Soạn Bài Xây Dựng Đoạn Văn Trong Văn Bản Trang 34 Sgk Ngữ Văn 8, Tập 1

Đoạn văn là khái niệm các em đã được làm quen từ lớp dưới và với phần soạn bài Xây dựng đoạn văn trong văn bản trang 34 SGK Ngữ văn 8, tập 1 hôm nay, chúng ta tiếp tục củng cố và nâng cao hơn về phần nội dung kiến thức này cũng như tìm hiểu về các yếu tố quan trọng cấu thành nên một đoạn văn là từ ngữ và câu.

Soạn bài Xây dựng đoạn văn trong văn bản, ngắn 1

I. THẾ NÀO LÀ ĐOẠN VĂN?

Câu 1.

Văn bản gồm 2 ý, mỗi ý được triển khai dưới hình thức một đoạn văn.

Câu 2: Dấu hiệu hình thức:

– Lùi đầu dòng.

– Chữ cái đầu dòng viết hoa và kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng.

Câu 3.

(Ghi nhớ SGK)

Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chữ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường có nhiều câu tạo thành.

Soạn bài Xây dựng đoạn văn trong văn bản, ngắn 2

Xây dựng đoạn văn trong văn bản là bài hay trong SGK Ngữ Văn 8. Sau Soạn bài Xây dựng đoạn văn trong văn bản chúng ta tiếp tục chuẩn bị trả lời câu hỏi, Soạn bài Viết bài tập làm văn số 1: Văn tự sự cùng với phần Soạn bài Đánh nhau với cối xay gió để học tốt Ngữ Văn 8 hơn

Soạn bài Xây dựng đoạn văn trong văn bản, ngắn 3

Cô bé bán diêm là bài học nổi bật trong Bài 6 của chương trình học theo SGK Ngữ Văn 8, học sinh cần Soạn bài Cô bé bán diêm, đọc trước nội dung, trả lời câu hỏi trong SGK.

Trong chương trình học Ngữ Văn 8 phần Giới thiệu về chiếc nón lá Việt Nam là một nội dung quan trọng các em cần chú ý chuẩn bị trước.

Ngoài nội dung ở trên, các em có thể tìm hiểu thêm phần Viết đoạn văn nêu lên tác hại của thuốc lá đối với đời sống con người trong đó có sử dụng hai câu ghép nhằm chuẩn bị cho bài học này.

https://thuthuat.taimienphi.vn/soan-bai-xay-dung-doan-van-trong-van-ban-38437n.aspx

Hướng Dẫn Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ

(Trích tiểu thuyết Tắt đèn – Ngô Tất Tố) I. TÁC GIẢ – TÁC PHẨM 1. Tác giả:

Nhà văn Ngô Tất Tố (1893-1954) quê ở làng Lộc Hà (nay thuộc huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội).

– Trước 1945, Ngô Tất Tố làm nhiều nghề: dạy học, bốc thuốc, làm báo, viết văn. Ông từng cộng tác với nhiều tờ báo: An Nam tạp chí, Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phổ thông, Đông Phương, Công dân, Hải Phòng tuần báo, Hà Nội tân văn, Thực nghiệp, Tương lai, Thời vụ, Con ong, Việt nữ, Tiểu thuyết thứ ba,…

– Trong Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia Uỷ ban Giải phóng xã (Lộc Hà). Năm 1946: gia nhập Hội Văn hoá Cứu quốc và lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp, Nhà văn từng là Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ Việt Bắc, hoạt động ở Sở Thông tin khu XII, tham gia viết các báo: Cứu quốc khu VII, Thông tin khu VII, Tạp chí Văn nghệ và báo Cứu quốc Trung ương… và viết văn. Ông đã là Uỷ viên Ban chấp hành Hội văn nghệ Việt Nam (trong Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ I – 1948).

– Tác phẩm đã xuất bản: Ngô Việt xuân thu (dịch, 1929); Hoàng Hoa Cương (dịch, 1929); Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ (truyện kí lịch sử, 1935); Đề Thám (truyện kí lịch sử, viết chung, 1935); Tắt đèn (tiểu thuyết, báo Việt Nữ, 1939; Mai Lĩnh xuất bản, 1940); Lều chõng (phóng sự tiểu thuyết, 1940; đăng báo Thời vụ, 1941; Mai Lĩnh xuất bản, 1952); Thơ và tình (dịch thơ Trung Quốc, 1940); Đường Thi (sưu tầm, chọn và dịch, 1940); Việc làng (phóng sự, báo Hà Nội tân văn, 1940; Mai Lĩnh xuất bản, 1941); Thi văn bình chú (tuyển chọn, giới thiệu, 1941); Văn học đời Lí(tập I) và Văn học đời Trần (tập II, trong bộ Việt Nam văn học – nghiên cứu, giới thiệu, 1942); Lão Tử(soạn chung, 1942); Mặc Tử (biên soạn, 1942); Hoàng Lê nhất thống chí (dịch, tiểu thuyết lịch sử, 1942; báo Đông Pháp, 1956); Kinh dịch (chú giải, 1953); Suối thép (dịch, tiểu thuyết, 1946); Trước lửa chiến đấu (dịch, truyện vừa, 1946); Trời hửng (dịch, truyện ngắn, 1946); Duyên máu (dịch, truyện ngắn, 1946); Doãn Thanh Xuân (dịch, truyện ngắn, 1946, 1954); Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác (chèo, 1951).

Tác phẩm của Ngô Tất Tố sau này được tập hợp trong tuyển tập: Ngô Tất Tố và tác phẩm, gồm 2 tập, do Nhà Xuất bản Văn học ấn hành, 1971 – 1976.

– Nhà văn đã được nhận hai giải thưởng trong giải thưởng văn nghệ 1949 -1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam: Giải ba dịch (Trời hửng, Trước lửa chiến đấu) và giải khuyến khích (vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (năm 1996).

2. Tác phẩm:

Tóm tắt:

Gia đình chị Dậu đã dứt ruột bán con mà chưa đủ tiền nộp sưu. Anh Dậu đang ốm cũng bị bọn tay sai lôi ra đình, đánh cho dở sống dở chết. Được bà hàng xóm cho bát gạo, chị Dậu vừa nấu xong nồi cháo thì cai lệ và người nhà lí trưởng ập đến. Mặc dầu chị Dậu hết lời van xin, cai lệ vẫn toan hành hạ anh Dậu. Chị Dậu xông vào đỡ tay, bị cai lệ đánh, và chị đã túm cổ đẩy tên này ngã chổng quèo. Người nhà lí trưởng sấn sổ giơ gậy định đánh thì bị chị Dậu túm tóc lẳng cho một cái ngã nhào ra thềm.

II. TRẢ LỜI CÂU HỎI 1- Tên cai lệ:

* Cai lệ là một viên cai chỉ huy một tốp lính ở nông thôn thời trước CM, thường được bọn quan lại cho phép sử dụng bạo lực để dàn áp người dân theo lệnh của chính quyền.

* Thuế sưu là thứ thuế mà người đàn ông là dân thường tuổi từ 18-60 hằng năm phải nộp cho nhà nước phong kiến thực dân.

* – Gõ đầu roi xuống đất, cai lệ thét bằng giọng khàn khàn … : Thằng kia…

– Trợn ngược hai mắt hắn quát: Mày định nói…

– Giọng vẫn hầm hè: Nếu không có tiền nộp sưu cho ông bây giờ …

– Tha này! Tha này! Vừa nói hắn vừa bịch …

* Tàn bạo, không chút tính người là bản chất , tính cách của hắn. Tên cai lệ mang tính cách dã thú đó là một trong những hiện thân sinh động của trật tự thực dân phong kiến đương thời .

