Đề Xuất 1/2023 # Phong Cách Sáng Tác Của Xuân Quỳnh # Top 2 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 1/2023 # Phong Cách Sáng Tác Của Xuân Quỳnh # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phong Cách Sáng Tác Của Xuân Quỳnh mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Khi bàn về thơ, Xuân Quỳnh từng tâm sự: ” Người ta làm thơ đầu tiên là để tự thể hiện, là một hành động khẳng định, rồi là một hành động khai sinh, đáp ứng yêu cầu sáng tạo, nhu cầu nối liền mình với đồng loại, với các sự vật vũ trụ, với thế giới”.Nét nổi bật của hồn thơ Xuân Quỳnh là sự dung dị, hồn nhiên, tươi tắn, nồng nhiệt và chân thành, vừa giàu trực cảm vừa lắng sâu suy tư.

Riêng thơ tình yêu- mảng đặc sắc của hồn thơ Xuân Quỳnh- tình điệu của thơ bao giờ cũng sôi nổi, mãnh liệt mà tự nhiên, chân thành, đằm thắm của một trái tim phụ nữ trong tình yêu. tình yêu với nhà thơ là cái đẹp, cái cao quý. Tình yêu tượng trưng cho sự khao khát tự hoàn thiện mình. Với Xuân Quỳnh thơ với tình yêu cùng ra đời, cùng sống và cùng “yên nghỉ”: Ơi trời xanh xin trả cho vô tận Trời không xanh trong đáy mắt em xanh Và trong em không thể còn anh Nếu ngày mai em không làm thơ nữa Cái tôi yêu của nhà thơ, người phụ nữ có sự trải nghiệm rất chân thành: Không sĩ diện đâu nếu tôi yêu được một người Tôi sẽ yêu anh ta hơn anh ta yêu tôi nhiều lắm Tôi sẽ yêu anh dẫu vạn lần cay đắng Đó phải chăng là phẩm chất của tình yêu và cũng là phẩm chất thi ca? Xuân Quỳnh được xem là người viết thơ tình hay nhất trong nền thơ ca hiện đại Việt từ sau 1945. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn thiết tha gắn bó với cuộc đời, với con người, khao khát tình yêu, trân trọng hạnh phúc bình dị đời thường. Khát vọng sống và khát vọng yêu mãnh liệt gắn liền với những dự cảm về sự bất trắc của tình yêu và cuộc đời. Nên Xuân Quỳnh lấy tình yêu làm mái ấm chở che, làm cứu cánh : Đó là tình yêu em muốn nói cùng khát vọng Nguồn gốc của muôn vàn khát vọng Lòng cốt để duy trì sự sống Cho con người thực sự người hơn Nhưng đời đâu lặng tờ mà đầy sóng đầy gió. Tình yêu chốn nương thân của tâm hồn cũng chỉ là ” Những cánh chuồn mỏng manh ”, nên hồn thơ Xuân Quỳnh mãi hoài khắc khoải âu lo : Em âu lo trước xa tắp đường tình Trái tim đập những điều không thể nói Cũng vì thế mà Xuân Quỳnh luôn trân trọng niềm hạnh phúc có thật trong đời, và nghĩ ” Chỉ có sóng và em ” thôi : Chỉ riêng điều được sống cùng nhau Niềm sung sướng với em là lớn nhất Trái tim nhỏ nằm trong lồng ngực Giây phút nào tim chẳng đập vì anh Thơ tình Xuân Quỳnh mang gương mặt đời thường mà có sự thăng hoa lớn lao là thế chăng? Một điểm đáng trân trọng nữa đối với con người và thơ Xuân Quỳnh đấy là vẻ đẹp nữ tính, thiên nhiên nữ tính. Không phải ngẫu nhiên mà luôn đi – về trong thơ Xuân Quỳnh là hình ảnh những người vợ, người mẹ với một tâm hồn mẫn cảm, hồn hậu nhân ái và chịu thương chịu khó . Mẹ trong thơ Xuân Quỳnh là những hình ảnh hoài niệm, lồng trong hình ảnh quê hương qua tình cảm tinh khôi sâu lắng : Tháng xuân này mẹ có về không Con thắp nén hương thơm ngát Bờ đê cỏ ướt Lá tre xào xạc đường làng Sông Nhuệ đò sang Hoa xoan tím ngõ Cánh cò trắng xóa Như lời ru của mẹ bay về Với bà, Xuân Quỳnh nhìn bằng con mắt trẻ thơ hồn nhiên, nhưng xiết bao yêu kính : Nắng ở xung quanh bình tích Ủ nước chè tươi cho bà Bà mhấp một ngụm rồi khà Nắng trong nước chè chan chát.

Với chồng, tiếng thơ Xuân Quỳnh ân cần, nhỏ nhẹ và đằm thắm : Sao không cài khuy áo lại anh Trời lạnh đấy, hôm nay trời rét

Và bao nhiêu tình cảm khác cũng thấm tràn chất nữ tính ấy của Xuân Quỳnh. Ta hiểu vì sao Xuân Quỳnh lại có những tác phẩm viết cho thiếu nhi thật đáng yêu như thế.

Các em tìm hiểu thêm:

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Phong Cách Thơ Xuân Quỳnh

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VẪN

NGUYÊN THỊ KIM ĐỊNH

PHONG CÁCH THƠ XUẲN QUỲNH Chuyén ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 60 22 34

LUẬN VẢN THẠC Sĩ NGỮ VÃN

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Nam

Hà Nội – 2009

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

M ỤC LỤ C PHẨN MỎ ĐẦU 1. Lý do chọn đé tài…………………………………………………………………………………..

2. Lịch sử vấn đ ề …………………………………………………………………………………………….

5

Mục đích và phạm vi nghiên cứu…………………………………………………………. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………………………… Đóng góp của luận văn…………………………………………………………………………. Cấu trúc luận văn…………………………………………………………………………………..

