người. Năm là, tấm gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường. Có thể nói, phong cách Hồ Chí Minh vô cùng phong phú và toàn diện, bao gồm phong cách tư duy, phong cách diễn đạt, phong cách làm việc, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt… Để học tập phong cách của Người, chúng ta có thể tập trung vào một số đặc trưng nổi bật như: phong cách quần chúng, phong cách khoa học và phong cách nêu gương.

    Trả lời:

    Có thể cho người nghèo những thứ ấy

    Khoảng năm 1914, Bác Hồ – lúc bấy giờ gọi là Nguyễn Tất Thành – đã đến Luân Đôn – Thủ đô của nước Anh. Ở đây có thời gian Bác phải làm phụ bếp cho khách sạn Cáctơn (1).

    Ở khách sạn Cáctơn, hằng ngày có người phục vụ dưới bếp. Những người này, sau khi khách ăn xong, có nhiệm vụ phải thu dọn bát đĩa… và đổ tất cả thức ăn thừa vào một cái thùng to rồi sau đó đem đổ đi. Có khi những thức ăn thừa là một phần tư con gà, hay cả đĩa bánh mỳ và những miếng bít tết to tướng…

    Đến lượt anh Thành làm phụ bếp, những thức ăn thừa của khách, anh đem để riêng và đậy lại cẩn thận sạch sẽ, sắp xếp gọn gàng rồi đưa cho nhà bếp.

    Thấy vậy ông đầu bếp Étcốtphie hỏi lại anh:

    – Tại sao anh không đem những thức ăn này đổ vào thùng như những người khác?

    – Anh Thành điềm tĩnh trả lời:

    – Không nên đem vứt những thứ này đi. Ông có thể cho người nghèo những thứ ấy.

    Câu nói của anh Thành làm cho ông đầu bếp rất ngạc nhiên, vì ông thấy từ trước tới nay, chưa có ai ở khách sạn này nghĩ và nói như anh Thành.

    Ông chủ bếp và mọi người nhìn anh biểu hiện một sự quý mến và khâm phục trước tấm lòng yêu thương của anh đối với những người nghèo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 10: Tại Lầu Hoàng Hạc Tiễn Mạnh Hạo Nhiên Đi Quảng Lăng Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 10 Học Kỳ
  • Soạn Bài Tại Lầu Hoàng Hạc Tiễn Mạnh Hạo Nhiên Đi Quảng Lăng (Ngắn Gọn)
  • Soạn Bài Lớp 10: Tại Lầu Hoàng Hạc Tiễn Mạnh Hạo Nhiên Đi Quảng Lăng
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10: Tại Lầu Hoàng Hạc Tiễn Mạnh Hạo Nhiên Đi Quảng Lăng (Hoàng Hạc Lâu Tống Mạnh Hạo Nhiên Chi Quảng Lăng)
  • Soạn Bài Lầu Hoàng Hạc (Chi Tiết)
  • Bài Soạn Khái Quát Văn Học Việt Nam Từ Đầu Cách Mạng Tháng Tám 1945 Đến Thế Kỉ Xx Ở Ngữ Văn Lớp 12

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Số Phận Con Người
  • Soạn Bài Số Phận Con Người Của M. Sô
  • Soạn Bài Số Phận Con Người (M. Sô
  • Soạn Bài Số Phận Con Người Sbt Ngữ Văn 12 Tập 2
  • Soạn Bài Số Phận Con Người, Soạn Văn Lớp 12 Sgk Ngữ Văn 12 Tập 2, Giáo
  • Mời các bạn cùng tham khảo bài soạn khái quát văn học Việt Nam từ đầu cách mạng tháng tám 1945 đến thế kỉ XX được blog chọn lọc chia sẻ trong bộ tài liệu học tốt ngữ văn lớp 12.

    Bài soạn Khái quát văn học Việt Nam từ cách mạng tháng tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX hay

    Video bài giảng Khái quát văn học Việt Nam từ cách mạng tháng tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX :

    Nội dung bài soạn khái quát văn học Việt Nam từ đầu cách mạng tháng tám 1945 đến thế kỉ XX ở ngữ văn lớp 12 :

    Câu 1: Những nét chính về tình hình lịch sử, xã hội, văn hóa có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975.

    – Thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945 mở ra kỉ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập tự do cho dân tộc, nhân dân và nền văn học mới.

    – Nền văn học từ sau Cách mạng tháng Tám phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản nên đã thống nhất về khuynh hướng tư tưởng, tổ chức và quan niệm nhà văn kiểu mới: nhà văn – chiến sĩ.

    – Từ năm 1945 đến 1975, đất nước trải qua nhiều biến cố, sự kiện lớn, tác động sâu sắc tới toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần dân tộc, trong đó có văn học nghệ thuật.

    + Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mĩ hết sức vĩ đại, hào hùng.

    + Công cuộc xây dựng CNXH trên miền Bắc.

    – Chiến tranh kéo dài, liên tục, khiến nền kinh tế nghèo nàn, điều kiện giao lưu với văn hóa nước ngoài hạn chế (chỉ tiếp xúc, ảnh hưởng của văn hóa, văn học các nước trong phe XHCN).

    Câu 2:

    Văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 có thể chia làm 3 chặng:

    Chặng đường từ 1945 – 1954.

    Chặng đường từ 1955 – 1964.

    Chặng đường từ 1965 – 1975.

    Thành tựu chủ yếu của mỗi chặng:

    a. Văn học từ 1945 – 1954

    – Chủ đề: phản ánh niềm vui sướng hồ hởi của nhân dân khi dành được thắng lợi trên mặt quân sự, ca ngợi tổ quốc, kêu gọi tinh thần đoàn kết. Từ 1946 trở đi bắt đầu ca ngợi cuộc kháng chiến chống Pháp tin vào một tương lai tươi sáng hơn.

