Đề Xuất 2/2023 # Phong Cách Truyện Ngắn Nam Cao Qua Các Tác Phẩm Văn Học Trước Cách Mạng Tháng Tám # Top 11 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 2/2023 # Phong Cách Truyện Ngắn Nam Cao Qua Các Tác Phẩm Văn Học Trước Cách Mạng Tháng Tám # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phong Cách Truyện Ngắn Nam Cao Qua Các Tác Phẩm Văn Học Trước Cách Mạng Tháng Tám mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phong cách truyện ngắn Nam Cao qua các tác phẩm văn học trước cách mạng tháng Tám

Quan điểm sáng tác của Nam Cao :

Các quan điểm sáng tác, tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao được ẩn chứa dưới nhiều hình thức trong một số tác phẩm của ông.

Trong truyện ngắn Trăng sáng, Nam Cao viết: “Nghệ thuật chính là cái ánh trăng xanh huyền ảo, nó làm đẹp đến những cảnh thật ra chỉ tầm thường xấu xa”. Nhưng rồi, chính ngay ở đấy, lại xuất hiện một quan điểm ngược lại: “Chao ôi! Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” và người nghệ sĩ chẳng cần trốn tránh mà “cứ đứng trong lao khổ mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời”.

Với quan điểm này, Nam Cao đã phân biệt rạch ròi hai loại nghệ thuật căn cứ vào bản chất nội tại của chúng. Đó là thứ nghệ thuật giả dối tô vẽ làm đẹp cho cái vốn không đẹp, và thứ nghệ thuật chân thật như là âm vang của cuộc sống – một cuộc sống đau khổ tối tăm. Và Nam Cao đã xác định dứt khoát chỗ đứng của mình, là viết về sự thật – sự thật của những kiếp lầm than.

Trong truyện ngắn Đời thừa, Nam Cao viết: “Một tác phẩm thật có giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được tất cả những gì lớn lao mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca ngợi lòng thương, tình bác ái và sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn”.

Nam Cao đã bày tỏ một quan điểm sâu sắc về giá trị nhân đạo và tính nhân loại phổ biến của một tác phẩm văn chương chân chính. Đồng thời, nhà văn cũng khẳng định một thái độ sống được thể hiện trong nghệ thuật sao cho người hơn.

Cũng trong Đời thừa, Nam Cao nói: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những ai biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”.

Quan điểm này của nhà văn bày tỏ một thái độ không chấp nhận kiểu sáng tác theo lối mòn có sẵn, theo công nghệ dây chuyền. Một người nghệ sĩ chân chính phải có thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc, và sáng tạo, biết đi vào chiều sâu bản chất đời sống để dựng lên một bức tranh cuộc đời chân thực và sâu sắc nhất.

Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao tiến bộ, sâu sắc. Nó là tiền đề và là nền tảng vững chắc để nhà văn đạt được những thành công xuất sắc trong sự nghiệp sáng tác của mình. Đặc biệt, tạo được một phong cách riêng, độc đáo.

Phong cách truyện ngắn của Nam Cao trước cách mạng :

Nam Cao được coi là đại diện của văn học hiện thực phê phán Việt Nam trong giai đoạn cuối. Ông được coi là người đã đặt những mảng màu cuối cùng hoàn chỉnh bức tranh của văn học hiện thực cả về mặt phản ánh xã hội cũng như khả năng biểu hiện nghệ thuật.

Dầu không phải là nhà cách tân truyện ngắn, chỉ là người bồi đắp cho thể loại này, nhưng sự bồi đắp ấy phong phú đến nỗi, cho đến ông, truyện ngắn giàu có thêm rất nhiều về cách thăm dò những chiều sâu mới, khẳng định thêm sự hàm súc của nó.

Trước Nam Cao đã có một Vũ Trọng Phụng tả chân sắc sảo, một Nguyễn Công Hoan trào phúng pha chút kịch hề, một Thạch Lam trầm lặng tinh tế… Nam Cao góp vào đó một phong cách riêng, một chất giọng riêng. Văn Nam Cao là phức hợp, là tổng hòa của những cực đối nghịch: bi và hài, trữ tình và triết lý, cụ thể và khái quát.

* Về đề tài sáng tác:

Hiện thực trong sáng tác của Nam Cao là một hiện thực cụ thể, đặc thù: Xã hội Việt Nam vào những năm 40 đang xáo trộn, quằn quại trong chặng cuối của quá trình bần cùng hóa. Những cơn đói triền miên, những làng xóm tiêu điều xơ xác đến thảm hại, những số phận tàn lụi, sự tan tác rời rã của những mối quan hệ người, sự tuyệt vọng đổ vỡ của những cá nhân, sự tha hóa nhân cách…

Văn học hiện thực giai đoạn trước nhìn chung chưa phải đối mặt với hiện thực này. Với tâm niệm “cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy những vang động ở đời”, Nam Cao đã chọn cho mình một chỗ đứng mới, khác với các nhà văn hiện thực đàn anh.

Từ cái nhìn quan sát, phân tích bên ngoài quen thuộc của văn học hiện thực, nhà văn chuyển sang cái nhìn từ bên trong. Ông không khai thác mối quan hệ giàu nghèo mà chăm chú và kinh hoàng nhận ra cái chết thể xác và tinh thần của con người.

Và hiện thực từ bên trong đó trở thành âm điệu chủ đạo của các truyện ngắn Nam Cao. Chủ âm này lan tỏa vào mọi cấp độ, liên kết mọi yếu tố nội dung và hình thức, quy định cả thi pháp, cấu trúc và sự lựa chọn chi tiết trong truyện ngắn Nam Cao.

Thi pháp truyện ngắn Nam Cao: được xây dựng trên nỗi ám ảnh về cái tàn lụi, tan rã.

