Đề Xuất 12/2022 # Soạn Bài Từ Ấy Sbt Ngữ Văn Lớp 11 Tập 2 / 2023 # Top 17 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 12/2022 # Soạn Bài Từ Ấy Sbt Ngữ Văn Lớp 11 Tập 2 / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Soạn Bài Từ Ấy Sbt Ngữ Văn Lớp 11 Tập 2 / 2023 mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Giải câu 1, 2, 3, 4 trang 48 SBT Ngữ văn lớp 11 tập 2. Viết một đoạn văn nói lên cảm nghĩ của anh (chị) về khổ thơ mà mình cho là hay nhất trong bài Từ ấy.

1. Bài tập 1, trang 44, SGK.

Viết một đoạn văn nói lên cảm nghĩ của anh (chị) về khổ thơ mà mình cho là hay nhất trong bài Từ ấy.

Trả lời: Tham khảo đoạn văn sau:

Tố Hữu đã diễn tả rất chân thành niềm vui sướng, say mê của mình khi bắt gặp lí tưởng của Đảng :

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim…

Năm 1938, Tố Hữu được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, cái mốc Từ ấy đánh dấu thời điểm đó. Bằng những hình ảnh ẩn dụ nắng hạ, mặt tròi chân lí và cách nói chói qua tim, Tố Hữu khẳng định lí tưởng cộng sản như một nguồn sáng mới làm bừng sáng tâm hồn nhà thơ, mở ra trong tâm hồn nhà thơ một chân trời mới của nhận thức, tư tưởng và tình cảm. Tâm hồn ấy giờ đây là một thế giới tràn đầy sức sống với hương sắc của các loài hoa, vẻ tươi xanh của cây lá, âm thanh rộn rã của tiếng chim ca hót. Đối với vườn hoa lá, còn gì đáng quý hơn ánh sáng mặt trời ? Đối với tâm hồn người thanh niên yêu nước, còn gì đáng quý hơn khi có một lí tưởng cao đẹp soi sáng, dẫn dắt ?

Tố Hữu sung sướng đón nhận lí tưởng như cỏ cây hoa lá đón ánh sáng mặt tròi. Chính lí tưởng cộng sản đã làm tâm hồn con người tràn đầy sức sống và niềm yêu đời, làm cho cuộc sống của con người có ý nghĩa hơn.

Giải thích vì sao nhà thơ Chế Lan Viên viết: “Tất cả Tố Hữu, thi pháp, tuyên ngôn, những yếu tố làm ra anh có thể tìm thấy trong tế bào này, anh là nhà thơ của vạn nhà, buộc lòng mình cùng nhân loại…” (Lời tựa tập Trăm bài thơ của Tố Hữu, NXB Văn học, Hà Nội, 1987)

Trả lời: Nên chú ý mấy ý chính sau :

– Từ ấy chỉ là một bài thơ trong hàng trăm bài thơ tạo nên sự nghiệp thi ca phong phú của Tố Hữu. Nó có vai trò như một tế bào trong muôn triệu tế bào tạo nên thực thể sống, nhưng đấy là một “tế bào” đặc biệt, có ý nghĩa mở đầu, định hướng cho toàn bộ quá trình sáng tác của Tố Hữu.

– Những đặc điểm bản chất nhất của thơ Tố Hữu được xác định rõ ngay ở bài thơ này. Đó là hai yếu tố “làm ra anh”: một là thi pháp (phương thức biểu hiện: dùng thể thơ thất ngôn, một thể thơ truyền thống, sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu, sự đa dạng của bút pháp – tự sự, lãng mạn, trữ tình); hai là tuyên ngôn (thể hiện rõ ràng quan điểm nhận thức và sáng tác : gắn bó với quần chúng lao khổ, phấn đấu vì cuộc sống hạnh phúc của đồng bào, vì tương lai tươi sáng của đất nước, vì thế giới tươi đẹp, chan hoà tình yêu thương của con người).

– Những bài thơ sáng tác theo thi pháp và tuyên ngôn như thế, Tố Hữu đã là “nhà thơ của vạn nhà, buộc lòng mình cùng nhân loại”.

3. Viết một đoạn văn hình dung hoàn cảnh và tâm trạng của Tố Hữu khi viết bài thơ Từ ấy.

Trả lời: Đoạn văn cần phải có hai ý: hoàn cảnh và tâm trạng.

