Đề Xuất 12/2022 # Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh, Trang 9 Sgk Ngữ Văn Lớp 11 / 2023 # Top 15 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 12/2022 # Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh, Trang 9 Sgk Ngữ Văn Lớp 11 / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh, Trang 9 Sgk Ngữ Văn Lớp 11 / 2023 mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tác phẩm văn học Vào phủ Chúa Trịnh là một trong những bài học đầu tiên của chương trình Ngữ Văn lớp 11. Vì thế, các em học sinh cần có sự chuẩn bị Soạn bài Vào phủ Chúa Trịnh thật tốt để nắm được nội dung, ý nghĩa của tác phẩm cũng như các bài học tiếp theo một cách đầy đủ

SOẠN BÀI VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH, ngắn 1

(Trích Thượng kinh kí sự- Kí sự đến kinh đô)LÊ HỮU TRÁC

1. Soạn bài vào phủ Chúa Trịnh ngắn nhất

* Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả : từ ngoài vào trong

Qua mấy lần cửa đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương.

Đi được vài trăm bước, qua mấy lần cửa mới đến cái điếm “Hậu mã quân túc trực”. Trong điếm cột và bao lơn lượn vòng, kiểu cách thật là xinh đẹp.

Qua dãy hành lang phía tây, đến một cái nhà lớn cao và rộng. Tất cả đồ dùng trong phòng đều được sơn son thiếp vàng. Trước sập và hai bên, bày bàn ghế, những đồ đặc nhân gian chưa từng thấy.

* Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa:

Có rất nhiều người phục dịch trong phủ Chúa, trong “phòng trà” có đến bảy, tám người phục dịch.

Thấy quan Chánh đường đến, tất cả đều đứng dậy. Quan Chánh đường ngồi ghế trên, ở dưới mọi người ngồi theo thứ tự.

Trong bữa cơm: mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ,…

Tất cả đều được làm theo lệnh thông qua quan Chánh đường

⇒ Khung cảnh hết sức trang nghiêm thể hiện uy quyền của phủ Chúa

* Cách nhìn và thái độ của tác giả đối với đời sống nơi phủ chúa:

Thông qua những lời nhận xét trong tác phẩm tác giả Lê Hữu Trác đã ngầm thái độ của chính ông về sự xa hoa, phù phiếm ở phủ Chúa.

Lê Hữu Trác không đồng tình với cách sống nơi phủ Chúa. Đó là cách sống hưởng lạc xa xỉ, đầy tiện nghi nhưng đổi lại đó cũng chính là cuộc sống thiếu sinh khí, mất tự do.

Câu 2: Đoạn trích có nhiều chi tiết nghệ thuật rất “đắt”, thể hiện nổi bật nội dung hiện thực của tác phẩm:

Tuy không được gặp trực tiếp Thánh thượng, nhưng qua một cái màn che quan Chánh đường truyền lệnh cho Lê Hữu Trác lạy bốn lạy

Thế tử cười: ông này lạy khéo !

Chi tiết tác giả đi vào nơi ở của thế tử để xem mạch: “Ở trong tối om, không có cửa ngõ gì cả. Đi qua độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy …”.

⟹ Lời văn của tác giả miêu tả cuộc sống xa hoa của phủ chúa Trịnh rất tự nhiên, không hề có chút phóng đại, cường điệu nào.

Câu 3: Qua cách chẩn đoán và chữa bệnh của Lê Hữu Trác cùng những diễn biến khi kê đơn đã cho ta thấy những phẩm chất của một người thầy thuốc giỏi:

– Là thầy thuốc có lương tâm, đức độ.

– Là người thầy thuốc già dặn kinh nghiệm và có bản lĩnh, có chính kiến.

– Ông coi thường danh lợi, yêu thích cuộc sống giản dị, tự do, thanh cao…

Câu 4: Thành công của đoạn trích phải kể đến bút pháp kí sự vô cùng đặc sắc của Lê Hữu Trác.

– Là sự xen kẽ rất tự nhiên của lời kể và lời bình.

– Kết hợp giữa tả cảnh và thể hiện tâm tư chân thực, sinh động.

– Những câu văn mang ý nghĩa sâu sắc ẩn chứa sắc thái mỉa mai của người viết đối với sự xa hoa quá mức của phủ chúa.

Ngoài nội dung ở trên, các em có thể tìm hiểu thêm phần Soạn bài Tự tình cũng như Phân tích bài thơ Tự tình để nâng cao kiến thức Ngữ Văn 11.

Anh (chị) hãy cho biết thái độ, tâm trạng và những suy nghĩ của tác giả khi “Vào phủ chúa Trịnh”? Hình ảnh của bậc lương y gợi cho anh (chị) những suy nghĩ gì?a) – Trước những cảnh được chứng kiến trong phủ Chúa Trịnh, Lê Hữu Trác không bộc lộ trực tiếp thái độ, nhưng qua ngòi bút ghi chép hiện thực sắc sảo, có thể thấy phần nào thái độ của người viết. .+ Chứng kiến tận mắt cảnh phủ chúa xa hoa lộng lẫy, tác giả nhận xét “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn người thường”. Trong bài thơ, ông viết “Cả trời Nam sang nhất là đây”.+Khi được mời ăn cơm, tác giả nhận xét “mâm vàng, chén bạc, đồ ăn là của ngon vật lạ, tôi bấy giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia”.+ Đường vào nội cung của thế tử được nhận xét là “ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả”. Cảnh nội cung cũng được miêu tả chi tiết như củng cố thêm cho những nhận xét của tác giả.+ Nói về bệnh trạng của thế tử, tác giả nhận xét “vì thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm, nên tạng phủ yếu đi.– Qua một số chi tiết trên, có thể thấy rằng, mặc dù khen cái đẹp, cải sang nơi phủ chúa, nhưng tác giả tỏ ra dửng dưng trước những quyến rũ vật chất này, và không đồng tình với cuộc sống quá xa hoa phung phí chốn thâm cung.– Diễn biến tâm trạng của Lê Hữu Trác khi chữa bệnh cho thể tử Trinh C diễn ra khá phức tạp,+ Lê Hữu Trác hiểu rõ căn bệnh của thế tử, đưa ra những chấn đoán hơn : thuyết phục và có cách chữa bệnh đúng, nhưng lại sợ chưa có hiệu quả ngay sẽ được chứa tin dùng, bị công danh trói buộc. Để tránh sự luỵ phiền này, bậc. lương y chọn đối sách là chữa bệnh cầm chừng, cho thuốc vô thưởng vô phạt.+ Nhung ngay lập tức, Lê Hữu Trác lại có suy nghĩ, nếu làm như thế thì lại trả Với y đức, trái với lương tâm người thầy thuốc chân chính, phụ lòng kì vọng của cha ông.+ Hai suy nghĩ này giằng co, xung đột nhau. Cuối cùng, lương tâm, phẩm chất trung thực của người của người thầy thuốc đã thắng. Lê Hữu Trác đã gạt sang một bên những toan tính riêng tư để làm tròn trách nhiệm.– Mặc dù quan Chánh đường ngần ngại, đa số thầy thuốc ở phủ chúa tỏ ý không đồng tình, nhưng Lê Hữu Trác vẫn thẳng thắn đưa ra cách chữa bệnh riêng và kiên quyết bảo vệ chính kiến của mình. Điều này cho thấy bản lĩnh và tài năng y thuật của ông.b) Những chi tiết về việc chữa bệnh của Lê Hữu Trác đã cho ta thấy ông là một thầy thuốc giỏi, có kiến thức sâu rộng và già dặn kinh nghiệm..– Bên cạnh tài năng, ông còn là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ.– Đó là phẩm chất cao quý của một con người coi thường lợi danh, quyền quý. Mặc dù tận mắt chứng kiến sự quyến rũ của vật chất giàu sang và việc hưởng thụ đang nằm trong tầm tay nhưng ông vẫn dửng dưng không mảy may rung động. Tâm hồn Lê Hữu Trác luôn hướng về cảnh trời tự do và nếp sống thanh đạm giản dị nơi quê nhà.– Tư tưởng chủ đạo bao trùm toàn bộ tác phẩm là thái độ “chối bỏ” của tác giả đối với xã hội phong kiến đương thời.– Là nét tâm lí tiêu biểu cho một số trí thức có nhân cách lúc bấy giờ. Họ chán con đường công danh, muốn xa lánh cảnh đời ô trọc, quay lưng lại sự mời mọc của giai cấp phong kiến để giữ mình cho trong sạch. . – Song ở Lê Hữu Trác, cách giải quyết không giống như một số nhà nho quay về ở ẩn là tìm thú vui trong cảnh nhàn, tìm lãng quên trong rượu và cảnh trí thiên nhiên. Ông biết tìm một giải pháp tích cực: “làm thuốc giỏi chẳng hơn là tu tiên tu Phật sao” (Tựa Y tông tâm lĩnh), và ông đã dám dứt bỏ công danh về sống giữa lòng nhân dân.

