Đề Xuất 11/2022 # Sáng Kiến Về Giải Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Yếu, Kém Môn Toán / 2023 # Top 16 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 11/2022 # Sáng Kiến Về Giải Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Yếu, Kém Môn Toán / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sáng Kiến Về Giải Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Yếu, Kém Môn Toán / 2023 mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trang chủ

Tin tức

Tin mới

Sáng kiến về Giải pháp bồi dưỡng học sinh yếu, kém môn Toán

SÁNG KIẾN

MỘT VÀI KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH YẾU, KÉM

HỌC TỐT MÔN TOÁN THCS

I.Cơ sở chọn đề tài

1.Cơ sở lí luận

Học sinh yếu kém toán là những học sinh có kết quả về môn toán thường xuyên dưới mức trung bình. Do đó việc lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng cần thiết đối với những học sinh này tất yếu đòi hỏi tốn nhiều công sức và thời gian hơn so với những học sinh khác.

          Về mặt lí luận người thầy phải nắm vững các đặc điểm của học sinh yếu kém để từ đó đề ra các giải pháp phù hợp nhằm khắc phục tình trạng học toán của học sinh.

2. Cơ sở thực tiễn

          Cũng như bồi dưỡng học sinh giỏi toán việc giúp đỡ học sinh yếu kém phải được tiến hành ngay cả trong tiết dạy học đồng loạt bằng các biện pháp phân loại nội tại thích hợp. Tuy nhiên, trong thực tế dạy học việc nâng cao hiệu suất giờ lên lớp để giúp đỡ học sinh yếu kém người thầy cần có sự giúp đỡ tách riêng đối với nhóm học sinh yếu kém ( thực hiện chủ yếu ngoài giờ chính khóa )

          Trên địa bàn mà trường tôi trực thuộc học sinh đa số là con em nông thôn, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên việc đầu tư về vật chất cũng như thời gian cho con cái học tập chưa cao, ngoài giờ đến lớp các em còn phải giúp đỡ bố mẹ các công việc gia đình, không có thời gian để tự học. Sự quan tâm kèm cập con cái của các phụ huynh còn hạn chế, ý thức học tập của một số em chưa cao, phương pháp học tập chưa phù hợp dẫn đến chất lượng học tập của học sinh còn yếu vì thế hầu hết các em sợ học môn toán.

          Là một giáo viên đã có hơn 20 năm gắn bó với nghề. Tôi rất hiểu và thông cảm trước những khó khăn của các em. Bỡi vậy trong quá trình giảng dạy tôi luôn học hỏi đồng nghiệp và tìm tòi những phương pháp thích hợp để giúp các em học sinh yếu kém yêu thích và học tốt môn toán với mong muốn nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở trường trung học cơ sở. Và qua thực tế dạy học tôi tìm tòi áp dụng một số giải pháp đem lại thành công. Vì thế tôi chọn đề tài: “ một vài kinh nghiệm giúp học sinh yếu kém học tốt môn toán trung học sơ sở “

          Thực trạng hiện nay cho thấy vấn đề học sinh yếu kém ở các bộ môn rất trầm trọng, trong đó môn toán không phải là ngoại lệ. Với vai trò qua trọng của bộ môn có tính quyết định đến chất lượng học tập của bộ môn khác. Hơn nữa chương trình toán trung hoc cơ sở là những viên gạch đặt nền móng đầu tiên cho cả quá trình học tập sau này. Xuất phát từ lòng thương yêu học sinh như con em của mình và lương tâm của một người thầy giáo. Tôi thực sự băn khoăn trăn trở trước những khó khăn chán nản của học sinh khi học môn toán. Với sự trao đổi góp ý của đồng nghiệp tôi đã thử nghiệm trên đối tượng học sinh lớp 8 ở trường tôi về phương pháp giúp đỡ học sinh yếu kém học tốt môn toán và thực tế đem lại kết quả khả quan, sự tiến bộ rõ rệt của học sinh là động lực thúc đẩy tôi hình thành bản sáng kiến này.

II.Nội dung sáng kiến.

1.Mục đích:

          Sở dĩ tôi chọn đề tài này là vì mong muốn tìm được một phương pháp tối ưu nhất để trong quỹ thời gian cho phép hoàn thành được một hệ thống chương trình quy định, nhằm lắp đầy các chổ hổng kiến thức và từng bước nâng cao thêm về mặt kỹ năng trong việc giải các bài tập toán cho học sinh. Từ đó phát huy khơi dậy khả năng sử dụng hiệu quả kiến thức vốn có của học sinh, đồng thời thu hút, lôi cuốn các em ham thích học môn toán, đáp ứng những yêu cầu về đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học hiện nay.

2.Nhiệm vụ và các giải pháp thực hiện:

2.1:Khảo sát chất lượng học sinh về môn toán nhằm xác định đối tượng học sinh yếu kém.

Thông qua học bạ lớp dưới, thông qua bài kiểm tra khảo sát đầu năm, kiểm tra vấn đáp những kiến thức cơ bản, trọng tâm mà các em đã được học. Qua đó giúp tôi nắm được những đối tượng học sinh yếu kém và những ”lỗ hổng” kiến thức của các em. Trên cơ sở đó tôi phân lớp thành nhiều nhóm gọi là nhóm ” tương đồng về kiến thức”. Rồi tìm hiểu nguyên nhân và lập kế hoạch khắc phục.

2.2: Phân loại đối tượng học sinh từ đó lựa chọn các biên pháp phù hợp và lập kế hoạch khắc phục hiện trạng học sinh yếu kém đó. Tìm hiểu nguyên nhân gây ra sự yếu kém môn toán ở học sinh.

Qua thực tế tìm hiểu tôi nhận thấy có các nguyên nhân chủ yếu sau dẫn đến học sinh học yếu đó là: Học sinh có nhiều “lỗ hổng” về kiến thức cũng như về kỹ năng do:

* Nguyên nhân khách quan:

– Do kinh tế gia đình khó khăn nên điều kiện học tập thiếu thốn về cả vật chất cũng như thời gian, dẫn đến kết quả học tập theo đó bị hạn chế.

– Do học sinh có sự khủng hoảng nhất thời về mặt tinh thần trong cuộc sống dẫn đến sao nhãng việc học hành.

* Nguyên nhân chủ quan:

– Kiến thức bị hổng do học sinh lười học.

– Do khả năng tiếp thu chậm.

– Do thiếu phương pháp học tập phù hợp.

Qua kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy tôi đã gặp rất nhiều khó khăn khi giảng dạy kiến thức mới trong điều kiện nền tảng kiến thức cũ rất yếu kém của học sinh. Đây là một nỗi đau hàng ngày gặm nhấm trái tim nghề nghiệp của tôi, thôi thúc tôi phải làm một điều gì đó để có thể giúp đỡ các em.Và tôi đã thay đổi cách nghĩ và cách làm trong công tác giảng dạy để giúp đỡ các em yếu, kém học tốt môn toán hơn qua các biện pháp cụ thể sau:

2.3: Các biện pháp khắc phục tình trạng yếu kém trong học sinh về môn toán.

2.3.1. Trước hết, tôi chú trọng khắc phục các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến kết quả học tập của những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với tinh thần trách nhiệm của một người thầy trên cương vị giáo viên chủ nhiệm.

Đối với những em do hoàn cảnh kinh tế gia đình quá khó khăn ví dụ như các em bị thiếu thốn sách vở đồ dùng học tập. Ngoài các buổi đến lớp các em phải đi mò cua, bắt ốc để phụ giúp kinh tế gia đình không có thời gian để học tập. Sau khi tìm hiểu biết được hoàn cảnh của các em tôi đã có ý kiến đề xuất lên ban lãnh đạo nhà trường có thể miễn giảm cho các em một phần nào các khoản đóng góp có thể được, giảm bớt gánh nặng về sự thiếu thốn vật chất cho các em. Ngoài ra tôi đã phát động các em học sinh trong lớp quyên góp một phần nào đó để giúp bạn có thể mua một số đồ dùng học tập như sách giáo khoa,bút vở,…Tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các em đó trong học tập.

Với đối tượng học sinh gặp sự cố bất thường về tinh thần. Ví dụ như bố mẹ đi làm ăn kinh tế ở xa, hay những trường hợp có những cú sốc về tình cảm trong gia đình mà các em bị ảnh hưởng, có một số em phải ở với ông bà bị thiếu thốn về tình cảm và sự chăm sóc của bố mẹ,…Thông qua học sinh và phụ huynh tôi thường xuyên trò chuyện thân mật riêng với các em, động viên an ủi để các em có thể vượt qua cơn khủng hoảng về tinh thần, góp phần nào giúp các em trở lại trạng thái cân bằng về tình cảm và tập trung vào việc học tốt hơn.