DẪN LUẬN: PHONG CÁCH

19

CHƯƠNG 1 CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ XUÂN QUỲNH 1.1. Cái tôi nồng nàn, đắm say, yêu thương, khát khao hạnh phúc mà vị tha, sẵn sàng hi sinh dâng h iế n ………………………………………………………………….. 1.1.1. Cái tôi nồng nàn, đắm say, yêu thương,khát khao hạnh phúc………… 1.1.2. … mà vị tha, sẵn sàng hi sinh dâng hiến………………………………………… 1.2. Cái tôi táo bạo, chủ động, quyết liệt, hiện đại mà vẫn nhuần nhị, nữ tính, truyền thống ……………………………………………………………………………………… 1.2.1. Cái tôi táo bạo, chủ động, quyết liệt, hiện đ ại………………………………… 1.2.2. … mà vẫn nhuần nhị, nữ tính, truyền thống……………………………………. 1.3. Cái tôi tràn đầy tình yêu cuộc sống mà nặng trĩu mặc cảm, âu lo .. 1.3.1. Cái tôi tràn ngập tình yêu cuộc sống, giàu khát vọng, ước m ơ………. 1.3.2. … mà vẫn nặng trĩu những mặc cảm âu lo………………………………………

21

CHƯƠNG 2

NHỮNG CẢM HỨNG LỚN TRONG THƠ XUÂN QUỲNH 2.1. Cảm hứng về quê hương, đất nước trong những năm tháng chiến tranh………………………………………………………………………………………………………….. 2.1.1. Viết về chiến tranh với cái nhìn mang thiên tính nữ ………………………. 2.1.1.1. Viết về chiến tranh bằng sự trải nghiệm của bản thân………………… 2.1.1.2. Giá trị hạnh phúc đời thường trong chiến tranh…………………………… 2.1.2. Viết về quê hương, đất nước với tình yêu thiết th a ………………………… 2.1.2.1. Cảm xúc về những miền đất nơi Xuân Quỳnh đã đi qu a……………… 2.1.2.2. Tình yêu quê hương, đất nước bắt nguồn từ những sự vật đơn sơ, bình d ị ……………………………………………………………………………………………………….. 2.1.2.3. Tinh yêu quê hương, đất nước xuất phát từ tình yêu thương con n g ư ờ i………………………………………………………………………………………………………….

1

Nguyẻti Thị Kim Định

2.2. Cảm hứng về hạnh phúc đời thường………………………………………………….. 2.2.1. Tổ ấm gia đình……………………………………………………………………………….. 2.2.1.1. Anh – trụ cột gia đình “người vĩ đại của em ” ……………………………… 2.2.1.2. Con cái – trái tim tổ ấm ………………………………………………………………. 2.2.1.3. Mẹ – “mẹ của chúng mình” ………………………………………………………… 2.2.1.4. Chị – “chăm cho em từng việc hàng ngày” ………………………………….. 2.2.2. Những chuyện đời thường……………………………………………………………… CHƯƠNG 3 NÉT ĐỘC ĐÁO VẾ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN THO XUÂN QUỲNH

3.1. Hình ảnh, biểu tượng………………………………………………………………………… 3.1.1. Hình ảnh sóng, thuyền, biển, con tàu – Hình ánh tượng trưng của tình yêu, khái vọng kiếm tim và sự khao khát vươn tới những chân trời mới… 3.1.2. Hình ảnh hoa và cỏ dại – Hình ảnh thân phận người phụ nữ…………. 3.1.3. Hình ảnh trái tim và bàn tay – Hình ảnh tượng trưng cho sự hy sinh, dâng hiến; khao khát được nương tựa, gắn bó ………………………………………….. 3.2. Ngôn ngữ………………………………………………………………………………………….. 3.2.1. Ngôn ngữ giản dị, tự nhiên gắn với sinh hoạt hàng ngày 3.2.1.1. Ngôn ngữ giàu chất dân gian 3.2.1.2. Ngôn ngữ giản dị, dân giã của cuộc sống tình yêu, lao động và chiến đ ấ u ………………………………………………………………………………………………….. 3.2.2. Một số cách tổ chức ngôn ngữ……………………………………………………..

3.2.2.1. Câu kể, liệt k ê ……………………………………………………………………………………

103

3.2.2.2. Kết cấu đối thoại………………………………………………………………………… 3.3. Giọng điệu………………………………………………………………………………………… 3.3.1. Giọng điệu lời ru vừa thủ thi’ vừamạnh m ẽ…………………………………… 3.3.2. Giọng điệu khắc khoải lo âunhưng cũng đầy tin tưởng………………….. 3.4. Thời gian………………………………………………………………………………………….. 3.4.1. Thời gian quá khứ………………………………………………………………………….. 3.4.2. Thời gian hiện tại…………………………………………………………………………… 3.4.3. Dự cảm tương lai…………………………………………………………………………… 3.5. Không gian……………………………………………………………………………………….. 3.5.1. Không gian hiện thực……………………………………………………………………. 3.5.2. Không gian tình yêu……………………………………………………………………….

PHẦN KẾT LUẬN

131

DANH MỰC TÀI LIỆU THAM KHẢO

133

2

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

PHẨN MỞ ĐẨU 1. Lý do chọn đé tài: Chọn đề tài Phong cách thơ Xuân Quỳnh”, chúng tôi xuất phát từ những lý do sau: 1.1 “Qua tiếng hát anh nhận ra người hát. Qua nét khắc anh nhân ra người thợ bạc” (“Đatxa của tôi” – Raxun Gamratôp). Qua tiếng hát, ta nhận ra tâm hổn người nghệ sĩ. Đó là tâm hồn lạc quan, khoẻ khoắn hay là tâm hồn của người dịu dàng, đằm thắm…Qua nét khấc, những đường nét hoa văn tinh tế, ta nhận ra những cảm nhận sâu sắc về cuộc sống của người nghệ sĩ. Có thể nói, qua mỗi tác phẩm nghệ thuật, người ta nhận ra tâm hồn, nét dáng riêng, dấu ấn riêng của người làm nghệ thuật. Dấu ấn riêng, nét dáng riêng mà tác giả tạo ra trong tác phẩm, đó chính là phong cách. Phong cách của tác giả tạo nên sự mới lạ trong tác phẩm và sự phong phú, đa dạng của một nền văn học. Vì vậy, phong cách là một trong những vấn đề trọng tâm trong nghiên cứu văn học. Nó xác định được những mặt độc đáo về nội dung tư tưởng cũng như những đặc sắc về nghệ thuật biểu hiện trong sáng tác của nhà văn. Mang một ý nghĩa quan trọng như vậy, song cho đến nay, vấn đề phong cách đã được chú ý hơn trước rất nhiều nhưng vẫn còn rất nhiều tác giả đã được ghi nhận có phong cách của riêng mình nhưng vẫn chưa được nghiôn cứu đầy đu. Trên con đường đi vào thế giới nghệ thuật thơ, vì lý do này khác hình như còn dè dặt, e ngại khi khai phá mảnh đất màu mỡ nhưng cũng đầy thử thách này. Bởi vậy, cũng dễ hiểu khi thấy có rất nhiều bài viết về Xuân Quỳnh, về thơ của chị, song còn thiếu những cồng trình mang tính hệ thống. Các bài viết hầu hết mới chỉ dừng lại ở việc cảm nhận, khai thác một vài khía cạnh, một vài bài thơ tiêu biểu của chị mà chưa đi sâu vào nghiên cứu phong cách thơ chị. Đây là lý do đầu tiên khuyến khích chúng tôi lựa chọn đề tài này. 1.2.

