Đề Xuất 2/2023 # Sơ Đồ Quản Lý Dòng Tiền, Tư Vấn Mô Hình Quản Lý Dòng Tiền Tốt Nhất # Top 9 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 2/2023 # Sơ Đồ Quản Lý Dòng Tiền, Tư Vấn Mô Hình Quản Lý Dòng Tiền Tốt Nhất # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sơ Đồ Quản Lý Dòng Tiền, Tư Vấn Mô Hình Quản Lý Dòng Tiền Tốt Nhất mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Sơ đồ quản lý dòng tiền 

Kỳ hạn thanh toán các khoản phải chi tiền 30 ngày (xanh biển)

Kỳ hạn tồn kho 60 ngày (màu đỏ)

Phải thu thực hiện được sau 120 ngày (xanh lá)

Có nghĩa rằng doanh nghiệp sẽ bị thiếu hụt dòng tiền 90 ngày (màu vàng)

Vậy thì nhiệm vụ quản lý dòng tiền của doanh nghiệp là rút ngắn số ngày thiếu hụt tiền đó xuống. Rút ngắn như thế nào?

Nguyên tắc quản lý dòng tiền

Quản lý dòng tiền đó là đảm bảo tiền cho hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp. Bí kíp của quản lý dòng tiền rất đơn giản, anh chị chỉ cần tập trung vào 3 thứ như sau:

1. Các khoản PHẢI CHI

Muốn tăng dòng tiền, cần kiểm soát các khoản phải chi, kiểm tra việc chi tiêu có hiệu quả hay không, chi những gì cần thiết, chứ không chi những khoản muốn chi. Tiếp sau đó là tăng kỳ hạn thanh toán các khoản phải chi, tức là kéo dài thời hạn trả nợ.

Nhiều doanh nghiệp lớn (như Viettel, …) thậm chí đặt chỉ tiêu KPI cho kế toán về thời hạn trả nợ. Như vậy sẽ tận dụng được rất tốt dòng tiền, giảm các khoản phải vay, giảm chi phí lãi vay.

Thương lượng mức giá sỉ, nhưng nhận hàng và thanh toán theo từng đợt

Thương lượng thời gian thanh toán dài hơn từ phía nhà phân phối/ bán hàng

Áp dụng quy trình thanh toán cho mỗi dự án để được thanh toán trong quá trình thực hiện và ngay khi hoàn thành

2. Quản lý TỒN KHO

Luân chuyển nhanh hàng hóa giúp DN có nhiều doanh thu hơn, vốn quay được nhiều vòng hơn.

Không nên có quá nhiều hàng tồn kho. Tồn kho nhiều sẽ ảnh hưởng xấu đến dòng tiền và DN có nguy cơ bị mắc kẹt với nó nếu xu hướng thị trường thay đổi. Luôn giữ hàng tồn kho của DN ở mức hợp lý, nhưng phải đảm bảo đủ trong ngắn hạn (có hàng mỗi khi khách có nhu cầu), và chỉ đặt hàng khi cần.

Các chiến lược giảm hàng tồn kho

Giảm lượng hàng tồn bằng cách đặt ra mức hàng hoá tối đa và tối thiểu

Mua hàng theo hình thức ký gửi, thanh toán khi bán được hàng

Có hệ thống cảnh báo bạn khi định mức hàng tồn kho xuống thấp.

Luôn luôn dự trữ tồn kho các sản phẩm được ưa chuộng. Bạn chỉ có thể biết mặt hàng nào đang bán chạy thông qua thử nghiệm và đo lường.

Giao dịch với các nhà cung cấp nào có thể giao hàng cho bạn nhanh chóng.

Nếu bạn hết hàng, hãy đưa khách sử dụng sản phẩm tạm thời hoặc sản phẩm demo chờ đến khi hàng mới về.

….

3. Các khoản PHẢI THU

Đây là các khoản khách hàng phải trả; các khoản DN đối tác nợ DN anh chị…. Vậy nên cần phải nhanh chóng thu các khoản tiền này. Nếu không nhanh chóng thu các khoản này, DN phải đi vay ngân hàng để chi cho các khoản phải chi.

Yêu cầu thanh toán từng phần hoặc đặt cọc đủ, để khách hàng phải thanh toán trước

Gửi hoá đơn/ biên lai ngay khi hoàn thành công việc/ sản phẩm

Chiết khấu nếu khách hàng thanh toán sớm

Tính thêm lãi phát sinh nếu khách hàng thanh toán quá hạn

…..

Quản lý dòng tiền rất đơn giản và dễ dàng, nếu Doanh nghiệp đo lường và xem báo cáo dòng tiền thường xuyên, nếu Doanh nghiệp đưa các chỉ tiêu quản lý dòng tiền vào KPI, và đưa vào qui trình, qui chế, qui định của Doanh nghiệp, tôi tin chắc Anh Chị sẽ thành công.

(Visited 1.270 times, 1 visits today)

Quản Lý, Báo Cáo, Phân Tích, Phân Tích Dòng Tiền

Các công ty kinh doanh phải học cách quản lý doanh thu và chi phí, dựa trên dòng tiền vào, dòng tiền ra.

Dòng tiền và quản lý dòng tiền là gì?

Thuật ngữ dòng tiền (Cash Flow – CF) có nghĩa đen là dòng chảy, hoặc sự di chuyển của các quỹ tiền mặt vào hoặc ra của một doanh nghiệp. Bài viết này sẽ định nghĩa và giải thích cách phân tích dòng tiền và thuật ngữ đo lường dòng tiền như dòng luân chuyển tiền tệ, dòng tiền ròng và dòng tiền tích lũy. Mục đích là để minh họa vai trò của các cụm từ này trong kế toán tài chính, phân tích đầu tư và hỗ trợ các quyết định trong các đề án kinh doanh.Trong kinh doanh, một loạt các sự kiện dòng tiền theo một cổ phiếu hoặc đầu tư là một dòng tiền. Người ra quyết định sử dụng các số liệu dòng tiền như NPV, ROI, IRR và lợi tức thu được để đánh giá dòng tiền và các cổ phiếu tiềm năng.)Người kinh doanh phân biệt dòng tiền với các thuật ngữ kế toán như thu nhập, doanh thu, chi tiêu và chi phí, tất cả đều có thể dẫn đến dòng tiền, nhưng không phải dòng tiền.

Hãy xem xét một người thanh toán hóa đơn nhà hàng bằng thẻ tín dụng (loại thẻ thanh toán tiêu dùng, không phải thẻ ghi nợ ngân hàng). Do đó, bữa tối là một sự kiện cần chi tiêu, nhưng không phải là dòng tiền của thực khách. Dòng tiền xảy ra sau đó khi chủ thẻ thanh toán hóa đơn thẻ tín dụng.

Một công ty có thể mua hàng hóa hoặc dịch vụ bằng tín dụng và chịu một khoản phí (trách nhiệm pháp lý), giao dịch này được ghi vào tài khoản của công ty đó như một khoản tiền phải trả. Sau đó, hãng sẽ loại bỏ trách nhiệm pháp lý bằng một sự kiện khác khi các dòng tiền chuyển từ người mua sang người bán.

Một công ty có thể bán hàng hóa hoặc dịch vụ, gửi cho khách hàng một hóa đơn điện tử yêu cầu thanh toán và ghi nhận thu nhập nhận được với một giao dịch trong tài khoản của mình dưới dạng Khoản phải thu. Sau đó, dòng tiền từ việc bán hàng sẽ đến khi khách hàng thanh toán.

Quản lý dòng tiền

Các cá nhân và công ty trong kinh doanh phải quản lý doanh thu và chi tiêu dựa trên dòng tiền vào và dòng tiền ra. Phần lớn các doanh nghiệp trên toàn thế giới sử dụng phương pháp kế toán dồn tích, theo đó họ sẽ báo cáo doanh thu trong giai đoạn họ kiếm được tiền, cùng với các chi phí họ phải trả để có mức doanh thu như trên. Kết quả các dòng tiền vào và dòng tiền ra có thể có hoặc không xảy ra trong cùng thời kỳ.

Thử thách khi sử dụng phương pháp kế toán dồn tích

Đối với các công ty sử dụng phương pháp kế toán dồn tích

Tính toán thời gian và quản lý doanh thu, chi phí và các khoản chi tiêu mang tính quyết định trong việc báo cáo thu nhập, xác định tiền thuế phải trả và công bố tiền cổ tức.Thời gian và quản lý dòng tiền cũng cực kì quan trọng trong việc trả tiền trái phiếu và nhu cầu. Chúng bao gồm, ví dụ, trả lương nhân viên và tiền công, và trả lãi cho các khoản vay hoặc trái phiếu. Nhu cầu dòng tiền cũng bao gồm chi phí phát triển sản phẩm mới và nâng cấp cơ sở hạ tầng.

Cơ quan thuế cũng cho phép doanh nghiệp báo cáo một số khoản chi không dùng tiền mặt trên báo cáo Kết quả kinh doanh. Chi phí phi tiền mặt được biết đến nhiều nhất là chi phí khấu hao, trong khi các khoản khác bao gồm các khoản khấu trừ dần và xóa nợ xấu. Đây là các khoản phí so với thu nhập chỉ để giảm thu nhập được báo cáo (do đó giảm thuế). Chúng không đại diện cho dòng tiền thực tế.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Các công ty báo cáo lãi và lỗ thực tế của dòng tiền cho một giai đoạn trực tiếp trên một công cụ báo cáo khác, Báo cáo thay đổi về tình hình tài chính (SCFP, hoặc báo cáo lưu chuyển tiền tệ hoặc báo cáo lưu chuyển vốn). Chi phí “không dùng tiền mặt” không xuất hiện trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ.Lưu ý, một cách ngẫu nhiên, đối với một số công ty sử dụng phương pháp kế toán cơ bản theo tiền mặt (thay vì phương pháp kế toán dồn tích), sự khác biệt giữa dòng tiền và các điều khoản kế toán (thu nhập, doanh thu, khoản chi tiêu và chi phí) phần lớn không có. Phương pháp kế toán cơ sở dựa theo tiền mặt hầu như chỉ tính trên dòng tiền và một số ít khác.

Phân tích kinh doanh dòng tiền

Dòng tiền và dòng tiền ròng là giai đoạn trung tâm trong hai loại phân tích kinh doanh:

Phân tích báo cáo tài chính.Tài sản tiền mặt và dòng tiền đóng góp các số liệu để đánh giá tình hình tài chính của một công ty, đặc biệt là khả năng đáp ứng các nghĩa vụ hiện tại và thực hiện hành động trong một thông báo ngắn.

Phân tích trường hợp kinh doanh và đầu tư.Dòng tiền là đầu vào và đầu ra cơ bản của một khoản đầu tư hoặc cổ phiếu dự tính. Các ước tính dòng tiền cho phép phân tích với các số liệu dòng tiền như giá trị hiện tại ròng (NPV), Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR), Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) và Thời gian hoàn vốn.

Giải thích dòng tiền theo bối cảnh

Đầu tiên, việc xác định dòng tiền và quản lý dòng tiền phải được tách rời khỏi các điều khoản kế toán như chi phí và doanh thu.

Thứ hai, cho thấy cách thức quản lý dòng tiền trong thực tế sử dụng các số liệu dòng tiền như giá trị hiện tại ròng, tỷ suất hoàn vốn nội bộ và lợi tức đầu tư để theo dõi và đánh giá sự di chuyển của tiền mặt.

Thứ ba, các số liệu về dòng tiền để phân tích đầu tư.

Thứ tư, dòng tiền trong báo cáo tài chính, bao gồm Báo cáo thay đổi về tình hình tài chính (Báo cáo tài chính lưu chuyển tiền tệ).

