Đề Xuất 12/2022 # Skkn Một Số Phương Pháp Hướng Dẫn Học Sinh Tự Học Ở Nhà Trong Dạy Học Phần Địa Lí Tự Nhiên / 2023 # Top 15 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 12/2022 # Skkn Một Số Phương Pháp Hướng Dẫn Học Sinh Tự Học Ở Nhà Trong Dạy Học Phần Địa Lí Tự Nhiên / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Skkn Một Số Phương Pháp Hướng Dẫn Học Sinh Tự Học Ở Nhà Trong Dạy Học Phần Địa Lí Tự Nhiên / 2023 mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

TRƯỜNG THPT ĐẶNG THAI MAI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC Ở NHÀ TRONG DẠY HỌC PHẦN ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN – ĐỊA LÍ 10 Người thực hiện: Lê Thị Chinh Chức vụ: Giáo viên SKKN thuộc môn: Địa lí THANH HÓA, NĂM 2018 1. MỞ ĐẦU 1.1. Lí do chọn đề tài. 1.2. Mục đích nghiên cứu. 1.3. Đối tượng nghiên cứu 1.4. Phương pháp nghiên cứu 2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm. 2.1.1. Quan niệm tự học 2.1.2. Vai trò của tự học 2.1.3.Quan điểm hướng dẫn tự học 2.1.4. Sự cần thiết của việc hướng dẫn tự học môn địa lí ở nhà 2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2.2.1. Những thuận lợi 2.2.2. Những khó khăn 2.3. Các giải pháp thực hiện 2.3.1. Đặc điểm phần “Địa lí tự nhiên đại cương”, địa lí 10 THPT 2.3.2 Các hình thức tự học ở nhà 2.3.3. Một số phương tiện để học sinh tự học ở nhà 2.3.4. Phương pháp hướng dẫn học sinh tự học ở nhà trong phần địa lí tự nhiên đị lí 10. 2.3.4.1. Phương pháp hướng dẫn học sinh tự học ở nhà bằng các dạng câu hỏi 2.3.4.2. Phương pháp hướng dẫn học sinh tự học ở nhà bằng các dạng bài tập 2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 3.1. Kết luận 3.2. Kiến nghị 1. MỞ ĐẦU 1.1. Lí do chọn đề tài. Tự học là công việc suốt đời của con người trong xã hội học tập hiên nay, đặc biệt trước sự phát triển như vũ bão của khoa học – kĩ thuật, của nền kinh tế tri thức. Vì vậy nhu cầu tự học càng trở nên cấp thiết. Trong dạy học, muốn đạt hiệu quả cao phải hướng vào việc phát huy năng lực tự học của học sinh, phải kích thích và tạo động lực cho tự học; dạy học phải lấy tự học làm mục tiêu và làm động lực. Muốn tự học có kết quả, người học phải có một số kiến thức và kĩ năng cần thiết, một phần trong đó do nhà trường trang bị, một phần quan trọng hơn là sự học hỏi và rèn luyện thường xuyên của người học. Đối với môn Địa lí khi có kĩ năng cần thiết, việc tự học sẽ trở nên thuận lợi hơn rất nhiều. Tuy nhiên kĩ năng địa lí được hình thành và phát triên trên cơ sở sử dụng các phương tiện học tâp địa lí Việc tự học ở nhà của học sinh thực chất là giai đoạn tiếp tục của tiết học trên lớp. Chổ khác nhau chính là trong giai đoạn này không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV. Tự học ở nhà đòi hỏi học sinh phải có phương tiện tự học và kĩ năng để khai thác phương tiện đó. Trong quá trình dạy học địa lí ở trường phổ thông nhiều giáo viên vẫn còn coi nhẹ việc hướng dẫn học sinh tự học ở nhà, do đó các em gặp không ít khó khăn, đặc biệt là các em có học lực trung bình, yếu, kém. Tự học ở nhà có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của học sinh, nhưng các em không thể hoàn toàn tự học nếu không có sự hướng dẫn của giáo viên. Tự học thành công là một động lực quan trọng làm cho HS tự tin nhờ đó say mê học tập. Đó là những điều kiện bên trong để phát huy sức sáng tạo của thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu của người lao động trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trên cơ sở đó, tôi thực hiện đề tài: “MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC Ở NHÀ TRONG DẠY HỌC PHẦN ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN – LỚP 10 ”, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục và nâng cao hiệu quả học tập địa lí cho HS. 1.2. Mục đích nghiên cứu. Hướng dẫn học sinh cách tự học ở nhà trong phần địa lí tự nhiên lớp 10, từ đó nắm vững các kiến thức đã được học đồng thời tìm tòi thêm các kiến thức mới nâng cao. Trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp trong việc sử dụng các phương tiện trực quan giúp học sinh tự học ở nhà . Đáp ứng được yêu cầu của kì thi THPT quốc gia sắp tới, cũng như giúp học sinh làm bài tốt hơn trong kiểm tra thường xuyên và định kì. 1.3. Đối tượng nghiên cứu. Phần địa lí tự nhiên lớp 10. 1.4. Phương pháp nghiên cứu. Đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp thực nghiệm sư phạm, phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết, phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm. 2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm. 2.1.1. Quan niệm tự học Theo chúng tôi Nguyễn Cảnh Toàn : “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp, cùng với phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình ” “Tự học có thể diễn ra dưới sự tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn của thầy; nhưng cũng có thể không có sự hướng dẫn của thầy; có thể được tiến hành theo hình thức cá nhân, nhưng cũng có thể heo hình thức nhóm. Dù có hay không có thầy – cô giáo, tự học cũng đòi hỏi người học phải nổ lực tối đa, tích cực, chủ động và sáng tạo”. Trong tự học địa lí, theo chúng tôi Nguyễn Đức Vũ : “Tự học địa lí, nghĩa là người học phải tự mình làm việc với các nguồn tri thức cần học. làm việc ở đây được hiểu cả về phượng tiện trí óc đơn thuần (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá), cả về phượng diện hoạt động vật chất (vẽ biểu đồ, vẽ lát cắt, trao đổi, tranh luận)”. Quá trình tự học diễn ra qua 3 thời : – Thời một: Tự nghiên cứu Người học tự nghiên cứu; thu thập thông tin xung quanh vấn đề, xử lí thông tin; đưa ra giả thuyết khác nhau; xác định các phương pháp, cách giải quyết vấn đề thích hợp nhất, thử nghiệm giải pháp đó; tự tìm kiến thức mới, cách giải quyết vấn đề mới và tạo ra sản phẩm ban đầu có tính chất cá nhân (kiến thức do cá nhân tự tìm ra). – Thời hai: Tự thể hiện Người học tự thể hiện mình bằng văn bản (ghi chép lại sản phẩm ban đầu), bằng lời nói; trình bày sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đồi thoại, qua các tình huống giao tiếp với các bạn bạn và thầy cô; tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội (thông qua môi trường xã hội cộng đồng lớp học). – Thời ba: Tự kiểm tra, tự điều chỉnh Tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với bạn và thầy cô. Sau khi thầy cô kết luận, người học căn cứ vào kết luận đó và ý kiến của các bạn để tự kiểm tra đánh giá sản phẩm của mình. Từ đó sửa sai điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức), tự rút kinh nghiệm về cách học, cách xử lí tình huống, cách giải quyết vấn đề. 2.1.2. Vai trò của tự học – Tự học giúp con người không ngừng nâng cao hiểu biết, rèn luyện cho người học các hành vi, thái độ; giúp người học phát huy năng lục bản thân. – Tự học giúp người học rèn luyện tính độc lập suy nghĩ, phát huy trí thông minh. Vì tự học là quá trình đào sâu suy nghĩ nên có độc lập trong suy nghĩ mới sáng tạo ra được. – Tự học giúp con người khám phá ra nhiều điều bí mật, phát minh ra những vấn đề mới, giúp con ngừoi làm chủ được thế giới tự nhiên và tôn trọng các quy luật của tự nhiên. – Tự học có vai trò rèn luyện trí nhớ, óc tư duy, ôn luyện các kiến thức đã học. Nên cần phải đầu tư nhiều thời gian cho quá trình tự học. – Tự học góp phần quyết định đến kết quả học tập của học sinh. – Tự học còn cũng cố năng lực nhận thức sức mạnh của ý chí, nghị lực của bản thân và phẩm chất của người học. Vậy tự học có vai trò rất quan trọng “tự học, tự đào tạo là con đường phát triển giáo dục tối ưu”. Giáo dục đào tạo theo hướng phát triển tự học sẽ tạo ra những con người năng động, sáng tạo, có khả năng công tác tốt và có thể đưa ra nhiều ý tưởng tốt phát triển cho ngành nghề góp phần vào phát triển xã hội. 2.1.3. Quan điểm hướng dẫn tự học – Là hướng dẫn người học tự sử dụng các phương tiện tự học để tìm ra tri thức. – Hướng dẫn tự học diễn ra dưới 2 hình thức : Hướng dẫn tự học ở trên lớp và hướng dẫn tự học ở ngoài lớp : tham quan, nghien cứu, ngoại khoá, ở nhà, – Để việc tự học thuận lợi và đạt kết quả cao thì nhiệm vụ hướng dẫn của người thầy và của những người có kinh nghiệm là vô cùng quan trọng. – Hướng dẫn tự học của thầy nhằm tác động hợp lí, phù hợp với chu trình tự học ba thời của trò, gồm: hướng dẫn; tổ chức; trọng tài, cố vấn, kết luận và kiểm tra. 2.1.4. Sự cần thiết của việc hướng dẫn tự học môn địa lí ở nhà Đối với môn địa lí, việc hướng dẫn HS tự học ở nhà là rất quan trọng vì : – Nhiệm vụ chủ yếu của môn địa lí là nghiên cứu về mối liên hệ giữa các sự vật trong môi trường tự nhiên và kinh tế – xã hội. Bản chất của khoa học địa lí là khoa học về các mối quan hệ. Do vậy kiến thức rất rộng, khoa học địa lí rất rộng. – Hầu hết các kiến thức địa lí có liên hệ mật thiết với cuộc sống thực tế. Vì vậy ngoài kiến thức từ trong sách vở, tài liệu, muốn học tốt môn địa lí phải có vốn kiến thức thực tế, vốn sống phong phú. – Địa lí còn là môn học về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong phạm vi không gian lãnh thổ. Vì vậy các sự kiện, hiện tượng địa lí đề cập phải có tính không gian nhất định. Như vậy là phải học với bản đồ để cụ thể hoá vị trí của các sự kiện, hiện tượng địa lí. – Các số liệu, biểu đồ chứng minh cho sự diễn biến của các sự kiện, hiện tượng địa lí, để đánh giá một cách chính xác các vấn đề địa lí về mặt định lượng. Với khối lượng kiến thức lớn như vậy nên thời gian học tập trên lớp học sinh không thể tiếp thu hết mà cần thời gian để tự học ở nhà. 2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2.2.1. Những thuận lợi – Sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi giáo dục phải tạo ra những con người năng động, sáng tạo, có khả năng chiếm lĩnh tri thức và làm chủ tri thức. Chính vì vậy mà việc hướng dẫn học sinh tự học ở nhà trong dạy học địa lí nhằm phát huy tính tích cực của học sinh được các cấp chính quyển và xã hội quan tâm. – Khả năng tự học của học sinh đã và đang được hình thành : ở trường THPT Đặng Thai Mai, lãnh đạo nhà trường và giáo viên luôn quan tâm đến vấn đề đổi