Với đối tượng học sinh yếu kém do lười học. Tôi trực tiếp trò chuyện riêng với các em, phân tích cho chuyên môn, tôi tăng cường công tác kiểm tra việc học và làm bài về nhà, trong các giờ học tôi khuyến khích cho các em phát biểu, gọi các em lên bảng trình bày và có lời khen kịp thời, cho điểm khuyến khích, động viên các em, giúp các em tự tin và hứng thú học tập hơn.

Sau khi tạo được tâm thế thoải mái về tinh thần trong học sinh thì việc tiếp theo đóng vai trò quan trọng và quyết định. Đó chính là thực hiện các biện pháp phù hợp nhằm giúp các học sinh yếu kém có điều kiện về mặt kiến thức để theo kịp yêu cầu chung của những tiết học trên lớp, tiến tới có thể hoà nhập vào việc dạy học đồng loạt.

2.3.2. Khắc phục các yếu tố chủ quan:

Trước hết cần đảm bảo cho học sinh có trình độ xuất phát cho những tiết lên lớp. Để tiết học trên lớp có kết quả thường đòi hỏi những tiền đề nhất định về trình độ kiến thức, kỹ năng sẵn có của học sinh. Đối với diện học sinh yếu kém thì thiếu hẳn tiền đề này. Vì thế cần giúp nhóm học sinh này có đủ tiền đề đảm bảo trình độ xuất phát cho những tiết lên lớp đạt hiệu quả.

Trước hết, tôi nghiên cứu kỹ nội dung chương trình, vạch rõ khối lượng tri thức và những kỹ năng cần thiết như những tiền đề xuất phát thông qua SGK, SGV, chuẩn chương trình,… Sau đó, phân tích những tri thức kỹ năng có sẵn ở học sinh ở mức độ nào (qua quá trình tìm hiểu, quan sát ở học sinh trên lớp, qua các bài kiểm tra,…) Tiếp đến, tôi tập trung vào việc tái hiện những tri thức và tái tạo những kỹ năng cần thiết một cách tường minh thông qua việc cho học sinh ôn tập những tri thức, kỹ năng trước khi dạy nội dung mới vào các buổi học ngoài giờ chính khoá.

Chẳng hạn: Ví dụ 1: Khi dạy bài phép cộng phân thức đại số, để học sinh học tốt bài này thì các em buộc tử, tìm mẫu thức chung, quy đồng mẫu thức, qui tắc “chuyển vế”, qui tắc “dấu ngoặc”. Trong hoạt động đó học sinh được ôn lại các kiến thức tương ứng trong cộng, trừ, nhân và chia phân thức,… thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập cụ thể để học sinh dễ hiểu hơn để thực hiện.

Đối với môn toán có một nguyên tắc quan trọng là không bao giờ được bỏ qua những kiến thức cơ bản: Có thể nói có nhiều bạn bào là: “khổ lắm nói mãi” nhưng điều này đôi khi không đơn giản như bạn nghĩ. Thật ra, toán học là môn logic, nếu không có nền tảng cơ bản bạn sẽ bị hổng kiến thức rất nhanh.

Như vậy, trước những bài tập cơ bản học sinh càng phải nắm rõ và làm trôi chảy, vì những bài tập cơ bản này cung cấp kiến thức nền để vận dụng các dạng bài sau.

Hãy thường xuyên luyện tập sao cho khi gặp những dạng bài tập cơ bản này ta có thể bắt tay vào làm ngay, tốt nhất là thực hiện theo cách cổ điển, đừng mất thời gian biến đổi hay nghĩ rằng tìm cách hay hơn, ngắn hơn đôi khi dẫn đến việc sai sót không đáng có.

Nên học theo sách giải bài tập là vì trong sách có hướng dẫn và đáp số sẵn, khi làm xong có thể đối chiếu ngay cách làm và kết quả để đánh giá khả năng làm bài tập của mình, nếu khó hiểu và bí quá thì có thể nhờ bạn bè và thầy cô hỗ trợ.      

2.4: Đúc kết kinh nghiệm trong công tác giảng dạy đối tượng học sinh yếu kém toán

Để thực hiện đề tài có hiệu quả cần:

– Nhà trường cần tiến hành khảo sát chất lượng đầu năm để xác định đối tượng học sinh yếu kém.

– Có kế hoạch phụ đạo học sinh yếu, kém kịp thời.

– Nâng cao chất lượng đại trà của các khối lớp bằng các buổi học ngoài giờ chính khoá và đặc biệt tăng cường các buổi phụ đạo cho học sinh yếu, kém.

– Tăng cường phối hợp giữa gia đình với nhà trường, giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm để tạo ra một sức mạnh tổng hợp.

– Phát động các đợt thi đua học tập trong công tác Đội. Tổ chức các câu lạc bộ giúp nhau học tập,…. Đặc biệt, cần quan tâm việc giao tiếp ứng xử tế nhị với các em học sinh yếu, kém này, tuyệt đối không để các em mặc cảm vì bản thân học yếu, kém.

3.Phương pháp:

          Đề tài này được hoàn thành trên phương pháp thống kê tổng hợp, quan sát phân tích nguyên nhân và phương pháp thực nghiệm sư phạm.

III.Phạm vi đối tượng nghiên cứu

          Kiến thức môn toán bậc trung học cơ sở như đã trình bày đóng vai trò nền tảng. Vì thế khắc phục tình trạng yếu kém môn toán ở bậc trung học cơ sở là vấn đề không chỉ của riêng một cá nhân giáo viên dạy toán nào. Tuy nhiên để đạt hiệu quả rõ ràng trong việc nghiên cứu và thể nghiệm trong đề tài này tôi chủ yếu tập trung đi sâu vào phương pháp dạy học toán cho học sinh yếu kém thuộc lớp 8 của trường vào các giờ học luyện tập, tự chọn, các buổi học phụ kèm, các giờ học ngoại khóa,… các bài toán được đề cập đến trong đề tài này thuộc phạm vi Sách giáo khoa, Sách bài tập đảm bảo tính vừa sức đôi với các em.

IV.Kết quả đạt được.

Qua việc nghiên cứu và thực tế giảng dạy cho thấy việc thực hiện đề tài thu được kết quả rõ nét, chất lượng môn toán hàng năm được nâng lên rõ rệt thể hiện qua sổ điểm. Hơn nữa chất lượng học sinh khá cũng tăng lên. Học sinh tỏ ra quan tâm yêu thích học toán hơn trước đây. Cụ thể:

Năm học

Khối lớp

Học kỳ 1

Học kỳ 2

Số học sinh đạt kết quả trên T bình

Số học sinh đạt kết quả yếu kém

Số học sinh đạt kết quả trên T bình

Số học sinh đạt kết quả yếu kém

2018-2019

Lớp 8/1

24

12

33

03

Lớp 8/2

25

10

32

03

2019-2020

Lớp 8/1

29

07

Lớp 8/2

30

05

V.Kết luận

Như vậy việc giúp đỡ học sinh yếu , kém học tốt môn toán là việc làm rất khó khăn lâu dài đòi hỏi giáo viên phải có tình thương, một chút hy sinh và tinh thần trách nhiệm. Việc sắp xếp thời gian thích hợp ngoài giờ lên lớp để bổ trợ kiến thức bị hổng cho học sinh yếu, kém đó là một khó khăn không phải ai cũng làm được. Mà phải có sự tận tâm hy sinh cao cả của người thầy tất cả vì tương lai các em. Do vậy rất cần đến sự chia sẻ từ phía lãnh đạo và các cấp ngành giáo dục. Mỗi người thầy có một cách làm riêng, song với cách làm nêu trên với thành công ban đầu thiết nghĩ đó là kết quả đáng phấn khởi đối với người thầy dạy toán. Việc làm này không dễ thành công trong ngày một ngày hai mà phải là sự cố gắng bền bỉ và tận tuỵ thì mới mong mang lại kết quả tốt. Với vốn kiến thức của mình còn hạn hẹp, bề dày kinh nghiệm còn khiêm tốn, nên không tránh khỏi những hạn chế khiếm khuyết. Vậy rất mong hội đồng xét duyệt góp ý, bổ sung để kinh nghiệm giảng dạy của chúng tôi ngày càng phong phú và hữu hiệu hơn./.