    – Thể loại:

    – Truyện ngắn:

    + Các tác phẩm tiêu biểu: Kí sự một lần tới thủ đô, Đôi mắt, Thư nhà.

    + Từ 1950 xuất hiện những tập truyện kí khá dày: Vùng mỏ, Xung kích.

    – Thơ đạt thành tựu xuất sắc tiêu biểu có: Cảnh khuya, Rằm tháng giêng, Bên kia sông Đuống, Tây tiến, …

    – Kịch: Bắc sơn, Chị hòa.

    – Lí luận phê bình: chưa phát triển lắm nhưng có một số sự kiện quan trọng chủ nghĩa Mác và những vấn đề văn hóa của Trường Chinh.

    b. Văn học từ 1955 – 1964

    – Chủ đề: ca ngợi công cuộc đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, phản ánh nỗi đau chia cắt nước nhà.

    – Thể loại:

    – Truyện ngắn: mở rộng đề tài, mở rộng phạm vi thâm nhập đến từng ngóc ngách của đời sống xã hội.

    + Đề tài kháng chiến chống Pháp: Sống mãi với thủ đô, Cao điểm cuối cùng.

    + Đề tài hiện thực cuộc sống: Vợ nhặt, Tranh tối tranh sáng.

    + Công cuộc xây dựng CNXH: Người lái đò sông Đà, Mùa lạc, Cái sân gạch.

    – Thơ: có sự kết hợp giữa yếu tố lãng mạn và yếu tố hiện thực: Gió lộng, Ánh sáng và phù sa, Riêng chung.

    c. Văn học từ 1965 – 1975

    – Chủ đề: ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

    – Thể loại:

    – Truyện kí:

    + Miền Nam: phản ánh cuộc chiến đấu gian nan của miền Nam: Rừng xà nu, Người mẹ cầm súng.

    + Miền Bắc: kí chống mỹ, truyện ngắn của Vũ Thành Long.

    – Thơ: phát triển với khuynh hướng đào sâu vào hiện thực với những cái tên như Phạm tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Chính Hữu …

    – Kịch: có nhiều phát triển ví dụ như kịch quê hương Việt Nam thời tiết ngày nay.

    Câu 3: Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ 1945 – 1975

    – Văn học vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó mật thiết với vận mệnh chung của đất nước

    + Nền văn học mới được kiến tạo theo mô hình “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” (Hồ Chí Minh) cùng với kiểu nhà văn mới: nhà văn – chiến sĩ. Ý thức, trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ được đề cao, nhà văn gắn bó với dân tộc, với nhân dân và đất nước, dùng ngòi bút để phục vụ kháng chiến, cổ vũ chiến đấu.

    + Văn học tập trung vào đề tài Tổ quốc: bảo vệ đất nước, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tổ quốc trở thành nguồn cảm hứng lớn xuyên suốt thơ ca và truyện kí.

    + Cùng với đề tài Tổ quốc, chủ nghĩa xã hội cũng là một đề tài lớn của văn học giải đoạn này. Văn học đề cao lao động, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người lao động, của con người mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc sau ngày giải phóng, hàn gắn vết thương chiến tranh.

    – Nền văn học gắn liền với quần chúng nhân dân.

    + Văn học gắn bó sâu sắc với nhân dân lao động, hướng về đại chúng và trước hết là công nông binh.

    + Văn học mang tính nhân dân sâu sắc, thể hiện bằng việc nhà văn quan tâm đến đời sống của nhân dân lao động, nói lên những nỗi bất hạnh của họ trong cuộc sống cũng như niềm vui, tự hào của họ về cuộc đời mới, phát hiện ở họ khả năng cách mạng và phẩm chất anh hùng; tập trung khắc họa hình tượng quần chúng cách mạng, diễn tả vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân lao động.

    – Nền văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

    + Văn học mang đậm chất sử thi, tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản nhất, có ý nghĩa sống còn của đất nước: Tổ quốc còn hay mất, độc lập tự do hay nô lệ. Nó hướng tới những sự kiện có ý nghĩa lịch sử, hướng tới vẻ đẹp cao cả, lí tưởng của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng và sức mạnh chiến thắng của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam bằng lời văn trang trọng và đẹp một cách hào hùng, tráng lệ. Đó là vẻ đẹp của Người mẹ cầm súng, của Người con gái Việt Nam, của Dáng đứng Việt Nam …

    + Khuynh hướng sử thi thường được kết hợp với cảm hứng lãng mạn làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan, tạo nên nét thẩm mĩ đặc trưng cho nền văn học chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc.

    Câu 4: Căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa, hãy giải thích vì sao văn học Việt Nam từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX phải đổi mới.

    Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản lãnh đạo và đã từng bước chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường, văn hóa nước ta cũng có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với văn hóa nhiều nước trên thế giới. Văn học dịch, báo chí và các phương tiện truyền thông khác phát triển mạnh mẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của văn học. Đất nước bước vào công cuộc đổi mới thúc đẩy nền văn học cũng phải đổi mới phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc cũng như quy luật phát triển khách quan của nền văn học.

    Câu 5: Những thành tựu ban đầu của văn học Việt Nam từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX

    Giai đoạn văn học từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX có thể chia làm hai thời kì nhỏ là từ năm 1975 đến năm 1985 và từ sau năm 1986 trở đi. Từ năm 1975 đến năm 985 là chặng đường chuyển tiếp, trăn trở; từ năm 1986 trở đi là chặng đường văn học có nhiều đổi mới. Văn học trong giai đoạn này bộc lộ tiếng lòng và những trắc ẩn đối với con người; nó nở rộ những trường ca với mục đích tổng kết, khái quát về chiến tranh; chất nhân dân, nhân văn được đề cao hơn, đi sâu vào những nỗi đau và bất hạnh của từng thân phận con người sau chiến tranh.