mới phương pháp giáo dục, chú trọng vào công tác tự học và tự bồi dưỡng, tăng cường sử dụng đồ dùng và phượng tiện dạy học hiên đại có hiệu quả. – Nhu cầu tự học đang được hình thành và phát triển trong toàn dân. Do sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, quá trình quốc tế hoá đang diễn ra nhanh chóng, sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới của nước ta đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết đối với ngành giáo dục, trong đó vấn đề tự học, tự nghiên cứu được đặt lên hàng đầu. – Điều kiện tự học ở nhà ngày càng thuận lợi : Chương trình, SGK, dụng cụ học tập, tài liệu học tập, các phương pháp tự học ngày càng hoàn chỉnh; nhiều sách tham khảo địa lí được xuất bản và lưu hành, thư viện trường THPT Đặng Thai Mai năm nào cũng có kế hoạch bổ sung sách tham khảo đó là nguồn tư liệu quý để phục vụ cho HS tự học ở nhà. 2.2.2. Những khó khăn “Đối với môn địa lí, không có kĩ năng địa lí thì khó có thể tự học địa lí”. Đây là một khó khăn lớn nhất trong quá trình tự học địa lí, điều đó đòi hỏi người học phải có phương pháp tự học, ý thức tự học, lòng ham học, sự say mê tìm tòi tri thức nhằm nâng cao trình độ và tinh thần phấn đấu bản thân. Ngoài ra còn một số thực tế : – Một bộ phận không nhỏ HS thiếu sự quan tâm của gia đình và xã hội. – Một số GV chưa quan tâm hoặc chưa có phương pháp hợp lí hướng dẫn HS tự học ở nhà. – Nhiều HS của trường có hoàn cảnh gia đình khó khăn, HS đầu vào còn thấp nên chưa tập trung cao độ cho việc học tập. 2.3. Các giải pháp thực hiện 2.3.1. Đặc điểm phần “Địa lí tự nhiên đại cương”, địa lí 10 THPT Phần địa lí tự nhiên lớp 10 gồm có 4 chương : Bản đồ; Vụ trụ. Hệ quả chuyển động của Trái Đất; Cấu trúc của Trái Đất. Các quyển của lớp vỏ địa lí và một số quy luật của lớp vỏ địa lí. Chương I là chương về bản đồ. Trong chương này học sinh sẽ nắm được khái niệm bản đồ, các phương pháp để biểu hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ và cách thức sử dụng bản đồ trong học tập và đời sống. Kiến thức của chương này có một vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập môn địa lí vì “bản đố là ngôn ngữ thứ 2 của địa lí học”. Thông qua sơ đồ học sinh có thể so sánh sự giống và khác nhau của các phương pháp thể hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ. Chương II là chương về Vũ trụ và hệ quả chuyển động của Trái Đất. Trong chương này học sinh sẽ nắm được khái niệm Vụ trụ, Hệ Mặt Trời, các hệ quả chuyện động tự quay quanh trục của Trái Đất và hệ quả chuyển động xung quanh Mặt Trời của Trái Đất. Chương III là chương nói về cấu trúc của Trái Đất và các quyển của lớp vỏ địa lí. Đây là chương mà dung lượng kiến thức lớn. Trong chương này học sinh sẽ được tìm hiểu cấu trúc của Trái Đất; biết được tác động của nội lực, ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái Đất; Tìm hiểu năm quyển của Trái Đất : Khí quyển, thạch quyển, thuỷ quyển, thổ nhưỡng quyển và sinh quyển. Ngoài ra, học sinh còn được biết về sự phân bố khí áp, các loại gió trên Trái Đất, ngưng đọng hơi nước trong khí quyển, sự phân bố sinh vật và đất trên Trái Đất, Chương IV là chương về một số quy luật của lớp vỏ địa lí. Có các quy luật mà học sinh phải nắm đó là : Quy luật thống nhất và hoàn chỉnh, quy luật địa đới và quy luật phi địa đới. Khái niệm và nội dung của các quy luật này rất trừu tượng, khó hiểu lại chứa đựng nhiều mối quan hệ qua lại giữa các thành phần tự nhiên. 2.3.2 Các hình thức tự học ở nhà – Tự học cá nhân – Đôi bạn tự học ở nhà – Tự học ở nhà theo nhóm – Tự học thông qua các phương tiện hiện đại như mạng internet. – Tự học ở nhà với sự giúp đỡ kèm cặp của gia đình. 2.3.3. Một số phương tiện để học sinh tự học ở nhà Đối với tự học ở nhà môn địa lí, sử dụng các phương tiện tự học ở nhà như sử dụng phương tiện tự học ở trên lớp.Tuy nhiên vấn đề khó khăn ở đây là thiếu các phương tiện học tập. Vì vậy, HS sử dụng phương tiện đơn giản, dễ sử dụng để tự học ở nhà. Một số phương tiện để tự học ở nhà như : Tự học ở nhà bằng SGK, sách bài tập địa lí. Tự học ở nhà bằng bản đồ giáo khoa địa lí, biểu đồ, bảng số liệu thống kê. Tự học ở nhà bằng sơ đồ. Tự học ở nhà bằng bảng kiến thức. Tự học ở nhà bằng máy vi tính có nối mạng internet. 2.3.4. Phương pháp hướng dẫn học sịnh tự học ở nhà trong phần địa lí tự nhiên đị lí 10. 2.3.4.1. Phương pháp hướng dẫn học sinh tự học ở nhà bằng các dạng câu hỏi a. Câu hỏi : Câu hỏi là dạng cấu trúc ngôn ngữ rõ ràng diễn đạt một yêu cầu, một câu hỏi, một mệnh lệnh cần giải quyết.Câu hỏi được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau của quá trình dạy học. b. Quy trình ra câu hỏi cho HS về nhà thực hiện Bước 1 : Lựa chọn câu hỏi phù hợp với nội dung bài học. Bước 2 : Hướng dẫn HS thực hiện câu hỏi ở nhà – Xác định mục đích, yêu cầu của câu hỏi bằng cách phân tích nội dụng câu hỏi. – Liên hệ với nội dung kiến thức của bài học để lấy nội dung trả lời. – Lập dàn ý và trả lời câu hỏi. (Đối với câu hỏi liên hệ thực tế, GV hướng dẫn để HS liên hệ thực tế ở địa phương, đất nước để dẫn chứng, chứng minh). Bước 3 : Kiểm tra, đánh giá việc trả lời câu hỏi của HS. Các dạng câu hỏi về nhà : c. Các dạng câu hỏi: * Câu hỏi trong SGK Ở cuối mỗi bài học trong SGK Địa lí lớp 10, phần Địa lí tự nhiên đều có các câu hỏi nhằm hướng dẫn, định hướng cho HS về nhà tự học. Các câu hỏi này thường theo sát nội dung kiến thức của bài học. Vì vậy GV cần sử dụng câu hỏi này để hướng dẫn cho HS tự học ở nhà, đồng thời sử dụng những câu hỏi đó để kiểm tra bài cũ học sinh tự học ở nhà vào đầu tiết học. Ví dụ 1: Câu hỏi số 2, SGK trang 24: Giả sử Trái Đất không tự quay quanh trục mà chỉ chuyển động quanh Mặt Trời thì ở Trái Đất có ngày, đêm không? Khi đó trên bề mặt Trái Đất có sự sống không? Tại sao + GV hướng dẫn thực hiện – Hướng dẫn xác định mục đích, yêu cầu của câu + Trả lời: Nếu Trái Đất không tự quay quanh trục mà chỉ chuyển động quanh Mặt Trời thì ở Trái Đất có ngày và đêm. Khi đó trên bề mặt Trái Đất không có sự sống không. Do bề mặt Trái Đất quá nóng hoặc quá lạnh Ví dụ 2: Câu hỏi số 1, SGK trang 24. Hãy giải thích câu ca dao Việt Nam: Đêm tháng năm, chưa nằm đã sáng Ngày tháng mười, chưa cười đã tối. * Hướng dẫn HS thực hiện: Đây là câu hỏi vận dụng kiến thức đã học vào giải thích các hiện tượng trong tự nhiên, vì vậy giáo viên hướng dẫn thực hiện như sau: – Hướng dẫn xác định mục đích, yêu cầu của câu hỏi: + Mục đích: Giải thích hiện tượng có trong tự nhiên thông qua câu ca dao của Việt Nam. + Yêu cầu: * Câu hỏi nâng cao Ngoài hệ thống các dạng câu hỏi trong SGK, để phát huy tư duy và mở rộng kiến thức, GV cần tự biên soạn hoặc sưu tầm các các câu hỏi khác cho HS thực hiện. Các câu hỏi này, GV nên tập trung vào các câu hỏi mở rộng, đi sâu hoặc liên hệ thực tiễn vào kiến thức của bài học. * Câu hỏi đi sâu vào kiến thức của bài học. Ví dụ 1: Trong khi học bài 8 : “Tác động của nội lực đến địa hình bề mặt Trái Đất”, GV đưa ra câu hỏi : Dựa vào kiến thức đã học, hãy nêu mối quan hệ giữa sự dịch chuyển của các mảng kiến tạo với việc hình thành các nếp uốn và đứt gãy. Ví dụ 2: Trong khi học bài 11 – Khí quyển. Sự phân bố nhiệt độ không khí trên trái Đất, GV đưa ra câu hỏi: Quan sát hình 11.3, hãy nhận xét và giải thích sự thay đổi của biên độ nhiệt độ ở các địa điểm nằm trên khoảng vĩ tuyến 520B. Trả lời: Càng vào sâu trong lục địa thì biên độ nhiệt độ cao tăng. Do ảnh hưởng của biển vào sâu trong đất liền giảm nhanh Hình 11.3 – Biên độ nhiệt độ năm thay đổi theo vị trí gần hay xa đại dương * Câu hỏi liên hệ kiến thức bài học với thực tiễn Ví dụ 1: Sau khi học xong bài 18: ” Sinh quyển. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố sinh vật”, GV yêu cầu HS làm bài tập 3 SGK trang 68: Hãy tìm những nguyên nhân có thể dẫn đến sự tuyệt chủng của một số loại sinh vật ở địa phương em ? Ví dụ 2: Sau khi học xong bài 20: ” Lớp vỏ địa lí. Quy luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ địa lí”, GV đưa ra câu hỏi 3, SGK trang 76: Lấy một vài ví dụ minh họa về những hậu quả xấu do tác động của con người gây ra đối với môi trường tự nhiên. * Câu hỏi yêu cầu học sinh tìm từ các tài liệu khác Ví dụ: Sau khi học xong bài 16: “Sóng. Thủy triều. Dòng biển”, GV chia lớp thành 6 nhóm về nhà làm nhiệm vụ: – Nhóm 1, 2: Tìm các hình ảnh về tác hại của sóng thần. – Nhóm 3, 4: Tìm các hình ảnh khai thác nguồn năng lượng mới từ thủy triều. – Nhóm 5, 6: Tìm hiểu về chiến thắng của Ngô quyền trên sông Bạch Đằng nhờ vào lợi dụng hiện tượng thủy triều. 2.3.4.2. Phương pháp hướng dẫn học sinh tự học ở nhà bằng các dạng bài tập a. Bài tập về nhà Bài tập về nhà là bài ra cho HS về nhà làm nhằm vận dụng những kiến thức đã học, từ đó giải quyết nhiệm vụ mới nhằm hình thành kiến thức mới; củng cố kiến thức đã học; rèn luyện kĩ năng; phát triển khả năng tư duy; năng lực hoạt động độc lập; rèn luyện và hình thành các phẩm chất khác nhau cho HS. b. Tác dụng của bài tập về nhà Bài tập về nhà có nhiều tác dụng trong quá trình dạy học: – Tăng cường tính độc lập, thái độ tích cực làm việc, trách nhiệm làm việc của HS trong học tập, nghiên cứu. – Bài tập về nhà có tác dụng củng cố và mở rộng kiến thức bài học. – Bài tập về nhà có tác dụng phát triển trí thông minh, rèn luyện thói quen thực hiện các nhiệm vụ, bồi dưỡng kĩ năng tự học, tự nghiên cứu. – Bài tập về nhà có tác dụng giáo dục những đức tính tốt cho người lao động như: tinh thần vượt khó, ý thức hoàn thành nhiệm vụ. c. Quy trình ra bài tập về nhà Bước 1: Xây dựng bài tập về nhà Bước 2: Hướng dẫn HS thực hiện bài tập về nhà Bước 3: Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện bài tập về nhà d. Các dạng bài tập về nhà * Bài tập với bản đồ – lược đồ, bảng số liệu – Sử dụng bài tập với lược đồ ở cuối bài trong SGK. Ví dụ: Sau khi học xong bài 12 – Sự phân bố khí áp. Một số loại gió chính, GV đưa ra bài tập về nhà số 3, SGK trang 48: Dựa vào hình 12.2 và hình 12.3, hãy trình bày hoạt động của gió mùa vùng Nam Á và Đông Nam Á. Hình 12.2 – Các khu áp cao, áp thấp trong tháng 7 Sau khi giao bài tập cho HS, GV hỏi HS yêu cầ

