Đề Xuất 12/2022 # Soạn Bài Bài Ca Ngắn Đi Trên Bãi Cát (Sa Hành Đoản Ca) / 2023 # Top 13 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 12/2022 # Soạn Bài Bài Ca Ngắn Đi Trên Bãi Cát (Sa Hành Đoản Ca) / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Soạn Bài Bài Ca Ngắn Đi Trên Bãi Cát (Sa Hành Đoản Ca) / 2023 mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 42 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

– Bãi cát dài lại bãi cát dài: mênh mông dường như bất tận, nóng bỏng.

+ Tả thực: những con đường miền trung đầy cát trắng

+ Biểu tượng: con đường đầy khó khăn mà con người phải vượt qua để đi đến danh lợi.

– Hình ảnh người đi trên bãi cát:

+ Đi một bước như lùi một bước: nỗi vất vả khó nhọc.

+ Không gian đường xa, bị bao vây bởi núi sông, biển.

+ Thời gian: mặt trời lặn vẫn còn đi.

+ Nước mắt rơi: khó nhọc, gian truân.

Câu 2 Câu 2 (trang 42 SGK Ngữ văn 11 tập 1) Không học được tiên ông phép ngủ, Trèo non, lội suối, giận khôn vơi! Xưa nay, phường danh lợi, Tất tả trên đường đời. Đầu gió hơi men thơm quán rượu, Người say vô số, tỉnh bao người?

– Hai câu Không học được tiên ông phép ngủ / Trèo non, lội suối, giận khôn vơi: mượn điển tích xưa để thể hiện nỗi chán nản vì phải hành hạ mình theo đuổi thi cử, công danh.

– Bốn câu Xưa nay phường danh lợi /…/ Người say vô số tỉnh bao người: nói về sự cám dỗ của bả công danh đối với người đời, danh lợi cũng là thứ rượu làm say lòng người.

Câu 3 Câu 3 (trang 42 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

– Tâm trạng của người lữ khách khi đi trên bãi cát là trạng chán nản, mệt mỏi rã rời. Tâm trạng bế tắc của người đi đường, chưa tìm thấy lối thoát trên đường đời.

– Nỗi niềm bi phẫn cực độ ” anh đứng làm chi trên bãi cát?”. Câu hỏi tu từ là câu cảm thán thể hiện tâm trạng băn khoăn, day dứt giữa việc đi tiếp hay dừng lại?

Câu 4 Câu 4 (trang 42 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

– Bài thơ sáng tác theo lối thơ cổ, câu dài, ngắn xen nhau, vần thơ bằng trắc phối nhịp nhàng, tiết tấu phong phú, giọng điệu khi thì bi tráng, khi thì u buồn…

– Những lúc dừng lại suy nghĩ, câu thơ lại kéo dài ra, nhịp thơ cũng biến hóa phù hợp. Những câu thơ: “Không học được….giận khôn vơi” với nhịp điệu đều, chậm, buồn để cho thấy tác giả tự giận mình không có khả năng như người xưa, mà phải tự hành hạ mình, chán nản mệt mỏi vì công danh – lợi danh…Từng nhịp điệu của bài thơ chính là tâm trạng khi khó nhọc, khi day dứt, khi đau khổ bước trên con đường của mình.

Luyện tập Câu hỏi (trang 42 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

– Bài thơ đã biểu lộ sự chán ghét của một ngời trí thức đối với con đường danh lợi tầm thường đương thời và niềm khát khao thay đổi cuộc sống. Tác giả đã nhận thấy rõ tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử, của con đường công danh theo lối cũ. Từ đó đã thể hiện một Cao Bá Quát với nhân cách cao cả, không chịu thỏa hiệp với dục vọng bản thân và với thực trạng xã hội đang tiềm chứa nhiều suy thoái.