Dòng Tiền Trong Phân Tích Báo Cáo Tài Chính

Các công ty đại chúng ở khắp mọi nơi công bố báo cáo tài chính vào cuối mỗi kỳ kế toán. Vì những lý do hiển nhiên mà chủ sở hữu doanh nghiệp cùng các cán bộ, quản lý và nhân viên đều rất quan tâm đến những con số mới nhất về kết quả tài chính và tình hình tài chính của công ty. Và, các nhà phân tích ngành, đối thủ cạnh tranh và các nhà quản lý chính phủ cũng theo dõi các con số tương tự một cách chặt chẽ. Tất cả mọi người quan tâm tới công ty đều muốn biết liệu công ty có đang hoạt động có lãi hay không và liệu có khả năng sinh lời trong tương lai hay không. Các công ty thành công là những công ty đạt được những thành tựu sau đây:

Các công ty kinh doanh phải học cách quản lý doanh thu và chi phí ở dòng tiền vào và dòng tiền ra.

Báo cáo tình hình thay đổi tài chính: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ tài chính (hoặc SCFP) báo cáo dòng tiền thực tế trong giai đoạn là Nguồn tiền mặt và dòng tiền thực tế chảy ra khi sử dụng tiền mặt. Dòng tiền thuần trong kỳ là chênh lệch giữa tổng nguồn tiền mặt và tổng lượng sử dụng tiền mặt.Báo cáo tài chính kế toán lưu chuyển tiền tệ cho thấy cách quản lý, tiền mặt hiện có để làm việc, cũng như các khoản lãi và lỗ tiền mặt trong giai đoạn vừa kết thúc của các chủ doanh nghiệp, nhà phân tích và nhà chức trách. Ngược lại, báo cáo Thu nhập (hoặc báo cáo lãi và lỗ, P&L) cho mọi người biết những gì công ty báo cáo về thu nhập trong một khoảng thời gian.Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng giúp giải thích sự khác biệt giữa Bảng cân đối kế toán hiện tại và Bảng cân đối kế toán của kỳ trước. Đặc biệt lưu ý rằng một số công ty (ví dụ: IBM) gọi bảng Cân đối kế toán của họ là “Báo cáo về tình hình tài chính”. Việc sử dụng này giúp giải thích tại sao báo cáo kế toán tài chính về dòng tiền còn được gọi là “Báo cáo thay đổi về tình hình tài chính”.Ví dụ: báo cáo lưu chuyển tiền tệ và mức độ bao quát sâu hơn về mối quan hệ SCFP với các báo cáo tài chính khác, xem Báo cáo thay đổi về tình hình tài chính.

Tiền mặt như một tài sản

Ba số liệu đo lường về tính thanh khoản

Thanh khoản số 1: Vốn lưu động

Vốn lưu động chỉ đơn giản là số dư Tài sản hiện tại của công ty ít hơn số dư Nợ ngắn hạn. Cả hai đều xuất hiện trên bảng Cân đối. Vốn lưu động là số liệu là các đơn vị tiền tệ (ví dụ: đô la hoặc euro). Đối với công ty ở ví dụ:Vốn lưu động = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn = $ 9,609,000 – $ 5,986,000 = $ 3,623,000

Thanh khoản số 2: Tỷ số khả năng thanh toán hiện tại

Hệ số khả năng thanh toán hiện tại sử dụng các số liệu đầu vào của Bảng cân đối kế toán tương tự như vốn lưu động, ngoại trừ việc nó tạo ra tỷ lệ của chúng. Do đó, Hệ số khả năng thanh toán nợ hiện tại là tỷ lệ Tài sản hiện tại so với Nợ ngắn hạn. Ví dụ này:Tỉ lệ khả năng thanh toán hiện tại = Tài sản hiện tại / Nợ ngắn hạn = $ 9,609,000 / $ 5,986,000 = 1,61

Thanh khoản số 3: Tỷ số về khả năng nhanh

Một biến số nghiêm trọng hơn so với Tỷ lệ khả năng thanh toán hiện tại là chỉ số Tỷ số về khả năng thanh toán nhanh. Các nhà phân tích tính toán khả năng thanh toán nhanh theo cùng cách họ tính tỷ số khả năng thanh toán hiện tại, ngoại trừ tử số của hệ số thanh toán nhanh về cơ bản chỉ sử dụng loại hình thanh khoản cao nhất trong số các tài sản hiện tại: Tiền mặt, Tài khoản phải thu, đáo hạn ngắn hạn, chứng khoán có thể bán được và đầu tư ngắn hạn. Tử số của Hệ số thanh toán nhanh không bao gồm các tài sản ngắn hạn mà nhiều người cho là tương đối kém thanh khoản, cụ thể là Hàng tồn kho. Đối với công ty trên ví dụ:Hệ số thanh toán nhanh (Quick Ratio/ Acid-test ratio) = (Tài sản ngắn hạn – Kho hàng tồn kho) / Nợ ngắn hạn = ($ 9,609,000 – $ 3,464,000) / $ 5,986,000 = 1,03

Hệ số khả năng thanh toán nhanh so với tỷ lệ hiện tại: Sự khác biệt là gì?

Phương pháp lượng nào là thước đo tốt hơn về tính thanh khoản của một công ty: Hệ số thanh toán nhanh hay Hệ số khả năng thanh toán hiện tại? Câu trả lời tốt nhất cho câu hỏi này có thể khác nhau giữa các công ty. Phân tích phải xem xét các công ty riêng lẻ trước khi trả lời vì câu trả lời phụ thuộc vào tính thanh khoản thực sự hoặc tính thanh khoản của hàng tồn kho của công ty. Và, câu trả lời cũng phụ thuộc vào mức độ tương đối của hàng tồn kho trong cấu trúc tài sản của công ty.

Đầu vào của tài sản ngắn hạn cho cả hai số liệu bao gồm Tiền mặt, cũng như các tài sản khác có thể về nguyên tắc, có thể nhanh chóng chuyển thành tiền mặt (chủ yếu là Hàng tồn kho và khoản phải thu, nhưng cũng có thể là chứng khoán nợ ngắn hạn phải thu, chứng khoán ngắn hạn và nợ các khoản đầu tư ngắn hạn.

Đo lường tính thanh khoản và tình hình tiền mặt

Đo lường sự thanh khoản và quản lý tiền mặt thường đặc biệt quan tâm đến việc biết con số vốn lưu động hiện tại khi lập ngân sách và lập kế hoạch cho các dự án, chương trình và sản phẩm. Và, tình trạng vốn lưu động ngắn hạn đặc biệt quan trọng khi lập ngân sách chi tiêu cho cải thiện cơ sở hạ tầng hoặc nghiên cứu và phát triển. Vốn lưu động phải đủ cho các kế hoạch này, cũng như chi trả các khoản chi tài chính (ví dụ: trả lãi trái phiếu) và chi phí vận hành (chẳng hạn như trả lương cho nhân viên).Các kết quả số liệu như sau đây dự báo tình hình tiền mặt yếu:

Vốn lưu động âm

Hệ số khả năng thanh toán hiện tại dưới 1,2

Hệ số khả năng thanh toán nhanh f nhỏ hơn 1.0.

Trong những trường hợp như vậy, công ty sẽ gặp khó khăn trong việc đáp ứng bảng lương hoặc các nghĩa vụ ngắn hạn khác. Ngược lại, sự dồi dào của vốn lưu động, hệ số khả năng thanh toán hiện tại cao hoặc Tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh cao cho thấy điều ngược lại. Có đủ tiền mặt trong tay, công ty có thể theo đuổi các khoản đầu tư như vào thị trường mới, nghiên cứu và phát triển sản phẩm hoặc nâng cấp cơ sở hạ tầng của công ty. Và, nó có thể thực hiện những hành động này mà không cần mượn hoặc đặt các nhu cầu hoạt động quan trọng khác vào rủi ro.

Một công ty có thể có quá nhiều tiền mặt?

Dòng tiền trong Đề án kinh doanh và Phân tích Đầu tư

Đầu tư dưới dạng dòng tiền

Tuy nhiên, trong kinh doanh, các khoản đầu tư và hoạt động thường mang lại một loạt dòng tiền vào và dòng tiền ra theo thời gian. Dòng chảy của dòng tiền cho một doanh nghiệp lớn sẽ có kết quả giống như Hình 1 bên dưới:

Dạng dòng tiền này có thể đưa đến kết quả từ các hoạt động ví dụ như sau:Nhiều dạng đầu tư kinh doanhVí dụ, mua trái phiếu hoặc đầu tư vào bất động sản.

Đầu tư tài sản vốn.Chẳng hạn như mua máy móc sản xuất, xe cộ, hoặc hệ thống máy tính.

Một quyết định để thêm một loại hình kinh doanh.Ví dụ, thêm một doanh nghiệp dịch vụ khách hàng sau bán hàng.

Một tổ hợp lớn các hoạt động và đầu tư là trọng tâm của một kịch bản phân tích đề án kinh doanh duy nhất.

Số liệu dòng tiền qua cái nhìn đầu tư: Đồ thị minh họa

Sau khi dự báo một dòng chảy của dòng tiền thuộc loại này, bộ phận quản lý sẽ phân tích sâu hơn với các số liệu tài chính và đồ họa để giải quyết các câu hỏi như sau:

Liệu khoản đầu tư này có đại diện cho một quyết định kinh doanh tốt?

Lợi nhuận sẽ được đánh giá như thế nào dựa trên chi phí đầu tư?

Khoản đầu tư hoặc hoạt động này được đánh giá như thế nào so với các cách sử dụng tiềm năng khác trên cùng một khoản tiền vốn hiện có?

Liệu phương hướng hoạt động này có phải một quyết định kinh doanh tốt hơn?

Theo cách này, dòng tiền đã được dự kiến và sự phân tích nó là trung tâm của đề án kinh doanh tài chính. Các phần tiếp theo cho thấy cách các nhà phân tích giải quyết các câu hỏi bên trên:

Thứ nhất thông qua đồ thị dòng tiền.

Thứ hai, sử dụng số liệu dòng tiền.

Đặc biệt lưu ý rằng các số liệu cho mục đích này có một quan điểm đầu tư về dòng tiền. Về cơ bản, điều này có nghĩa là các số liệu này so sánh chi phí đầu tư với lợi nhuận đầu tư, mỗi khoản theo cách riêng của nó. Và, mỗi số liệu cung cấp một thông điệp riêng biệt về nội dung của dữ liệu dòng tiền. Các số liệu sơ cấp dùng để phân tích dòng tiền bao gồm:

Dòng tiền ròng Net CF

Dòng tiền tích lũy

NPV giá trị hiện tại ròng

Tỷ suất hoàn vốn đơn giản ROI

Thời gian hoàn vốn

Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ IRR

Đo lường dòng tiền: Phân tích bằng đồ thị so với Phân tích số liệu

Hai phần sau đây cho thấy các cách tiếp cận thực tiễn tốt nhất để vẽ đồ thị dòng tiền ròng và dòng tiền ròng tích lũy. Cả hai phần đều lấy dữ liệu cho biểu đồ từ Bảng 1, ngay bên dưới. Và, các phần khác bên dưới cho thấy cách tính toán và giải thích các số liệu này.

Ví dụ: Dòng tiền trong phân tích đồ thị

Chỉ riêng bảng dữ liệu cho thấy rõ ràng dự báo dòng tiền là 100 đô la trong năm năm. Với những dữ liệu này, thử thách bây giờ là quyết định cách tốt nhất để:

Tóm tắt và mô tả dự báo dữ liệu dòng tiền.

