Đề Xuất 12/2022 # Top 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Thành Công Nhất / 2023 # Top 14 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 12/2022 # Top 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Thành Công Nhất / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Top 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Thành Công Nhất / 2023 mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trang chủ » Phụ huynh nên biết » TOP 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Thành Công Nhất

TOP 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Thành Công Nhất

I. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC LÀ GÌ?

Thế nào là dạy học tích cực?

Phương pháp dạy học tích cực là các biện pháp, cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kỹ thuật dạy học tích cực chưa phải là cách dạy học tích cực độc lập mà chỉ là là những đơn vị nhỏ nhất của các phương pháp dạy học.

Với cách dạy này đòi hỏi giáo viên phải có bản lĩnh, chuyên môn tốt và kiên trì xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao. Tuy nhiên, khi đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công.

Tất cả các môn học như môn Toán, môn Lý, môn Hóa, hay tiếng Anh đều có thể áp dụng những phương pháp này giúp các em học sinh hào hứng hơn khi học, nhưng phải áp dụng một cách linh hoạt, đung với thực tết để phụ vụ việc giảng dạy.

Phụ huynh học sinh và cá bạn có thể tìm hiểu thêm nhiều kiến thức tại mục CẨM NANG HỌC TẬP để tìm thêm nhiều kiến thức hữu ích.

II. CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TÍCH CỰC THÀNH CÔNG NHẤT

Hiện nay, các nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra nhiều phương pháp dạy học tích cực nhằm giúp học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức tốt mà còn phát triển năng lực. Tuy nhiên, để áp dụng giáo viên cần linh hoạt tuỳ vào bài học để chọn được kỹ thuật phù hợp. Bên cạnh các kỹ thuật dạy học thường dùng, có thể kể đến một số kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học.

1. PP dạy học tích cực số 1: Kỹ thuật “Các mảnh ghép” (Jigsaw)

Kỹ thuật “Các mảnh ghép” là hình thức học tập kết hợp giữa cá nhân với nhóm và các nhóm với nhau nhằm:

– Khuyến khích sự tham gia tích cực của học sinh

– Nâng cao vai trò cá nhân trong quá trình hợp tác (Mỗi cá nhân không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2)

. Dụng cụ: Chuẩn bị giấy bút cho các thành viên.

Thực hiện:

– Phân học sinh thành từng nhóm có nhóm trưởng

– Giáo viên giao nhiệm vụ cho từng nhóm.

– Mỗi nhóm sẽ tách ra và hình thành nhóm mới theo sơ đồ.

Lưu ý:

Ưu điểm:

– Phát triển tinh thần làm việc theo nhóm.

– Phát huy trách nhiệm của từng cá nhân.

– Giúp học sinh phát huy hiểu biết và giải quyết những hiểu biết lệch lạc.

– Giúp đào sâu kiến thức trong các lĩnh vực.

Hạn chế:

– Số lượng thành viên trong nhóm rất dễ không đồng đều.

2. Phương pháp dạy học số 2: Kỹ thuật khăn phủ bàn (Khăn trải bàn)

Kỹ thuật khăn trải bàn cũng là phương pháp dạy học tích cực tổ chức hoạt động mang tính kết hợp giữa hoạt động cá nhân với hoạt động nhóm nhằm:

– Thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh

– Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh

–  Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với nhau

Dụng cụ: Bút và giấy khổ lớn cho mỗi nhóm.

Thực hiện:

– Giáo viên chia nhóm, phân công nhóm trưởng, thư ký và giao dụng cụ.

– Giáo viên đưa ra vấn đề cho ccacs nhòm, từng thành viên viết ý kiến của mình vào góc của tờ giấy.

– Nhóm trưởng và thư ký sẽ tổng hợp các ý kiến và lựa chọn những ý kiến quan trọng viết vào giữa tờ giấy.

Lưu ý: Mỗi thành viên làm việc tại góc riêng của mình.

Ưu điểm: Tăng cường tính độc lập và trách nhiệm của người học.

Hạn chế: Tốn kém chi phí và khó lưu trữ, sửa chữa kết quả.

3. PP dạy học số 3: Kỹ thuật “Động não” hay “Công não” (Brainstorming)

Dụng cụ:

– Sử dụng bảng hoặc giấy khổ lớn để mọi người dễ đọc các ý kiến.

– Hệ thống máy tính kết nối mạng.

Thực hiện:

– Giáo viên chia nhóm, các nhóm tự chọn nhóm trưởng và thư ký.

– Giao vấn đề cho nhóm.

– Cả nhóm cùng lựa chọn giải pháp tối ưu, thu gọn các ý tưởng trùng lặp, xóa những ý không phù hợp, sau cùng thư ký báo cáo kết quả.

Lưu ý: Trong quá trình thu thập ý kiến, không được phê bình hay nhận

Ưu điểm:

– Dễ thực hiện, không mất nhiều thời gian.

– Huy động mọi ý kiến của thành viên, tập trung trí tuệ.

– Khuyến khích các thành viên nhóm tham gia hoạt động.

Hạn chế:

– Mất thời gian cho việc lựa chọn các ý kiến tốt nhất.

–  Có tình trạng một số thành viên quá năng động nhưng một số khác không tham gia.

4. Phương pháp dạy học tích cực số 4: Kĩ thuật “Bể cá”

Dụng cụ: Chuẩn bị giấy bút cho các thành viên.

Thực hiện:

Ưu điểm:  Kỹ thuật này vừa giải quyết được vấn đề vừa phát triển kỹ năng quan sát và giao tiếp của học sinh.

Hạn chế:

– Yêu cầu phải có không gian tương đối rộng.

5. Hình thức dạy học tích cực số 5: Kĩ thuật “Tia chớp”

Kỹ thuật tia chớp sẽ huy động sự tham gia của mọi thành viên vào một câu hỏi nào đó nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí học tập trong lớp học. Yêu cầu các thành viên lần lượt trả lời thật nhanh và ngắn gọn ý kiến của mình.

Thực hiện:

–  Kỹ thuật có thể áp dụng tại bất cứ thời điểm nào khi các thành viên thấy cần thiết và đề nghị.

– Từng người một nói ra suy nghĩ của mình thật nhanh và ngắn gọn khoảng 1-2 câu về câu hỏi đã thoả thuận.

6. Phương pháp dạy học số 6: Kỹ thuật “XYZ” ( Kỹ thuật 365)

Kỹ thuật này cần 6 người mỗi nhóm, mỗi người sẽ viết ra 3 ý kiến trên một tờ giấy trong vòng 5 phút về cách giải quyết 1 vấn đề và tiếp tục chuyển cho người bên cạnh. Do vậy, kỹ thuật này còn gọi là kỹ thuật 635.

Dụng cụ: Chuẩn bị giấy bút cho các thành viên.

Thực hiện:

– Các thành viên trong nhóm trình bày ý kiến của mình, hoặc đưa ý kiến cho thư ký tổng hợp lại để tiến hành đánh giá và lựa chọn.

Lưu ý: Giáo viên phân chia số lượng thành viên đồng đều, quy định và theo dõi thời gian cụ thể để tạo tính công bằng giữa các nhóm.

Ưu điểm: Kỹ thuật này có yêu cầu cụ thể nên bắt buộc các thành viên trong nhóm đều phải làm việc.

Hạn chế: Mất nhiều thời gian cho hoạt động nhóm, nhất là quá trình tổng hợp và đánh giá ý kiến.

7. Phương pháp giảng dạy tích cực số 7: Kỹ thuật “Lược đồ tư duy” hay “ Sơ đồ tư duy”

Phương pháp dạy học tích cực theo kỹ thuật lược đồ tư duy do Tony Buzan đề xuất từ cơ sở sinh lý thần kinh về quá trình tư duy. Kỹ thuật này là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Dụng cụ: Bảng lớn hoặc giấy khổ lớn, bút nhiều màu, các phần mềm vẽ sơ đồ tư duy.