Phương Pháp Tự Học Môn Địa Lý Tự Nhiên Việt Nam / 2023

1. Thực trạng và nguyên nhân

Hiện nay các bạn tự học môn địa lý tự nhiên Việt Nam như thế nào?

Các bạn hãy xem thử vài kết quả khảo sát.

Qua kết quả khảo sát 50 bạn sinh viên khóa 30 ta thấy kết quả học tập khá chênh lệch. Các bạn đạt điểm khá giỏi tương đối cao. Tuy nhiên các bạn lại cho biết sau khi thi lượng kiến thức còn lại đối với các bạn chưa tương xứng với tỷ lệ điểm trên. Hầu như các bạn quên kiến thức rất nhanh, đến học phần 2 này thì ” coi lại những bài của học phần 1 cứ như mới”- đó là một điều đáng lo ngại, nếu cứ tiếp diễn ta sẽ không thể có đủ kiến thức để dạy tốt trong tương lai cũng như việc tự giải thích các hiện tượng tự nhiên xãy ra mà mình quan tâm.

Tại sao không thể nhớ lâu? Đó chủ yếu là do chưa hiểu sâu

Vậy tại sao chưa hiểu sâu? Do cách học, động cơ- ý thức học của mỗi người và do cách truyền đạt kiến thức của giảng viên ư?

Thứ nhất: Ý thức học tập. Một số bạn học tập chủ yếu với tinh thần thi trước nhất, sau đó mới hiểu thêm về kiến thức mình học, điều này đã phần nào hạn chế ý thức tự học của các bạn. Theo kết quả khảo sát có đến 65,4 % các bạn chỉ thỉnh thoảng mới học Địa Lí Tự Nhiên Việt Nam và các bạn chỉ học trước khi thi vài ngày; 22,8 % các bạn học thường xuyên, số còn lại thì không biết học lúc nào.

Chỉ có 22,8 % các bạn được khảo sát là học thường xuyên, như vậy ta thấy ý thức tự học của các bạn là chưa cao. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng kiến thức thu được.