SOẠN BÀI VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH, ngắn 2

(Trích Thượng kinh kí sự- Kí sự đến kinh đô)LÊ HỮU TRÁC

* Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả : từ ngoài vào trong

Qua mấy lần cửa đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương.

Đi được vài trăm bước, qua mấy lần cửa mới đến cái điếm “Hậu mã quân túc trực”. Trong điếm cột và bao lơn lượn vòng, kiểu cách thật là xinh đẹp.

Qua dãy hành lang phía tây, đến một cái nhà lớn cao và rộng. Tất cả đồ dùng trong phòng đều được sơn son thiếp vàng. Trước sập và hai bên, bày bàn ghế, những đồ đặc nhân gian chưa từng thấy.

* Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa:

Có rất nhiều người phục dịch trong phủ Chúa, trong “phòng trà” có đến bảy, tám người phục dịch.

Thấy quan Chánh đường đến, tất cả đều đứng dậy. Quan Chánh đường ngồi ghế trên, ở dưới mọi người ngồi theo thứ tự.

Trong bữa cơm: mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ,…

Tất cả đều được làm theo lệnh thông qua quan Chánh đường

⇒ Khung cảnh hết sức trang nghiêm thể hiện uy quyền của phủ Chúa

* Cách nhìn và thái độ của tác giả đối với đời sống nơi phủ chúa:

Thông qua những lời nhận xét trong tác phẩm tác giả Lê Hữu Trác đã ngầm thái độ của chính ông về sự xa hoa, phù phiếm ở phủ Chúa.

Lê Hữu Trác không đồng tình với cách sống nơi phủ Chúa. Đó là cách sống hưởng lạc xa xỉ, đầy tiện nghi nhưng đổi lại đó cũng chính là cuộc sống thiếu sinh khí, mất tự do.

Câu 2: Đoạn trích có nhiều chi tiết nghệ thuật rất “đắt”, thể hiện nổi bật nội dung hiện thực của tác phẩm:

Tuy không được gặp trực tiếp Thánh thượng, nhưng qua một cái màn che quan Chánh đường truyền lệnh cho Lê Hữu Trác lạy bốn lạy

Thế tử cười: ông này lạy khéo !

Chi tiết tác giả đi vào nơi ở của thế tử để xem mạch: “Ở trong tối om, không có cửa ngõ gì cả. Đi qua độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy …”.

⟹ Lời văn của tác giả miêu tả cuộc sống xa hoa của phủ chúa Trịnh rất tự nhiên, không hề có chút phóng đại, cường điệu nào.

Câu 3: Qua cách chẩn đoán và chữa bệnh của Lê Hữu Trác cùng những diễn biến khi kê đơn đã cho ta thấy những phẩm chất của một người thầy thuốc giỏi:

– Là thầy thuốc có lương tâm, đức độ.

– Là người thầy thuốc già dặn kinh nghiệm và có bản lĩnh, có chính kiến.

– Ông coi thường danh lợi, yêu thích cuộc sống giản dị, tự do, thanh cao…

Câu 4: Thành công của đoạn trích phải kể đến bút pháp kí sự vô cùng đặc sắc của Lê Hữu Trác.

– Là sự xen kẽ rất tự nhiên của lời kể và lời bình.

– Kết hợp giữa tả cảnh và thể hiện tâm tư chân thực, sinh động.

– Những câu văn mang ý nghĩa sâu sắc ẩn chứa sắc thái mỉa mai của người viết đối với sự xa hoa quá mức của phủ chúa.

https://thuthuat.taimienphi.vn/soan-bai-vao-phu-chua-trinh-38483n.aspx Như vậy chúng tôi đã gợi ý Soạn bài Vào phủ Chúa Trịnh bài tiếp theo, các em chuẩn bị trả lời câu hỏi SGK, Soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân và cùng với phần Soạn bài Viết bài làm văn số 1: Nghị luận xã hội để học tốt hơn

Soạn Văn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Lớp 11 / 2023

Soạn văn bài vào phủ Chúa Trịnh lớp 11 – Bài số 1

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Tác giả

a) Cuộc đời:

Lê hữu trác là người làn Liên Xá, huyện Đường Hòa, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương.

Tên hiệu là Hải Thượng Lãn Ông ( nghĩa là ông già lười ở đất thượng Hồng ) Lười làm quan và biếng danh lợi

Gia đình ông có truyền thống học hành và thi cử đỗ đạt làm quan.

b) Sự nghiệp:

Ngoài tài chữa bệnh, ông còn là người soạn sách, truyền bá y học…

Bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 66 quyển biên soạn trong 60 năm được coi là tác phẩm y học xuất sắc nhất trong thời Trung đại.

2. Tác phẩm ” Thượng kinh ký sự: ( 1782)

Đây là quyển cuối cùng trong bộ Hải thượng y tông tâm lĩnh, đánh dấu về sự phát triển của văn học Văn xuôi tiếng Việt, thể ký)

Tác phẩm ghi nhận những điều mắt thấy tai nghe khi tác giả được mời vào kinh chữa bệnh cho thế tử Cán cho tới khi ông về lại Hương Sơn.

3. Vị trí đoạn trích:

Đoạn trích ghi lại thời điểm: sau khi ông vào kinh, đang tá túc ở tại nhà Quận Huy Hoàng Đình Bảo thì được mời vào phủ chía Trịnh xem bệnh cho thế tử Cán. Đây là lần đầu ông bước chân vào chốn này.

II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:

1) Quang cảnh, cung cách sinh hoạt trong phủ Chúa

a) Quang cảnh trong phủ chúa

+ Quang cảnh trong đây được miêu tả cực kỳ lộng lẫy, tráng lệ, không đâu có thể sánh bằng.

+ Cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm.

+ Những ” đại đường”, “Quyển bồng” với kiệu son võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng

+ Nội cung qua năm sáu lần trướng gấm, mà là, sập vàng, ghế rồng, đèn sáng lấp lánh, hương hoa ngào ngạt…

( màu sắc, đường nét, hương sắc của vườn cây, lầu son gác tía, mân vàng chén bạc, sơn hào hải vị…)

* Tác giả là con quan, đã từng nhiều lần vào tử cấm thành nhưng giờ đây vẫn ngỡ ngàng trước quang cảnh nơi phủ chúa…

b) Cung cách sinh hoạt

-Cách nói năng:

+ Trịnh Sâm thì dùng từ thánh chỉ(4 lần), thánh thượng(3 lần)

+Trịnh Cán thì:Thánh thể(1lần)

+ Các chức sắc trong phủ: Quan chánh đường, các vị lương y, của sáu cung ba viện, kẻ truyền tin đông đảo nhộn nhịp.