Thực hiện:

– Mỗi thành viên lần lượt kết nối ý tưởng trung tâm với ý tưởng của cá nhân để mô tả ý tưởng thông qua hình ảnh, biểu tượng hoặc một vài ký tự ngắn gọn.

Lưu ý:

– Giáo viên để học sinh tự lựa chọn sơ đồ: Sơ đồ thứ bậc, sơ đồ mạng, sơ đồ chuỗi

– Giáo viên đưa câu hỏi gợi ý để các nhóm lập sơ đồ.

– Khuyến khích học sinh sử dụng biểu tượng, ký hiệu, hình ảnh và văn bản tóm tắt.

Ưu điểm:

– Kỹ thuật sơ đồ tư duy giúp học sinh nắm được quá trình tổ chức thông tin, ý tưởng cũng như giải thích và kết nối thông tin với cách hiểu biết của mình.

– Thích hợp với các nội dung ôn tập, liên kết lý thuyết với thực tế.

– Phù hợp tâm lý học sinh, đơn giản, dễ hiểu.

Hạn chế:

– Kỹ thuật sử dụng sơ đồ giấy khó lưu trữ, thay đổi, chỉnh sửa, tốn kém chi phí.

– Sơ đồ do giáo viên xây dựng, sau đó giảng giải cho học sinh khiến học sinh khó nhớ bài hơn học sinh tự làm.

8. PP dạy học tích cực số 8: Kỹ thuật “Chia sẻ nhóm đôi” (Think, Pair, Share)

Kỹ thuật chia sẻ nhóm đôi do giáo sư Frank Lyman đại học Maryland giới thiệu năm 1981. Đây là hoạt động làm việc theo nhóm đôi, qua đó phát triển năng lực tư duy của từng cá nhân trong giải quyết vấn đề.

Dụng cụ: Không cần thiết sử dụng các dụng cụ hỗ trợ vì chủ yếu phát triển kỹ năng nghe và nói của học sinh

Thực hiện:

–  Giáo viên giới thiệu vấn đề, đặt câu hỏi mở và dành thời gian để học sinh suy nghĩ.

– Nhóm đôi này lại tiếp tục chia sẻ với nhóm đôi khác hoặc với cả lớp.

Lưu ý: Giáo viên cần làm mẫu hoặc giải thích để học sinh chia sẻ được ý tưởng mà mình đã nhận được chứ không chỉ chia sẻ ý kiến cá nhân.

Ưu điểm: Học sinh biết lắng nghe, tóm tắt ý của bạn cùng nhóm để phát triển được những câu trả lời tốt.

9. Phương pháp dạy học số 9: Kỹ thuật Kipling ( 5W1H)

Kỹ thuật Kipling được sử dụng trong các trường hợp cần có thêm ý tưởng mới, xem xét nhiều khía cạnh của vấn đề, chọn lựa ý tưởng để phát triển.

Dụng cụ : Giấy bút cho học sinh

Thực hiện:

Giáo viên đưa ra các câu hỏi theo thứ tự ngẫu nhiên hoặc theo một trật tự định ngầm trước, với các từ khóa: Ai, Cái gì, Ở đâu, Khi nào, Thế nào, Tại sao.

Ưu điểm:

– Không mất thời gian, mang tính logic cao.

– Có thể sử dụng cho nhiều tình huống khác nhau.

– Áp dụng được cho cá nhân.

Hạn chế:

– Sự phối hợp của các thành viên bị hạn chế

– Dễ xảy ra tình trạng “9 người 10 ý”.

– Có thể tạo cảm giác bị điều tra.

10. Phương pháp dạy học tích cực số 10: Kỹ thuật KWL (KWLH)

Sau này biểu đồ KWL được bổ sung thêm cột H ở sau cùng nhằm khuyến khích học sinh định hướng nghiên cứu. Cột H sẽ ghi nhận những biện pháp tìm thông tin mở rộng sau khi học sinh đã hoàn tất nội dung ở cột Lvà muốn tìm hiểu thêm.

Dụng cụ: Bảng KWL (KWLH) dành cho giáo viên và  học sinh.

Thực hiện:

– Chọn bài đọc mang ý nghĩa gợi mở, tìm hiểu, giải thích

– Tạo bảng KWL (KWLH)

– Giáo viên vẽ lên bảng, mỗi học sinh cũng có một mẫu bảng riêng.

– Bắt buộc học sinh đọc và tự điền câu trả lời tìm được vào cột L. Trong quá trình đọc, học sinh cũng đồng thời tìm ra câu trả lời và ghi nhận vào cột W.

Lưu ý :

–  Giáo viên nên chuẩn bị câu hỏi để giúp học sinh động não.

– Khuyến khích học sinh giải thích về những điều các em nêu ra.

– Nên đặt câu hỏi tiếp nối và gợi mở.

– Giáo viên chuẩn bị sẵn một số câu hỏi mong muốn học sinh tập trung vào những ý tưởng để bổ sung vào cột W.

– Khuyến khích học sinh ghi vào cột L những điều các em cảm thấy thích.

Ưu điểm:

– Hình thành khả năng tự định hướng học tập cho học sinh

– Giáo viên và học sinh tự đánh giá kết quả học tập, định hướng cho các hoạt động tiếp.

Hạn chế: Các sơ đồ cần phải được lưu trữ cẩn thận sau khi hoàn thành hai bước K và W, vì bước L có thể sẽ phải mất một thời gian dài mới có thể tiếp tục thực hiện.

Với 10 phương pháp dạy học tích cực trên sẽ giúp học sinh, giáo viên, phụ huynh có thể dễ dàng nắm bắt và truyền đạt và tiếp thu những kiến thức một cách tốt nhất. Nếu bạn còn bất kì băn khoăn nào về phương pháp dạy học tích cực hãy liên hệ với Trung tâm Gia sư Hà Nội Giỏi để được tư vấn trực tiếp!

TOP 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Thành Công Nhất

4.9

(

95

) votes

) votes

Tư vấn gia sư (24/7) 097.948.1988

Top 7 Phương Pháp Dạy Học Hiệu Quả, Tích Cực Nhất Ở Tiểu Học, Thcs 2022 / 2023

Nội Dung Chính Của Bài Viết

Giải quyết vấn đề

Giải quyết vấn đề có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển nhận thức và tư duy của con người. Mục đích của phương pháp này là giúp rèn luyện năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề.+ Tiến hành theo 3 bước như sau:– Phát hiện vấn đề: Học sinh cần phân tích được tình huống có vấn đề xảy ra nhằm phát hiện và trình bày vấn đề rõ ràng.– Nội dung giải quyết vấn đề: học sinh sẽ tìm ra các phương án để giải quyết vấn đề và chọn ra phương án tối ưu nhất.– Giải quyết vấn đề: Từ những phương án được ra, học sinh sẽ so sánh, phân tích và đánh giá phương án tốt nhất để giải quyết vấn đề.

Là phương pháp vấn đáp hay đàm thoại được sử dụng nhằm mục đích giúp học sinh tiếp thu kiến thức mới và củng cố kiến thức cũ.+ Kĩ thuật đặt câu hỏi:– Chuẩn bị câu hỏi ban đầu bằng cách xây dựng một hệ thống câu hỏi gồm 2 nhóm ( câu hỏi chốt, câu hỏi khái quát; câu hỏi mở rộng hay câu hỏi bổ sung).– Xem xét sự phù hợp của các câu hỏi trong hệ thống câu hỏi đặt ra với yêu cầu: câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu, chính xác, phù hợp với mục đích hỏi.