           Long Hòa, ngày 20 tháng 4 năm 2020                                                                                       

HIỆU TRƯỞNG                                          Người viết sáng kiến

                                                                                    Hồ Văn Giang

Tin khác

Kế hoạch chuyên môn 2020-2021

các giải pháp đổi mới PPDH nâng cao chất lượng 2019-2020

Kế hoạch khắc phục học sinh chưa đọc thông, viết thạo 19-20

Kế hoạch chuyên môn 2019-2020

kế hoạch họp chi bộ tháng 4

Quyết định thành lập Ban công tác xã hội trường học

Kế hoạch công tác xã hội trường học

quyết định ban hành quy tắc ứng xử

quy tắc ứng xử

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Dạy Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém Môn Toán Thcs / 2023

Trung học cơ sở là một cấp học mang tính chất kế thừ kiến thức ở cấp tiểu học và đồng thời khởi đầu cho việc hình thành vốn kiến thức cơ bản cho học sinh làm nềnh tảng vững chắc, cho cấp học THPT và đại học, đặc biệt là môn Toán nó tạo mói quan hệ mật thiết giữa giữa các môn học tự nhiên trong nhà trường, là một trong bốn môn học mà hiện nay ngành đặc biệt quan tâm. Do đó cần có sự nhận thức rõ giá trị thực tiễn của môn Toán. Giúp cho học sinh vận dụng kiến thức đã học một cách sâu sắc làm nềnh tảng vững chắc cho các cấp học sau này.

các dụng cụ dạy học như tranh ảnh, thực hành, liên hệ thực tế, phân chia nhóm phải đảm bảo có đủ các đối tương như (Khá, giỏi, TB,Yếu,Kém) để có điều kiện trao đổi học tập lẫn nhau. Để giảng dạy phụ đạo học sinh yếu kém đạt hiệu quả cao thì người giáo viên gặp không ít khó khăn vướng mắc.

Học sinh đã làm quen với bộ môn như Toán và các môn khoa học tự nhiên. Hiện nay sách biên soạn có hình thức trình bày sinh động, hấp dẫn, ngôn ngữ trong sáng rõ ràng dễ hiểu, dưới mỗi đầu đề của mỗi bài, thường có các hình ảnh gắng liền với các câu hỏi hoạc câu phát biểu,câu suy đoán . nhầm kích thích ốc tò mò kiến thức khoa, thoi thúc học sinh tích cực tìm tòi, khám phá kiến thức mới. Nhờ các câu hỏi này mà GV có thể tạo ra các tình huống có vấn đề lôi cuốn học sinh yếu kém vào tiết học một cách hứng thú, nhẹ nhàng, từ đó hình thành kiến thức mới như hình thành các khái niệm, tính chất định lý . một cách ngăn gọn cô động dễ hiểu, nhằm làm nềnh tảng cho việc vận dụng nghiên cứu các kiến thức cơ bản các lớp sau.

Để học sinh yếu kém học tốt GV phải gây được tình huống thu hút, say mê và hứng thú học tập. Muống làm được như thế thì GV định hướng giúp, hỗ trợ kiến thức cũ mà học sinh đã khuyết, hoặc những câu hỏi gợi mơ trên cơ sở tranh ảnh vật thật hoặc suy luận từ kiến thức cũ . để học sinh có cơ sở định hướng trao đổi tìm ra kiến thức mới, như tự tay vẽ hình, tính toán và rút ra kết luận, công việc này học sinh yếu còn gặp nhiều khó khăn.

Vì vậy nhiệm vụ cần thiết của GV là phải đầu tư nghiên cứu các phương pháp giảng dạy áp dụng phù hợp cho từng đối tượng học, đặc biệt là giáo viên tổ chức nhóm học tập, HS khá giỏi phụ đạo HS yếu kém, được như thế giúp ta từng bước nâng dần chất lượng hiệu quả giảng dạy và học tập của học sinh yếu kém ngày được nâng cao.