Các bạn chưa phát huy hết hiệu quả cách học, hầu như các bạn chưa kết hợp được các cách học với nhau. Các bạn học thuộc khi thi có kết quả cao, nhưng sau đó kiến thức cũng ra đi rất nhanh. Các bạn tự học riêng lẻ bằng bản đồ, hiểu và nhớ, học nhóm lại có kết quả không cao lắm (đa số đạt điểm 5,6,7. Do các bạn chưa hiểu hết bản đồ nên chưa khai thác triệt để kiến thức trên bản đồ, còn các bạn học hiểu và nhớ nhưng chưa có cách hệ thống lại bài, nhiều kiến thức buộc phải nhớ chính xác thì không nhớ được nên làm bài lan man, thiếu trọng tâm. Kiến thức giữ được thì độ chính xác không cao lắm.

Tuy nhiên trong học phần hai này giảng viên đã có sự thay đổi về phương pháp giảng dạy, điều này phù hợp với nguyện vọng của sinh viên, giúp cho sinh viên tự đào sâu kiến thức hơn và không sợ kiến thức bị hổng, sai vì đã có giảng viên chuẩn kiến thức lại.

Theo khảo sát cách truyền đạt này ( hướng dẫn cho sinh viên tự khai thác, sau đó chuẩn lại kiến thức) được 59,1 % ý kiến đồng tình, cao hơn rất nhiều so với cách truyền đạt cung cấp toàn bộ kiến thức (11,4% đồng ý) và sinh viên tự khai thác hoàn toàn, không có sự hướng dẫn, chỉ kiểm tra kết quả.

Cũng trong đợt khảo sát 75,8 % các bạn chưa hài lòng với cách học và kết quả đạt được của bản thân. 21,2 % hài lòng và 3 % chưa hài lòng lắm. Và khi được hỏi là nếu có một phương pháp tự học phù hợp các bạn có quyết tâm thực hiện không thì có đến 90,6 % đồng ý áp dụng.

Như vậy ta thấy các bạn luôn mong muốn tìm ra một cách học phù hợp, đem lại kết quả cao trong học tập.Giải pháp đó là gì?

Trên 60% các bạn đồng ý rằng nếu học kết hợp bản đồ và hiểu nhớ cũng như học thuộc lòng nhưng chỗ cần thiết là cách học hiệu quả nhất.

“Vừa xem bản đồ, vừa sử dụng tài liệu, chỗ quan trọng cần nhớ nhất thì học thuộc lòng” , Đó là ý kiến của bạn được 9 điểm duy nhất trong kỳ thi vừa qua.

Và một số ý kiến khác của các bạn như:

Như vậy ta thấy hầu hết các bạn đều chọn cách kết hợp nhiều phương pháp, nhấn mạnh phương pháp kết hợp học trên bản đồ và đọc hiểu tài liệu, hệ thống kiến thức. Chúng tôi rất đồng tình với phương pháp này và xin được bổ sung thêm một vài phương pháp đối với môn địa lí tự nhiên Việt Nam như sau

Mức độ cuả việc tiếp thu, khắc sâu kiến thức phụ thuộc vào động cơ học tập, ý thức học tập và phương pháp học tập của mỗi cá nhân.

Để học tốt môn Địa Lí Tự Nhiên Việt Nam bạn cần phải tự hỏi mình xem: Mình học môn này để làm gì? Học để biết? Để dạy? Hay học để hiểu tường tận những kiến thức, sự vật, hiện tượng của địa lý tự nhiên Việt Nam rồi áp dụng vào cuộc sống, ứng dụng để làm kinh tế, giải thích các hiện tượng, để nghiên cứu xây dựng đất nước sau này? Hay chỉ cần học để thi?

Nếu muốn thi hết học phần với kết quả cao bạn cần có phương pháp học tập khoa học, hợp lý.

Chương trình Địa lý 12 cải cách có rất nhiều kiến thức địa lý tự nhiên Việt Nam phần phân vùng, nếu chúng ta không hiểu thật sâu thì rất khó truyền đạt cho học sinh một cách ngắn gọn, súc tích, chính xác và khoa học. Lúc đó học sinh sẽ nhận xét về bạn như thế nào nhận xét của học sinh ảnh hưởng rất lớn tới chúng ta và cách dạy của chúng ta ảnh hưởng đến nhận xét của học sinh

Không chỉ học để dạy mà chúng ta còn cần phải có kiến thức để khi một ai đó vô tình hỏi thì chúng ta có thể trả lời tốt. Ví dụ như khi có người hỏi bạn ở Việt Nam có thể ngắm tuyết ở đâu? Nên đi đâu để có thể cảm nhận được cảm giác ” Lạnh cong xương sống, lạnh cóng xương sườn, lạnh nằm trên giường, lành lăn xuống đất, hai tay ôm chắc vẫn còn lạnh căm” của gió Bấc mùa đông thì bạn sẽ trả lời như thế nào? Liệu bạn có làm cho người ta thất vọng không?

Bạn đặt ra hàng loạt câu hỏi với nhiều tình huống khác nhau bạn sẽ thấy được tầm quan trọng của việc học, hiểu địa lí tự nhiên quê mình là như thế nào, để rồi tạo nên một động lực thúc đẩy bạn tìm tòi, học hỏi, tự giác trong học tập tốt hơn.

Phương pháp học hợp lý, khoa học và cụ thể là một giải pháp tốt để bạn tiếp cận và hiểu sâu sắc bất cứ kiến thức nào. Tuỳ đặc điểm môn học và từng cá nhân mà có những phương pháp riêng.

Đối với môn điạ lí tự nhiên Việt Nam có một số phương pháp nếu áp dụng tích cực thì sẽ rất hiệu quả.

Bản đồ, lược đồ ( trong giáo trình địa lý tự nhiên Việt Nam của tác giả Vũ Tự Lập là các sơ đồ) là một bộ phận quan trọng của địa lí nói chung và của địa lí tự nhiên Việt Nam nói riêng. Khai thác kiến thức từ bản đồ giúp bạn nhớ lâu, hiểu sâu hơn chỉ học thuộc lòng và đọc trong sách.

Ví dụ đối với chương Địa chất trong học phần I bạn chỉ đọc giáo trình mà không hề nhìn lược đồ thì sẽ không nhớ rõ có những địa tào, địa khối nào và đi từ đâu đến đâu…song khi kết hợp kiến thức trong giáo trình với lược đồ, sơ đồ để xác định thì sẽ hiệu quả hơn.

Từ giáo trình, tài liệu, ta lập ra một dàn ý sau đó kết hợp khai thác kiến thức trên lược đồ, bản đồ để hoàn thiện dàn ý đó.

Ví dụ khi khai thác kiến thức phần địa hình vùng Hoà Bình – Thanh Hoá, bạn xem sơ đồ trang 113 giáo trình địa lý tự nhiên Việt Nam tập 2( Vũ Tự Lập) theo sườn bài của mình: Địa hình có những đặc điểm chung nào? Có những dạng địa hình chình nào, có đặc điểm gì, phân bố ở đâu….? Các bạn chú ý phải chỉ rõ khu vực phân bố nếu không bạn sẽ không nhớ và kỹ năng chỉ bản đồ, đọc bản đồ không nhuần nhuyễn, sẽ khó khăn khi đi dạy sau này.

Bản đồ là nguồn cung cấp kiến thức rất lớn cho chúng ta và là phương tiện để học và dạy rất tốt. Nó sẽ giúp bạn phát huy thế mạnh của cách học hiểu, giảm tải lượng kiến thức phải nhớ. Tuy nhiên những số liệu chính xác bạn vẫn phải học thuộc.

Đặc điểm của đối tượng khai thác ( địa chất, địa hình, khí hậu, thuỷ văn…) như thế nào? Nó phân bố ở đâu? Tại sao lại phân bố ở đó? Với những đặc điểm như vậy thì có ảnh hưởng đến các thành phần tự nhiên khác và ảnh hưởng như thế nào tới sự phát triển kinh tế?…

Đó chỉ là một vài câu hỏi để khai thác theo sườn bài. Để hiểu sâu và nhớ lâu bạn phải liên tục đặt những câu hỏi cho phần bài học của mình, đặt câu hỏi với chính những kiến thức mình có để có thể giải quyết tường tận và hiểu sâu sắc.

Những câu hỏi “Tại sao?”, “Như thế nào?”, “ở đâu?”, “cái gì?”… luôn cần thiết. Ví dụ: Phù sa trong đê ở vùng đồng bằng Bắc bộ phân bố ở những khu vực nào? Tính chất của nó là gì? Tại sao lại có tính chất như vậy? Bạn không nên chỉ đọc suông ” Đồng Bằng Sông Hồng địa hình tương đồi bằng phải, thỉnh thoảng có những gò sót” mà phải tự hỏi thêm “Tại sao giữa vùng Đồng Bằng Bắc Bộ bằng phẳng lại có những gò sót?” Tại sao? Tại sao? Và tại sao?…

Bạn phải tự đặt câu hỏi và tự suy nghĩ tìm câu trả lời, có động não suy nghĩ bạn mới có thể mổ xẻ, khoét sâu và khắc sâu vấn đề

Có sự chuẩn bị kỹ càng, nghiêm túc thì kết quả thu được cũng khá tốt. Đặc biệt cuối mỗi phần trình bày thầy cón chuẩn lại kiến thức nên cũng hiểu rõ vấn đề hơn.