Bố cục Bố cục: 3 phần

– Phần 1 (4 câu đầu) : Hình ảnh người đi trên bãi cát

– Phần 2 (6 câu tiếp): Tâm sự và tâm trạng của người đi trên bãi cát

– Phần 3 (còn lại): Khúc hát đường cùng

ND chính

Bài ca ngắn đi trên bãi cát biểu lộ sự chán ghét của một người tri thức đối với con đường danh lợi tầm thường đương thời và niềm khao khát thay đổi cuộc sống.

chúng tôi

Soạn Bài: Bài Ca Ngắn Đi Trên Bãi Cát (Sa Hành Đoản Ca) / 2023

1. Thể loại

Bài thơ được viết theo thể loại thơ cổ thể. Đó là một thể loại văn học cổ của Trung Quốc du nhập vào Việt Nam rất sớm. Thể ca này nằm trong hệ thống thể loại của văn học trung đại Việt Nam. Có thể kể đến một số các tác phẩm nổi tiếng khác cũng được viết theo thể loại cố tình hình này như Phóng cuồng ca của Trần Tung, Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi, Long Thành cầm giả ca của Nguyễn Du.

2. Hoàn cảnh ra đời của bài thơ

Phần Tiểu dẫn sách giáo khoa cho biết:

“Cao Bá Quát đỗ cử nhân năm 1831 tại trường thi Hà Nội. Sau đó, ông nhiều lần vào kinh đô Huế thi Hội nhưng không đỗ. Bài ca ngắn đi trên bãi cát có thể dược hỉnh thành trong những lần Cao Bá Quát đi thi Hội ấy, qua các tỉnh miền Trung đầy cát trắng như Quảng Bình, Quảng Trị”.

Nhưng cũng có ý kiến khác. Vũ Khiêu trong Lời giới thiệu, thơ chữ Hán Cao Bá Quát (NXB Văn học Hà Nội, 1976) viết:

“Bắt đầu cảm thấy bế tắc, ông lắm lúc thấy mình như người đi trên một bãi sa mạc mênh mông chẳng biết về đâu. Giá có thể trở thành tiên ông để ngủ đi cho qua ngày đoạn tháng, hoặc trở thành người say để chẳng thấy cuộc đời… Đứng làm chi đi ẩn ở phương Bắc nơi núi muôn trùng hay đi ẩn ở phương Nam nơi sóng muôn dợt. Hay đứng hoài trẽn bãi cát vô tận và vô vị này? Cuộc đời dang kích thích ông phải tự lựa chọn lấy mội lối thoát trong bước dường cùng”.

Nếu sách giáo khoa cho rằng bài thơ này được Cao Bá Quát “làm trong khi đi thi Hội” thì giáo su Vũ Khiêu lại cho rằng bài thơ này được viết khi họ Cao đã làm quan cho triều Nguyễn và đã bắt đầu cảm thấy thất vọng và bế tắc.

3. Gợi ý đọc hiểu

Câu 1

Nổi lên từ bài ca ngắn là một bãi cát dài và bóng một người đi trên đó. Hình ảnh bãi cát chủ yếu hiện lên ở đầu bài thơ và được nhắc lại ở đầu đoạn cuối của bài thơ:

Bãi cát lại bãi cát dài,

Đi một bước như lùi một bước.

Mặt trời dã lặn, chưa dừng được,

Lữ khách trên đường nước mắt rơi.

… Bãi cát dài, bãi cát dài ơi!

Tính sao đây? Đường bằng mờ mịt,

Đường ghê sợ còn nhiều, đâu ít?…

Đọc bài thơ, trước mắt ta như hiện rõ lên một cuộc hành trình vất vả, một con đường trên một bãi cát dài mênh mông. Bãi cát ấy mịt mờ, không định ra đâu là phương hướng. Trên con đường là bóng một con người, hẳn đó là bóng nhà thơ, cô độc, trơ vơ bước trầy bước trật, khó khăn (Đi một bước như lùi một bước). Người ấy mê mải đi (Mặt trời đã lặn, chưa dừng dược), đi trong vát vả và khố đau (lữ khách trên đường nước mắt rơi).

Con đường ở đây ngoài yếu tố tả thực còn có ý nghĩa tượng trưng. Con đường trong bài thơ là con đường đời mịt mờ xa hút. Con đường này cho thấy muốn tìm ra mục đích đích thực có ý nghĩa cho cuộc đời mình con người phải vượt qua không biết bao là gian lao, vất vả, thử thách đến tận cùng.

Ngay cả hình ảnh con người trong cuộc hành trình này cũng mang tính biểu trưng. Đó là con người đi tìm lí tưởng, đi tìm mục đích đích thực và có ý nghĩa cho cuộc đời mình giữa một cuộc đời mịt mờ không sao định hướng được.