2. Phân tích tình thế của chị Dậu khi bọn tay sai xông đến.

* Anh Dậu ốm nặng ,bị đánh, trói, cùm kẹp. Chị Dậu phải bán con, ổ chó tưởng đủ nộp sưu cho chồng. Nào ngờ lại còn cả suất sưu người chết. Anh rũ người như một xác chết, bọn hào lí sai khiêng trả anh về nhà. Anh vừa được cứu tỉnh, cai lệ và người nhà lí trưởng xông vào – chị Dậu đứng trước tình thế mạng sống của chồng rất mong manh.

3. Diễn biến tâm lí, hành động chị Dậu.

– “van xin tha thiết”

-“liều mạng cự lại” cư lại” bằng lí lẽ – quyết ra tay đấu lực với chúng.

– (tìm các từ ngữ thể hiện ngôn ngữ của chị Dậu )

* Ban đầu chị cố khơi gợi từ tâm và lương tri của “ông cai”. Tức quá không thể chịu được chị mới liều mạng cự lại, bằng lý lẽ đứng dậy với lòng căm thù ngùn ngụt bốc cao, trừng trị chúng.

– Với cai lệ ”lẻo khoẻo”, chị: ”túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa”, hắn đã ”ngã chỏng quèo trên mặt đất” ! Đến tên người nhà lí trưởng, ”hai người giằng co nhau, du đẩy nhau, rồi ai nấy đều buông gậy ra, áp vào vật nhau”, kết cục anh chàng ”hầu cận ông lí” yếu hơn chị chàng con mọn, hắn bị chị túm tóc lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm ” !

– Sức mạnh ghê gớm và tư thế ngang tàng của chị Dậu, đối lập với hình ảnh, bộ dạng thảm hại hết sức hài hước của hai tên tay sai

Đoạn văn đặc biệt sống động và toát lên một không khí hào hứng rất thú vị ”làm cho đọc giả hả hê một chút sau khi đọc những trang rất buồn thảm”

Do đâu chị Dậu có được sức mạnh như thế ?

– Sức mạnh của lòng căm hờn – đó cũng là sức mạnh của lòng yêu thương.

– Chị Dậu mộc mạc, hiền dịu, đầy vị tha, sống khiêm nhường, biết nhẫn nhục chịu đựng, nhưng vẫn có một sức sống mạnh mẽ, một tinh thần phản kháng tiềm tàng; một thái độ bất khuất.

Kết thúc cảnh này, anh Dậu nói: “U nó không được thế ! Người ta đánh mình không sao, mình đánh người ta thì mình phải tù, phải tội” còn chị Dậu lại nói : ” Thà ngồi tù để chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được…” Vì sao có ý kiến khác nhau như thế ?

– Anh Dậu tuy nói đúng cái lí, cái sự thật, nhưng chị Dậu không chấp nhận cái lí vô lí đó : Câu trả lời của chị cho thấy chị không còn chịu cứ phải sống cúi đầu, mặc cho kẻ ác chà đạp. Ở chị có một tình thần phản kháng tiềm tàng mà mãnh liệt.

4. Về nhan đề của đoạn trích : Tức nước vỡ bờ

– Nhà văn đã cảm nhận được xu thế ”tức nước vỡ bờ” và sức mạnh to lớn khôn lường của sự ”vỡ bờ” đó. Và không phải quá lời nếu nói rằng cảnh ”Tức nước vỡ bờ” trong đoạn trích đã dự báo cơn bão táp quần chúng nông dân nổi dậy sau này. Nhà văn Nguyễn Tuân đã nói rằng Ngô Tất Tố, với Tắt đèn đã ”xui người nông dân nổi loạn” quả không sai.

5. Giá trị nghệ thuật của đoạn trích:

* Đoạn văn tuyệt khéo:

– Sự dồn nén, ” tức nước” để đến ”vỡ bờ” được Ngô Tất Tố diễn tả rất tự nhiên, hợp lí.

– Nghệ thuật diễn tả câu chuyện, hành động cũng thật tài tình, sinh động. Chú ý cách diễn tả theo lối tăng tiến động tác, lời nói của nhân vật cai lệ và chị Dậu. Đoạn văn này sống động như một màn kịch ngắn.

Nhân vật được khắc hoạ rất chân thực, sinh động, rõ nét, thể hiện sự diễn biến tâm lí của nhân vật chi Dậu rất hợp lí.

6. Ý nghĩa:

– Tác phẩm đã nêu lên một hiện thực xã hội lúc bấy giờ, những hiện thực về những tên quan lại thối nát.

– Con người đã biết đứng lên đấu tranh để đòi lại công lý.

Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ (Trích Tắt Đèn) Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1

1. Phân tích tình thế của gia đình chị Dậu trước và trong đoạn trích này.

Trả lời:

Muốn phân tích tình thế của gia đình chị Dậu trước và trong đoạn trích này, cần tóm tắt được nội dung tác phẩm Tắt đèn và đặt đoạn trích trong mạch cốt truyện của tác phẩm.

Nhà chị Dậu rất nghèo, nghèo “nhất nhì trong hạng cùng đinh” ở làng Đông Xá. Kì sưu thuế đến giữa lúc anh Dậu đang ốm. Vì chưa chạy đâu ra tiền để nộp sưu, anh Dậu vẫn bị đánh, trói và cùm kẹp ở đình làng. Chị Dậu đành cắn răng đem cái Tí – đứa con gái 7 tuổi và ổ chó con mới mở mắt, tài sản duy nhất của gia đình, bán cho nhà Nghị Quế. Chị những tưởng đã có thể nộp sưu cho chồng để anh được tha về, nào ngờ bọn hào lí còn bắt chị phải nộp cả suất sưu của người em chồng đã chết từ năm ngoái ! Anh Dậu vì bị cùm trói hành hạ giữa lúc đang ốm nặng, đã ngất xỉu và rũ rượi như một xác chết. Bọn hào lí sai người khiêng trả anh về nhà ; lay gọi mãi anh vẫn không tỉnh, chị Dậu vô cùng hoảng hốt, đau đớn. May sao nhờ bà con hàng xóm xúm đến cứu giúp, anh dần dần hồi lại. Một bà lão hàng xóm tốt bụng ái ngại trước cảnh cả nhà chị Dậu nhịn đói suốt ngày hôm qua, đã mang đến bát gạo cho chị nấu cháo… Cháo chín, chị Dậu dỗ chồng cô” húp lấy ngụm cháo cho lại sức, nhưng anh vừa lẩy bẩy bưng bát cháo đưa lên miệng thì hai tên tay sai đã sầm sập tiến vào, quát thét đòi trói anh…

Lúc này, mạng sống của anh Dậu rất mong manh. Tất cả tâm trí của chị Dậu khi đó chỉ là phải bảo vệ chồng bằng mọi cách. Đó là một tình thế rất hiểm nghèo của gia đình chị.

2. Nhận xét về sự thay đổi cách xưng hô của chị Dậu với tên cai lệ. Trong tình thế cụ thể lúc ấy, sự “vỡ bờ” ở chị Dậu là lẽ tất yếu. Hãy chứng minh.

Trả lời:

Nhận xét về sự thay đổi cách xưng hô của chị Dậu với tên cai lệ trong đoạn trích, có thể thấy :

– Chỉ trong một đoạn văn ngắn, ta thấy chị Dậu ba lần xưng hô khác nhau với tên cai lệ : ban đầu, chị xưng cháu (và nhà cháu), gọi tên cai lệ bằng ông (cháu – ông), sau chị chuyển sang xưng tôi (tôi – ông) và cuối cùng, chị xưng là, gọi tên cai lệ bằng mày (bà – mày) !…

Sự thay đổi cách xưng hô đó phản ánh sự thay đổi thái độ và cách đối phó của chị Dậụ đối với tên cai lệ để bảo vệ anh Dậu :

+ Ban đầu, chị Dậu quá lo sợ (vì chúng bât ngờ ập đến với điệu bộ hung dử, quyết bắt trói chồng chị, điều mà chị lo nhất ; dù sao, lúc này tên cai lệ cũng là “người nhà nước” đang đi nã thuế theo lệnh trên, còn chồng chị thì… vẫn chưa có tiền nộp thuê nên đang là kẻ có tội ! Vì vậy, chị Dậu phải lễ phép van xin thiết tha, nên chị lễ phép xưng cháu với hắn và gọi hắn bằng ông.

