Đề Xuất 12/2022 # Phong Cách Nghệ Thuật Thơ Xuân Diệu / 2023 # Top 17 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 12/2022 # Phong Cách Nghệ Thuật Thơ Xuân Diệu / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phong Cách Nghệ Thuật Thơ Xuân Diệu / 2023 mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu

15:36:00

Làm văn nghị luận

0 Comments

Xuân Diệu – nhà thơ mới nhất trong những nhà Thơ mới, nhà thơ của sự sáng tạo, hấp dẫn người đọc bởi phong cách độc đáo được biểu hiện qua các phương diện: cách nhìn hiện thực và cách phản ánh hiện thực. Blog Làm văn nghị luận giới thiệu đến bạn đọc phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu qua bài viết.

1. Một tâm hồn đặc biệt nhạy cảm trước sự vận động của thời gian.

Rõ ràng không phải đến Xuân Diệu thơ VN mới nói đến thời gian. Nhưng chỉ với XD thời gian mới trở thành một nỗi ám ảnh. “Thời gian trong thơ ông không chỉ là cảm xúc, là thi hứng, mà còn là nhân tố kiến trúc của tác phẩm nghệ thuật. Có thể nói, XD luôn nhìn đời bằng con-mắt-thời-gian; “chất Xuân Diệu”, phong cách thơ ông là ở đó.”

Ở XD thời gian đã tạo nên một sức ép lớn “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. Ngay khi đang thanh niên thi sĩ đã vẽ ra cái già, cái chết để báo động:

                         Hết ngày, hết tháng, hết!em ơi

                         

Kinh hãi không gian quặn tiếng còi

(Hết ngày hết tháng)

Trong thơ XD, tác giả đem đến tuổi trẻ tiếp thêm sinh khí cho sự vật, thời gian cũng đem lại sự phôi pha, héo úa. Nhà thơ đã cảm nhận thời gian trôi đi ngay trong từng khoảnh khắc của hiện tại:

                         

Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua

                         

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già

(Vội vàng)

Nhạy cảm với bước đi của thời gian, kèm theo đó là sự lo âu:

                         

Thời gian rót từng giọt buồn tê héo

                         

Sự sống đi như hương bỏ hoa chiều

(Thanh niên)

Những câu thơ tả bước đi của thời gian thường là những câu thơ cực kì tinh vi của XD:

                         

Hoa thu không nắng cũng phai màu

                         

Trên mặt người kia in nét đau

(Hoa nở để mà tàn)

                         

Gió lạnh rồi đây sắp nhớ thương

                         

Sương the bảng lảng bạc cây tùng

Và ý thức sự trôi chảy của thời gian nên XD luôn vội vàng, cuống quýt:

                         

Mau lên chứ, vội vàng lên với chứ

(Vội vàng)

2. Xuân Diệu – một trái tim luôn hướng tới tuổi trẻ, tình yêu nơi trần thế bằng niềm yêu đời, yêu cuồng nhiệt, sôi nổi:

Bởi “khát khao giao cảm với đời” nên cái “tôi” XD luôn thiết tha yêu sống, cuộc sống hiểu theo nghĩa trần thế nhất. Ông kêu gọi “sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn” lòng ham sống bộc lộ hết mức:

                         

Kẻ đựng trái tim trìu máu đất

                         

Hay tay chín móng bám vào đời

(Hư vô)

Còn trong địa hạt của tình yêu, ông hoàng thơ tình đã mang đến cho thơ tình yêu một quan niệm đầy đủ nhất và cách thể hiện phong phú, chân thực và tinh hoa nhất. Thơ tình XD luôn dào dạt:

                         

Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ

                         

Phải nói yêu đến trăm bận ngàn lần

(Phải nói)

                         

Đã hôn rồi hôn lại

                         

Hôn đến mãi muôn đời

                         

Đến tan cả đất trời

                         

Anh mới thôi dào dạt

(Biển)

Chắc hẳn những người yêu nhau nhiều thế hệ sẽ khó mà quên được câu thơ diễn tả những rung động đầu đời này:

                         

Hôm nay trời nhẹ lên cao

                         

Tôi buồn, không hiểu vì sao tôi buồn

(Chiều)

Và sẽ luôn ngạc nhiên trước một nỗi khát khao thật táo bạo mà thành thực:

                         

Những lúc môi ta kề miệng thắm

                         

Trời ơi, ta muốn uống hồn em!

(Vô biên)

Và lòng yêu cuộc sống, ham sống, XD sống trẻ, sống yêu cho đến phút cuối cùng:

                         

Xin hãy cho tôi được giã từ… 

                         

vẫy chào cõi thực để vào hư. 

                         

Trong hơi thở cuối dâng trời đất 

                         

cũng vẫn si tình đến ngất ngư…

(Gĩa từ)

XD say tình và say cảnh. Thiên nhiên trong thơ XD tràn trề nhựa sống được khám phá bằng lăng kính ái ân (Vội vàng, Thơ duyên).

3. Xuân Diệu – nhà thơ của sự nỗ lực cách tân thơ Việt và “thức nhọn giác quan”

a) Xuân Diệu, nhà thơ của sự cách tân:

Một trong những đóng góp quan trọng nhất của XD là sự nỗ lực cách tân thơ Việt, sự bền bỉ học hỏi vận dụng cấu trúc câu thơ Tây phương hoàn thiện thơ trữ tình điệu nói cùng nhiều sáng tạo những cách nói mới.

– XD luôn có ý thức vận dụng ngôn ngữ thơ. Ông quan niệm rằng mỗi nhà thơ “phải là nhà kỹ thuật lớn của ngôn ngữ”. Ngôn ngữ thơ XD được cá thể hóa mạnh mẽ, mang rõ nét dấu ấn riêng, lối viết khỏe khoắn và luôn cựa quậy trong từng câu chữ, gây ấn tượng mạnh mẽ: “kẻ uống tình yêu dập cả môi”, “hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”…

– Lối dùng từ độc đáo, đặc biệt là các động từ mạnh, từ láy, biện pháp tu từ:

                         

Hãy tuôn âu yếm, lùa mơn trớn

                         

Sóng mắt, lời môi – nhiều thật nhiều!