Gần như không một kết thúc nào có hậu, không một mảnh đời nào yên lành. Tất cả đã và đang đến điểm tận cùng của cái chết về thể xác và tinh thần. Kết thúc mỗi một truyện ngắn là một ám ảnh với người đọc:

+ Hộ (Đời thừa) khóc như chưa từng bao giờ được khóc. Khóc cho sự tan vỡ của lý tưởng, hoài bão của một đời người. Khóc cho sự xuống dốc thê thảm của đời mình. Khóc cho sự luẩn quẩn, bế tắc không lối thoát. Tiếng khóc nức nở của Hộ hòa lẫn trong lời ru con nghẹn ngào của Từ:

“Ai làm cho khói lên giời Cho mưa xuống đất cho người biệt ly Ai làm cho Nam Bắc phân kỳ Cho đôi hàng lệ đầm đìa tấm thân…”

Bài hát làm người ta không khỏi ngậm ngùi, day dứt. …….

+ Anh đĩ Chuột (Nghèo) thắt cổ chết trong tiếng đòi nợ léo xéo ngoài ngõ và tiếng kêu khóc van lạy khất nợ của vợ con.

+ Người bà (Một bữa no) chết sau khi ăn chực được một bữa no.

+ Cái Dần (Một đám cưới) về làm dâu nhà người trong cảnh năm đói, đám rước dâu buồn thê thảm như đi đưa đám vậy.

+ Dì Hảo (Dì Hảo), cả một đời người đàn bà chỉ biết có hai việc: nhẫn nại cung phụng một kẻ bạc ác, đê tiện phải gọi là chồng và khóc cho những nỗi đắng cay, nhục nhã chất chồng. Cuối cùng khi hắn bỏ đi, dì cũng chỉ còn cách nhẫn nại chờ đợi trong nỗi nhục nhã ê chề.

+ Cái chết của ba con người (Quái dị) khiến cho người ta rợn người.

+ Cái chết của Chí Phèo (Chí Phèo) là tiếng kêu cứu tuyệt vọng của con người tột cùng đau khổ không có lối thoát… Ngay trong hình thức truyện Nam Cao cũng đọng lại bóng dáng của thời đại. Tư duy nghệ thuật của Nam Cao đã diễn tả một cách thật chân xác và nhất quán dạng vận động ở thời đại ông.

+ Nếu như với Nguyễn Công Hoan, đời là mảnh ghép của những nghịch cảnh, với Thạch Lam, đời là miếng vải có lỗ thủng nhưng vẫn còn nguyên vẹn, thì với Nam Cao, cuộc đời là tấm áo cũ bị xé rách tả tơi, từ cái làng Vũ Đại đến mỗi gia đình, mỗi số phận.

+ Cái làng xã Việt Nam tù đọng, trì trệ, cũng chia ra năm bè bảy cánh, lưu tán bốn phương: đi tù, đi lính bên tây, chửa hoang bỏ đi, bị gọt đầu bôi vôi đuổi đi, ra tỉnh đi ở, đi phu Sài Gòn, bỏ lên rừng kiếm sống, tự tử… Nhiều người trở về, như một thứ dị vật cấy ghép vào, làm rữa nát thêm cái cơ thể làng xã, phá nốt chút yên ổn còn lại. Đó là những Năm Thọ, Binh Chức, Chí Phèo…

+ Cái đơn vị cơ bản của xã hội là gia đình cũng thế, trong tình trạng tan tác chia lìa: Từ ngày mẹ chết, Điếu văn, Mua nhà, Một đám cưới … đều là cảnh tan đàn xẻ nghé. Nó diễn tả một cảm nhận chua chát của nhà văn về một lẽ đời khó hợp dễ tan.

Thi pháp truyện ngắn Nam Cao cũng rất tập trung làm nổi bật sự biến dạng của hoàn cảnh, của con người. Cả nhân hình lẫn nhân tính. Không có gì còn nguyên vẹn, tròn trịa, đẹp đẽ trong văn Nam Cao. Tác phẩm của ông xuất hiện một hệ thống hình tượng về cái méo mó, dị dạng. Từ tên người: đĩ Chuột, lang Rận, Trương Rự, ông Thiên Lôi, Trạch Văn Đoành, Chí Phèo cho đến cái mặt người (Chí Phèo, Thị Nở, lang Rận…). Từ cái bóng người méo mó, xệch xạc, xé rách, quần quật (Chí Phèo)… cho đến tâm trạng, lòng người cũng vậy: bực tức, bức bối, tự đay nghiến, dằn vặt, tới tận cùng sâu thẳm của nỗi buồn…. (Đời thừa)

Chi tiết trong truy ện ngắn Nam Cao cũng rất đặc biệt.

Có những chi tiết trở đi trở lại như một ám ảnh: miếng ăn, cái đói, cái chết và nước mắt. Chúng là một nốt nhấn thê thảm trong cả chuỗi tác phẩm của nhà văn, để tạo cho người đọc một ấn tượng khó phai mờ về chuyện đời, chuyện người của một thời lịch sử.

Thời gian, không gian nghệ thuật cũng được xây dựng qua những chi tiết đã thành một ấn tượng:

– Ví dụ:

+ Kiểu thời gian hàng ngày, trong đó các nhân vật của ông dường như bị giam hãm, tù túng, luẩn quẩn trong vòng những lo âu thường nhật như nhà cửa, miếng cơm, manh áo, thuốc men… (Đời thừa, Trăng sáng, Những chuyện không muốn viết…).

+ Các nhân vật của Nam Cao cũng luôn bị ám ảnh, dày vò, hành hạ bởi cái đói “lúc nào cũng lo chết đói, lúc nào cũng lo làm thế nào cho không chết đói”. Cả thế giới nhân vật bị áo cơm ghì sát đất của ông như xuôi đi trong cái vòng luẩn quẩn của thời gian hàng ngày mòn mỏi. Hệ thống những chi tiết về cái đói, về sự đày ải, dằn vặt… trong lo âu, kiếm kế sinh nhai, trong suy tư, trăn trở… đã góp phần tạo nên một không gian cuộc sống đặc biệt trong tác phẩm Nam Cao – sống mòn.

+ Không gian trong truyện ngắn Nam Cao ít được sử dụng làm nền cho những xung đột xã hội mà chủ yếu là không gian riêng tư, cá nhân, không gian sinh tồn của một làng quê cổ hủ.