Đây cũng là hình ảnh con người đi tìm chân lí một cách cô độc và vô cùng bi tráng trong vằn học trung đại nước ta. Có người từ hình ảnh này đã liên tưởng đến hình ảnh bi tráng của “những con chim ưng”, “con chim báo bão” hay “trái tim Đan-kô” trong sáng tác của M.Goóc-ki.

Câu 2

Sáu câu thơ:

Không học được tiên ông phép ngủ

Trèo non lội suối giận khôn vơi!

Xưa nay phường danh lợi

Tất tả trên đường dời

Đầu gió hơi men thơm quán rượu,

Người say vô số, tỉnh bao người?

đọc lên thoạt đầu có vẻ rời rạc nhưng ngẫm kĩ thì lại liên kết lôgic chặt chẽ với nhau.

Hai câu đầu thể hiện tâm sự chán nản của tác giả, tự giận mình đã phải hành hạ xác thân- chính mình trèo non lội suối theo đuổi công danh.

Bốn câu còn lại là hình ảnh đông đao của “phường danh lợi” đang tất tả trên dường dài xuôi ngược để tranh giành hưởng thụ thịt béo, rượu ngon, để say sưa quên hết trách nhiệm cuộc đời. Nhà thơ chua xót nhận ra: “Người say vô số, tỉnh bao người”. Thì ra danh lợi cũng là một thứ rượu dễ say lòng người.

Sáu câu thơ trên chuẩn bị đế tác giả khép lại bài thơ “đứng làm chi trên bãi cát” nghĩa là cần phải thoát ra khỏi cơn say danh lợi vô nghĩa đã nói.

Câu 3

Tâm trạng của lữ khách cũng là của tác giả khi đi trên bãi cát là tâm trạng băn khoăn, đang đi bỗng nhiên dừng lạ

Bãi cát dài, bãi cát dài ơi!

Tính sao đây?…

Tự hỏi mình: Tính sao đây? nghĩa là ông đã phân vân: Có nên đi tiếp hay sớm từ bỏ hành trình? Mặc dù có đi tiếp nữa, cũng rất khó bởi vì: không biết phặi đi thế nào?

… Đường bằng mờ mịt

Đường ghê sợ còn nhiều, đâu ít?

Hãy nghe ta hát khúc “đường cùng”,

Phía bắc núi Bắc, núi muôn trùng,

Phía nam núi Nam, sông dào dạt.

Đúng là nỗi. bế tắc và tuyệt vọng đã che khuất cả bóng người đi lẫn bãi cát dài. Lữ khách lúc này chi còn có thế cất lên khúc hát “đường cùng”.

Trong cô độc và tuyệt vọng thi nhân đành quyết định còn “đứng làm chi trên bãi cát”.

Tầm tư tưởng cao rộng của Cao Bá Quát chính là đây, là chỗ đã nhận ra được tính chất vô nghĩa cúa con đường công danh khoa cử của triều Nguyễn lúc bấy giờ, liên hệ việc làm quan với danh lợi.

Câu 4

Bài ca ngắn di trên bãi cát gồm 16 câu thơ cổ thể, dài ngắn khác nhau, có sáu câu năm chữ, chín cáu bày chữ, một câu tám chữ. Tác giả gieo nhiều vần có cả vần bằng lẫn vần trắc. Nhịp điệu và tiết tấu trong bài thơ này cũng rất phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho việc diễn tả cảm xúc và suy tư của thi nhân.

Luyện tập

Gợi ý

Bài ca ngắn đi trên bài cát (Sa hành đoản ca) của Cao Bá Quát thế hiện tâm trạng bế tắc, tuyệt vọng, bi thương và phẫn uất của kẻ sĩ thời phong kiến lúc bấy giờ, khi chưa tìm ra được lí tưởng sống cao đẹp cho mình. Triều đình nhà Nguyễn khi đó trì trệ bảo thủ, Cao Bá Quát, tác giả bài thơ tuy vẫn đi thi, song ông đã tỏ ra chán ghét con đường khoa cử vì nó luôn gắn liền khái niệm danh lợi với việc làm quan. Bài thơ chứa đựng sự phản kháng âm thầm đôi với trật tự hiện hành và cũng góp phần lí giải vì sao Cao Bá Quát đả tham gia khởi nghĩa Mỹ Lương chông nhà Nguyễn.f

Soạn Bài Ca Ngắn Đi Trên Bãi Cát (Sa Hành Đoản Ca) Siêu Ngắn / 2023

Ý nghĩa tượng trưng của các yếu tố tả thực hình ảnh người đi trên bãi cát:

– Bãi cát dài, cùng đồ (đường cùng):

+ Nghĩa đen chỉ những con đường miền Trung đầy cát trắng.