+ Phủ chúa ra vào phải có thẻ

+ Lương y khám bệnh cũng phải lạy bốn lạy, xin phép mới được cởi áo thế tử…

+ Xung quanh chúa là các cung tần phi nữ, trướng rủ màn che,

c) Thái độ của tác giả đối với cuộc sống nơi phủ chúa

+ Tác giả dửng dưng trước những quyến rũ về vật chất, cảnh sống xa hoa bởi vì nó được xây bằng xương bằng máu của nhân dân.

+ Tác giả không đồng tình với cuộc sống quá no đủ phè phỡn tiện nghi nhưng thiếu khí trời và cả không khí tự do.

Tóm lại:

Qua cách nói mỉa mai châm biếm của tác giả, chúng ta thấy được sự lộng quyền của nhà chúa đối với quyền tối thượng và cả nếp sống hưởng thụ cực kỳ xa hoa của chúa Trịnh cùng với gia đình, sự thật bù nhìn của tên vua Lê khi đó.

2) Thế tử Cán và thái độ con người Lê Hữu Trác:

a) Thế tử Cán:

nơi thế tử ngự là chốn thâm nghiêm tối tắm, bao quanh đó là các vật dụng gấm góc, lụa là vàng ngọc…

+ Người đông nhưng im lặng, thiếu sinh khí.

+ Không khí lạnh lẽo tù túng

+ Hình hài: tinh khí khô hết, mặt khô, rốn lồi to, gân xanh, chân tay gầy gò, …nguyên khí đã hao mòn, thương tổn quá mức…mạch bị tế sác…âm dương đều bị tổn hại.”

Những điều trên cho thấy cuộc sống vật chất đầy đủ giàu sang nhưng phẩm chất tinh thần, ý chí nghị lực lại trống rỗng. Đó cũng chính là hình ảnh suy yếu ruỗng của tập đoàn phong kiến Lê – trịnh vào những năm cuối TK XVIII.

b) Thái độ, con người Lê Hữu Trác:

+ Đó là một người thầy thuốc giỏi, có kiến thức sâu rộng và dạn dày kinh nghiệm…

+ Bên cạnh tài năng thì ông còn là thầy thuốc rất có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp.

3) Nét đặc sắc trong bút pháp của tác giả:

+ Cách quan sát rất tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tảnh cảnh người sinh động, không bỏ sót một chi tiết nhỏ nào tạo nên cái thần của cảnh và việc.

+ Cách kể diễn biến câu chuyện và cả sự khéo léo, lôi cuốn người đọc.

+ Mang giá trị hiện thực sâu sắc

III. Kết luận:

Với lối viết theo thể ký, ghi chép lại những người thật việc thật, đoạn trích vào phủ chúa Trịnh đã giúp cho ta có được một tài liệu quý vào thời vua le Chúa Trịnh mà cho tới nay toàn bộ di tích hầu như đã biến mất.

Qua cách miêu tả người, tả cảnh rất khách quan, tác giả đã ngầm phê phán kín đáo về cảnh giàu sang xa hoa quyền uy ghê gớm của chúa Trịnh, đồng thời thể hiện được tâm hồn cao thượng, khát khao một cuộc sống tự do không cần màng tới danh lợi của vị danh y Hải Thượng Lãn Ông.

Soạn văn bài vào phủ Chúa Trịnh lớp 11 – Bài số 12

I. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU VĂN BẢN

Câu 1: Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả như thế nào? Thái độ của tác già?

Trả lời:

a) Bậc danh y tuổi cao, tài lớn dã nhìn thấy và ghi lại quang cảnh ở phủ chúa Trịnh Sâm. Đó là cành cực kỳ xa hoa, tráng lệ và nổi lên quyển uy tột bậc cùa nhà chúa.

– Vào phủ chúa phải qua nhiều lần cửa và “những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp”… “Đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”.

– Trong khuôn viên phủ chúa “người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi”. Bài thơ ghi lại suy nghĩ và cảm nhận của tác giả để minh chứng cho cảnh sống xa hoa, uy quyền của phủ chúa:

Lính nghìn cửa vác đòng nghiêm nhặt

Cả trời Nam sang nhất là đây!

+ Nội cung được miêu tả gồm những chiếu gấm, màn là, sập vàng, ghế rồng, đèn sáng lấp lánh, hương hoa ngào ngạt, cung nhân xúm xít, mặt phấn áo đỏ…

+ Ăn uống thì: “Mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn của ngon vật lạ”.

+ Về nghi thức: Lê Hữu Trác phải qua nhiều thù tục mới dược vào thăm bệnh cho thế tử. Nào là phải qua nhiều cừa, phải chờ đợi khi có lệnh mới được vào. “Muốn vào phải có thẻ”, vào đến nơi, người thầy thuốc Lê Hữu Trác phải “lạy bốn lạy”. Tất cả những chi tiết trên cho người đọc nhận thấy phủ chúa Trịnh thật lộng lẫy, sang trọng, uy nghiêm. Lời lẽ nhắn tới chúa Trịnh và thế từ đểu phải hết sức cung kính (thánh thượng, ngự, yết kiến, hầu mạch…). Chúa Trịnh luôn luôn có “phi tần chầu chực” xung quanh. Tác giả không thấy mặt chúa mà chi làm theo mệnh lệnh cùa chúa do quan Chánh dường truyền dạt lại. Xem bệnh xong chi được viết tờ khải dể dâng lên chúa. Nghiêm đến nỗi tác giả phải “Nín thở đứng chờ ở xa”.

– Đó là tài quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động giữa con người với cảnh vật. Thuật lại sự việc theo trình tự diễn ra một cách tự nhiên khiến ta có cảm giác, tác giả không hề thêm thắt, hư cấu mà cảnh vật, sự việc cứ hiện ra rõ mồn một. Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc. Đằng sau bức tranh và con người ấy chứa đựng, dồn nén bao tâm sự của tác giả.

b) Với tư cách cùa một người “… vốn con quan, sinh trường ở chốn phồn hoa, chỗ nào trong cấm thành mình cũng dã từng biết. Chỉ có những việc trong phủ chúa là mình chỉ mới nghe nói thôi”. Bước chân tới đây, tác giả không bộc lộ trực tiếp thái độ. Song qua ngòi bút sắc sảo ghi lại những gì mắt thấy, tai nghe của tác giả, người đọc nhận ra thái độ của người cầm bút. Ôông sững sờ trước quang cảnh của phủ chúa “Khác gì ngư phủ dào nguyên thuở nào!” (một ngư phủ chèo thuyền theo dòng suối lạc vào động tiên). Việc được hưởng thụ giàu sang đang nàm trong tay nhưng rốt cuộc tác giả chẳng có thiết tha gì. Đây là đường vào nội cung thế tử “ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả”. Phải chăng thái độ gián tiếp của tác giả là tỏ ra không dồng tình với cuộc sống xa hoa, hưởng lạc thú quá mức của những người giữ trọng trách quốc gia? Cách tìm cuộc sống an nhàn nơi ấn dật rõ ràng là sự đối trọng gay gắt với cảnh sống của gia dinh chúa Trịnh Sâm và bọn quan lại dưới trướng. Thì ra tất cả những thứ sơn son thếp vàng, võng điều áo đỏ, sập vàng, gác tía, nhà cao cửa rộng, hương hoa thơm nức, đèn đuốc lấp lánh,… chỉ là phù phiếm, hình thức, che đậy những gì nhơ bẩn ỏ bên trong. Những thứ đó qua cái nhìn của một ông già áo vải, quê mùa, tự nó phơi bày tất cả. Điều đó giúp ta khẳng định Lê Hữu Trác không thiết tha gì với danh lợi, với quyền uy cao sang.

c) Đó là sự thành công khi miêu tả con người. Từ quan truyền chí đến quan Chánh đường, từ người lính khiêng võng, cầm lọng đến các quan ngự y, từ những cô hầu gái đến những phi tần, mĩ nữ đểu hiện lên rất rõ. Nhưng rõ nhất là thế tử Cán.