(Vô biên)

                         

Ta bấu răng vào da thịt ở đời

                         

Ngoàm sự sống để làm êm đói khát

(Thanh niên)

hay

                         

Sắc hạ rung rinh bốn phía hè

                         

Hồn ai hiu hắt lá xanh tre

(Nhớ mông lung)

hay

                         

Những luồng run rẩy rung rinh lá…

(Đây mùa thu tới)

– Cách diễn đạt táo bạo, mạnh mẽ, lối vắt dòng, nhịp điệu thơ, hình dáng câu thơ mang đậm dấu ấn cá nhân:

                         

Một tối bầu trời đắm sắc mây,

                         

Cây tìm nghiêng xuống nhánh hoa gầy,

                         

Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ

                         

Nghiêng xuống làn rêu, một tối đầy

(Với bàn tay ấy)

hay

                         

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

                         

Tương tư nâng lòng lên chơi vơi…

(Nhị hồ)

b)Thơ XD tràn đầy cảm xúc và thức nhọn giác quan:

– XD tuyên ngôn về thơ:

                         

Sống toàn tâm, toàn trí, sống toàn hồn,

                         

Sống toàn thân và thức nhọn giác quan

(Thanh niên)

– Một thế giới nghệ thuật riêng tràn đầy cảm xúc, cảm giác, nhất là trong tình yêu:

                         

Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh

                         

Lung linh ánh sáng, bỗng rùng mình

(Nguyệt cầm)

hay

                         

Hôm nay trời nhẹ lên cao

                         

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn

                         

[…]

                         

Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều

                         

Lòng không sao cả hiu hiu khẽ buồn

(Chiều)

– Dùng nhiều từ biểu hiện cảm giác: run, rờn, rờn rợn, nức…

                         

Tôi run như lá, tái như đông

(Hư vô)

                         

Những luồn run rẩy rung rinh lá

(Đây mùa thu tới)

c) Sáng tạo ngôn từ – thức nhọn mọi giác quan:

                         

Hơn một loài hoa đã rụng cành

                         

Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh

(Đây mùa thu tới)

                         

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần

(Vội vàng)

Share this post:

Jade Trinh

Là nước phù sa màu mỡ đồng bằng – Là vạn dặm xanh biếc rừng hoang – Là sóng ngầm bao la bạc ngàn biển cả – Là ngọc lấp lánh tim mình – Là JadeTrinh.

You Might Also Like

Phong Cách Thơ Xuân Diệu: Nhận Định, Đánh Giá Đặc Điểm Thơ Xuân Diệu / 2023

Phong cách thơ Xuân Diệu trong phong trào Thơ Mới

Như đã nói, phong trào Thơ mới thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà thơ. Thơ mới đã chiếm được ưu thế tuyệt đối và đã mở ra một thời kì cho nền văn học thơ ca Việt Nam. Cũng kể từ đó, nhiều nhà thơ với phong cách thơ độc đáo khác lạ đã xuất hiện và nổi lên như một vì sao sáng. Trong đó phải kể đến Xuân Diệu – ông là biểu tượng rực rỡ nhất cho những sáng tạo của phong trào thơ mới.

Một nét thơ vừa riêng vừa chung là nét thơ buồn, cô đơn pha lẫn chút lãng mạn mà mỗi nhà thơ thể hiện đều có cái hay riêng, cái khác lạ không thể lẫn với nhà thơ khác được. Vì sao họ lại có chung một nỗi niềm như vậy, có lẽ vì do hoàn cảnh nước ta lúc bấy giờ khiến họ hoang mang, không định hướng được. Và các nhà thơ ấy cũng không chấp nhận được cuộc sống bình thường, tầm thường, vô vị như bao người xung quanh, họ không chấp nhận được lối sống đó, họ muốn tìm một lối sống khác đi nhưng mãi vẫn chưa tìm ra. Do đó, họ cảm thấy cô đơn, lạc lõng, bơ vơ giữa xã hội mênh mông, rộng lớn này.

Con người được ví như là trung tâm của thế giới nhưng con người tồn tại trong thế giới nào mới là điều quan trọng để xem xét ? Theo Xuân Diệu, thì con người tồn tại trong một thế giới mà ở đó đầy sự biến đổi, biến đổi về xã hội, biến đổi về nhận thức, biến đổi về thời gian, không gian, đầy sự biến đổi mà không ai có thể lường trước được. Đây cũng là một nét nghệ thuật độc đáo trong sự nghiệp văn chương của ông. Với Xuân Diệu thì không có gì là vĩnh cửu mà chỉ có mọi thứ luân phiên thay đổi theo thời gian, không gian.

Từ cái nhìn đầy sâu sắc, đầy nghệ thuật và đầy cả tính chất triết học như vậy, cái nhìn nghệ thuật của Xuân Diệu hướng đến khía cạnh vạn vật đổi thay, vạn vật sẽ chuyển biến đổi. Thơ của Xuân Diệu là những tiếng lòng là những khao khát trước vẻ đẹp trước cuộc đời bao la rộng lớn này.

Xuân Diệu là người có nhận thức về sự đổi thay, ông hiểu được rằng mọi việc trên đời này đều sẽ sớm đến chóng tàn, không gì là vĩnh viễn, bởi lẻ nếu có vĩnh viễn thì con người sẽ không chết đi, hoa sẽ không tàn. Và nếu có vĩnh viễn thì con người sẽ không biết trân trọng hiện tại. Từ đó, nó đến sự khác biệt trong hồn thơ Xuân Diệu chính là khẳng định sự biến hóa khôn lường của thời gian, của tạo hóa, và sự thật trần trụi của thực tại của hiện tại.

Trong thơ Xuân Diệu, có một ngọn lửa đang hừng hực, rạo rực, cháy bỏng trong tâm hồn Xuân Diệu. Ông biết rằng cuộc vui nào cũng đến lúc chia ly, tình dù sâu đậm đến đâu cũng sẽ phai theo thời gian, nở hoa dù có đẹp đến mấy rồi cũng rơi rụng dần chỉ còn là một cành khô như trong bài thơ :”Hoa nở để mà tàn” ông đã viết:

Người ta chỉ tiếc nuối khi mọi chuyện đã là quá khứ, khi mọi chuyện đã qua nhưng với Xuân Diệu ông tiếc nuối nó khi nó đang đến, khi nó trong khoảnh khắc đẹp đẽ nhất: “Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt”…

Xuân Diệu bắt trọn từng khoảnh khắc của cuộc đời, thể hiện rõ nét qua thơ

Xuân Diệu không chấp nhận được sự chảy trôi của tạo hóa, của vạn vật, của thời gian của không gian, ông luôn tìm cách giữ chúng lại thế nên ông thường “vĩnh cửu hóa” những khoảnh khắc hiện tại, những khoảnh khắc đẹp nhất, rạo rực nhất, cháy bỏng nhất nhất, chỉ để mong chúng đừng trôi qua một cách nhanh chóng, hững hờ. Mặt trời chiếu sáng với những tia nắng sớm, trông thật đẹp đẽ mà bình yên, nhưng những ánh nắng đó chỉ xuất hiện trong những giây phút mà đối với ông là ngắn ngủi nên ông muốn “tắt nắng” đi cũng như muốn “buộc gió” để những cơn gió thoảng hương thiên nhiên trong lành thoáng mát đừng bay đi, mà chung qui lại ông chỉ muốn giữ nguyên vẹn cái sự sống hiện tại mà ông vẫn chưa thể nắm bắt được hết:

Con người là trung tâm của thế giới, của vũ trụ. Mà trong nơi ấy, con người luôn biến đổi đa chiều, cùng hòa vào sự biến đổi của thiên nhiên, của tạo hóa, của vạn vật. Ông luôn muốn khẳng định bản thân ở một vị thế cao nhất, nó sẽ là độc nhất vô nhị, chỉ có một trên đời này, Xuân Diệu là Xuân Diệu, tiếng lòng thơ Xuân Diệu cũng sẽ không lẫn lộn vào đâu được, không thể lẫn lộn với bất kì nhà thơ nào khác:

Đó còn là cái tôi có phần ngông nghênh trước cuộc đời: ” Chân vồng thành những bước nghênh ngang “, ” liếc đời bằng những khóe ham mê “.