Lý do thứ hai xuất phát từ chính thơ Xuân Quỳnh: Cùng trưởng thành

trong kháng chiến chống Mỹ, Xuân Quỳnh nổi bật lên là một gương mặt tiêu biểu mang đậm bản sắc riêng, một nhà thơ nữ có vị trí quan trọng của nền văn học Việt Nam hiện đại. Tha chị dù viết trong khói lửa đạn bom hay trong hoà bình xây dựng, lúc nào cũng thống nhất ở một cách nhìn, cách cảm của riêng chị. Dù ở bước thăng trầm nào của cuộc đời, thơ vẫn là nơi để chị trang trải lòng mình, là chốn đi về sau những nhọc nhằn, vất vả của đời thường, để từ đó chị lại đến với đời thiết tha hơn.

3

Nguyễn Thị Kim Định

Nguyễn Thị Kim Định

5

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xu án Quỳnh 1.1. Trước năm 1988: Dù không phái là người được “cuộc đời chuẩn bị để trở thành nhà thơ” nhưng như một nghiệp dĩ. Xuân Quỳnh lại đến với thơ khá bất ngờ. Từ bỏ ánh đèn hào quang của sân khấu, đến với thơ, cô diễn viên múa xinh đẹp hầu như không có một quá trình tu dưỡng về nghề thơ, không có gì hết ngoài một trái tim biết yêu. biết khao khát sáng tạo. Hơn hai mươi năm cầm bút, thời gian không dài nhưng Xuân Quỳnh đã để lại một số lượng không nhỏ (khoảng 10 tập thơ và một số truyện viết cho thiếu nhi). Từ tập thơ đầu tay “Chổi biếc” đến uHoa cỏ may” – tập thơ cuối cùng là một chặng đường thơ không ngừng nghỉ, luôn biết vươn lên trong hành trình tới chính mình của người phụ nữ “trời bất làm thơ”. Ngay từ khi mới xuất hiện, thơ Xuân Quỳnh đã được chú ý. Từ những tập thơ đầu. chị đã được đánh giá là một cây bút có nhiều triển vọng. Song như đã nói ớ trên, từ thời điểm 1988 trớ về trước, sự nghiên cứu, phê bình về thơ Xuân Quỳnh không nhiều mà mới chỉ dừng lại ở các tập thơ hoặc những bài phê bình, nhận xét ngắn gọn về phong cách nghệ thuật biểu hiện. – Tơ tằm và chồi biếc (Lê Đình Kỵ, Nghiên cứu văn học, số 1, trang 20). – Xuân Quỳnh – Một chồi thơ sắc biếc (Chu Nga, Tạp chí văn học 1973, sô’ 1, trang 20). – Thơ Xuân Quỳnh (Thiếu Mai, Tạp chí Vãn học 1983, sô’ 1, trang 39). – v ẻ đẹp thơ Xuân Quỳnh (Nguyễn Xuân Nam, Trích trong Thơ, tìm hiểu vả thưởng thức – NXB Tác phẩm mới 1985). – Thơ kháng chiến chỏng Mỹ cứu nước 1965 – 1967 (Lời giới thiệu – NXB Văn học 1986). – Ý thức về thời gian, cảm giác về hạnh phúc (‘Vương Trí Nhàn, trích Bước đầu đến với Vãn học – NXB Tác phẩm mới, 1986). – Sóng (Nguyễn Đức Quyền, trích trong Những vẻ đẹp thơ Văn nghệ Thành phô’ HỒ Chí Minh, 1987). Khi đé cập đến tập thơ đầu tay “Chồi biếc” của Xuân Quỳnh, hai tác giả Chu Nga và Lê Đình Kỵ đã phát hiện ra một hồn thơ tươi trẻ với những khao khát hạnh phúc và tình yêu đích thực. Các nhà nghiên cứu đã bằng các cách tiếp cận khác nhau, sự cảm nhận khác nhau đã góp phần làm nổi bật đời sống nội tâm phong phú, sâu sắc có sự hòa đổng, giao cảm với thiên nhiên, yêu cuộc sống tha thiết của hổn thơ Xuân Quỳnh.

6

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh Hà Minh Đức trong một bài viết về lực lượng thơ trẻ đã nhận xét: “Xuân Quỳnh đã đến với thơ từ phần riêng tâm tình, kỷ niệm tuổi thơ, từ tình yêu tha thiết của tuổi trẻ và lòng gắn bó với nghề nghiệp (…) Xuân Quỳnh tiếp tục vượt qua ranh giới những khó khăn nhất đối với nhiều cây bút trẻ, từ cái riêng đi vào cái chung (…) thơ Xuân Quỳnh dần dần trở nên phong phú và bản sắc hơn. Xuân Quỳnh luôn chân thật và mém mại trong cảm xúc, chị nhìn cuộc sống không đơn giản một chiều”. Chưa phải là một bài nghiên cứu chuyên sâu về tác giả song những nhận xét của Hà Minh Đức đã nói đúng và nói “trúng” về nhà thơ trong thời điếm ấy. Tác giả khẳng định vị trí của Xuân Quỳnh trong thế hệ nhà thơ trẻ và đặc biệt đã phát hiện ra bản sắc thơ chị là chân thực vẻ cảm xúc và cái nhìn sâu sắc về cuộc sống. Từ phần riêng tâm tình với cái nhìn cuộc sống một cách khách quan, tỉnh táo, Xuân Quỳnh có một hướng đi riêng, một bản lĩnh riêng so với ít những nhà thơ cùng thời (viết theo khuynh hướng sử thi). Từ những ưu điểm trên Hà Minh Đức cũng nhận xét “thơ của chị đang phát triển nhưng chưa lộ rõ chiều cao ổn định và trọn vẹn”. Như vậy, qua đánh giá của Hà Minh Đức, ta có thể thấy thơ Xuân Quỳnh đang thực sự “vận dộng” về tư tưởng, về cách phản ánh cuộc sống tinh tế, sắc sảo nhưng chưa già dặn về thi pháp. Tập “Thơ Việt Nam chống M ỹ cứu nước 1965 – 1967” trong phần nhận định “Thơ ba năm đánh Mỹ cứu nước” của thi sĩ Chế Lan Viên, Xuân Quỳnh được nhân ra là một trong “những tâm hổn đáng yêu” bên cạnh Bằng Việt, Vãn Thảo Nguyên, Lưu Quang Vũ (tr. 14). Chế Lan Viên khẳng định Xuân Quỳnh là một tâm hồn thơ nữ trẻ trung, yêu đời, giàu khát vọng. Ông đã trích một bài thơ “Tiếng gà trưa” để nhận xét rằng: “Một ổ trứng bình thường thôi, trong mắt Xuân Quỳnh, đã thành một giấc mơ rực rỡ.. (tr. 16). Sự trẻ trung hồn nhiên ấy cũng được khẳng định trong bài viết về ”’Thơ Xuân Q uỳnh” của Thiếu Mai, đặc biệt là tác giả đi sâu vào mảng thơ thiếu nhi của chị và khẳng định bước đi ban đầu của thơ Xuân Quỳnh đó “không phải là những nét phác nhẹ nhõm, mà là bàng chứng của một tình yêu mạnh m ẽ…”. Thiếu Mai cho rằng mảng sáng tác cho thiếu nhi (chiếm tới 7/14 tác phẩm của chị) hầu như chưa được khai thác, nghiên cứu như đúng tầm tác phấm. Mai Hương trong bài viết ”’Xuân Quỳnh ” trong Xuân Quỳnh nhà thơ Việt Nam hiện đại” (NXB Khoa học xã hội, 4.1984) cũng đã khẳng định ngay ở những dòng đẩu tiên: “Từ Chổi biếc (1963) đến Lời ru trên mặt đất (1978) là một quá trình phát triển liên tục và đều đặn của thơ Xuân Quỳnh. Có thể nói qua bốn tập thơ được xuất bản, Xuân Quỳnh đã hình thành một phong cách riêng có bản sắc. Đó là điều