Phân tích sâu hơn và đánh giá dòng tiền.

Vẽ đồ thị dòng tiền ròng

Các báo cáo và các bản trình bày về phân tích dòng tiền rõ ràng hơn và dễ hiểu hơn, khi các tác giả trình bày cả bằng đồ thị và bảng để mô tả các sự kiện dòng tiền.

Biểu đồ dòng tiền, như Hình 2 bên dưới, có thêm sự hấp dẫn trực quan. Chúng thu hút sự chú ý của người đọc và làm giảm sự đơn điệu của văn bản thuần túy. Tuy nhiên, ngoài điều này ra, biểu đồ mang đến một “cảm giác” cho mô hình dòng chảy tổng thể theo thời gian. Một “cảm giác” như vậy không dễ để nắm bắt chỉ từ việc đọc số. Do đó, nhiều nhà phân tích biến nó thành một quy tắc luôn bao gồm các đồ thị dòng tiền trong báo cáo Tóm tắt điều hành.

Đó cũng là một thực hành tốt để bao gồm số lượng các bảng dòng tiền trong các báo cáo, chẳng hạn như Bảng 1. Hình cho phép người đọc tự kiểm tra các tính toán của tác giả. Họ cũng giúp những người sẽ tính toán các số liệu khác hoặc kết hợp các bộ dữ liệu từ các báo cáo khác nhau.

Vẽ đồ thị dòng tiền ròng tích lũy và giá trị hiện tại PV

Nó thường hữu ích để trình bày các số liệu và biểu đồ dòng tiền thuần cùng với các số liệu khác có được từ các số liệu này. Độc giả có thể muốn xem Dòng tiền tích lũy và Dòng tiền ở giá trị hiện tại (PV) cũng như số liệu dòng tiền ròng. Nhà phân tích tìm thấy giá trị dòng tiền và giá trị hiện tại (PV) tích lũy của từng thời kỳ, như Bảng 2 cho thấy, bên dưới. Ở đây, Dòng tiền và Giá trị hiện tại tích lũy của mỗi năm bắt nguồn từ số liệu Dòng tiền ròng.

Vẽ đồ thị dòng tiền tích lũy

Số liệu tích lũy cho thấy tổng dòng tiền ròng qua cuối mỗi kỳ. Ví dụ, giá trị tích lũy cho Năm 3 là tổng của dòng tiền ròng Năm 3 cộng với các số liệu ròng cho Năm 2, Năm 1 và dòng tiền ra ban đầu:Yr 3 Dòng tiền tích lũy = $ 40 + $ 20 + 20 – $ 100 = $ 80 – $ 100 = – $ 20.

Các nhà phân tích thường trình bày dòng tiền tích lũy cho toàn bộ dòng tiền với biểu đồ thanh dọc, như Hình 4 bên dưới.

Tìm thời gian hoàn vốn từ dòng tiền tích lũy

Các nhà phân tích đôi khi cũng trình bày dòng tiền tích lũy cho dòng tiền mặt bằng biểu đồ đường, như trong Hình 5 bên dưới.

Biểu đồ đường là phù hợp khi tốc độ dòng tiền không đổi ít nhiều trong mỗi kỳ.

Biểu đồ thanh dọc phù hợp hơn khi dòng tiền trong giai đoạn biến động, hoặc chỉ xuất hiện ở cuối kỳ.

Biểu đồ đường cũng cho thấy thời gian hoàn vốn đầu tư chính xác hơn biểu đồ thanh. Thời gian hoàn vốn là thời gian cần thiết để một khoản đầu tư “tự trả tiền” hoặc hòa vốn. Đây là thời điểm (trục ngang) trong đó dòng tiền tích lũy đạt 0 (trục tung). Ở đây, sự hoàn vốn xuất hiện sau 3,33 năm.

Để biết thêm về tính toán và sử dụng thời gian hoàn vốn làm số liệu tài chính, hãy xem phần trên Số liệu thời gian hoàn vốn, bên dưới hoặc bài viết Thời gian hoàn vốn.

Lưu ý về đồ thị: Phụ lục 5 ở trên xuất hiện dưới dạng biểu đồ đường, như dự định. Khi tạo biểu đồ này dưới dạng biểu đồ MS Excel, hãy đảm bảo tạo biểu đồ Đường bằng Biểu đồ phân tán X-Y của Excel, chứ không phải biểu đồ Đường của Excel. Chỉ có biểu đồ phân tán đặt các điểm dữ liệu một cách thích hợp vào mỗi cuối năm trên trục hoành. Do đó, sự kiện hoàn vốn xuất hiện đúng thời điểm.

Vẽ đồ thị dòng tiền ròng và dòng tiền chiết khấu cùng nhau

Khi các số liệu dòng tiền ròng cũng đóng vai trò là đầu vào cho phân tích chiết khấu, nhà phân tích có thể vẽ biểu đồ cho từng con số ròng cùng với giá trị hiện tại của nó, như hình 6 cho thấy.

Trong Hình 6, mỗi giá trị hiện tại là con số ròng trong tương lai (ở đây, được gọi là giá trị tương lai), chia cho (1+ i) n, trong đó i là lãi suất (tỷ lệ chiết khấu) và n là số kỳ hạn lãi suất (ở đây, năm). Sử dụng tỷ lệ chiết khấu 8%, giá trị hiện tại của Năm 3 là 31,75 đô la khi con số ròng trong tương lai, 40 đô la, được chia cho (1 + 0,08) 3 (Nghĩa là, 40 đô la chia cho 1,26). Xem phần tiếp theo của bài viết này.

Sáu thước đo dòng tiền để so sánh các đề xuất đầu tư

So sánh dòng tiền mặt ví dụ

Ví dụ, hãy xem xét hai đề xuất đầu tư cạnh tranh là Investment Alpha và Investment Beta. Các dòng tiền dự báo sẽ theo sau cho mỗi khoản đầu tư xuất hiện trong Bảng 3 và Hình 7 bên dưới:

Phương án đầu tư nào, Alpha hay Beta, là quyết định kinh doanh tốt hơn?

Các nhà phân tích sẽ cố gắng trả lời câu hỏi này bằng cách đánh giá dòng tiền dự báo cho từng phương án. Các phân tích như vậy thường tập trung vào sáu số liệu tài chính:

Dòng tiền ròng.

Dòng tiền tích lũy.

Giá trị hiện tại ròng (NPV).

Lợi tức đầu tư đơn giản (ROI).

Thời gian hoàn vốn.

Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR).

Rất hiếm khi nên căn cứ vào các quyết định kinh doanh quan trọng trên một chỉ số tài chính duy nhất. Khi so sánh các dòng tiền khác nhau, trên thực tế, các số liệu khác nhau có thể “không đồng ý” về việc luồng nào thể hiện quyết định kinh doanh tốt hơn. Hình 7 cho thấy các dòng tiền Alpha và Beta từ Bảng 3, để so sánh trong các phần bên dưới.

Những người ra quyết định thường sẽ muốn xem làm thế nào mỗi điểm thay thế hành động trên một số hoặc tất cả các số liệu trên trước khi đề xuất một hành động so với hành động khác.

Số liệu 1: Dòng tiền ròng

Chỉ số dòng tiền đơn giản và rõ ràng nhất để so sánh các dòng đầu tư là dòng tiền thuần. Bảng 3 ở trên cho thấy Dòng tiền ròng cho mỗi khoản đầu tư chỉ đơn giản là tổng số tiền thuần của dòng tiền đầu tư và dòng chảy trong toàn bộ thời gian đầu tư. Đối với các khoản đầu tư này, Bảng 3 ở trên và Bảng 4 bên dưới, cho thấy dòng tiền ròng 100 đô la của Alpha vượt quá dòng tiền ròng của Beta là 85 đô la.Chỉ dựa trên sự khác biệt của Dòng tiền ròng, một vài nhà phân tích có thể khuyến nghị Alpha là quyết định kinh doanh tốt hơn. Tuy nhiên, các nhà phân tích thận trọng biết rằng mỗi số liệu tài chính đều có thế mạnh của mình và mỗi số liệu tài chính, bao gồm cả Net CF, bị mù với các khía cạnh khác của dữ liệu. Vì lý do đó, hầu hết các nhà phân tích thận trọng chống lại việc đưa ra quyết định đầu tư trên cơ sở một số liệu tài chính duy nhất.

Tính toán CF ròng – Thêm vào câu chuyện so với CF ròng cao hơn

Tuy nhiên, có một câu chuyện khác nằm bên dưới các số liệu dòng tiền ròng. Dòng tiền và dòng tiền riêng lẻ cho Beta lớn hơn nhiều so với dòng tiền và dòng tiền tương ứng cho Alpha.

Trong khi Phương án đầu tư Alpha có Dòng tiền ròng năm năm cao hơn, Phương án Beta có tổng số luồng và dòng chảy lớn hơn.

Tổng số dòng vốn đầu tư Alpha là 1.190 đô la trong khi tổng số dòng vốn cho Beta là 440 đô la.

Tổng số tiền chi cho Alpha là $ 1,090, trong khi tổng số tiền cho Beta là $ 355.

Đặt lợi nhuận đầu tư sang một bên và chỉ tập trung vào chi phí đầu tư, Beta đầu tư tốn hơn 307% so với Investment Alpha. Bất kể tỷ lệ hoàn trả cho Alpha và Beta, nhà đầu tư có thể đơn giản là không sẵn sàng hoặc không thể lập ngân sách và trả chi phí lớn hơn của Beta. Trước khi cam kết đầu tư Beta, nhà đầu tư sẽ xem xét liệu các quỹ bổ sung cho Đầu tư Beta có thể phục vụ việc sử dụng tốt hơn ở nơi khác hay không.

Số liệu 2: Dòng tiền tích lũy

Các nhà phân tích có thể sẽ có câu hỏi về dòng tiền tích lũy theo từng giai đoạn cho mỗi khoản đầu tư. Lưu ý rằng dòng tiền tích lũy trong suốt giai đoạn cuối, tất nhiên, chỉ đơn giản bằng tổng dòng tiền thuần cho tất cả các thời kỳ. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải hỏi các câu hỏi về dòng tiền tích lũy về các giai đoạn riêng lẻ như:

Trong khoảng thời gian nào dòng tiền tích lũy đầu tiên vượt quá $50?

Đầu tư Alpha trả cho chính mình trong giai đoạn nào? Điều này giống như câu hỏi “Khi nào hoàn vốn xảy ra cho Phương án Alpha?

CF tích lũy cho hai luồng dòng tiền

Để giải quyết câu hỏi như vậy, nhà phân tích chuẩn bị một bảng hiển thị dòng tiền tích lũy cho mỗi khoản đầu tư. Một bảng như vậy xuất hiện như Bảng 4, bên dưới:

Ví dụ, bảng cho thấy dòng tiền tích lũy của Beta trước tiên vượt quá $50 vào năm thứ 4, trong khi tích lũy của Alpha không vượt quá $50 cho đến giai đoạn cuối cùng, năm thứ 5.

Về hoàn vốn cho Alpha, nhà phân tích có thể thấy trong Bảng 4, rằng việc hoàn vốn của Alpha phải xảy ra vào năm 4 vì tổng tích lũy cuối kỳ 3 của năm 3 là âm (-20) trong khi năm 4 là dương (40). Do đó, tại một số thời điểm trong năm 4, do đó, hoàn vốn tích lũy chuyển từ tiêu cực sang tích cực.

Phần bên dưới trên Số liệu 4, Thời gian hoàn vốn, cho thấy cách nhà phân tích tính toán Alpha hoàn vốn chính xác hơn là 3,33 năm.