Có thể nói bài thơ xúc là chuyên môn nghệ thuật thơ của Xuân Diệu, đó là cảm xúc khát khao của lòng ham sống, trân quý thời gian. Chính vì điều đó nên ông khát khao tận hưởng trọn vẹn từng cảm xúc cho cuộc sống. Ông sống cho thực tại và sống hết mình vì thực tại, Tất cả mọi điều ấy đều được qui tụ vào những ngôn từ văn thơ của ông:

Ông luôn sống mãnh liệu, sống dào dạt và có phần hơi vội vàng từ trong thơ lẫn cả bên ngoài cuộc sống. Ông không chấp nhận một cuộc sống bình thường, một cuộc sống bình thường, tẻ nhạt. Một cuộc sống phẳng lặng ấy khi không chút biến cố nào không phải là cách sống của Xuân Diệu. Ông có thể chấp nhận việc mình có thể bị lãng quên sau này, nhưng ở hiện tại, ông sẽ sống và cống hiến hết sức mình để mọi người biết đến và tôn vinh ông:

Một trong những cảm hứng nổi bật của thời đại thơ ca mới đó chính là nỗi buồn. Đó có thể là nỗi buồn man mác của Huy Cận, nỗi cô đơn sầu thảm đến tuyệt vọng của Chế Lan Viên. Nhưng trong thời đại nỗi buồn ngự trị ấy, Xuân Diệu đã lựa chọn cho mình ngã rẽ riêng. Cô đơn là thế, nhưng ông vẫn sống hết mình cho thực tại, và đây cũng là nét nổi bật trong thơ của ông.

Một cái nhìn thế giới đầy đổi thay như vậy tất yếu sẽ dẫn đến hệ quả là hốt hoảng nhưng đó là cảm xúc của con người nên nó cung sẽ thay đổi khi con người đổi thay. Đối diện với cuộc sống vốn nhiều trắc trở dường như không có gì có thể đảm bảo chắc chắn rằng mọi thứ sẽ vẹn nguyên như ngày đầu gặp gỡ đặc biệt là trái tim. Chính vì con người luôn cảm thấy bất an luôn cảm thấy hoảng sợ trước tình yêu trước sự đổi thay của thời gian, trước sóng gió của cuộc đời.

Thế giới xoay vần. Trong sự biến thiên của không gian, thời gian, con người dường như chỉ có thể bị động, phó mặc cho dòng đời chảy trôi. Con người tuy chỉ là một hạt cát nhỏ nhoi trong vũ trụ bao la rộng lớn này, không thể thoát khỏi quy luật sinh lão bệnh tử của cuộc đời thế nên cuộc đời tưởng rằng dài nhưng thật ra rất ngắn ngủi như mây gió thoảng qua. Chúng ta không thể biết được ngày mai như thế nào nhưng chúng ta có thể biết được ngày hôm nay sống như thế nào. Vì vậy phải vội vàng mà sống. Hơn một lần Xuân Diệu đã giải thích điều này:

Như đã nói, tình yêu luôn là đề tài muôn thuở trong nền văn học thơ ca, nguồn cảm hứng chủ đạo của nhiều nhà thơ, có tình yêu mãnh liệt, có tình yêu cô đơn, có tình yêu bình dị, có tình yêu thầm lặng nhưng sâu lắng. Nhưng tình yêu trong thơ của Xuân Diệu lại mang một sắc thái khác, một quan niệm khác:

Và để không bơ vơ, cô đơn giữa cuộc đời, ông đã lựa chọn bám víu vào tình yêu. Vì vậy tình yêu đã trở thành mục đích sống, là động lực để sống đối với ông:

Bên cạnh niềm khao khát sống mạnh liệt, khao khát tình yêu cháy bỏng thì trong thơ Xuân Diệu còn phảng phất những nỗi băn khoăn, trăn trở của cuộc đời, ông không ngừng đặt ra những câu hỏi thảng thốt, lo âu, những câu hỏi mà trong đó ẩn chứa cả một niềm trăn trở trước cuộc đời:

Vẫn là sự băn khoăn về vô hạn của cuộc đời. Con người thì nhỏ bé mà vũ trụ lại rộng lớn, làm sao biết trước được điều gì sẽ xảy ra… Điều đó nó sẽ đến như thế nào, sẽ ra sao nếu ta đón nhận nó, và sẽ ra sao khi ta không đón nhận nó, vẫn chưa có câu trả lời nào cho ngày mai. Và liệu rằng ngày mai có đến hay không.. Một sự bất lực rõ nét trong thơ ca của Xuân Diệu…

Trong thơ Xuân Diệu ta thấy ngôn ngữ vẫn có những từ cổ quen thuộc: buồn cô liêu, người du tử, buồn tiêu tao, ta như cô khách … Nỗi niềm trân quý cuộc sống ấy đã được chuyển háo vào thơ theo một cách rất riêng. Nhưng cái riêng ấy lại được tạo nên từ cái quen thuộc. Đó là sự kết hợp của truyền thống phương Đông với tinh thần dân chủ hiện đại của phương Tây. Xuân Diệu cũng mượn thiên nhiên để giãi bày nỗi lòng của mình như các nhà thơ xưa dùng bút pháp tả cảnh ngụ tình. Nhưng cái ngụ tình trong thơ Xuân Diệu lại mượn hình ảnh thiên nhiên quen thuộc gần gũi:

Trong thơ Xuân Diệu không chỉ mới mẻ về cách dùng từ, cách đặt câu, hình ảnh mới mẻ mà còn mới ở cái cảm xúc ông mang đến cho người đọc. Ở thời đại Thơ mới, ông thể hiện được cảm xúc mới mẻ, một nỗi niềm khát khao mới, một tình yêu mới, một triết lý sống mới – một sức sống dạt dào, sôi nổi, đầy nhiệt huyết. Và không thể không kể đến đó là một quan niệm nhân sinh mới.

Gợi ý kết đề đánh giá đặc điểm và phong cách thơ Xuân Diệu

Xuân Diệu là một trong những cái tên có sức hút mạnh mẽ trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Ở thi nhân, người ta tìm thấy sự giao cảm mãnh liệt với đời và người. Nếu như trước Cách mạng tháng 8, Xuân Diệu được coi là gương mặt tiêu biểu nhất của phong trào thơ ca lãng mạn và được mệnh danh là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới”.