+ Trong cái không gian như bị vây hãm bởi những lũy tre xanh, biết bao nhiêu kiếp người không chỉ bị đày đọa bởi cái đói mà còn bị giam hãm, cầm tù, nếu không cam phận sống thiệt thòi, tủi nhục như một kẻ tôi đòi (Ở hiền) thì cũng sống âm thầm nhẫn nại trong đắng cay, chua xót (Dì Hảo), nêu không bị chết vì đói, vì bệnh tật (Nghèo, Điếu văn) thì cũng chết khốn chết khổ vì bả chó (Lão Hạc), hay bội thực vì một bữa quá no hiếm hoi (Một bữa no)…

Không gian nhà ở, căn buồng là không gian trung tâm trong sáng tác của Nam Cao. Nó là không gian tạo điều kiện để Nam Cao khai thác triệt để cái hàng ngày, và những bí mật trong tâm tư của mỗi cá nhân con người

Ví dụ: trong nhà, trong căn buồng, Phúc – Điếu văn- nằm trên giường “như một cái xác trong mả lạnh, chua chát nghĩ rằng: mình không ăn nhập gì với cảnh đùa vui của người”, Hộ – Đời thừa – ngẫm về tất cả những sự khốn nạn của mình khi hắn biết hắn chưa làm được gì cho đời Từ đỡ khổ, và cũng biết hắn chính là một kẻ đê tiện trong văn chương, … trong Nước mắt, về chỉ khi về tới nhà “quăng mũ, quăng áo, quăng cái thân xác mệt mỏi xuống giường” mới suy nghĩ một cách sâu sắc, thấm thía về cái khổ, nối uất ức của mình sau một ngày nhịn đói, về cái lý do làm cho người vợ hay mắng chửi con, hay đay nghiến, gắt gỏng vơi chồng… . Nó được gọi là không gian suy tưởng.

Chính trong không gian ấy, Nam Cao đã lắng nghe được tất cả những vang động của đời thường, những tiếng khóc lóc và nguyền rủa, những tiếng kêu than, tiếng nghiến răng, diếc lác, dằn vặt, hắt hủi…

Với không gian nghệ thuật ấy, hơn ai hết, Nam Cao đã phản ánh chân thật và sâu sắc cuộc sống tù đọng, ngột ngạt đến mức không chịu nổi của xã hội Việt Nam đêm trước cách mạng tháng Tám.

Câu văn Na m Ca o cũng là thứ câu “bị xé rách” (Vũ Tuấn Anh – Nghĩ tiếp về Nam Cao…) về ngữ điệu, chúng nhấm nhẳn, đứt nối, cắn rứt,chì chiết, nghẹn ngào và đầy kịch tính. Dường như không phải ông viết mà ông đang sống cùng mỗi câu chuyện được viết ra.

Cấu trúc truyện ngắn Nam Cao có nhiều nét khác lạ và mới mẻ so với truyện ngắn trước đó và đương thời.

Truyện ngắn của Thạch Lam gần với thơ, truyện ngắn Nguyễn Công Hoan gần với kịch, còn truyện ngắn Nam Cao là một dòng xám buồn của chất văn xuôi – đời thường. Nó tiềm ẩn nhiều lớp ngữ nghĩa. Mỗi cảnh, mỗi người, mỗi tâm trạng có đời sống cụ thể và rất cá thể, nhưng phản chiếu của chúng lên những tầng triết lý và cảm xúc phía sau khiến chúng mang nhiều kích thước và luôn có tầm vóc phổ quát của những trạng thái nhân thế.

Nam Cao, chính vì thế, cũng là người đã soi sáng, đã tìm lại nhân cách, nhân phẩm chi nhân vật của mình. Nhìn lại một lượt, thế giới nhân vật đầy đau khổ, bất hạnh của Nam Cao, ngay trong lúc bị cuộc đời vùi dập, tước đoạt đi cái quyền được sống như một con người bình thường, vẫn toát lên những khát vọng làm người mạnh mẽ, toát lên một tình thương sâu sắc. Chí Phèo, Lão Hạc, Dì Hảo, Lang Rận, Điền, Hộ… đều là những phương diện khác nhau của sự đề cao sức mạnh của tình thương và khát vọng làm người chân chính.

Văn Nam Cao, với tất cả những nét độc đáo ấy, đã và vẫn đang mở ra những ngẫm suy về lẽ đời, về hôm qua và hôm nay. Tính không vơi cạn của văn Nam Cao cũng chính là sức sống của phong cách Nam Cao.

Soạn Bài: Khái Quát Văn Học Việt Nam Từ Đầu Cách Mạng Tháng Tám 1945 Đến Thế Kỉ Xx

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 18 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1): Nêu những nét chính …

– Nền văn học của chế độ mới vận động và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản tạo nên một nền văn học thống nhất về khuynh hướng, về tổ chức và quan niệm nhà văm kiểu mới: nhà văn – chiến sĩ.

– Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt, kéo dài suốt 30 năm, tác động mạnh mẽ tới đến đời sống vật chất, tinh thần của toàn dân tộc.

– Công cuộc xây dựng cuộc sống mới, con người mới.

– Điều kiện giao lưu với nước ngoài không thuận lợi, chỉ giới hạn trong một số nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc).

Câu 2 (trang 18 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1): Văn học Việt Nam …

Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 trải qua các chặng:

+ Chặng đường từ 1945 đến 1954.

+ Chặng đường từ năm 1955 đến 1964.

+ Chặng đường từ 1965 đến 1975.

Những thành tựu chủ yếu:

* Chặng đường từ 1945 đến 1954

– Từ năm 1945 – 1946: một số tác phẩm phản ánh không khí hồ hởi, vui sướng của nhân dân ta khi đất nước vừa giành được độc lập.

– Từ năm 1946 – 1954:

+ Thể loại truyện và ký: đây là thể loại mở đầu cho văn xuôi kháng chiến chống Pháp. Tác phẩm tiêu biểu: Đôi mắt, Nhật ký ở rừng ( Nam Cao)…

+ Thơ ca: đạt được nhiều thành tựu xuất sắc, cảm hứng xuyên suốt là tình yêu quê hương, đất nước, lòng căm thù giặc, ca ngợi cuộc kháng chiến và con người và con người kháng chiến. Tác phẩm tiêu biểu: Cảnh khuya, Rằm tháng giêng (Hồ Chí Minh), Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm)…

+ Kịch: Một số vở kịch gây được sự chú ý, phản ánh hiện thực cách mạng và kháng chiến.