Tuy nhiên nếu cách này không được áp dụng với tinh thần nghiêm túc thì một số bạn sẽ hổng kiến thức nhiều hơn do không chịu trao đổi mà chỉ nghe các bạn khácnói, làm việc nhóm thì có bạn làm, có bạn không thèm quan tâm, kiến thức hổng trầm trọng hơn.

Học nhóm trước khi thi vô cùng cần thiết nhưng chúng tôi đặc biệt lưu ý: các bạn phải tự giác và có trách nhiệm với việc học của mình thì mới có thể có kết quả cao.

Giúp các bạn sắp xếp các kiến thức một cách khoa học, hợp lý, dễ nhớ. Sau mỗi bài hoặc mỗi chương bạn nên vẽ thành những sơ đồ để có thể nắm vững kiến thức. Trong khi vẽ sơ đồ bạn phải lược bỏ những từ không cần thiết, khi đó bạn sẽ nắm được những kiến thức trọng tâm. Hệ thống chương thổ nhưỡng:

Đây là cách học khá tốn thời gian nên bạn phải cân đối thời gian để thực hiện tốt. Hệ thống ngay trên lớp hoặc ngay trong quá trình học mới hiệu quả, để càng lâu thì vừa không có thời gian, vừa quên kiến thức, tới cận ngày thi sẽ không có thời gian chuẩn bị. Bạn phải tự hệ thống vì kiến thức sẽ được khắc sâu trong quá trình bạn hệ thống, nếu học theo sơ đồ của bạn khác soạn hiệu quả sẽ không cao, giống như một người soạn giáo án, một người dạy không thể truyền đạt hết ý tưởng.

Ngoài các sơ đồ bạn có thể tự làm các mô hình đơn giản, trực quan để học tốt và làm đồ dùng dạy học sau này luôn.

Ví dụ mô hình thổ nhưỡng hay sinh vật của Việt Nam phân theo độ cao, mô hình các đai địa chất… có thể dùng xốp và bìa cứng để làm, cách này tốn thời gian, các bạn có thể làm từng phần nhỏ sau đó ghép lại hoặc nhiều bạn cùng làm nếu có thể.

Với mô hình các đai địa chất bạn có thể làm như sau:

Bước 1: photo lược đồ câm khổ tuỳ ý – bạn có thể tự vẽ nếu có thời gian, Sau đó dán lên bìa cứng

Bước 2: Phác hoạ các đai địa chất trên lược đồ

Bước 3: Lấy bìa cứng cắt các đai địa chất rời, dán keo hai mặt để có thể thào rời dễ dàng.

Học đến từng vùng bạn sẽ gắn từng đai địa chất vào lược câm đã chuẩn bị xem xét mối tương quan giữa các đai, các vùng và qua đó đánh giá ảnh hưởng của nó tới các yếu tố khác.

Đây chỉ là một ví dụ, bạn có thể làm nhiều mô hình khác.

Mỗi bạn có những điều kiện khác nhau, thời gian biểu khác nhau…nên không thể có một kế hoạch chung nhất. Bất kể điều kiện như thế nào bạn cũng phải lập cho mình 1 kế hoạch học tạp hợp lý.

Kế hoạch đó không chỉ riêng cho môn Địa lý tự nhiên Việt Nam nên không sợ cạnh tranh thời gian, kết hợp học với các môn khác bạn sẽ học tốt hơn môn này.

Phương pháp dù hay như thế nào nó cũng chỉ là lý thuyết nếu bạn không quyết tâm thực hiện. Đây cũng chính là điều chúng tôi đã lưu ý với các bạn ngay lúc đầu.

“Trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng!”

Các phương pháp trên bước đầu chúng tôi chỉ nghiên cứu với môn Địa lý tự nhiên Việt Nam, nhưng các bạn có thể biến đổi phù hợp đối với các môn khác. Thiết nghĩ nó có thể giúp ích cho các bạn.

Thật sự kết quả học tập môn Địa lý tự nhiên Việt Nam của chúng tôi không phải cao và kiến thức tự nhiên cũng đang còn thấp, đề tài xuất phát từ nhu cầu của mình với quyết tâm muốn cải thiện kết quả học tập, kiến thức, để có thể dạy tốt sau này.

Đây cũng là những gì chúng tôi muốn gửi đến các bạn thông qua bài nghiên cứu khoa học nhỏ này. Hy vọng các bạn sẽ thành công hơn trên con đường đến với tri thức.

Chân thành cảm ơn Thầy Đoàn Ngọc Nam và các thầy cô giáo trong khoa Địa Lý đã tạo điều kiên giúp đỡ chúng tôi hoàn thành bài nghiên cứu của mình. Cảm ơn các bạn sinh viên khoa Địa Lý đã nhiệt tình hợp tác.

Skkn Một Số Phương Pháp Giúp Học Sinh Lớp 9 Học Tốt Giải Phương Trình Có Chứa Ẩn Ở Mẫu Skkn Nam 20122013 Doc / 2023

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC

+ Bài tập trắc nghiệm và ứng dụng của bài tập trắc nghiệm.

+ Tổ chức các hoạt động củng cố – Luyện tập khắc sâu kiến thức cho học sinh.

+ Một vài kinh nghiệm giúp học sinh học tốt tiết luyện tập hình học 7 .

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 9 HỌC TỐT

GIẢI PHƯƠNG TRÌNH CÓ CHỨA ẨN Ở MẪU

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Môn t oán là môn thể thao trí tuệ, nó giữ vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực, mọi ngành kinh tế khác của cuộc sống. Bởi vì không một ngành khoa học nào không cần đến toán học cả.

Tuy SGK đã trình bày một cách có hệ thống các kiến thức cơ bản về phương trình chứa ẩn ở mẫu và các bài tập thuộc các dạng nhưng vẫn chưa đủ và cũng vì ý thức tự học, tự đọc sách của một số học sinh là chưa cao. Học sinh chưa nắm vững các định nghĩa, các quy tắc biến đổi phương trình chứa ẩn ở mẫu . Một số học sinh vẫn còn lối “học vẹt” không biết hoặc chưa biết vận dụng các kiến thức đã học vào việc giải bài tập.

II. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI

– Giáo viên trẻ, nhiệt tình, luôn học hỏi.

– Học sinh đa số ngoan.

2. Những khó khăn

– Trang thiết bị tuy nhiều nhưng vẫn còn thiếu so với yêu cầu của bộ môn.

– Số học sinh yếu kém còn nhiều.

– Môn toán theo suy nghĩ của học sinh là khô khan, nhiều em lấy lí do đó mà lười học, chuẩn bị bài ở nhà còn sơ sài.

– Thời lượng để học sinh củng cố và khắc sâu kiến thức cũng như tiếp thu kiến thức mở rộng còn hạn chế.

1. Cơ sở lý luận

Để đáp ứng mục tiêu trên, nội dung chương trình THCS mới được thiết kế theo hướng tăng tính thực tiễn, thực hành, bảo đảm vừa sức, khả thi, tăng thời gian tự học và hoạt động ngoại khóa.

2. Nội dung và các biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài

– Tiếp thu bài học nhanh.

– Phát huy tính tích cực của học sinh.

– Cung cấp cho học sinh các phương pháp để giải toán.

– Hấp dẫn các các em trong tiết học.

– Vận dụng kiến thức bài cũ để phục vụ bài mới.

– Truyền tải kiến thức đến học sinh một cách logic, tổng quát.

– Đánh giá và phân loại học sinh nhanh, tương đố i chính xác.

– Hệ thống được kiến thức cơ bản cho học sinh vận dụng vào thực hành bài tập.

2.2. Nội dung và các biện pháp thực hiện

a) Cách giải phương trình chứa ẩn ở mẫu:

– Tìm điều kiện xác định (ĐKXĐ) của phương trình.

– Quy đồng mẫu hai vế của phương trình rồi khử mẫu.

– Giải phương trình vừa nhận được.

Ví dụ 1: Giải phương trình

ĐKXĐ: x

x 2 + 4 x + 4 – 2 x + 3 = x 2 + 10

2 x = 3

x = (không thỏa mãn ĐKXĐ)

Vậy phương trình đã cho vô nghiệm.

Ví dụ 2: Giải phương trình:

ĐKXĐ của PT là x – 1

Khử mẫu ta được: 5 x + 2 x + 2 = – 12 7 x = – 14

x = (thỏa mãn ĐKXĐ)

Vậy tập nghiệm của phương trình đã cho là: S =

Phương pháp biến đổi

1. Phân tích hoặc nhóm các phân thức

.

