Đề Xuất 12/2022 # Tiểu Sử Và Quan Điểm Nghệ Thuật Nhà Văn Nam Cao / 2023 # Top 12 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 12/2022 # Tiểu Sử Và Quan Điểm Nghệ Thuật Nhà Văn Nam Cao / 2023 # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tiểu Sử Và Quan Điểm Nghệ Thuật Nhà Văn Nam Cao / 2023 mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nam Cao – Thông tin tiểu sử Nhà văn Nam Cao 

Nam Cao là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học hiện thực Việt Nam(1930-1945) .Với 15 năm cầm bút, Nam Cao đã để lại cho công chúng những tác phẩm vô cùng xuất sắc,những quan điểm nghệ thuật vô cùng sâu sắc và giá trị

Có thể nói Ông đã xây dựng nên những nhân vật đã trở thành hình ảnh kinh điển trong văn học Việt Nam. Đó là những người nông dân bị đẩy vào bước đường cùng trở nên bần cùng,bất hạnh như Lão Hạc. Hay là tên lưu manh ,nát rượu chuyên rạch mặt ăn vạ  như Chí Phèo. Là người phụ nữ ngờ nghệch ,xấu xí tận cùng như Thị Nở…

Đó cũng có thể là những trí thức nghèo vật lộn trong cuộc đấu tranh giữa lương tâm nghệ thuật và nhu cầu cơm áo như anh giáo Thứ,nhân vật Hộ…Nam Cao luôn trăn trở với những số phận bất hạnh trong xã hội , những trang viết của ông luôn bám sát vào hiện thực cuộc sống. Bởi ông luôn tâm niệm một điều rằng: “Nghệ thuật vị nhân sinh”.Nghệ thuật chân chính trước hết là phải phục vụ con người.

Tiểu sử nhà văn Nam Cao

Nam Cao sinh năm 1917 tên thật là Trần Hữu Tri. Ông sinh ra  tại Hà Nam,trong một gia đình công giáo bậc trung. Ông đã từng trải qua rất nhiều công việc mưu sinh khác nhau. Từ làm thư ký cho một hiệu may,dạy học ở trường tư,viết báo kiếm sống.

Ban đầu ,Nam Cao đến với văn chương chỉ vì mục đích mưu sinh.Ông viết để kiếm nhuận bút nuôi sống bản thân và gia đình. Thế nhưng có lẽ tài năng của ông đã khiến cho văn chương không chỉ còn là cái nghề mà đã trở thành nghiệp trong cuộc đời ông: “Nghiệp văn chương”. Kể từ đó Nam Cao đã ghi dấu ấn vô cùng lớn trong giới cầm bút thời bấy giờ với một loạt tác phẩm xuất sắc.

Mở đầu là truyện ngắn “Đôi lứa xứng đôi” vào năm 1941 hay còn gọi là “Cái lò gạch cũ” hoặc “Chí Phèo”.Truyện ngắn này được coi là một hiện tượng văn học thời đó với một cách tiếp cận vô cùng mới mẻ và đặc biệt của một nhà văn còn non trẻ về tuổi nghề.

Chí Phèo và Thị Nở ,hai nhân vật mà ông xây dựng nên với những cái xấu xí tận cùng cả về hình thức lẫn nhân cách.Thế nhưng ,ngòi bút nhân văn của Nam Cao đã khiến cho người đọc tiếp cận tới những khía cạnh khác của con người,của phần “Người” nằm sâu xa đâu đó trong phần “Con” của nhân vật.Ông phản ánh hiện thực thực đến trần trụi nhưng ẩn sâu trong đó là cả một sự đồng cảm với những phận người thấp bé dưới đáy của xã hội.

Sau truyện ngắn Chí Phèo ,một loạt tác phẩm sau đó của ông đều gây được tiếng vang lớn .Với: Lão Hạc ,Giăng Sáng,Đôi Mắt,Một Bữa No,Lang Rận ,Sống Mòn….đã đưa tên tuổi của ông lên một tầm cao mới,xứng đáng là một đại diện tiêu biểu của nền văn học hiện thực phê phán Việt Nam bên cạnh những tên tuổi lớn thời bấy giờ như Nguyễn Công Hoan,Vũ Trọng Phụng ,Ngô Tất Tố….