Số liệu 3: Giá trị hiện tại ròng NPV

Tính NPV

Nhà phân tích tìm thấy giá trị hiện tại ròng (NPV) cho Phương án Alpha như sau:

NPV = ∑ FVj / (1+ i) n với j = 0 đến n

FVj cho mỗi kỳ hàng năm j = Dòng tiền ròng trong kỳ.

Tỷ lệ chiết khấu i = 8,0% (0,08) trong khoảng thời gian.

j = 0 (bây giờ) đến 5 (Năm 5).

NPV Alpha = Thẻ100 / (1 + .08) 0 + 20 / (1 + .08) 1 + 20 / (1 + .08) 2 + 40 / (1 + .08) 3 + 60 / (1 + .08) 4 + 60 / (1 + .08) 5

= Tiết100 + 18,52 + 17,15 + 31,75 + 44.10 + 40.83

= $ 52,36

Số liệu 4: Lợi nhuận đầu tư đơn giản ROI (Khả năng sinh lời)

Số liệu ROI đơn giản đôi khi được cho là để đo lường “hiệu quả” đầu tư. Trong trường hợp này, đầu tư và trong trường hợp này, Đầu tư Beta dễ dàng chiến thắng trong cuộc thi hiệu quả. Để hiểu được tầm quan trọng của tính ưu việt ROI của Beta, thật hữu ích khi nghĩ về ROI theo định nghĩa thay thế khác: “Khả năng sinh lời”.

Lợi nhuận ROI = (Lợi nhuận ròng Chi phí ròng) / (Chi phí ròng)

Đối với các khoản đầu tư này, Alpha cho thấy lợi nhuận lớn hơn: Lợi nhuận của Alpha là 100 đô la trong khi lợi nhuận của Beta là 85 đô la.

Tỷ lệ lợi nhuận cho các khoản đầu tư này là khá khác nhau. ROI đơn giản của Alpha (lợi nhuận) là 92%, trong khi ROI của Beta (lợi nhuận) là 239%.

Sự khác biệt về lợi nhuận không đáng ngạc nhiên. Một đánh giá đơn giản về Bảng 4 cho thấy ngay lập tức rằng cả hai khoản đầu tư đều có “lợi nhuận” tương tự (Net CF) nhưng Phương án Alpha có “chi phí ròng” lớn hơn nhiều (dòng tiền chảy ra). Trong số các số liệu dòng tiền xuất hiện ở đây, chỉ ROI nhạy cảm với mức độ chi phí cá nhân (dòng tiền ra). Các số liệu khác như NPV, Thời gian hoàn vốn và IRR không có tác dụng khi tự rút tiền mặt vì chúng hoàn toàn xuất phát từ số liệu Dòng tiền ròng.

Tính toán ROI đơn giản

Lợi tức đầu tư đơn giản (ROI) cho phân tích này như sau:

ROI = (Lợi nhuận ròng – Chi phí ròng) / (Chi phí ròng)

Đối với Đầu tư Alpha:

ROI Alpha = ((0 + 240 + 250 + 260 + 260 + 180) – (100 + 220 + 230 + 220 + 200 + 120)) / (100 + 220 + 230 + 220 + 200 + 120) = (1.190 – 1.090) / 1090 = 9,2%

Sử dụng cùng một phương pháp, ROI đơn giản cho Beta đầu tư là 23,9%.

Số liệu 5: Thời gian hoàn vốn

Nhân viên tài chính thường thích thời gian hoàn vốn ngắn hơn thời gian hoàn vốn dài hơn. Có hai lý do cho sở thích này:

Thứ nhất, với thời gian hoàn vốn ngắn hơn, lợi nhuận được coi là ít rủi ro hơn.

Thứ hai, thời gian hoàn vốn ngắn hơn có nghĩa là các quỹ đầu tư được thu hồi sớm hơn và có sẵn để sử dụng hiệu quả hơn nữa.

Tính thời gian hoàn vốn

Tìm thời gian hoàn vốn cho Investment Alpha yêu cầu dữ liệu dòng tiền ròng và dòng tiền tích lũy từ Bảng 2 ở trên.

Đầu tiên, lưu ý rằng dòng tiền tích lũy chuyển từ âm sang dương từ cuối năm 3 đến cuối năm 4. Do đó, việc hoàn vốn của Alpha phải xảy ra trong năm 4.

Cũng lưu ý rằng vào cuối năm thứ 3, dòng tiền tích lũy của Alpha là – 20 đô la và dòng tiền ròng trong năm 4 là 60 đô la. Thông tin này đủ để xác định điểm hoàn vốn trong Năm 4 bằng cách nội suy.Vào đầu năm thứ 4, phải trả thêm 20 đô la để hoàn trả chi phí chính xác.Nhà phân tích giả định điều này xảy ra vào 20/60 của năm thứ 4, tức là sau 0,33 năm.Thời gian hoàn vốn cho đầu tư Alpha là 4 + 033 = 4,33 năm.

Rõ ràng ngay lập tức từ Bảng 4 rằng việc hoàn vốn cho Beta xảy ra chính xác vào cuối năm 2, thời điểm dòng tiền tích lũy trở thành 0. Không cần tính toán thêm. Thời gian hoàn vốn cho Beta đầu tư là 2,0 năm.

Lưu ý rằng phương pháp này chỉ hoạt động khi dòng tiền tích lũy tăng đơn điệu theo thời gian (nói cách khác, dòng tiền tích lũy luôn tăng theo từng giai đoạn).

Số liệu 6: Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ IRR

Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR) cho dòng tiền là lãi suất (tỷ lệ chiết khấu) tạo ra giá trị hiện tại ròng bằng 0 cho dòng tiền.

Tính IRR

Các nhà phân tích tính toán các số liệu dòng tiền như NPV, ROI và thậm chí thời gian hoàn vốn, trực tiếp từ các công thức. Ngược lại, Định nghĩa IRR ở trên không dễ dàng cho vay biểu hiện như một công thức.Tuy nhiên, định nghĩa IRR ở trên đề cập đến một số liệu khác tính toán từ một công thức: NPV giá trị hiện tại ròng. Bảng bên dưới hiển thị công thức tính NPV cho dòng tiền bằng cách sử dụng chiết khấu cuối kỳ.Công thức giá trị hiện tại ròng.

Ở đây, các FV trong công thức là số liệu dòng tiền ròng cho từng thời kỳ, i là tỷ lệ chiết khấu, trong khi n là số kỳ. Đối với Trường hợp Alpha và Beta, n = 5. Nghĩa là, mỗi luồng dòng tiền bao gồm 5 giai đoạn trong đó mỗi giai đoạn là một năm.Để biết thêm về việc tìm IRR cho dòng tiền và ý nghĩa của IRR, hãy xem Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ.

Số liệu dòng tiền: Kết luận

Đầu tư nào, Alpha hay Beta, là quyết định kinh doanh tốt hơn? Các số liệu tài chính ở trên cung cấp một “phiếu ghi điểm” hỗn hợp về các khoản đầu tư tiềm năng.

Nhà phân tích nên khuyến nghị đầu tư nào?

Một phần thông tin cần thiết cho một bản án có hiểu biết đến từ các số liệu tài chính được liệt kê ở trên được tính cho từng dòng tiền. Các kết quả cho năm trong số này xuất hiện trong Bảng 5 bên dưới:

Nhìn xa hơn dòng tiền

Khi so sánh và lựa chọn đầu tư, nhà đầu tư thận trọng cũng xem xét hai yếu tố khác trước khi đưa ra lựa chọn:

Thứ nhất, Rủi ro.Các số liệu tài chính ở trên không nói gì về khả năng các dự báo dòng tiền này thực sự xuất hiện. Những người ra quyết định cũng cố gắng đo lường xác suất dự báo kết quả đến, cũng như xác suất mà các kết quả khác xuất hiện.Nhà đầu tư khôn ngoan, nói cách khác, xem xét các phần thưởng tiềm năng (được đo bằng số liệu tài chính) và sau đó cân nhắc chúng với rủi ro.

Thứ hai, lợi ích kinh doanh khác.Đối với các khoản đầu tư hoặc hành động trong đó tất cả lợi ích và chi phí có thể đo lường trực tiếp bằng thuật ngữ dòng tiền, các số liệu ở trên (và phân tích rủi ro) có thể đủ cho người ra quyết định. Tuy nhiên, số liệu dòng tiền là “mù quáng” đối với lợi ích kinh doanh từ kết quả đóng góp cho các mục tiêu kinh doanh phi tài chính.Nhiều hành động và đầu tư được thực hiện cho mục đích đạt được các mục tiêu kinh doanh được xác định đầu tiên trong các điều khoản phi tài chính. Các mục tiêu như vậy có thể bao gồm các cải thiện về sự hài lòng của khách hàng, giảm rủi ro và hình ảnh công ty chẳng hạn. Những lợi ích như vậy có thể được thực hiện rõ ràng và được đo lường bằng các chỉ số hiệu suất chính, nhưng ban đầu không phải là về dòng tiền.

Cách Đơn Giản Để Phân Tích Dòng Tiền

Nếu bạn tin vào câu ngạn ngữ cổ “phải mất tiền mới làm ra tiền” thì hẳn bạn sẽ nắm bắt được bản chất của dòng tiền và ý nghĩa của nó với một công ty. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho thấy cách thức công ty sử dụng tiền mặt (dòng tiền ra) và nguồn gốc tiền mặt (dòng tiền vào).

Sự khác biệt giữa thu nhập và tiền mặt

Trong một bài báo vào tháng Tám năm 1995 của tờ Individual Investor, Jonathan Moreland đưa ra bản đánh giá rất cô đọng về sự khác biệt giữa thu nhập và tiền mặt. Ông nói rằng “tính thanh khoản của công ty cũng quan trọng như khả năng sinh lời của nó” bởi chỉ số này cho biết liệu công ty có đủ tiền để hoàn thành nghĩa vụ nợ của mình hay không. Và xét cho cùng, công ty sẽ bị phá sản nếu không thể trả được các hóa đơn, chứ không phải vì không có lợi nhuận. Ngày nay, đây là điều hiển nhiên. Vậy mà nhiều nhà đầu tư vẫn thường bỏ qua nó. Bằng cách nào ư? Bằng cách chỉ nhìn vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh chứ không phải là báo cáo lưu chuyển tiền tệ.”

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có ba phần riêng biệt, mỗi phần là một hoạt động đặc thù – hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính. Đối với nhà đầu tư ít kinh nghiệm, sẽ dễ dàng hơn để hiểu được ý nghĩa của một báo cáo lưu chuyển tiền tệ khi sử dụng các chú thích tài khoản, tức là mô tả và tiêu chuẩn hóa các thuật ngữ và các định dạng trình bày được sử dụng bởi tất cả các công ty:

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh: Đây là nguồn cốt yếu sinh ra tiền mặt cho công ty và cũng là lượng tiền mặt mà bản thân công ty kiếm được chứ không phải các khoản vốn đến từ hoạt động đầu tư và tài chính bên ngoài. Trong phần này của báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thu nhập ròng (trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh) sẽ được điều chỉnh theo các khoản phí không dùng tiền mặt và sự thay đổi của các tài khoản vốn lưu động – tài sản và nợ từ hoạt động trong bảng cân đối kế toán thời điểm hiện tại.