Câu 2: Chi tiết làm nổi bật giá trị hiện thực cùa tác phẩm?

Trả lời

– Lối vào chỗ ở của vị chúa nhỏ

“Đi trong tối om, qua năm, sáu lần trướng gấm”

– Nơi thế tử ngự; đạt sập vàng, cắm nến to trên giá đồng, bày ghế đồng sơn son thếp vàng, nệm gấm. Ngót nghét chục người đứng chầu chực sau tấm màn che ngang sân, cung nữ xúm xít. Đèn chiếu sáng làm nổi bật màu phấn và màu áo đỏ, hương hoa ngào ngạt.

– Chỉ có một ấu chúa, thực chất chỉ là cậu bé lên 5 tuổi mà vây quanh bao nhiêu là vật dụng gấm vóc, lụa là vàng ngọc. Tất cả, bao chặt lấy con người. Người thì đông nhưng tất cả đều im lặng khiến cho không khí trờ nên lạnh lẽo, băng giá. Bao trùm lên các mùi phấn son tuy ngào ngạt nhưng thiếu sinh khí. Một cậu bé bị quây tròn, bọc kín trong cái tổ kén vàng son.

+ Mặc áo đỏ, ngồi trên sập vàng

+ Biết khen người giữ phép tắc: “Ông này lạy khéo”

+ Cời áo thì: “Tinh khí khô hết, da mặt khô, rốn lồi to, gân thời xanh, chân tay gầy gò… nguyên khí đã hao mòn, thương tổn quá mức… mạch lại tế,… âm dương đều bị tổn hại…”

– Thế tử Cán được miêu tả bằng con mắt nhìn của một vị lang y tài giỏi bắt mạch, chẩn đoán bệnh. Tác giả vừa tả, vừa nhận xét khách quan. Thế tử Cán được tái hiện lại thật đáng sợ: Tinh khí khô, mặt khô, toàn những đường nét của cơ thể đang chết. Hình ảnh thế từ Cán, chỉ qua vài nét miêu tả đã hiện rõ một cơ thể ốm yếu. Bấy nhiêu đã đủ rồi, nhưng chúng ta hãy đọc trong đơn thuốc của thế tử: “… sáu mạch tế, sác và vô lực, hữu quan yếu, hữu xích lại càng yếu hơn. Ấy là tì âm hư, vị hoả quá thịnh, không giữ được khí dương nên âm hoả đi càn. Vì vậy, bên ngoài thấy cổ trướng, đó là tượng trưng ngoài thì phù bên trong thì trống”. Phải chăng cuộc sống vật chất quá đầy đủ, quá mức giàu sang, phú quý nhưng tất cả nội lực bên trong là tinh thần, ý chí, nghị lực, phẩm chất thì trống rỗng. Ngôn ngữ của y học, hình hài tính khí vẫn là của con người nhưng từng câu, từng chữ có lúc tạo nên nhịp điệu đối xứng: “Màn che – trướng phủ”, với điệp ngữ “quá no… quá ấm”. Nhà khoa học kiêm nghệ sĩ đã chỉ đúng cội nguồn căn bệnh của Trịnh Cán là cả tập đoàn phong kiến của xã hội Đàng ngoài ốm yếu không gì cứu vãn nổi.

Cảu 3: Người thầy thuốc Lê Hữu Trác hiện lên như thế nào?

Trả lời:

– Khi khám bệnh cho thế tử Cán, thái dộ Lê Hữu Trác diễn biến rất phức tạp.

+ Một mặt tác giả chí ra căn bệnh cụ thể, nguyên nhân của nó, một mặt ngám phê phán: “Vì thế tử ờ trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ám nên tạng phù yếu đi”.

+ Ông rất hiểu căn bệnh cùa Trịnh Cán, đưa ra những cách chữa hợp lý, thuyết phục nhưng lại sợ chữa có hiệu quả ngay, chúa sẽ tin dùng, bị công danh trói buộc: “Nhưng sợ mình không ở lâu, nếu mình làm có kết quả ngay thì sẽ bị danh lợi nó ràng buộc, không làm sao về núi được nữa”. Để tránh được, cứ cầm chừng, dùng thuốc vỏ thưởng vô phạt. Song làm thế lại trái với y đức, trái với lương tâm, phụ lòng ông cha. Tâm trạng ấy giằng co, xung đột. Đây là ý nghĩ đáng quý: “Cha ông mình đời đời chịu ơn của nước, ta phải dốc hết cả lòng thành, để nối tiếp cái lòng trung của cha ông mình mới được”. Cuối cùng phẩm chất, lương tâm trung thực cùa người thầy thuốc đã thắng. Lê Hữu Trác đã gạt sang một bên sở thích của riêng mình đê’ làm tròn trách nhiệm. Khi dã quyết, tác giả chẳng đưa ra lí lẽ để giải thích. Điều đó chứng tỏ tác giả là một thầy thuốc giỏi, có kiến thức sâu rộng, già dặn kinh nghiệm. Ống lấy việc trị bệnh cứu người làm mục đích chính, y dức ấy ai hơn.

– Quan sát tỉ mỉ.

+ Quang cảnh phù chúa.

+ Nơi thế tử Cán ở, cảnh vật dưới ngòi bút ký sự của tác già tự phơi bày.

– Ghi chép trung thực, giúp người đọc thấy được cánh ấy có sự bài trí của giàu sang, quyền chức.

+ Từ việc ngồi chờ ờ phòng trà đến bữa cơm sáng.

+ Từ việc xem bệnh cho thế tử Cán đến ghi đơn thuốc.

Tất cả không có một chút hư cấu, chi thấy hiện thực dời sống được bóc tách dần từng mảng. Người đọc không thể dừng lại ờ bất cứ chỗ nào. Cách ghi chép cũng như tài năng quan sát đã tạo được sự tinh tế, sắc sảo ở một vài chi tiết, gây ấn tượng khó quên.

+ Cách thế tử ngồi trên sập vàng chễm chệ, ban một lời khen khi một cụ già quỳ dưới đất lạy bốn lạy: “Ông này lạy khéo”.

+ Khi đi vào nơi thế tử để xem mạch, tác giả chú ý cả chi tiết bên trong cái màn là nơi “Thánh thượng đang ngự”(Chi chúa Trịnh Sâm). “Có mấy người cung nhãn đang đứng xúm xít. Đèn sáp chiếu sáng, làm nổi màu mặt phấn và màu áo dỏ. Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”. Chi tiết này khắng dịnh việc ăn chơi hưởng lạc của nhà chúa tự nó phơi bày ra mổn một.

Câu 4: Nét đặc sắc trong bút pháp kí sự?

Trả lời:

– Đoạn văn trích Vào phủ chúa Trịnh trích Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác vừa mang đậm giá trị hiện thực, vừa thể hiện phẩm chất của một thầy thuốc giàu tài năng mang bản lĩnh vô vi, thích sống gần gũi chan hoà với thiên nhiên, ghẻ lạnh với danh vọng, suốt đời chăm lo giữ gìn y đức của mình.