Năm 1951,trong  một lần đi công tác ông đã bị địch phục kích  và hy sinh .Sự ra đi của Nam Cao để lại vô vàn tiếc nuối trong lòng công chúng .Thế nhưng ,Nam Cao đã sống trọn vẹn cuộc đời  mình với tư cách một nhà văn ,nhà báo và một chiến sĩ cách mạng.Ông đã để lại hơn 60 truyện ngắn và hai tiểu thuyết…Trong đó đều là  những tác phẩm có giá trị cả về nội dung và nghệ thuật:

-Truyện ngắn: Lang Rận, ,Lão Hạc, Chí Phèo,Một bữa no,Giăng Sáng,Tư cách mõ,Một đám cưới…

-Tiểu thuyết: Sống mòn,Truyện người hàng xóm

-Bút ký: Đường vô Nam,Nhật ký ở rừng.

Quan điểm nghệ thuật của nhà văn Chí Phèo

Để định hình được phong cách sáng tác và đạt được đỉnh cao trong văn học hiện thực như lúc bấy giờ. Nam Cao cũng đã trải qua trào lưu lãng mạn đương thời ( cái mà sau này ông nhận ra là không phù hợp) với các tác phẩm : Nghèo,Đui mù,Những cánh hoa tàn…Thế nhưng qua quá trình chiêm nghiệm thực tế ông đã nhận ra một chân lý rằng “ Nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối…” .

Câu văn nổi tiếng trong truyện ngắn”Giăng Sáng” trở thành tuyên ngôn nghệ thuật của chính nhà văn. Đã đánh dấu bước ngoặt trong nghiệp cầm bút của ông.Sáng tác của ông dựa trên những quan điểm:

Nghệ thuật vị  nhân sinh

Ông xác định điều  này khi nhìn vào cuộc sống và tình hình đất nước. Trong thời kỳ đất nước khó khăn ,đời sống nhân dân vô cùng cực khổ,lầm than. Chế độ thực dân nửa phong kiến tồi tệ và thối nát. Với thực tế đó ,đòi hỏi người cầm bút – những người được gọi là tầng lớp trí thức phải tham gia vào đấu tranh. Lên án những bất công trong xã hội, phản ánh hiện thực khổ đau của người dân để đồng cảm xót thương hơn cho số phận của họ.

Nghệ thuật không nên lãng mạn rời xa thực tế mà phải luôn bám sát vào đời sống của con người. Nghệ thuật sinh ra từ những chất liệu của cuộc sống và quay trở lại phục vụ con người ,phục vụ cuộc sống. “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật có thể chỉ là những tiếng đau khổ kia thốt ra từ những kiếp lầm than”.

Sống đã rồi hãy viết

Một quan điểm vô cùng đúng đắn và có giá trị  mà Nam Cao đã đề ra. Một khi nhà văn cầm bút để vẽ lên một nhân vật nào đó thì đòi hỏi phải hiểu về cuộc sống ,tính cách cũng như những điều sâu xa trong tâm hồn của họ. Đôi mắt của nhà văn phải nhìn mọi việc một cách đa chiều trên nhiều phương diện.

Nếu viết về đề tài người nông dân,ít nhất nhà văn cũng phải trải qua cuộc sống đó hoặc hiểu rõ về tầng lớp này thì mới có thể viết lên những trang văn chân thực.Nhà văn trước hết phải trải đời ,có nhiều kinh nghiệm cuộc sống thì mới có thể hiểu hết những ngóc ngách trong cuộc sống.

Nghệ thuật đòi hỏi phải sáng tạo

Với Nam Cao văn chương chính là hiện thực cuộc sống .Chính bởi điều này chúng ta bắt gặp trong những trang viết của ông là những phận người rất đời thực ,những câu chuyện thật xuất phát từ chính cuộc sống hàng ngày.Thế nhưng ,tính hiện thực phải được kể một cách sáng tạo và mới mẻ chứ không rập khuôn ,máy móc ,khô cứng.

Đây là một điểm vô cùng đặc biệt trong phong cách sáng tác của Nam Cao.Ông đã từng khẳng định điều này trong truyện ngắn “Đời thừa”:“Văn chương không cần những người thợ khéo tay làm theo một và kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những ai biết đào sâu, biết tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa có”.