– Đến khi tên cai lệ hung hãn đó đáp lại chị rất phũ và cứ sân đến để trói anh Dậu” thì chị “tức quá không thế chịu được” đã “liều mạng cự lại”. Chị đã vụt đứng dậy như một người ngang hàng, xưng tôi chứ không tự hạ xưng cháu như trước. Chú ý: chị vần gọi cai lệ bằng ông nhưng lần này, ông (trong tôi – ông) không còn được coi là người bề trên đáng tôn kính (như ông trong cháu – ông) mà chỉ là kẻ ngang hàng.

+ Cuối cùng, trước sự hung ác, đểu cáng tột cùng của tên cai lệ (hắn tát vào mặt chị “đánh bốp” và “cứ nhảy vào cạnh anh Dậu”), thì chị ngùn ngụt phần nộ, đã “nghiến hai hàm răng” xưng với tên tay sai mât hết tính người đó và gọi hắn bằng mày (bà – mày). Đây là cách xưng hô hết sức “đanh đá” của người phụ nữ khi căm giận cao độ. Chẳng những hoàn toàn không còn tư thế cúi đầu van xin, cũng không chỉ là tư thế đĩnh đạc của người ngang hàng, mà đây là tư thế “đứng trên đầu thù”, đè bẹp hoàn toàn uy thế của đối phương. Cùng với cách xưng hô ngỗ ngược ấy là động tác quật tên tay sai ngã chỏng quèo hết sức dữ dội, bất ngờ…

Như vậy, sự thay đổi cách xưng hô của chị Dậu đối với tên cai lệ phản ánh sự thay đổi rất nhanh vả hợp lí, trong thái độ và trong cách đối phó của chị Dậu đốí với tên tay sai hung ác đó. Sự thay đổi đó cũng phản ánh sự phát triển (cũng rất hợp lí) của tình huống truyện, làm toát lên cái chân lí, cái quy luật lớn của hiện thực: tức nước vỡ bờ”.

3. Qua đoạn văn, em có nhận xét gì về tính cách của chị Dậu ?

Trả lời:

Chị Dậu là điển hình cho sự chân thật, khỏe khoắn với những phẩm chất tốt đẹp. Khi anh Dậu bị bọn tay chân cai lý đánh, chị đã hạ mình van xin, nài nỉ. để cứu chồng chị phải đợ con, bán chó, làm được như vậy chị Dậu ray rứt từng khúc ruột. Chị sẵn sàng vùng dậy đánh nhau với người nhà lý trưởng để đỡ đòn cho chồng. Người đàn bà mà Ngô Tất Tố gọi là “chị chàng nhà quê” ấy đã không ngần ngại làm tất cả để bảo vệ cài gia đình khốn khổ của chị. Với cá tính mạnh mẽ, lúc cứng lúc mềm. Ở con người ấy đã hội tụ đần đủ bản chất của người phụ nữ đôn hậu, đảm đang và thủy chung. . Bên cạnh sự “cạn tàu ráo máng” của bọn quan lại và tay sai thì vẫn còn có những trái tim nhân hậu, biết đùm bọc chở che cho nhau. Hình ảnh bà lão, người đàn bà luôn đứng ra giúp đỡ gia đình chị Dậu, chị đã nói: “đó là ân nhân số một trong cuộc đời mình”. Ở đây tác giả cũng muốn nói với người đọc trong cái khổ đau ta vẫn tìm thấy hạnh phúc dù cho nó có ít ỏi đi chăng nữa. Tình người quan tâm đến nhau trong cuộc sống lam lũ khó khăn là điều quý giá nhất.

4. Đọc Tắt đèn, nhà nghiên cứu phê bình văn học Vũ Ngọc Phan nhận xét : “Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo”. Em hiểu ý kiến đó như thế nào ? Hãy phân tích những nét đặc sắc nghệ thuật của đoạn văn để chứng minh.

Trả lời:

Để chứng minh sự “vỡ bờ” (hành động quật lại quyết liệt của chị Dậu) ở đây là tất yêu, phải bám sát văn bản, theo dõi sự diễn biến của tình huống truyện, cần đặc biệt chú ý :

+ Ban đầu, chị Dậu hoàn toàn không có ý chống lại “người nhà nước”, đúng là chị đâu “dám bỏ bễ tiền sưu của nhà nước”. Dù quá túng bấn, chị đã chạy vạy xoay xoả đủ cách, phải bán cả con và đáng lè đã đủ tiền nộp sưu thì chị lại bị buộc phải nộp cả suất sưu của người đã chết một cách hết sức vô lí nên mới bị coi là kẻ thiếu sưu ! Chị “run run”, cố thiết tha” van xin tên cai lệ cho khất, nhưng tên tay sai không chút tình người đó không thèm nghe chị lấy nửa lời, đã đáp lại chị

– Trong tình huống ấy, tính cách các nhân vật được khắc hoạ thật rõ nét, nổi bật. Đó là tính cách thô lỗ, đểu cáng, hung ác, không chút tình người của tên cai lệ ; tính cách đó thể hiện nhất quán từ giọng điệu, ngôn ngữ đến mọi cử chỉ, hành động của hắn. Còn chị Dậu, khi thì mềm mỏng, thiết tha, khi thì “đanh đá”, dữ dội… đều rất thật, rất “chị Dậu”. Đặc biệt, diễn biến tâm lí của chị bất ngờ mà tất yếu, được miêu tả rất tự nhiên, hợp lí.

Đoạn văn tuy ngắn mà đầy ắp chi tiết, động tác dồn dập, nhưng tất cả đều rõ nét, không bị rối, người đọc có thể hình dung rõ trước mắt.

Cảnh chị Dậu vụt đứng đậy với tư thế ngang tảng, ngạo nghễ đối lập với hình ảnh hai tên cai lệ bị chị thẳng tay trừng trị hết sức thảm hại (đứa thì ngã chỏng quèo, đứa thì bị túm tóc lắng cho một cái ngã nhào ra thềm,..) thật sống động, rất thú vị, nhiều ý nghĩa (nhà phê bình Vũ Ngọc Phan còn nhận xét : “Đoạn ấy làm cho độc giả hả hê một chút sau khi đọc những trang rất buồn thảm”).

Ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn văn cũng rất đặc sắc. Đây là lời ăn tiếng nói hằng ngày của quần chúng được tác giả sử dụng một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn,, đầy gợi cảm. Nhà văn khai thác triệt để những từ ngữ, cách nói thông tục mà có sức biểu hiện cao của khẩu ngữ nông thôn ( bịch, tát đánh bốp, lẻo khoẻo, chỏng quèo, làm tình làm tội..). Ngôn ngừ nhân vật rất “sống” : nhân vật nào có lời lẽ, khẩu khí cùa hạng nhân vật ấy. Chính ngôn ngừ nhân vật đã góp phần quan trọng trong việc thể hiện tính cách nhân vật.

Quả thực, đây là một đoạn văn “tuyệt khéo”, tất cả đều chân thực, sống động, rất hấp dẫn.

chúng tôi

Soạn Bài Vào Nhà Ngục Quảng Đông Cảm Tác (Chi Tiết)

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Trả lời câu 1 (trang 147 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): Phân tích cặp câu 1 – 2, tìm hiểu khí phách và phong thái của nhà chí sĩ khi rơi vào vòng tù ngục. Lời giải chi tiết:

– Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu

+ Tự xưng mình là hào kiệt: ý thức mạnh mẽ về tài năng, chí khí của bản thân.

+ Ý thức về cốt cách, phong thái ung dung, hào hoa, phong lưu.