– Với tài năng quan sát sự vật, sự việc cùng với cách kể hấp dẫn. Lê Hữu Trác đã góp phần khẳng định vai trò, tác dụng của thể ký đối với hiện thực đời sống.

II. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Bài tập: So sánh đoạn trích: Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác (Thượng kinh kí sự) với Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh của Phạm Đình Hổ (Vũ trung tuỳ bút)?

Trả lời:

Nhân việc được triệu về kinh chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán, ghi lại quang cảnh và cuộc sống cực kì xa hoa của chúa Trịnh Sâm lúc bấy giờ

Kể lại những thú vui ham chơi của Trịnh Sâm: đi chơi ngắm cảnh đẹp, ngự ờ các li cung, xây dựng núi non. chậu hoa cảnh, vơ vét, chiếm đoạt của cải tiền bạc của nhân dân với nhũng tệ nạn nhũng nhiễu của bọn hoạn quan một cách thô bạo và trắng trợn.

Soạn văn bài vào phủ Chúa Trịnh lớp 11 – Bài số 3

I.TÌM HIỂU CHUNG

1.Tác giả

a) Cuộc đời:

+ Người làng Liên Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương

Gia đình có truyền thống hoc hành và thư cử đỗ đạt làm quan.

b) Sự nghiệp:

Ngoài tài chữa bệnh, ông còn là người soạn sách, truyền bá y học… Bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 66 quyển biên soạn trong 60 năm được coi là tác phẩm y học xuất sắc nhất trong thời Trung đại.

2. Tác phẩm ” Thượng kinh ký sự: ( 1782)

Là quyển cuối cùng trong bộ Hải thượng y tông tâm lĩnh, đánh dấu sự phát triển của văn học ( Văn xuôi tiếng Việt, thể ký)

Tác phẩm ghi nhận những điều mắt thấy tai nghe khi tác giả được mời vào kinh chữa bệnh cho Thế tử Cán cho tới khi ông về lại Hương Sơn..

3.Vị trí đoạn trích:

Đoạn trích ghi lại thời điểm: Sau khi ông vào kinh, đang tá túc tại nhà Quận Huy Hoàng Đình Bảo thì ông được mời vào phủ chúa Trịnh để xem bệnh cho Thế tử Cán. Đây là lần đầu tiên ông bước chân vào chốn thâm nghiêm này.

II.ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:

1) Quang cảnh, cung cách sinh hoạt trong phủ Chúa

a) Quang cảnh trong phủ chúa

Cực kỳ lộng lẫy, tráng lệ, không đâu sánh bằng:

– Cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm

– Những ” đại đường”, “Quyển bồng” với kiệu son võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng

– Nội cung qua năm sáu lần trướng gấm với những trướng gấm, màn là, sập vàng, ghế rồng, đèn sáng lấp lánh, hương hoa ngào ngạt…

(màu sắc, đường nét, hương sắc của vườn cây, lầu son gác tía, mân vàng chén bạc, sơn hào hải vị…)

* Tác giả là con quan, đã từng nhiều lần vào tử cấm thành mà vẫn ngỡ ngàng trước quang cảnh nơi phủ chúa…

b) Cung cách sinh hoạt

– Cách nói năng:

+ Trịnh Sâm thì dùng từ thánh chỉ(4 lần), thánh thượng(3 lần)

+Trịnh Cán thì:Thánh thể (1lần)

+ Các chức sắc trong phủ: Quan chánh đường, các vị lương y, của sáu cung ba viện, kẻ truyền tinđông đảo nhộn nhịp.

+ Phủ chúa ra vào phải có thẻ; lương y khám bệnh cũng phải lạy bốn lạy, xin phép mới được cởi áo thế tử…

+ Xung quanh chúa là các cung tần phi nữ, trướng rủ màn che,

c) Thái độ của tác giả đối với cuộc sống nơi phủ chúa

Tác giả dửng dưng trước những những quyến rũ vật chất,cảnh sống xa hoa bởi nó được xây bằng xương máu của nhân dân…

+ Không đồng tình với cuộc sống quá no đủ phè phỡn tiện nghi nhưng thiếu khí trời và không khíi tự do…

Tóm lại:

Qua cách nói mỉa mai châm biếm của tác giả, ta thấy: Sự lộng quyền của nhà chúa với quyền uy tối thượng và nếp sống hưởng thụ cực kỳ xa hoa của chúa Trịnh cùng gia đình; sự thật bù nhìn của vua Lê khi ấy…

2) Thế tử Cán và thái độ con người Lê Hữu Trác:

a) Thế tử Cán:

Nơi thế tử ngự là nơi thâm nghiêm tối tăm ; bao quanh là vật dụng gấm vóc, lụa là vàng ngọc…

+ Người đông nhưng im lặng, thiếu sinh khí.

+ Không khí lạnh lẽo tù túng

+ Hình hài: tinh khí khô hết, mặt khô, rốn lồi to, gân xanh, chântay gầy gò, …nguyên khí đã hao mòn, thương tổn quá mức…mạch bị tế sác…âm dương đều bị tổn hại.”

Cuộc sống vật chất đầy đủ giàu sang nhưng phẩm chất tinh thần, ý chí nghị lực trống rỗng.Đó cũng chính là hình ảnh suy yếu muc6 ruỗng của tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh Những năm cuối TK XVIII.

b) Thái độ, con người Lê Hữu Trác:

+Tác giả là một thầy thuốc giỏi, có kiến thức sâu rộng và dạn dày kinh nghiệm…

+ Bên cạnh tài năng, ông còn là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ…

3) Nét đặc sắc trong bút pháp của tác giả:

+ Cách quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh tả người sinh động, không bỏ sót chi tiết nhỏ nào tạo nên cái thần của cảnh và việc.

+ Cách kể diễn biến câu chuyện và sự việc khéo léo,lôi cuốn người đọc. Giá trị hiện thực sâu sắc

III. Kết luận:

* Với lối viết theo thể ký, ghi chép lại những người thật việc thật, đoạn trích Vào phủ chúa trịnh giúp cho ta có được một tài liệu quý vào thời vua Lê chúa,Trịnh mà cho tới nay toàn bộ di tích này hầu như đã biến mất.

* Qua cách miêu tả người tả cảnh rất khách quan, tác giả đã ngẩm phê phán kín đáo cảnh giàu sang xa hoa quyền uy ghê gớm của chúa Trịnh đồng thời thể hiện tâm hồn cao thượng, khát khao cuộc sống tự do không màng danh lợi của vị danh y Hải Thượng Lãn Ông.

Soạn văn bài vào phủ Chúa Trịnh lớp 11 – Bài số 4

1. Vài nét về tác giả Lê Hữu Trác

– Lê Hữu Trác tên hiệu là hải thượng lãn ông, xuất thân trong một gia đình có truyền thống học hành thi đậu cao, ông cũng là một thầy thuốc giỏi.

2. Tác phẩm.

– Đây là quyển cuối cùng trong bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh.