– Hoàn cảnh có hai điểm đặc sắc : Trời đất cao xanh rực rỡ, tràn trề sức sống ; Con người mang dáng vẻ thiêng liêng của lịch sử đang sang trang.

– Tâm trạng người viết là tâm trạng của một chàng trai yêu nước, tâm hồn trong trẻo đang dạt dào rung động trong phút đầu gặp gỡ lí tưởng.

Tham khảo đoạn văn sau :

Một ngày đẹp trời cuối mùa hè năm 1938. Trời cao xanh, nắng vàng tươi rực rỡ chảy tràn trên xứ Huế, mảnh đất cố đô xưa. Trong một khu vườn xum xuê cây lá, nghe rõ tiếng xào xạc của gió và âm thanh ríu rít của bầy chim nhỏ trên ngọn cây cao, có ba người ngồi xúm lại với nhau trên bãi cỏ, dường như họ đang bàn bạc với nhau chuyện gì rất hệ trọng. Hai người tầm thước, gương mặt cương nghị, rắn rỏi thay nhau giảng giải, lời lẽ mạch lạc, lôi cuốn (sau này Tố Hữu viết: “Con lớn lên con tìm Cách mạng – Anh Lưu, anh Diểu dạy con đi – Mẹ không còn nữa, con còn Đảng – Dìu dắt khi con chửa biết gì”. Anh Lưu, anh Diểu là Phan Đãng Lưu và Nguyễn Chí Diểu, hai người cộng sản trung kiên, những người đầu tiên đã giác ngộ cách mạng cho Tố Hữu). Ngồi nghe chăm chú như nuốt lấy từng lời là một chàng trai dáng vẻ thư sinh, đôi mắt sáng ngời. Tâm hồn anh bây giờ như vườn cây kia rực rỡ ánh nắng, ríu rít tiếng chim, xanh tươi cây lá, ngào ngạt hương thơm, bởi lần đầu tiên anh biết đến một lí tưởng, một lẽ sống đẹp đến thế. Trái tim anh dạt dào rung động với những tình cảm mới. Anh thấy mình đã trở thành một người thân thiết trong thế giới của những người khốn khổ mà hằng ngày mình vẫn thường gặp. Anh và họ sống trong tình thân ái chan hoà, cùng sát cánh bên nhau phấn đấu vì một ngày mai sáng tươi. Cái giây phút kì diệu ấy anh sẽ mãi mãi ghi nhớ trong suốt cuộc đời.

4. Trong bài thơ, xuất hiện một loạt từ ngữ chỉ số lượng nhiều : mọi người, trăm nơi, bao hồn khổ, khối đời, vạn nhà, vạn kiếp phôi pha, vạn đầu em nhỏ,… Việc dùng từ ngữ như thế nói lên điều gì ?

Trả lời:

Sự xuất hiện một loạt những từ ngữ chỉ số lượng nhiều : mọi người, trăm nơi, bao hồn khổ, khối đời (khối người đông đảo trong cõi đời), vạn nhà, vạn kiếp phôi pha, vạn đầu em nhỏ,… đều có một ý nghĩa chung – đó là quần chúng nhân dân, là cộng đồng dân tộc. Trong sự đối ứng với “cái tôi” (xuất hiện sáu lần trong bài thơ), đấy ỉà “cái ta”. Nhờ ánh sáng lí tưởng cộng sản soi rọi, Tố Hữu đã đi từ “cái tôi” đến “cái ta”, gắn bó cuộc sống của cá nhân mình vói vận mệnh chung của dân tộc, hoà cuộc đời riêng của mình vào cuộc đời chung của mọi người, thấy sức mạnh của bản thân được nhân lên trong sức mạnh của cộng đồng.

chúng tôi

Bài tiếp theo

Soạn Bài Vội Vàng Sbt Ngữ Văn Lớp 11 Tập 2 / 2023

Giải câu 1, 2, 3, 4, 5, 6 trang 14 SBT Ngữ văn lớp 11 tập 2. Suy nghĩ của anh (chị) về nhận xét sau : ” Vội vàng của Xuân Diệu có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí”.