Ngoài ra còn lí luận, nghiên cứu, phê bình văn học…

* Chặng đường từ năm 1955 đến 1964:

– Văn xuôi: bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, ký. Các tác giả mở rộng đề tài, bao quát được khá nhiều vấn đề và phạm vi của hiên thực cuộc sống.

– Thơ ca phát triển mạnh mẽ, cảm hứng chủ đạo là sự hồi sinh của đất nước sau những năm kháng chiến chống Pháp, thành tựu bước đầu của công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, nỗi đau chia cắt hai miền Nam – Bắc. Những tác phẩm tiêu biểu: tập Gió lộng (Tố Hữu), tập thơ Ánh sáng và phù sa (Chế Lan Viên)…

* Chặng đường từ 1965 đến 1975:

– Văn xuôi: những truyện ký, viết trong máu lửa và chiến tranh đã phản ánh nhanh nhạy và kịp thời cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam anh dũng. Miền Bắc truyện ký cũng phát triển mạnh.

– Thơ ca: đạt được nhiều thành tựu xuất sắc, là một bước phát triển mới của thơ ca Việt Nam hiện đại.

+ Tập trung thể hiện cuộc gia quân vĩ đại dân tộc.

+ Khám phá sức mạnh của con người.

+ Sự xuất hiện những đóng góp của thế hệ nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ cứu nước, họ đem đến cho thơ Việt nam hiện đại một tiếng thơ mới mẻ, sôi nổi và vẫn thấm đợm suy tư, triết lí.

Câu 3 (trang 18 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1): Những đặc điểm cơ bản …

Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ năm 1945 đến 1975

a, Nền văn học chủ yếu vận động theo khuynh hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh của đất nước

– Văn học phải là một thứ vũ khí, phục vụ sự nghiệp cách mạng và kháng chiến.

– Quá trình vận động, phát triển của nền văn học mới ăn nhịp với từng chặng đường lịch sử của dân tộc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước.

– Các đề tài lớn:

+ Đề tài Tổ quốc.

+ Đề tài chủ nghĩa xã hội

+ Hai đề tài có mối quan hệ mật thiết với nhau trong sáng tác của từng tác giả.

b, Nền văn học hướng về đại chúng

– Cảm hứng chủ đạo: Đất nước của nhân dân.

– Các nhà văn quan tâm đến đời sống của người lao động, nỗi bất hạnh của người lao động nghèo trong xã hội cũ.

– Đặc điểm:

+ Quen thuộc với nhân dân, ngôn ngữ bình dị, dễ thuộc, dễ nhớ.

c, Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

– Khuynh hướng sử thi:

+ Các tác phẩm phản ánh những vấn đề cơ bản nhất, có ý nghĩa sống còn với đất nước.

+ Người cầm bút nhìn cuộc đời bằng con mắt có tầm bao quát lịch sử, dân tộc và thời đại.

+ Tác phẩm tiêu biểu: Đất nước đứng lên, Rừng xà nu – Nguyên Ngọc, Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi, thơ ca của Tố Hữu…

– Cảm hứng lãng mạn:

+ Trong những năm có chiến tranh, dù có những chồng chất, khó khăn và hi sinh nhưng lòng người vẫn tràn đầy mơ ước và hướng tới tương lai.

+ Ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

+ Tác động đến, cảm hứng lãng mạn, nâng đỡ con người Việt Nam vượt lên mọi thử thách, gian lao.

– Khuynh hướng sử thi kết hợp với khuynh hướng lãng mạn làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan và đáp ứng được yêu cầu phản ứng của quá trình vận động và phát triển cách mạng.

Câu 4 (trang 18 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1): Căn cứ vào hoàn cảnh …

Văn học Việt Nam từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX phải đổi mới:

– Chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất, đất nước bước vào thời kì mới – thời kì độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Tuy nhiên, từ năm 1975 đến 1985, đất nước lại gặp những khó khăn, thử thách nhất là những khó khăn về kinh tế. Tình hình đó đòi hỏi đất nước phải đổi mới.

– Đại hội Đảng lần thứ sáu năm 1986 chỉ rõ đổi mới là nhu cầu bức thiết, là vấn đề có ý nghĩa sống còn với cả dân tộc

+ Kinh tế: từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

+ Văn hóa cũng có điều kiện phát triển: có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với nhiều nước trên thế giới. Văn học dịch, báo chí và các phương tiện truyền thông phát triển mạnh mẽ.

→ Đòi hỏi văn học phải đổi mới phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc.

Câu 5 (trang 18 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1): Hãy nêu những thành tựu …

Những thành tựu ban đầu của văn học Việt Nam từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX:

– Thể loại thơ: trường ca phát triển mạnh, những cây bút thuộc thế hệ sau 1975 xuất hiện rất nhiều, từng bước khẳng định mình: Nguyễn Quang Thiều…

– Văn xuôi: có nhiều khởi sắc, một số cây bút đã bộc lộ cách thứ đổi mới: cách thể hiện chiến tranh, tiếp cận đời sống.

+ Tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu…

– Phóng sự: đề cập tới những vấn đề bức xúc của đời sống.

+ Những tác phẩm tiêu biểu của Phùng Gia Lộc, Trần Minh Quang…

– Ký: phát triển, có thành tựu mới.

+ Những tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Tuân…

– Kịch nói: sau năm 1975 phát triển mạnh mẽ.

+ Tác phẩm tiêu biểu: tác phẩm tiêu biểu của Lưu Quang Vũ.

Luyện tập

(trang 19 sgk Ngữ Văn 12 Tập 1): Trong bài Nhận Đường ..

– “Văn nghệ phụng sự kháng chiến”: Đây là quan điểm văn nghệ của Đảng ta, của các văn nghệ sĩ đem ngòi bút của mình phục vụ sự nghiệp kháng chiến của toàn dân tộc.