Dòng tiền từ hoạt động đầu tư: Phần lớn các giao dịch đầu tư đều tạo ra dòng tiền âm (dòng tiền đi ra), chẳng hạn như chi phí vốn cho tài sản, máy móc thiết bị, mua lại doanh nghiệp và mua chứng khoán đầu tư. Còn ngược lại dòng tiền vào đến từ việc bán tài sản, bán công ty và bán chứng khoán đầu tư. Đối với các nhà đầu tư, các mục quan trọng nhất trong phần này là chi phí vốn (sẽ được giải thích sau). Ta thường giả định rằng chi phí này là một điều cần thiết cơ bản để đảm bảo sự duy trì và bổ sung cho tài sản vật chất của công ty nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh hiệu quả và tăng khả năng cạnh tranh .

Dòng tiền từ hoạt động tài chính: Phần này đề cập đến nợ và các giao dịch vốn chủ sở hữu. Các công ty phải liên tục vay và trả nợ. Việc phát hành chứng khoán ít xảy ra hơn. Ở đây, một lần nữa, các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư vì mục đích thu nhập thì thứ quan trong nhất với họ là cổ tức được trả bằng tiền mặt . Và các công ty thường phải cho cổ đông cổ tức bằng tiền mặt chứ không phải lợi nhuận

Dòng tiền của công ty có thể được định nghĩa là con số xuất hiện trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ dưới dạng giá trị thực của tiền mặt từ hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, không có định nghĩa chung nào cho cái gọi là dòng tiền của công ty. Ví dụ, nhiều chuyên gia tài chính coi dòng tiền của công ty là tổng thu nhập ròng và khấu hao (chi phí không dùng tiền mặt trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh). Mặc dù thường sát với con số dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh nhưng cách tính tắt này có thể dẫn đến nhiều sai sót vì vậy các nhà đầu tư nên gắn bó với con số dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh.

Phân tích dòng tiền thường sử dụng một vài tỷ số khác nhau và các tỷ số sau đây là xuất phát điểm phù hợp để nhà đầu tư đo lường chất lượng đầu tư của dòng tiền của một công ty:

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh/Doanh thu thuần: tỷ số này là tỷ lệ phần trăm của dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của một công ty so với doanh số bán hàng thuần, hoặc doanh thu (từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh) của nó. Nó cho chúng ta biết ta nhận được bao nhiêu đồng trên một đồng doanh số bán hàng.

Không có một tỷ lệ phần trăm chính xác nào để tham chiếu, nhưng rõ ràng, tỉ lệ này càng cao càng tốt. Cũng cần lưu ý rằng tỷ số này trong các công ty sẽ khác với tỷ số trung bình của ngành. Nhà đầu tư nên theo dõi diễn biến lịch sử của chỉ số này để phát hiện ra những sai khác đáng kể so với dòng tiền trung bình của công ty/doanh thu cũng như so sánh chỉ số này của công ty với các công ty trong ngành. Ngoài ra, cần theo dõi xem khi doanh thu tăng thì dòng tiền tăng như thế nào; và điều quan trọng là chúng thay đổi với tốc độ ngang nhau theo thời gian hay không.

Lịch sử của dòng tiền tự do: Dòng tiền tự do thường được định nghĩa là dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trừ đi chi phí vốn. Việc tạo ra dòng tiền tự do ổn định và nhất quán là một đặc tính đầu tư có lợi, vì vậy hãy tìm một công ty có dòng tiền tự do ổn định và tăng trưởng.

Nếu muốn cẩn thận hơn, bạn có thể đi sâu vào những thành phần của dòng tiền tự do. Ví dụ, ngoài chi phí vốn, bạn cũng có thể trừ cả cổ tức từ dòng tiền hoạt động thuần để có được cái nhìn toàn diện hơn về dòng tiền tự do. Sau đó có thể so sánh con số này với doanh số bán hàng như đã trình bày ở trên.

Trên thưc tế, nếu công ty có lịch sử thanh toán cổ tức, thì công ty không thể dễ dàng hoãn hoặc bỏ chúng mà không gây ra thiệt hại cho cổ đông. Thậm chí khi việc cắt giảm cổ tức ít gây thiệt hại, nó vẫn là vấn đề đối với nhiều cổ đông. Nhìn chung, thị trường coi việc chi trả cổ tức và chi phí vốn là cùng một phạm trù, đều là những chi tiêu tiền mặt cần thiết.

Nhưng ở đây điều quan trọng là tìm được một mức ổn định. Điều này không chỉ cho thấy khả năng công ty tạo ra dòng tiền mà nó cũng báo hiệu rằng công ty có đủ năng lực để tiếp tục đầu tư các hoạt động của mình hay không.

Tỷ số thanh toán dòng tiền tự do toàn diện: Bạn có thể tính tỷ số thanh toán dòng tiền tự do toàn diện bằng cách chia dòng tiền tự do toàn diện cho tiền thuần từ hoạt động kinh doanh để ra được tỷ lệ phần trăm. Tỷ lệ này càng cao càng tốt.

Dòng tiền tự do là một tiêu chí đánh giá quan trọng đối với các nhà đầu tư. Nó thể hiện tất cả những ưu điểm của dòng tiền mặt do chính hoạt động của công ty tạo ra cũng như việc sử dụng dòng tiền này cho chi phí vốn. Nếu công ty có thể đáp ứng được thử thách này, nó sẽ có không cần phải vay vốn quá mức để mở rộng kinh doanh, trả cổ tức và chống trọi với những thời điểm khó khăn.

Thuật ngữ “cash cow” được áp dụng để chỉ các công ty có dư dả dòng tiền tự do không phải là một thuật ngữ tao nhã, nhưng nó chắc chắn là một trong những đặc tính đầu tư hấp dẫn mà bạn cần xem xét.

Kết luận

Sơ Đồ Tư Duy Dạy Lý 8

Published on

1. 1/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH OAI TRƯỜNG THCS PHƯƠNG TRUNG . tài :Đề “S D NG S T DUYỬ Ụ Ơ ĐỒ Ư TRONG D Y H CẠ Ọ V T LÝẬ 8” Người thực hiện:Nguyễn Thị Thanh Tâm Năm học :2016- 2017 Phòng GD ĐT Thanh Oai Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trường THCS Phương Trung Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

2. 2/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Năm học 2016-2017 SƠ YẾU LÍ LỊCH Họ và tên : Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngày, tháng , năm sinh: 9-12-1982 Năm vào ngành : 1-11-2012 Chức vụ : Giáo viên Đơn vị công tác : Trường THCS Phương Trung Trình độ chuyên môn : Đại học lý Hệ đào tạo : Từ xa Bộ môn giảng dạy: Vật lý 8 và vật lý 7 Trình độ Ngoại ngữ : Danh hiệu thi đua đã đạt : PHẦN I. MỞ ĐẦU 1. Lý do ch n tài, thu n l i và khó kh nọ đề ậ ợ ă

3. 3/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ Từ lâu, dạy học theo kiểu “đọc – chép” được coi là một phương pháp dạy học để truyền tải kiến thức cho học sinh và được sử dụng phổ biến ở nhiều trường trong cả nước. Ngành Giáo dục và Đào tạo cũng đã có nhiều cuộc hội thảo và cũng đã đưa ra nhiều phương pháp dạy học tích cực hơn… nhưng hiện tại không ít giáo viên vẫn sử dụng cách dạy học theo kiểu “đọc – chép” Do m t s bài h c c a ch ng trình có l ng ki n th c nhi u,ộ ố ọ ủ ươ ượ ế ứ ề trong một tiết học chỉ có 45 phút, mà đã mất 10 đến 15 phút ổn định tổ chức, kiểm tra bài cũ, dặn dò học, làm bài tập ở nhà…Như vậy, chỉ còn khoảng 30 phút để giảng bài mới nên giáo viên chọn cách “đọc – chép”. H c sinh hi n nay kh n ng t ghi bài là r t ch m, r t h n ch , th ngọ ệ ả ă ự ấ ậ ấ ạ ế ụ độ trong h c t pọ ậ nên cũng có thầy cô chọn cách đọc bài, học trò chép bài. Học sinh về nhà chỉ cần học thuộc nội dung đã được ghi, khi kiểm tra bài chỉ cần đọc đúng, ghi đúng là được điểm cao… C ng còn m t s giáo viên không ch u khó u t cho vi c thi t k bài d yũ ộ ố ị đầ ư ệ ế ế ạ sao cho phù h p v i t ng i t ng h c sinh mình ang ph trách,ợ ớ ừ đố ượ ọ đ ụ sợ mất sức, cứ sẵn giáo án mẫu đọc cho học sinh chép, khi cần thỉnh thoảng mới dừng lại ghi vài chữ lên bảng. Như thế, vừa không sợ sai kiến thức cơ bản, lại vừa không tốn sức. Trang thi t b và các phòng h c ch c n ng không ho c không cóế ị ọ ứ ă đủ ặ để áp ng nhu c u d y h c theo h ng i m i, hi n i hóa,đ ứ ầ ạ ọ ướ đổ ớ ệ đạ học sinh không có nhiều điều kiện để thực hành hoặc học theo phương pháp trực quan sinh động. Khắc phục tình trạng đọc – chép là một yêu cầu cần thiết để nâng cao chất lượng dạy học đối với tất cả các môn học. Đó là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn phức tạp trong điều kiện hiện nay của nhiều trường. Thực hiện tốt việc chống dạy

4. 4/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ học theo kiểu “đọc – chép” là cả một quá trình lâu dài với sự cố gắng của nhiều đối tượng khác nhau trong đó sự tận tâm của thầy cô giáo là điều hết sức quan trọng mới có thể có kết quả. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chỉ thị bắt đầu từ năm học này (2011 – 2012) chấm dứt việc dạy học chủ yếu qua đọc chép và nhìn chép ở bậc trung học phổ thông,trung học cơ sở ây là ch tr ng phù h p v i ti n trình i m i và nâng cao ch t l ngĐ ủ ươ ợ ớ ế đổ ớ ấ ượ giáo d c, áp ng s mong i b y lâu nay c a nhi u giáo viên tâm huy t v i giáoụ đ ứ ự đợ ấ ủ ề ế ớ d c, giúp h c sinh ch ng h c t p và sáng t o.ụ ọ ủ độ ọ ậ ạNhiều nhà nghiên cứu giáo dục và dư luận lên tiếng không đồng tình, thậm chí phản đối gay gắt và đề nghị chấm dứt việc dạy học theo kiểu đọc chép, nhưng có lẽ do còn nhiều việc phải giải quyết, nên mãi đến năm học này, Bộ Giáo dục và Đào tạo mới có ý kiến chính thức bằng văn bản. Thầy đọc, trò chép trên lớp, cộng với việc học quá tải liên miên khiến các em không đủ thời gian suy ngẫm và tự học, thì lấy đâu ra việc tìm tòi, suy luận để có kiến thức thực sự? Nhưng vấn đề đặt ra, thế nào là thầy không đọc, trò không chép? Không đọc kiến thức đã có sẵn trong sách giáo khoa, thì thầy sẽ nói gì để các em ghi lại và phát triển tư duy? Đội ngũ giáo viên hiện nay phần lớn cũng được đào tạo bằng phương pháp “đọc – chép” nên để thay đổi cách giảng dạy cũng khó có thể đạt kết quả một sớm một chiều. Trong khi đó, bộ sách giáo khoa bậc phổ thông đang tiếp tục được thay đổi và nội dung còn khá nặng nề cũng là một lực cản trong quá trình nói không với “đọc – chép”.