1. Qua cách nhìn của Xuân Diệu trong bài thiên nhiên và sự sống quanh ta hiện ra như thế nào ? Những hình ảnh nào đã dệt nên bức tranh thiên nhiên và sự sống đó ? Hãy chỉ ra tính chất chung của những hình ảnh ấy.

Trả lời: Bài tập này có ba yêu cầu:

a) Thấy được thiên nhiên và sự sống quanh ta, qua cách nhìn của Xuân Diệu, hiện ra như thế nào.

b) Chỉ ra những hình ảnh nào đã dệt nên bức tranh thiên nhiên và sự sống đó.

c) Nêu tính chất chung của những hình ảnh ấy.

– Với yêu cầu a, cần đọc kĩ đoạn đầu của bài thơ để thấy được : Qua cách nhìn của Xuân Diệu, thiên nhiên và sự sống quanh ta thật tươi đẹp, rộn rã âm thanh, rực rỡ sắc màu. Nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó một tình yêu rạo rực, đắm say, ngây ngất. Có thể nói, Xuân Diệu đã phát hiện ra có một thiện đường ngay trên mặt đất này, khống xa lạ mà rất đỗi quen thuộc, ở ngay trong tầm tay với của mỗi chúng ta.

– Với yêu cầu b, cần nhận ra : Những hình ảnh đồng nội xanh rì, cành tơ phơ phất, ánh sáng chóp hàng mi, cặp môi gần,… đã dệt nên bức tranh thiên nhiên và sự sống tươi đẹp đó.

– Với yêu cầu c, cần thấy, nét chung của những hình ảnh nói trên là đẹp, tươi, tràn trề sức trẻ và đầy quyến rũ.

Đâu là nét mới mẻ trong quan niệm về thời gian, quan niệm sống của Xuân Diệu được thể hiện trong bài thơ này ? Quan niệm sống đó có tích cực không ?

Bài tập này có ba yêu cầu :

a) Chỉ ra được nét mới mẻ trong quan niệm về thòi gian của Xuân Diệu.

b) Hiểu được nét mới trong quan niệm sống của nhà thơ.

c) Nhận xét quan niệm sống đó của Xuân Diệu có tích cực không.

– Với yêu cầu a, cần thấy : Xuân Diệu quan niệm thời gian không phải là tuần hoàn mà là tuyến tính, một đi không bao giờ trở lại. Thời gian trôi chảy rất nhanh, và theo cái đà trôi đó, cả thiên nhiên và sự sống của con người đều không thể tránh khỏi viễn cảnh héo úa, tàn phai. Thời gian thật là khắc nghiệt, đời người có hạn, tuổi xuân ngắn ngủi. Nhà thơ đã nhìn thời gian qua lăng kính của một “cái tôi” cá nhân yêu đời, ham sống Với Xuân Diệu, thòi gian đời người không đồng nhất với thời gian vũ trụ. Vũ trụ có thể tồn tại vĩnh viễn, mùa xuân có thể tuần hoàn, nhưng “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”.

– Với yêu cầu b, cần thấy, đối với Xuân Diệu, thế giới này đẹp nhất, mê hồn nhất là vì có con người giữa tuổi trẻ và tình yêu. Phải biết yêu cuộc sống hiện tại, cuộc đời nơi trần thế. Phải biết nâng niu, quý trọng từng giây, từng phút của tuổi trẻ và tình yêu ; phải chủ động chạy đua với thời gian để chiến thắng nó.

– Với yêu cầu c, cần hiểu rằng, quan niệm sống nói trên của Xuân Diệu một thời đã từng bị phê phán. Giờ đây, cần thấy quan niệm sống của ông là tích cực, thấm đẫm tinh thần nhân văn.

3. Suy nghĩ của anh (chị) về nhận xét sau : ” của Xuân Diệu có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí”.

Để làm được bài tập này, cần tập trung làm rõ một số ý sau :

– Giải thích nhận xét trong đề bài :

+ Mạch cảm xúc : là sự tiếp nối những trạng thái tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong suốt bài thơ : ước muốn, khát khao cháy bỏng (khổ thơ đầu) ; say mê, ngây ngất (khổ thơ thứ hai) ; buồn, sợ hãi, tiếc nuối (khổ thơ thứ ba) ; hăm hở, vội vàng, cuống quýt (khổ thơ cuối).