trường và cho ngành giáo dục của chúng ta. ! ... ************* I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Cơ sở khoa học của việc chọn đề tài. Trung học cơ sở là một cấp học mang tính chất kế thừ kiến thức ở cấp tiểu học và đồng thời khởi đầu cho việc hình thành vốn kiến thức cơ bản cho học sinh làm nềnh tảng vững chắc, cho cấp học THPT và đại học, đặc biệt là môn Toán nó tạo mói quan hệ mật thiết giữa giữa các môn học tự nhiên trong nhà trường, là một trong bốn môn học mà hiện nay ngành đặc biệt quan tâm. Do đó cần có sự nhận thức rõ giá trị thực tiễn của môn Toán. Giúp cho học sinh vận dụng kiến thức đã học một cách sâu sắc làm nềnh tảng vững chắc cho các cấp học sau này. các dụng cụ dạy học như tranh ảnh, thực hành, liên hệ thực tế, phân chia nhóm phải đảm bảo có đủ các đối tương như (Khá, giỏi, TB,Yếu,Kém) để có điều kiện trao đổi học tập lẫn nhau. Để giảng dạy phụ đạo học sinh yếu kém đạt hiệu quả cao thì người giáo viên gặp không ít khó khăn vướng mắc. Học sinh đã làm quen với bộ môn như Toán và các môn khoa học tự nhiên... Hiện nay sách biên soạn có hình thức trình bày sinh động, hấp dẫn, ngôn ngữ trong sáng rõ ràng dễ hiểu, dưới mỗi đầu đề của mỗi bài, thường có các hình ảnh gắng liền với các câu hỏi hoạc câu phát biểu,câu suy đoán ... nhầm kích thích ốc tò mò kiến thức khoa, thoi thúc học sinh tích cực tìm tòi, khám phá kiến thức mới. Nhờ các câu hỏi này mà GV có thể tạo ra các tình huống có vấn đề lôi cuốn học sinh yếu kém vào tiết học một cách hứng thú, nhẹ nhàng, từ đó hình thành kiến thức mới như hình thành các khái niệm, tính chất định lý .... một cách ngăn gọn cô động dễ hiểu, nhằm làm nềnh tảng cho việc vận dụng nghiên cứu các kiến thức cơ bản các lớp sau. Để học sinh yếu kém học tốt GV phải gây được tình huống thu hút, say mê và hứng thú học tập. Muống làm được như thế thì GV định hướng giúp, hỗ trợ kiến thức cũ mà học sinh đã khuyết, hoặc những câu hỏi gợi mơ õtrên cơ sở tranh ảnh vật thật hoặc suy luận từ kiến thức cũ ... để học sinh có cơ sở định hướng trao đổi tìm ra kiến thức mới, như tự tay vẽ hình, tính toán và rút ra kết luận, công việc này học sinh yếu còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy nhiệm vụ cần thiết của GV là phải đầu tư nghiên cứu các phương pháp giảng dạy áp dụng phù hợp cho từng đối tượng học, đặc biệt là giáo viên tổ chức nhóm học tập, HS khá giỏi phụ đạo HS yếu kém, được như thế giúp ta từng bước nâng dần chất lượng hiệu quả giảng dạy và học tập của học sinh yếu kém ngày được nâng cao. 2.Cơ sở thực tiễn. sinh động hoặc thí nghiệm kiểm chứng để từ đó học sinh rút ra kiến thức và cách trình bài lập luận trên hệ thống kiến thức mang tính chất lôgíc, và nhiều bài tập mang tính chất kế thừa kiến thức cũ xây dựng kiến thức mới tạo ra một chuỗi hệ thống lôgíc về mặt khoa học... Vậy làm thế nào để sử dụng cụ phương tiện phục vụ cho việc truyền thụ kiến thức của gv cho HS yếu kém, việc lĩnh hội kiến thức , thu hút khả năng tìm tòi nghiên cứu của học sinh một cách có hiệu quả vẫn là một mối quan tâm hàng đầu , là điều kiện khó nhất của GV tìm phương pháp dạy học. Để đảm bảo việc giảng dạy phụ đạo học sinh yếu kém đạt hiệu quả cao. Đồi hỏi người giáo viên phải có vốn kiến thức vững vàng, chịu khó học hỏi ở đồng nghiệp, lắng nghe ý kiến góp ý chỉ đạo từ BGH, tổ trưởng, các giáo viên nhiều năm có kinh nghiệm. Về học sinh giáo viên phải tìm hiểu về tâm lý , hoàn cảnh gia đình, đối tượng học sinh, phải xem đây là một vấn đề nghiêm túc càn tìm ra những giải pháp cụ thể và áp dụng một cách đồng bộ, phù hợp với đối tượng yếu kém, nhầm nâng cao chất lượng hiệu quả giảng dạy, cũng như kết quả học tập đạt chất lượng. II. NHỮNG HẠN CHẾ KHÓ KHĂN. 1. Về học sinh. Trường THPT Ninh Thạnh Lợi là trường vùng sâu, vùng xa so với các trường trong huyện, đường xá đi lại khó khăn, kênh gạch chằn chịt, phần đông là người dân tộc Khơme, đa số là học sinh nghèo nên ngoài giờ học, học sinh còn phải phụ giúp gia đình nhiều công việc nên thời gian tự học còn hạn chế, phần đông là trình độ dân trí thấp. Chính vì từ những yếu tố trên nên nó gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập của học sinh. Qua nhiều năm thực hiện chương trình thay sách giáo khoa nhưng học sinh vẫn còn lúng túng trong việc tiếp thu kiến thức mới. Năm nay là năm tiếp tục thực hiện cuộc vận động của bộ GD&ĐT với 4 nội dung, trong đó thể hiện rõ ở hai nội dung đối với học sinh là " tránh tiêu cực trong thi cử và tránh tình trang học sinh không đủ điều kiện lên lớp" Do thực tại tiết dạy có 45 phút với một khối lượng kiến nhất định, đồng thời lớp học số lượng đông, có đủ các dạng học sinh, nên nếu giáo viên đầu tư nhiều cho các em học sinh yếu kém để am hiêu sâu và nắm rõ kiến thức, dẫn đến tiết dạy trái giáo án, không đảm bảo truyền tải hết nội dung kiến thức, đây là một khó khăn chung của giáo viên. 2. Về Giáo viên. Việc đào tạo giáo viên giảng dạy bậc THCS chưa đào tạo chuyên một môn day nhất, một giáo viên phải đảm nhiệm hai, ba môn. Nên việc đầu tư giảng dạy còn gặp nhiều khó khăn hạn chế. Do tình hình thực tế của trường nên một số giáo viên chỉ tập huấn chương trình thay sách giáo khoa môn này và phải dạy môn khác không được tập huấn. Mặt dù chuyên môn đào tạo co,ù nhưng chưa được tập huấn dạy môn đó theo phương pháp mới, dẫn đến việc giảng dạy chưa đạt hiệu quả cao. Do một số giáo viên chưa chịu khó đầu tư nghiên cứu mài mò, tìm hiểu đối tượng học sinh học yếu kém, dẫn đến giáo viên rất ngại tổ chức cho học sinh học nhóm trong giờ học còn hạn chế. Giáo viên sợ không khống chế được thời gian, nên một số giáo viên còn mang hình thức áp đặt kiến thức cho học sinh khá giỏi,chưa quan tâm sâu đến học sinh yếu kém. Dẫn đến việc học tập của học sinh bị thù động và không phát huy được kả năng chịu khó trong học tập. Giáo viên bộ môn rất khó khăn được phối hợp gặp phụ huynh để trao đổi cụ thể về việc học tập của con em mình tại lớp, để từ đó có biện pháp phối hợp cho con em mình học tốt từ nhà đến trường, nên việc học tập của học sinh yếu kém chưa được nâng cao. 3. Về Gia đình. Đa số các gia đình phụ huyng có hoàn cảnh khó khăn và trình độ nhận thức của phụ huynh còn hạn chế nên phần lớn phụ huynh chỉ quan tâm theo cách riêng của mình, như tạo điều kiện cho con em mình đến trường lớp, nhưng có biện pháp theo dõi quá trình đi học và chua có biện pháp giúp đỡ con học ở nhà, chưa kiểm tra được khả năng tiếp thu của con em học ở trường cũng như chưa kiểm tra thời gian học hành của con em tại nhà. Dẫn đến chất lượng học tập không cao. Đây là những nguyên nhân không nhỏ trong việc giảng dạy của giáo viên ở nhà trường. Với sự đổ mới về chương trình sách giáo khoa hiện nay và sự nhận thức của phụ huynh còn có giới hạn nên không nắm được kịp thời về việc học tập của con em mình. Từ đó chấm nhận thực tế chăm sóc con mình theo một phía, còn lại là giao hẳn cho thầy (cô) giáo. Nhà Trường. Trường THPT Ninh Thạnh lợi đã tạo mọi điều kiện từ trang thiết bị đến cơ sở vật chất, chuyên môn nhầm tạo mọi điều kiện tốt nhất cho công tác giảng dạy phụ đạo cho học sinh yếu kém đối với môn toán nói riêng và các môn học khác nói chung. Các loại sách giáo khoa và sách tham khảo và các loại sách khác nhầm phục vụ tốt cho công tác giảng dạy và học tập cho học sinh. Phòng thư viện luôn có người trực mỗi ngày nhầm tạo điều kiện học và tìm hiểu kiết thức tốt vung vén cho kiến thức cũ được vững chắc, bên cạnh đó nhà trường còn tạo điều kiện cho học sinh nghèo mượn sách giáo khoa và các sách khác để học tâp. Tuy nhiên phòng thư viện có người trực suốt nhưng lượt người tham gia đọc và tìm hiểu còn hạn chế, chưa tạo được tính chủ động lôi cuốn học sinh đọc để tìm hiểu và nâng coa kiến thức hiểu biết của học sinh. III. NHỮNG GIẢI PHÁP CỤ THỂ. Qua nhiều năm giảng dạy bộ môn Toán trong nhà trường, theo tôi để dạy tốt phụ đạo học sinh yếu kém học tiến bộ đạt hiệu quả cao, mỗi giáo viên cần phải hiểu rõ những nguyên nhân thiết thực cụ thể dẫn đến học sinh học yếu kém, để từ đó tìm ra những giải pháp cụ thể thiết thực dạy cho học sinh thuộc đối tượng này, Theo tôi để thực hiện tốt việc dạy phụ đạo học sinh yếu kém đạt hiệu quả cao, tôi xin đề xuất một số giải pháp mang tính thiết thực áp dụng cho đối tượng học sinh ở trường ta. Những giải pháp này đưa ra nhằm thông qua quý thầy (cô) cung nhau trao đổi góp ý. Về Học Sinh. Khách quan. Cần cho học sinh nhận thức rõ tầm quan trọng của việc học tâp đối với thực tế sau này khi đi vào công tác. Chỉ ra cho học sinh thấy giá trị của việc lao động trí ốc và lao động chân tay của một chuỗi dày tương lai sau này. Giá trị kiến thức môn toán. Giáo viên chỉ cho học sinh thấy giá trị thực của môn toán nó làm cơ sở giúp và hỗ trợ rất nhiều cho các môn khoa học tự nhiên khác như Lý, Hoá, Sinh, Địa ... Giúp cho chúng ta rất nhiều trong việc tính toán đo đạc trong thực tế, đời sống hàng ngày... Tính tích cực chủ động trong học tập. Chuẩn bị tốt dụng cụ, kiến thức và xem kiến thức mới ở nhà trước khi lên lớp. Giáo Viên. Để dạy tốt phụ đạo học sinh yếu kém trong lớp học đại trà giáo viên cần định hướng nội dung, kỹ năng, phương pháp cụ thể. Chuẩn bị Giáo viên cho học sinh chuẩn bị tốt các dụng cụ, thiết bị, kiến thức bài cũ làm nềnh tảng vận dụng tìm ra kiến thức mới. khích lệ học tập của em đó đồng thời thúc đẩy được tính đoàn kết hỗ trợ giúp nhau trong học tập. Giáo viên phải nắm được tâm lý học sinh yếu kém, vì kiến thức bị hỏng không theo kịp kiến thức cùng các bạn dẫn đến ngày càng tráng nảng buôn thả, từ nguiyên nhân đó. Giáo viên phải có một tâm lý nhẹ nhàn, phóng thoán, không gò bó, không áp đặt, mọi tình huống luôn gợi mở, đồng thời ưu tiên các bài toán dễ hoặc câu hỏi dễ cho các em học sinh yếu kém làm hoặc trả lời và luôn gợi mỡ, nhắc lại các kiến thức cũ cho em phần bị hỏng nhầm lấp lại kiến thức đó dẫn đến làm được bài tập hoặc trả lời được câu hởi. Đặc biệt khi trả lời được cần tuyên dương trước lớp nhầm khích ngọn lửa học tập trong lòng em, đồng thời đẩy mạnh tư tưởng phấn đấu trong em. Giáo viên tạo ra các nhóm học tập dạy kèm nhau ở nhà ( phân bố các em nhà ở gần nhau) đồng thời đưa ra thi đua giữa các nhóm, nhín ít thời gian tổng kết tuyên dương nhóm đó sau tiết. Đây là một động lực mạnh thúc đẩy nhầm tạo được sự hoà nhã giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Tiến hành dạy. - Trước khi tiến hành giảng dạy bài mới giáo viên kiểm tra lại kiến thức cũ các em yếu kém của các nhóm đã chuẩn bị ở nhà(Kiến thức dặn dò ở tiết trước) để nhận xét so sánh và tuyên dương gây hưng phấn bước vào tiết học mới. Trong tiết dạy giáo viên chuẩn bị tốt các dụng cụ, tranh ảnh, hệ thống câu hỏi gợi mỡ sinh động dễ hiểu, cho từng đối tượng học sinh. Giáo viên phải phân bố được thời gian và định hướng trước tình huống học sinh trả lời để có hướng chủ động giải quyết, chỉ ra những sai, nhầm lẫn của học sinh, đặc biệt là cần tạo ra được tình huống nhẹ nhàn, gợi mỡ gây kích thích, hưng phấn trong học tập. Khi tổ chức các nhóm phải có đủ các đối tượng, khá,giỏi,yếu kém, để có điều kiện trao đổi hỗ trợ nhau cùng tiến bộ. Giáo viên khắc sâu kiến thức trọng tâm về cách học và lưu nhớ kiến thức dưới dạng tổng quát cơ bản làm nềnh tảng cho việc vận dụng học tập và làm bài tập ở nhà. Theo tôi để thực hiện dạy phụ đạo tốt và đạt hiệu quả cao thì người giáo viên phải chịu khó đầu tư nghiên cứu từ nhiều vấn đề. Chọn lựa sử dụng các phương pháp phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập và phát huy khả năng tự học. Hoạt động hoá việc học tập bằng những phương pháp dẫn dắt cho học sinh tự thân trãi nghiệm chiếm lĩnh tri thức, tận dụng ưu thế của từng phương pháp dạy học tích cực, chú trọng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thiết thực trọng tâm cơ bản cần truyền đạt. Tìm hiểu về đối tượng học sinh, điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia đình để có biện pháp hỗ trợ. Cũng cố. Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi để khẳng định sự nhận thức, lỉnh hội kiến thức của học sinh, hoặc dưới dạng bài tập trắc nghiệm nhận dang. Hệ thống kiến thức dưới dạng ký hiệu toán học, từ đó học sinh phát biểu lại bằng lời, kiến thức được biểu diễn dưới dạng ký hiệu toán học là cơ sở trực tiếp trình bày một bài toán. Hướng dẫn về nhà. Đây cũng là một mục tiêu quan trọng giúp học sinh định hướng được việc học ở nhà và chuẩn bị bài trước ở nhà. Nhà trường. BGH luôn có kế hoạch bồi dưỡng giáo viên phù hợp đúng chuyên môn và có kế hoạch dự giờ thăm lớp rút kinh nghiệm, tạo điều kiện giúp đỡ hỗ trợ kiến thức kịp thời. Tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ kinh phí, động viên, khuyến khích giáo viên tự sáng kiến và làm đồ dùng dạy học phục vụ cho việc giảng dạy mang tính chất lâu dài và có hiệu quả, đảm bảo đúng, phù hợp với phương pháp dạy mới. Gia đình. Cần thường xuyên quan tâm việc học tập ở trường và bố trí thời gian học ở nhà của con em mình. Đi họp phu huynh theo định kỳ, theo dõi sổ liên lạc để trao đổi giáo viên và nắm bắt kịp thời việc học tập của con em mình. Cung cấp các dụng cụ sách vỡ đầy đủ để các em học tốt. IV. CÁC ĐIỀU KIỆN HỖ TRỢ CHO GIẢI PHÁP. Giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi mở, mang tính chất đơn giản nhẹ nhàn. Chuẩn bị các dụng cụ, bảng phụ, tranh ảnh sinh động ... Chia nhóm học tập hợp lý ( có đủ các đối tượng giỏi, khá, TB, yếu, kém) để có điều kiện hỗ trợ cho nhau. Định hình bài tập trác nghiệm dạng nhận dạng đế thông hiểu. Dạng đơn giản và bài tập tự luận áp dụng mang tính chất kế thừa tương tự... Tổ chúc cho đôi bạn học tập hoặc các nhóm học ở nhà. Kết hợp trao đỗi thường xuyên giữa phụ huynh và nhà trường về việc học tập của học sinh để có biện pháp hỗ trợ giúp đỡ kịp thời. V. KẾT QUẢ THỰC HIỆN. Qua quá trình thực thi sáng kiến kinh nghiệm này của tôi đưa vào áp dụng giảng dạy trực tiếp ở lớp có nhiều hiệu quả cụ thể như sau. Tôi đảm nhiệm môn toán 9D, 8AC/113em. Kết quả thi khảo sát đầu năm môn toán có tới : 109em/113 yếu kém. Đến nay kết quả học kỳ I: loại yếu kém còn 68em giảm 41 em, Giảm 37,61%. Tôi xin hứa sẽ cố gắng nhiều hơn nữa để cuối năm hạn chế mức thấp nhất học sinh yếu kém bằng những phươngpháp trên. Cuối cùng tôi xin chúc BGH, Hội đồng thẩm định của trường, quý Thầy (Cô) đồng nghiệp vui vẽ dạy tốt. Ninh Thạnh Lợi : ngày 20 tháng 03 năm 2008 Người viết SKKN PHẠM QUANG SANG

Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Môn Toán / 2023

Học sinh yếu kém về toán là những học sinh có kết quả học tập toán thường xuyên dưới trung bình. Việc lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng cần thiết ở những học sinh này thường đòi hỏi nhiều công sức và thời gian so với những học sinh khác.

Sự yếu kém toán có những biểu hiện nhiều hình, nhiều vẻ, nhưng nhìn chung thường có 5 đặc điểm:

Giáo viên cần nắm vững 5 đặc điểm này để có thể giúp đỡ học sinh yếu kém một cách có hiệu quả. Việc giúp đỡ học sinh yếu kém cần được thực hiện ngay cả trong những tiết học đồng loạt, bằng những biện pháp phân hóa nội tại thích hợp. Về nguyên tắc đó là phương hướng chủ yếu khắc phục tình trạng yếu kém trong học toán.

Bên cạnh việc nâng cao hiệu suất giờ lên lớp, giáo viên cần có tách riêng nhóm học sinh yếu kém toán (ngoài giờ chính khóa). Bài viết này chỉ trình bày hình thức giúp đỡ này.

Mục đích việc giúp đỡ tách riêng nhóm học sinh yếu kém toán là làm cho diện này theo kịp yêu cầu chung của những tiết học trên lớp và có thể hòa vào việc dạy học đồng loạt.

Nội dung giúp đỡ nhóm học sinh yếu kém nên nhằm vào những phương hướng sau:

Việc học tập có kết quả trong một tiết học thường đòi hỏi những tiền đề nhất định về trình độ kiến thức, kĩ năng sẵn có của học sinh. Thế nhưng với học sinh yếu kém nhiều khi chưa có đủ những tiền đề này và giáo viên phải giúp các em tạo tiền đề xuất phát cho những tiết trên lớp.

Đối với diện học sinh yếu kém, trong hai hình thức tái hiện: tái hiện tường minh và tái hiện ẩn tàng, nên dùng nhiều hình thức thứ nhất, tức là nói rõ kiến thức, kĩ năng cần ôn luyện là nhằm chuẩn bị cho việc học nội dung nào trong buổi học chính khóa sắp tới. Làm như vậy là để tăng cường hiệu lực hướng đích và gợi động cơ, nâng cao ý thức trách nhiệm của học sinh đối với bài học.

Kiến thức có nhiều “lỗ hổng” là một “bệnh” phổ biến của học sinh yếu kém toán. Việc tạo tiền đề xuất phát cũng chính là nhằm lấp lỗ hổng kiến thức và kĩ năng, nhưng chỉ để phục vụ cho một nội dung sắp học. Còn trong mục này, việc “lỗ hổng” kiến thức, kĩ năng được đề cập một cách tổng quát, không phụ thuộc ý đồ chuẩn bị cho một bài học cụ thể nào.

Thông qua quá trình học lý thuyết và làm bài tập của học sinh, giáo viên cũng cần tập cho học sinh, kể cả học sinh yếu kém có ý thức tự phát hiện những lỗ hổng của bản thân mình và biết cách tự lấp những lỗ hổng đó.

Với những lỗ hổng kiến thức (quên) thì cần tra cứu sách vở, tài liệu và ghi lại nhiều lần ra nháp, sổ tay.

Với những lỗ hổng kĩ năng thì cần luyện tập nhiều, giải nhiều bài tập cùng loại.

Đối với học sinh yếu kém, giáo viên nên coi trọng tính vững chắc của kiến thức, kĩ năng và tăng cường luyện tập vừa sức.

Trong những tiết học đồng loạt, việc luyện tập được thực hiện theo trình độ chung, nhiều khi không phù hợp với khả năng học sinh yếu kém. Vì vậy khi làm việc riêng với nhóm học sinh yếu kém, cần dành thời gian để các em tăng cường luyện tập vừa sức mình. Và lưu ý những điều sau đây:

Đảm bảo học sinh hiểu đầu bài tập: Học sinh yếu kém nhiều khi vấp ngay từ bước đầu tiên, không hiểu bài toán nói gì đó đó không thể tiếp tục quá trình giải toán. Vì vậy, giáo viên nên lưu ý giúp các em hiểu rõ đầu bài, nắm được cái gì đã cho, cái gì cần tìm/cần chứng minh, tạo điều kiện cho các em vượt qua sự vấp váp đầu tiên đó.