5. 5/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ Trong giai đoạn hiện nay, xu hướng dạy học hiện đại với sự kết hợp những thành tựu công nghệ thông tin đã và đang diễn ra một cách khá phổ biến ở các ngành học, cấp học. Công nghệ thông tin với tư cách là một phương tiện hỗ trợ cho việc dạy học đang chứng tỏ những ưu thế và hiệu quả trong quá trình dạy học nói chung và đối với bộ môn Vật lý nói Đầu năm học 2016 – 2017 Hiệu trưởng Trường THCS tôi triển khai chỉ thị năm học mới của Bộ GD&ĐT trong đó có nêu lên chỉ thị “chấp dứt hoàn hoàn việc đọc – chép hoặc nhìn – chép ở trường THCS” và cô Hiệu trưởng .Từ đó tôi mới tìm hiểu và áp dụng theo phương pháp “S d ng s t duy trong d y h cử ụ ơ đồ ư ạ ọ V t lýậ 8 ” và bài trả lời cho câu hỏi làm thế nào để đổi mới phương pháp dạy học “không cđọ – chép ; không nhìn – chép” theo chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà tôi trăn trở băn khoăn bấy lâu nay đã có cách để giải quyết Qua một năm học áp dụng cho học sinh lớp 8 và lớp 7 ở trường tôi, tôi nhận thấy đây là cách dạy mang lại hiệu quả cao nếu giáo viên biết vận dụng các kĩ năng CNTT vào tiết dạy thì sẽ giúp học sinh hứng thú, yêu thích tiết học hơn so với một tiết dạy bằng giáo án điện tử thông thường. 2. M c nghiên c u tàiứ độ ứ đề Năm học 2011 – 2012 là năm học đầu tiên Bộ GD – ĐT triển khai thực hiện “Ch m d t hoàn toàn vi c c – chép; nhìn – chép các tr ng THấ ứ ệ đọ ở ườ CS,THPT”. Vì trong năm học này tôi chỉ được phân công giảng dạy Vật lý lớp 7 và lớp 8 nên tôi chỉ tập trung nghiên cứu hai khối lớp của mình phụ trách. Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, mức độ nghiên cứu chỉ giới hạn trong vấn đề lớn : “H ngướ d n h c sinh ghi bài theo s t duy”.ẫ ọ ơ đồ ư

6. 6/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ 3. i t ng, khách th , ph m vi nghiên c uĐố ượ ể ạ ứ + Đối tượng nghiên cứu : “So n gi ng b mônạ ả ộ V t lý 7ậ và 8 theo s t duy vàơ đồ ư chu n KTKN c i u ch nh gi m t i trong n m h c 201 1 – 2012”.ẩ đượ đ ề ỉ ả ả ă ọ + Khách thể nghiên cứu : Môn V t lýậ l pớ 7 và l pớ 8 tr ng THở ườ CS + Phạm vi nghiên cứu : H ng d n h c sinh ghi bài theo s t duy.ướ ẫ ọ ơ đồ ư 4. Ý ngh a th c ti n c a tàiĩ ự ễ ủ đề góp ph n t o nên s chuy n bi n trong d y h c b môn, áp ng yêuĐể ầ ạ ự ể ế ạ ọ ộ đ ứ c u phát tri n xã h i, và “Nói không v i c chép”, giáo viên c n l u ý m t sầ ể ộ để ớ đọ ầ ư ộ ố i m sau ây:đ ể đTr c h tướ ế , giáo viên phải nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của việc dạy học Vật lý là phải cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức cơ bản về Vật lý, qua đó giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, truyền thống cho học sinh. Ngh a làĩ ph i v a khai trí v a khai tâm cho các em. Hai nhi m v này luôn g n ch t vàả ừ ừ ệ ụ ắ ặ t ngươ hỗ v i nhauớ . “Nói không v i c chép”, òi h i giáo viên ph i có tâmĐể ớ đọ đ ỏ ả huy t v i ngh nghi p, ph i luôn th y c trách nhi m và uy tín cá nhân c aế ớ ề ệ ả ấ đượ ệ ủ mình tr c h t là i v i h c sinh.ướ ế đố ớ ọ M iph ng pháp d y h c có m t giá tr riêng, tu theo n i dung ki n th cỗ ươ ạ ọ ộ ị ỳ ộ ế ứ và i t ng mà l a ch n ph ng pháp cho phù h p nh m t o bi u t ng, hìnhđố ượ ự ọ ươ ợ ằ ạ ể ượ thành khái ni m, kh c sâu ki n th c c b n … cho h c sinh.ệ ắ ế ứ ơ ả ọ Vi c h c sinh tham giaệ ọ tr c ti p vào vi c gi i quy t nh ng yêu c u c a bài h c v a có tác d ng phát tri nự ế ệ ả ế ữ ầ ủ ọ ừ ụ ể t duy v a gây h ng thú h c t p.ư ừ ứ ọ ậ Tất nhiên vai trò dẫn dắt của người thầy là hết sức quan trọng. Dạy học là một nghệ thuật, bằng tâm hồn, sự hiểu biết và nghệ thuật của giáo viên, những “phần xác” Vật lý sẽ được “phả hồn” vào một cách sinh động và đẹp đẽ, giúp các em cảm nhận tốt hơn, yêu thích hơn bộ môn Vật lý.Ph ng ti n d y h c b ng s t duy ngày càng tr nên phóng phú vàươ ệ ạ ọ ằ ơ đồ ư ở

8. 8/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ áp dụng đề tài hướng dẫn học sinh bậc THCS thực hiện ghi bài theo sơ đồ tư duy. Trường THCS nơi tôi đang giảng dạy được Sở GD&ĐT đâu tư xây dựng thành đơn vị Trường THCS chất lượng cao của huyện và tiến tới sang năm lên trường chuẩn quốc gia, đã xây dựng xong phòng học bộ môn.Học sinh các lớp bước đầu đã được làm quen với cách ghi bài theo sơ đồ tư duy nên các em tiếp thu cách học mới dễ dàng hơn. Một số phần mềm sơ đồ tư duy được phổ biến rộng rãi nên đã hỗ trợ cho giáo viên và học sinh khi trình bày sơ đồ tư duy trên máy chiếu. 1.2. Khó kh n khi th c hi n tài SKKNă ự ệ đề Khi dự giờ các tiết dạy giáo viên còn theo bảng chấm điểm cũ, hầu như đa số giáo viên của các trường THCS đều chưa giảng dạy học sinh theo phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy vào trong một tiết dạy. Giáo viên ở các trường THCS không hướng dẫn kỹ cách thực hiện cho học sinh và chưa nêu rõ tầm quan trọng của việc dạy học theo phương pháp mới này nên tôi phải cho học sinh lớp 7 và lớp 8 xem phim minh họa, hướng dẫn học sinh cách sử dụng phần mềm, cách vẽ sơ đồ tư duy lại từ đầu. 2 . Mô t và gi i thi u các n i dung, bi n pháp chínhả ớ ệ ộ ệ 2.1. Th c tr ng và gi i pháp:ự ạ ả 2.1.1 Gi ng d y theo s t duy t ng c ng tính tích c c c a h cả ạ ơ đồ ư ă ườ ự ủ ọ sinh Qua thực tế cho thấy việc giảng dạy này đã tạo hứng thú cho học sinh. Mỗi học sinh có thể tự lập sơ đồ tư duy cho mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên để bài học trở nên dễ thuộc, dễ hiểu, dễ nhớ hơn. Cùng một nội dung nhưng các em

9. 9/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ có thể thêm nhánh, thêm chú thích dưới dạng hình vẽ nhiều màu sắc tùy vào cách hiểu, cách lĩnh hội kiến thức trong bài học của mình. Sơ đồ tư duy đặc biệt chú trọng về màu sắc, hình ảnh với từ ngữ ngắn gọn thể hiện qua mạng liên tưởng (các nhánh trong bài giảng). Từ phần nội dung chính, giáo viên vẽ ra từng nhánh nhỏ theo từng tiểu mục chính của bài giảng và chú thích, giảng giải theo một ngôn ngữ dễ hiểu và gần gũi với học sinh. Như vậy, thay vì phải học thuộc lòng các khái niệm, định nghĩa hay cả bài giảng đọc chép như lúc trước, giờ đây học sinh có thể hiểu và nắm được khái niệm qua hình vẽ. Chính s liên t ng theo h ng d n c a giáo viên c ng giúp các emự ưở ướ ẫ ủ ũ nh c ph n tr ng tâm c a bài gi ng.ớ đượ ầ ọ ủ ả Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ, vẽ, viết gì trên sơ đồ tư duy, hệ thống hóa kiến thức chọn lọc những phần nào trong bài để ghi, thể hiện dưới hình thức kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc, vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống. Để giảng dạy theo sơ đồ tư duy, giáo viên có thể chủ động vẽ hình trên bảng rồi cho học sinh tiếp tục lên phân nhánh sơ đồ hay để học sinh chia thành từng nhóm nhỏ rồi tự vẽ sơ đồ theo cách hiểu của mình sau đó giáo viên định hướng lại từng nội dung cho học sinh. Sơ đồ tư duy thực chất là một sơ đồ mở không theo một khuôn mẫu hay tỷ lệ nhất định mà là cách hệ thống kiến thức tạo ra một tiết học sinh động, đầy màu sắc và thực sự hiệu quả. Gi ng d y theo s t duy phát huy tính tích c cả ạ ơ đồ ư ự nhi u nh t trong các gi ôn t p. Khi h c sinh tr thành ch th thànhề ấ ờ ậ ọ ở ủ ể nhân v t trung tâm trong m i ti t h c, các em s tr nên hào h ng vàậ ỗ ế ọ ẽ ở ứ h ng say h n trong h c t p.ă ơ ọ ậ

10. 10/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ 2.1.2. Giáo viên tr thành ng i h ng d n, h trở ườ ướ ẫ ỗ ợ Tr c ây, giáo viên v n th ng s d ng s h th ng ki nướ đ ẫ ườ ử ụ ơ đồ để ệ ố ế th c cho h c sinh nh ng h c sinh v n là ng i ti p thu m t cách thứ ọ ư ọ ẫ ườ ế ộ ụ ng.độ Với việc giảng dạy bằng sơ đồ tư duy, nhất là cho học sinh tự phát huy khả năng sáng tạo của mình bằng cách tự vẽ, tự phân bố và thể hiện nội dung bài học qua sơ đồ sau đó yêu cầu các bạn khác bổ sung những phần còn thiếu. Kết thúc bài giảng, thay vì phải ghi chép theo cách truyền thống, học sinh có thể tự “vẽ” bài học theo cách hiểu của mình với nhiều màu sắc và hình ảnh khác nhau. Đến tiết học sau, chỉ cần nhìn vào sơ đồ, các em có thể nhớ được những phần trọng tâm của bài học. Giảng dạy theo sơ đồ tư duy mang tính khả thi cao vì có thể vận dụng được với bất kỳ điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường, có thiết kế trên giấy, bìa, bảng bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màu hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm sơ đồ tư duy đã được triển khai đến từng trường. Việc vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ dần hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học. S t duy hay b n t duy (Mind Map) là hình th c ghi chép s d ngơ đồ ư ả đồ ư ứ ử ụ màu s c, hình nh nh m tìm tòi ào sâu, m r ng m t ý t ng, tóm t t nh ng ýắ ả ằ đ ở ộ ộ ưở ắ ữ chính c a m t n i dung, h th ng hoá m t ch .ủ ộ ộ ệ ố ộ ủ đề Nó là một công cụ tổ chức tư duy được tác giả Tony Buzan (Anh) nghiên cứu kỹ lưỡng và phổ biến rộng khắp thế giới. Tony Buzan sinh n m 1942, chuyên gia hàng u th gi i v nghiên c uă đầ ế ớ ề ứ ho t ng c a b não và là cha c a Mind Map.ạ độ ủ ộ đẻ ủ Trong d y h c:ạ ọ Vi c s d ng s t duy huy ng t i a ti m n ngệ ử ụ ơ đồ ư độ ố đ ề ă c a b não, giúp h c sinh h c t p tích c c, h tr hi u qu các ph ng pháp d yủ ộ ọ ọ ậ ự ỗ ợ ệ ả ươ ạ h c.ọ