7

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuàn Quỳnh dáng quý đầu tièn ớ Xuân Quvnh. Xuân Quỳnh chủ yếu đi vào khai thác tâm trạng của chính nhà thơ. Nét riêng ấy của ngòi bút Xuân Quỳnh đậm hơn cả và phát huy được mổt mặt mạnh của nó, khi chị đi vào khai thác những vấn đề của chính mình…”. Có thể nói, trong chặng đường những năm 1970, thơ Xuân Quỳnh đã được chú ý nhưng nhìn chung các bài viết mới đánh giá về chị như một gương mặt mới, hứa hẹn, nhiéu triển vọng. Cho đến những nãm 1984 khi hai tập thơ “Tự hát” và “Sân ga chiều em đ i” của Xuân Quỳnh ra đời trong bối cảnh hòa bình, vấn đề đời tư được bộc lộ rõ hưn thì thơ chị trở thành đối tượng thu hút giới phê bình nghiên cứu văn học. Nhà nghicn cứu phê bình Nguyền Xuân Nam đã phát hiện ra “Vẻ đẹp thơ Xuân Quỳnh” và dành cho chị những trang ưu ái trong cuốn “Tho – Tìm hiểu và thưởng thức”. Tác giả khẳng định vẻ đẹp hồn nhiên, mang được nét nữ tính, dịu dàng đằm thám, nhân hậu nhưng lại không vướng mặc cảm cho mình là phái yếu của con người Xuân Quỳnh trong thơ. Với bản tính ấy, thơ tình của chị chú động, bao dung mà cũng tha thiết dữ dội “như nước lũ mùa xuân chảy xiết (tr. 21). Trơng những bài thơ chị viết ở vùng cửa ngõ chiến trường – vùng Vĩnh Linh, Quảng Trị, tác giả nhìn thấy tuy còn ít giá trị hiộn thực nhưng lại có sự “chân cảm”. Chính nó đã làm nên sức hấp dẫn độc giả. Cuối cùng, cũng như nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu khác, Nguyễn Xuân Nam cho rằng thơ Xuân Quỳnh có bản sắc riêng, đó là “sự trẻ trung, chân thành trong cảm xúc’ chất tự nhiên của một bản năng nghệ thuật. Sau khi tuyển thơ “Sân ga chiêu em đì” của Xuân Quỳnh ra mắt bạn đọc, Vương Trí Nhàn đã bước đầu đề cập đến vấn đề thi pháp trong thơ Xuân Quỳnh. Đó là: “ý thức vé thời gian, cảm giác vé hạnh phúc”. Mượn hình thức đôi thoại với một người bạn văn chương – nhà thơ Phạm Tiến Duật, tác giả đã phát hiện khá sâu sắc, tinh tế về con người Xuân Quỳnh, thơ Xuân Quỳnh. Người viết đã thấy, ngay từ “Chồi biếc”, mặc dù còn quá trẻ cả tuổi đời lẫn tuổi thơ, nhưng Xuân Quỳnh đã có ý thức về thời gian: đang cùng anh sóng bước “tay ấm trong tay” đã nghĩ đến lúc “hết phiên” và sẽ bước qua đây là những cặp tình nhân khác (tr. 69 – 70). Theo năm tháng, ý thức đó ngày càng rõ rệt trở thành cảm giác về sự biến đổi. Thơ Xuân Quỳnh có sự nhạy cám về sự chảy trôi của thời gian, sự đổi thay của sự vật, con

8

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

người. Bởi thế mà thơ Xuãn Quỳnh thường có những tương quan đối lập tạo cho câu thơ những bất ngờ. đa dạng… Với một bài viết ngắn, đánh giá của Vương Trí Nhàn đã ghi nhận được những nét nổi bật đặc sắc trong hổn thơ, giọng thơ Xuân Quỳnh: “Chưa phải lúc tổng kết vé thơ Xuân Quỳnh, vì tác giả đang viết, nhưng có thể tin chỉ với những bài thơ hôm nay, Xuân Quỳnh mới có những điều cần thiết đối với một tác giả thơ, một cách nghĩ, một nhân cách nói của riêng mình” (tr. 79). Phát hiện của Vương Trí Nhàn ờ thời điểm ấy rất quan trọng, sẽ mờ ra một hướng tiếp cận mới trong việc chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật và tìm hiểu phong cách thơ Xuân Quỳnh. 2.2. Sau năm 1988: Cuộc đời bất hạnh của Xuân Quỳnh được đánh dấu bằng cái ngày định mệnh 29/8/1988, kết thúc chặng đường thơ hơn hai mươi năm của Xuân Quỳnh. Sau sự ra đi đột ngột ấy, ngưòi ta chợt nhận ra một sợi dây vô hình, bền vững gắn kết cuộc đời chị với những gì chị để lụi trong thơ. Và rồi, khi những bông cúc vàng – loài hoa mà chị yêu thích – phú đầy ngôi mộ, những người thân của chị, bạn bè chị, cá những người không biết chị nhưng yêu thơ chị chỉ biết làm vợi đi nỗi tiếc thương bằng những bài viết về chị, về thơ chị. Từ năm 1988 trở lại đây – nhất là khi tập thơ “Chót út”, “f/oa cỏ may” (Chữ dùng của Ngô Vãn Phú) ra mắt bạn đọc trên các báo – tạp chí có nhiều bài viết về chị hơn. Một loạt các bài viết, công trình nghiên cứu về cuộc đời, sáng tác của Xuân Quỳnh đã ra mắt công chúng: – Thơ viết tặng anh (NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, Lời bạt của Mai Quốc Liên). – ThơXiiân Quỳnh (Nhiều tác giả – NXB Tác phẩm mới, 1989). – Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh gửi lợi (Nhiều tác giả – Hội Văn học – Nghệ thuật Đà Nẵng, 1989). – ThơXiiứn Quỳnh (NXB Hội nhà văn, 1990, Ngô Văn Phú sưu tầm biên soạn). – Xiián Quỳnh – Lim Quang Vũ – Tình yêu và sự nghiệp (NXB Hội nhà văn, 1994). – Xiiãn Quỳnh – một nửa cuộc đời tôi (Đông Mai, NXB Khoa học xã hội, 1995). – Thơ Xuân Quỳnh (Ngô Thị Thịnh tuyển chọn, NXB Hội nhà văn, 1996). – Xiiàn Quỳnh – Thơ và đời (Vân Long sưu tầm và tuyển chọn. NXB Văn hóa, 1998). – Đối thoại văn chương (Xuân Quỳnh một giọng thơ tình ám ảnh – TS. Nguvễn Thị Minh Thái, NXB Hội nhà văn, 1999 trang 82).