Gia tăng số lượng bài tập cùng thể loại và mức độ: Để hiểu một kiến thức, rèn luyện một kĩ năng nào đó, học sinh yếu kém cần những bài tập cùng thể loại và mức độ với số lượng nhiều hơn so với các em khá giỏi và trung bình. Phần gia tăng này được thực hiện trong những tiết làm việc riêng với nhóm học sinh yếu kém toán. Chẳng hạn giáo viên có thể ra cho học sinh rất nhiều bài tập giải phương trình bậc hai với hệ số mà không sợ “nhàm” như trường hợp học sinh khá giỏi.

Sử dụng những mạch bài tập phân bậc mịn: Việc sử dụng những mạch bài tập phân bậc trong dạy học toán nói chung là đáng làm, riêng với nhóm học sinh yếu kém toán thì cần phân bậc mịn hơn so với trình độ chung, tức là khoảng cách giữa hai bậc liên tiếp không nên quá xa, quá cao. Ta hình dung rằng nhiều bậc của học sinh yếu kém có thể gộp lại thành một bậc cho học sinh trung bình hoặc khá giỏi.

Được bước theo những bậc thang vừa sức với mình, học sinh yếu kém sẽ đỡ bị hẫng, bị hụt, bị ngã từ đó có nhiều khả năng leo hết các nấc thang dành cho họ để chiếm lĩnh được kiến thức, kĩ năng mà chương trình yêu cầu. Những nấc thang đầu dù có thấp, những bước chuyển bậc dù có ngắn nhưng khi học sinh thành công sẽ tạo nên một yếu tố tâm lý rất quan trọng: các em sẽ tin vào bản thân, tin vào sức mình, từ đó có đủ nghị lực và quyết tâm vượt qua tình trạng yếu kém.

Yếu về kĩ năng học tập là một tình hình phổ biến của học sinh yếu kém toán. Hơn nữa, có thể nói rằng đó là nguyên nhân của tình trạng yếu kém đối với một bộ phận trong những học sinh diện này. Vì vậy, một trong những biện pháp khắc phục tình trạng học sinh yếu kém là giúp đỡ các em về phương pháp học tập.

nắm được lý thuyết mới làm bài tập

đọc kĩ đầu bài

vẽ hình sáng sủa

viết nháp rõ ràng

Đặc biệt, giáo viên cần đấu tranh kiên trì với những thói quen xấu của học sinh như: chưa học lý thuyết đã lao vào làm bài tập, không đọc kĩ đầu bài trước khi làm bài tập, vẽ hình cẩu thả, viết nháp lộn xộn,…

Tư duy thiếu linh hoạt : Nghe giáo viên phân tích giảng giải, học sinh yếu không biết khái quát, không biết tư duy nên không nhớ trình tự tính toán, giải toán.Sự chú ý, óc quan sát, trí tưởng tượng đều phát triển chậm.Khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ khó khăn, sử dụng ngôn ngữ toán học lúng túng, nhiều chỗ lẫn lộn

Có thể xem mô hình phậc bậc trong Phương pháp dạy học tiết ôn tập Toán#Các hoạt động dạy học ôn tập

Một Số Giải Pháp Dạy Hs Yếu Kém Môn Toán Bậc Thcs Skkn Doc / 2023

S á ng ki ế n kinh nghi ệ m

MỘT SỐ GIẢI PHÁP DẠY HỌC SINH YẾU – KÉM MÔN TOÁN BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ

I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Từ xưa đến nay trong một lớp học trình độ của học sinh là không đồng đều, có sự chênh lệch về kiến thức và nhận thức. Khi tiến hành đổi mới phương pháp và thực hiện cuộc vận động : nói không với tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giai đoạn 2006-2010 thì sự chênh lệch giữa khá – giỏi với yếu – kém môn Toán trong một lớp học ở trường tôi – một ngôi trường mà đa số học sinh nghèo và con em dân tộc đã tăng lên rõ rệt.

Thông qua các tiết dạy trên lớp tôi nắm bắt lực học của từng học sinh rồi phân loại đối tượng. Sau đó kết hợp với giáo viên chủ nhiệm tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu – kém. Tôi thấy đa số các em học yếu là do các nguyên nhân sau:

– Xuất phát từ phía giáo viên

– Xuất phát từ gia đình

– Do chưa có phương pháp học phù hợp

Người ta chia động cơ học tập ra thành nhiều loại như sau:

Có động cơ học tập đúng đắn nghĩa là động cơ xuất phát từ chính việc học, học sinh cố gắng học tập để đạt kết quả tốt. Do vậy sẽ tạo cho học sinh yêu thích việc học, môn học, có hứng thú hơn trong học tập. Động cơ tạo nên động lực học, đó chính là thành tố quan trọng trong cấu trúc hoạt động học tập của học sinh

Gia đình là môi trường giáo dục có ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ.Trước tiên là ảnh hưởng của cha mẹ rất sâu sắc .Vì vậy giáo dục gia đình là một “điểm mạnh” là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp giáo dục học sinh. Song mỗi gia đình có những điểm riêng của nó nên giáo viên phải biết phối hợp như thế nào để đảm bảo được tính thống nhất vẹn toàn trong quá trình giáo dục để đạt hiệu quả cao.

Không chỉ giáo viên chủ nhiệm mới gặp gỡ phụ huynh học sinh mà giáo viên bộ môn cũng làm được điều ấy. Cần tạo điều kiện gặp gỡ phụ huynh của những em học sinh yếu để nắm tình hình học tập ở nhà cũng như tâm tư nguyện vọng của các em. Đồng thời thông qua các lần gặp gỡ trao đổi với phụ huynh để nắm được cách giáo dục con em ở nhà từ đó giáo viên tác động đến phụ huynh một cách thích hợp để phụ huynh có hướng giáo dục con em mình tốt hơn.

– Có những phụ huynh lo làm ăn mà không quan tâm đến tình hình học tập của con em mình nên các em cũng không biết được tầm quan trọng của việc học, thích học thì học thích chơi thì chơi.

– Nhiều phụ huynh cũng quan tâm đến việc học của con nhưng mỗi lần bài kiểm tra của con thấp lại mắng chưởi “môn Toán dễ thế này mà làm được 4 điểm à sao mà dốt thế” ….thế là cốc vào đầu làm các em chán nản mất tinh thần học tập.

– Thấy con ngồi vào bàn học thì phụ huynh yên tâm và cho rằng con mình đang học bài nhưng thực tế có những học sinh ngồi vào bàn học nhưng không học bài.

Như vậy hợp tác giữa giáo viên và phụ huynh là cần thiết để giúp học sinh có động cơ học tập và giúp các em học sinh yếu tiến bộ hơn trong học tập. Đồng thời thông qua việc gặp gỡ để phụ huynh nắm được kết quả học tập môn Toán của con em mình từ đó theo dõi động viên và tạo điều kiện để các em học tốt hơn.

Nắm được tình hình học tập của con cha mẹ có thể kèm cặp bổ sung những phần con còn yếu, tạo thời gian nhiều hơn để con học tập, nhắc nhở con làm bài trước khi đến lớp, có lời nói phù hợp với tính tình của từng em không la mắng dữ dội làm các em chán nản…

+ Học ở trên lớp rồi về nhà không chịu làm bài tập ngay để đến hôm có môn Toán mới làm .

+ Những bài tập cần trình bày tỉ mỉ thì cho là dễ và tự trình bày theo cách nghĩ riêng của mình để khác với thầy cô một chút gọi là có sự sáng tạo, dùng lời để trình bày lời giải…

+ Gặp bài khó là để đấy không chịu nghiên cứu tìm tòi.

+ Không ôn lại bài cũ.

+ Môn hình học trừu tượng cảm thấy mơ hồ khó quá bỏ luôn chỉ cố gắng 5 điểm là đủ , ….

+ Khi thầy ghi bài thì lơ là, đến lúc thầy cô giảng thì lại loay hoay chép do đó không nắm bắt được kiến thức kịp thời .

Do vậy người giáo viên cần :

+ Hướng dẫn cho học sinh phương pháp học tập bộ môn ngay từ đầu năm học.

Thú hút tất cả học sinh trong lớp chăm chú nghe khi thầy cô giảng bài.

+ Nhẹ nhàng nhắc nhở, phân tích để học sinh thấy được tại sao mình học yếu.

+ Bằng ví dụ cụ thể giúp học sinh thấy được sự cần thiết phải trình bày lời giải một cách lôgic.

+ Phân tích cho học sinh thấy để nắm vững kiến thức cần phải hiểu sâu sắc kiến thức đó qua các định nghĩa, định lí và thực hành thành thạo các dạng bài tập cơ bản về vận dụng định nghĩa, định định lí.

+ Giúp học biết sử dụng các tính chất, định lí vào bài tập. Học sinh biết tóm tắt nội dung định nghĩa, định lí bằng kí hiệu toán học và thừa nhận kết quả sau khi chứng minh vào các bài tập mà không cần phải chứng minh lại.