– “Nhưng chính kháng chiến đem đến cho văn nghệ một sức sống mới..” ý nói đến mối quan hệ giữa hiện thực cuộc kháng chiến đối với văn nghệ. Hiện thực đem đến cho văn nghệ những chất liệu phong phú. Trong đó, cuộc kháng chiến đã đem đến cho văn nghệ một nguồn sức sống mới, trẻ trung, khỏe khoắn để văn nghệ phụng sự kháng chiến tốt hơn. Nội dung này đã được Nguyễn Đình Thi nhấn mạnh: “sắt lửa mặt trận đang đúc nên văn nghệ mới của chúng ta”.

Comments

Từ Hiểu Biết Về Hai Tác Giả Nam Cao, Nguyễn Tuân Và Các Tác Phẩm Của Họ

Từ hiểu biết về hai tác giả Nam Cao, Nguyễn Tuân và các tác phẩm của họ

Nói về tính độc đáo của phong cách sáng tác văn học, có ý kiên cho rằng: “Nghệ thuật là tĩnh vực của cái độc đáo, vì vậy đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật tức là có nét gì đó rất riêng, mới lạ, thể hiện trong tác phẩm của mình”. , hãy làm sáng tỏ ý kiến trên

BÀI LÀM

Trong cuộc sống của chúng ta, có biết bao điều rất khó định nghĩa hoặc định nghĩa một cách chính xác và đầy đủ. Chẳng hạn, bạn sẽ trả lời thế nào có câu hỏi: “Nghệ thuật là gì”?

“Nghệ thuật là cái đẹp” – câu trả lời đúng nhưng không đủ. Nghệ thuật có khi là những đường nét man dại thô sơ trên những dụng cụ thời cổ đại. Có khi cách tạo ra một nhân vật làm cho mọi người đều khiếp sợ. Vậy có nên chăng khi chúng ta chấp nhận quan điểm “nghệ thuật là tôi, khoa học là chúng ta”. Và cái tôi của nghệ thuật đó biểu hiện như thế nào? Có thể đó là cái tôi duy cảm, cũng có thể là cái tôi mang tính công dân, nhưng trước hết đó phải là cái tôi đầy cá tính mang sắc thái riêng. Trong văn học cũng thế, nói về tính độc đáo trong phong cách sáng tác có ý kiến cho rằng “nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo vì vậy nó đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật, tức là có nét gì đó riêng, mới lạ thể hiện trong các tác phẩm cùa mình, ý kiến trên rất bao quát nhưng cũng đưa ra được một khía cạnh mà nghệ thuật đòi hỏi: phong cách. Trong văn đàn Việt Nam, nói về phong cách, có lẽ không ai có thể quên được Nam Cao và Nguyễn Tuân, hai tác giả văn xuôi cừ khôi.

Nhà vật lí học nổi tiếng thế giới Einstein từng nói: “Trước hết là các nghệ sĩ lớn, sau đó mới đến các nhà khoa học, họ xứng đáng được hưởng hơn ai hết sự kính trọng của con người”. Nhà nghệ sĩ chính là người sáng tạo ra nghệ thuật, sáng tạo “cái đẹp để cứu nhân loại”. Nghệ thuật là một khái niệm rất trừu tượng nhưng nhiệm vụ mà nghệ thuật phải hoàn thành thật to lớn. Bởi thế người ta đưa ra một ý kiến thật đúng: “nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo”. Thật vậy, tác động vào tâm hồn con người không phải là chuyện dễ, để đột phá vào thế giới thật riêng tư, nhà văn cần dùng một phương tiện cũng phải rất riêng: phong cách độc đáo. Họa sĩ Ruskin đã cho “nghệ thuật đó là sự mô phỏng tự nhiên. Tuy quan điểm đó không hoàn toàn đúng, nhưng theo ý trên ta được cùng là sự mô phỏng nên để tránh nhàm chán, người nghệ sĩ phải thêm vào tác phẩm sự sáng tạo để lại dấu ấn của riêng mình trên từng trang viết. Đấy chính là phong cách, đặc điểm quan trọng nhất để nhận ra nhà văn qua tác phẩm của họ. Truyện ngắn cũng là một lĩnh vực khá lớn của văn học. Truyện ngắn Việi Nam bắt đầu khởi sắc từ những tác phẩm của Tự Lực văn đoàn. Nhưng đến Nam Cao thì loại hình văn học này mới đạt được đình cao của nó. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, văn đàn Việt Nam không thiếu tên những tác giả có tài như Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan… Nhưng hai phong cách nổi bật nhất, theo tôi có lẽ là Nam Cao và Nguyễn Tuân. Không có một người nào đã từng theo dõi văn học nước nhà mà không biết đến dáng đi ngật ngưỡng trong cơn say và gương mặt lằn ngang lằn dọc của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên mà Nam Cao viết năm 1941. Phải nói rằng ở đây là một truyện ngắn thật xuất sắc trong đó Nam Cao đã bộc lộ phong cách của mình rất rõ rệt. Trong giai đoạn văn học 1930 – 1945. Tác phẩm Chí Phèo ra đời khá muộn khi Tắt đèn của Ngô Tất Tố à Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan đã đứng sừng sững trên văn đàn Việt Nam. Vậy mà Chí Phèo không những không bị chìm đi mà còn có phần lấn át hai tác phẩm ra đời trước đó. Tại sao vậy? Nguyên nhân chủ yếu là vì tác phẩm đã có nét mới lại rất lạ và rất riêng. Ông Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận xét rằng khi Chí Phèo ngật ngưỡng bước ra từ tác phẩm của Nam Cao, người ta nhận thấy rằng đây là hình ảnh thê thảm nhất của người nông dân trong xã hội thực dân phong kiến. Không biết Nam Cao đã mất bao nhiêu thời gian để quan sát, tìm hiểu và tạo nên tiếng chửi của Chí Phèo. Tiếng chửi của anh khó chịu lắm, nó thông thốc, đập vào tai người đọc, nó như thách thức cả cuộc đời… Chí Phèo chửi mọi người mà nhưng không chửi ai, không còn biết tại sao mình lại chửi. Chua xót hơn, anh ta lại chửi cả “đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn”, tiếng chửi của Chí Phèo là một sự phủ nhận mạnh mẽ: phủ nhận xã hội, phủ nhận tình cảm thiêng liêng của gia đình mà anh ta không có được, rồi tiến tới phủ nhận cả bản thân mình… Ngòi bút của Nam Cao mang tính khái quát rất cao, qua tiếng chửi của Chí Phèo ta như thấy thấp thoáng dáng dấp của Bình Chức, Năm Thọ, những con người chịu một số phận tương tự như Chí Phèo, bị bần cùng hóa rồi côn đồ hóa và tha hóa.