+ Mạch luận lí : sự liên kết, móc nối về ý trong việc thể hiện, bày tỏ quan niệm của nhà thơ : sống mãnh liệt, hết mình, chói sáng.

+ Sự kết họp nhuần nhuyễn: là sự hoà quyện tự nhiên, hài hoà, lôgíc và hiệu quả giữa dòng chảy của những tình cảm, cảm xúc, trạng thái tâm hồn Xuân Diệu với những lí giải của ông về triết lí sống “vội vàng”.

– Phân tích :

+ Khát khao níu giữ thời gian, hương sắc, vẻ đẹp của cuộc sống.

+ Nhận thấy quy luật tất yếu của thời gian là sự chảy trôi không bao giờ trở lại kéo theo sự phôi pha của cảnh vật theo thời gian.

+ Giải pháp dung hoà giữa ước muốn níu giữ thời gian, hương sắc của cuộc sống với sự không trở lại của thời gian : cuộc sống đầy quyến rũ, lôi cuốn mà đời người lại ngắn ngủi, dòng thời gian vẫn chảy trôi không dừng lại, cho nên con người phải chọn cách sống nhanh, sống sôi nổi, nhiệt tình, sống có ý nghĩa.

– Vội vàng là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Diệu, thể hiện được quan niệm sống, quan niệm thẩm mĩ, khát khao, ý thức sống của nhà thơ, đồng thời cho thấy sự kết họp nhuần nhuỵ giữa mạch cảm xúc mãnh liệt, dồi dào và mạch luận lí chặt chẽ cùng với những sáng tạo độc đáo của nhà thơ về nghệ thuật.

(Vũ Thị Hồng Thắm soạn)

Nét đặc thù về nhịp điệu của bài thơ ? Tác giả sử dụng những thủ pháp nào để tạo ra nhịp điệu ấy ?

Bài tập này có hai yêu cầu :

a) Nhận ra nét đặc thù về nhịp điệu của bài thơ.

b) Hiểu được nhà thơ đã sử dụng những thủ pháp nghệ thuật nào để tạo ra nhịp điệu ấy.

– Với yêu cầu a, cần thấy nét riêng về nhịp điệu của bài thơ là nhanh, vội vã, gấp gáp. Đó chính là nhịp điệu của cuộc sống vội vàng.

– Với yêu cầu b, cần phải thấy, tác giả đã dùng nhiều thủ pháp để tạo nên nhịp điệu ấy : thể thơ biến đổi một cách linh hoạt; hình thức điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp ; sử dụng linh hoạt, xen kẽ các kiểu câu miêu tả, cảm thán, nghi vấn ; nhịp ngắt trong từng câu thơ luôn thay đổi phù họp với cảm xúc, tâm trạng.

5. Ngoài những câu thơ trong bài này, anh (chị) còn biết những câu thơ nào của Xuân Diệu nói về quan niệm sống “vội vàng” ?

Bài tập này yêu cầu anh (chị) tìm những câu thơ trong các bài thơ khác nói về quan niệm sống “Vội vàng” của Xuân Diệu. Có thể đọc các bài thơ của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám để tìm ra những câu thơ đó.

Đặc sắc đó thể hiện rõ nhất ở bài Vội vàng.

Mở đầu bài thơ, Xuân Diệu diễn tả các ý muốn có vẻ kì lạ và ngông cuồng :

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất,

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.

Đó là hương và mầm của mùa xuân. Những câu thơ tiếp theo là những câu tả mùa xuân. Trước Xuân Diệu chưa có nhà thơ nào tả mùa xuân như vậy. Ý nói, lời nói về cảnh sắc và âm thanh của mùa xuân. Chú ý vị trí và cách sử dụng các từ ngữ : của, này đây,… :

Của ong bướm này đây tuần tháng mật ;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì ,

Này đây lá của cành tơ phơ phất ;

Của yến anh này đây khúc tình si ;

Có lẽ mới nhất là mấy câu thơ sau đây :

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa ,

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần ;

Tà áo mới cũng say mùi gió nước

Rặng mi dài xao động ánh dương vui.