Dạy học dự án

Là phương pháp người học thực hiện nhiệm vụ học tập phức hợp để tạo ra các sản phẩm học tập.+ Có thể phân loại như sau:– Theo chuyên môn giảng dạy– Theo sự tham gia của người học– Theo sự tham gia của giáo viên– Theo thời gian– Theo nhiệm vụ+ Tiến trình dạy học theo dự án:– Xác định vấn đề và mục đích của dự án– Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án– Thực hiện dự án– Trình bày dự án– Đánh giá dự án

Nghiên cứu trường hợp

Phương pháp này được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Đối với dạy học, phương pháp này học sinh sẽ phải tự nghiên cứu một tình huống thực tiễn và giải quyết tình huống có vấn đề đó cùng nhóm của mình.+ Tiến trình:– Nhận biết trường hợp vấn đề xảy ra– Thu thập thông tin từ những tài liệu có sẵn và tự tìm kiếm– Nghiên cứu tìm phương án giải quyết vấn đề– Đưa ra quyết định giải quyết– Lập luận và bảo vệ phương án– So sánh với các phương án trong thực tế

Thuyết trình

Hay còn gọi là phương pháp dùng lời nói sinh động để trình bày tài liệu mới hoặc tổng kết những tri thức mà học sinh tiếp nhận được. Cấu trúc của phương pháp: cũng tương tự như các phương pháp trên Tuy nhiên, để đạt hiệu quả cao khi sử dụng phương pháp này yêu cầu cần trình bày vấn đề chính xác, rõ ràng, dễ hiểu theo một trình tự logic chặt chẽ, có tính thực tiễn cao,… Lời nói rõ ràng, trong sáng, giàu hình tượng, chuẩn xác, tốc độ, âm lượng vừa phải, hành vi, cử chỉ phù hợp. bên cạnh đó, phải biết cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề đó. Sử dụng phối hợp các phương pháp khác.

Phương pháp khám phá – WEBQUEST

Dạy học theo nhóm

Dạy học nhóm là một hình thức xã hội của dạy học và học sinh của một lớp được chia thành các nhóm nhỏ, thực hiện nhiệm vụ trong một thời gian cho trước và tự hoàn thành nhiệm vụ được giao. Kết quả của nhóm sẽ được trình bày trước lớp.+ 10 tiêu chí để thành lập nhóm: – Nhóm gồm những người tự nguyện, có cùng hứng thú với nhau.– Các nhóm ngẫu nhiên bằng cách gọi theo danh sách hoặc đếm số thứ tự.– Nhóm ghép hình phân chia bằng cách ghép 1 bức tranh hoặc tờ giấy lại.– Các nhóm có chung đặc điểm là sinh theo tháng hoặc cùng ngày.– Nhóm cố định trong một thời gian dài– Nhóm có học sinh khá để hỗ trợ học sinh yếu.– Phân chia theo năng lực học tập.– Phân chia theo dạng học tập.– Nhóm với các bài tập khác nhau.– Phân chia học sinh nam, học sinh nữ.+ Tiến trình dạy học nhóm có thể chia làm 3 giai đoạn:– Nhập đề và giao nhiệm vụ– Làm việc nhóm: gồm các bước chuẩn bị, lập kế hoạch làm việc, thỏa thuận quy tắc làm việc, tiến hành giải quyết nhiệm vụ và chuẩn bị báo cáo.– Trình bày kết quả và đánh giá, nhận xét.+ Ưu điểm của phương pháp dạy học nhóm là: – Phát huy tính tích cực, tự lực và tính trách nhiệm của học sinh.– Phát triển năng lực cộng tác làm việc.– Phát triển năng lực giao tiếp.– Hỗ trợ quá trình học tập mang tính xã hội.– Tăng cường sự tự tin cho học sinh.– Tạo khả năng dạy học phân hóa.– Hiệu quả học tập cao.+ Nhược điểm của phương pháp:– Đòi hỏi nhiều thời gian– Nhiều khi kết quả mang lại không như mong muốn– Lớp ồn

Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Được Sử Dụng Phổ Biến / 2023

1. Định nghĩa phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học chính là cách thức, sự tương tác chung giữa giáo viên và học sinh ở trong điều kiện dạy học nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu của việc dạy học.

Có ba bình diện cần xem xét trong phương pháp dạy học, bao gồm: quan điểm, phương pháp dạy cụ thể và kỹ thuật dạy học.

Sử dụng phương pháp dạy học hợp lý làm gia tăng sự tương tác hai chiều trong giờ học

1.1 Quan điểm về phương pháp dạy học

Được hiểu là tổng thể các định hướng về hành động phương pháp, mà ở đó có sự kết hợp của nhiều yếu tố như: nguyên tắc dạy học; cơ sở lý thuyết của lý luận dạy học; môi trường và điều kiện dạy học; định hướng cụ thể về vai trò của giáo viên, học sinh khi tham gia vào quá trình dạy học.

Quan điểm dạy học bao gồm các định hướng có tính chiến lược và nó chính là mô hình lý thuyết của phương pháp dạy học.

1.2 Phương pháp dạy học cụ thể

Phương pháp dạy học là cách thức của giáo viên và học sinh nhằm đạt được mục tiêu của việc học tập

1.3 Kỹ thuật dạy học

Kỹ thuật dạy học bao gồm các phương pháp, cách thức hành động của giáo viên ở từng tình huống cụ thể, nhằm thực hiện và điều khiển toàn bộ quá trình dạy học. Một số kỹ thuật dạy học cho giáo viên gồm: kỹ thuật chia nhóm, đặt câu hỏi, kỹ thuật hỏi chuyên gia, phòng tranh, kỹ thuật các mảnh ghép hay hoàn thành một nhiệm vụ,…

1.4 Lưu ý

Với mỗi một quan điểm dạy học sẽ có phương pháp dạy học phù hợp. Và với mỗi phương pháp dạy học cụ thể cũng có các kỹ thuật dạy học đặc thù. Tuy nhiên, đôi khi cũng có ngoại lệ.

Việc phân biệt phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học đôi khi chỉ mang tính chất tương đối. Ví dụ: động não, ở một số trường hợp được xem là phương pháp hoặc kỹ thuật dạy học.

Có các phương pháp dạy học chung cho nhiều môn học. Tuy nhiên cũng có phương pháp đặc thù cho các môn học riêng hoặc một nhóm các môn học.

Một phương pháp dạy học hay kỹ thuật môn học sẽ được gọi với nhiều cái tên khác nhau.

Có phương pháp dạy học chung cho nhiều môn học nhưng cũng có phương pháp đặc thù cho từng môn

2. Một số phương pháp dạy học tích cực

2.1 Phương pháp dạy học nhóm

Đây là một trong số phương pháp dạy học tích cực được đánh giá cao hiện nay, bởi nếu giáo viên có thể tổ chức tốt sẽ góp phần thúc đẩy giúp các em học sinh phát huy tính tích cực của bản thân. Đồng thời phát triển khả năng làm việc nhóm, trách nhiệm và khả năng giao tiếp của các em.

Quy trình thực hiện:

Cả lớp làm việc:

Xác định nhiệm vụ chung cho các nhóm.

Tạo nhóm.

Làm việc nhóm:

Chọn chỗ cùng làm việc.

Lập kế hoạch về việc cần làm.

Đề ra các quy tắc làm việc chung.

Giải quyết nhiệm vụ được giao.

Chuẩn bị để báo cáo kết quả.

Cả lớp làm việc:

Các nhóm lần lượt trình bày kết quả.

Đánh giá kết quả.

Kỹ thuật chia nhóm:

Dựa vào số thứ tự điểm danh, dựa vào màu sắc, các mùa hoặc các loài hoa. Điều kiện chung nhóm là chung một số, một màu, một mùa hoặc một loài hoa.

Dựa theo hình ghép: Giáo viên cắt một bức hình thành nhiều mảnh, để cho học sinh bốc ngẫu nhiên (Số bức hình tương ứng với số nhóm cần chia). Điều kiện chung nhóm là các em học sinh có mảnh ghép để cùng tạo thành 1 hình.

Dựa theo sở thích: Những em học sinh có cùng sở thích sẽ tự động tạo thành 1 nhóm.

Dựa theo tháng sinh: Điều kiện chung nhóm là có cùng tháng sinh với nhau.