Chí Phèo là một nhân vật phải nói là rất lạ với những nhân vật của những tác giả kia. Cùng ở điểm xuất phát là người nông dân chất phác hiền lành như chị Dậu, anh Pha, nhưng nếu hai người này vẫn giữ được phẩm chất của con người thì Chí Phèo lại đánh mất cả nhân hình lẫn nhân tính.

Lời kể chuyện hấp dẫn cũng là một nét độc đáo trong phong cách của Nam Cao. Kết cấu của truyện Chí Phèo là một chuỗi móc xích của những cơn say liên tiếp, chồng lên nhau: “Bữa đầu về làng đã thấy hắn ngồi ở quán rượu” Và cứ thế câu chuyện diễn tiến trong cơn say triền miên của Chí Phèo. Trong không khí sặc sụa mùi rượu đó, anh ta trở thành tên côn đồ tay sai cho Bá Kiến Rồi gặp Thị Nở, lúc này cơn say lắng xuống nhường chỗ cho cơn say tình yêu. Thế rồi sau khi Thị Nở từ chối, Chí Phèo đã bừng tỉnh trong ý thức để đi đến hành động giết Bá Kiến. Nhưng thật ra mà nói, đến phút cuối đời Chí Phèo vẫn đắm chìm trong cơn say.

Truyện ngắn Chí Phèo chứng tỏ bút lực mạnh mẽ cũng như phong cách của Nam Cao khá hoàn chỉnh. Có lẽ không ai ngoài Nam Cao có thể tạo cho Chí Phèo một dáng đi ngật ngưỡng, tiếng chửi chối tai mọi người và đôi mắt đỏ ngầu trừng trừng nhìn vào hiện thực để rồi chết ngộp trong hiện thực. Xã hội làng Vũ Đại đen tối không còn lối thoát, cái lò gạch bỏ không là điểm bắt đầu cuộc đời Chí Phèo rồi cũng là có thể là cái nôi đứa con của anh. Rồi chuyện : sẽ xảy ra? Quá khứ lập lại một lần nữa ư? Đó chính là chỗ bế tắc cùa văn học hiện thực phê phán. Nhưng dù sao ta không thể phủ nhận giá trị của truyện Chi Phèo vì qua đó phong cách của Nam Cao đã tỏa sáng, thể hiện được tình thương với cuộc đời.

Cùng thời với Nam Cao nhưng Nguyễn Tuân là một nhà văn lãng mạn. Tập truyện Vang bóng một thời đã đưa tên tuổi ông vào vị trí rất cao trong văn đàn Việt Nam. Nguyễn Tuân là người nặng lòng hoài cổ, ông lưu luvến và mong vớt vát được những nét đẹp xưa để ấp ủ tâm hồn trong xã hội đương thời. Cũng thi kì lạ vì Nguyễn Tuân hoàn thành tập truyện mang tính cổ xửa ấy ông chưa đầy ba mươi tuổi. Thế mà Vang bóng một thời có giọng văn của một cụ già ngồi ôn lại những năm tháng êm đẹp đã quan trong cuộc đời mình. Chữ người tử tù là một truyện ngắn khá tiêu biểu trong chuỗi những hoài niệm nét đẹp xưa. Hẳn là ta không bao giờ quên được cái ngông ngạo của Huấn Cao, một người tù trước gọng cùm và quan lại. Đó là nét đẹp tỏa sáng nhất man? đậm phong cách của nhà chí sĩ và trong đó cũng mang dấu ấn của phong cách Nguyễn Tuân, thử hỏi có ai nén được sự xúc động khi tìm lại được mái đầu cao ngạo, kiên cường của một nhà nho – hình ảnh trong quá khứ vừa mới đi qua thôi mà đã tưởng như xa lắm. Thạch Lam đã từng nhận xét: Viết về đề tài xưa là một việc tốn nhiều công sức. Phải thực sự yêu mến và muốn giữ lại những vẻ đẹp đã thì mới đủ sức làm sống lại cả một thời xưa cũ. Đúng thế, chuyện xảy ra rồi nhà văn chỉ ghi lại. Thế nhưng nếu không thương tiếc, không muốn sống lại những ngày xưa vang bóng thì không thể tìm thây được những nét đẹp cổ phảng phất trên cặp mày, vẻ quắc thước toát ra từ đôi mắt sâu thăm thẳm bàn tay tài hoa của người tử tù.

Huân Cao là người viết chữ đẹp nổi tiếng, những đích thực là một nhà nghệ sĩ. Huân Cao biết rõ ràng chữ nghĩa là tinh hoa của thánh hiền, ông coi thường những kẻ khoa tay múa may vì tiền. Chính đức tính này của ông làm cho viên quản ngục ngần ngại mãi, có người tù trong tay nhưng không biết làm cách nào xin được vài con chữ tài hoa. Người ta thường nói văn tức là người. Do vậy hình ảnh của Huân Cảo, ta thấy thoáng hiện một Nguyễn Tuân với vầng tràn cao rộng, với đôi mắt tinh anh, cũng ngẩng cao đầu, chàng đem văn của mình ra làm món hàng mua bán… Người tử từ của Nguyễn Tuân hiện lên trong tác phẩm giống như một anh hùng thời cổ, ông đi trong buổi chiều vang vang tiếng trống thu không, tiếng loa xa xa như vọng về từ quá khứ, không gian tịch nịch và cổ kính. Người tù ấy là một nhà nho tài hoa, vậy mà bất khuất chẳng kém một nghĩa quân trong chiến trận. Lời nói khẳng khái của ông đáp lại viên quản ngục nghe như đầy thách thức: “Ta muốn là nhà ngươi đừng bao giờ bước chân vào đây!”. Đọc đến câu nói của Huân Cao, ta nghe như trong mạch máu ói lên tinh thần của ông cha ngày trước bất khuất, rạch ròi. Chính điều này đã tạo cho Vang bóng một thời một giọng ván khác lạ. Nguyễn Tuân là một nhà văn thuộc trường phái lãng mạng nhưng tác phẩm của ông khác xa so với truyện ngắn của Thạch Lam.