Khát vọng sống cùng khát vọng đổi mới thơ ca đã hòa quyện cộng hưởng nhuẫn nhuyễn trong phong cách thơ Xuân Diệu để tạo nên tác phẩm nghệ thuật có giá trị. Cũng như khát vọng sống mạnh mẽ, nhiệt tình và sôi nổi, cùng với phong cách thơ Xuân Diệu đầy riêng biệt, thơ của thi sĩ sẽ tiếp tục hành trình trong cuộc sống hôm nay cũng như mai sau.

Please follow and like us:

Đặc Sắc Nghệ Thuật Và Cá Tính Sáng Tạo Của Thơ Xuân Diệu Trước Cách Mạng Tháng Tám 1945 (Phạm Minh Huệ) / 2023

Trang chủ

Môn học

Ngữ văn

Chuyên đề

Đặc sắc nghệ thuật và cá tính sáng tạo của thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám 1945 (Phạm Minh Huệ)

ĐẶC SẮC  NGHỆ THUẬT VÀ CÁ TÍNH SÁNG TẠO CỦA THƠ XUÂN DIỆU TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

I. Xuân Diệu – Cây đời mãi xanh tươi:

          “Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong”, Xuân Diệu đã từng sống ở cả ba miền đất nước. Từ khi còn là một học sinh trung học hay là một viên chức, Xuân Diệu luôn lao động sáng tạo say mê, bền bỉ. Với hơn nửa thế kỉ cầm bút, ông đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ: khoảng 50 tác phẩm thuộc nhiều thể loại: thơ, văn, phê bình, nghiên cứu phê bình văn học và dịch thuật… Ở lĩnh vực nào tài năng Xuân Diệu cũng được ghi nhận, nhưng thơ vẫn là bộ phận sáng tác có giá trị nhất của ông. Xuân Diệu là một trong những nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại.

          Cả cuộc đời sáng tạo nghệ thuật, Xuân Diệu đã nêu một tấm gương cho các thế hệ cầm bút về sự cần cù, say mê, không mệt mỏi, đã để lại sự ngưỡng mộ, khâm phục với bao thế hệ độc giả.

          Khi Thơ mới bắt đầu thắng thế, nếu Thế Lữ được coi là ngôi sao sáng nhất của bầu trời Thơ mới buổi đầu, thì chỉ vài năm sau, ở giai đoạn thứ hai, Thế Lữ phải nhường ngôi “đệ nhất thi sĩ” cho Xuân Diệu. Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh khi nhận xét (và có ý so sánh) một số phong cách các nhà Thơ mới đã tinh tường khái quát: “Hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu…”. “Thiết tha, rạo rực, băn khoăn”, phải là ba tính từ (chứ không phải một) đã thâu tóm đúng thần thái thơ và đời Xuân Diệu. Các nhà phê bình, các nhà thơ, bạn đọc trong và ngoài nước đã không tiếc lời ngợi ca thơ ông, Với Thế Lữ thì Xuân Diệu là “một tâm hồn đằm thắm và rất dễ cảm xúc”, là “nhà thi sĩ của tuổi xuân, của lòng yêu, và của ánh sáng”, còn thơ Xuân Diệu “không phải là văn chương nữa; đó là lời nói, là tiếng reo vui hay tiếng năn nỉ, là sự chân thành cảm xúc, hoặc là những tình ý rạo rực biến lẩn trong những thanh âm”. “Xuân Diệu là người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”. Cả Hoài Thanh và Vũ Ngọc Phan đều có chung một đánh giá: “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà Thơ mới” và “Xuân Diệu đã đem đến cho thơ ca Việt Nam nhiều cái mới nhất”. Hoài Thanh – tác giả của “Thi nhân Việt Nam” dường như đã giành những tình cảm đặc biệt của mình cho thi sĩ của tình yêu thương bằng những lời có cánh: “Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết. Nhưng sự sống muôn hình thức mà trong những hình thức nhỏ nhặt thường lại ẩn náu một nguồn sống dồi dào. Không cần phải là con hổ ngự trị trên rừng xanh, không cần phải là con chim đại bàng bay một lần chín vạn dặm mới là sống. Sự bồng bột của Xuân Diệu có lẽ đã phát biểu ra một cách đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi”.

          Không thể kể hết những ý kiến, những đánh giá của độc giả giành cho “thi sĩ rất giàu lòng yêu dấu” ấy. Tất cả nói lên rằng Xuân Diệu đã có một vị trí khó thay thế trên thi đàn Việt Nam hiện đại. Khi ông xuất hiện, Thế Lữ đã từng reo mừng: “Thế là từ nay, chúng ta đã có Xuân Diệu”. Và khi nhà thơ qua đời, “thế là từ nay chúng ta không còn Xuân Diệu nữa”, “Một cây lớn đổ xuống làm cho cả một khoảng trời trống vắng” (Hà Xuân Trường). Tuy nhiên, sự nghiệp mà Xuân Diệu để lại sẽ còn sống mãi trong lòng người yêu thơ, trong lòng dân tộc, bởi “sự sống còn của một nhà văn là ở tác phẩm”.

II. Phong cách nghệ thuật Xuân Diệu trước CMT8 1945:

          Trong “Bài thơ tuổi nhỏ” sáng tác năm 1933 – khi Xuân Diệu mười bảy tuổi, thi sĩ đã dõng dạc bày tỏ tuyên ngôn sống của mình:

                                         Giơ tay muốn ôm cả Trái đất

                                         Ghì trước trái tim, ghì trước ngực

                                         Cho đầy trước mắt khoảng cô đơn

                                         Bao la muôn trời, sâu vạn vực…

          Đây chính là nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật của ông: niềm khát khao giao cảm với đời, cuộc đời hiểu theoo nghĩa chân thật và trần thế nhất. Khát khao giao cảm – có thể hiểu là những mong ước, mong muốn, hi vọng một cách thiết tha, cháy bỏng được hòa nhập, được tiếp cận, được tâm sự, giãi bày, được cảm thông, chia sẻ. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định: “Có thể nói trên đời này có bao nhiêu cách để tiếp xúc với đời, để tâm sự giao cảm với đời, Xuân Diệu đều không bỏ qua và khai thác triệt để… Đây là một trái tim nóng bỏng, trái tim của một con người sinh ra để yêu thương, để ca ngợi sự giao cảm tràn đầy tính nhân bản kia, để bày tỏ tình yêu thiết tha của mình đối với cuộc sống và kêu gọi tình yêu của cuộc sống đối với mình” (Tư tưởng và phong cách một nhà thơ lớn).