Phương pháp học nhóm giúp phát huy khả năng giao tiếp và tính chịu trách nhiệm của học sinh

2.2 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

Cũng là một trong các phương pháp dạy học được áp dụng phổ biến hiện nay. Với phương pháp này, giáo viên sẽ kể một câu chuyện có thật hoặc câu chuyện được viết dựa theo các tình huống xảy ra thực trong cuộc sống nhằm chứng minh cho một vấn đề nào đó. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình có thể được thực hiện bằng văn bản, đoạn ghi âm hoặc video.

Quy trình thực hiện:

Học sinh sẽ cùng đọc hoặc nghe, xem về một trường hợp điển hình nào đó.

Suy ngẫm về trường hợp điển hình.

2.3 Phương pháp giải quyết vấn đề

Nằm trong số các phương pháp dạy học mới nhằm kích thích tính tự lực và chủ động giải quyết vấn đề của học sinh. Với phương pháp này, giáo viên sẽ đưa ra các vấn đề nhận thức mà ở đó có sự mâu thuẫn giữa những cái đã biết và chưa biết, và hướng học sinh tìm cách giải quyết.

Quy trình thực hiện:

Xác định vấn đề, tình huống cần giải quyết.

Liệt kê các biện pháp để giải quyết vấn đề.

Phân tích và đánh giá về kết quả của các biện pháp.

So sánh kết quả các biện pháp.

Chọn biện pháp tối ưu nhất.

Thực hiện theo biện pháp đã chọn.

Rút kinh nghiệm khi giải quyết vấn đề, tình huống khác.

Phương pháp giải quyết vấn đề nhằm kích thích tính tự lực của học sinh khi giải quyết vấn đề

2.4 Phương pháp đóng vai

Quy trình thực hiện:

Lần lượt từng nhóm diễn đóng vai.

Giáo viên đưa ra kết luận, định hướng cho học sinh đâu là cách ứng xử tích cực với tình huống đã đưa ra.

2.5 Phương pháp trò chơi

Là phương pháp dạy học mà giáo viên sẽ tổ chức cho các em học sinh tìm hiểu về một vấn đề nào đó thông qua chơi trò chơi. Và phương pháp này thuộc danh sách các phương pháp dạy học mới giúp tăng sự kích thích, hứng thú tìm hiểu vấn đề của học sinh.

Quy trình thực hiện:

Giáo viên phổ biến về trò chơi bao gồm tên, nội dung và quy tắc chơi.

Tiến hành chơi thử (nếu thấy cần thiết).

Cho học sinh bắt đầu chơi trò chơi.

Đánh giá khi trò chơi kết thúc.

Tìm hiểu về vấn đề nào đó thông qua việc chơi trò chơi

2.6 Dạy học theo dự án (Phương pháp dự án)

Là phương pháp dạy học mà học sinh cần phải thực hiện một nhiệm vụ học tập gắn liền với thực tiễn và có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Nhiệm vụ học tập này đòi hỏi người học có tính tự lực cao, khi phải đảm nhiệm mọi công đoạn gồm lập kế hoạch, thực hiện dự án và đánh giá kết quả của dự án. Phương pháp này được dạy theo hình thức chia nhóm.

Quy trình thực hiện:

Bước 1: Lập kế hoạch

Lập kế hoạch về nhiệm vụ học tập.

Bước 2: Thực hiện dự án

Tìm kiếm thông tin.

Tiến hành điều tra.

Nhờ giáo viên hướng dẫn.

Bước 3: Tổng hợp kết quả.

Tổng hợp về các kết quả tìm được.

Xây dựng về sản phẩm.

Trình bày kết quả tìm được.

Phản ánh lại kết quả của quá trình học tập.

2.7 Phương pháp Bàn tay nặn bột

Hiện nay có 1 số phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm, nghiên cứu, được áp dụng phổ biến cho môn học tự nhiên. Phương pháp bàn tay nặn bột là một trong số đó.

Với phương pháp dạy học này, kiến thức của học sinh sẽ được hình thành thông qua các thí nghiệm. Các em sẽ tự mình tìm tòi nghiên cứu để tìm ra câu trả lời cho những vấn đề được đặt ra ở trong cuộc sống bằng cách tiến hành các thí nghiệm, đọc, điều tra, nghiên cứu các tài liệu.

Phương pháp bàn tay nặn bột thích hợp áp dụng với môn học tự nhiên

Quy trình 1 tiết dạy của phương pháp bàn tay nặn bột:

Bước 1: Nêu ra các tình huống có vấn đề và xác định được vấn đề cần phải giải quyết.

Bước 2: Xây dựng các hoạt động nhằm giải quyết vấn đề.

Bước 3: Củng cố và đề xuất các định hướng mở rộng.

Quy trình của một thực nghiệm gồm:

Bước 1: Nêu ra tình huống có vấn đề cần giải quyết.

Bước 2: Học sinh đưa ra các câu hỏi, giả thuyết, dự đoán về kết quả theo nhóm hoặc theo từng cá nhân.

Bước 3: Làm thực nghiệm.

Bước 4: So sánh kết quả đạt được với dự đoán ban đầu.

Bước 5: Đưa ra kết luận.

2.8 Phương pháp dạy theo góc

Là một phương pháp dạy học mới mà ở đó học sinh cần phải thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, ở các vị trí cụ thể trong phạm vi lớp học, đáp ứng được nhiều phong cách học tập khác nhau.

Phương pháp dạy học theo góc sẽ giúp học sinh lựa chọn hoạt động cũng như phong cách học: Thực hành, khám phá, cơ hội để phát triển khả năng sáng tạo, cơ hội đọc, hiểu các nhiệm vụ do giáo viên đề xuất, cơ hội để mỗi cá nhân áp dụng, trải nghiệm.

Tăng sự hứng thú, mang lại hiệu quả học tập cao với phương pháp dạy học theo góc

3. 10 kỹ thuật dạy học tích cực hiệu quả

3.1 Kỹ thuật “Các mảnh ghép” (Jigsaw)

Ưu điểm:

Phát huy khả năng làm việc theo nhóm.

Phát huy tính trách nhiệm của các em học sinh.

Giúp học sinh hiểu biết đúng về các vấn đề.

Hiểu sâu về các kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Nhược điểm:

Có sự không đồng đều giữa thành viên trong nhóm.

Kỹ thuật các mảnh ghép giúp giải quyết nhiệm vụ chung trong một nhóm, nâng cao vai trò của các thành viên khi hợp tác

3.2 Kỹ thuật Khăn phủ bàn (Khăn trải bàn)

Nằm trong danh sách 1 số phương pháp dạy học tích cực được đánh giá cao. Ở kỹ thuật khăn phủ bàn, giáo viên sẽ tổ chức các hoạt động có sự kết hợp giữa hoạt động nhóm và cá nhân với mục đích thúc đẩy sự tham gia của các em học sinh. Đồng thời phát huy được tính độc lập, trách nhiệm của mỗi cá nhân và tăng sự tương tác giữa học sinh với nhau.

Ưu điểm:

Giúp phát huy được tính độc lập và trách nhiệm của mỗi cá nhân người học.

Nhược điểm:

Chi phí lớn.

Lưu trữ và sửa đổi kết quả khó khăn.

3.3 Kỹ thuật Brainstorming

Ưu điểm:

Thực hiện dễ dàng, ít tốn thời gian.

Tập trung ý kiến của các thành viên trong nhóm.

Nhược điểm:

Dễ lạc đề.

Tốn nhiều thời gian để chọn ra ý kiến tốt nhất.

Một số thành viên tham gia tích cực, một số lại không tham gia.

Lưu trữ khó khăn, gây lãng phí.

Tạo ra nhiều ý tưởng nhờ kỹ thuật Brainstorming

3.4 Kỹ thuật “Bể cá”

Ưu điểm:

Giải quyết triệt để các vấn đề.

Phát triển được kỹ năng quan sát và khả năng giao tiếp của học sinh.