Huấn Cao có tính ngông thật nhưng không phải vì vậy mà ông không thấy được tấm lòng của viên quản ngục. Thử hỏi làm sao người như Huấn Cao có thể làm ngơ ưước một mong ước rất thanh cao của viên quản ngục. Những dòng chữ vuông vắn đầy cá tính của một người tù có nhân cách vượt trội hơn nhiều so với thững kẻ xử án. Khung cảnh ngoạn mục và cảm động nhất truyện xảy ra trong nhà ngục ẩm ướt. Một người tù gò viết trên mảnh lụa bạch, người thơ lại và viên quản ngục yên lặng, thành kính, ngọn đuốc bừng bừng mù mịt khói chứng tiến ba mái đầu chụm lại nhau. Thực sự Nguyễn Tuân đã tạo nên những hình ảnh nức lòng người đọc, gian phòng giam mù mịt tối tăm ấy đang tỏa ra ánh sáng của nhân cách con người.

Người tử tù quên rằng sáng mai mình sẽ bị hành hình, viên quản ngục quên rằng đây là một tù nhân của mình, họ gặp nhau trong tâm hồn thanh cao. Viên quản ngục hướng lên cái đẹp với một mảnh lòng trong sáng, người tử tù cúi xuống nâng tâm hồn ông ta lên bằng tài hoa, nhân cách và khí phách của bản thân mình. Trong Chữ người tử tù nói riêng và Vang bóng một thời nói chung. Nguyễn Tuân đã thể hiện cái tôi duy mĩ, yêu mến và thương tiếc cái đẹp. Tình cảm đó và lối ngông ngạo khác người đã tạo nên một nghệ sĩ Nguyễn Tuân gần như xa lạ với hiện thời nhưng rất gần với quá khứ. Nguyễn Tuân là cầu nối đẹp xưa với ngày nay.

Trong cùng một thời kì văn học nhưng Nam Cao và Nguyễn Tuân là phong cách rất đặc biệt. Điểm giống nhau của họ là cùng nhìn thấy và bất mãn trước hiện thực xã hội, nhưng cách phản ánh vào tác phẩm lại hoàn toàn khirt nhau. Theo tôn chỉ của văn học phê phán Nam Cao đem vào tác phẩm một hiện thực làm mọi người giật mình có thể có khả năng người nông dẫn sẽ bị côn đồ hóa và trở nên thê thảm như Chí Phèo. Tác phẩm của Nam Cao như hồi chuông báo động mọi người xem lại xã hội mình đang sống. Đó là hồi chuông nảy lòng nhân đạo, nó hướng về con người, hướng về sự cứu vớt con người. Tác phẩm của Nam Cao có thể được đánh giá bằng cầu văn của chính ông: “Nghệ thuật không phải là ánh trăng lứa đôi” Đúng vậy, quan điểm nghệ thuật trong sáng tác của Nam Cao là nghệ thuật vi nhàn sinh.

Xưa nay người la vẫn thường chỉ trích quan niệm nghệ thuật vì nghệ thuật nhưng có lẽ rằng quan điểm đó rất đúng xét trên khía cạnh tích cực của nó. Người ta nói rằng cái đẹp sẽ cứu vớt nhân loại vậy thì nghệ thuật hướng người tới cái đẹp, tới chân thiện mĩ của cuộc sống, đó chẳng phải là phục vụ con người sao? Truyện ngắn của Nguyễn Tuân về những ngày xưa cũ đem cho ta cái đẹp kiêu hãnh của cha ông. Với cái tôi duy mĩ của mình, ông đã nên một thế giới có màu sắc khác lạ, vừa như quen thuộc vừa như xa vời. Nói cách khác, sáng tác của Nguyễn Tuân trước cách mạng Tháng Tám có “lánh đục về trong”, đi tìm cái đẹp quá khứ để khuây khỏa nỗi buồn hiện Dù sao đi nữa Nam Cao và Nguyễn Tuân vẫn là những phong cách tỏa sáng đặc biệt trên văn đàn Việt Nam trước nãm 1945.

Một câu hỏi đặt ra là phong cách của một người có thể thay đổi không và thay đổi như thế nào? Theo tôi sự thay đổi là một quy luật của cuộc sống, không có vật gì luôn tồn tại như lúc ban đầu. Cuộc cách mạng tháng Tám 1945 thành công, xã hội đổi khác. Cái không khí xã hội tạo nên những bức xúc cho sáng tác của các nhà văn nay không còn nữa. Phản ánh luận cho rằng những gì thuộc về tâm tư tình cảm của con người đều có thể gọi là hiện thực. Đứng trước sự biển thuyền lớn lao như thế, các nhà văn lại làm ghềnh thách dữ thì mới cảm thấy “khoái chí”. Đó chính là chất tài tử trong văn Nguyễn Tuân. Từ cái ngông ngạo của người hay chữ như Huân Cao chuyển sang cái nghệ thuật của người coi sóng nước sông Đà như ao nhà mình. Đó đây trong tùy bút Sông Đà, ta bắt gặp những mảnh thiên nhiên trong sáng: Một cánh rừng phủ xanh màu xuân mới, sắc mây êm trôi trên sông Đà… Cái u uẩn ngày xưa không còn nữa nhưng nhà văn Nguyễn Tuân vẫn đứng đó với vầng trán cao, mái tóc bạc phơ bay ngược chiều gió với tâm tưởng ngôn ngữ và cuộc sống ngồn ngộn đến mức làm người đọc kinh ngạc.