12. 12/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ mới mẻ và tốn ít thời gian. V nhi u nhánh cong h n là ng th ng tránh s bu n t , t o sẽ ề ơ đườ ẳ để ự ồ ẻ ạ ự m m m i, cu n hút.ề ạ ố Khi học sinh sử dụng những từ khóa riêng lẻ, mỗi từ khóa đều không bị ràng buộc, do đó nó có khả năng khơi dậy các ý tưởng mới, các suy nghĩ mới. N u trên m i nhánh h c sinh vi t y c câu thì nh v yế ỗ ọ ế đầ đủ ả ư ậ h c sinh sọ ẽ d p t t kh n ng g i m và liên t ng c a b não.ậ ắ ả ă ợ ở ưở ủ ộ Não của học sinh sẽ mất hết hứng thú khi tiếp nhận một thông tin hoàn chỉnh. Vì vậy, trên mỗi nhánh học sinh chỉ viết một, hai từ khóa mà thôi. Khi đó, học sinh sẽ viết rất nhanh và khi đọc lại, não của học sinh sẽ được kích thích làm việc để nối kết thông tin và nhờ vậy, thúc đẩy năng lực gợi nhớ và dần dần nâng cao khả năng ghi nhớ của học sinh. Giáo viên nên th ng xuyên cho h c sinh s d ng s t duy khi làmườ ọ ử ụ ơ đồ ư vi c nhóm và h th ng ki n th c ã h c trong môn h cệ ệ ố ế ứ đ ọ ọ V tlýậ , c bi t là khi ôn t pđặ ệ ậ cho các k thi (dù là thi , h c , u s d ng t t).ỳ ọ đề ử ụ ố Sơ đồ tư duy cũng giúp các học sinh và các thầy cô tiết kiệm thời gian làm việc ở nhà và trên lớp rất nhiều với các phần mềm sơ đồ tư duy trên máy tính học sinh có thể làm tại nhà và gửi email cho các thầy cô chấm chữa trước khi lên lớp. 2.2. Gi ng d y và h c t p v i công c s tả ạ ọ ậ ớ ụ ơ đồ ư duy 2.2.1 Gi i thi uớ ệ ôi nét v s t duyđ ề ơ đồ ư Việc phát triển tư duy cho học sinh và giảng dạy kiến thức về thế giới xung quanh luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của những người làm công tác giáo dục. Nh m h ng h c sinh n m t ph ng cách h c t p tích c c và t ch ,ằ ướ ọ đế ộ ươ ọ ậ ự ự ủ giáo viên không nh ng c n giúp h c sinh khám phá các ki n th c m i mà còn ph iữ ầ ọ ế ứ ớ ả giúp h c sinh h th ng c nh ng ki n th c ó.ọ ệ ố đượ ữ ế ứ đ Việc xây dựng được một “hình

13. 13/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo…Một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên kết” là sơ đồ tư duy. 2.2.2 Nguyên lý và ng d ng s t duy trong d y h cứ ụ ơ đồ ư ạ ọ S t duy (Mind Map) là m t hình th c ghi chép s d ng màu s c vàơ đồ ư ộ ứ ử ụ ắ hình nh, m r ng và ào sâu các ý t ng.ả để ở ộ đ ưở Kỹ thuật tạo ra loại sơ đồ này được gọi là Mind Mapping và được phát triển bởi Tony Buzan vào những năm 1960. v trí trung tâm s là m t hình nh hay m t t khóa th hi n m t ýỞ ị ơ đồ ộ ả ộ ừ ể ệ ộ t ng hay khái ni m ch o.ưở ệ ủ đạ Ý trung tâm sẽ được nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp 1 bằng các nhánh chính, từ các nhánh chính lại có sự phân nhánh đến các từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn. Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được nối kết với nhau. Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng. Nh ng y u t ã làm cho s t duy có tính hi u qu cao vàữ ế ố đ ơ đồ ư ệ ả n n t ng c a chúng là:ề ả ủ S t duy ã th hi n ra bên ngoài cách th c mà não b chúng ta ho tơ đồ ư đ ể ệ ứ ộ ạ ng.độ Đó là liên kết, liên kết và liên kết. Mọi thông tin tồn tại trong não bộ của con người đều cần có các mối nối, liên kết để có thể được tìm thấy và sử dụng. Khi có một thông tin mới được đưa vào, để được lưu trữ và tồn tại, chúng cần kết nối với các thông tin cũ đã tồn tại trước đó. Vi c s d ng các t khóa, ch s , màu s c và hình nh ã em l i m tệ ử ụ ừ ữ ố ắ ả đ đ ạ ộ công d ng l n vì ã huy ng c bán c u não ph i và trái cùng ho t ng.ụ ớ đ độ ả ầ ả ạ độ Sự kết hợp này sẽ làm tăng cường các liên kết giữa 2 bán cầu não, và kết quả là tăng

14. 14/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ cường trí tuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não. S t duy là m t công c h u ích trong gi ng d y và h c t p tr ngơ đồ ư ộ ụ ữ ả ạ ọ ậ ở ườ ph thông c ng nh các b c h c cao h nổ ũ ư ở ậ ọ ơ vì chúng giúp giáo viên và học sinh trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin của một bài học hay một cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới, v.v… 2.2.3 Gi i thi u m t s ph n m m dùng t o s t duyớ ệ ộ ố ầ ề để ạ ơ đồ ư Một sơ đồ tư duy có thể được thực hiện dễ dàng trên một tờ giấy với các loại bút màu khác nhau, tuy nhiên, cách th c này có nh c i m là khóứ ượ đ ể l u tr , thay i, ch nh s a.ư ữ đổ ỉ ử Ph n m m Buzan’s iMindmap™ầ ề www.imindmap.com,Ph n m m Inspirationầ ề : www.inspiration.com,Ph n m mầ ề Visual Mind: Trang chủ tại chúng tôi Ngoài ra, chúng ta còn có thể tham khảo một danh sách các phần mềm loại mind mapping tại địa chỉ sau: Tr c nay, chúng ta ghi chép thông tin b ng các ký t , ng th ng,ướ ằ ự đườ ẳ con số . V i cách ghi chép này, chúng ta m i ch s d ng m t n a c aớ ớ ỉ ử ụ ộ ử ủ b não – não trái, mà ch a h s d ng k n ng nào bên não ph i, n iộ ư ề ử ụ ỹ ă ả ơ giúp chúng ta x lýử các thông tin v nh p i u, màu s c, không gianề ị đ ệ ắ và s m m ng. Hay nóiự ơ ộ cách khác, chúng ta v n th ng ang ch sẫ ườ đ ỉ ử d ng 50% kh n ng b não c a chúng ta khi ghi nh n thông tin.ụ ả ă ộ ủ ậ Với mục tiêu giúp chúng ta sử dụng tối đa khả năng của bộ não, Tony Buzan đã đưa ra sơ đồ tư duy để giúp mọi người 3. Ti n trình m t ti t d y theo s t duyế ộ ế ạ ơ đồ ư Tr c khi áp d ng ph ng pháp “S d ng s t duy trongướ ụ ươ ử ụ ơ đồ ư d y h cạ ọ V t lýậ ” giáo viên giới thiệu cho học sinh xem một số đoạn phim ngắn

21. 21/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ map (vì sơ đồ tư duy là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm học sinh có chung 1 kiểu sơ đồ tư duy, Giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho học sinh về mặt kiến thức và góp ý thêm về đường nét vẽ và hình thức – nếu cần). Khi h c sinhọ ã thi t kđ ế ế s t duyơ đồ ư và t “ghi chép”ự ph n ki nầ ế th c nh trên là các em ã hi u sâu ki n th c và bi t chuy n ki n th c tứ ư đ ể ế ứ ế ể ế ứ ừ sách giáo khoa theo cách trình bày thông th ng thành cách hi u, cách ghi nh riêngườ ể ớ c a mình.ủ Ví d minh h a : S t duy c aụ ọ ơ đồ ư ủ 2 hoc sinh nh ng n i dungư ộ bài h c v n gi ng nhau)ọ ẫ ố

24. 24/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý bước đầu tạo một không khí sôi nổi, hào hứng của cả thầy và trò trong các hoạt động dạy học của nhà trường, là một trong những nội dung quan trọng của phong trào thi đua “Xây d ng tr ng h c thânự ườ ọ thi n, h c sinh tích c c”ệ ọ ự mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang đẩy mạnh triển khai. S t duyơ đồ ư m t công c có tính kh thi caoộ ụ ả vì có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay. Có thể thiết kế sơ đồ tư duy trên giấy, bìa, bảng phụ,… bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy,… hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm sơ đồ tư duy. Với trường có điều kiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tốt có thể cài vào máy tính phần mềm Mindmap cho giáo viên và học sinh sử dụng, bằng cách vào trang web chúng tôi gõ vào ô “tìm kiếm” cụm từ Mindmap, ta có thể tải về bản demo ConceptDraw MINDMAP 5 Professional, phần mềm này không hạn chế số ngày sử dụng và việc sử dụng nó cũng khá đơn giản.

26. 26/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ điều quan động là các em biết cách tự ghi chép đầy đủ nội dung bài học để học ở nhà có thể trinh bày trước tập thể lớp và ghi nhớ lâu kiến thức bài học. 100% h c sinh l pọ ớ 7 và l pớ 8 do tôi gi ng d y u bi t cách th c hi n sả ạ đề ế ự ệ ơ t duy mônđồ ư V t lýậ . Nhiều em sử dụng thành thạo phần mềm mind – map và ứng dụng vào môn học khác. Lúc đầu các em vẽ sơ đồ tư duy chưa quen theo cách ghi ký tự ở từng nhánh, nhưng dần dần học sinh đã đạt yêu cầu tốt hơn. Đặc biệt học sinh lớp 8 chỉ cần 2 sơ đồ tư duy tổng kết ,còn học sinh lớp 7 cần 3 sơ đồ tổng kết và thêm mỗi bài học một sơ đồ tóm tắt kiến thức bài học là tác phẩm do tự tay mình thiết lập nên giống như các bức tranh sinh động nhiều màu sắc hấp dẫn đẹp mắt ,các em có thể tự ôn tập thi học kì dễ dàng. 2. Bài Môn V t lýậ c ng nh nhi u môn h c khác òi h i s ch m chũ ư ề ọ đ ỏ ự ă ỉ trong quá trình h c t pọ ậ . Sự đầu tư thời gian và công sức để học là một trong những nhân tố quan trọng làm nên thành công. Để học sinh yêu thích học Vật lý thì cần có sự quan tâm đúng mức của xã hội. Một dân tộc có truyền thống tôn sư trọng đạo,thông minh,ham học hỏi, vươn lên sáng tạo trong học tập ,nhanh chóng tiếp thu cái mới tiến bộ của thế giới thì sẽ có những học sinh yêu thích học Vật lý và các môn học khác. Giáo viên d y mônạ V t lýậ tr c h t ph i có lòng yêu ngh và có ki n th cướ ế ả ề ế ứ sâu v chuyên môn.ề Dạy vô cảm thì hậu quả học trò học vô cảm. Vì vậy các thầy cô cần phải dạy học trò không bằng trái tim mà cả khối óc nữa. Dạy bằng trái tim là để truyền sự rung cảm. Dạy bằng khối óc là để truyền đạt tri thức.Làm cho h c sinhọ