+ Nghĩa bóng chỉ con đường thi cử mờ mịt và đường đời nhiều thử thách, gian nan.

– Sông, núi, biển: chỉ khó khăn trùng điệp trước mắt; gợi không gian bị phong tỏa, bế tắc.

– Khách:

+ Người bộ hành đi trên cát.

+ Là con người cô độc đi tìm chân lí giữa cuộc đời mờ mịt, người trí thức đi tìm lẽ sống giữa bối cảnh triều Nguyễn trì trệ, bảo thủ.

Câu 2 (trang 42 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Nội dung và sự liên kết ý trong 6 câu:

– Hai câu Không học được tiên ông phép ngủ / Trèo non, lội suối, giận khôn vơi: mượn điển tích xưa để thể hiện nỗi chán nản vì phải hành hạ mình theo đuổi thi cử, công danh.

– Bốn câu Xưa nay phường danh lợi /…/ Người say vô số tỉnh bao người: nói về sự cám dỗ của bả công danh đối với người đời, danh lợi cũng là thứ rượu làm say lòng người.

Câu 3 (trang 42 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Tâm trạng của lữ khách khi đi trên bãi cát:

– Cô độc, chán nản, mệt mỏi: đi một bước như lùi một bước, nước mắt rơi.

– U uất, chua chát, tự trách mình không bỏ mặc mọi thứ được như tiên ông: Không học được tiên ông phép ngủ / Trèo non, lội suối giận khôn vơi.

– Khát khao thoát khỏi con đường danh lợi tầm thường: Xưa nay phường danh lợi /…/ Người say vô số, tỉnh bao người.

– Trăn trở, bế tắc trước con đường thi cử mịt mờ: Tính sao đây? Đường bằng mờ mịt /…/ Phía Nam, núi Nam sóng dào dạt.

– Bi phẫn, tuyệt vọng: Anh đứng làm chi trên bãi cát?

Câu 4 (trang 42 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Bài ca ngắn đi trên bãi cát thuộc loại cổ thể có sự tự do về vần, nhịp điệu, kết cấ u:

– Nhịp điệu được tạo từ sự thay đổi độ dài ngắn của câu và cách ngắt nhịp.

– Ngắt nhịp linh hoạt 2/3; 3/5 có khi 4/3.

– Nhịp điệu diễn tả sự gập ghềnh, trắc trở.

Soạn Văn Bài 26: Sa Hành Đoản Ca / 2023

Cao Bá Quát là một người có tài năng, nổi tiếng thông minh từ nhỏ. Lớn lên thi đỗ đạt và làm quan thời Nguyễn, sau đó ông tham gia lãnh đạo khởi nghĩa nông dân rồi bị bắt và chịu cái án khắc nghiệt. “Sa hành đoản ca” là tác phẩm ông sáng tác nói lên được tư tưởng, tình cảm của mình.

I. Tìm hiểu tác giả tác phẩm

– Cao Bá Quát (1809- 1854) tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, Mẫn Hiên, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh( nay thuộc quận Long Biên, Hà Nội).

– Ông là người có tài năng và bản lĩnh được người đời phong làm Thánh Quát.

– Ông ra làm quan dưới triều Nguyễn rồi từ quan và tham gia lãnh đạo khởi nghĩa nông dân rồi phải chịu cái án tru di tam tộc thật oan nghiệt.

– Thơ văn ông bộc lộ thái độ phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ và chứa đựng tư tưởng khai sáng có tính chất tự phát, phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội Việt Nam trong giai đoạn giữa thế kỉ XIX.

Bài ca ngắn đi trên bãi cát là một trong những bài thơ của Cao Bá Quát thể hiện tâm trạng tình cảm của mình trước tình thế xã hội thối nát đó. Bài thơ này thuộc thể thơ cổ thể, vần gieo tương đối tự do không bị gò bó vào luật. Đây cũng như những lời tâm sự của tác giả khi đi trên bãi cát dài suy ngẫm, day dứt khi bị bế tắc trên con đường đi tìm lý tưởng cao đẹp của mình. Qua đó cũng phê phán trực tiếp xã hội bất công thối nát với khát vọng đi tìm chân lý chính nghĩa.