+ Điệp từ “vẫn” khẳng định chắc chắn bản lĩnh của bậc anh hào.

– Chạy mỏi chân thì hãy ở tù

+ Thản nhiên, lạc quan, hiên ngang dù rơi vào cảnh ngục tù.

+ “mỏi chân” nên ” ở tù”: sự chủ động nghỉ ngơi như lẽ tất yếu.

+ Hiên ngang khinh thường cảnh tù ngục.

⟹ Khí phách của người anh hùng trước hiểm nguy vẫn kiên cường, lạc quan. Chí khí này thường tồn tại trong nền văn học truyền thống (thơ tỏ chí).

Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 147 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): Đọc lại cặp câu 3-4, em thấy giọng điệu có gì thay đổi so với hai câu thơ trên? Vì sao? Lời tâm sự ở đây có ý nghĩa như thế nào? Lời giải chi tiết:

– Giọng thơ có sự thay đổi: từ giọng hào hùng, ngang tàng chuyển sang giọng trầm lắng, suy tư lúc lâm nguy.

– Nhìn thẳng vào hoàn cảnh khó khăn của bản thân ( khách không nhà, người có tội) để kiên tâm, vững chí hơn trên con đường còn gian nan.

– Lời tâm sự chân tình có ý nghĩa:

+ Thể hiện cuộc đời làm cách mệnh gian nan, khó khăn, phải bôn ba xứ người, xa quê, xa người thân.

+ Tạo hình ảnh đối lập giữa hai cặp câu nhấn mạnh sự lênh đênh, cuộc đời sóng gió qua đó nổi bật lên hình ảnh người chí sĩ yêu nước kiên cường.

Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 147 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): Em hiểu thế nào về ý nghĩa cặp câu 5-6? Lối nói khoa trương ở đây có tác dụng gì trong việc biểu hiện người anh hùng, hào kiệt. Lời giải chi tiết: Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế Mở miệng cười tan cuộc oán thù

– Ý nghĩa 2 câu thơ 5- 6:

+ Khẳng định sự quyết tâm bền chí trước sự nghiệp cứu nước, cứu đời lớn lao.

+ Tiếng cười của bậc anh hùng vẫn ngạo nghễ, đập tan những oán thù.

– Lối nói quá nhằm:

+ Nâng lên sức vóc người anh hùng lên tới mức siêu nhiên, phi thường.

+ Tạo giọng điệu hào hùng chung cho toàn bài thơ.

– Cặp câu này vẫn tuân thủ quy tắc đối nhằm giữ nhịp cho toàn bài.

Câu 4 Trả lời câu 4 (trang 147 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): Hai câu thơ cuối là kết tinh tư tưởng của toàn bài thơ. Em cảm nhận được điều gì từ hai câu thơ ấy? Lời giải chi tiết:

Hai câu thơ cuối:

+ Kết tinh cao độ ý chí và cảm xúc lãng mạn hào hùng của tác giả

+ Điệp từ “còn” nhấn vào sự tiếp diễn, tiếp tục chiến đấu vì đất nước

+ Lời thách thức “nguy hiểm sợ gì đâu”: giữ vững ý chí, lý tưởng, kiên định với sự nghiệp cứu nước, vươn lên, bất chấp những hiểm nguy.

Luyện tập Ôn lại kiến thức đã học về thể thơ thất ngôn bát cú, em hãy nhận dạng thể thơ của bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác về các phương diện số câu, số chữ, cách gieo vần. Lời giải chi tiết:

– Thể thơ thất ngôn bát cú bắt nguồn từ thơ Đường.

+ Cấu trúc bài thất ngôn bát cú gồm 8 câu, 7 chữ tạo thành đề – thực – luận – kết

+ Luật lệ bằng trắc:

Các tiếng nhất(1)- tam (3)- ngũ (5) bất luận

Các tiếng nhị (2)- tứ (4) lục (6) phân minh

+ Gieo vần: các tiếng cuối câu 1, 2, 4, 6, 8 hiệp vần với nhau

– Bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật: 8 câu, 7 chữ, gieo vần ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8.

Bố cục Bố cục: 4 phần

+ Hai câu đề: Khẳng định tinh thần bất khuất phi thường.

+ Hai câu thực: Chiêm nghiệm về cuộc đời sóng gió.

+ Hai câu luận: Hình tượng bậc anh tài có tài năng, chí khí.

+ Hai câu kết: Sự bền chí, vững lòng của anh hùng.

ND chính

Phong thái ung dung, đường hoàng và khí phách kiên cường, bất khuất vượt lên trên cảnh tù ngục khốc liệt của nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu.

chúng tôi

Soạn Bài Vào Nhà Ngục Quảng Đông Cảm Tác Của Phan Bội Châu

Soạn Ngữ văn lớp 8 bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác

Soạn bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác

Soạn bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của Phan Bội Châu để thấy được tư tưởng chủ đạo mà tác giả gửi gắm qua từng câu chữ: Dù trong cảnh khốn khó nhưng vẫn kiên cường, không sờn lòng và khẳng định một nhân cách cao đẹp hào kiệt, phong lưu, ung dung với thái độ hóm hỉnh, lạc quan, ngạo nghễ, coi nhà tù như chốn nghỉ, nơi dừng chân. Bài tham khảo 1d I. Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Phân tích cặp câu 1 – 2, tìm hiểu khí phách và phong thái của nhà chí sĩ khi rơi vào vòng ngục tù.

– Hoàn cảnh thay đổi:

Thông thường bị tù đày đọa là lúc người anh hùng “lỡ bước” “sa cơ” tù đày làm nhụt đi ý chí của con người: “Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại” (một ngày ngồi tù bằng nghìn thu ở ngoài), tù đày là mang đến sự cô đơn, đau đớn.

– Khí phách thay đổi:

Đối với Phan Bội Châu, ông xem ngồi tù chỉ là trạm nghỉ của cuộc mỏi chân “chạy mỏi chân thì hãng ở tù” còn khí phách không thay đổi “vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu”.

+ Vẫn điệp từ khẳng định bản lĩnh anh hùng trước sau như một không gì lay chuyển.

+ Hào kiệt: Người có tài năng, chí khí phi thường, phong lưu. Sự ung dung đường hoàng thể hiện phong thái uy nghi của bậc anh hùng dù ở chốn lao tù.

Câu 2. Đọc lại hai cặp câu 3-4, em thấy giọng điệu có gì thay đổi so với hai câu thơ trên? Vì sao? Lời tâm sự này có ý nghĩa như thế nào?

– Giọng thơ thay đổi: Từ bay bổng trầm hùng chuyển sang trầm lắng suy tư, dẫu sao người anh hùng cũng phải đối diện với thực tế nghiệt ngã của chốn lao tù và khi con đường hoạt động cách mạng tạm gián đoạn.

– Ý nghĩa của lời tâm sự:

+ Khách không nhà: Cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian truân, bôn ba lênh đênh khắp năm châu bốn biển, phải xa gia đình, quê hương và những người thân yêu.

+ Người có tội là luôn bị bọn giặc theo dõi ráo riết để bắt bớ truy nã vì “trung với nước hiếu với dân” (Hồ Chí Minh).

+ Biện pháp đối chặt chẽ cân xứng:

Trong bốn biển với giữa năm châu

Khách không nhà với người có tội

+ Hình ảnh kì vĩ hào hùng, “cái tội” ấy và “người khách ấy” trở nên thật cao đẹp.

Câu 3. Em hiểu thế nào về ý nghĩa của cặp câu 5-6? Lối nói khoa trương này có tác dụng gì trong việc biểu hiện hình ảnh người anh hùng, hào kiệt này? Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế Mở miệng cười tan cuộc oán thù

Nghệ thuật tương đối chặt chẽ làm khẩu khí câu thơ trở nên mạnh mẽ.