    Đổi mới văn học trong giai đoạn này có thể hiểu là đổi mới cách viết về chiến tranh, đối mới cách nhìn nhận về con người, khám phá ra trong con người những mối quan hệ đa dạng, phức tạp chứ không đơn điệu như trước đây.

    Các tác giả tiêu biểu của giai đoạn này có thể kể đến là Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Trần Mạnh Hảo, Xuân Quỳnh, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Duy, Ma Văn Kháng, Trần Nhuận Minh … Các tác phẩm như Đất trắng, Hai người trở lại trung đoàn, Đứng trước biển, Cù lao Tràm, Cha và con, Gặp gỡ cuối năm, Mùa lá rụng trong vườn, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc thuyền ngoài xa, Tướng về hưu, Bến không chồng, Nỗi buồn chiến tranh, Cát bụi chân ai, Ai đã đặt tên cho dòng sông?, …

    Trên lĩnh vực kịch cũng có nhiều tác phẩm biểu hiện như Nhân danh công lí của Doãn Hoàng Giang; Tôi và chúng ta; Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.

    Nguồn : Sưu Tầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 12: Những Ngày Đầu Của Nước Việt Nam Mới Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 12 Học Kì I
  • Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 12: Sóng
  • Soạn Bài Nghị Luận Về Một Bài Thơ, Đoạn Thơ
  • Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 12: Luật Thơ (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 12: Luật Thơ
  • So Sánh Hình Ảnh Người Lính Cách Mạng Ở Bài Thơ Đồng Chí Và Tiểu Đội Xe Không Kính

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Của Em Về Hình Ảnh Người Lính Trong Hai Bài Thơ Đồng Chí Và Tiểu Đội Xe Không Kính
  • So Sánh Hình Tượng Người Lính Trong Đồng Chí Và Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Hình Ảnh Người Lính Qua Hai Bài Thơ Đồng Chí Và Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • So Sánh Hình Ảnh Người Lính Cách Mạng Qua Hai Bài Thơ Đồng Chí Và Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Soạn Bài Hai Đứa Trẻ (Siêu Ngắn)
  • Hình ảnh người lính cách mạng mẫu 1

    Là những nhà thơ quân đội trưởng thành trong những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Chính Hữu và Phạm.Tiến Duật từng sống, trải nghiệm và thấm thía đời sống của người lính trên chiến trường. Trên đôi bàn tay của hai nhà thơ không chỉ vững vàng những cây súng đánh giặc mà còn từng bừng nở cho đời những vần thơ diệu kì về người lính. Hai trong số những áng thơ ấy là Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Cùng khắc họa hình ảnh người lính trong lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam nhưng bên cạnh những điểm chung vốn dễ nhận thấy, ở hai bài thơ, mỗi bài lại có những nét đẹp riêng.

    Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu ra đời năm 1948, những năm tháng đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp đầy vất vả, chính quyền ta vừa thành lập còn non trẻ. Những người lính của “Đồng chí” là những người lính chống Pháp, họ đến với kháng chiến từ màu áo nâu của người nông dân, từ cái nghèo khó của những miền quê lam lũ:

    Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

    Còn Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật ra đời năm 1969, thời điểm cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang vào hồi ác liệt. Những người lính thời kì này còn rất trẻ. Họ phần lớn vừa rời ghế nhà trường, tâm hồn còn phơi phới tuổi xuân. Đó là những con người:

    Mà lòng phơi phới dậy tương lai”.

    Hoàn cảnh, điều kiện khác nhau như vậy tất yếu dẫn đến sự khác nhau về ý thức giác ngộ cách mạng của những người lính ở hai bài thơ. Nhận thức về chiến tranh của những người lính chống Pháp còn đơn giản, chưa sâu sắc như thời kì kháng chiến chống Mỹ. Trong “Đồng chí”, tình cảm thiêng liêng nhất được nhắc tới là tình đồng chí, đồng đội. Trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” mới thấy xuất hiện ý niệm về ý chí, tinh thần yêu nước:

    “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim”

    Sống giữa chiến trường với tình đồng đội thiêng liêng, người lính chống Pháp nhớ về gia đình với mẹ già, vợ dại, con thơ. Người lính kháng Mỹ thì đã khác. Họ hiểu rằng kháng chiến là gian khố và còn trường kỳ nữa. Vậy nên xe hàng cùng con đường ra mặt trận đã trở thành ngôi nhà chung và những người đồng đội đã trở thành gia đình ruột thịt:

    “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”.

    Và điều khác nhau cơ bản giữa hai thi phẩm chính là bút pháp thơ của hai tác giả. Chính Hữu dùng bút pháp hiện thực – lãng mạn dựng lên hình ảnh những người lính thời kì đầu của cuộc kháng chiến với nhiều khó khăn thiếu thốn:

    “Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày”

    Cảm hứng lãng mạn được lắng đọng trong cảm xúc về tình đồng chí thiêng liêng: “Đồng chí!” cùng những hình ảnh thơ giàu sức gợi “đầu súng trăng treo”. Bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” lại được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn – hiện thực. Cái khó khăn thiếu thốn không bị lảng tránh:

    “Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe thùng xe có xước”.

    Nhưng vượt lên trên tất cả vẫn là sự ngang tàng, tinh nghịch của những người lính trẻ lạc quan yêu đời:

    “Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng” “ừ thì gió bụi”

    Có thể nói, trong “Đồng chí” của Chính Hữu, nhà thơ đã dựng lên hình ảnh người lính với tình đồng đội thiêng liêng chia sẻ với nhau những khó khăn, cực nhọc của một cuộc sống kháng chiến gian nan, thiếu thốn. Bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật lại khắc họa tuổi trẻ trẻ trung, yêu đời, yêu sống tinh nghịch và đầy ước mơ, lí tưởng của những người lính chống Mỹ.