27. 27/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ th y c h cấ đượ ọ v t lý áp d ng khoa h c k thu t m i hi n i vào xây d ng t n cậ ụ ọ ĩ ậ ớ ệ đạ ự đấ ướ có ý ngh a s ng còn i v i s t n t i c a qu c gia dân t c.C n cho h c sinh th yĩ ố đố ớ ự ồ ạ ủ ố ộ ầ ọ ấ h cọ V t lýậ không có gi i h n mà là h c su t i nh các môn h c khác.ớ ạ ọ ố đờ ư ọ Các em có thể học bất cứ lúc nào nếu muốn miễn là lòng đam mê với khoa học là không có giới hạn.Làm cho học sinh thấy được học Vật lý có lợi cho nghề nghiệp của mình sau này. Khi d y h c các th y cô không nên quá c ng nh c v ph ngạ ọ ầ ứ ắ ề ươ pháp, mà ph i có s linh ho t trong t ng bài gi ng.ả ự ạ ừ ả Không dạy theo kiểu “thầy đọc trò chép”, vì hậu quả của nó là đến khi đi thi học trò sẽ “chép hết gì thầy đã đọc”. Nên dạy cho học sinh cách phân tích, đánh giá để học sinh thực sự nhập cuộc vào bài học, chủ động trong lối suy và cách nghĩ. Dạy học theo sơ đồ tư duy mỗi nhóm sẽ cùng nhau hình thành một tác phẩm sơ đồ tư duy theo ý tưởng riêng của từng học sinh hoặc từng nhóm rất đa dạng phong phú và hấp dẫn tất cả học sinh cả lớp cùng tham gia. Chúng ta cần đa dạng hóa cách dạy và cách học. Dạy học mà khuôn cứng là bóp chết lòng đam mê học tập của học trò. Tr c h t giáo viên ph i t o tâm lý tho i mái cho h c sinh thìướ ế ả ạ ả ọ h c m i có hi u qu .ọ ớ ệ ả Để nắm bắt được nội dung một bài cần đọc sách giáo khoa theo kiểu đọc 5 lần. Không phải đọc oang oang làm tốn sức, mà nên đọc bằng mắt. c l n 1,Đọ ầ học sinh nên đọc nhanh để nắm bắt nội dung cơ bản, để xác định các ý chính. c l n 2,Đọ ầ học sinh chậm hơn để xác định chính xác bài gồm có bao nhiêu ý chính, và nắm bắt sơ bộ các ý nhỏ. c l n 3,Đọ ầ học sinh đọc kỹ bài để xác định chính xác lại các ý chính, nắm

29. 29/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ Nhi u h c sinh có thói quen là vi t nháp h t các n i dung trề ọ ế ế ộ ả l i ra gi y r i vi t l i vào trong bài.ờ ấ ồ ế ạ Không nên làm theo cách này, vì sẽ rất mất thời gian chép lại. Có học sinh chép lại không kịp vì hết giờ làm bài. Tốt nhất là học sinh đọc kỹ câu hỏi, sau đó viết ra các ý chính và những ý nhỏ đi theo từng ý chính. Cùng v i vi c i m i m c tiêu và n i dung d y h c, v n i m i ph ng phápớ ệ đổ ớ ụ ộ ạ ọ ấ đề đổ ớ ươ d y h c theo tri t lý l y ng i h c làm trung tâm c t ra m t cách b c thi t.ạ ọ ế ấ ườ ọ đượ đặ ộ ứ ếBản chất của dạy học lấy người học làm trung tâm là phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của người học. làm c i u ó thì v n u tiên mà ng i giáo viên c n nh n th cĐể đượ đ ề đ ấ đề đầ ườ ầ ậ ứ rõ ràng là quy lu t nh n th c c a ng i h c.ậ ậ ứ ủ ườ ọ Người học là chủ thể hoạt động chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ chứ không phải là “cái bình chứa kiến thức” một cách thụ động. Trong th c t hi n nay, còn nhi u h c sinh, sinh viên h c t pự ế ệ ề ọ ọ ậ m t cách thộ ụ ng khđộ ả n ng t duy.ă ư Học thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện kỹ năng, học sinh chỉ học bài nào biết bài đấy, cô lập nội dung của các môn, phân môn mà chưa có sự liên hệ kiến thức với nhau vì vậy mà chưa phát triển được tư duy logic và tư duy hệ thống. Sử dụng sơ đồ tư duy giúp các em giải quyết được các vấn đề trên và nâng cao hiệu quả học tập. S t duy chính là m t b c tranh t ng th v ch angơ đồ ư ộ ứ ổ ể ề ủ đề đ h ng t i m i cá nhân có th hi u c b c tranh ó,ướ ớ để ỗ ể ể đượ ứ đ nắm bắt được diễn biến của quá trình tư duy theo nhóm đang diễn ra đến đâu, đang ở nhánh nào

31. 31/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nhằm nâng cao hiệu quả của công tác dạy học. Có th tóm l cể ượ s d ng s t duyử ụ ơ đồ ư trong d y h cạ ọ v t lýậ như sau: Sử d ngụ s t duyơ đồ ư trong d y h c ki n th c m i giúpạ ọ ế ứ ớ h c sinhọ h c t pọ ậ m t cách ch ng, tích c c và huy ng c t t cộ ủ độ ự độ đượ ấ ả 100% h c sinhọ tham gia xây d ng bài m t cách hào h ng.ự ộ ứ Với sản phẩm độc đáo “kiến thức + hội họa” là niềm vui sáng tạo hàng ngày của học sinh và cũng là niềm vui của chính thầy cô giáo và phụ huynh học sinh khi chứng kiến thành quả lao động của học sinh của mình. Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gì trên sơ đồ tư duy), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đó để chọn lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống. Tr c ây, các ti t ôn t p ch ng m t sướ đ ế ậ ươ ộ ố giáo viên c ng ã l p b ng bi u,ũ đ ậ ả ể v s , bi u , …ẽ ơ đồ ể đồ và cả lớp có chung cách trình bày giống như cách của giáo viên hoặc của tài liệu, chứ không phải do học sinh tự xây dựng theo cách hiểu của mình, hơn nữa, các bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc và đường nét.Bước đầu tạo một không khí sôi nổi, hào hứng của cả thầy và trò trong các hoạt động dạy học của nhà trường, là một trong những nội dung quan trọng của phong trào thi đua “Xây d ng tr ng h c thân thi n, h c sinh tích c c”ự ườ ọ ệ ọ ự mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang đẩy mạnh triển khai. S t duyơ đồ ư m t công c có tính kh thi cao vì có th v n d ng c v iộ ụ ả ể ậ ụ đượ ớ

32. 32/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ b t kì i u ki n c s v t ch t nào c a các nhà tr ng hi n nay.ấ đ ề ệ ơ ở ậ ấ ủ ườ ệ Có thể thiết kế sơ đồ tư duy trên giấy, bìa, bảng phụ,… bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy,… B c u cho phép k t lu n:ướ đầ ế ậ Việc vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý ở trường THCS sẽ dần dần hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học. Sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình, xem phim minh họa… có tính kh thi cao góp ph n i m iả ầ đổ ớ ph ng pháp d y h cươ ạ ọ , c bi t là i v i các l p c p THPT và THCSđặ ệ đố ớ ớ ở ấ k t n mể ừ ă h c 2012 – 2013.ọ Ph ng Trungươ , ngày 09 tháng 04 n m 201ă 7 Ng i vi t,ườ ế Nguy nễ Th Thanh Tâmị M C L CỤ Ụ PH N I.M UẦ Ở ĐẦ ……………………………………………………………………..3/30 1. Lí do chọn đề tài ………………………………………………………………………………..3/30 2. Mức độ nghiên cứu đề tài ……………………………………………………………………4/30 3. Đối tượng, khách thể, phạm vị nghiên cứu ……………………………………………..4/30 4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài …………………………………………………………………4/30 5. Kết cấu của đề tài ……………………………………………………………………………… 6/30

33. 33/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ PH N II.Ầ N I DUNGỘ ……………………………………………………………….. 7/30 1 Nêu th c tr ng c a v nự ạ ủ ấ đề ……………………………………………………7/30 1.1.Thuận lợi ………………………………………………………………………………………… 8/30 1.2. Khó khăn ……………………………………………………………………………………….10/30 2.Mô t và gi i thi u các n i dung, bi n pháp chínhả ớ ệ ộ ệ ……………….. 11/30 2.1. Th c tr ng và gi i phápự ạ ả …………………………………………………. 15/30 2. 1. 1 Gi ng d y s t duy nh m t ng tính tích c c trong HSả ạ ơ đồ ư ằ ă ự ………………………………………. 15 /30 2. 1.2 GV tr thành ng i h ng d n h trở ườ ướ ẫ ỗ ợ……………………………………………………………………………………………………… 16 /30 2. 1.3 Nh ng l u ý HS khi s d ng s t duyữ ư ử ụ ơ đồ ư ……………………………………………………………………………………….. 19 /30 3. Gi ng d y và h c t p v i công c s t duyả ạ ọ ậ ớ ụ ơ đồ ư ………………….. 20/30 3.1 Gi i thi u ôi nét v s t duyớ ệ đ ề ơ đồ ư ………………………………………………………………………………………………………………………… 20 /30 3.2 Nguyên lý và ng d ng s t duy trong d y h cứ ụ ơ đồ ư ạ ọ ………………………………………………………………… 20 /30 3.3 Gi i thi u m t s ph n m m t o s t duyớ ệ ộ ố ầ ề để ạ ơ đồ ư ………………………………………………………………………… 22 /30 4. Ti n trình m t ti t d y theo s t duyế ộ ế ạ ơ đồ ư …………………………… 22/30 Ph n III. Kầ T QU ,BÀI H C,KI N NGHẾ Ả Ọ Ế Ị……………………………….. 22/30 ………………………………………………………………………………………………………….. 23/30 ………………………………………………………………………………………………………….. 24/30 ………………………………………………………………………………………………………….. 25/30 K T LU NẾ Ậ ……………………………………………………………………………26/30 DANH M C TÀI LI U THAM KH OỤ Ệ Ả ……………………………………….29/30 DANH M C TÀI LI U THAM KH OỤ Ệ Ả 1. Bản đồ Tư duy trong công việc – Tony Buzan – NXB Lao động – Xã hội. 2. chúng tôi (trang web chính thức của Tony Buzan)

34. 34/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ 3. chúng tôi 4. Bài giảng của ThS Trương Tinh Hà về Mind Mapping và các Kỹ năng giải quyết vấn đề. 5. Lớp tập huấn của Bộ GD&ĐT hướng dẫn sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học (xem phim hứng dẫn đính kèm) 6. Hướng dẫn sử dụng phần mềm sơ đồ tư duy (xem phim minh họa) 7. Phim giới thiệu một số giáo viên và học sinh các trường THPT, TTGDTX áp dụng thành công việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học của đài truyền hình (gửi kèm theo SKKN) 8. Trần Đình Châu, Sử dụng Bản đồ tư duy – một biện pháp hiệu quả hỗ trợ học sinh học tập Tạp chí Giáo dục, kì 2, tháng 9-2009. 9. Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy; Bản đồ tư duy – công cụ hiệu quả hỗ trợ dạy học và công tác quản lý nhà trường, Báo Giáo dục&Thời đại, số 147 ngày 14/9/2010

35. 35/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ NH N XÉT TÀI SÁNG KI N KINH NGHI MẬ ĐỀ Ế Ệ ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………………………………………….

36. 36/ 36 SKKN :”Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8″ ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………………………………………….

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sơ Đồ Quản Lý Dòng Tiền, Tư Vấn Mô Hình Quản Lý Dòng Tiền Tốt Nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!