Bồ kinh tế là hoài bão tự muốn cứu đời, cứu nước, cứu đân, hai tay ôm chặt thật mạnh mẽ và quyết liệt, là lời thề chiến đấu đến cùng

Cuộc oán thù là cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, thế mà có thể mở miệng cười tan cái cười kia thật ngão nghệ, thật hào sảng biết bao.

Câu 4. Hai câu cuối là kết tinh tư tưởng của toàn bài thơ. Em cảm nhận được điều gì từ hai câu thơ ấy? Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu

– Điệp từ còn thể hiện niềm tin mạnh mẽ vào tương lai tươi sáng mặc dù bất cứ hoàn cảnh nào: Thân còn sự nghiệp còn, lời thề thầm lặng thiêng liêng của một bậc anh hùng suốt đời vì dân vì nước.

– Câu thơ kết là lời thách thức với thự tế, nhà tù khắc nghiệt trước mắt và những chông gai khó khăn ở phía trước. Tâm thức của người anh hùng vượt trên sự gian khổ và sự bạo tàn của kẻ thù.

Tóm lại, bằng giọng điệu hào hùng có sức lôi cuốn mạnh mẽ, bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác là bức chân dung tự họa con người tinh thần của Phan Bội Châu với phong thái ung dung, đường hoàng và khí phách kiên cường, bất khuất vượt lên trên cảnh tù khốc liệt để tự an ủi mình giữ vững lí tưởng, niềm tin và khát vọng cứu nước cứu dân.

II. Luyện tập.

Ôn lại những kiến thức đã học về thể thất ngôn bát cú đường luật. Em hãy nhận dạng thể thơ của bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác về phương diện số câu, số chữ và cách gieo vần.

Bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác viết bằng thể thất ngôn bát cú Đường luật. Chữ thứ hai của câu 1 là chữ “là” thuộc thanh bằng, như vậy bài thơ này được viết theo luật bằng.

Chữ “lưu” ở cuối câu 1 thuộc thanh bằng, dùng để gieo vần. Đây là căn cứ xác định bài thơ có vần bằng. Toàn bộ bài thơ có 5 chữ gieo vần bằng: “Lưu – tù – châu – thù – đâu”.

Bài tham khảo 2

ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN A. YÊU CẦU

– Cảm nhận được vẻ đẹp của những chí sĩ yêu nước đầu thế kỉ XX như Phan Bội Châu – những người mang chí lớn cứu nước, cứu dân đã thể hiện phong thái ung dung, khí phách hiên ngang, bất khuất vượt lên hoàn cảnh ngục tù khốc liệt, luôn có niềm tin vào sự nghiệp giải phóng dùn tộc.

– Hiểu được sức truyền cảm nghệ thuật qua giọng thơ hào hùng, hình ảnh thơ mạnh mẽ, khoáng đạt của tác giả.

B. GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP PHẦN BÀI HỌC Câu hỏi 1. Phân tích các câu 1 – 2, tìm hiểu khí phách và phong thái của nhà chí sĩ khi rơi vào vòng tù ngục (chú ý các từ hào kiệt và quan niệm chạy mỏi chân thì hãy ở tù). Gợi ý

Hai câu thơ đầu đã thể hiện khẩu khí của một bậc anh hùng:

Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu, Chạy mỏi chân thì hãy ở tù.

Nhân vật trữ tình trong bài thơ tự khẳng định mình dù trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn là một con người có chí khí. Trước và cả khi bị giam cầm trong tù ngục, thậm chí biết khó tránh khỏi cái chết, con người ấy vẫn có một tư thế ung dung, đường hoàng, tự tin đến cao ngạo, ngang tàng, xem thường hiểm nguy; lại vừa có phong thái hào hoa, tài tử. Đó là tư thế của người chí sĩ cách mạng lúc sa cơ.

Người quân tử rơi vào chốn tù ngục mà cứ như là người chủ động tạm dừng chân trên chặng đường bôn tẩu, “chạy mỏi chân thì hãy ở tù”. Bậc anh hùng không bao giờ chịu cúi đầu khuất phục trước hoàn cảnh, không để cho hoàn cảnh đè bẹp mình, làm mình nhụt chí. Sự cùm kẹp, đọa đầy của kẻ thù không làm cho con người ấy nao núng. Người cách mạng đứng cao hơn hoàn cảnh thực tại khắc nghiệt, do vậy mà cảm thấy mình hoàn toàn tự do, thanh thản về mặt tinh thần.

Bài thơ có giọng điệu đùa vui – một giọng điệu quen thuộc trong lối thơ khẩu khí khá phổ biến ở văn thơ truyền thống. Bài thơ nói về một việc nghiêm trọng giữa cái sống và cái chết bằng một giọng cười cợt, xem thường. Đó là một cách nói chí của người xưa.

Hai câu thơ thể hiện rõ quan niệm và chí khí của các nhà nho yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX.

Câu hỏi 2. Đọc lại cặp câu 3 – 4, em thấy giọng điệu có gì thay đổi so với hai câu thơ trên? Vì sao? Lời tâm sự ở đây có ý nghĩa như thế nào? Gợi ý

Từ một giọng đùa cợt, bài thơ chuyển sang một giọng trầm buồn như một lời tâm sự, như một nỗi đau cố nén:

Đã khách không nhà trong bốn biển, Lại người có tội giữa năm châu.

Cuộc đời bôn ba của Phan Bội Châu đầy sóng gió và nhiều bất trắc. Mười năm bôn ba phiêu bạt khắp nơi, Phan Bội Châu đã từng nếm trải cảnh không mái ấm gia đình, cực khổ về vật chất, cay đắng về tinh thần. Ông không bao giờ được yên ổn vì còn là đối tượng săn đuổi của kẻ thù (ông bị thực dân Pháp tuyên án tử hình và truy nã khắp nơi).

Phan Bội Châu ngay từ đầu đà quyết dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng, tự nguyện gắn cuộc đời mình với sự tồn vong của đất nưóc “Non sông đã chết sống thêm nhục” (Lưu biệt khi ra nước ngoài). Ông gắn cuộc đời sóng gió của mình với tình cảnh chung của đất nước, của nhân dân. Ông than cho số phận cá nhân của mình cũng chính là đau cái nỗi đau của một dân tộc mất nước. Đó là nỗi đau buồn của một người tù yêu nước, của một nhân cách cao cả.

Câu hỏi 3. Em hiểu thế nào vể ý nghĩa của cặp câu 5 – 6? Lối nói khoa trương ở đây có tác dụng gì trong việc biểu hiện hình ảnh người anh hùng, hào kiệt? Gợi ý

Câu 5 – 6:

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế, Mở miệng cười tan cuộc oán thù.

“Kinh tế” là cách nói cổ, xuất xứ từ chữ “kinh bang tế thế” (nghĩa là giúp nước lo đời).

Cho dù có ở tình trạng bi kịch đến mức độ nào thì chí khí của bậc anh hùng, hào kiệt vẫn không thay đổi, vẫn một lòng theo đuổi sự nghiệp cứu nước, cứu đời; vẫn có thể ngạo nghễ cười trước mọi âm mưu thủ đoạn tàn bạo của kẻ thù.

Biện pháp khoa trương (thường được dùng trong lối thơ khẩu khí) đã có tác dụng trong việc nâng tầm vóc của con người vốn nhỏ bé trong vũ trụ trở nên hết sức lớn lao, đến mức thần thánh. Lối nói này kích thích cảm xúc của người đọc, tạo nên sức truyền cảm nghệ thuật mạnh mẽ. Câu thơ là kết tinh cao độ cảm xúc lãng mạn, hào hùng của tác giả.

Câu 4. Hai câu thơ cuối là kết tinh tư tưởng của toàn bài thơ. Em cảm nhận được điều gì từ hai câu thơ ấy? Gợi ý

Tư tưởng của bài thơ được nén chặt ở hai câu cuối:

Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp, Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu.