+ Sau khi học song một chương cần giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức (tốt nhất là bằng bảng hoặc bằng sơ đồ). Tóm tắt kiến thức cơ bản và các công thức quan trọng cũng như cách giải một số dạng toán cơ bản dán vào góc học tập.

Giáo viên bộ môn phân c ô ng các thành viên trong bàn kiểm tra và nhắ c nhở việc học bài và làm bài ở nhà của nhau và báo cáo kết quả cho tổ trưởng. Vào đầu giờ học tổ trưởng báo cáo việc học bài và làm bài ở nhà của tổ mình với giáo viên bộ môn .Qua đó giáo viên nhắc nhở có biện pháp đối với những học sinh vi phạm và tuyên dương khích lệ kịp thời đối với những học sinh thực hiện tốt.

Cho điểm “+” khích lệ đối với những học sinh phát biểu nh i ều, câu trả lời hay, chấm nhanh đạt điểm 8 trở lên,…Cứ 3 điểm ” +” sẽ được cộng vào điểm miệng 1 điểm. Như vậy học sinh nào có điểm miệng thấp có thể nâng lên điểm cao nhờ điểm “+”.

Học sinh không học bài, làm bài sẽ ghi điểm “-” để xoá điểm “-” cần phải ghi được 3 điểm “+”.

Ở giải pháp này mỗi tổ trưởng cần có một sổ theo dõi:

Ví dụ : Cho tam giác ABC có đường cao AH,BK .Chứng minh 4 điểm A, K, H, B cùng thuộc một đường tròn

Học sinh có thể trả lời ngay

Gọi O là trung điểm của AB

Vì ABH vuông tại H

Nên O là tâm đường tròn

ngoại tiếp ABH

Hay A,B,H (O)

Vì ABK vuông tại K

Nên O là tâm đường tròn ngoại tiếp ABK

Hay A,B,K (O)

Vậy A,K,H,B (O)

Trong quá trình dạy học ta thấy rằng không ít học sinh bi quan, mất niềm tin tự phụ, chủ quan…trong học tập, trong sinh hoạt do đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi chúng tôi vậy tùy từng khối lớp, tùy từng đối tượng học sinh mà giáo viên có phương pháp giáo dục thích hợp.

Kiến thức luôn cần có sự xuyên suốt. Do mất căn bản học sinh khó mà có nền tảng vững chắc để tiếp thu kiến thức mới. Để khắc phục tình trạng trên người giáo viên cần tạo điều kiện để các em lấp lỗ hổng kiến thức, tùy theo từng lớp mà:

Hệ thống kiến thức theo chương trình.

Đưa ra nội dung bài tập phù hợp để học sinh luyện tập kiến thức mới và ôn lại kiến thức cũ.

Giới hạn kiến thức trọng tâm để học sinh học và làm bài. Bên cạnh đó cần chú trọng hơn đến việc hướng dẫn bài tập về nhà.

Chỉ cho học sinh một số mẹo vặt khi làm bài.

Phân hóa đối tượng học sinh.

Quan sát theo dõi tình hình học tập của các em trong mỗi giờ lên lớp.

Trong mỗi giờ học cần có các câu hỏi phù hợp với từng đối tượng, tổ chức thi đua cá nhân,chấm nhanh, thi đua tổ nhóm, đố vui, trò chơi ai nhanh hơn ….

Thường xuyên gọi các em trả lời câu hỏi, nhận xét bài của bạn .

Kiểm tra sự học bài và làm bài trước khi đến lớp của các em .

Động viên, khích lệ, tuyên dương kịp thời trước lớp nhằm:

+ Xác nhận sự tiến bộ của học sinh.

+ Kích thích sự say mê hứng thú học tập của học sinh.

+ Thúc đẩy hành động theo chuẩn mực.

+ Sửa chữa hành vi sai lệch của học sinh.

+ Kiềm chế sự bộc phát, tập thói quen “chưa học xong bài chưa đi ngủ”

Bên cạnh sự động viên, khích lệ cần có những hình phạt nhẹ khi các em không học bài, không làm bài nhưng không nên lạm dụng.

Ngoài ra cần hướng cho học sinh đầu cấp ( mới vào lớp 6) cách học, cách làm bài, nghe và ghi….

Tham mưu với ban giám hiệu tạo điều kiện để giáo viên phụ đạo ngoài giờ cho các em yếu kém.

+ Giúp học sinh hiểu rõ đề bài cho gì, yêu cầu gì?

Nêu các bước tìm ước chung lớn nhất ?

Học sinh đọc sách giáo khoa hoặc học thuộc nhưng phải nắm được ba bước:

Bước 1: Phân tích các số ra thừa số nguyên tố.

Bước 2: Chọn ra các thừa số nguyên tố chung.

Bước 3: Lập tích các thừa số nguyên tố đã chọn mỗi thừa số lấy với số mũ nhỏ nhất.

Với bài tập trên gọi một học sinh lên bảng làm bước 1, có thể các em còn chưa thuộc bảng cửu chương giáo viên nhẹ nhàng nhắc lại và yêu cầu học sinh về nhà học bảng cửu chương .

Học sinh phải trình bày như sau:

Sau khi làm xong ví dụ cho học sinh làm các bài tập tương tự rồi gọi lên bảng

b)Tìm ƯCLN(28,36)

c)Tìm ƯCLN(144,192)

Bài tập 1 :Đổi các số thập phân 0,6; 0,25 ra phân số

HS giải

Bài tập 2: Tính

HS: Phải quy đồng mẫu các phân số

=

Hỏi: Tiếp theo cộng như thế nào?

HS : Cộng tử, giữ nguyên mẫu

Hỏi:Nhắc lại cách cộng 2 số nguyên?

HS: nêu cách cộng hai số nguyên cùng dấu, khác dấu rồi tiến hành cộng

Bài tập 3 Tìm x biết

Hỏi: Muốn tìm được x trước tiên ta phải làm gì?

HS lúng túng có thể không trả lời được

GV: Nhắc lại quy tắc chuyển vế trong Z

HS nhắc lại quy tắc chuyển vế trong Z

GV tương tự trong Q ta cũng có quy tắc chuyển vế

Hãy vận dụng quy tắc chuyển vế để thực hiện bài toán

(theo quy tắc chuyển vế)

(Ngoài ra HSáp dụng quy tắc chuyển vế có thể áp dụng quy tắc tìm số hạng chưa biết)

Như vậy trong buổi phụ đạo học sinh đã nắm được những kiến thức tiền đề của bài mới. Đảm bảo trình độ xuất phát cho tiết học chính khoá giúp các em tiếp thu bài một cách chủ động và thích thú hơn, phát biểu xây dựng bài sôi nổi hơn .Hiệu quả giờ học được nâng lên rõ rệt.

Bên cạnh các giải pháp trên một giải pháp quan trọng nữa áp dụng cho tất cả các đối tượng học sinh là tổ chức cho học sinh học nhóm tại nhà . Với giải pháp này tôi thực hiện như sau:

– Trước tiên tôi cho các em trong lớp đăng kí thành từng nhóm mỗi nhóm từ 5-10 em nhà ở gần nhau trong đó phải có học sinh học khá hoặc giỏi môn toán làm nhóm trưởng.

– Tiếp theo tôi cho các nhóm đăng kí ngày giờ và địa điểm học (tại nhà một thành viên trong nhóm).

– Liên lạc với phụ huynh thông báo địa điểm học của các nhóm nhờ phụ huynh theo dõi quá trình học của các em.

– Nhóm trưởng báo cáo kết quả học tập của nhóm.

– Giáo viên tranh thủ đi kiểm tra bất ngờ tình hình học tập của nhóm.

– Theo dõi sự tiến bộ của từng học sinh trong từng nhóm để tuyên dương kịp thời học sinh tiến bộ và sự nổ lực của nhóm đó để nhóm khác noi theo.

Để làm được những điều trên sự đòi hỏi cao nhất đối với người giáo viên là cần phải có tâm với nghề,có tình yêu thương trẻ, biết kiên trì, nhẫn nại.

MỘT SỐ TIẾT DẠY ÁP DỤNG ĐỀ TÀI

– HS biết sử dụng dấu hiệu chia hết cho 3 cho 9 để tìm số thích hợp điề vào dấu “*”, tìm số dư của một số khi chia cho 3, cho 9

– GV: Thước, phấn màu, bảng phụ.

– HS: Bảng nhóm.

Baøi1 :Trong các số sau: 5319,515, 831, 3240, 231

b) Số nào chia hết cho 3?