II. Tìm hiểu tác phẩm.

– Những yếu tố tả thực:

+ Hình ảnh bãi cát được nhắc đi nhắc lại ( điệp ngữ).

+ Mờ mịt, núi muôn lớp, sóng muôn đợt, một sa mạc cát mênh mông vô tận, bãi cát lại bãi cát, một người đi đến mặt trời lặn vẫn chưa thôi, vừa đi vừa lệ tuôn đầy.

Hình ảnh bãi cát dài tượng trưng cho con đường đời xa xôi, mờ mịt. Con đường đi tìm lý tưởng cao đẹp của người quân tử vô cùng gian nan và thử thách. Hình ảnh này xuyên suốt bài thơ, hình ảnh gắn với tâm trạng của nhân vật trữ tình. Qua đó cũng thể hiện được nỗi niềm day dứt, đau sót của tác giả đi trên con đường tìm lý tưởng nhưng xã hội bù nhìn không cho ông lối thoát.

” Không học được tiên ông phép ngủ

Trèo non, lội suối, giận khôn vơi”

– Hình tượng nhân vật trữ tình trong bài thơ là một biểu tượng cho con người có lý tưởng cao đẹp nhưng phải một mình đơn độc bước trên con đường đầy gian nan, thử thách, con đường giữa một bãi cát dài mênh mông nắng cháy. Cao Bá Quát chọn hình ảnh bãi cát dường như có chủ định sâu sắc hơn nữa đó là biểu tượng cho con đường khó khăn vô vàn, đi trên cát đã khó rồi, ở đây lại cả một bãi cát dài tưởng chừng như vô tận, mênh mông không biết lối đi. Hình ảnh bãi cát dài tượng trưng cho sự khổ cực và không may mắn ở phía trước.

– Bốn câu tiếp theo, tác giả đã khái quát con đường công danh với đầy sự cám dỗ. Nhà thơ tự hỏi mình và mọi người rồi tự trả lời bằng hình ảnh ” người say vô số, tỉnh bao người”. Ở đây ta thấy được sự mê muội của con người trong cuộc đời, ít người không vướng vào men rượu công danh, biến con người lọt vào bẫy bi kịch.

Tác giả đã dùng nhiều đại từ nhân xưng khác nhau để chỉ nhân vật trữ tình của mình qua đó tác giả có thể đặt mình ở nhiều góc nhìn khác nhau để cảm nhận và đồng thời nhà thơ có thể tự đọc thoại hay đối thoại với chính mình. Cao Bá Quát thể hiện được mẫu thuẫn trên con đường đi tìm lý tưởng của mình. Đứng trước hiện thực nghiệt ngã, mù mịt cho thấy diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình ở đây rất phức tạp, không biết đi đâu về đâu.

Các câu cảm thán (Trèo non, lội suối, giận khôn vơi!, Bãi cát dài, bãi cát dài ơi!) câu hỏi tu từ (Người say vô số, tỉnh bao người?, Tính sao đây? Đường bằng mờ mịt, Đường ghê sợ còn nhiều, đâu ít?, Anh đứng làm chi trên bãi cát?) thể hiện được tâm trạng bế tắc, băn khoăn, day dứt đến tột cùng của tác giả và khao khát cháy bỏng tìm ra con đường đúng cho mình.

Nhịp điệu của bài thơ rất độc đáo, những câu thơ năm chữ với nhịp 2/3 mô phỏng bước đi khó nhọc trên bãi cát. Những lúc dừng lại suy nghĩ, câu thơ lại kéo dài ra, nhịp thơ cũng biến hóa phù hợp. Từng nhịp điệu của bài thơ chính là tâm trạng khi khó nhọc, khi day dứt, khi đau khổ bước trên con đường của mình.

Soạn Bài Sa Hành Đoản Ca Của Cao Bá Quát / 2023

I.Tìm hiểu chung 1.Tác giả.

– CBQ ( 1809? – 1855 ), tự Chu Thần, hiệu Cúc Đường, Mẫn Hiên, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, Bắc Ninh ( nay là Long Biên, Hà Nội.