ĐKXĐ: x

Với ĐK trên thì phương trình đã cho tương đương với

* Ví dụ 2 : Giải phương trình .

Hướng dẫn giải:

ĐKXĐ: x

Với ĐK trên thì phương trình đã cho tương đương với

Hướng dẫn giải:

ĐKXĐ: x

Với ĐK trên, phương trình đã cho tương đương với

hoặc

hoặc

hoặc 2 x 2 + 5 x + 3 = 0

Kết luận : Phương trình đã cho có ba nghiệm .

2. Đưa về phương trình bậc cao giải được

* Ví dụ 4 : Giải phương trình .

Hướng dẫn giải:

ĐKXĐ: x

Với ĐK trên, phương trình đã cho tương đương với

54 x 4 – 117 x 3 + 105 x 2 – 78 x + 24 = 0

(2 x – 1)(3 x – 4)(9 x 2 – 3 x + 6) = 0

Kết luận: Phương trình đã cho có hai nghiệm .

Hướng dẫn giải:

Với ĐK trên, phương trình đã cho tương đương với (1)

Nếu 0 < x < 1 thì vế trái của (1) là số âm, trong khi vế phải là số dương. Vậy phương trình đã cho không có nghiệm.

( x 2 + 3) 2 – 8( x + 1) 2 = 0

( x 2 – + 3 – )( x 2 + + 3 + ) = 0

1. Đặt một ẩn phụ

Hướng dẫn giải:

ĐKXĐ: x 0 và .

Chia cả tử và mẫu ở vế trái cho x 2 rồi rút gọn ta được:

Đặt t = , phương trình trên trở thành:

Với t = 1, ta có:

Với t = 2, ta có:

Kết luận: Phương trình đã cho có 4 nghiệm là: ; .

Hướng dẫn giải:

Biến đổi phương trình đã cho t hành

Đặt t = . Phương trình trên trở thành

hoặc

Với , ta có

Với , ta có

Phương trình này vô nghiệm.

Kết luận: Phương trình đã cho có hai nghiệm .

Hướng dẫn giải:

Phương trình đã cho tương đương với phương trình sau:

Đặt = t . Phương trình trên trở thành : t 2 + 2 t – 15 = 0 t = 3 hoặc t = -5.

Với , ta có

Với , ta có

Kết luận: Phương trình đã cho có bốn nghiệm ; .

2. Đặt hai ẩn phụ

Hướng dẫn giải:

hoặc

Với , ta có

Với , ta có (vô nghiệm)

Kết luận: Phương trình đã cho có hai nghiệm là .

Hướng dẫn giải:

Đặt . Ta có: a.b = 2 và a + b = 3.

Do đó a và b là hai nghiệm của phương trình X 2 – 3X + 2 = 0 hoặc .

Với a = 1, b = 2 ta được x 2 – 2 x + 1 = 0 x = 1.

Với a = 2, b = 1 ta được x 2 – x + 2 = 0 (vô nghiệm).

* Ví dụ 11 : Giải phương trình .

Hướng dẫn giải:

Đẳng thức xảy ra khi và chỉ khi , ta có:

Suy ra (*) x 2 + 3 x + 9 = 4 x 2 x 2 – x – 3 = 0

Kết luận: Phương trình đã cho có hai nghiệm là .

2.2.3: MỘT SỐ BÀI TẬP TỰ LUYỆN

Giải các phương trình sau:

1.

2.

3.

4.

5.

6.

7.

8.

9.

10.

11.

12.

1. Đối với giáo viên

Giáo viên đã tạo ra không khí học tập sôi nổi trong học sinh, kích thích sự tìm tòi và say mê học toán của học sinh.

2. Đối với học sinh

Năng lực, trí tuệ của học sinh được nâng lên.

Học sinh đã giải dạng toán này có luận cứ, có hướng đi rõ ràng, khắc phục được những vướng mắc.

Áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào giảng dạy, bước đầu tôi thấy có nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên việc thực hiện vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Một số học sinh còn chưa chịu khó học tập, thường ít chuẩn bị bài ở nhà. Về phía giáo viên cần phải kiên trì hướng dẫn từng bước và liên tục thực hiện các bước giải toán để phát huy mạnh mẽ hơn nữa việc dạy học. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Toán trong Nhà trường.

Sáng kiến kinh nghiệm này đã góp phần làm đa dạng, phong phú bài tập của học sinh. Giúp các em củng cố, cũng như hệ thống lại kiến thức một cách dễ dàng. Qua đó giúp cho giáo viên đánh giá học sinh một cách khách quan và chính xác hơn.

– Không ngừng tìm tòi, học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.

– Phát huy cao độ tính tự học, hưởng ứng phong trào “Đôi bạn cùng tiến” nhằm hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình học tập.

Người thực hiện

NGUYỄN TRUNG KIÊN

PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Giải phương trình chứa ẩn ở mẫu

Quản lý giáo dục: Phương pháp dạy học bộ môn:

Phương pháp giáo dục Lĩnh vực khác:

– Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao

– Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao

3. Khả năng áp dụng

Tốt Khá Đạt

– Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi vào cuộc sống: Tốt Khá Đạt

– Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm vi rộng: Tốt Khá Đạt

* Tổng điểm:…………..

* Xếp loại:…………….

(Ký tên và ghi rõ họ tên) (Ký tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu)

Skkn Hướng Dẫn Học Sinh Khá Giỏi Lớp 5 Giải Một Số Bài Toán Bằng Phương Pháp Biểu Đồ Ven / 2023

I. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài. Vậy để nâng cao chất lượng sinh hoạt các CLB học tập, để có nhiều học sinh hoàn thành tốt môn học, học sinh năng khiếu được phát triển năng lực, sở trường đồng thời để các có những kiến thức nền thật vững vàng, chắc chắn thì các giáo viên cần có biện pháp giúp đỡ, động viên, đặc biệt những giáo viên phụ trách các CLB cần phải có phải hình thức sinh hoạt đa dạng, phong phú, cần tích cực hơn trong công tác tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn. Nắm vững chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt cho học sinh đồng thời luôn luôn tìm phương pháp giải các dạng toán nâng cao, mở rộng một cách ngắn gọn, dễ hiểu để giúp các em có cơ phát triển, làm nền móng để các phát triển tốt hơn ở THCS. Đặc biệt đối với một số bài toán toán suy luận lô -gic giải bằng PP biểu đồ ven chính là phần toán cơ bản trong chương trình Toán 6 (Phần tập hợp số) để các em không còn bỡ ngỡ, bắt nhịp tốt với phương pháp, hình thức học mới ở lớp 6, chúng nên cho các em làm quen, va chạm dần với một số bài toán đơn giản ở lớp 5. Chính vì vậy, tôi đã áp dụng sáng kiến "Hướng dẫn học sinh khá giỏi lớp 5 giải một số bài toán bằng phương pháp biểu đồ ven" của bản thân đã được Hội đồng khoa học cấp huyện đánh giá, xếp loại A (Năm 2013-214) để hướng dẫn HS. Các em có hiểu bài, vận dụng làm bài tương đối tốt. Tuy nhiên vì thời gian sinh hoạt CLB em yêu toán chỉ có 1 buổi/tuần và chủ yếu tranh thủ vào thời gian các em hoàn thành bài sớm, vào những tiết tự học. Để trực quan sinh động hơn, học sinh có hứng thú, hấp dẫn với dạng toán này đồng thời cũng là cách hướng dẫn dễ hiểu nhất. Xuất phát từ những lý do cơ bản trên, tôi xin trình bày kinh nghiệm về: Ứng dụng công nghệ thông tin vào hướng dẫn học sinh năng khiếu lớp 5 giải các bài toán bằng sơ đồ biểu đồ ven. để đồng nghiệp tham khảo và góp ý. 2. Mục đích nghiên cứu: Góp phần tìm ra cách Ứng dụng công nghệ thông tin vào hướng dẫn học sinh năng khiếu lớp 5 giải các bài toán bằng sơ đồ biểu đồ ven. 3. Đối tượng nghiên cứu: Ứng dụng công nghệ thông tin vào hướng dẫn học sinh năng khiếu lớp 5 giải các bài toán bằng sơ đồ biểu đồ ven." 4. Phương pháp nghiên cứu: 4.1. Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Qua nghiên cứu các tài liệu giảng dạy, tài liệu về chương trình nâng cao bồi dưỡng học sinh có năng khiếu của nhà xuất bản giáo dục để nắm được các mạch kiến thức cần bồi dưỡng cho học sinh trong đó có Phương pháp giải toán bằng phương pháp biểu đồ ven. 4.2. Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin. - Qua quá trình giảng dạy trên lớp, qua các buổi sinh hoạt chuyên môn tổ, cụm chuyên môn, tôi nghĩ rất cần thiết để thực hiện công tác bồi dưỡng học sinh có năng khiếu, trong đó có cần hướng dẫn học sinh có năng khiếu môn toán giải bài toán bằng phương pháp biểu đồ ven. 4.3. Phương pháp thống kê xử lý số liệu: Qua khảo sát kết quả giảng dạy trước thực nghiệm, kết quả giảng dạy sau thực nghiệm. Từ đó so sánh, đối chiếu hai phương pháp và rút ra kết luận (Trước thực nghiệm- sau thực nghiệm) 5. Những điểm mới của sáng kiến: Ứng dụng công nghệ thông tin vào trình chiếu, hướng dẫn học sinh giải một số bài toán bằng sơ đồ biểu đồ ven. II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm. VD: Đội tuyển thi đá cầu và đấu cờ vua của trường tiểu học Minh Khai có 20 em, trong đó có 12 thi đá cầu và 13 thi đấu cờ vua. Hỏi có bao nhiêu em trong đội tuyển thi đấu cả hai môn?. Đây là những bài toán không đòi hỏi tính toán phức tạp, nhưng các em, lại rất trìu tượng hoặc lúng túng khi giải. Hoặc có những em có thể suy luận ngay ra kết quả nhưng không giải thích được cách làm. Để giải được những bài toán dạng này, các em cần phải biết vận dụng sáng tạo những kiến thức toán học cơ bản, "những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và phong tục tập quán trong sinh hoạt hàng"(1) ngày để từ những điều kiện đã cho trong đề bài các em phân tích, vẽ biểu đồ rồi giải bài toán. Chính vì vậy, trong quá trình phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu môn Toán, chúng ta cần giúp các em làm quen với các bài toán giải bằng phương pháp biểu đồ ven. 2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. a) Thực trạng hiện nay về công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu ở các môn học nói chung và học sinh có năng khiếu môn Toán nói riêng. Như tôi đã nói ở trên, Từ năm học 2014-2015, thực hiện Thông 30/2014/TT-BGD. Đến năm học 2016-2017 này, chúng ta lại tiếp tuc thực hiện Thông tư 22/2016/TT-BGĐT Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm thông tư số 30/2014/TT-BGD ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo. Nên trong những năm qua, các kì thi học sinh giỏi không còn được tổ chức dẫn đến công tác phát hiện, bồi dưỡng học sinh năng khiếu phần nào hạn chế. Các nhà trường chú trọng nâng cao chất lượng đại trà, mục tiêu giúp học sinh đạt được chuẩn kiến thức kĩ năng, chú trọng giáo dục kĩ năng sống. Tuy nhiên đối với một số học sinh hoàn thành tốt môn học ít có cơ hội được phát triển, được bộc lộ năng khiếu của mình, được rèn luyện khả năng tư duy, lô -gic. Khi bước sang THCS, khả năng tư duy sẽ không thích ứng kịp với phương pháp ở THCS và nếu như không được chú ý kèm cặp, quan tâm, các em sẽ gặp khó khăn trong học tập các môn học nói chung, môn toán nói riêng. b) Thực trạng của giáo viên khi hướng dẫn học sinh lớp 5 giải một số bài toán bằng phương pháp biểu đồ ven. Nội dung các bài toán suy luận lô-gic giải bằng phương pháp biểu đồ ven không có trong yêu cầu của chuẩn kiến thức kĩ năng nên nhiều giáo viên coi nhẹ, không tự học, tự nghiên cứu, khi gặp phải sẽ lúng túng, không nắm được phương pháp giải thế nào? Hướng dẫn học sinh ra sao? Một số giáo viên do nhiều năm chuyên dạy các lớp 1-2-3, không va chạm đến các dạng cơ bản ở khối 4-5, đồng thời lại không tự học tự bồi dưỡng nên phần nào đó cũng gặp hạn chế khi hướng dẫn học sinh giải các bài toán nâng cao nói chung, các bài toán giải bằng phương pháp biểu đồ ven nói riêng. Một số giáo viên luôn có tinh thần tự học, tự nâng cao trình độ của mình qua việc nghiên cứu tài liệu tham khảo về giải các dạng toán nâng cao, mở rộng, có khả năng bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh có năng khiếu nhưng vẫn còn lúng túng, hạn chế trong phương pháp hướng dẫn học sinh giải các bài toán bằng phương pháp biểu đồ ven này. Mặt khác một số giáo viên vẫn còn hạn chế việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. c) Đối với học sinh trong việc giải các bài toán bằng biểu đồ ven. Vào các tiết tự học ở buổi 2, các buổi sinh hoạt câu lạc bộ, mục đích để các em được làm quen với kiến thức trên chuẩn, tư duy được phát triển, tạo nguồn cho TH cở sở. Thông qua quá trình phát hiện và bồi dưỡng tôi nhận thấy tồn tại một số thực trạng đối với các em về việc giải toán bằng biểu đồ ven như sau: - Khi gặp các bài toán giải bằng phương pháp biểu đồ ven, các em cảm đề bài lạ, trìu tượng, khó hiểu, không biết giải thế nào? Có nhiều em thông minh suy luận ra kết qủa bài toán nhưng lại không biết diễn đạt như thế nào cho người khác hiểu. Có những em cũng biết vẽ sơ đồ, trình bày bài giải đối với những bài chỉ có hai đối tượng đơn giản nhưng đối với những bài có nhiều đối tượng cùng làm hay cùng biết một vấn đề nào đó thì các sẽ rối kể cả trong vẽ biểu đồ hoặc dựa vào biểu đồ để giải bài toán. - Khi hướng dẫn học sinh giải những bài toán suy luận lô-gic bằng phương pháp biểu đồ ven thì vấn đề khó khăn nhất là hướng dẫn học sinh vẽ biểu đồ, hiểu được biểu đồ, dựa vào biểu đồ để giải bài toán. Bởi khi vẽ biểu đồ để giải các bài toán suy luận nay các em rất lúng túng vì không biết khi nào thì vẽ hai hình tròn giao nhau? Khi nào thì vẽ ba hình tròn giao nhau, phần giao nhau ấy biểu thị gì? Để tìm được giá trị của các phần ấy thì làm thế nào? các em thấy rất rối khi quan sát biểu đồ đề tìm ra kết quả bài toán. 2. Kết quả của thực trạng trên Trong năm học 2015 - 2016. Tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 5A với tổng số học sinh là 33 em, chủ nhiệm CLB em yêu