(Xuân đầu)

Trong đoạn thơ trên, cảm hứng và tư tưởng chính của bài thơ tập trung ở câu thơ đặc biệt này :

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Trước Xuân Diệu không lâu, Thế Lữ có bài thơ Khúc ca hoài xuân (Tiếc mùa xuân) mà khổ thơ đầu tả mùa hạ :

Tiếng ve ran trong bóng cây râm mát,

Giọng chim khuyên ca ánh sáng mặt trời.

Gió nắng reo trên hồ sen rào rạt.

Mùa xuân còn, hết ? Khách đa tình ơi !

Xuân Diệu nói ngược, nói khác với bài thơ của Thế Lữ và nhà thơ giải thích :

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Xuân tàn, hạ tới, thu hết, đông sang, xưa nay thơ đã nói nhiều ý đó. Thế Lữ cũng chưa nói khác, dù lời thơ mới mẻ, phong phú, sôi động hơn. Song đến Xuân Diệu mói thấy được “phép biện chứng” của mùa xuân : cùng một lúc nhà thơ thấy xuân đương tới và xuân đương qua, xuân còn non và xuân sẽ già.

Cảm hứng về thời gian của Xuân Diệu mới mẻ đã đổi khác, “hiện đại” hơn.

Cảm hứng về thời gian đó dẫn đến cảm hứng về cuộc đời. Nhiều nhà thơ trước đây đều đã thấy sự ngắn ngủi của đời người. Cái mới của Xuân Diệu là còn thấy sự ngắn ngủi của tuổi trẻ :

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian…

Từ đó, nhà thơ tiếc mùa xuân, tuổi trẻ ngay đang giữa mùa xuân, tuổi trẻ :

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chảng hai lần thắm lại.

Tiếc mùa xuân, tiếc tuổi trẻ cũng ỉà tiếc sự sống, tiếc cuộc sống. Đó tức cũng là lòng yêu đời, lòng ham sống. Xuân Diệu diễn tả rất sâu, rất hay, rất mãnh liệt và thiết tha tình cảm đó bằng những âm thanh, màu sắc, hình thể của mùa xuân :

Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc,

Phải chàng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

Đó là những câu thơ rất trẻ, rất đẹp, thể hiện cao độ tình yêu đời, ham sống của nhà thơ. Nhà thơ còn dùng hình tượng : đất trời, năm tháng, núi sông để làm cho ý thơ thêm rộng lớn :

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời ;

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…

Bước đi của thời gian tuy âm thầm mà mãnh liệt không gì ngăn được ! Trước và sau Xuân Diệu, chưa ai diễn tả được cảm hứng này như Xuân Diệu.

Cảm nhận về thòi gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ, về cuộc đời như trên dẫn nhà thơ đến một thái độ sống đặc biệt. Đó là sự “vội vàng” :

Mau đi thôi ! Mùa chưa ngả chiều hôm,

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn,

– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !

Lại những câu thơ vừa cực tả vẻ đẹp, sức sống của mùa xuân, vừa cực tả lòng yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt, say mê của nhà thơ. Để diễn tả những điều đó, nhà thơ dùng những từ ngữ, hình tượng thiên về cảm giác và hành động : ta muốn ôm, ta muốn riết, ta muốn say, ta muốn thầu trong một cái hôn nhiều, cho chếnh choáng, cho đã đầy, cho no /zể,.. Ể và cuối cùng : ta muốn cắn… Tuy vậy, cần thấy rằng nhà thơ rất biết giới hạn niềm say mê nồng nhiệt của mình, không để rơi vào sự rồ dại, thác loạn.

Đúng như lời Hoài Thanh nhận xét : “Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của ‘ mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết.” ễ Thơ Xuân Diệu sọng động như chính sự sống. Qua thơ Xuân Diệu, ta cũng thấy rõ sức sống của tiếng nói Việt Nam, câu thơ Việt Nam, có thể diễn tả được mọi cung bậc của cuộc đời, mọi trạng thái tình cảm của con người, từ tĩnh lặng nhất đến sôi nổi nhất ể

(Theo Trần Thanh Đạm, Làm văn (sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000), NXB Giáo dục)

chúng tôi

Bài tiếp theo

Soạn Bài Từ Ấy, Soạn Văn Lớp 11, Giáo Án, Học Tốt Ngữ Văn 11 / 2023

Học Tập – Giáo dục ” Văn, tiếng Việt ” Văn lớp 11

Nhắc đến thơ ca cách mạng, chúng ta không thể không nhắc đến những vần thơ trữ tình chính trị của nhà thơ Tố Hữu, soạn bài Từ ấy để chúng ta thêm hiểu về phong cách thơ của ông, các em cùng tham khảo bài soạn trong tài liệu soạn văn lớp 11 của chúng tôi để biết nội dung bài thơ.