9

Nguyễn Thị Kim Định

10

Nguyễn Thị Kim Định

Pho tig cách thơ Xuân Quỳnh –

Thể giới nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh, Hà Thị Dung (Luận vãn thạc sĩ khoa học,

chuyén ngành Lý luận văn học. năm 2007).

Qua nghiên cứu tài liệu, các công trình nghiên cứu về nữ thi sĩ Xuân Quỳnh, hầu hết các tác giả viết về chị đều có cách cảm nhận riêng, cách nhìn riêng và ở nhiều góc độ khác nhau. Ngay trong điếu văn đọc tại lễ tang Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ, Vũ Tú Nam đã xúc động viết: con người Xuân Quỳnh cũng như ngòi bút của chị thật là đa dang, có vẻ cảm tính bồng bột mà lại trí tuệ, lắng sâu. Tác giả khẳng định “Thơ Xuân Quỳnh là thơ của một tấm lòng trung thực, luôn luôn gắn bó với đất nước và nhân dân (…) thơ chị trong sáng, cái trong sáng đã được gạn lọc qua nhiều nỗi đau” Năm 1989, NXB tác phẩm mới cho ra đời cuốn “‘Thơ Xuân Quỳnh”. Cuốn sách được làm trong sự tiếc thương, trân trọng đối với một tài năng đang à độ chín, đã tập hợp một số bài viết về Xuân Quỳnh và chọn in một số bài tiêu biểu trong gia tài thơ chị để lại. Nãm 1994, NXB Hội nhà văn cho ra mắt cuốn “Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ – Tình yêu và sự n g h i ệ p đề cập đến bản sắc và sức sáng tạo của nhà thơ nữ này. Cuốn sách đã ghi lại những cảm nhận về thơ Xuân Quỳnh, phần lớn là của bạn bè, đổng nghiệp cùng các nhà nghiên cứu: Nguyễn Quân, Chu Văn Sơn, Đoàn Thị Đặng Hương, Nguyễn Thị Minh Thái, Lê Minh Khuê, Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, Lưu Khánh Thơ… Các tác giả đó là những người có đóng góp đáng kể trong quá trình tìm hiểu, đánh giá thơ Xuân Quỳnh. Với con mắt họa sĩ, Nguyễn Quân phát hiên trong thơ Xuân Quỳnh đậm đặc các chi tiết, hình ảnh của thiên nhiên. Hình ảnh trong thơ thường giản dị, thậm chí không có gì mới, ít chọn lọc nhưng lại khổng gây nhàm chán vì cảm giác tươi mới và cảm động. Theo tác giả, ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh cũng là ngôn ngữ đời thường, không hoa mĩ. Thơ chị là loại thơ của hình ảnh thị giác. Câu thơ “rà/ có duyên mà không làm dáng”. Điều đáng chú ý là bài viết đã chỉ ra một đặc trưng về giọng điệu Ihơ Xuân Quỳnh với tên gọi, hình ảnh – gợi cảm “Phong cảnh Ỉ T một giọng thơ phong phú luôn sôi động, trẻ trung, tươi mới. Giọng thơ ấy cũng mang đậm chất nữ tính từ cách chọn lọc gam màu đến cái nhìn sự vật, nhưng mặt khác ớ đó lại có những khao khát mãnh liệt, khao khát đi xa đến tận cùng mơ ước, tần cùng khát vọng. Với “Phong cảnh 1 T Nguyễn Quân đã bước đẩu thổ hiện cái nhìn khá sắc sảo, tinh tế và rất thi ca về thơ Xuân Quỳnh. Nãm 1995, NXB Khoa học xã hội xuất bản cuốn hồi ký của Đông Mai – chị ruột Xuân Quỳnh với nhan đề: “Xuân Quỳnh – một nửa cuộc đòi tôi”. Bằng sự xúc động chãn thành, tác giả hồi tưởng lại những năm tháng thăng trầm, vất vả, nhiều