Nhà văn phải có trách nhiệm với những gì mình viết

Văn chương đi lên từ hiện thực, ảnh hưởng tới cuộc sống. Bởi vậy khi cầm bút viết ra bất cứ điều gì nhà văn cũng phải suy xét cẩn thận và tận tâm .Viết bằng cả trái tim và khối óc của mình. Trong “Đời thừa” ông đã viết :“Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”.

Các đề tài chính của nhà văn Nam Cao

Trong  những tác phẩm của Nam Cao ,ông viết rất nhiều về những phận đời trong xã hội. Trong đó tập trung vao hai đề tài chính:

Người nông dân nghèo

Người nông dân trong những trang viết của Nam Cao là tầng lớp thấp bé và bị đối xử bất công nhất trong xã hội. Khác với những nhà văn đương thời đều phản ánh những khổ đau,đói khát ,túng quẫn của người nông dân thì Nam Cao lại có một cách tiếp cận vô cùng khác biệt. Cũng là người nông dân nghèo khổ ,bất hạnh đó nhưng ông đã tìm thấy những nét lương thiện trong sâu thẳm con người của họ.

Họ bị cả xã hội rẻ rung ,bị đẩy vào bước đường cùng trở nên lưu manh ,tha hóa.Bi kịch của họ chính là do chế độ thối nát ,họ bị đàn áp bóc lột dã man.Thế nhưng cho dù xấu xa ,tha hóa tới cỡ nào thì ẩn sâu trong họ cũng có những nét tốt đẹp đáng trân trọng.Họ cũng có những ước mơ đơn thuần ,giản dị  về mái ấm gia đình ,cũng khát khao trở thành người lương thiện.

Nhân vật Chí Phèo chính là hiện thân cho tấn bi kịch này. Chí Phèo trở nên cục súc ,chuyên rạch mặt ăn vạ do từ đâu mà ra ? Chí cũng khát khao một cuộc sống bình thường như bao nhiêu người khác nhưng “Ai cho tôi lương thiện” . Câu nói của nhân vật Chí Phèo cũng chính là suy nghĩ của nhà văn, ông đề cao quyền sống của con người và khát khao được làm một con người chân chính.

Người trí thức nghèo khó

Đây có lẽ là đề tài ám ảnh và trăn trở  nhất của Nam Cao.Ông tập trung miêu tả cuộc khủng hoảng tinh thần của những người tri thức đương thời. Đó có thể là những nhà văn như Nam Cao,những ông giáo khổ trường tư vật lộn trong cuộc đấu tranh giữa lương tâm nghệ thuật và nhu cầu cơm áo. Là khát khao được sống với đam mê, được cầm bút để viết lên những trang viết hay nhưng lại bị gánh nặng cơm áo hằng ngày bóp nghẹt. Là sự túng quẫn ,chật vật trong cái nghèo để những hoài bão của cuộc đời chết dần chết mòn theo năm tháng.Để rồi sống một cuộc đời thừa thãi ,nhạt nhẽo,héo mòn như “Đời thừa” ,”Sống mòn”….

Trong xã hội đương thời ,khi mà thân phận những người trí thức tiểu tư sản như Nam Cao chỉ nhỉnh hơn tầng lớp nông dân một chút, họ không được coi trọng và ngược lại còn bị đối xử bất công.Tấn bi kịch tinh thần đó gây nên một cuộc khủng hoảng sâu rộng trong cuộc sống,khiến những người trí thức “Sống mà như đã chết.”

Tiểu Sử, Quan Điểm, Sự Nghiệp Sáng Tác Cùng Phong Cách Nghệ Thuật Của Xuân Quỳnh / 2023

– Xuân Quỳnh (1942 – 1988) tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh.

– Quê quán: La Khê – thành phố Hà Đông – Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).

– Xuất thân trong một gia đình công chức, mẹ mất sớm, bố thường xuyên công tác xa gia đình, bà được bà nội nuôi dạy từ nhỏ đến khi trưởng thành.

– Tháng 2 năm 1955, Xuân Quỳnh được tuyển vào Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và được đào tạo thành diễn viên múa.

– Bà đã nhiều lần đi biểu diễn ở nước ngoài và dự Đại hội thanh niên sinh viên thế giới năm 1959 tại Vienna (Áo).

– Từ năm 1962 đến 1964, Xuân Quỳnh học Trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ ( khoá I ) của Hội Nhà văn Việt Nam.