“Nghệ thuật là tôi, khoa học là chúng ta”. Câu nói ấy thật đúng trong nghệ thuật – lĩnh vực của cái độc đáo. Người sáng tác tác phẩm văn học là người đem đến cho con người cái đẹp và sự thanh cao, xin được gọi họ là những người tạo ra nghệ thuật. Hai nhà văn Nam Cao và Nguyễn Tuân đã làm nên nét đẹp trong văn học nước ta bằng những phong cách của riêng mình. Trong tác phẩm của họ, ta như lần đầu tiên bắt gặp những gì chợt ẩn, chợt hiện, mới lạ với những gì ta đã biết. Phong cách ấy mãi là những vầng sáng đẹp tạo nên nghệ thuật bất tử.

Truyện ngắn là một lĩnh vực thú vị của văn học. Nó ghi lại sự việc xảy ra trong thời gian và không gian xác định nhưng không phải vì vậy mà giá trị của nó bị thu hẹp. Những nhân vật Chí Phèo, Huấn Cao, Hoàng, ông lái đò… Là những hình tượng nghệ thuật đặc sắc tạo bởi năng lực sáng tạo của nhà văn P.Pavlenko nói rằng: “Tôi thu thập hình tượng cũng như con ong hút mật vậy”. Thế mà ta biết rằng một con ong phải bay một đoạn đường sau lần xích đạo trong một năm ba tháng và đậu lên năm vạn thứ hoa để làm nên một trăm gam mật (Theo “tờ hoa” của Nguyễn Tuân). Khó khăn biết bao khi người ta muốn vươn đến nghệ thuật thật sự. Thế nhưng mọi người vẫn không ngừng đi tìm cái đẹp, phong cách nghệ thuật độc đáo của riêng mình. Phải chăng quá trình ấy cũng đầy gian nan không kém gì lao động của các nhà khoa học. Nhà văn Nga Macxim Goorki cho rằng “văn học là nhân học”, vậy thì vượt gian lao để tìm đến sự độc đáo hoàn thiện của ngòi bút, đến “nhân học” chính là sứ mạng cao quý của những người cầm bút.

Lý Xuân Quyên

(PTTH Chuyên Lê Hồng Phong – TP. Hồ Chí Minh)

Soạn Bài Khái Quát Văn Học Việt Nam Từ Cách Mạng Tháng Tám Năm 1945 Đến Hết Thế Kỉ Xx (Ngắn Gọn)

Câu 1: Những nét chính về tình hình lịch sử, xã hội, văn hóa:

– Đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản, sự lãnh đạo của Đảng.

– Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mĩ kéo dài suốt 30 năm.

– Nền kinh tế còn nghèo nàn và chậm phát triển.

– Về văn hóa: điều kiện giao lưu bị hạn chế, nước ta chủ yếu tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của văn hóa các nước xã hội chủ nghĩa.

Câu 2: Văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 có thể chia làm 3 chặng:

– Chặng đường từ 1945 – 1954.

– Chặng đường từ 1955 – 1964.

– Chặng đường từ 1965 – 1975.

* Chặng đường từ năm 1945 đến năm 1954:

– Một số tác phẩm trong những năm 1945-1946 đã phản ánh được không khí hồ hởi, vui sướng của nhân dân ta khi đất nước vừa giành được độc lập.

– Từ cuối năm 1946, văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

– Truyện ngắn và kí: Đôi mắt và nhật kí Ở rừng của Nam Cao, Làng của Kim Lân,…

– Thơ ca đạt được nhiều thành tựu xuất sắc. Tiêu biểu là những tác phẩm: Cảnh khuya, Cảnh rừng Việt Bắc, Rằm tháng giêng của Hồ Chí Minh; Bên kia sống Đuống của Hoàng Cầm, Tây Tiến của Quang Dũng, đặc biệt là tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu,…

– Một số vở kịch gây được sự chú ý như Bắc Sơn, Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng…

– Kịch cũng có những thành tựu đáng ghi nhận. Các vở kịch gây được tiếng vang: Quê hương Việt Nam và Thời tiết ngày mai của Xuân Trình, Đại đội trưởng của tôi của Đào Hồng Cẩm,…

Câu 3: Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975:

– Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước.

– Nền văn học hướng về đại chúng.

– Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

Câu 4:

– Từ năm 1986, với công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản đề xướng và lãnh đạo, kinh tế nước ta từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, văn hóa nước ta có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với nhiều nước trên thế giới. Văn học dịch, báo chí và các phương tiện truyền thông khác phát triển mạnh mẽ. Đất nước bước vào công cuộc đổi mới, thúc đẩy nền văn học cũng phải đổi mới phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc cũng như quy luật phát triển khách quan của nền văn học.

Câu 5: Những thành tựu ban đầu của văn học Việt Nam từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX:

– Từ sau năm 1975, thơ không tạo được sự lôi cuốn hấp dẫn như ở giai đoạn trước. Tuy nhiên, vẫn có những tác phẩm ít nhiều tạo được sự chú ý của người đọc: Tự hát của Xuân Quỳnh, Ánh trăng của Nguyễn Duy… – Từ sau năm 1975, văn xuôi có nhiều khởi sắc hơn thơ ca. Một số cây bút đã bộc lộ ý thức muốn đổi mới cách viết về chiến tranh, cách tiếp cận hiện thực đời sống như Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Thời xa vắng của Lê Lựu, những tuyển tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành và Bến quê của Nguyễn Minh Châu,…

– Từ năm 1986, văn học chính thức bước vào chặng đường đổi mới. Văn học gắn bó hơn, cập nhật hơn những vấn đề của đời sống hằng ngày. Phóng sự xuất hiện, đề cập tới những vấn đề bức xúc của đời sống. Văn xuôi thực sự khởi sắc với các tập truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa và Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp; tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Tường…

– Từ sau năm 1975, kịch nói phát triển mạnh mẽ. Những vở kịch như: Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, Mùa hè ở biển của Xuân Trình,… là những vở tạo được sự chú ý.

chúng tôi

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phong Cách Truyện Ngắn Nam Cao Qua Các Tác Phẩm Văn Học Trước Cách Mạng Tháng Tám trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!