Nhược điểm:

3.5 Kỹ thuật “Tia chớp”

Là kỹ thuật nhằm huy động sự tham gia của tất cả thành viên trong lớp vào một câu hỏi, với mục đích phát huy khả năng giao tiếp và cải thiện không khí học tập chung của cả lớp. Kỹ thuật “tia chớp” yêu cầu học sinh phải trả lời các câu hỏi thật nhanh và ngắn gọn.

Ưu điểm:

Dễ dàng thực hiện vào bất kỳ thời điểm nào trong buổi học.

Giúp phát huy khả năng giao tiếp và cải thiện không khí học tập chung của lớp học.

Nhược điểm:

Học sinh khó diễn đạt câu trả lời của mình chỉ trong vòng 1-2 câu ngắn gọn.

Huy động cả lớp tham gia với một câu hỏi để tăng khả năng giao tiếp và cải thiện không khí học tập trong lớp

3.6 Kỹ thuật “XYZ” (Kỹ thuật 365)

Thông thường, kỹ thuật này sẽ cần đến 6 thành viên trong mỗi nhóm, mỗi người có 5 phút để viết ra 3 ý kiến về cách giải quyết vấn đề trong tờ giấy rồi chuyển cho thành viên khác, nên nó còn được biết đến với kỹ thuật 365.

Ưu điểm:

Đảm bảo các thành viên trong nhóm đều phải làm việc.

Nhược điểm:

Cần nhiều thời gian cho hoạt động nhóm, đặc biệt là khâu tổng hợp và đánh giá các ý kiến của thành viên.

3.7 Kỹ thuật Mindmap

Trong số các phương pháp dạy học tích cực, kỹ thuật mindmap – kỹ thuật bản đồ tư duy được đánh giá rất cao. Đây thực chất là một hình thức ghi chép mà học sinh sẽ dùng đến màu sắc và hình ảnh để mở rộng cũng như đào sâu các kiến thức, ý tưởng.

Ưu điểm:

Đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với nhiều đối tượng học sinh khác nhau.

Phù hợp để ôn tập hay liên hệ lý thuyết với thực tiễn.

Giúp học sinh nắm nhanh về thông tin, ý tưởng cũng như giải thích, kết nối các thông tin với nhau dựa theo cách hiểu của mình.

Kỹ thuật bản đồ tư duy giúp đào sâu ý tưởng thông qua hình ảnh và màu sắc

3.8 Kỹ thuật “Chia sẻ nhóm đôi” (Think, Pair, Share)

Trong các phương pháp dạy học, kỹ thuật “chia sẻ nhóm đôi” ra đời cách đây khá lâu vào năm 1981, được phát triển bởi giáo sư Frank Lyman thuộc đại học Maryland. Kỹ thuật này hoạt động theo hình thức chia nhóm đôi nhằm phát triển khả năng tư duy của các thành viên trong nhóm khi cùng giải quyết một vấn đề.

Ưu điểm:

Có sự phối hợp giữa thành viên trong nhóm để tạo ra câu trả lời tốt nhất.

Nhược điểm:

Khó quản lý dẫn đến việc học sinh trao đổi về những vấn đề không nằm trong phạm vi bài học.

3.9 Kỹ thuật Kipling (5W1H)

Được áp dụng khi muốn có thêm các ý tưởng mới hay trong trường hợp muốn xét đến nhiều khía cạnh của một vấn đề hay lựa chọn các ý tưởng để phát triển.

Ưu điểm:

Ít tốn thời gian, có tính logic cao.

Áp dụng được cho nhiều tình huống.

Áp dụng được cho nhiều đối tượng học sinh khác nhau.

Nhược điểm:

Mang cảm giác bị điều tra.

Xảy ra tình trạng mỗi người một ý.

Sự kết hợp của thành viên trong nhóm bị hạn chế.

Tạo thêm các ý tưởng mới nhờ kỹ thuật Kipling

3.10 Kỹ thuật KWL (KWLH)

Đây là một hình thức giảng dạy bằng các hoạt động đọc hiểu được Donna Ogle phát triển và giới thiệu rộng rãi từ năm 1986. Với phương pháp dạy học tích cực này, học sinh giữ vai trò chủ đạo.

Có thêm cột H bổ sung vào biểu đồ với mục đích định hướng nghiên cứu cho học sinh. Cột H là nơi mà học sinh sẽ ghi vào các biện pháp từ hoạt động tìm kiếm thông tin mở rộng, khi các em muốn hiểu rõ hơn từ nội dung ở cột L.

Ưu điểm:

Kích thích được sự hứng thú học tập cho học sinh.

Tăng khả năng định hướng về học tập cho mỗi cá nhân.

Giáo viên và học sinh tự đánh giá về kết quả dạy và học.

Nhược điểm:

Lưu trữ sơ đồ trong thời gian dài vì khi hoàn tất bước K và W, phải mất thêm một khoảng thời gian mới thực hiện đến bước L.

Kỹ thuật dạy học dựa trên hoạt động đọc hiểu với vai trò của học sinh làm chủ đạo

4. Điều kiện để áp dụng phương pháp dạy học tích cực thành công

4.1 Đối với giáo viên

Để áp dụng 1 số phương pháp dạy học tích cực, giáo viên cần phải trải qua quá trình đào tạo mới có thể dễ dàng thích nghi với những thay đổi về chức năng cũng như nhiệm vụ giảng dạy của mình. Bên cạnh đó, thầy cô còn phải nhiệt tình, sẵn sàng tiếp nhận các thay đổi mới của nền giáo dục.

Giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy phải là những người nắm vững về kiến thức chuyên môn, có kỹ năng sư phạm, khéo léo trong cách ứng xử, sử dụng thành thạo công nghệ thông tin để ứng dụng vào việc giảng dạy, biết cách định hướng học sinh theo đúng mục tiêu giáo dục đã đề ra. Tuy nhiên cũng cần phải đảm bảo được sự tự do nhận thức của học sinh.

4.2 Đối với học sinh

Học sinh phải dần xây dựng các phẩm chất và khả năng thích nghi với phương pháp dạy học mớinhư xác định được mục tiêu của việc học, tạo tính tự giác học tập, có trách nhiệm với việc học của mình và việc học chung của cả lớp, tự giác học tập ở bất kì hoàn cảnh hay điều kiện nào,….

Học sinh cần phát huy tính tự giác học tập mọi lúc mọi nơi

4.3 Sách giáo khoa

Sách giáo khoa nên có sự giảm tải về khối lượng kiến thức, giảm những nội dung buộc học sinh phải ghi nhớ, các câu hỏi tái tạo hay kết luận mang tính áp đặt, thay vào đó nên bổ sung thêm các bài toán về nhận thức, các câu hỏi để phát triển trí thông minh, các gợi ý để học sinh dựa vào đó phát triển nội dung của bài học.

4.4 Trang thiết bị dạy học

Đảm bảo trang thiết bị dạy học ở mức độ tối thiểu phục vụ công tác dạy và học.

Cung cấp đủ trang thiết bị thực hành để học sinh thực hiện bài thực hành thử nghiệm.

Các trang thiết bị đắt tiền sẽ được bố trí để dùng chung. Tuy nhiên, cần phải đảm bảo về nguyên tắc sử dụng, bảo quản theo từng hoàn cảnh cụ thể nhằm giúp học sinh và giáo viên có thể sử dụng ở mức tối đa.

Xây dựng phòng học đa năng và kho để chứa thiết bị ở ngay cạnh phòng học bộ môn.

4.5 Đổi mới cách đánh giá kết quả của học sinh

Với các phương pháp dạy học tích cực, cần phải đánh giá kết quả học tập học sinh một cách công khai và công bằng. Bộ công cụ sử dụng để đánh giá được bổ sung thêm các hình thức như câu hỏi và bài tập trắc nghiệm. Ngoài ra, nên thực hiện đánh giá toàn bộ quá trình học tập của học sinh về tính tự giác, chủ động trong mỗi tiết học bao gồm các tiết lý thuyết, buổi thực hành.