Toán của lớp 5A (trong đó có: 15 học sinh hoàn thành xuất sắc các môn học). Trong quá trình giảng dạy, sinh hoạt CLB, tôi luôn chú trọng đến tất cả các đối tượng học sinh. Song song với việc nâng cao chất lượng đài trà, bản thân chú ý phát hiện ra những học sinh có năng khiếu môn Toán rồi lên kế hoạch, xây dựng nội dung bồi dưỡng. Trong quá trình giảng dạy, tôi đã áp dụng sáng kiến "Hướng dẫn học sinh khá giỏi lớp 5 giải một số bài toán bằng phương pháp biểu đồ ven" của bản thân đã được Hội đồng khoa học cấp huyện đánh giá, xếp loại A (Năm 2013-214), các em có hiểu bài, vận dụng làm bài tương đối tốt. Tuy nhiên vì thời gian sinh hoạt CLB em yêu toán chỉ có 1 buổi/tuần và chủ yếu tranh thủ vào thời gian các em hoàn thành bài sớm, vào những tiết tự học. Sau một thời gian bồi dưỡng, tôi đã tiến hành tổ chức cho các em làm bài kiểm tra sau: ĐỀ KIỂM TRA MÔN: TOÁN (Thời gian: 40 phút) Bài 1: "Đội tuyển thi đá cầu và đấu cờ vua của trường tiểu học Minh Khai có 20 em, trong đó có 12 thi đá cầu và 13 thi đấu cờ vua. Hỏi có bao nhiêu em trong đội tuyển thi đấu cả hai môn?" Bài 2: "Đội tuyển tham gia thi chạy và bơi của trường có 21 bạn và trong đó có 13 bạn thi chạy và 14 bạn thi bơi. Hỏi có mấy bạn thi đấu cả 2 môn?" Bài 3: "Trong hội nghị có 100 đại biểu tham dự, mỗi đại biểu nói được một hoặc hai trong ba thứ tiếng: Anh, Nga hoặc Pháp. Biết rằng có 39 đại biểu chỉ nói được tiếng Anh, 35 đại biểu nói được tiếng Pháp, 8 đại biểu nói được cả tiếng Anh và tiếng Nga. Hỏi có bao nhiêu đại biểu chỉ nói được tiếng Nga?" KẾT QỦA KIỂM TRA Kết quả cụ thể Bài 1 Bài 2 Bài 3 SL TL SL TL SL TL Vẽ được biểu đồ 15 100% 15 100% 7 46.7% Giải được bài toán theo yêu cầu 15 100% 10 66.7% 5 33.3 Qua quan sát đánh giá của bản thân và kết quả kiểm tra trên, tôi nhận thấy kết quả chưa chưa cao. Điều đó cho thấy bản thân tôi cần rút kinh nghiệm để điều cả về thời gian cũng như phương pháp, hình thức dạy học để thu hút, hấp dẫn được học sinh, học dễ hiểu và đạt kết quả cao hơn. 3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề. 1/Giải pháp thực hiện: 1.2. GV cần xây dựng hệ thống bài tập theo mức độ từ dế đến khó, từ đơn giản đến phức tạp 1.3. GV có thể đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào hướng dẫn cách giải các bài toán bằng sơ đồ biểu đồ ven: vẽ biểu đồ, tô màu xanh, đỏ,. các phần rồi dựa vào các phần để giải bài toán. Đối với những bài "mẫu", giáo viên phải gợi mở bằng những câu hỏi dễ hiểu, đặc biệt là hướng dẫn học sinh thật kĩ cách vẽ biểu đồ và xác định các phần trong biểu đồ, rồi tìm cách giải. 1.4. Xây dựng thời gian bồi dưỡng hợp lý. Kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng sau mỗi dạng bài để điểu chỉnh nội dung cũng như phương pháp dạy học. 2/Tổ chức thực hiện a/Xây dựng hệ thống bài tập giải bằng phương pháp biểu đồ ven. Những bài toán về suy luận lô-gic có nhiều phương pháp giải và các em chỉ được làm quen trong các chuyên đề bồi dưỡng học sinh có năng khiếu. Mỗi chuyên đề, mỗi loại sách chỉ có điển hình một số bài. Do vậy, tôi đã chủ động sưu tầm các bài toán giải bằng phương pháp biểu đồ ven ở các loại sách khác nhau rồi tổng hợp thành xây dựng thành một hệ thống bài tập theo mức độ từ dễ đên khó, từ đơn giản đến phức tạp. b/Xây dựng thời gian dạy các bài toán bằng phương pháp biểu đồ ven. c/ Ứng dụng trình chiếu để hướng dẫn học sinh cách giải một số bài toán bằng phương pháp biểu đồ ven Bài toán 1: "Đội tuyển thi đá cầu và thi đấu cờ vua của trường tiểu học Minh Khai có 20 em trong đó có 12 thi đá cầu và 13 em thi đấu cờ vua. Hỏi có bao nhiêu bạn trong đội thi đấu cả hai môn?" a) Phân tích đề : - Bài toán cho ta biết gì? (Trường Tiểu học Minh Khai có 20 học sinh, trong đó 12 em thi đá cầu, 13 em thi đấu cờ vua) - Bài toán yêu cầu chúng ta làm gì? (có bao nhiêu bạn trong đội thi đấu cả hai môn?) b) Hướng dẫn cách vẽ biểu đồ: Cờ vua: 13 HS HS HS ? banban Đá cầu: 12 HS Chỉ chơi cờ vua chỉ chơi đá cầu HS ? banban Cờ vua: 13 HS HS Đá cầu: 12 HS + GV: Sau đó ta ký hiệu các phần trên biểu đồ bằng các màu xanh, đỏ, vàng. (GV trình chiếu) Chỉ chơi cờ vua chỉ chơi đá cầu c) Hướng dẫn cách giải: + Yêu cầu HS quan sát biểu đồ và cho biết: ? Phần màu đỏ biểu thị gì? (số học sinh chỉ thi đá cầu) ? Phần màu vàng biểu thị gì? (số học sinh chỉ thi đấu cờ vua) ? Phần màu xanh biểu thị gì? (số học sinh vừa thi đá cầu vừa thi đấu cờ vua) ? Tổng của 3 phần đỏ, xanh, vàng biểu thị bao nhiêu học sinh? (20 học sinh) ? Tổng của hai phần màu đỏ và màu xanh biểu thị bao nhiêu học sinh? (12 học sinh) ? Muốn tìm phần màu vàng tức là số học sinh chỉ thi đấu cờ vua ta làm thế nào (Lấy 20 - 12 =8 em) ?Tổng của hai phần màu xanh và màu vàng biểu thị bao nhiêu học sinh? (13 học sinh) ? Muốn tìm phần màu đỏ, tức là số học sinh chỉ thi đá cầu ta làm thế nào? (lấy 20 - 13 = 7 em) ?Biết phần màu đỏ chỉ 7 học sinh, phần màu vàng chỉ 8 em, muốn tìm phần màu ta làm thế nào?(20-15 = 5 em) Bài giải Số học sinh chỉ thi đấu cờ vua là: 20-12= 8 (học sinh) Số học sinh chỉ thi đấu đá cầu là: 20-13=7 (học sinh) Số học sinh vừa thi đá cầu vừa thi nhảy dây là: 20-8-7= 5 (học sinh) Đáp số: 5 học sinh KL: Bài toán cho biết tổng số học sinh; các phần riêng. Dựa vào tổng và các phần riêng để tìm phần chung - tức là số học sinh vừa thi đá cầu vừa thi nhảy dây. Bài toán 2: "Cô giáo chấm điểm hai bài kiểm tra Toán và Tiếng việt. Tất cả các bạn trong lớp đều đạt điểm khá giỏi. Có 20 bạn đạt điểm khá giỏi môn Toán, 17 bạn đạt điểm khá giỏi môn Tiếng việt, trong đó có 12 bạn đạt điểm khá giỏi cả hai môn. Hỏi lớp học đó có bao nhiêu bạn?" a) Phân tích đề + Bài toán cho ta biết gì? (có 20 bạn đạt điểm khá giỏi môn Toán, 17 bạn đạt điểm khá giỏi môn Tiếng Việt, trong đó có 12 bạn đạt điểm khá giỏi cả hai môn) + Bài toán yêu cầu chúng ta làm gì? (Hỏi lớp có bao nhiêu bạn?) b) Hướng dẫn cách vẽ biểu đồ: + GV: Ta biểu thị số học sinh đạt điểm khá giỏi môn Tiếng Việt là một hình tròn, số học khá giỏi môn Toán là một hình tròn. ? Trong đó có 12 bạn đạt điểm khá giỏi cả hai môn nên ta vẽ biểu đồ này thế nào? (vẽ hai hình tròn giao nhau) ? Phần giao nhau đó biểu thị gì? (biểu thị 12 bạn đạt điểm khá giỏi cả hai môn) -GV trình chiếu hình vẽ minh họa dưới : TV: 17 HS Toán: 12 HS 12 HS Chỉ mônToán (3): Chỉ môn TV + GV: Sau đó ta ký hiệu các phần trên biểu đồ bằng các màu xanh, đỏ, vàng. (GV trình chiếu) 12 HS Toán: 20 HS TV: 17 HS (3): Chỉ môn TV Chỉ mônToán c) Hướng dẫn cách giải: + Yêu cầu HS quan sát biểu đồ và cho biết: ? Phần màu đỏ biểu thì gì? (HS đạt khá giỏi mình môn Toán) ? Phần màu xanh biểu thị gì? (HS đạt khá giỏi cả môn Toán và môn Tiếng việt) ? Phần màu vàng biểu thì gì? (số HS đạt khá giỏi mình môn Tiếng việt) ? Dựa vào biểu đồ, muốn tìm tổng số HS cả lớp ta làm thế nào? (tổng của màu đỏ, xanh, vàng) ? Phần màu đỏ, phần màu vàng biết chưa? Phần màu xanh biểu thị gì? (12 học sinh) ? Tổng của hai phần màu đỏ và màu xanh là bao nhiêu học sinh? (12 HS). Muốn tìm phần màu đỏ có bao nhiêu HS ta làm thế nào? (Lấy tổng của màu đỏ và màu xanh trừ đi phần màu xanh, tức là lấy 20-12=8) ? Tổng của màu xanh và màu vàng có bao nhiêu học sinh? (17 học sinh). Muốn tìm phần màu vàng biểu thị bao nhiêu học sinh ta làm thế nào? (Lấy tổng của màu xanh và màu vàng trù đi phần màu xanh, tức là lấy 17-12=9 học sinh) Bài giải: Số bạn chỉ đạt điểm giỏi môn toán là: 20-12 = 8 (bạn) Số bạn chỉ đạt điểm giỏi môn Tiếng Việt là: 17-12= 5 (bạn) Lớp học có số bạn là: 12+8+5=25 (bạn) Đáp số: 25 bạn KL: Bài toán cho biết các phần riêng và 1 phần chung là 12 học sinh. Dựa phần chung và các phần riêng để tìm tổng số học sinh. Bài toán 3: "Trong một hội nghị có 100 người tham dự, trong đó có 10 người không biết tiếng Nga và tiếng Anh, có 75 người biết tiếng Nga và 83 người biết Tiếng Anh. Hỏi trong hội nghị có bao nhiêu người biết cả 2 thứ tiếng Nga và Anh?" a) Phân tích đề + Bài toán cho ta biết gì? (trong hội nghị có 100 người tham dự, trong đó

Bạn đang đọc nội dung bài viết Skkn Một Số Phương Pháp Hướng Dẫn Học Sinh Tự Học Ở Nhà Trong Dạy Học Phần Địa Lí Tự Nhiên / 2023 trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!