3. Quang cảnh, cách thức sinh hoạt trong phủ chúa.

– Quang cảnh:

+ Khung cảnh trong phủ chúa nhộn nhịp xa hoa, với những tiếng chim hót những cánh hoa, những dãy hành lang quanh co nối tiếp nhau, cảnh vật xung quanh phủ chúa thật xa hoa lộng lẫy, nó mang một vẻ đẹp tran hoàng những cảnh vật ngoài xã hội lại đối lập với cảnh vật trong phủ chúa, bên trong đồ vật trong phủ chúa thì được to son thiếc vàng làm tôn lên vẻ đẹp lộng lẫy,hét sức xa hoa, không khí ở phủ chúa thật ngột ngạt, nó khiến cho tác giả bị xiết chặt vào cái sung túc nhưng lại dựa trên sự đau khổ của nhân dân lao động, những khung cảnh đó làm cho tác giả ngột ngạt ông như đang bước vào một thế giới hoàn toàn khác, ông cảm thấy khó thở và căm phẫn trước sự sa hoa của bọn bạo chúa.

– Cung cách sinh hoạt:

+ Trong phủ chúa Trịnh chỉ có những kinh thánh và những lời cầu khẩn dạ thưa của vua quan và đầy tớ, chúa trịnh là một người sống rất xa hóa trong cách sinh hoạt của hắn luôn có những phi tần luôn trầu trực, và thúc trực quanh hắn, thế tử thì luôn có đến bẩy tám người thầy thuốc tục trực…. một cuộc sống xa hoa ở phủ chúa đã bộc lộ ra một chế độ ăn chơi xa đọa không lo cho cuộc sống của nhân dân.

Người đọc khi đọc xong dường như đều có cảm xúc khi thấy một khung cảnh xa hoa nơi phủ chúa và cả những phong thái sinh hoạt xa hoa, sự xa hoa ở phủ chúa là sự cực khổ của nhân dân, mỗi sự cực khổ của nhân dân là một phần xa hoa sung túc ở phủ chúa, bóc lột sức lao động của nhân dân vào việc ăn chơi trác táng.. một chế độ thật đáng lên án sâu sắc.

+ Cảnh xa hoa tráng lệ ở phủ chúa trịnh khác hẳn và đối lập với cuộc sống đời thường bên ngoài mỗi chúng ta, nhân dân lúc ấy giờ đang lâm vào nạn đói, sưu thuế tăng cao nộp vào cho triều đình để ăn chơi, mỗi cuộc chơi của phủ chúa là những giọt mồ hôi công sức và cả máu của người dân. Nơi đây bọn chúng biến thành nơi để xa hoa chơi, những con người ở đây đều biến chất lúc nào cũng chỉ thích ăn chơi rồi bỏ mặc cuộc sống đói khổ của nhân dân ngoài xã hội, người dân đói lăn lóc ra nhưng bên trong này thì ăn chơi chát tang thật đáng lên án cái bọn hại dân bán nước này.

Nghi lễ ở phủ chúa thể hiện một khuôn phép một lối sống của một bậc quyền sang có chúc có quyền và nó đã phản ánh một chế độ độc tài thối nát. Nhưng nghi thức rườm rà, thủ tục làm cho khác ngoài đời nơi đây trở thành nơi ăn chơi nhảy múa của bọn hôn quân bạo chúa. Nó tạo nên một không khí bị ép chặt ngột ngạt, chúng muốn biến nơi đây thành thiên dường để trác tang.

Cái nhìn của tác giả và ngôn ngữ được tác giả thể hiện: những ngôn ngữ mỉa mai, giọng điệu đầy chất châm biếm khi đối diện với khung cảnh đó tác giả dường như choáng ngợp trước quang cảnh nguy nga lộng lẫy ở phủ chúa, đối diện với cuộc sống của nhân dân, không có cơm ăn áo mặc, nhân dân rơi vào lầm than nghèo đói… Lê Hữu Trác là một nhà nho coi thường danh lợi, ông đã lấy cái cá nhân cái cao cả để phản anh một chế độ thối nát xa hoa ăn chơi hưởng lạc.

Người thầy thuốc nhìn thầy cảnh vật ở phủ chúa không phải vì tiền bạc của cải mà chữa bệnh cho thế tử ông đã gạt bỏ đi những định kiến cá nhân để làm tròn trách nhiệm của một vị thầy thuốc, lấy chữa trị cứu người làm nền tảng…qua đó chúng ta cũng đánh giá được phẩm chất cao quý của người thầy thuốc, đã cứu chữa để giúp tính mạng của con người…

Thái độ kê đơn thuốc của tác giả: căn bệnh của thái tử là căn bệnh của người giàu nhưng vì lương y của một vị thày thuốc mà ông đã cứu giúp, ông đã bỏ đi cái hiềm khích cá nhân để cứu sống mạng người, ông không chỉ là một người thầy thuốc giỏi mà ông còn là một người có tấm lòng bao dung nhân hậu.

6. Đặc sắc nghệ thuật được tác giả sử dụng trong bài.

Nghệ thuật: tác giả đã dùng vốn hiểu biết và tài năng của mình để ghi chép lại toàn bộ cuộc sống xa hoa ở phủ chúa, ghi lại những hình ảnh, sự vật đặc biệt quan trọng để qua đó tố cáo chế độ độc tài thối nát, lối kể chuyện sâu sắc của tác giả đã làm cho người đọc hứng thú với diễn biến câu chuyện. Cả bài là một cuộc sống xa hoa tác giả dã rất thành công trong việc ghi dấu ân đặc biệt bởi những chi tiết rất đặc sắc để lột tả được một cuộc sống xa hoa của phủ chúa, những quan cách và những thủ tục rườm già, mang nặng quyền thế.

Những chi tiết được tác giả miêu tả rất hiện thực qua đó phản ánh một lớp người một tầng lớp thoái chất, phê phán một chế độ tàn ác.

Vũ Hường tổng hợp

Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Sbt Ngữ Văn 11 Tập 1 / 2023

Giải câu 1, 2, 3, 4 trang 5 Sách bài tập (SBT) Ngữ văn 11 tập 1. Tìm trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh những từ ngữ nói lên thái độ của Lê Hữu Trác đối với danh lợi.

1. Tìm trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh những từ ngữ nói lên thái độ của Lê Hữu Trác đối với danh lợi.

Trả lời:

Muốn hiểu đúng đoạn trích, cần hiểu con người tác giả . Xem chú thích từ danh lợi ở bài Bài ca ngắn đi trên bãi cát (trang 41, SGK). Khái niệm danh lợi xưa thường được nhà nho sử dụng để chỉ việc làm quan (làm quan có danh vị, lại có lợi – bổng lộc). Cần tìm trong đoạn trích những từ như quê mùa mà Lê Hữu Trác tự nói về mình. Quê mùa có sắc thái đối lập vói thành thị. Đây là cách dùng từ của một nhà nho ẩn dật lánh đòi có thái độ xem thường danh lợi. Tìm những từ ngữ tác giả trực tiếp nói về danh lọi, ví dụ như nỗi bãn khoăn của ông khi đưa ra phương án chữa bệnh cho thế tử, lo rằng nếu ông chữa khỏi bệnh cho thế tử thì sẽ bị danh lọi ràng buộc, bởi lẽ người ta sẽ phong chức tước cho ông và ông không được sống cuộc sống tự do, không được “về núi” nữa. Ông đưa ra phương thuốc điều trị cho thế tử sau khi nghĩ đến truyền thống gia đình : “Cha ông mình đòi chịu ơn của nước, ta phải dốc hết cả lòng thành, để nối tiếp cái lòng trung của cha ông mình” chứ không hề nhằm được thăng thưởng.