Trong chương trình học Ngữ Văn lớp 11 phần bài là một nội dung quan trọng các em cần chú ý Phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu đầy đủ.

Ngoài nội dung ở trên, các em có thể tìm hiểu thêm phần Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm nổi bật vẻ đẹp của hình tượng những người nghĩa sĩ nông dân yêu nước nhằm chuẩn bị trước nội dung bài SGK Ngữ Văn lớp 11.

https://thuthuat.taimienphi.vn/soan-van-lop-11-soan-bai-tu-ay-30529n.aspx

Soạn bài Soạn bài Tôi yêu em, Ngữ văn lớp 11 Soạn bài Hầu trời, Ngữ văn lớp 11 Soạn bài Người trong bao, Ngữ văn lớp 11 Soạn bài Viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn học, Ngữ văn lớp 11 Soạn bài Vội vàng, Ngữ văn lớp 11

Soạn bài: Từ ấy (Tố Hữu)

, Soạn bài thơ Từ ấy của Tố Hữu văn lớp 11, Soạn bài thơ Từ ấy,

Tuyển tập văn mẫu lớp 11 Bài văn mẫu lớp 11 giúp cho các bạn học sinh lớp 11 có thêm những tài liệu hay để tham khảo và biết cách để làm một bài văn tốt. Đối với môn văn học các bạn cần phải đọc thường xuyên thì mới có thể viết hay được. Nếu chư …

Tin Mới

Soạn bài Tinh thần thể dục, Nguyễn Công Hoan

Các em soạn bài Tinh thần thể dục (Nguyễn Công Hoan) trang 172 SGK Ngữ văn 11, tập 1 để hòa cùng không khí sôi nổi của phong trào thể dục do Pháp phát động, nhưng thực chất là cuộc săn lùng người đi cổ vũ bóng đá và những trò “thừa nước đục thả câu” của bọn quan quân địa phương nhằm bòn rút tiền của của nhân dân, từ đó thấy được hiện trạng xã hội lúc bấy giờ vô cùng nhố nhăng, hỗn độn, thối nát và số phận đáng thương của những người nông dân.

Soạn bài Vi hành, Nguyễn Ái Quốc

Nội dung các câu hỏi phần soạn bài Vi hành sẽ từng bước giúp các em học sinh tìm hiểu giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm cũng như thấy được tài năng kể chuyện sinh động, nhẹ nhàng hóm hỉnh mà sâu cay của Nguyễn Ái Quốc khi xây dựng hình tượng tên vua bù nhìn Khải Định qua con mắt và những đánh giá của đôi thanh niên người Pháp trên chuyến tàu điện ngầm Paris.

Danh sách ngân hàng tại Việt Nam 2021

Ngoài các ngân hàng thương mại, ngân hàng thương mại cổ phần thì danh sách ngân hàng tại Việt Nam 2021 còn cập nhật cả ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài đang hoạt động ở Việt Nam. Các bạn cùng tham khảo để biết được các ngân hàng đang hoạt động, đặc biệt là top ngân hàng thương mại, top ngân hàng TMCP tư nhân uy tín nhất.

Soạn Bài Từ Ấy, Trang 43 Sgk Ngữ Văn 11 / 2023

Soạn bài Từ ấy, trang 43 SGK Ngữ Văn 11

SOẠN BÀI 1. Câu 1 trang 44 SGK

a. Tố Hữu mở đầu bài thơ bằng những câu thơ đầy háo hức, say mê:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim

Hai câu thơ kể lại một kỉ niệm đặc biệt quan trọng trone đời cách mạng và đời thơ Tố Hữu, đó là khi nhà thơ được giác ngộ lí tưởng cộng sản và’được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (lúc đó ông mới 18 tuổi, đang hoạt động tích cực trong Đoàn Thanh niên Cộng sản Huế).