    Vì tiếng gọi của non sông tất cả đã bỏ lại phía sau những “bến nước gốc đa”, những con phố, căn nhà và cả những người thân yêu nhất. Trong điều kiện chiến đấu vô cùng gian khổ, thiếu thốn, thì tinh thần chiến đấu của những người lính lại bùng lên mạnh mẽ, sục sôi khí thế. Họ không nề nguy hiểm, khó khăn, vẫn vững lòng cầm chắc tay súng để bảo vệ quê hương, đất nước:

    “Súng bên súng đầu sát bên đầu” “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim”.

    Họ cũng sát cúng bên nhau, bên những người đồng đội để cùng chiến đấu dũng cảm. Nếu trong “Đồng chí” là:

    Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

    Thì trong Bài thơ về tiểu đội xe không kinh hình ảnh đó đã trở nên thân quen:

    Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi

    Không kể thiếu thốn, khó khăn, họ vẫn chấp nhận, vẫn vui vẻ lạc quan, yêu đời hơn. Cái bắt tay ấy là cả một tình đồng đội thiêng liêng, họ truyền cho nhau niềm tin chiến thắng, tình yêu và lòng dũng cảm ấy. Sống và chết, dường như trong tim mỗi người lính chiến đấu không hề có khái niệm ấy.

    Dù có những điểm giống và khác nhau rõ rệt nhưng điều đó càng khiến những người lính cụ Hồ hiện lên qua nhiều màu vẽ, sinh động và gần gũi. Điều đó trước hết giúp người đọc càng hiểu rõ hơn về những người lính. Hình ảnh của họ hiện lên thật đẹp đẽ, họ chính là biểu tượng, là niềm tin, khát vọng của nhân dân gửi gắm nơi họ. ơ các anh, người đọc nhận thấy một ánh sáng lý tưởng cao đẹp và thiêng liêng vô cùng. Không chỉ vậy, những nét khác biệt còn thể hiện từng phong cách riêng của mỗi tác giả trong phương thức thể hiện. Điều đó làm giàu, làm đẹp thêm cho vườn hoa nghệ thuật nước nhà.

    Hình ảnh người lính cách mạng mẫu 2

    Thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống. Và có lẽ vì thế nên mỗi bài thơ đều mang đến sự đồng điệu giữa cảm xúc của người đọc, người nghe và tâm hồn thi sĩ của tác giả. Đặc biệt, những bài thơ gắn liền với hình ảnh người lính trong hai thời kỳ kháng chiến p và chống Mĩ lại càng khiến chúng ta thêm yêu cuộc sống chiến đấu gian khổ của dân tộc hơn. Tuy nhiên, hình ảnh người lính mỗi thời kỳ lại có những nét tương đồng và khác biệt, nên những bài thơ trong mỗi thời kỳ cũng khắc họa hình ảnh hai người lính khác nhau, mà tiêu biểu là bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu và “bài thơ tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.

    Sự khác biệt đầu tiên của họ là hoàn cảnh chiến đấu và xuất thân. Những vần thơ của bài “Đồng chí” được Chính Hữu dùng ngòi bút của mình viết nên vào tháng 5.1948. Đây là những năm tháng đầu tiên giặc Pháp quay trở lại xâm lược nước ta sau cách mạng tháng 8, nên cuộc sống vô cùng khó khăn vất vả, nhất là đối với hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề ở chiến khu. Hiểu được nỗi đau của dân tộc, những người nông dân nghèo ở mọi nẻo đường đất nước đã bỏ lại sau lưng ruộng đồng, “bến nước gốc đa” để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.

    “Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.”

    Khác với Chính Hữu, Phạm Tiến Duật – một nhà thơ trẻ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước cho ra đời “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” vào tháng 5.1969. Thời gian này là cột mốc đánh dấu cuộc kháng chiến của quân và dân ta đang trong thời khốc liệt nhất. Anh giải phóng quân bước vào chiến trường khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ ra đi khi vai còn vươn cánh phượng hồng, lòng còn phơi phới tuổi thanh xuân. Những anh hùng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” ấy chẳng màng đến tương lai đang rộng mở đón chào, đôi chân họ bị níu chặt nơi mặt trận vì hai từ “yêu nước”.

    Và vì hoàn cảnh, xuất thân khác nhau nên dẫn đến lí tưởng chiến đấu và ý thức giác ngộ cũng không tránh khỏi khác nhau. Trong bài “đồng chí”, nhận thức về chiến tranh của người lính còn đơn giản, chưa sâu sắc. Họ chỉ biết chiến đấu để thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, giành lại tự do, giành lại quyền làm người mà thôi. Trong tim họ, tình đồng chí đồng đội là món quà thiêng liêng, quý giá nhất mà họ nhận được trong suốt quãng thời gian dài cầm súng.

    “Súng bên súng, đầu sát bên đầu, Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.

    Còn trong thời chống Mĩ, khái niệm về tinh thần yêu nước, thống nhất nước nhà đã khắc sâu vào tâm trí mỗi con người nơi chiến khu. Họ hiểu được điều ấy là vì giai đoạn này, khi miền Bắc đã đi vào công cuộc xây dựng CNXH thì miền Nam lại tiếp tục chịu đựng khó khăn bởi sự xâm lược của đế quốc Mĩ. Và “thống nhất” trở thành mục tiêu quan trọng hàng đầu của dân tộc ta. Trong trái tim chảy dòng máu đỏ của người Việt Nam, những người lính Trường Sơn mang trong mình tinh thần lạc quan, ý chí quyết thắng giải phóng miền Nam cùng tình đồng chí đã hình thành từ thời kháng chiến p.