Hệ thống câu hỏi được sử dụng làm kiểm tra, đánh giá phải chứa đựng 70% nội dung ở mức độ chuẩn về mặt bằng học thức cho các em học sinh và 30% là nội dung nâng cao.

Giáo viên cần đánh giá học sinh trong suốt quá trình học tập

4.6 Đối với nhà trường

Hiệu trưởng chịu trách nhiệm chính về việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực cho toàn trường. Đồng thời nhấn mạnh vai trò của phương pháp dạy học trong các hoạt động còn lại của nhà trường.

Hiệu trưởng nên giữ thái độ tôn trọng, đồng tình với các đề xuất, sáng kiến mang tính tiến bộ của giáo viên, dù là nhỏ. Bên cạnh đó cũng cần hỗ trợ, chỉ dẫn cho giáo viên khi áp dụng phương pháp dạy học mới vào trong giảng dạy để phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện giảng dạy, đặc điểm của từng đối tượng học trò, giúp việc giảng dạy mang lại hiệu quả hơn.

Soạn Và Dạy Bài “Đột Biến Gen” (Sinh Học Lớp 9) Theo Phương Pháp Dạy Học Tích Cực / 2023

thích tư duy độc lập của học sinh. Nhìn chung giáo viên không chủ động trong giờ dạy mà chăm chăm trình bày những gì mình tích cóp được. Từ những hạn chế trên, tôi mạnh dạn đưa ra một số đề xuất sau: Phần II. NỘI DUNG ĐỔI MỚI VỀ THIẾT KẾ BÀI HỌC: Nếu giáo án được chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo trước khi lên lớp thì nhất định cách dạy của thầy giáo sẽ chủ động, tự tin, linh hoạt và đạt chất lượng cao hơn. Dù người thầy, cô đó có tài giỏi, thông tuệ tới đâu đi nữa nhưng nếu không soạn giáo án hoặc soạn giáo án qua loa, hời hợt thì nhất định tiết dạy ấy, bài học ấy sẽ không tránh khỏi những lúng túng, bỡ ngỡ và sơ suất và chả có gì mới mẻ, sâu sắc hơn so với lần dạy trước về kiến thức, nội dung vì do phụ thuộc quá nhiều vào trí nhớ và kinh nghiệm của mình mà không cập nhật kiến thức, phương pháp mới. Vì vậy ở từng năm học, mỗi thầy cô giáo đều phải thực hiện nghiêm túc việc soạn giáo án theo quy định các bước lên lớp đã được phổ biến. Trong bài soạn cần chú ý những vấn đề sau: - Xác định mục tiêu của bài học: Trình bày cụ thể mức độ cần đạt được đối với kiến thức, kỹ năng và phát triển tư duy của học sinh. - Lựa chọn các kiến thức cơ bản, cần thiết và cập nhật theo một cấu trúc hợp lý không nhất thiết phải thực hiện tuần tự theo sách giáo khoa. - Lựa chọn các phương pháp và phương tiện gắn với từng nội dung cụ thể giúp học sinh khai thác tự chiếm lĩnh từng đơn vị kiến thức đặt ra. - Chuẩn bị nội dung bài giảng theo hệ thống câu hỏi dưới dạng các vấn đề mà giáo viên nêu ra, để thiết kế câu hỏi giáo viên phải nắm bắt được tinh thần của bài học, ý đồ của người viết sách. Việc tham khảo những giáo án soạn sẵn, những tài liệu tham khảo là cần thiết nhưng chỉ có tính chất tham khảo chứ không rập khuôn một cách máy móc. Giáo án phải là sản phẩm sáng tạo, trí tuệ, công sức của từng cá nhân, càng soạn, càng dạy, giáo án càng phải hoàn thiện, đầy đủ. Trong mỗi giáo án phải thể hiện được phương pháp rõ ràng phù hợp với từng kiểu bài, làm nổi bật được hoạt động giữa thầy và trò. ĐỔI MỚI VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC TRÊN LỚP: Thực chất của việc đổi mới việc tổ chức việc dạy học ở trên lớp là giáo viên tổ chức thi công theo thiết kế bài dạy. Giờ học không chỉ đơn thuần là thực hiện đầy đủ các bước lên lớp mà theo từng đơn vị kiến thức thiết kế, giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác, trao đổi và xử lý tình huống có vấn đề đặt ra. Giáo viên có nhiệm vụ tạo ra không khí năng động ở trong lớp, chia sẻ niềm say mê của mình với học sinh, gây hứng thú ở học sinh (là điều kiện tiên quyết) nhất thiết gây nên mối quan hệ qua lại giữa người dạy và người học. Giáo viên tổ chức, điều khiển học sinh lĩnh hội từng vấn đề bằng cách: nêu vấn đề (dưới dạng những câu hỏi) dẫn dắt học sinh đi từng kiến thức đã học để giải quyết các đơn vị kiến thức mới, trong quá trình giải quyết các đơn vị kiến thức mới giáo viên có thể gọi một vài học sinh trả lời một câu hỏi và nhất thiết phải có sự nhận xét, đánh giá sau mỗi câu trả lời của học sinh. Nếu học sinh trả lời đầy đủ giáo viên có thể nhân đó mà đặt thêm câu hỏi khác hoặc có thể nhận xét và tóm tắt một cách ngắn gọn nội dung trả lời. Nếu học sinh trả lời đúng nhưng chưa đủ, giáo viên tóm tắt ý đã trả lời đúng, gọi thêm học sinh khác bổ sung. Nếu học sinh trả lời không đúng, cần có sự gợi ý điều chỉnh làm cho câu hỏi trở nên dễ hiểu hơn... giáo viên không nên thuyết trình dài dòng, không nên giành lấy quyền kết luận mà để cho học sinh tự kết luận, giáo viên chỉ bổ sung hay xác nhận. Như thế giờ học mới trở nên sôi nổi không bị gián đoạn (kể cả việc sử dụng các phương tiện dạy học như: sơ đồ, tranh ảnh, mô hình...) giáo viên phải tạo tạo ra những câu hỏi bất ngờ, những câu hỏi kích thích trí não của học sinh. Muốn vậy giáo viên phải nắm vững được nội dung then chốt của bài học. Như trên đã nêu, một vấn đề không kém phần quan trọng, đó là cách ghi bảng của giáo viên. Trước hết không nên ghi bảng dài dòng mà chỉ ghi những nội dung cơ bản nhất dưới dạng sơ đồ hóa hoặc những lời cô đúc nhất. Hiện nay việc sử dụng máy chiếu đã hỗ trợ rất nhiều cho việc ghi bảng nhưng vẫn cần chắt lọc nội dung cơ bản để học sinh có nhiều thời gian cho các hoạt động học tập khác. Qua thực tế dự giờ một số đồng nghiệp thường có những hạn chế sau: - Giáo viên không đặt bài học này trong mối quan hệ với các bài học trước thuộc các chương trước. - Việc sử dụng các phương tiện dạy học còn lệ thuộc vào sách giáo khoa, sách thiết kế, chưa có sự sáng tạo cho phù hợp với từng đối tượng học sinh nên vừa tốn kém mà hiệu quả lại chưa cao. - Hệ thống câu hỏi vụn vặt thiên về loại câu hỏi tái hiện kiến thức chưa có tính gợi mở, chưa kích thích được trí não của học sinh. - Các kiến thức của bài học được chuyển tải đến học sinh một cách cứng nhắc, rập khuôn theo sách giáo khoa, sách thiết kế có sẵn. Chưa hiểu hết ý của người viết sách nên chưa xác định đúng trọng tâm của bài. Vì vậy học sinh chưa hiểu rõ cơ chế gây đột biến gen. Đặc biệt phần "Vai trò của đột