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách they Xuân Quỳnh niềm vui nhưng cũng không ít nỗi buồn trong cuộc đời người phụ nữ, người vợ. người mẹ. nhà thơ Xuân Quỳnh. Qua đó, người viết giúp ta dựng lại chân dung chị, tính cách chị, là cơ sở để chúng ta soi chiếu giữa tác phẩm và cuộc đời nhà thơ, từ đó tìm ra tư tưởng nghệ thuật, phong cách thơ chị. Cũng năm 1995, NXB Văn hóa cho ra mắt bạn đọc cuốn sách “Xuàn Quỳnh – thơ VÀđời”, in lại một số bài viết về Xuân Quỳnh đã xuất bản năm 1990, tuyển thơ và trích 20 bài của tập thơ “Chót út” – “Hoa cỏ may”. Cho đến nay, qua việc tái bản nhiều lần thơ Xuân Quỳnh, bình thơ chị trên các tạp chí, báo Văn nghệ, Giáo dục thời đại, Tiền phong… và những phương tiện thông tin nghe nhìn khác, có thể thấy được sức sống, sức hấp dẫn của thơ Xuân Quỳnh. Điều đó chứng tỏ “chị là hiện tượng rất quan trọng của nền thơ chúng ta” [45; 138]. Dù chưa có bài viết nào nghiên cứu một cách toàn diện, nhưng từ việc tìm hiểu con người, cuộc đời Xuân Quỳnh, đặc biệt từ chính thơ chị, các tác giả cũng đã khắc họa được những nét cơ bản nhất trong phong cách thơ chị. Các cuốn sách của Vân Long, Ngân Hà, Vũ Thị Kim Xuyến đã tập hợp được nhiều bài viết về Xuân Quỳnh. Đó là những kí ức, cảm nhận của bạn bè, đồng nghiệp và người thân dành cho chị. Ngoài những tình cảm yêu thương, nhớ nhung, luyến tiếc, một số bài viết đã đề cập đến phong cách sáng tạo nghệ thuật của thơ chị. Trong bài “Thơ tình Xuân Quỳnh – sự thê hiện sức mạnh của một lảm hổn phụ nữ” [25;96], tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc đã khẳng định Xuân Quỳnh có “trái tim yêu rộng mở, ỏm trùm” và chính nhờ có trái tim yêu thương ấy, Xuân Quỳnh thực sự là “biểu hiện của một tâm hồn phụ nữ rất phong phú” với một “tâm hồn thơ trong sáng, yêu đời, trẻ trung, hồn nhiên” [25; 105]. Mảng thơ tình yêu của Xuân Quỳnh có lẽ là nơi gập gỡ của nhiều cây bút, là nơi các tác giả khẳng định tài năng của chị. Nguyễn Thị Minh Thái qua bài viết “Mộ/ giọng thơ tìm ám ảnh” đã gọi vẻ đẹp thơ Xuán Ọuỳnh là vẻ đẹp “đẫm tình” Thơ chị là những câu thơ không thuận bằng, trắc khôns dễ thuộc lòng nhưng sẽ mắc lại ở hổn người và trở thành những câu thơ “thuộc nỏm lòng”. Nguyễn Thị Minh Thái đã nhận xét rất hình ảnh về thơ Xuân Quỳnh “Những câu thơ ấy giống hệt như những giọt nước sau cơn mưa qua, còn đọng lại trên lá cây. Chỉ cần một làn cảm xúc chợt đến, khẽ chạm vào lá, là những câu thơ ấy sẽ rơi rụng ngay xuống vùng tâm thức và mổn một hiện lên giữa lòng ta… Có lẽ cái “khát vọng tình yêu” từng thiêu đốt thơ Quỳnh cũng thiêu đốt luôn cả người đọc nó” [25; 121].

12

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

__

14

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

đã trở thành một hiện tượng nghê thuật độc đáo cho nhiều nhà nghiên cứu và phê bình văn học viết về chị. Ngoài ra, còn có rất nhiều bài viết dưới dạng bình giảng thơ Xuân Quvnh được tuyển chọn vào trường THPT như bài viết của Nguyễn Vãn Long. Trần Đăng Xuyền, Hà Minh Đức, Nguyễn Đãng Mạnh… Bên cạnh những bài viết đã đăng trên báo, trên sách là các công trình nghiên cứu về để tài Xuân Quỳnh của các nghiên cứu sinh, thạc sĩ, các sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp… Trong luận văn thạc sĩ “Những chặng đường thơ Xuân Quỳnh”. Chu Thị Thơm cũng đã đi sâu tìm hiểu các chặng đường thơ Xuân Quỳnh, quá trình vận động cùa cái tôi trữ tình trong thơ chị qua hai giai đoạn: trước và sau chiến tranh, đê từ đó khái quát quá trình sáng tạo của Xuân Quỳnh, khẳng định vị trí của Xuân Quỳnh trong nền thơ hiện đại. Nói về thơ tình yêu của Xuân Quỳnh, Chu Thị Thơm gọi đó là: “Một tri thức và văn hoá yêu của Xuân Quỳnh”. Đó là một nhận xét rất hay và tinh tế về thơ tình yêu Xuân Quỳnh. Trong báo cáo khoa học “Cảm thức thời gian trong thơ nữ sĩ Xuân Quỳnh”. Phạm Thị Kim Anh đã đưa ra một cái nhìn sâu sắc hơn về một khía cạnh trong thư Xuân Quỳnh. Đó là Thời gian. Từ đó gợi cho ta nhiều suy nghĩ về quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ… Tuy vậy, những công trình nghiên cứu, những bài viết về Xuân Quỳnh trước và sau năm 1988 mới chỉ dừng lại ở việc tuyển chọn, biên soạn hoặc là cảm nhận, đánh giá, nghiên cứu về Xuân Quỳnh, về thơ Xuân Quỳnh trên một số bình diện. Qua quá trình tổng hợp, phân tích, thống kê và nghiên cứu chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào về phong cách thơ Xuân Quỳnh. Đó chính là lý do để chúng tôi đi sâu nghiên cứu phong cách thơ Xuân Quỳnh. Các bài viết trên là nguồn tư liệu quý giá đổ chúng tôi tiếp tục viết về chị. 3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu: 3.1. Mục đích : Luận văn hướng tới mục đích khám phá những đặc điểm, nét độc đáo tạo nên phong cách thơ Xuân Quỳnh. Từ đó, chúng ta có thể đánh giá những sáng tạo và đóng góp của Xuân Quỳnh cho nền nghệ thuật thơ đương đại; khẳng định vị trí cúa thơ Xuân Quỳnh trong nền Văn học Việt Nam hiện đại.

15

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

16

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh 4.2. Phương pháp so sánh, dói chiếu: Luận văn sứ dụng phương pháp này để làm rõ giọng điệu, phong cách thơ Xuân Quỳnh, những nét độc đáo trong phương thức biểu hiện của ngôn ngữ thơ. hình ánh thơ, các quan niệm về thời gian, không gian… Phương pháp này, một mặt được áp dụng với các tác phẩm của chính tác giá; mặt khác, với các tác phẩm của các tác giả cùng thời. Điều này, giúp chúng ta thấy được sự độc đáo trong phong cách của tác giả, cũng như thấy được điểm gặp gỡ và sự khác biệt giữa Xuân Quỳnh với các tác giả khác. Mục đích của phương pháp này là khẳng định những đóng góp của Xuân Quỳnh, phát hiện những đặc sắc trong thơ Xuân Quỳnh, thấy được sự khác biệt trong phong cách thơ của tác giả so với một số gương mặt thơ khác. 4.3. Phương pháp phán tích, chứng minh: Đây là một phương pháp không thể thiếu được của quá trình phân tích, cảm thụ thơ. Với đề tài này, chúng tôi tiến hành phân tích kỹ một số tác phẩm, hình tượng thơ… có tác dụng soi sáng và khắc sâu phong cách thơ Xuân Quỳnh. 4.4. Phương pháp hệ thông: Việc nghiên cứu một tác giả được xem như nghiên cứu một chính thể nghệ thuật và một chỉnh thể nghệ thuật bao giờ cũng có tính hệ thống. Mặt khác, phong cách không phải là một khái niệm “dĩ thành bất biển”, nó vừa có tính đa dạng nhưng đồng thời cũng có tính thống nhất. Do vây, chúng ta phải tìm được tính ổn định, thống nhất trong tính đa dạng của phong cách. Để luận văn giàu tính khoa học và có hệ thống, chúng tôi sẽ phối hợp chật chẽ giữa 4 phương pháp trên để có thể khẳng định một cách đầy đủ, chính xác, giàu sức thuyết phục về phong cách thơ Xuân Quỳnh. Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng các thao tác nghiên cứu cùa thi pháp học, phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu nhằm đi đến xác định phong cách riêng độc đáo của Xuân Quỳnh.