    “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Chỉ cần trong xe có một trái tim.”

    Thật thiếu sót nếu như so sánh hai bài thơ mà không nói về vẻ đẹp của chúng. “Đồng chí” là hiện thân của vẻ đẹp giản dị, mộc mạc mà sâu sắc. Tình đồng chí được thể hiện thật tự nhiên hòa huyện trong tinh thần yêu nước mãnh liệt và chia sẻ giữa những người bạn với nhau. Còn “bài thơ về tiểu đội xe không kính” là sự khắc họa nổi bật của nét trẻ trung, tinh thần lạc quan, dũng cảm với tinh thần yêu thần yêu nước rừng rực cháy trong tim. Khát vọng và niềm tin của họ được gửi vào những chiếc xe không kính, thứ đưa họ vượt dãy Trường Sơn thẳng tiến vì miền Nam yêu dấu.

    Thế nhưng, những người lính ấy, dù trong thời kỳ nào thì cũng có những nỗi nhớ không nguôi về quê nhà. Sống giữa chiến trường với tình đồng chí thiêng liêng, lòng những người nông dân đang quặn thắt mỗi khi hình ảnh mẹ già, vợ dại, con thơ hiện về. họ cảm thấy thật xót xa khi nghĩ đến ruộng đồng bỏ không cỏ dại, gian nhà trống vắng lại càng cô đơn.

    “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày, Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay, Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.”

    Người lính chống Mĩ lại khác, nỗi nhớ của họ là sự vấn vương nơi mái trường, là sự nuối tiếc những trang vở còn tinh tươm. Họ buồn vì phải khép lại ước mơ rực rỡ trên hành trình đi đến tương lai. Nhưng họ hiểu rằng trách nhiệm với quê hương vẫn còn đó, nên họ quyết tâm chiến đấu hết mình. Họ biến con đường ra trận thành ngôi nhà chung gắn kết những trái tim vì tinh thần chống giặc ngoại xâm làm một.

    “Bếp hoàng cầm ta dựng giữa trời, Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy.”

    Bàn về nghệ thuật của hai bài thơ, ta không khó để thấy rằng chúng có nét khác biệt tương đối rõ ràng. Chính Hữu dùng bút pháp lãng mạn, xây dựng trong thơ của mình biểu tượng nên thơ của tình đồng chí: “đầu súng trăng treo”. Cảm hứng dâng trào lên rồi lại lắng đọng trong tâm hồn, hóa thành hình ảnh của chiến đấu và hòa bình, mang đến cho đời một bài thơ đầy chất trữ tình nhưng cũng không kém phần hấp dẫn. Ngược lại, Phạm Tiến Duật xây dựng hình ảnh người lính bằng những gì có thực trong cuộc sống chiến đấu gần gũi nhất: “xe không kính”. Hình ảnh thơ này thật sự quá độc đáo, khiến người đọc nhiều lần ngỡ ngàng vì sự phá cách và nét đơn giản nhưng cũng ngập tràn chất thơ của “bài thơ về tiểu đội xe không kính”.

    Nhưng dù khác nhau từ hoàn cảnh, xuất thân cho đến lý tưởng chiến đấu, họ vẫn cùng chung một mục tiêu duy nhất: chiến đấu vì hòa bình, độc lập, tự do của tổ quốc. Họ lấy quyết tâm làm nền tảng, tinh thần làm cơ sở để vững bước đến tương lai được dựng nên bởi tình đồng chí. Dù biết rằng trong cuộc chiến một sống một còn ấy, đã có không ít những người phải hy sinh, nhưng đó lại là động lực lớn hơn chắp cánh cho ước mơ của những người chiến sĩ bay xa, bay cao. Hình tượng người lính ở hai thời kỳ đều chất chứa những phẩm chất cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ mà chúng ta cần phải trân trọng và yêu quý.

    Nói tóm lại, người lính mãi mãi là biểu tượng tươi đẹp và sinh động nhất của chiến tranh, dù là thời kì phong kiến hay chống Mỹ. Họ hiện lên quá đỗi gần gũi và thân thương, với nghĩa tình đồng đội ấm áp đã, đang và sẽ mãi mãi ấp ủ trong trái tim. Họ là những cây xương rồng rắn rỏi, cố gắng vươn lên giữa sa mạc mênh mông khô cằn. Họ là ngọn đèn thắp sáng con đường của quê hương chúng ta, đưa đất nước đi đến hòa bình và phát triển như ngày hôm nay.

    Hình ảnh người lính cách mạng mẫu 3

    Người lính là một trong những hình tượng trung tâm của văn học cách mạng Việt Nam. Đi vào trang văn trang thơ là những anh bộ đội Cụ Hồ với những phẩm chất đáng quý. Hai tác phẩm Đồng chí (1948) của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính (1969) của Phạm Tiến Duật cũng nằm trong dòng chảy đó.

    Hai bài thơ, mỗi bài mỗi vẻ. Ở Đồng chí của Chính Hữu, người đọc bắt gặp hình ảnh người nông dân mặc áo lính giản dị, chân thành, chất phác với hoàn cảnh xuất thân bình dị:

    Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

    Họ đều là những người nông dân chân lấm tay bùn, ra đi từ những miền quê nghèo khó. Vì chung lí tưởng, chung nhiệm vụ mà họ trở thành người đồng chí sát cánh bên nhau. Khác với những người chiến sĩ trong bài Đồng chí, những người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính là những chiến sĩ trẻ hồn nhiên, hóm hỉnh, ngang tàng, trẻ trung, phần nhiều là những thanh niên học sinh đi thẳng từ nhà trường ra chiến trường. Họ ngang tàng, hóm hỉnh ngay từ chính câu thơ đầu tiên: “Không có kính không phải vì xe không có kính” – câu thơ mang giọng tranh luận sôi nổi, say sưa của tuổi trẻ. Dòng thơ đầu dài mười tiếng như lời phân trần nguyên nhân khiến xe không có kính. Và người chiến sĩ lái xe trẻ trung đã biến cái không bình thường thành cái bình thường, thậm chí thấy thú vị trước cái không bình thường đó.