Con người ấy còn sống là còn tin tưởng, còn tranh đấu đến cùng cho sự nghiệp chính nghĩa của mình, không sợ bất kì một hiểm nguy nào.

Từ “còn” được lặp lại ở giữa câu thơ, khi đọc phải nhấn giọng mạnh, tạo cho lời thơ trở nên mạnh mẽ, dứt khoát, làm tăng ý nghĩa khẳng định tư thế hiên ngang, ý chí kiên cường của người cách mạng yêu nước.

PHẦN LUYỆN TẬP Ôn lại những kiến thức đã học về thể thất ngôn bát cú Đường luật, em hãy nhận dạng thể thơ của bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác về các phương diện số câu, số chữ, cách gieo vần. Gợi ý

– Thể thất ngôn bát cú Đường luật em đã được học trong chương trình Ngữ văn 7. Bài tập này chỉ yêu cầu em nhận dạng thể thơ này trên các phương diện số câu, số chữ và cách gieo vần.

– Bài thơ gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ (thất ngôn bát cú); được gieo vần bằng ở các câu 1,2, 4, 6, 8.

Soạn Bài Ôn Tập Về Luận Điểm Lớp 8

Đề bài: Soạn Bài Ôn Tập Về Luận Điểm Lớp 8

Bài Làm I. KHÁI NIỆM LUẬN ĐIỂM

Câu 1: Luận điểm là những tư tưởng, quan điểm, chủ trương cơ bản người viết (nói) nêu ra trong bài văn nghị luận. (Đáp án c)

Câu 2:

a) Văn bản: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta có 4 luận điểm:

  • Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước
  • Lịch sử đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại
  • Đồng bào ta ngày nay cũng có một lòng yêu nước nồng nàn
  • Bổn phận của chúng ta với lòng yêu nước

Trong đó, luận điểm dùng làm cơ sở là luận điểm thứ nhất: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, và luận điểm dùng làm kết luận của bài là luận điểm thứ tư: Bổn phận của chúng ta với lòng yêu nước.

b) Một bạn cho rằng bài Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn có hai luận điểm:

  • Luậnđiểm 1: Lí do phải dời đô
  • Luận điểm 2: Lí do có thể coi thành Đại La là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.

Xác định luận điểm như vậy là không đúng vì đó không phải là ý kiến, quan điểm mà chỉ là những vấn đề. Văn bản Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn có các luận điểm sau

  • Dời đô là việc trọng đại của các vua chúa, trên thuận ý trời, dưới theo lòng dân mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài.
  • Các nhà Đinh, Lê không chịu dời đô nên triều đại ngắn ngủi…
  • Thành Đại La xét về mọi mặt, thật xứng đáng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.
  • Vua sẽ dời đô ra đó.

II. MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬN ĐIỂM VỚI VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN Câu 1:

a) Vấn đề đặt ra trong bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta là: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta ( Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước). Nếu trong bài văn, Hồ Chí Minh chỉ đưa ra luận điểm: “Đồng bào ta ngày nay có lòng yêu nước nồng nàn” thì không đủ làm sáng tỏ vấn đề tinh thần yêu nước của nhân dân ta.

b) Trong bài Chiếu dời đô, nếu Lí Công Uẩn chỉ đưa ra luận điểm: Các triều đại trước đó đã có lần dời đô, thì mục đích của vua khi ban chiếu không đủ để làm sáng rõ vấn đề: Cần phải dời đô từ Hoa Lư đến Đại La.

Câu 2: Luận điểm cần chính xác, rõ ràng, phù hợp với yêu cầu giải quyết vấn đề và phải đủ làm sáng tỏ toàn bộ vấn đề.

III. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC LUẬN ĐIỂM TRONG BÀI VĂN NGỊ LUẬN Câu 1:

– Hệ thống luận điểm 1 trong ví dụ hoàn toàn chính xác, có sự liên kết, phân biệt rành mạch các ý với nhau, bảo đảm chúng ko bị trùng lặp, chồng chéo lên nhau; được sắp xếp theo một trình tự hợp lí.

– Hệ thống luận điểm 2 không đạt vì chưa chính xác, chưa phù hợp với vấn đề( chưa chăm học, hay nói chuyện riêng chưa phải là khuyết điểm về phương pháp học tập. Các luận điểm không có sự liên kết: Vì chưa chính xác nên luận điểm a không thể làm cơ sở để dẫn tới luận điểm b, bởi không bàn về phương pháp học tập nên luận điểm c không liên kết được với các luận điểm đứng trước và sau nó. Do đó, luận điểm d cũng không kế thừa và phát huy được kết quả của cả ba luận điểm a, b, c trước đó. Nếu viết theo hệ thống luận điểm này thì bài làm không thể rõ ràng, mạch lạc, các ý không thể tránh khỏi luẩn quẩn, trùng lặp, chồng chéo.

Câu 2: Học sinh khái quát thành nội dung ghi nhớ 4 trong bài.

IV. LUYỆN TẬP Bài tập 1:

Luận điểm của văn bản không phải là ” Nguyễn Trãi là một ông tiên”, cũng không phải là: ” Nguyễn Trãi là một anh hùng dân tộc ” mà là: ” Nguyễn Trãi là tinh hoa của đất nước, dân tộc và thời đại lúc bấy giờ”. Vì:

  • Nguyễn Trãi có cái tài làm hay, làm đẹp cho đất nước, từ xưa chưa bao giờ có.
  • Nguyễn Trãi là người chân đạp đất Việt Nam, đầu đội trời Việt Nam, tâm hồn lộng gió của thời đại lúc bấy giờ, thông cảm sâu xa với nỗi lòng dân lúc bấy giờ, suốt đời tận tụy cho một lí tưởng cao quý.
  • Nguyễn Trãi là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc.
  • Ông có sự nghiệp sáng tác đáng tự hào.

Bài tập 2:

a, Các luận điểm đuợc lựa chọn phải có nội dung chính xác, và phù hợp với ý nghĩa của vấn đề giáo dục là chìa khoá của tương lai. Đây là một vấn đề nghị luận đồng thời cũng là luận điểm trung tâm. Vì thế không thể chọn những ý không có mối quan hệ chặt chẽ với nội dung cơ bản này

b, Có thể sắp xếp theo trình tự:

Giáo dục được coi là chìa khoá của tương lai vì:

– Giáo dục là yếu tố quyết định đến việc điều chỉnh tốc độ gia tăng dân số; thông qua đó, quyết định môi trường sống, mức sống… trong tương lai

– Giáo dục trang bị kiến thức và nhân cách, trí tuệ và tânm hồn cho trẻ em hôm nay, những người sẽ làm nên thế giới ngày mai

– Do đó giáo dục là chìa khoá cho sự tăng trưởng kinh tế trong tương lai.

– Cũng do đó giáo dục là chìa khoá cho sự phát triển chính trị và cho tiến bộ xã hội sau này.

Soạn Bài: Ôn Tập Về Luận Điểm (Siêu Ngắn)

Soạn bài: Ôn tập về luận điểm

I. KHÁI NIỆM LUẬN ĐIỂM

Câu 1 (Trang 73 sgk Ngữ Văn 8 tập 2)

Chọn c

Câu 2 (Trang 73 sgk Ngữ Văn 8 tập 2)

a. Các luận điểm có trong bài là :

b. Xác định hai luận điểm như trên là không chính xác . Vì các ý đưa không phải là các quan điểm hay ý kiến mà nó chỉ là vấn đề mà thôi.

II. MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬN ĐIỂM VỚI VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN

Câu 1 (Trang 73 sgk Ngữ Văn 8 tập 2)

+ Vấn đề được đặt ra trong bài “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” là vấn đề về tinh thần yêu nước của nhân dân ta.

+ Nếu trong bài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra luận điểm “Đồng bào ta ngày nay có lòng yêu nước nồng nàn” thì không đủ làm sáng tỏ vấn đề.