Để thể hiện niềm vui ấy, nhà thơ đã chọn dùng một loạt từ ngữ gợi hình và gợi cảm: bừng (nắng hạ), chói (qua tim), rất đậm (hương), rộn (tiếng chim) Ể Đây đều là những từ ngữ có khả năng tô đậm, nhấn mạnh cảm xúc, tình cảm của nhà thơ. Nó vừa đột ngột, mạnh mẽ vừa sôi nổi và sâu sắc Ề Vì thế, nó thể hiện được trạng thái cảm xúc hưng phấn của nhân vật trữ tình. Khổ thơ như tiếng reo vui đầy phấn chấn. Ánh sáng của cách mạng chói sáng như “nắng hạ”, như “mặt trời” soi đường cho nhân vật trữ tình.

b. Ở hai câu thơ kế tiếp, bút pháp trữ tình lãng mạn cùng với những hình ảnh so sánh đã diễn tả nổi bật niềm vui sướng vô hạn của nhà thơ trong buổi đầu đến với lí tưởng cộng sản:

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim…

Hai câu thơ thực sự là một thế giới tràn đầy sức sống với hương sắc của các loài hoa, vẻ tươi xanh của cây lá, âm thanh rộn rã của tiếng chim ca hót. Đối với vườn hoa lá ấy còn gì đáng quý hơn mặt trời? Đối với tâm hổn người thanh niên đang bân khoăn đi kiếm lẽ yêu đời, còn gì đáng quý hơn khi có một lí tưởng cao đẹp soi sáng, dẫn dắt? Như thế, Tố Hữu đã sung sướng đón nhận lí tưởng như cỏ cây hoa lá đón ánh sáng mặt trời và chính lí tưởng cộng sản đã làm cho tâm hồn con người tràn đầy sức sống và niềm yêu đời, làm cho cuộc sống của con người có ý nghĩa hơn. Nhưng Tố Hữu còn là một nhà thơ nên vẻ đẹp và sức sống mới ấy của tâm hồn cũng là vẻ đẹp và sức sống mới của hồn thơ. Cách mạng không đối lập với nghệ thuật, trái lại, nó đã khơi dậy một sức sống mới, đem lại một cảm hứng sáng tạo mới cho hồn thơ.

2. Câu 2 trang 44 SGK

Khi có ánh sáng của lí tưởng cách mạng soi rọi, nhà thơ đã có những nhận thức mới về lẽ sống. Trong quan niệm về lẽ sống, giai cấp tư sản và tiểu tư sản có phần đề cao “cái tôi” cá nhân chủ nghĩa Ề Khi được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu đã khẳng định lẽ sống là sự gắn bó hài hoà giữa “cái tôi” cá nhân và “cái ta” chung của mọi người. Câu thơ: “Tôi buộc lòng tôi với mọi người” đã thể hiện ý thức tự nguyện sâu sắc và quyết tâm của Tố Hữu muốn vượt qua những giới hạn của “cái tôi” cá nhân để sống chan hoà với cuộc sống của muôn người. Và từ sự quyết tâm ấy, ý thơ trải rộng, gợi ra sự đồng cảm sâu xa:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Tinh thương yêu con người của Tố Hữu không phải là thứ tình thương chung chung mà là tình cảm hữu ái giai cấp:

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.

Đó chính là sự khác biệt trong lí tưởng và hành động của người chiến sĩ cộng sản. Trong mối liên hệ với mọi người nói chung, nhà thơ đặc biệt quan tâm đến quần chúng lao khổ. Từ khối đời chính là ẩn dụ chỉ khối người đông đảo cùng chung cảnh ngộ trong cuộc đời, cùng đoàn kết chặt chẽ với nhau hướng đến một mục đích chung. Có thể hiểu: khi “cái tôi” đã chan hoà trong “cái ta” chung, khi cá nhân đã hoà mình vào một tập thể cùng lí tưởng thì sức mạnh của mỗi người sẽ được nâng lên gấp bội.