1. Xuân Diệu sáng tác nhiều và khỏe:

          Đây là một cách để được giao hòa, gặp gỡ, tâm sự, giãi bày. Suốt cuộc đời lao động bền bỉ của người nghệ sĩ, Xuân Diệu đã để lại một sự nghiệp sáng tác lớn lao với nhiều thể loại. Ở cả hai chặng sáng tác, Xuân Diệu đều có những cống hiến đáng kể đối với nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã viết gần năm mươi cuốn sách, bình thơ trên bốn trăm cuộc, ngoài ra còn làm biên tập sách báo, viết báo, làm báo,… thì không kể hết. Quả thực là “một khối lượng khổng lồ” (Mai Quốc Liên). “Bài học lớn nhất, tấm gương sáng nhất mà Xuân Diệu để lại cho các thế hệ cầm bút về sau là tấm gương lao động nghệ thuật cần cù, nhẫn nại, tỉ mỉ, say mê và liên tục” (Hà Xuân Trường).

          Trước Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Với hai tập “Thơ thơ” (1938) và “Gửi hương cho gió” (1945), Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ xuất sắc nhất và điển hình nhất của phong trào Thơ mới, có nhiều đóng góp vào việc cách tân các thể loại thi ca dân tộc và phát triển ngôn ngữ dân tộc. Nhà thơ Tế Hanh khi được hỏi nếu chọn năm nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới đã trả lời sau khi suy nghĩ: “Kể cũng khó, nhưng theo tôi thì phải kể đến Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử”. Lại hỏi tiếp: nếu chọn một người tiêu biểu nhất thì là ai? Tế Hanh đã trả lời ngay: Xuân Diệu. Như vậy, công lao của Xuân Diệu trong phong trào Thơ mới thật không nhỏ.

          Sau Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu thuộc số ít người ở hàng đầu của nền thơ ca cách mạng, trở thành một trong những người đầu tiên xây dựng nền móng cho thơ ca cách mạng Việt Nam.

2. Xuân Diệu – nhà thơ của tình yêu:

          Sinh thời, Xuân Diệu đã tự nhận mình là “kẻ uống tình yêu dập cả môi”, thơ viết về tình yêu là mảng đặc sắc nhất của thơ Xuân Diệu. Thơ tình của ông có tới vài trăm bài, có những bài về tình yêu hay nhất trong số những bài thơ tình hiện đại. Một danh hiệu cao quý mà Xuân Diệu được phong tặng ngay từ thời “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” và mãi sau này ông vẫn bền bỉ vun đắp bằng cả cuộc đời sáng tạo của mình; đó là danh hiệu “ông hoàng của thơ tình” hoặc thân thiết hơn là “thi sĩ của tình yêu”… Các nhà nghiên cứu đã đánh giá cao những đóng góp của Xuân Diệu trong địa hạt thơ tình: “nhà thơ tình bậc nhất” (Hà Minh Đức), “nhà thơ tình kiệt xuất” (Lê Đình Kị), “có ai vượt được Xuân Diệu trong lĩnh vực thơ tình” (Tố Hữu). Chính Xuân Diệu, những năm cuối đời nhìn lại suốt chặng đường dài sáng tạo của mình cũng tự hào rằng “đặc sản của tôi là thơ tình”, và nhấn mạnh: “Đã làm thơ tình là phải làm thơ tình nguyên chất”. Xuân Diệu là nhà thơ của niềm giao cảm hết mình với cuộc sống, nên cũng là nhà thơ thật sự của tình yêu; nói cách khác, Xuân Diệu mượn tình yêu để giao tiếp với đời vì tình yêu là một trong những niềm giao cảm mãnh liệt nhất, sâu sắc nhất, toàn vẹn nhất – niềm giao cảm tuyệt vời của tuổi trẻ. Đó là sự hòa hợp tuyệt diệu giữa hai tâm hồn, hai trái tim, hai thể xác, vừa rất mực trần thế, vừa hết sức cao thượng. Tình yêu là tình cảm người nhất. Có thể nói, khát vọng yêu đương nồng nàn và da diết thường thấy ở Xuân Diệu cũng chính là biểu hiện đầy đủ nhất của lòng say mê yêu đời. Đối với ông, tình yêu là biểu tượng tràn đầy rực rỡ nhất của tuổi thanh xuân và là hạt nhân của sự sống. Tư duy nghệ thuật của Xuân Diệu được hình thành và phát triển trên cơ sở nguồn cảm xúc yêu đương ấy.

          Đi sâu vào thế giới tình yêu của Xuân Diệu, ta bắt gặp ở đây mọi cung bậc tình cảm yêu đương muôn thuở của con người. Từ những tâm trạng nhớ nhung bâng quơ, những hẹn hò xa xôi đến những thứ tình như mây đưa gió thoảng, từ những tình cảm vu vơ đến thứ tình cho không như “Gửi hương cho gió”, như “Phấn thông vàng”, từ những phút say nồng cực lạc đến những khoảng trống vắng lạnh lùng… nghĩa là có đủ mọi trạng thái bâng khuâng, hồi hộp, đắm say, giận dỗi, hờn ghen, hi vọng, tuyệt vọng… của tình yêu. Nhiều nhà thơ chọn tình yêu làm tiền đề cho cảm hứng sáng tạo nhưng có lẽ chỉ Xuân Diệu là đạt đến độ si mê đắm đuối nhất của cảm xúc yêu đương, là người phát ngôn đầy đủ nhất cho tình yêu của thời đại.

          Đến với tình yêu, Xuân Diệu muốn khám phá thực chất ý nghĩa của nó và đồng thời qua đó, bộc lộ quan niệm sống của mình. Có thể coi Xuân Diệu là người đầu tiên đã đưa vào thơ Việt Nam tình yêu thật sự là tình yêu, nghĩa là sự giao cảm tuyệt đối, tuyệt đỉnh, sự hòa nhịp giữa linh hồn và thể xác. Tình yêu phải thực sự là tình yêu của con người trần tục chứ không phải thứ tình Biêlinxki từng chế giễu “chỉ làm đẹp lòng các vị bảo hộ hậu cung vua chúa phương Đông” mà thôi. Tuy nhiên cái đích mà tình yêu nhằm đạt tới phải là sự hòa hợp cao độ của tâm hồn, là trái tim đỏ thắm của em, tâm hồn xanh thẳm của em, là phút giây giao cảm tuyệt vời của những con người “Trời ơi, anh muốn uống hồn em!”.

Với tình yêu, con người sinh ra để mà yêu ấy luôn sôi nổi cuồng nhiệt:

                                         Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ,

                                         Phải nói yêu, trăm bận đến nghìn lần,

                                         Phải mặn nồng cho mãi mãi đem xuân,

                                         Đem chim bướm thả trong vườn tình ái

                                                                                  (Phải nói)

Xuân Diệu ý thức được ý nghĩa cuộc đời nằm trong vòng tuổi trẻ, ý nghĩa tình yêu nằm trong vòng khoảnh khắc, thơ Xuân Diệu ghi lại rất nhiều những khoảnh khắc ngưng đọng của tâm hồn với một cường độ cảm xúc mạnh mẽ: khoảnh khắc gặp gỡ:

                                         Ấy là hồn giăng rộng khắp không gian

                                         Để đánh lưới những duyên hờ mới mẻ

                                         Ấy những cánh chuyển trong lòng nhẹ nhẹ

                                          Nghe xôn xao rờn rợn đến hay hay

                                                                                  (Xuân không mùa)

                                         Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!