17

Nguyễn Thị Kim Định

18

Nguyễn Thị Kim Định

Phong cách thơ Xuân Quỳnh

DẪN LUẬN: PHONG CÁCH Phong cách là một trong những khái niệm được sử dụng rộng rãi và bàn luận nhiều nhất không những trong sáng tác, nghiên cứu vãn học mà còn trong nhiều ngành khoa học khác, kê cả trong đời sống xã hội. Phong cách được hình dung như sau: Phong cách là những “nét”, “kiểu “, “thể”, “điệu ” riêng biệt có tính ổn định và độc đáo của đôi tượng. Trong sáng tác và nghiên cứu văn học, khái niệm phong cách đã được biết đến ngay từ thời cổ đại. Trước hết là ỏ phương Tây với các đại biểu như Platôn. Aristôle… “Tính cách thế nào thì phong cách thế ấy” (Platôn), “Lời nói là diện mạo cùa tâm hồn” (Sinle). Vào thế kỷ sau, ở phương Đông, nhà lý luận văn học nổi tiếng Lưu Hiệp cũng thống nhất ý kiến với các đại biểu phương Tây khi ông cho rằng “văn như kỳ nhãn”. Nhưng ông đã tiến xa hơn các nhà triết học cổ đại phương Tây ở việc dành riêng hai chương ‘T hể tính” bàn về phong cách tác giả và “Định thể” bàn về phong cách thể loại. “Theo Lưu Hiệp, nội dung quyết định thể tài và mỗi thể tài cũng có phong cách riêng… Bởi vậy, người lấy kinh điển làm mẫu mực thì tự nhiên đi vào cái đẹp cổ điển, trang nhã, người theo kiêu cách thể “tao” thì tự nhiên hướng tới vé đẹp diễm lệ. siêu phàm…” [92; 90-91]. Sang thế kỷ XVIII, Butfon định nghĩa: “Phong cách chính là bản thân con người”. Đến thế kỷ XÍX, cuộc bàn luận về phong cách ngày càng trở nên sôi nổi với sự góp mặt của các đại biểu như nhà văn Stendhal, Balzac, các nhà lý luận văn học như Saint – Beuve, các triết gia như Herbert. Spencer, các nhà ngôn ngữ học như Steithal… Xuất hiện muộn hơn, song các công trình nghiên cứu của các nhà văn, nhà ]ý luận văn học Việt Nam đã bước đầu bắt nhịp với công cuộc tìm kiếm về mặt lý luận đối với vấn đề phong cách trong vãn học. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: Một số vấn dê thi pháp học hiện đại (Trần Đình Sử), Dẫn luận phong cách học (Nguyền Thái Hòa), Nhà văn tư tưởng và phong cách (Nguyễn Đăng Mạnh); Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiểu (Phan Ngọc); Những thế giới nghệ thuật thơ (Trần Đình sử); Thi pháp hiện đại (Đỗ Đức Hiểu)… Tác phẩm và chân dung (Phan Cự Đệ), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu (Tôn Phương Lan)… Khi tổng kết lại các thành tựu cơ bản đã đạt được, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã thống nhất và đưa ra những kiến giải có ý nghĩa khoa học tích cực: “Phong cách là một phạm trù thẩm mỹ, chi’ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ

Nguyễn Thị Kim Định

Phong Cách Sáng Tác Của Nhà Văn Nam Cao

1. Cuộc đời. – Tên của nhà văn là Trần Hữu Tri. Nam Cao là bút danh. Bút danh đó được ghép giữa chữ đầu của tên huyện và tên tổng. – Quê quán: Làng Đại Hoàng, phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam. Nam Cao sinh ra ở vùng đồng chiêm trũng Bắc Bộ. Vùng quê đó đi vào sáng tác của Nam Cao với tên làng Vũ Đại. – Gia đình: Nam Cao xuất thân trong gia đình nông dân nghèo, đông con. Cuộc sống túng thiếu của gia đình được diễn tả nhiều lần trong tác phẩm của ông. – Cuộc đời: Làm nhiều nghề để mưu sinh, nên giàu vốn sống. Trang viết của Nam Cao chân thực. Ông tham gia cách mạng, anh dũng hi sinh năm 1951. Nam Cao đã sống cuộc đời của một nhà văn, nhà giáo, nhà báo, cuộc đời của một chiến sĩ cách mạng. 2. Con người. Con người nhà văn Nam Cao có ba đặc điểm chi phối đến sáng tác của ông. – Nhà văn Nam Cao mang tâm trạng bất hoà sâu sắc đối với xã hội đương thời. – Giàu ân tình đối với những người nghèo khổ. – Nhà văn Nam Cao luôn suy tư về bản thân, tự đấu tranh để tự vượt lên chính mình. Bề ngoài tỏ ra lạnh lùng nhưng bên trong đời sống nội tâm phong phú. 3. Quan điểm nghệ thuật. Trước cách mạng Nam Cao gián tiếp trình bày quan điểm sáng tác thông qua hai tác phẩm “Đời thừa” và “Giăng sáng”. Thông qua hai tác phẩm này, Nam Cao quan niệm: – Văn học phải chân thực, phản ánh đúng bản chất cuộc sống. Quan điểm này được trình bày qua lời của Điền trong truyện “Giăng sáng”. Trong truyện “Giăng sáng”, nhà văn Điền phát biểu: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật có thể chỉ là những tiếng đau khổ kia thốt ra từ những kiếp lầm than”. – Nghề văn cần sáng tạo. Nhà văn Hộ trong truyện “Đời thừa” phát biểu: “Văn chương không cần những người thợ khéo tay làm theo một và kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những ai biết đào sâu, biết tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa có”. Hộ quan niệm: Văn chương phản ánh cuộc sống nhưng không nên sao chép y nguyên hiện thực cuộc sống. Nhà văn cần phải sáng tạo. – Nhà văn cần có trách nhiệm với cuộc sống. Văn sĩ Hộ trong “Đời thừa” coi trọng trách nhiệm của nhà văn đối với cuộc sống “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”. Quan điểm của nhân vật Hộ, của nhân vật Điền cũng chính là quan điểm sáng tác của Nam Cao. Sau cách mạng, quan điểm sáng tác của Nam Cao có sự thay đổi. Nam cao cho rằng: – Cuộc sống phải đặt trên văn chương, văn chương phải vì con người. – Văn chương là vũ khí đấu tranh cách mạng. 4. Sự nghiệp văn học. Nam Cao đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại 60 truyện ngắn, 1 tiểu thuyết. a. Các đề tài chính. Trước cách mạng, nhà văn Nam Cao sáng tác tập trung ở hai mảng đề tài: Đề tài người trí thức nghèo và đề tài người nông dân nghèo. – Đề tài người trí thức nghèo. Các tác phẩm tiêu biểu: Đời thừa, giăng sáng, sống mòn. Viết về người trí thức, Nam Cao diễn tả tấn bi kịch tinh thần của họ. Nhân vật về người trí thức của Nam Cao là nhà văn, nhà giáo. Họ sống có mơ ước cao đẹp, có lí tưởng lớn lao nhưng hiện thực cuộc sống không cho phép họ thực hiện niềm mơ ước đó. Nhân vật người trí thức trong truyện của Nam Cao phải sống cuộc sống vô ích, trở thành những con người thừa. Thầy giáo Thứ trong tiểu thuyết Sống mòn đã ý thức được bi kịch của cuộc đời mình: “Nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!”, “Chết là thường. Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã”. Tập trung diễn tả bi kịch của người trí thức, Nam Cao lên án hiện thực xã hội đã giết chết niềm mơ ước của con người. – Đề tài người nông dân nghèo. Các tác phẩm tiêu biểu: Chí Phèo, một bữa no, tư cách mõ. Viết về người nông dân, Nam Cao diễn tả sự tha hóa, biến chất của họ. Sự áp bức, bóc lột, cái đói đã đẩy người nông dân vào tình cảnh túng quẩn, bần cùng. Họ đánh mất cả tính người lẫn hình người. Viết về bi kịch của người nông dân, Nam Cao kết tội chính sự tàn bạo của giai cấp thống trị đã hủy diệt bản tính tốt đẹp của người dân lao động. Nhà văn sâu sắc khám phá, khẳng định vẻ đẹp của con người ngay cả khi họ bị vùi dập, bị cướp đi nhân tính lẫn nhân hình. Viết về người trí thức hay viết về người nông dân, Nam Cao đều đề cao quyền sống của con người Sau cách mạng, Nam Cao dùng ngòi bút để phục vụ kháng chiến. Các tác phẩm chính: “Nhật kí ở rừng”, “Đôi mắt”, “Chuyện biên giới”. b. Phong cách nghệ thuật. – Nam Cao có sở trường trong việc miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật. – Ngôn ngữ truyện của Nam Cao tự nhiên, sinh động. – Nam Cao thành công trong việc xây dựng những đoạn đối thoại, những dòng độc thoại nội tâm. – Văn Nam Cao lạnh lùng, giàu tính triết lí.

Những tin cũ hơn

Dàn Ý Khổ 5 6 7 Bài Sóng Của Tác Giả Xuân Quỳnh

Dàn ý khổ 5 6 7 bài Sóng

I. Mở bài

Sóng của Xuân Quỳnh là bài thơ hay về đề tài tình yêu đôi lứa, nỗi nhớ da diết và chung thủy một lòng trong tình yêu thể hiện rất đậm nét trong khổ 5 6 7 của bài thơ. Khổ 5 6 7 cũng là đoạn hay và đặc sắc nhất trong bài thơ Sóng.

II. Thân bài

Nỗi nhớ nhung da diết trong tình yêu

– Trong khổ 5 tập trung vào nỗi nhớ trong tình yêu của chính tác giả. Sóng dù “dưới lòng sâu” hay con sóng “trên mặt nước” đều có chung một nỗi nhớ đó là “nhớ bờ”.

– Sóng hiện thân con gái khi yêu vô cùng mãnh liệt, nhớ nhung người yêu tựa như những con sóng liên tiếp đang xô vào bờ.

– Người con gái phải yêu thương, nhớ nhung nhiều lắm mới thể hiện cảm xúc “Ôi con sóng nhớ bờ”.

– Nỗi nhớ đó thường trực cả ngày lẫn đêm, xâm chiếm tâm trí người con gái đến cả khi chìm vào giấc mơ.

Sự thủy chung trong tình yêu

– Con sóng dù có xuôi về phương Bắc hay phương Nam cách xa, trắc trở về địa lý nhưng có điểm chung đều hướng vào bờ.

– Hình ảnh sóng vỗ vào bờ tựa như người con gái vượt qua nhiều khó khăn, trắc trở để hướng đến tình yêu, một lòng thủy chung sắc son.

– Thủy chung là đức tính quý báu của người con gái Việt Nam và nhà thơ Xuân Quỳnh nguyện một lòng chung thủy suốt đời.

– Chính sự thủy chung sẽ giúp người con gái vượt qua nhiều khó khăn, thử thách để đến với tình yêu đích thức.

Tình yêu sẽ chiến thắng mọi thử thách

Khổ 7 như một lời khẳng định tình yêu đích thực có thể vượt qua mọi khó khăn, rào cản.

– Đại dương mênh mông có biết bao con sóng nhưng chúng đều sẽ hướng vào bờ.

– Sức mạnh, niềm tin của tình yêu sẽ giúp con người hạnh phúc.

– Tác giả ca ngợi tình yêu đẹp và sức mạnh vượt qua mọi thử thách.

– Con người sẽ hạnh phúc trong tình yêu như những con sóng ngoài đại dương chắc chắn sẽ vào bờ.

Cả 3 khổ thơ tác giả sử dụng con sóng là hình ảnh ẩn dụ của người con gái trong tình yêu. Kết hợp các biện pháp tu từ, sự đối lập tạo nên thành công của bài thơ Sóng đặc biệt trong khổ 5 6 7.

Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh luôn là bài thơ hay về tình yêu được rất nhiều thế hệ trẻ yêu thích.

Lớp 12 –

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phong Cách Sáng Tác Của Xuân Quỳnh trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!