3. Câu 3 trang 44 SGK

Giác ngộ lí tưởng cộng sản, nhà thơ đã có những chuyển biến sâu sắc trong tình cảm Ế Lí tưởng cộng sản không chỉ giúp nhà thơ có được lẽ sống mới mà còn giúp nhà thơ vượt qua tình cảm ích kỉ, hẹp hòi của giai cấp tiểu tư sản để có được tình hữu ái giai cấp với quần chúng lao khổ. Hơn thế, đó còn là tình thân yêu ruột thịt:

Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cơm, cù bất cù bơ…

Những điệp từ là cùng với các từ con, em, anh và số từ ước lệ vạn (chỉ số lượng hết sức đông đảo) nhấn mạnh, khẳng định một tình cảm gia đình thật đầm ấm, thân thiết, cho thấy nhà thơ cảm nhận sâu sắc bản thần mình là một thành viên của đại gia đình quần chúng lao khổ, đó là những kiếp phôi pha (những người đau khổ, bất hạnh, những người lao động vất vả, thường xuyên dãi dầu mưa nắng để kiếm sống), những em nhỏ “không áo cơm cù bất cù bơ” (những em bè không nơi nương tựa phải lang thang vất vưởng, nay đây mai đó). Qua những lời thơ ấy, người đọc có thể thấy được lòng căm giận của nhà thơ trước những bất công, ngang trái của cuộc đời cũ. Hình ảnh những kiếp người phôi pha, những em nhỏ cù bất cù bơ cũng gần gũi với những nhân vật đã từng hiện diện trong các sáng tác trước đây của Tố Hữu: cô gái giang hồ trong Tiếng hát sông Hương, chú bé đi ở trong Đ đi em, ông lão khốn khổ trong Lão đầy tớ, em bé bán bánh trong Một tiếng rao đêm,…

Bài thơ đã thể hiện một sự nhận thức sâu sắc vẽ mối liên hệ giữa cá nhân với quần chúng lao khổ. Cũng chính bởi thế mà bài thơ Từ ấy không chỉ là tuyên ngôn cho tập Từ ấy nói riêng mà còn là tuyên nsôn cho toàn bộ sáng tác của Tố Hữu nói chung.

4. Câu 4 trang 44 SGK

Bài thơ là niềm vui sướng, say mê mãnh liệt của Tố Hữu trong buổi đầu gặp gỡ lí tưởng Cách mạng. Sự vận dộng của tâm trạng nhà thơ được thể hiện sinh động bằng những hình ảnh tươi sáng, bằng các biện pháp tu từ gợi cảm (nhất là biện pháp tu từ ẩn dụ) và ngôn ngữ giàu nhạc điệu.

Nhạc điệu của bài thơ trước hết được tạo ra từ thể thơ thất ngôn – vốn mang âm điệu trang trọng. Cách ngắt nhịp trong bài thơ liên tục thay đổi qua các câu thơ, ví dụ: Từ ấy / trong tôi / bừng nắng hạ… Hồn tôi / là một vườn hoa lá /… Gần gũi nhau / thêm mạnh khối đời… Hệ thống vần cuối của các câu thơ cũng rất phong phú, có sức vang ngân, bởi nó chủ yếu là các âm mở, như: hạ – lá; người – nơi – đời , nhà – pha,…

LUYỆN TẬP 1. Câu 1 trang 44 SGK

Có thể chọn một trong ba khổ của bài thơ để viết nên những cảm nghĩ của anh (chị). Tuy nhiên, khổ thơ thứ nhất vẫn được xem là hay nhất của bài.

2. Câu 2 trang 44 SGK

Trong lời tựa tập Trăm bài thơ của Tố Hữu, nhà thơ Chế Lan Viên viết: “Tất cả Tố Hữu, thi pháp, tuyên ngôn, những yếu tố làm ra anh có thể thấy trong tế bào này, anh là nhà thơ của vạn nhà, buộc lòng mình cùng nhân loại…”. Theo Chế Lan Viên, hai yếu tố làm ra anh (phong cách thơ Tố Hữu) là: thi pháp (phương thức biểu hiện: dùng thể thơ truyền thống, sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu,…) và tuyên ngôn (quan điểm nhận thức và sáng tác: gắn bó với quần chúng lao khổ, phấn đấu vì cuộc sống hạnh phúc của đồng bào, tương lai tươi sáng của đất nước,…). Cả hai đặc điểm nêu trên, như đã phân tích đều được thể hiện rõ nét trong Từ ấy.

chúng tôi

Bạn đang đọc nội dung bài viết Soạn Bài Từ Ấy Sbt Ngữ Văn Lớp 11 Tập 2 / 2023 trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!