Bài 3 Dùng 3 trong 4 chữ số :1,6,2,0 để ghép thành các số tự nhiiên có 3 chữ số sao cho số đó:

a) Các số chia hết cho 9 là:

a)

b)

Noäi dung

Hoaït ñoäng cuûa GV

Hoaït ñoäng cuûa HS

-Tại chỗ trả lời

HS lên bảng

I. Lyù thuyeát

II. Baøi taäp

Giải

5319, 3240

5319, 3240,931,231

a. Ñ

b. S

c. Đ

d.Đ

12 6; 162 ; 216;261;621;612

a) khi (5+* +8 )

Hay (13 +* )

Vậy {2; 5; 8 }

b) khi (6+ *+ 9)

Hay (15 + *)

Vậy * = 3

Bài yêu cầu gì?

Bài yêu cầu gì?

Bài yêu cầu gì?

Chấm 2 nhóm nhanh nhất

Tại sao không ghép 012?

Bài yêu cầu gì?

Gọi 2 hs lên bảng

Chấm nhanh 4 hs

2 học sinh đọc lại

Hai học sinh đọc đề

HS đọc đề

a)Vì 9 chia hết cho 3 nên số nào chia hết cho 9 thì chia hết cho 3 vd 5319 9 nên 5319 3

HS : c,d

HS thaûo luaän nhoùm

2 HS đọc đề

0,1,2,3,…9

+ nhận biết đúng sai

+ ghép số

+ Tìm chữ số

Thoả yêu cầu bài toán

– HS biết vận dụng định nghĩa phân số bằng nhau, quy tắc rút gọn phân số để tìm các cặp phân số bằng nhau, rút gọn phân số đến tối giản.

– HS biết vận dụng quy tắc rút gọn phân số để đổi phút ra giờ, các đơn vị khác,…

– Áp dụng rút gọn phân số vào một số bài toán có nội dung thực tế.

Tuân thủ quy tắc rút gọn phân số, nội quy lớp học hợp tác tốt trong học tập

GV: Bảng phụ ghi rõ trò chơi và bài tập

Hs : xem lại các kiến thức về phân số đã học học và làm bài ở nhà.

Bảng phụ,sgk, máy tính bỏ túi.

Bài 1 Tìm số nguyên x biết

a)

b)

Bài 2: Đổi ra mét vuông (viết dưới dạng phân số tối giản)

a/ 25 dm 2 b/ . c/ d/

Hái hoa dân chủ

Câu 1 : suy ra x = ?

Câu 2:

Câu 4 : m 2

Các tổ trưởng báo các việc truy bài với GVBM

Định nghĩa phân số tối giản, quy tắc rút gọn phân số ?

Áp dụng rút gọn phân số

Nội dung

Hoạt động của gv

Hoạt động của hs

A.Lý thuyết

1) nếu a.d = b.c

B.Bài tập

a)Vì

Nên x.13 = (-5 ).26

Suy ra

x = -10

b)

25 dm 2 = .

.

Giải

Hái hoa dân chủ

Câu 1 : suy ra x = ?

Câu 2:

Câu 4 : m 2

Hoạt động1

A.Lý thuyết(5′)

Hoạt động 2 B.Bài tập(25′)

Bài 1 treo bảng phụ

Bài cho gì?

Bài yêu cầu gì?

Vì nên ta có điều gì?

Suy ra điều gì?

Chấm nhanh 4 học sinh

GV treo bảng phụ

Sửa bài

Bài yêu cầu gì?

Chấm nhanh 4 học sinh

Tại chỗ trả lời

Học sinh đọc đề

Tìm số nguyên x biết

Suy ra

b)Tự làm 2′

HS lên bảng

Chấm nhanh

Bài 2

2 học sinh đọc đề

25 dm 2 = .

.

Bài 3

2 học sinh đọc đề

3 học sinh lên bảng

Tiết học này đã vận dụng những kiến thức nào?

Để tìm x như bài 1 ta làm như thế nào?

5. Hướng dẫn về nhà

+ Làm bài 22,23,24,25(sgk-15)

RÚT KINH NGHIỆM

Trò chơi hái hoa dân chủ học sinh rất hứng thú nên tham gia rất sôi nổi .

Qua thực tế vận dụng đề tài: “các giải pháp dạy học sinh yếu kém” trên vào dạy học đã cho tôi những kết quả thật khả quan

Học sinh yếu -kém

Cụ thể:

Học sinh yếu kém :

-Xác định tư tưởng hứng thú học

-Cụ thể:

KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG

Trong khi thực hiện đề tài có những thuận lợi và khó khăn sau:

Được sự quan tâm giúp đ ỡ của ban giám hiệu, tổ chuyên môn tạo điều kiện về thời gian để giáo viên phụ đạo cho học sinh yếu kém.

Sự đóng góp ý kiến nhiệt tình của đồng nghiệp.

Sự quan tâm nhiệt tình của giáo viên chủ nhệm kết hợp tốt với giáo viên bộ môn để thực hiện nhiệm vụ giáo dục.

Sự quan tâm của một số phụ huynh.

Cở sở vật chất đầy đủ, trang thiết bị hiện đại giúp giáo viên ứng dụng CNTT , thiết bị tiên tiến vào giảng dạy.

Để thực hiện tốt đề tài cần phải có thời gian, hiệu quả không phải nói là được ngay.

Giáo viên mất nhiều thời gian, phải kiên nhẫn, tận tâm.

Học sinh cần phải kiên trì, nhẫn nại, phấn đấu học tập dưới sự hướng dẫn của thầy cô và gia đình.

Một số gia đình phụ huynh chưa có sự quan tâm đến việc học tập của con em mình.

Đa số là học sinh dân tộc mà phụ huynh nhận thức về học tập còn hạn chế.

Nhiều học sinh gia đình rất khó khăn coi việc học là phụ, bắt học sinh đi làm như một lao động chính.

Ý thức tự học của học sinh còn thấp.

Học sinh ở quá xa trường và và việc đi lại còn khó khăn đôi khi phải nghỉ học vì yếu tố khách quan như: nước lụt không qua cầu để đến trường, đi học trể…

Trường học gần chợ, xung quanh trường các quán net mọc lên ngày càng nhiều với đa dạng các trò chơi game onlai thu hút sự sự quan tâm của học sinh .

Trên cơ sở đó tôi xin có một số đề xuất và khuyến nghị sau :

– Việc dạy “học sinh yếu kém” quả là một vấn đề phức tạp và khó khăn nó đã và đang là điều trăn trở không phải của riêng tôi mà còn của nhiều giáo viên hiện nay. Để nâng cao chất lượng bộ môn đồng thời kích thích tinh thần học tập của học sinh đòi hỏi ở giá o viên phải có năng lực sư phạm và phương pháp dạy học phù hợp.

– Chi hội trưởng của các khối lớp cần nắm bắt đối tượng học sinh yếu của lớp mình để trao đổi với phụ huynh tìm giải pháp động viên ,khích lệ các em giúp các em học tốt

– Chính quyền địa phương cần quan tâm nhiều hơn nữa đến đời sống nhân nhân đặc biệt là các gia đình có hoàn cảnh khó khăn và nhận thức của một số gia đình là dân tộc thiểu số.

– Chính quyền địa phương nên quản lí có hiệu quả hoạt động của các quán net xung quanh trường học.

– Tạo điều kiện để học sinh được học một cách trọn vẹn một tiết học đừng để tình trạng “đang học lại mời học sinh lên phòng đội làm việc này ,việc nọ hoặc giao ban”.

– Nâng cao chất lượng đại trà của các khối lớp bằng các buổi học ngoài giờ, chính khoá đặc biệt là tăng cường các buổi phụ đạo cho học sinh yếu kém.

– Phát động thi đua học tập trong công tác đội, tổ chức các câu lạc bộ giúp nhau học tập…

1.Phương pháp dạy học môn Toán -Tác giả :Nguyễn Bá Kim -Nhà Xuất Bản Đại Học Sư Phạm Hà Nội

3.Tài liệu tập huấn giáo viên môn Toán trường trung học cơ sở năm 2008

5.Tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng môn toán bậc THCS – NXB giáo dục

6. Tài liệu dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh Bộ GD và Đào tạo

PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Tên sáng kiến kinh nghiệm: . Một số giải pháp dạy học sinh yếu kém môn toán bậc THCS

Đơn vị: . Trường THCS Ngô Quyền

Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)

– Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm vi rộng: Trong Tổ/Phòng/Ban  Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT  Trong ngành 

Cá nhân viết sáng kiến kinh nghiệm cam kết và chịu trách nhiệm không sao chép tài liệu của người khác hoặc sao chép lại nội dung sáng kiến kinh nghiệm cũ của mình.

Tổ trưởng và Thủ trưởng đơn vị xác nhận đã kiểm tra và ghi nhận sáng kiến kinh nghiệm này đã được tổ chức thực hiện tại đơn vị, được Hội đồng chuyên môn trường xem xét, đánh giá; tác giả không sao chép tài liệu của người khác hoặc sao chép lại nội dung sáng kiến kinh nghiệm cũ của chính tác giả.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sáng Kiến Về Giải Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Yếu, Kém Môn Toán / 2023 trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!