2. Cho biết ý nghĩa của việc quan sát, miêu tả người và cảnh trong phủ chúa Trịnh.

Trả lời:

Cần chú ý đến dụng ý của tác giả khi quan sát và chọn các sự việc, nhân vật để miêu tả. Có thể tách riêng việc tả người và tả cảnh để lần lượt phân tích. Các nhân vật chính của đoạn trích là các quan – thầy thuốc, quan Chánh đường (tức Huy Quận công Hoàng Đình Bảo), thế tử. Họ sống trong cảnh giàu sang, phú quý (những yếu tố này anh (chị) có thể tìm thấy dễ dàng, chẳng hạn “mâm vàng, chén bạc”). Cảnh trí trong phủ chúa : cần chú ý đến các cảnh được tả như vườn hoa, cung điện, lầu gác,… Lí giải tại sao lại có sự chú ý như vậy. Tác giả nhấn mạnh quyền lực của nhà chúa, quyền lực của quan Chánh đường, sự sang trọng chốn cung phủ. Có thể có ngầm ẩn một hàm ý phê phán nhất định đối với chúa Trịnh qua những miêu tả tưởng như vô tình về lầu gác, cung điện sơn son thếp vàng, ghế ngồi chạm rồng của chúa, các cung nữ,… Rồng là biểu tượng của vua, thế mà chúa Trịnh cũng sử dụng thì trật tự luân thường ở đây đã bị chính chúa Trịnh chà đạp. Cũng có một ý nghĩa nữa là tác giả kín đáo phê phán lối sống xa hoa, truỵ lạc của chúa Trịnh.

Nhưng cần biết một ý nghĩa ngầm ẩn rất quan trọng của việc tả cảnh giàu sang, phú quý này : Đoạn kết Thượng kinh kí sự có kể khi Lê Hữu Trác về đến Hương Sơn, Hà Tĩnh được vài ngày thì nghe tin cả nhà quan Chánh đường bị hại (đây muốn nói đến sự kiện kiêu binh nổi loạn, giết Quận Huy), ông viết : “Tôi nghe chuyện than rằng : – Giàu sang như mây nổi, những noi đàn sáo lâu đài trước đây bỗng phút chốc thành gò hoang cồn vắng. Lại mừng thầm rằng mình đã ẩn thân nơi núi rừng, chẳng đoái hoài gì tới chuyện công danh thành đạt. Một sớm bị triệu, mang thân già tới kinh, thấm thoắt đã một năm trời. Trăm xin nghìn cầu mới được thoát khỏi. Ví như lúc đầu lòng dạ không bền vững, để vướng mắc vào một chức quan, thì đúng là bây giờ danh chưa thành mà thân đã nhục vậy”. Như vậy, việc miêu tả kĩ lưỡng cảnh giàu sang, phú quý ở đoạn trích này là chuẩn bị cho một triết lí sẽ nêu lên ở đoạn kết “giàu sang như mây nổi” và triết lí bảo thân (giữ mình) của một ẩn sĩ lánh đời, xa chốn quan trường, quay lưng với danh lợi.

3. Nhận xét về nghệ thuật miêu tả hiện thực phủ chúa Trịnh trong đoạn trích.

Trả lời:

– Anh (chị) cần chú ý đến hai điểm : thứ nhất là việc tác giả lựa chọn chi tiết và thứ hai là thái độ, cảm xúc mà tác giả bộc lộ trước đối tượng miêu tả.

– Chú ý sự quan sát tinh tế và chọn chi tiết điển hình, có sức diễn tả cao ; đồng thời lưu ý việc tác giả luôn bộc lộ ấn tượng, cảm tưởng, cảm nhận của bản thân trước các hiện tượng quan sát thấy trong phủ chúa.

+ Các chi tiết như “cáng chạy như ngựa lồng”, “người có việc quan qua lại như mắc cửi” mở đầu báo hiệu không khí khẩn trương cúa phủ chúa.

+ Tác giả quan sát các công trình kiến trúc, cảnh trí qua hình khối, màu sắc. hương thơm, âm thanh để truyền đạt đến bạn đọc cảm nhận của bản thân.

+ Chỉ ra các chi tiết nói về quyền lực của quan Chánh đường, ví dụ như điếm “Hậu mã quân túc trực”, nơi ngồi nghỉ của vị quan này ; chi tiết khi quan đến, mọi người đều đứng dậy, rồi ông ngồi trên,… Hầu như tất cả mọi công việc được kể trong đoạn trích đều do quan Chánh đường quyết định.

Các chi tiết đều có nghĩa ngầm ẩn tinh tế, thường bao hàm sự đánh giá, thái độ của Lê Hữu Trác. Tác giả làm như miêu tả vô tình hay thoáng qua các hiện tượng, sự việc nhưng thực ra sau những dòng chữ ấy là những nỗi niềm, cảm xúc, thái độ đối với giàu sang, phú quý và quyết tâm giữ vững phẩm chất đạo đức, khí tiết của mình.

4. Phân tích vài nét đặc sắc trong ngòi bút kí sự của tác giả trong đoạn trích.

Trả lời:

Có thể nêu ra những nét đặc sắc trong ngòi bút kí sự của Lê Hữu Trác trong đoạn trích :

– Miêu tả, ghi chép rõ nét, trung thực, sinh động, nhiều màu sắc : vườn cây, lối đi, hành lang, địa danh cụ thể, tên người, tên quan có thật trong phủ chúa, cảnh nơi chúa ngự, thể trạng thái tử, cuộc đối thoại của tác giả với quan Chánh đường.

– Chọn lựa chi tiết tiêu biểu, ấn tượng : quang cảnh trong phủ chúa, hình ảnh thế tử, sự tăm tối đầy ám khí của phủ chúa, cách bài trí đồ đạc trong phủ chúa, cuộc đối đáp của tác giả với quan Chánh đường.

– Kết hợp miêu tả, tự sự và biểu cảm tạo sự cuốn hút, tăng giá trị hiện thực, gây ấn tượng sâu sắc về cảnh, việc và người nơi phủ chúa.

– Giọng điệu châm biếm, hài hước, phê phán nhẹ nhàng, kín đáo : thể hiện qua lời ngợi ca cảnh vật, lời nhận xét về phủ chúa, cách luận giải về bệnh tình của thế tử.

– Tổ chức điểm nhìn trần thuật linh hoạt : có đoạn sự việc được kể theo quan sát của nhân vật xưng tôi ; có đoạn nhà văn để cho nhân vật quan truyền chỉ miêu tả, giới thiệu. Người đọc có cảm tưởng không chỉ có Lê Hữu Trác dẫn ta vào phủ chúa để tự do quan sát, ngắm nhìn mà cả những kẻ hầu cận chúa cũng đưa ta thâm nhập, khám phá sự thật ở “Đông cung”.

Ngòi bút kí sự đặc sắc của tác giả đã phản ánh sinh động bức tranh chân thực về cảnh sống xa hoa, quyền quý và chân dung một số nhân vật nơi phủ chúa Trịnh, đồng thời cho thấy tấm lòng thanh bạch, bản lĩnh vững vàng, không màng danh lợi, không coi trọng chức tước, bổng lộc của Lê Hữu Trác.

chúng tôi

Soạn Vào Phủ Chúa Trịnh Chi Tiết / 2023

I.

Hướng dẫn soạn Vào phủ chúa Trịnh phần tác giả, tác phẩm

Cũng như các bài soạn văn khác, bài soạn văn 11 Vào phủ chúa Trịnh cần có phần khái quát về tác giả, tác phẩm.

1. Tác giả 

Nguồn: Internet

Lê Hữu Trác (1724 – 1791) ông quê ở trấn Hải Dương, là người làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng (nay là huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên). Ông còn được người đời biết đến với một danh xưng nổi tiếng khác là Hải Thượng Lãn Ông. Ông là một danh y xuất sắc trong thời trung đại Việt Nam. Ông được nhân dân kính trọng vì tài năng y thuật và cả tấm lòng nhân hậu. 