Mục đích của nhà vua khi ban “Chiếu dời đô” có thể không đạt được nếu như vậy vì chỉ một vấn đề ấy thôi không đủ đề làm sáng tỏ việc vì sao “cần phải dời đô đến Đại La”.

Câu 2 (Trang 74 sgk Ngữ Văn 8 tập 2)

Luận điểm có mối quan hệ với vấn đề cần giải quyết

+ Luận điểm phù hợp với yêu cầu giải quyết vấn đề

+ Luận điểm phải đủ để làm sáng tỏ toàn bộ vấn đề

III. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC LUẬN ĐIỂM TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN

Câu 1 (Trang 74 sgk Ngữ Văn 8 tập 2)

Chọn hệ thống luận điểm thứ nhất

Câu 2 (Trang 73 sgk Ngữ Văn 8 tập 2)

+ Luận điểm phải phân biệt nhau rõ ràng và liên kết chặt chẽ với nhau

+ Luận điểm trước là cơ sở để nêu luận điểm sau

IV. LUYỆN TẬP

Câu 1 (Trang 75 sgk Ngữ Văn 8 tập 2)

+ Cả hai luận điểm đều không chính xác

+ Luận điểm ấy là “Nguyễn Trãi là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc”

Câu 2 (Trang 75 sgk Ngữ Văn 8 tập 2)

Các luận điểm đều thích hợp trừ luận điểm “nước ta là nước văn hiến có truyền thống giáo dục lâu đời”

Có thể sắp xếp các luận điểm:

– Giáo dục luôn luôn là vấn đề quyết định đến mọi mặt của đời sống xã hội

– Giáo dục ý nghĩa lớn đối với nhân cách và trí tuệ con người mang lại sự phát triển trong tương lai của nhân loại

– Giáo dục là chìa khóa cho sự phát triển kinh tế

– Giáo dục là chìa khóa của tương lai.

Tiếng Anh 8 Mới Unit 6 A Closer Look 1

Tóm tắt lý thuyết

These are popular characters in folk tales. Match the characters with the pictures. Can you add more? Some more characters: (Đây là những nhân vật phổ biến trong truyện cổ tích. Nối những nhân vật với hình ảnh. Em có thể thêm không?)

farmer: bác nông dân

prince: hoàng tử

queen: nữ hoàng

dwarfs: những chú lùn

saint: vị thánh

servant: người hầu

grandparents: ông bà

stepmother: mẹ ghẻ

a. The adjectives in the box are often usued to describe characters in folk tales. Put them into the correct columns. Can you add more? b. Now use these adjectives to describe some characters in one of your favourite folk tales. (Bây giờ sử dụng những tính từ này để miêu tả vài nhân vật trong những truyện cổ tích mà em thích.) (Những tính từ trong khung thường được sử dụng để miêu tả những nhân vật trong truyện cổ tích. Đặt chúng vào những cột chính xác. Em có thể thêm không?)

These creatures are popular characters in folk tales. Match the creatures with the pictures. Can you add more? (Những sinh vật này là những nhân vật phổ biến trong truyện cổ tích. Nối những sinh vật với hình ảnh. Em có thể thêm không?)

– There’s a wolf in Little Red Riding Hood. He’s cunning and wicked.

– Cinderella is a kind girl in the story “Cinderella”.

– Saint Giong is brave in the story “Saint Giong”.

– Mai An Tiem is a hard-working and kind farmer in the story “Legend of Watermelon”.

– Lang Lieu is generous and kind in the story “Legend of Chung and Day cakes”.

– The witch is very cruel and wicked in the story “Snow White and the seven dwarfs”.

– Có một con sói trong Cô bé quàng khăn đỏ. Anh ta gian xảo và độc ác.

– Cô bé Lọ Lem là một cô gái tốt bụng trong truyện “Cô bé lọ lem”.

– Thánh Gióng dũng cảm trong truyện “Thánh Gióng”.

– Lang Liêu hào hiệp, nhân hậu trong truyện “Sự tích bánh chưng, bánh dày”.

– Bà phù thủy rất độc ác và độc ác trong truyện “Bạch tuyết và bảy chú lùn”.

1. What a colourful hat she is wearing!

1. What a beautiful princess she is!

2. What brave knights they are!

3. What a big nose the wolf has!

4. What a fierce ogre it is!

5. What a handsome prince he is!

Giải A Closer Look 2 Unit 6 Tiếng Anh 8 Mới

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Bài 1 Task 1. a. Read part of the conversation from GETTING STARTED. Pay attention to the underlined part. (Đọc phần đàm thoại từ phần Bắt đầu. Chú ý đến phần gạch dưới. )

Duong: I phoned you around 9 p.m last night, but no reply.

Nick: Oh, I was doing some Internet research on Vietnamese legends for my project.

Tạm dịch:

Dương: Tôi đã gọi điện cho bạn vào khoảng 9 giờ tối qua, nhưng không trả lời.

Nick: Ồ, tôi đang tìm kiếm trên Internet về truyền thuyết Việt Nam cho dự án của mình.

b. When do we use the past continuous? Can you think of the rule? (Khi nào chúng ta dùng thì quá khứ tiếp diễn? Em có thể nghĩ ra luật không?) Hướng dẫn giải:

We use the past continuous to describe an action that was in progress at a started time in the past.

Example: The hare was running at 3.30.

We use the past continuous to describe an action that was in progress when another shorter action happened (this shorter action is expssed by the simple past.)

Example:

When she was crying, a fairy appeared.

Tạm dịch:

Chúng ta dùng thì quá khứ tiếp diễn để miêu tả một hành động mà đang xảy ra trong một thời điểm bắt đầu trong quá khứ.

Ví dụ: Lúc 3:30 con rùa đang chạy trước con thỏ.

Chúng ta dùng thì quá khứ tiếp diễn để miêu tả một hành động mà đang tiếp diễn khi một hành động ngắn hơn xảy ra (hành động ngắn hơn này được thể hiện bởi thì quá khứ tiếp diễn).

Ví dụ: Khi cô ấy đang khóc, một bà tiên xuất hiện.

Bài 2 Task 2. Complete the following sentences by putting the verbs in brackets in the correct form. (Hoàn thành những câu sau bằng việc đặt những dộng từ trong ngoặc đơn với hình thức đúng.) Lời giải chi tiết:

1. When the prince saw Cinderella at the party, she was wearing a beautiful gown.

3. When Jack to the market, he met a magician.

Hướng dẫn giải:

4. While the hare was sleeping, the tortoise to the finish as fast as he could.

5. When the princess returned, the prince was not / wasn’t waiting for her.

Tạm dịch:

1. servant/ spin/ in the woods

2. girl/ pick flowers/ by the side of the road

Tạm dịch:

3. knights/ ride horses/ to the castle

4. Cinderella/ dance/ with the prince

Tạm dịch:

5. Saint Giong/ fly/ to heaven

6. ogre/ roar/ with anger

Tạm dịch:

b. Work in pairs. Ask and answer questions about the pictures in a.

A: What was the servant doing?

Tạm dịch:

B: She was spinning.

1. A: What was the servant doing?

Tạm dịch: Bài 4 Task 4. Write the correct form of each verb. Use the past continuous or the past simple. (Viết hình thức chính xác của mỗi động từ. Sử dụng thì quá khứ tiếp diễn hoặc quá khứ đơn) Lời giải chi tiết:

B: She was spinning.