                                         Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

                                         Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,

                                         Bằng mây nhẹ nhẹ, gió hiu hiu

                                                                                  (Vì sao)

Khoảnh khắc chợt bùng lên nỗi nhớ:

                                         Anh nhớ tiếng! Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh

                                         Anh nhớ em, anh nhớ lắm! em ơi

                                                                                  (Tương tư chiều)

                                           

                                         Uống xong lại khát là tình

                                         Gặp rồi lại nhớ là mình của ta

Rồi khoảnh khắc vội vàng, giục giã, được giao cảm chiếm lĩnh và khao khát vươn tới cái vô biên, tuyệt đích:

                                         Mau lên chứ, vội vàng lên với chứ

                                         Em, em ơi, tình non sắp già rồi

                                                                                  (Giục giã)

                                         Em vui đi, răng nở ánh trăng rằm

                                         Anh hút nhụy của mỗi giờ tình tự

Vì luôn khát khao vô biên, tuyệt đích, nên:

                                         Biển đắng không nguôi nỗi khát thèm

                                         Nên lúc môi ta kề miệng thắm,

                                         Trời ơi, ta muốn uống hồn em

                                                                                  (Vô biên)

Với Xuân Diệu, tất cả đều là tình yêu thứ nhất, là mùa xuân đầu:

                                         Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng

                                         Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;

                                         Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,

                                         Chim trên cành há mỏ hát ra thơ

                                         Xuân là lúc gió về không định trước

                                                                                  (Xuân không mùa)

                                         Mặt trời vừa mới cưới trời xanh

                                         Duyên đẹp hôm nay sẽ tốt lành

                                         Son sẻ trời như mười sáu tuổi

                                         Má hồng phơn phớt, mắt long lanh

                                                                                  (Rạo rực)

Sau này, khi đã chiều tà bóng xế, tình yêu trong thơ ông vẫn luôn nồng nàn:

                                         Tôi đã yêu từ khi chưa có tuổi

                                         Lúc chưa sinh, vơ vẩn giữa dòng đời

                                         Tôi sẽ yêu khi đã hết tuổi rồi

                                          Không xương vóc, chỉ huyền hồ bóng dáng

                                                                                  (Đa tình)

Cho đến lúc sắp giã biệt cuộc đời, nhà thơ vẫn khao khát:

                                         Hãy để cho tôi được giã từ

                                         Vẫy chào cõi thực để vào hư

                                         Trong hơi thở chót dâng trời đất

                                         Cũng vẫn si tình đến ngất ngư

           Thơ tình Xuân Diệu thực sự là thơ tình, tình yêu của những người yêu. Trong “Thơ thơ” có cái rạo rực thiết tha, nồng cháy, “Gửi hương cho gió” có cái da diết, đằm thắm xen lẫn vị đắng cay. Vì hướng tới sự giao cảm về phương diện tinh thần và tâm hồn nên tình yêu trong thơ Xuân Diệu rất mãnh liệt và cũng rất trong sáng, lành mạnh. Xuân Diệu yêu đời tha thiết và khao khát được đáp lại:

                                         Và hãy yêu tôi một giờ cũng đủ

                                         Một giây cũng cam, một chút cũng đành

          Nhưng do không gặp gỡ những tâm hồn đồng điệu, chân thật, nên hầu hết những bài thơ tình của Xuân Diệu là nỗi đau của một trái tim đắm say, nồng nhiệt mà không được đến đáp xứng đáng và thường thấm đãm nỗi buồn cùng mặc cảm cô đơn. Có lúc sự thờ ơ, hờ hững của người đời khiến trái tim thi sĩ không tránh khỏi sự tủi hổ:

                                         Lòng ta là một cơn mưa lũ

                                         Đã gặp lòng em là lá khoai

                                         Mưa biếc tha hồ rơi giọt ngọc

                                         Lá xanh không ướt đến da ngoài

                                                                                  (Nước đổ lá khoai)

Thậm chí, “chết ở trong lòng một ít” bởi:

                                         Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu

                                         Cho rất nhiều song chẳng nhận bao nhiêu

                                         Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết

                                                                                  (Yêu)

Càng yêu, càng thấy “dại khờ”:

                                         Người ta khổ vì thương không phải cách

                                         Yêu sai duyên, và mến chẳng nhằm người

                                          Có kho vàng, nhưng chẳng tặng tùy nơi

                                          Người ta khổ vì xin không phải chỗ

Ta hiểu vì sao trong thế giơi nghệ thuật của Xuân Diệu, mùa xuân và bình minh đi liền với những chiều thu và những đêm trăng lạnh, sự nồng nàn đi liền với cảm giác bơ vơ…

          Trong tình yêu, Xuân Diệu đã đi đến tận cùng của sự thành thực: thành thực nói lên nỗi khát tình dằng dặc của đời mình; thành thực can đảm nói lên những mặt trái của tình yêu. Nếu như trong văn chương truyền thống, nguyên nhân của những mối lương duyên trắc trở là do khách quan, thì Xuân Diệu thấy nguyên nhân sự phản bội là ở phía chủ quan, đó chính là những góc khuất trong tâm hồn những đôi tình nhân đang say sưa kia:

                                         Linh hồn ta còn u uẩn hơn đêm,

                                         Ta chưa thấu, nữa là ai thấu rõ

                                          Kiếm mãi, nghi hoài, hay ghen bóng gió

                                          Anh muốn vào dò xét giấc em mơ

                                          Nhưng anh giấu em những mộng không ngờ

                                          Cũng như em giấu những điều quá thực

                                                                                  (Xa cách)

Khoảng cách về tâm hồn mới là điều đáng sợ nhất, bởi:

                                          Em là em, anh vẫn cứ là anh

                                          Có thể nào qua Vạn lý trường thành

                                          Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật

          Nhưng dù tình yêu có được đền đáp hay không, trái tim yêu của Xuân Diệu vẫn nồng nàn say đắm, vẫn khát khao gặp gỡ, tâm hồn vẫn “giăng rộng khắp không gian – Để đánh lưới những duyên hờ mới mẻ”, bởi với thi sĩ của tình yêu, “Tình yêu không tuổi, và xuân không ngày tháng”.

3.Quan niệm thẩm mỹ:

Trong các nhà thơ hiện đại, Xuân Diệu đã đem lại cho thơ một quan niệm thẩm mỹ hết sức mới mẻ, góp phần tạo nên một cuộc cách mạng trong thi ca: cuộc đời trần thế là đẹp nhất, con người – đặc biệt là người thiếu nữ – là tuyệt diệu nhất, là chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp trên đời.