biến" học sinh chưa nắm rõ bản chất của hậu quả và tính chất biểu hiện của đột biến gen mà hiểu rất lơ mơ về vai trò của đột biến gen. - Nội dung ghi bảng còn dài dòng, chưa làm rõ "mạch bài", học sinh cảm thấy nhàm chán khi thấy nội dung ghi trùng lặp với sách giáo khoa. Từ kinh nghiệm của bản thân, qua trao đổi với đồng nghiệp, tổ chuyên môn, tôi xin đưa ra một vài ý kiến nhỏ khi dạy bài "Đột biến gen" như sau: Hỏi: Em hãy nhắc lại hiện tượng biến dị mà chúng ta đã được học ở bài đầu tiên của chương trình sinh học lớp 9? Biến dị tổ hợp Di truyền Đột biến gen Biến dị Biến dị đột biến Cấu trúc Không di truyền (Thường biến) Đột biến NST Số lượng "Tiết học này chúng ta tìm hiểu về đột biến gen": Bài 21: ĐỘT BIẾN GEN Hoạt động 1: Tìm hiểu một số dạng đột biến gen. Hình thành khái niệm đột biến gen. I- ĐỘT BIẾN GEN: Thông thường ở phần này giáo viên vẽ to hình 21.1, tô màu như SGK và dạy theo gợi ý của sách giáo viên với hệ thống câu hỏi đơn giản như sau: + Đoạn ADN ban đầu (a) có bao nhiêu cặp nuclêôtit và gồm những cặp nuclêôtit nào? trình tự các cặp nuclêôtit ra sao? + Đoạn (b) có bao nhiêu cặp nuclêôtit? So với đoạn (a) thì thiếu cặp nào? vậy dạng biến đổi đó là dạng gì? + Đoạn (c) có bao nhiêu cặp nuclêôtit? So với đoạn (a) thì thêm cặp nào? dạng biến đổi này gọi là dạng gì? + Đoạn (d) có bao nhiêu cặp nuclêôtit? Về số đoạn (a) và đoạn (d) có khác nhau không? Đoạn (d) khác với đoạn (a) ở cặp nuclêôtit nào? vậy dạng biến đổi này là dạng gì? Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh nêu định nghĩa đột biến gen. Về hình vẽ, với màu sắc như SGK khi treo trên bảng nhìn xa rất "rối mắt" khó phân biệt được từng cặp nuclêôtit. Đặc biệt với hệ thống câu hỏi như ở trên rất đơn điệu, trùng lặp gây nhàm chán đối với học sinh, rất mất mất thời gian và cuối cùng HS vẫn không hiểu rõ bản chất của đột biến gen. Từ những tồn tại trên, tôi đã đầu tư suy nghĩ xây dựng cách dạy phần này như sau: Giáo viên treo bảng phụ "Một số dạng đột biến gen", giới thiệu nội dung trong bảng, hướng dẫn học sinh quan sát hình 21.1 SGK (không cần vẽ phóng to vì với màu sắc như vậy học sinh quan sát gần thì rõ, nhưng phóng to treo bảng nhìn xa rất khó quan sát mà lại gây tốn kém), yêu cầu học sinh hoạt động theo nhóm hoàn thành phiếu học tập với nội dung sau: (Mỗi bàn 1 phiếu trên giấy A4 ). MỘT SỐ DẠNG ĐỘT BIẾN GEN ĐOẠN GEN SỐ CẶP NUCLấễTIT ĐIỂM KHÁC SO VỚI ĐOẠN GEN ( a) ĐẶT TÊN DẠNG BIẾN ĐỔI a) T G A T X l l l l l A X T A G b) T G A T l l l l A X T A c) T G A T X T l l l l l l A X T A G A d) T G G T X l l l l l A X X A G Sau 5 phút giáo viên gọi đại diện của từng nhóm điền kết quả vào bảng phụ, giáo viên nhận xét bổ sung hoàn thành bảng. Hỏi: Qua một số dạng biến đổi trên, em hãy cho biết đột biến gen là gì? Hỏi: Tại sao không nói: " mất, thêm, thay thế một nuclêôtit mà lại nói mất, thêm, thay thế một cặp nuclêôtit"? (ADN có cấu trúc 2 mạch bổ sung, sự biến đổi 1 nuclêôtit ở mạch này thì sự biến đổi cũng xảy ra ở mạch kia). Giáo viên chỉ vào sơ đồ tóm tắt về biến dị trên góc bảng khi giới thiệu chương, vừa nói vừa ghi bảng : - Đột biến gen là biến dị di truyền. Hỏi: Đột biến gen là biến dị di truyền, tại sao? (Đột biến gen di truyền được là do khi đã phát sinh sẽ được "tái bản" qua cơ chế tự sao của ADN). Hỏi: Qua kiến thức đã được học ở bài "Lai hai cặp tính trạng" em thấy đột biến gen khác biến dị tổ hợp ở những điểm căn bản nào? (Biến dị tổ hợp: Các gen được sắp xếp lại (được tổ hợp lại) còn bản chất cấu trúc của gen không bị thay đổi). Giáo viên có thể lấy ví dụ lai 2 cặp tính trạng của Men đen để minh họa. Với cách dạy như trên, qua hoạt động nhóm học sinh đã nhanh chóng xác định được sự biến đổi về số lượng và cấu trúc của các gen so với gen (a) ban đầu, giành thời gian cho việc khai thác tìm tòi bản chất của đột biến gen. Đặc biệt qua 4 câu hỏi mang tính khám phá học sinh đã tích cực phát biểu xây dựng bài. Kết quả dưới sự hướng dẫn của thầy, học sinh đã nắm được các dạng đột biến gen và hiểu rõ bản chất của đột biến gen. Giáo viên chuyển mục 2 bằng cách đặt vấn đề: Vậy do đâu mà phát sinh đột biến gen? Hoạt động 2: Tìm hiểu nguyên nhân phát sinh đột biến gen. II-NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH ĐỘT BIẾN GEN. Mục này trong SGK chỉ có 4 dòng và thông thường giáo viên yêu cầu học sinh đọc thông tin mục 2 trong SGk rồi hỏi: Nguyên nhân gây đột biến? học sinh trả lời như SGK, sau đó giáo viên đọc lại cho HS chép. Như vậy chỉ sau khoảng 5 phút đã hoàn thành mục này và kết quả học sinh chẳng hiểu gì về cơ chế phát sinh đột biến gen. Để học sinh hiểu rõ được cơ chế phát sinh đột biến gen, giáo viên nên dùng những câu hỏi có tính chất tư duy để xây dựng sơ đồ hình thành kiến thức, như vậy học sinh vừa hứng thú trong việc ghi bài và hiểu rõ về cơ chế phát sinh đột biến gen. Trước hết giáo viên yêu cầu học sinh nghiên cứu thông tin mục 2 SGK. Hỏi: Những nguyên nhân nào gây đột biến gen? Giáo viên nhận xét, bổ sung và ghi bảng theo dạng sơ đồ. Hỏi: Tại sao các tác nhân này tác động vào ADN lại gây đột biến gen? Giáo viên vừa nhận xét, xác nhận và bổ sung để hoàn thiện sơ đồ : Môi trường ngoài: Tia phóng xạ, Tác nhân hoá chất... Gây rối gây đột loạn quá biến gen trình tự Đột biến gen. Môi trường trong: Các quá trình sinh lí, nhân đôi sinh hoá bị rối loạn. của ADN Hoạt động 3: Tìm hiểu vai trò của đột biến gen. III. VAI TRÒ CỦA ĐỘT BIẾN GEN: Đây là phần mà hầu hết giáo viên thường dạy theo phương pháp thuyết trình chỉ duy nhất có một câu hỏi như SGK: "Hãy quan sát các hình sau đây và cho biết: đột biến nào có lợi, đột biến nào có hại cho bản thân sinh vật hoặc đối với con người" và cho học sinh ghi hoặc là 1 dòng như phần kết luận của sách giáo khoa hoặc là ghi rất dài dòng theo nội dung phần III SGK gây nhàm chán cho học sinh, kết quả học sinh hầu như không nắm rõ tính chất biểu hiện của đột biến gen và hậu quả của nó. Về thực chất, muốn hiểu rõ kiến thức ở mục này phải trên cơ sở kiến thức đã học ở các bài trước, vì vậy