– Là một nhà thơ có tài năng và bản lĩnh

– Thơ văn ông bộc lộ thái độ phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ và chứa đựng tư tưởng khai sáng, có tính chất tự phát, phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội VN giai đoạn giữa TK XIX.

Thuở thiếu thời, CBQ nổi tiếng là thần đồng, lúc nhỏ học với cha, lớn lên học với các bậc danh nho đương thời. Tương truyền lúc mới trên mười tuổi, CBQ đã làm đủ các thể văn và tỏ ra xuất sắc.

Năm 1831, CBQ đỗ cử nhân, nhưng mấy lần vào kinh thi Hội đều bị phạm trường quy nên bị đành hỏng.

Năm 1841 ông vào làm việc ở bộ Lễ tại kinh đô Huế. Một lần ông giữ chức sơ khảo trường thi Huế, thấy một bài văn hay nhưng bị phạm huý, nên lấy muội đèn chữa hộ, việc bại lộ ông bị kết án xử chém, sau được xét lại, giam ba năm nhưng rồi được tạm tha, cho đi công cán ở Inđônêxia, lấy công chuộc tội.

Năm 1847, ông làm việc ở viện hàn lâm, chuyên sưu tầm, xếp thơ văn cho vua đọc.

Năm 1853 – 1854 các tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh bị hạn hán , nhân dân đói khổ, lòng người bất mãn với chính quyền phong kiến, ông tổ chức cuộc khởi nghĩa ngay trên đất Mĩ Lương, cuộc khởi nghĩa kéo dài được mấy tháng thì bị triều đình dẹp tan.

CBQ hi sinh, triều đình Tự Đức ra lệnh tru di tam tộc bà con nội ngoại của ông, sách vở của ông bị đốt huỷ.

2.Bài thơ a.Hoàn cảnh sáng tác.

CBQ thi đỗ cử nhân năm 1831, tại trường thi Hà Nội. Để thi tiến sĩ, cần vào kinh đô Huế. Do vậy, ông đã nhiều lần đi Huế để thi Hội (nhưng đã không đỗ tiến sĩ). Hành trình từ Hà Nội vào Huế qua nhiều tỉnh miền trung như Quảng Bình, Quảng Trị là vùng có nhiều bãi cát trắng mênh mông.

Ta thấy hình ảnh những cồn cát miền Trung đã sớm đi vào thơ ca. Miền trung, nhất là Quảng Bình, Quảng Trị, là dãi đất hẹp, có thể bằng mắt thường nhìn thấy một phía là dãy Trường Sơn, một phía là biển đông. Không nghi ngờ gì nữa, hình ảnh bãi cát dài, sóng biển và núi là những hình ảnh có thực đã gợi ý cho tác giả sáng tác bài thơ.

– Hình ảnh con đường “cùng đồ” trong bài thơ có nghĩa bế tắc đường đời của một trí thức.Con đường trí thức của nho sĩ thuở xưa không có gì khác hơn là học, thi, làm quan. Một sự kiện nổi bật cho thấy, CBQ bất bình với học thuật, khoa cử nhà Nguyễn.

– Một phương diện nữa cũng cần chú ý là người VN nói chung và CBQ nói riêng ở giữa TK XIX đã tiếp xúc với văn hoá phương Tây. Họ không thể không suy nghĩ và so sánh về cái học của phương Đông và Tây.

b.Thể loại: Thể ca hành

Bài thơ theo cổ thể có phần tự do về kết cấu, vần, nhịp điệu. Bài thơ có tình cảm phóng túng, lời dài mà đa dạng, không bị gò bó thì gọi là ca; nhịp điệu nhanh, gấp khẩn trương, lưu loát mà không bị ngưng trệ thì gọi là hành, bài nào kiêm cả hai đặc điểm thì gọi là ca hành.

II.Phân tích 1.Thời đại

– Thời đại Cao Bá Quát sống là xã hội không còn minh quân, xã hội chỉ sản sinh ra phường danh lợi an phận, ngủ quên trong vinh hoa phú quý.

– ” Sa hành đoản ca” thể hiện tâm trạng bi phẫn của kẻ sĩ trước đường đời bế tắc, mịt mù đồng thời thể hiện sự dằn vặt, thức tỉnh của kẻ sĩ khi nhận ra những khó khăn trên đường công danh.