– Sau khi học xong, làm việc tại báo Văn nghệ, báo Phụ nữ Việt nam.

– Xuân Quỳnh là hội viên từ năm 1967, ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá III.

– Năm 1973, Xuân Quỳnh kết hôn với nhà viết kịch, nhà thơ Lưu Quang Vũ, trước đó, Xuân Quỳnh kết hôn lần đầu tiên với một nhạc công của Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và đã ly hôn.

– Xuân Quỳnh mất ngày 29 tháng 8 năm 1988 trong một tai nạn giao thông tại đầu cầu Phú Lương, thị xã Hải Dương (nay là thành phố), tỉnh Hải Dương, cùng với chồng Lưu Quang Vũ và con trai Lưu Quỳnh Thơ mới 13 tuổi.

2. Sự nghiệp sáng tác a. Tác phẩm chính

– Hoa dọc chiến hào (1968); Gió Lào cát trắng (1974) ; Tự hát (1984); Hoa cỏ may (1989),…

b. Phong cách sáng tác

– Thơ Xuân Quỳnh giàu cảm xúc với những cung bậc khác nhau như chính tính cách luôn hết mình của Xuân Quỳnh.

– Thơ bà là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường.

3. Vị trí và tầm ảnh hưởng của tác giả

– Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ.

chúng tôi

Phong Cách Sáng Tác Của Nhà Văn Nam Cao / 2023

1. Cuộc đời. – Tên của nhà văn là Trần Hữu Tri. Nam Cao là bút danh. Bút danh đó được ghép giữa chữ đầu của tên huyện và tên tổng. – Quê quán: Làng Đại Hoàng, phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam. Nam Cao sinh ra ở vùng đồng chiêm trũng Bắc Bộ. Vùng quê đó đi vào sáng tác của Nam Cao với tên làng Vũ Đại. – Gia đình: Nam Cao xuất thân trong gia đình nông dân nghèo, đông con. Cuộc sống túng thiếu của gia đình được diễn tả nhiều lần trong tác phẩm của ông. – Cuộc đời: Làm nhiều nghề để mưu sinh, nên giàu vốn sống. Trang viết của Nam Cao chân thực. Ông tham gia cách mạng, anh dũng hi sinh năm 1951. Nam Cao đã sống cuộc đời của một nhà văn, nhà giáo, nhà báo, cuộc đời của một chiến sĩ cách mạng. 2. Con người. Con người nhà văn Nam Cao có ba đặc điểm chi phối đến sáng tác của ông. – Nhà văn Nam Cao mang tâm trạng bất hoà sâu sắc đối với xã hội đương thời. – Giàu ân tình đối với những người nghèo khổ. – Nhà văn Nam Cao luôn suy tư về bản thân, tự đấu tranh để tự vượt lên chính mình. Bề ngoài tỏ ra lạnh lùng nhưng bên trong đời sống nội tâm phong phú. 3. Quan điểm nghệ thuật. Trước cách mạng Nam Cao gián tiếp trình bày quan điểm sáng tác thông qua hai tác phẩm “Đời thừa” và “Giăng sáng”. Thông qua hai tác phẩm này, Nam Cao quan niệm: – Văn học phải chân thực, phản ánh đúng bản chất cuộc sống. Quan điểm này được trình bày qua lời của Điền trong truyện “Giăng sáng”. Trong truyện “Giăng sáng”, nhà văn Điền phát biểu: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật có thể chỉ là những tiếng đau khổ kia thốt ra từ những kiếp lầm than”. – Nghề văn cần sáng tạo. Nhà văn Hộ trong truyện “Đời thừa” phát biểu: “Văn chương không cần những người thợ khéo tay làm theo một và kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những ai biết đào sâu, biết tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa có”. Hộ quan niệm: Văn chương phản ánh cuộc sống nhưng không nên sao chép y nguyên hiện thực cuộc sống. Nhà văn cần phải sáng tạo. – Nhà văn cần có trách nhiệm với cuộc sống. Văn sĩ Hộ trong “Đời thừa” coi trọng trách nhiệm của nhà văn đối với cuộc sống “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”. Quan điểm của nhân vật Hộ, của nhân vật Điền cũng chính là quan điểm sáng tác của Nam Cao. Sau cách mạng, quan điểm sáng tác của Nam Cao có sự thay đổi. Nam cao cho rằng: – Cuộc sống phải đặt trên văn chương, văn chương phải vì con người. – Văn chương là vũ khí đấu tranh cách mạng. 4. Sự nghiệp văn học. Nam Cao đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại 60 truyện ngắn, 1 tiểu thuyết. a. Các đề tài chính. Trước cách mạng, nhà văn Nam Cao sáng tác tập trung ở hai mảng đề tài: Đề tài người trí thức nghèo và đề tài người nông dân nghèo. – Đề tài người trí thức nghèo. Các tác phẩm tiêu biểu: Đời thừa, giăng sáng, sống mòn. Viết về người trí thức, Nam Cao diễn tả tấn bi kịch tinh thần của họ. Nhân vật về người trí thức của Nam Cao là nhà văn, nhà giáo. Họ sống có mơ ước cao đẹp, có lí tưởng lớn lao nhưng hiện thực cuộc sống không cho phép họ thực hiện niềm mơ ước đó. Nhân vật người trí thức trong truyện của Nam Cao phải sống cuộc sống vô ích, trở thành những con người thừa. Thầy giáo Thứ trong tiểu thuyết Sống mòn đã ý thức được bi kịch của cuộc đời mình: “Nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!”, “Chết là thường. Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã”. Tập trung diễn tả bi kịch của người trí thức, Nam Cao lên án hiện thực xã hội đã giết chết niềm mơ ước của con người. – Đề tài người nông dân nghèo. Các tác phẩm tiêu biểu: Chí Phèo, một bữa no, tư cách mõ. Viết về người nông dân, Nam Cao diễn tả sự tha hóa, biến chất của họ. Sự áp bức, bóc lột, cái đói đã đẩy người nông dân vào tình cảnh túng quẩn, bần cùng. Họ đánh mất cả tính người lẫn hình người. Viết về bi kịch của người nông dân, Nam Cao kết tội chính sự tàn bạo của giai cấp thống trị đã hủy diệt bản tính tốt đẹp của người dân lao động. Nhà văn sâu sắc khám phá, khẳng định vẻ đẹp của con người ngay cả khi họ bị vùi dập, bị cướp đi nhân tính lẫn nhân hình. Viết về người trí thức hay viết về người nông dân, Nam Cao đều đề cao quyền sống của con người Sau cách mạng, Nam Cao dùng ngòi bút để phục vụ kháng chiến. Các tác phẩm chính: “Nhật kí ở rừng”, “Đôi mắt”, “Chuyện biên giới”. b. Phong cách nghệ thuật. – Nam Cao có sở trường trong việc miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật. – Ngôn ngữ truyện của Nam Cao tự nhiên, sinh động. – Nam Cao thành công trong việc xây dựng những đoạn đối thoại, những dòng độc thoại nội tâm. – Văn Nam Cao lạnh lùng, giàu tính triết lí.