giáo viên phải biết cách khai thác kiến thức mới từ các kiến thức đã được học bằng hệ thống câu hỏi mở, bằng sơ đồ để dẫn dắt học sinh tự rút ra kết luận, sử dụng phương pháp này tôi thấy học sinh rất hứng thú và hiểu rõ bản chất của vấn đề nêu ra. Hậu quả và tính chất biểu hiện của đột biến gen: Giáo viên yêu cầu một học sinh nhắc lại sơ đồ mối quan hệ giữa gen và tính trạng đã học ở bài 19. Giáo viên viết sơ đồ (kiểu chữ "nghiêng") lên bảng lường khoảng trống để trong quá trình học sinh khai thác kiến thức, giáo viên sẽ ghi tiếp để hoàn thiện sơ đồ (những chữ "đứng" là bổ sung sau). Sau khi viết sơ đồ (phần chữ "nghiêng"), giáo viên dẫn dắt học sinh tìm hiểu tính chất và hậu quả của đột biến gen: Hỏi: Qua sơ đồ em hãy suy nghĩ xem nếu gen cấu trúc bị biến đổi sẽ dẫn tới hậu quả như thế nào? ADN (gen ) đột biến mARN bị biến đổi Rối loạn quá trình sinh tổng hợp Prôtêin Tính trạng (kiểu hình) bị biến đổi. Giáo viên liên hệ thực tế: Nêu tác hại của bom nguyên tử do Mỹ thả xuống Nhật bản (tia phóng xạ), chất độc màu da cam (hoá chất) do Mỹ thả xuống Việt Nam trong chiến tranh; Việc sử dụng thuốc trừ sâu không đúng kỹ thuật...tác động vào gen gây ra nhiều bệnh nguy hiểm như dị dạng, câm điếc bẩm sinh.... Do đó phải mọi người phải có ý thức đấu tranh phòng chống, bảo vệ môi trường trong sạch. Để tìm hiểu vai trò của đột biến gen giáo viên yêu cầu học sinh nghiên cứu thông tin trong SGK, quan sát hình 21.2;21.3; 21.4 trong SGK. (có thể sưu tầm thêm một số tranh ảnh về tác hại và lợi ích của đột biến gen cho học sinh quan sát). Hỏi: Qua các hình quan sát và từ thực tế hãy cho biết những đột biến nào có lợi, đột biến nào có hại, vì sao? Giáo viên nhận xét, bổ sung và ghi bảng tóm tắt theo sơ đồ: Thường có hại. Đột biến gen Một số ít trung tính Một số ít có lợi Hỏi: Vì sao đột biến gen thường có hại cho cơ thể? Cho ví dụ cụ thể? Giáo viên dùng sơ đồ (vừa ghi trên) giảng giải và lấy ví dụ để làm rõ cơ chế. Hỏi: Đa số đột biến gen tạo ra các gen lặn, vậy chúng được biểu hiện ra kiểu hình khi nào? em hãy lấy một ví dụ cụ thể? Sau khi nhận xét câu trả lời của học sinh, giáo viên nêu rõ thêm :đột biến gen chỉ biểu hiện khi ở cơ thể đồng hợp và trong điều kiện môi rường thích hợp. Ví dụ: Đột biến gây bênh bạch tạng do một đột biến gen lặn gây ra tóc màu trắng, mắt màu hồng: P: Aa x Aa F: 3A- : 1aa Vì vậy tần số đột biến gen thấp, trong thực tế qua giao phối nếu gặp tổ hợp gen thích hợp một đột biến vốn có hại có thể trở thành có lợi; hoặc một số đột biến gen có hại cho sinh vật nhưng lại có lợi cho con người. Vai trò của đột biến gen: Giáo viên đặt vấn đề: Tuy một số ít đột biến gen có lợi nhưng nó có vai trò rất quan trọng, vì sao? Là nguồn nguyên liệu quan trọng trong quá trình tiến hoá và chọn giống. Giáo viên nêu một số thành tựu như: Đột biến tự nhiên cừu chân ngắn ở Anh làm chúng không nhảy qua hàng rào để phá vườn, đột biến giống lúa Tám thơm Hải Hậu tạo ra giống Tám thơm trồng được 2 vụ / năm trên nhiều điều kiện đất đai... Để củng cố bài, giáo viên dùng bảng phụ với nội dung bao quát các kiến thức cơ bản của bài học như sau: Câu 1: ĐIỀN VÀO CHỖ TRỐNG: Đột biến gen gây rối loạn................................................................................... .....................................................nên đa số đột biến gen thường....................... Câu 2: HÃY THỰC HIỆN BÀI TẬP SAU: Một đoạn gen có cấu trúc như sau: .......XGG - AAT - GXX - TTA - XGX - TAT .............. .......GXX - TTA - XGG - AAT - GXG - ATA .............. Đoạn gen này quy định...............axit amin trong cấu trúc bậc 1 của prôtêin. Nếu đoạn gen bị mất đi 3 cặp nuclêôtit kế tiếp nhau thì số axit amin là....... Phần III. KẾT LUẬN Với việc nghiên cứu kỹ chương trình SGK, đọc các tài liệu tham khảo bài "Đột biến gen'' đã đựơc chuẩn bị khá chu đáo, công phu. Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thức rằng: để hiểu hết ý định của người viết sách giáo khoa thật là không dễ, nhưng để truyền đạt những kiến thức cơ bản đó đến với học sinh với vai trò là người tổ chức, hướng dẫn để học sinh tự tìm tòi, phát hiện kiến thức càng khó khăn hơn. Ở bài học này, với các phương tiện dạy học đơn giản, dễ làm, dễ sử dụng, không tốn kém về thời gian lẫn vật chất mà học sinh lại hiểu rõ được cơ chế, nguyên nhân phát sinh đột biến gen và vai trò của đột biến gen thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở, học sinh tự rút ra kết luận chứ không bị áp đặt một cách máy móc. Bài soạn này, qua các đợt chuyên đề cũng đã được đồng nghiệp tham khảo thực hiện và đạt hiệu quả cao. Như vậy với suy nghĩ, cố gắng ban đầu tôi thấy rằng khi tập trung đầu tư công sức, kiến thức theo phương pháp tích cực vào bài dạy, học sinh tiếp thu bài một cách tích cực không thụ động và hứng thú hơn. Chính sự ham học của học sinh lại là động lực thúc đẩy giáo viên cần phải đổi mới tư duy, phương pháp dạy học phù hợp với SGK mới. Mỗi giờ học mà các em đạt kết quả cao đã thể hiện được phần nào tâm huyết của người dạy. BÀI HỌC KINH NGHIỆM Trước hết giáo viên phải thật sự là những người có trình độ kiến thức chuyên môn vững vàng, một vốn kiến thức thực tiễn phong phú và khả năng lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp với từng bài dạy; giáo án phải được chuẩn bị một cách đầy đủ, chi tiết, cụ thể: xác định mục đích, nội dung, phương pháp sử dụng, cách nêu vấn đề và giải quyết vấn đề như thế nào. Đặc biệt là phải xây dựng một hệ thống câu hỏi phù hợp hướng học sinh tìm hiểu để tháo gỡ từng vấn đề, sau khi học sinh trả lời câu hỏi nhất thiết giáo viên phải nhận xét đánh giá kết quả của các em, có thế mới động viên khuyến khích các em xây dựng bài học được tốt. Xin chân thành cảm ơn Diễn Kỷ, ngày 20 tháng 5 năm 2010 Người viết Lê Thị Hoa Hiệu trưởng trường THCS Diễn Kỷ Diễn Châu - Nghệ An

Bạn đang đọc nội dung bài viết Top 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Thành Công Nhất / 2023 trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!