    Tuy mang một vài điểm khác nhau về độ tuổi, về hoàn cảnh xuất thân nhưng hình tượng người lính trong hai bài thơ đều mang những nét đẹp chung của anh bộ đội Cụ Hồ như tinh thần sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn gian khổ, tình đồng đội keo sơn gắn bó, ý chí chiến đấu kiên cường và tinh thần lạc quan, yêu đời.

    Trong cuộc kháng chiến trường kì của nhân dân ta, dù ở thời điểm nào, người lính cũng phải đương đầu với vô vàn khó khăn, thử thách. Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, những người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu đã phải sống những ngày tháng kháng chiến gian truân, vất vả, thiếu thốn. Ai đã từng trải qua đời lính trong những năm tháng đó mới thấm thía hết những gian nan mà người lính phải trải qua. Một trong những khó khăn mà họ phải đối mặt là căn bệnh sốt rét rừng:

    Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi

    Những người nhiễm bệnh đầu tiên cảm thấy ớn lạnh, sau đó người lạnh run cầm cập, đắp bao nhiêu chăn cũng không đủ, người vã mồ hôi vì nóng và vì yếu. Sau cơn sốt rét là da xanh, da vàng, viêm gan… Viết về điều này, Tố Hữu đã có những câu về anh vệ quốc quân: “Giọt giọt mồ hôi rơi – Trên má anh vàng nghệ”. Thôi Hữu trong bài Lên Cấm Sơn cũng để cập đến căn bệnh ác tính này: “Nước da đã lên màu tật bệnh – Đâu còn tươi nữa những ngày hoa”. Không chỉ để lại nước da xanh, căn bệnh này còn cướp đi sinh mạng của biết bao chiến sĩ. Có những người không chống chọi lại được với bệnh tật và nằm lại ở rừng xanh: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa – Gục lên súng mũ bỏ quên đời” (Quang Dũng – Tây Tiến). Không chỉ phải đối mặt với bệnh tật, những ngày đầu kháng chiến, cuộc sống của người lính rất gian khổ thiếu thốn:

    Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày

    Những khó khăn thiếu thốn đó của các anh bộ đội đã hiện lên trong thơ Chính Hữu bằng bút pháp tả thực, một sự thật trần trụi đến xót xa. Nhà thơ Hồng Nguyên trong bài thơ Nhớ cũng kể về những anh lính thiếu thốn quân trang quân dụng, phải đánh giặc bằng vũ khí tự tạo:

    Lột sắt đường tàu Rèn thêm dao kiếm Áo vải chân không Đi lùng giặc đánh

    Khi viết về những người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Phạm Tiến Duật không nhắc đến những thiếu thốn về quân trang quân dụng mà đề cập đến sự khốc liệt của chiến trường. Bom đạn chiến tranh đã làm cho những chiếc xe của đoàn xe ra trận trở thành những chiếc xe không kính. Xe không kính vì: “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”. Không có kính nên “Bụi phun tóc trắng như người già”, “Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời”. Và tác giả đã lạc quan vui vẻ gọi tiểu đội của mình là “tiểu đội xe không kính”. Trên con đường Trường Sơn – nơi mà “một mét vuông có ba quả bom lớn” nhiều chiến sĩ đã phải nằm lại về điều này, có nhà thơ đã viết những câu thơ đầy đau xót:

    Nếu tất cả trở về đông đủ Sư đoàn tôi sẽ thành mấy sư đoàn?

    Dù ở thời điểm nào, chiến tranh cũng luôn là mất mát, là đau thương. Mặc dầu vậy, những chiến sĩ lái xe vẫn vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình một cách lạc quan, trẻ trung. Họ hiện ra với tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, bất chấp khó khăn, nguy hiểm: “Ung dung buồng lái ta ngồi – Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”. Tư thế đó là tư thế đi vào lịch sử, tư thế hùng tráng của những anh hùng Trường Sơn.

    Dù khó khăn, vất vả như vậy nhưng những chiến sĩ vẫn luôn lạc quan, yêu đời. Dù đứng giữa rừng rét buốt nhưng trên môi họ vẫn nở nụ cười: “Miệng cười buốt giá” (Đồng chí). Họ coi thường thử thách, khó khăn. Câu thơ cho thấy sự lạc quan, bình thản của những con người hồn nhiên, giản dị. Những người lính ấy lạc quan, cười trước khó khăn, chấp nhận mọi thách thức : “Không có kính, ừ thì có bụi – Bụi phun tóc trắng như người già – Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc – Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”, rồi “Không có kính, ừ thì ướt áo – Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời – Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa – Mưa ngừng, gió lùa, khô mau thôi”. Ai đã từng đặt chân đến đường Trường Sơn vào thời chống Mĩ mới thấu hiểu hết gian khổ của người lính lái xe. Đường Trường Sơn gập ghềnh hiểm trở. Mưa rừng Trường Sơn như trút nước. Mùa khô, bụi bay mù trời. Ngày trời quang mây tạnh thì bom giặc Mĩ liên tục trút xuống những đoàn xe nối nhau ra trận. Xe có kính, những chiến sĩ lái xe đã vất vả, xe không có kính lại càng vất vả biết chừng nào.