          Xuân Diệu chịu ảnh hưởng của trường thơ tượng trưng Pháp. Trường thơ này quan niệm vũ trụ là một thế giới huyền bí mà mắt thường không nhìn thấy được, cái mà con người nhìn thấy chỉ là dấu hiệu tượng trưng của bản thể ấy. Vì vậy, các nhà thơ theo trường phái này không chủ trương miêu tả thế giới rõ rệt, hữu hình mà cố gắng miêu tả những biến thái tinh vi, mong manh, huyền diệu của vũ trụ, lòng người. Trường thơ tượng trưng đề xướng thuyết tương giao và coi trọng tính nhạc. Điều này dẫn tới đặc điểm cơ bản của thơ Xuân Diệu: đấy là một thế giới tràn đầy xuân sắc, xuân tình, mà chuẩn mực của cái đẹp là con người giữa tình yêu tuổi trẻ. Quan điểm mĩ học mới mẻ này đã khiến thi sĩ sáng tạo được nhiều hình ảnh mới mẻ, độc đáo, đẹp một cách khỏe khoắn đầy sức sống.

          Bài thơ “Vội vàng” được coi là tuyên ngôn về quan niệm sống của Xuân Diệu, một triết lí nhân sinh được thể hiện bằng hình tượng thơ thấm đẫm cảm xúc. Với Xuân Diệu, cuộc sống trần thế đầy hấp dẫn, đó là một thiên đường trên mặt đất, một khu vườn tràn đầy xuân sắc, một không gian tươi thắm tràn ngập lá nõn, hoa thơm, trái ngọt… mà vạn vật ở độ lên hương rực rỡ nhất, đều say đắm xuân tình: ong bướm như trong tuần tháng mật; hoa phải là hoa của đồng nội xanh rì; lá phải là lá của cành tơ, chồi biếc; yến oanh rộn rã khúc tình si… Vì vậy, không việc gì phải tìm kiếm thiên đường ở tận đâu, mà hãy yêu mến, gắn bó tận hưởng hết mình ngay trong cuộc đời này.

          Từ quan niệm coi con người là chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp, nhà thơ nhìn trời đất, cỏ cây, hoa lá, núi sông… đầy vẻ tình tứ:

                                         Hơi gió thở như mặt người yêu mến

                                         Mây đa tình như thi sĩ đời xưa

Thời tiết bốn mùa thì: “Xuân: người ta vì ấm mà cần tình, Thu: người ta vì lạnh sắp đến mà cũng rất cần đôi; Nắng hạ đốt người một cách cực lạc và tiết đông khỏa vào da thịt làm dây cả máu xương”. Mùa xuân được thi sĩ hình dung, liên tưởng như làn môi căng mọng của người thiếu nữ “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” – một câu thơ hay vào loại hiếm thấy trong lịch sử văn học dân tộc. Xuân Diệu đã khái quát lên thành toàn bộ thế giới xuân tình. Nhìn phấn thông bay, thi sĩ như thấy ái tình tản mạn, ôm ấp không gian, hoa thì không phân biệt được là hoa hay là những thiếu nữ đa tình. Biển thì như một người tình say đắm, một trái tim yêu không bao giờ mệt mỏi… Có thể nói, làm nên những câu thơ đầy cảm xúc, cảm giác ấy, một phần quan trọng là nhờ cách dùng từ ngữ của Xuân Diệu: độc đáo, táo bạo, có giá trị gợi cảm mạnh mẽ. Tuy nhiên, thơ Xuân Diệu, về bản chất vẫn kế thừa phát huy cái nhạc điệu riêng, linh hồn riêng của thơ ca truyền thống. Chính vì vậy, kinh nghiệm Đông và Tây, truyền thống và hiện đại, kết tinh ở một tâm hồn nghệ sĩ khát khao giao cảm với đời đã giúp Xuân Diệu khám phá được những biến thái tinh vi của thiên nhiên cũng như của nội tâm con người và thể hiện được trong những vần thơ “ít lời, nhiều ý, súc tích như đọng lại baoo nhiêu tinh hoa” (Thế Lữ).

4. Xuân Diệu rất ý thức về sự chảy trôi của thời gian:

          “Trong các nhà thơ hiện đại, Xuân Diệu là người có năng lực cảm nhận tinh tế bước đi của thời gian. Có lẽ cũng do lòng yêu tuổi trẻ, muốn ngăn sự già nua tàn tạ, nên nhà thơ luôn cảnh giác với thời gian và kịp thời báo động với chính mình” (Vũ Quần Phương). Với Xuân Diệu, thời gian trở thành “nỗi ám ảnh”, thành “kẻ thù đáng gờm”, là “đại lượng tiêu cực, thù địch với hạnh phúc và tuổi xuân”. Xuân Diệu quan niệm thời gian mang trong lòng nó sự trôi chảy mà mỗi khoảnh khắc qua đi là mất đi vĩnh viễn:

                                         Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua

                                          Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già

                                                                                  (Vội vàng)

Đây là một quan niệm hết sức mới mẻ, tiến bộ về thời gian – thời gian tuyến tính. Thời trung đại, với quan niệm thời gian tuần hoàn với chu kì bốn mùa, nên con người rất ung dung, bình thản trước thời gian:                             

                                         Sen tàn, cúc lại nở hoa

                                 Sầu dài, ngày ngắn, đông đà sang xuân

                                                                   (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Thời gian trung đại tính theo chiều vĩ mô: ngàn đời, vạn năm, thiên thu… nên chết chưa phải là hết, còn có kiếp sau. Còn ở thời hiện đại, người ta không yên tâm với điều đó. Đời người hữu hạn, ngắn ngủi vô cùng, cho nên con người không thể thờ ơ với cuộc sống, không nên lãng phí thời gian, phải sống năng suất hơn gấp nhiều lần trong cùng một thời gian được sống, hãy tìm cách đốt cuộc đời mình lên để nói trôi qua thì không phải luyến tiếc. Cho nên, ta bắt gặp những khoảnh khắc thi sĩ “cảnh giác với thời gian và kịp thời báo động với chính mình”:

                                        – Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới

                                          Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa

                                       …Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết

                                          Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt

                                                                                  (Giục giã)

                                        – Sự thật ngày nay, không thật đến ngày mai

                                                                                  (Phải nói)

                                        – Cái trôi không đợi cái bay

                                          Từ tôi phút ấy, sang tôi phút này.

Ý thức về sự trôi chảy của thời gian cũng là cách không chấp nhận cuộc sống mù tối, vô danh vô nghĩa, tẻ nhạt, và cội nguồn sâu xa của nó chính là niềm khát khao giao cảm với đời.

          Vô cùng nhạy cảm trước sự đổi thay “nổi nênh, xiêu đổ, tan tác” của cuộc đời, Xuân Diệu luôn nhìn thấy sự đối lập nghiệt ngã giữa thời gian vô tận của vũ trụ và thời gian quá ngắn ngủi của kiếp người. Càng tha thiết với cuộc đời, ông càng nhìn thấy thời gian trôi với nhịp độ chóng mặt: “rồi đi”, “cứ thế mà bay” những ngày những tháng.