Những tin cũ hơn

Hoa Sen Trong Nghệ Thuật Trang Trí Việt Nam / 2023

Không biết chính xác tự bao giờ, hoa sen – loài hoa đẹp mang nhiều ý nghĩa thâm thúy đã đi vào tâm tưởng của người Việt. Sen xuất hiện trong suốt chiều dài lịch sử đất nước như một biểu tượng cho phẩm chất thanh cao, tinh khiết và cao quý. Trong ca dao xưa, sen từng được ca ngợi là loài hoa đẹp có cốt cách trong sáng, “xuất nê bất nhiễm” dù sống nơi bùn lầy vẫn vươn lên tỏa hương sắc làm đẹp cho đời:

“Trong đầm gì đẹp bằng sen

 Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

 Nhị vàng bông trắng lá xanh

 Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”

 

Sen như một biểu tượng văn hóa bén rễ sâu trong tâm thức người Việt. Do thế mà hình ảnh của hoa sen gần như là phổ biến, xuất hiện thường trực trong những đồ án trang trí. Những hiện vật của một thời quá khứ còn lại cho đến nay đã cho thấy nhiều hình ảnh phong phú về cách thể hiện hoa sen của các thế hệ nghệ nhân. Cũng vì thế mà sen chính là đề tài được các nghệ nhân dành cho sự ưu ái khi trang trí trên các sản phẩm.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tiểu Sử Và Quan Điểm Nghệ Thuật Nhà Văn Nam Cao / 2023 trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!