Chính vì dành cả đời để cống hiến sức mình cho y học, Lê Hữu Trác đã để lại cho đời công trình nghiên cứu đồ sộ và giàu giá trị. Đó là Bộ “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” gồm 66 quyển. Tác phẩm của ông có thể xem là quyển “nhật kí” của cuộc đời ông vì ghi lại toàn bộ hành trình ông lặn lội khắp mọi miền quê để mang đức độ và y thuật của mình chữa bệnh cứu người. Tác phẩm có lẽ không chỉ đơn thuần ghi lại những bài thuốc, những câu chuyện hay các lần gặp gỡ của ông với nhân dân mà chất chứa cả những cảm xúc, nỗi niềm của một người hết lòng với người, với đời. Những câu chuyện, những dòng viết về cảm xúc của Lê Hữu Trác đã giúp cho tác phẩm trở thành một đóng góp giàu giá trị cho văn học Việt Nam.

2. Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh

Nguồn: Internet

Trong bài soạn Vào phủ chúa Trịnh Ngữ văn 11 chắc chắn không thể thiếu những dòng viết về tác phẩm nói chung và đoạn trích nói riêng.

Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh là một đoạn trích nằm trong tập kí sự “Thượng kinh kí sự” (Kí sự đến kinh đô). Đây là tập kí sự được hoàn thành vào năm 1783, được xếp ở cuối của công trình “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”. Tập kí sự được viết bằng chữ Hán và ghi lại những sự việc, những câu chuyện có thật và tương đối hoàn chỉnh.

Nội dung của tập kí sự nói về những điều tai nghe mắt thấy của Lê Hữu Trác khi nhận lệnh vào kinh chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán khi ông đang sống cuộc sống thanh nhàn ở chốn Hương Sơn. Chuyến đi kéo dài khoảng 9 tháng 20 ngày. Trong hành trình ấy, tác phẩm Vào phủ chúa Trịnh đã giúp ông ghi lại quang cảnh kinh đô, đặc biệt là cuộc sống giàu sang, xa hoa của chúa Trịnh. Qua đó, tác phẩm đã bộc lộ rõ thái độ coi thường danh lợi của tác giả.

Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh nằm ở phần đầu của tác phẩm, kể về việc Lê Hữu Trác tới kinh đô, được dẫn vào phủ chúa để bắt mạch, kê đơn cho Trịnh Cán.

II. Hướng dẫn soạn Vào phủ chúa Trịnh chi tiết

Blog Kiến Guru sẽ hướng dẫn soạn văn Vào phủ chúa Trịnh qua hai phần chính: Cuộc sống trong phủ chúa Trịnh và nhận xét về Lê Hữu Trác qua đoạn trích.

1. Cuộc sống trong phủ chúa Trịnh

a. Quang cảnh phủ chúa

Phủ chúa theo miêu tả của Lê Hữu Trác là một nơi được xây dựng uy nghi, mỹ lệ bởi kết cấu và cách bài trí của nó.

Về kết cấu, phủ chúa là nơi muốn vào được phải qua nhiều lần cửa với “những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp”, cửa nào cũng có vệ sĩ canh gác cẩn mật và hơn hết phải có thẻ thì mới có thể cân nhắc cho vào hay không.

Nguồn: Internet

Cách trang trí của phủ chúa cũng cho thấy có sự đầu tư cẩn trọng. Vườn phủ là nơi có “cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”. Bên trong phủ toàn là “những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy” với toàn những kiệu son, võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng còn đồ tiếp khách ăn uống toàn là “mâm vàng, chén bạc”. Đến nội cung của thế tử cũng phải trải qua năm sáu, lần trướng gấm và đồ nội thất cũng được đầu tư chẳng hề kém cạnh khu vực nào trong phủ.

b. Cung cách sinh hoạt

Cung cách sinh hoạt trong phủ là minh chứng rõ rệt cho quyền uy tối cao và nếp sống hưởng thụ cực kì xa hoa của chúa Trịnh và người thân trong gia đình. Trước hết, ai bước vào phủ sẽ có “tên đầy tớ chạy đằng trước hét đường” còn “người giữ cửa thì truyền báo rộn ràng, người có việc qua lại như mắc cửi”. Không chỉ vậy, những lời nhắc đến chúa cũng đều thể hiện thái độ hết sức cung kính, chẳng hạn như: “Thánh thượng đang ngự ở đấy”, “chưa thể yết kiến”, “hầu mạch Đông Cung thế tử”, “hầu trà”,… Riêng chúa Trịnh thì luôn có “phi tần chầu trực”, thầy thuốc vào thăm bệnh cho thế tử cũng chỉ làm theo mệnh lệnh chúa thông qua quan Chánh đường mà không được thấy mặt chúa. 

Xem Thêm: 

Tóm Tắt vào phủ chúa Trịnh

Soạn Văn Tự Tình siêu hay

Soạn văn bài câu cá mùa thu nhanh nhất

2. Nhận xét về Lê Hữu Trác qua đoạn trích

a. Là một thầy thuốc có tài năng y thuật

Tài năng ý thuật của Lê Hữu Trác được khẳng định vì có giỏi giang và dày dặn kinh nghiệm thì mới được chúa Trịnh – vốn là người vô cùng cẩn thận, triệu vào kinh để chữa cho thế tử. Lê Hữu Trác cũng hiểu rất rõ căn bệnh của thế tử và rất thẳng thắn, quyết đoán trong cách thuyết phục chúa Trịnh nghe theo những chẩn đoán của mình để chữa đúng bệnh cho thế tử. Mặc dù, ý kiến của ông trái lại với đa số các thầy thuốc khác.

b. Là một thầy thuốc có y đức

Vốn là một người xem thường danh lợi, thích nếp sống thanh đạm, mặc dù có quyền yêu cầu có một cuộc sống đủ đầy hơn về vật chất cho xứng với tài năng của mình nhưng Lê Hữu Trác không mảy may nghĩ đến việc vun vén cuộc sống xa hoa cho bản thân, dù chỉ một lần. Không chỉ vậy, ông còn bày tỏ thái độ không đồng tình với cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa. 

Hơn hết, chính lương tâm và phẩm chất trung thực của người thầy thuốc đã giúp tác giả đưa ra lựa chọn gạt sở thích sống ẩn dật, “lánh đục tìm trong” để làm tròn sứ mệnh của người thầy thuốc.

c. Là một tác giả văn học tài năng

Qua tác phẩm có thể thấy ở Lê Hữu Trác khi ở vai trò là một văn nhân cũng hết sức tài giỏi, khéo léo. Điều đó được thể hiện qua cách quan sát tỉ mỉ, kể hay tả đều sinh động và thu hút. Bên cạnh đó, tác giả cũng rất trau chuốt ngay cả với những chi tiết nhỏ và không quên bộc lộ dấu ấn cá nhân và đan xen suy nghĩ, tâm trạng riêng của bản thân.

Thông qua những gợi ý trên, việc soạn Vào phủ chúa Trịnh chắc chắn sẽ không có gì là nặng nề, đúng không các bạn? Tóm lại, với việc soạn Vào phủ chúa Trịnh Ngữ Văn 11 trước giờ học trên lớp, các bạn có thể hình dung được phần nào quyền lực to lớn và cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa. Cùng với đó là thái độ sống xem thường danh lợi của tác giả. Về nghệ thuật, văn bản đã cho thấy lối kể hấp dẫn, sự kết hợp khéo léo giữa văn xuôi và thơ, sự miêu tả tỉ mỉ và cụ thể và đặc biệt là chất thật của người, của việc.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh, Trang 9 Sgk Ngữ Văn Lớp 11 / 2023 trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!