    Sống giữa lửa đạn chiến tranh, những người lính càng thêm yêu thương đùm bọc nhau. Sống những ngày tháng gian khổ, họ sẵn sàng chia sẻ từng cái chăn, tấm áo: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”, “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” (Chính Hữu – Đồng chí). Đó là cái nắm tay siết chặt hàng ngũ và gạt bớt những khó khăn, gian khổ. Dù bom đạn giặc Mĩ có khốc liệt đến đâu cũng không thể ngăn được những cái bắt tay thân ái của những chiến sĩ lái xe Trường Sơn: “Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới – Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”. Cái bắt tay đó cho thấy sự bất lực của kẻ thù, đồng thời cũng cho thấy sự cộng hưởng niềm vui chiến thắng. Dù trút mưa bom bão đạn song đế quốc Mĩ không sao ngăn được “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời – Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy – Võng mắc chông chênh đường xe chạy – Lại đi, lại đi trời xanh thêm”. Dừng chân giữa rừng Trường Sơn, những người chiến sĩ động viên, khích lệ nhau cùng hướng về ngày mai tươi sáng. “Chỉ cần trong xe có một trái tim”, dù không có kính, không có đèn, không có mui xe, thùng xe có xước thì những chiếc xe vẫn sẽ luôn hướng về miền Nam yêu thương.

    Những ngày tháng gian khổ hi sinh mà thắm tình đồng đội sẽ là những tháng ngày không thể nào quên đối với mỗi người chiến sĩ đã từng sống và chiến đấu bên nhau. Hai bài thơ khác nhau về giọng điệu, về hoàn cảnh sáng tác, về hoàn cảnh xuất thân của những người lính song đều khắc họa rất thật và rất thành công hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ – những “Thạch Sanh của thế kỉ XX” (Tố Hữu).

    Hình ảnh người lính cách mạng mẫu 4

    Đề tài về người lính là một mảnh đất màu mỡ được nhiều nhà thơ, nhà văn khám phá, tìm hiểu với nhiều tác phẩm hấp dẫn, độc đáo. Hình ảnh người lính dưới ngòi bút của mỗi nhà văn hiện lên với những nét riêng và Chính Hữu, Phạm Tiến Duật cũng góp phần làm phong phú thêm mảng đề tài ấy qua hai tác phẩm tiêu biểu – bài thơ “Đồng chí” và bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Hình tượng người lính trong hai bài thơ hiện lên vừa có những điểm giống nhau nhưng đồng thời cũng có những điểm khác biệt.

    Trước hết có thể thấy, hình tượng người lính trong hai bài thơ hiện lên giống nhau ở những phẩm chất, vẻ đẹp đáng trân quý. Hình ảnh người lính trong cả hai bài thơ đều là những người giàu nghị lực, không ngại khó khăn, gian khổ và sẵn sàng vượt lên trên tất cả bằng ý chí, niềm tin và tinh thần lạc quan. Đọc bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu, chắc hẳn chúng ta sẽ không thể nào quên được những câu thơ:

    Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày.

    Bằng những hình ảnh chân thực, rõ nét, Chính Hữu dường như đã làm hiện lên tất cả mọi khó khăn, gian khổ, thiếu thốn mà những người lính đã phải gánh chịu trong cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc. Là những cơn sốt rét rừng đến run người, là thiếu thốn về vật chất – “áo rách vai”, “quần vài mảnh vá”, “chân không giày”. Nhưng có lẽ những khó khăn, thiếu thốn ấy không thể làm cho các anh nao núng, những người lính ấy đã vượt lên trên tất cả bằng một nụ cười, hình ảnh “miệng cười buốt giá” đã cho chúng ta thấy rõ được tinh thần lạc quan, ý chí, nghị lực trong các anh. Không chỉ trong bài thơ “Đồng chí”, bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” cũng đã khắc họa vẻ đẹp này của những người lính:

    Không có kính ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha Không có kính ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi.

    Trên con đường hành quân ra trận, trên tuyến đường Trường Sơn với biết bao mưa bom, bão đạn và hiểm nguy nhưng những người lính lái xe đã nỗ lực vượt lên trên tất cả. Có thể thấy, những hình ảnh “bụi”, “mưa” vừa là những hình ảnh mang ý nghĩa tả thực nhưng hơn hết đó còn là những hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng cho những khó khăn, vất vả mà những người lính gặp phải trên đường ra trận. Nhưng những người lính đã vượt qua tất cả, ý chí, nghị lực và niềm tin của những người lính được thể hiện rõ nét qua việc sử dụng điệp từ “không có…ừ thì….” cùng việc lặp lại cấu trúc “chưa cần…” và hàng loạt các hình ảnh chân thực thể hiện rõ ý chí, tinh thần lạc quan của các anh như “phì phèo châm điếu thuốc”, “nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”, “chưa cần thay lái trăm cây số nữa”,…

    Thêm vào đó, những người lính trong cả hai bài thơ đều có tình đồng chí, đồng đội gắn bó bền chặt, keo sơn, thắm thiết. Trong bài thơ “Đồng chí”, tình đồng đội hiện lên thật đẹp và thể hiện rõ nét trong toàn bộ bài thơ. Ở đó, những người lính thấu hiểu mọi nỗi niềm tâm sự, cùng sát cánh bên nhau sẻ chia tất cả:

    Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau. Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

    Những người lính ấy, họ xuất thân từ những miền quê khác nhau, đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, cùng chung lí tưởng, chung mục đích phấn đấu và trở thành những người đồng chí, đồng đội, cùng chung chăn. Và để rồi, họ thấu hiểu hết mọi nỗi niềm của nhau, thấu hiểu cảnh ngộ, thấu hiểu mục đích lí tưởng và tình yêu quê hương, đất nước thiết tha. Đồng thời, những người lính ấy họ đã cùng nhau vượt qua bao vất vả, thiếu thốn và cả những bệnh tật nơi chiến trường hiểm ác với cái thiên nhiên hoang dã, dữ dội và để rồi, những tình cảm thiêng liêng, đáng trân quý ấy ở họ đã kết tinh thật sắc nét qua câu thơ “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.