– Thời đại Cao Bá Quát sống là xã hội không còn minh quân, xã hội chỉ sản sinh ra phường danh lợi an phận, ngủ quên trong vinh hoa phú quý. Những người có lí tưởng như Cao Bá Quát khi chưa tìm được con đường mới có ý nghĩa họ rơi vào trạng thái cô đơn bế tắc.

– ” Sa hành đoản ca” thể hiện tâm trạng bi phẫn của kẻ sĩ trước đường đời bế tắc, mịt mù đồng thời thể hiện sự dằn vặt, thức tỉnh của kẻ sĩ khi nhận ra những khó khăn trên đường công danh.

2.Hình tượng bãi cát và con người đi trên bãi cát

– Bãi cát và con đường dài là biểu tượng cho con đường đi tìm chân lí xa xôi, mịt mù, muốn đến được đích phải đầy nhọc nhằn

– Đi trên bãi cát ấy là hình ảnh con người vất vả, nhọc nhằn, cô độc. “Đi một bước lùi một bước, lữ khách…nước mắt rơi”

– ” Không học được tiên…giận khôn vơi” Nỗi chán nản của tác giả vì tự mình phải hành hạ thân xác của mình theo đuổi công danh.

– ” Xưa nay…tỉnh bao người” sự cám dỗ của cái bả công danh đối với người đời. Tác giả đã nhận thấy rõ tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử, của con đường công danh theo lối cũ

Nhận định mang tính khái quát về nhưng kẻ ham danh lợi đều phải chạy ngược chạy xuôi nhọc nhằn, được nhà thơ minh hoạ bằng hình ảnh người đời thấy ở đâu có quán rượu ngon đều đổ xô đến, mấy ai tỉnh táo thoát khỏi sự cám dỗ của rượu. Danh lợi cũng là một thứ rượu dễ làm say người. Sáu câu thơ này chuẩn bị cho kết luận của tác giả: cần phải thoát ra khỏi cơn say danh lợi vô nghĩa.

– ” Bãi cát dài…làm chi trên bãi cát?”  Tâm trạng bế tắc của người đi đường, chưa tìm thấy lối thoát trên đường đời.

Gọi nó là đường cùng, nhìn thấy phía trước là đường ghê sợ, tác giả đã thể hiện cái mâu thuẩn chưa thể giải quyết trong tâm trạng của mình. Đi tiếp một cách khó nhọc hay từ bỏ nó? nếu đi mình sẽ tầm thường như phường danh lợi xưa nay, nếu bỏ cuộc, chẳng biết rẽ hướng nào vì “phía Bắc núi Bắc núi muôn trùng, phía Nam núi Nam sóng dào dạt” Mọi ngã đều chắn hướng, dưới chân là bãi cát và con đường ghê sợ, biết làm sao đây? Bài thơ kết lại trong một nỗi niềm bi phẫn cực độ: “Anh đứng làm chi trên bãi cát?”

Một sự bỏ cuộc, từ chối vì ông biết trước con đường ấy sẽ dẫn đến ngõ cụt. Sự bỏ cuộc thật đáng trân trọng, cái bế tắc tuyệt vọng nhưng không làm họ nhỏ bé, hèn mọn, từ bỏ cái mịt mù vô nghĩa để tìm lại từ đầu một con đường đi đúng để thực hiện lí tưởng…

3.Nghệ thuật

– Thay đổi cách xung hô. (Khi thì ” khách”, khi thì “ta”, khi thì “anh”) nhiều trạng thái tâm trạng, giúp tác giả nói một cách thuyết phục hơn về vấn đời danh lợi trong đời.

– “Khách”: tự tách mình thành khách thể để có thể nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan về con đường công danh. Khi xưng “anh”: ông đặt mình trong thế đối thoại với chính mình để tìm lối thoát; ” ta”: là chủ thể trữ tình, vị trí của một người đang vất vả trên đường danh lợi để giãi bày tâm sự của người trong cuộc…

– Bài thơ sáng tác theo lối thơ cổ, câu dài, ngắn xen nhau, vần thơ bằng trắc phối nhịp nhàng, tiết tấu phong phú, giọng điệu khi thì bi tráng, khi thì u buồn…

Nhiều câu hỏi, câu cảm thán thể hiện nhiều trạng thái tâm trạng…

Bạn đang đọc nội dung bài viết Soạn Bài Bài Ca Ngắn Đi Trên Bãi Cát (Sa Hành Đoản Ca) / 2023 trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!