(Hoàng tử đang đi bộ dọc đường thì hoàng tử gặp một công chúa, vì vậy anh ấy dừng lại và nói chuyện với cô ấy.) (Khi Thánh Gióng nằm trên giường, anh ấy nghe một thông báo rằng nhà vua cần những đàn ông dũng cảm để bảo vệ đất của ông.) (Alice đang đi bộ một mình trong rừng thì đột nhiên cô ấy nghe bước chân phía sau cô ấy. Ai đó đang theo dõi cô ấy. Cô ấy sợ hãi và bắt đầu chạy.(Khi con quạ làm rơi phô mai, con cáo ăn nó.) (Họ đang nhảy vui vẻ thì cô bé Lọ Lem đột nhiên rời bữa tiệc.) (Lạc Long Quân nhớ cuộc sống của ông ở biển, vì vậy ông quyết định dắt 50 con trai trở về đó.Bài 5 Task 5. a. Read the fable and put the verbs in brackets into the past simple or the past continuous. (Đọc truyện ngụ ngôn và đặt những động từ trong ngoặc đơn thành thì quá khứ đơn và quá khứ tiếp diễn.) ) Hướng dẫn giải: )

2. A: What was the girl doing?

B: She was picking flowers by the side of the road.

3. A: What was Cinderella doing?

B: She was dancing with the prince.

4. A: What was the ogre doing?

Tạm dịch:

B: It was roaring with ogre.

b. What is the moral of the fable? (Bài học đạo đức của truyện ngụ ngôn này là gì?) Hướng dẫn giải:

5. A: What were the knights doing?

Tạm dịch:

B: They were riding their horses to the castle.

Bài 6 Task 6. a. Guess what your partner was doing last Sunday at these times. (Hãy đoán những gì bạn của bạn đang làm chủ Nhật vừa rồi vào những thời điểm sau.) Hướng dẫn giải:

6. A: What was Saint Giong doing?

B: He was flying to heaven.

1. The prince was walking along the road when he met a princess, so he and a chat with her.

2. When Saint Giong on the bed, he an announcement that the emperor brave men to protect his land.

3.Alice was walking alone in the woods when she suddenly footsteps behind her. Someone was following her. She was frightened and she to run.

5.They were dancing merrily when Cinderella suddenly the party.

Tạm dịch: 7 A.M.: Tôi nghĩ Mai đang tập thể dục buổi sáng ở công viên lúc 7 giờ sáng. 10 A.M.: Tôi nghĩ Minh đang ở nhà làm bài tập về nhà lúc 10 giờ sáng. 12 Noon: Tôi nghĩ Nam đang ăn cơm trưa cùng gia đình ở nhà lúc trưa. 3 P.M.: Tôi nghĩ Mai đang xem phim trên ti vi ở nhà lúc 3 giờ chiều. 5 P.M.: Tôi nghĩ Hoa đang chơi cầu lông với Mai ở công viên Lúc 5 giờ chiều. 9 P.M.: Tôi nghĩ Nam đang chuẩn bị bài cho ngày thứ Hai lúc 9 giờ tối. b. Ask your partner to check your guesses. (Hỏi bạn học để kiểm tra sự dự đoán của em) Hướng dẫn giải:

6.Lac Long Quan was missing his life under the sea, so he to take fifty of his sons back there.

Tạm dịch:

Đó là một ngày đẹp trời. Mặt trời chiếu sáng và con rùa đang ngủ dưới mặt trời. Nó mở mắt ra và thấy một con đại bàng đang bay trên bầu trời Con rùa nói: “Tôi muốn bay như thế!”. Con đại bàng nghe nói và đồng ý giúp Con đại bàng đón con rùa và nhấc nó lên đi. Khi họ đang bay rất cao trên bầu trời, con đại bàng mở móng vuốt của nó để con rùa bay. Nhưng Rùa tội nghiệp rơi ngay lập tức xuống đất.

Be happy with what you are.

Tạm dịch:

Hãy hạnh phúc với những gì bạn có.

7 A.M.: I think Mai was doing the morning exercises at the park at 7 a.m..

10 A.M.: I think Minh was doing his home work at home at 10 a.m.

12 Noon: I think Nam was having lunch with his family at home at noon.

Tạm dịch: Từ vựng

3 P.M.: I think Mai was watching movies on the TV at home at 3 p.m..

5 P.M.: I think Hoa was playing badminton in the park with Mai at 5p.m.

9 P.M.: I think Nam was pparing the lessons on Monday at 9 p.m..

1. A: Were you doing the morning exercises at the park at 7 a.m last Sunday, Mai?

B: Yes, I was.

2. A: Were you was doing your home work at home at 10 a.m last Sunday, Minh?

B: Yes, I was.

chúng tôi

3. A: Were you was having lunch with your family at home at 12 noon last Sunday, Nam?

B: Yes, I was.

4. A: Were you was watching movies OĨ1 the TV at home at 3 p.m last Sunday, Mai?

B: Yes, I was.

5. A: Were you playing badminton in the park with Mai at 5 p.m last Sunday, Hoa?

B: Yes, I was.

A: Bạn có chơi cầu lông trong công viên với Mai lúc 5 giờ chiều Chủ nhật tuần trước không, Hoa?

B: Vâng, tôi có chơi.

6. A: Were you pparing the lessons on Monday at 9 p.m last Sunday, Nam?

B: Yes, I was.

Unit 8 Lớp 6: A Closer Look 2

A CLOSER LOOK 2 (phần 1 – 5 trang 19 – 20 SGK Tiếng Anh 6 mới)

1. Complete the sentences with did, was, or were. (Hoàn thành những câu với “did, was” hoặc “were”.)

Hướng dẫn dịch:

1. Thế vận hội Olympic 2012 đã được tổ chức ở London.

2. – Ai là người đàn ông đầu tiên đặt chân lên Mặt trăng?

– Neil Amstrong

3. – Tôi đã ở phòng tập vào Chủ nhật rồi, nhưng tôi đã không thấy bạn.

– Không, mình dã đến nhà cô mình.

4. – Bạn có leo núi Fansipan khi bạn đi Sapa không?

– Có. Thật là mệt, nhưng rất thú vị.

2. Write the correct form of the verbs to complete the conversation. (Viết dạng đúng của những động từ để hoàn thành bài đàm thoại sau.)

Hướng dẫn dịch:

Nick: Chào.

Soony: Chào Nick. Cuối tuần vui vẻ chứ?

Nick: Có, cuối tuần thật vui. Mình không làm gì nhiều. Mình chỉ ngồi ở nhà và xem ti vi thôi. Chiều Chủ nhật mình đi câu cá với bố. Còn cậu thì sao?

Soony: ồ, mình đã có một kỳ nghỉ cuối tuần tuyệt vời

Nick: Thật không? Bạn đã làm gì?

Soony: Mình đã đến thăm viện bảo tàng với gia đình. Sau đó gia đình mình đi ăn ở nhà hàng yêu thích của mình.

Nick: Cậu có xem trận bóng đá vào ngày Chủ nhật không?

Soony: ồ có. cầu thủ đã ghi một bàn thắng tuyệt vời.

3. Work in groups. Ask and answer questions about last weekend. (Làm việc theo nhóm. Hỏi và trả lời những câu hỏi về kỳ nghỉ cuối tuần vừa rồi.)

A : Hello, Do you have a nice weekend?

B : Yes, I went to the swimming pool ? And you?

A : Yes, I visited my grandparents and then I went to the library to complete Math homework,

B : Really, It is interesting , so Can I go to the library to learn together with you on next weekend?

A : Sure .

4. Write sentences to tell your friends what to do or not to do. (Viết câu để nói bạn bè của bạn làm gì và không làm gì)

5. Tell your friends what to do and what not to do at the gym. (Nói bạn bè của em làm gì và không làm gì ở phòng tập.)

Change your clothed. (Thay quần áo )

Don’t talk loudly. (Không nói chuyện lớn)

Do as the instruction on equipment. (Làm theo hướng dẫn trên thiết bị. )

Don’t litter. (Không xả rác. )

Pay your fee first. (Trước tiên bạn đóng lệ phí. )

Put on your trainers/ sports shoes. (Mang giầy tập luyện/ thể thao. )

Listen to the instructor carefully. (Lắng nghe người hướng dẫn một cách cẩn thận. )

Don’t eat or drink at the gym. (Không ăn và uống trong phòng tập. )

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k9: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

unit-8-sports-and-games.jsp