    Hình ảnh “tay nắm lấy bàn tay” là một hình ảnh thơ độc đáo và giàu ý nghĩa, đó là cái bắt tay để gắn chặt thêm tình đồng chí, đồng đội, là cái bắt tay trao cho nhau hơi ấm của tình yêu thương, trao cho nhau động lực, niềm tin để chiến đấu và chiến thắng. Đọc bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật chúng ta cũng thấy hiện lên tình đồng chí, đồng đội cao đẹp, đáng trân quý:

    Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi

    Trên chặng đường hành quân ra trận gian nan, vất vả, những người lính gặp nhau trong thoáng chốc, qua những ô cửa kính đã vỡ vì bom đạn của chiến trường, họ trao nhau những cái bắt tay ấm nồng tình cảm. Cái bắt tay ấy đã trao đi biết bao niềm tin, bao động lực để các anh cùng nhau phấn đấu, cố gắng trên chặng đường ra trận hiểm nguy. Và đồng thời, với những người lính lái xe, tình cảm đồng đội, tình anh em của họ cũng thật giản dị mà đơn sơ, với họ, những người cùng chung bát đũa chính là anh em, là gia đình của nhau, họ sẵn sàng cùng nhau yêu thương, gánh vác và san sẻ mọi nỗi niềm.

    Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy.

    Cùng với đó, người lính trong cả hai bài thơ đều hiện lên với tư thế chủ động, sẵn sàng chiến đấu. Đọc bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu, chắc hẳn người đọc sẽ không thể nào quên những câu thơ:

    Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo

    Trên cái nền của thiên nhiên, giữa màn đêm nơi chốn núi rừng hoang sơ, khi sương muối đã bủa vây lấy tất thảy mọi thứ, ấy vậy mà những người lính ấy vẫn không nao núng, vẫn ung dung, hiên ngang đứng “chờ giặc tới”. Hình ảnh đừng “chờ giặc tới” như đã vẽ lên trước mắt chúng ta hình ảnh người lính hiên ngang đứng chờ giặc, không chút lo lắng, sợ hãi.

    Cùng với đó, tư thế hiên ngang, bất khuất của những người lính lái xe trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” cũng hiện lên thật rõ nét:

    Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái

    Trên con đường ra trận, giữa những trận mưa bom, bão đạn, khiến những chiếc xe vỡ cửa kính, nhưng tất cả những điều đó chẳng thể nào ngăn được bước chân của các anh. Những người lái xe ấy vẫn “ung dung” giữ vững tay lái của mình, vẫn hiên ngang nơi buồng lái để ra trận, hoàn thành nhiệm vụ của mình. Đặc biệt, tư thế hiên ngang của họ càng được nhấn mạnh và làm bật nổi qua việc sử dụng điệp ngữ “nhìn đất”, “nhìn trời”, “nhìn thẳng”,… Những người lính lái xe ấy không những không sợ mà họ còn sẵn sàng đối diện với tất cả, để nỗ lực vượt qua.

    Như vậy, có thể thấy hình ảnh người lính trong cả hai bài thơ hiện lên có những nét giống nhau, sự giống nhau ấy chính là vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn đáng trân quý. Nhưng ở họ cũng có những điểm khác biệt. Sự khác nhau ấy trước hết thể hiện ở hoàn cảnh xuất thân. Những người lính trong bài thơ “Đồng chí” là những người xuất thân là những người nông dân, từ những miền quê khác nhau của Tổ quốc còn những người lính lái xe trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” lại xuất thân là những chàng trai thành phố, những thanh niên tri thức trẻ. Thêm vào đó, hình ảnh người lính trong bài thơ “Đồng chí” hiện lên với nét mộc mạc, chân chất bởi họ xuất thân là những người nông dân còn những người lính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” lại hiện lên với nét trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch, tếu táo.

    Có thể thấy, hình ảnh người lính trong cả hai bài thơ hiện lên vừa có những điểm chung nhưng đồng thời cũng có điểm khác biệt. Sự giống nhau ấy chính bởi cả hai nhà thơ đều tái hiện hình ảnh người lính với những vẻ đẹp vốn có của họ trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Còn sự khác nhau bắt nguồn trước hết từ đặc trưng của văn học – văn học là lĩnh vực của cái mới, cái sáng tạo, bởi vậy nó không cho phép sự sao chép hay lặp lại. Đồng thời, sự khác nhau ấy còn xuất phát từ hoàn cảnh ra đời của hai tác phẩm. Bài thơ “Đồng chí” ra đời vào năm 1948, đây chính là thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp còn “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” lại ra đời vào năm 1969, trong quãng thời gian cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang diễn ra khốc liệt và tàn ác nhất.

    Tóm lại, có thể thấy hình tượng người lính trong cả hai bài thơ hiện lên vừa có những điểm giống vừa có những điểm khác nhau nhưng xét đến cùng cả hai bài thơ đã góp phần làm phong phú, đặc sắc thêm cho mảng đề tài viết về những người lính.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hình Tượng Anh Bộ Đội Cụ Hồ Qua Bài Đồng Chí Và Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Soạn Bài Câu Cầu Khiến Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Soạn Bài Câu Đặc Biệt Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Soạn Bài Tây Tiến Sbt Ngữ Văn 12 Tập 1
  • Soạn Bài Tây Tiến Sbt Văn 12 Tập 1: Giải Câu 1, 2, 3,4,5 Trang 61…
  • Tin tức online tv