                                         Thong thả chiều vàng thong thả lại

                                          Rồi đi…đêm xám tới dần dần

                                          Cứ thế mà bay cho đến hết

                                          Những ngày, những tháng, những mùa xuân

                                                                                  (Giờ tàn)        

Chưa có nhà thơ nào luyến tiếc thời gian đến xót xa như Xuân Diệu, bởi ông ý thức được rằng thời gian trôi là tuổi trẻ mất và tuổi già đang chờ đón. Do vậy, cảm nhận về sự vận động của thời gian trong thơ Xuân Diệu xuất phát từ ý thức về sự mất mát. Cùng với ngày tháng trôi qua, Xuân Diệu chỉ nhìn thấy sự vật đang bị bào mòn, tàn tạ:

                                         Hoa nở để mà tàn

                                         Trăng tròn để mà khuyết

                                         Bèo hợp để chia tan

                                         Người gần để li biệt

                                         Hoa kia không nắng cũng phai màu

                                         Trên mặt người kia in nỗi đau

                                                                                  (Hoa nở để mà tàn)

Đằng sau một loạt những “vội vàng”, “giục giã”, “mau với chứ”, “gấp đi em”… ta hình dung ra điệu bộ cuống cuồng của thi nhân cùng nỗi ám ảnh lo sợ: muộn màng, không kịp, lỡ làng, lỡ thì… Nhưng vốn là người ham sống, Xuân Diệu không cam lòng chịu để cho ngày tháng trôi qua trong mòn mỏi, vô vị, ông tìm cách chống đỡ, ngăn cản không cho thời gian cướp đi những lạc thú của tuổi trẻ, tình yêu.

          Có thể nói rằng, với Xuân Diệu, thời gian là một chất xúc tác đặc biệt tạo nên những luồng rung động đặc biệt trong cảm hứng sáng tạo, thôi thúc thi sĩ viết nên những câu thơ vừa có sức khái quát, vừa sinh động gợi cảm.

5. Xuân Diệu là nhà thơ rất có ý thức khẳng định cái “tôi” cá nhân.

          Thơ ca muôn đời vẫn là sự bộc lộ cảm xúc của chủ thể sáng tạo trước con người và tạo vật. Song nếu như trong thơ ca trung đại, quan niệm “thi dĩ ngôn chí”, “văn dĩ tải đạo” đã lấn át cái bản ngã thì Thơ mới ra đời đồng nghĩa với sự khẳng định cái “tôi” cá nhân. “Ngày thứ nhất, ai biết đích ngày nào, chữ “tôi” xuất hiện trong thi đàn Việt Nam. Nó thực sự bỡ ngỡ như lạc long nơi đất khách bởi nó mang theo một quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân” (Hoài Thanh).

          Xuân Diệu là một nhà Thơ mới tiêu biểu nhất, vì thế rất có ý thức khẳng định cái “tôi” của mình. Không phải ngẫu nhiên ông được coi là người phát ngôn đầy đủ nhất cho tư tưởng cá nhân của phong trào Thơ mới. Với Xuân Diệu, cái “tôi” cá nhân được ý thức sâu sắc khi lần đầu tiên trên thi đàn, cái “tôi” tiểu tư sản mạnh dạn bày tỏ những tâm tư thầm kín, những xúc cảm yêu đương tuôn trào, những khát vọng được hưởng thụ không dứt, không nguôi hoa thơm trái ngọt của cuộc đời trần thế. Vì thế, Xuân Diệu không chỉ hoàn toàn mới lạ so với các thế hệ trước mà còn mới lạ so với các nhà thơ cùng thời. Chỉ có Xuân Diệu mới có đủ độ nồng nàn say đắm nhất của chủ nghĩa lãng mạn phương Tây, với một cách cảm nghĩ nói năng rất phương Tây và một triết lí hưởng thụ cũng rất phương Tây:

                                         Hái một mùa hoa lá thuở măng tơ

                                         Đốt muôn nến sánh mặt trời chói lọi

                                         Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt

                                         Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm

                                                                                  (Giục giã) 

Thơ mới là thơ của cái “tôi”, viết về cái “tôi”, nhưng chỉ với Xuân Diệu, sự tồn tại của cái “tôi” mới được đẩy lên với ý nghĩa tuyệt đối của nó. Thơ ông tràn ngập chữ “tôi”, nó được khai thác và biểu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau. Nó có thể là sự phô diễn bức chân dung tự họa của nhà thơ, nhiều khi nhỏ bé, yếu đuối:

                                         Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ

                                         Mà vạn vật là muôn đá nam châm

                                                                                  (Cảm xúc)                                     

                                         Tôi là con chim đến từ núi lạ

                                                                         (Lời thơ vào tập “Gửi hương”)

                                         Tôi là con nai bị chiều đánh lưới

                                         Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối

                                                                                  (Khi chiều giăng lưới)

                                         Tôi là kẻ qua sa mạc

Nhưng cũng có lúc cái “tôi” ấy trở nên mạnh mẽ, quyết liệt:

                                         Tôi là một kẻ điên cuồng

                                         Yêu những ái tình ngây dại

                                                                                  (Thở than)            

                                         Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời

                                                                                  (Hư vô)

          Cũng có thể là sự bộc lộ đến tận cùng khát vọng khi thi nhân xoáy vào bên trong chiều sâu tâm hồn mình. Đằng sau cái “tôi” trữ tình đứng ở ngôi thứ nhất là một hệ thống những động từ chỉ hành động và tư thế cảm xúc rất Xuân Diệu : Đó là ý thức chiếm lĩnh hương sắc cuộc đời (nắng, gió, không chờ nắng hạ mới hoài xuân…), hoặc lúc không còn tự chủ được nữa: “Tất cả tôi run rẩy tựa dây đàn”, “tôi run như lá, tái như đông”. Rồi tôi nhớ; tôi buồn; tôi đã yêu; tôi sung sướng; tôi sẽ chết… Tuy nhiên, khẳng định cái “tôi” tích cực, cái “tôi” thấm đẫm màu sắc cá thể trong thơ Xuân Diệu không chỉ căn cứ vào tần số xuất hiện của chữ “tôi” hoặc vào sự đề cao quá đáng của bản ngã cá nhân thành đỉnh Hi Mã Lạp Sơn ngất ngưởng, mà cơ sở chính của nó là sự thành thật của xúc cảm. Thơ Xuân Diệu là niềm khát sống, khát yêu đến cuồng nhiệt. Con người ấy muốn uống cạn, một cách vồ vập “cái li tràn đầy sự sống”. Trong thơ Xuân Diệu, toát lên một nhu cầu mãnh liệt: được cảm thông. Con người rất có ý thức về bản ngã ấy không phải là cái “tôi” khép kín mà là cái “tôi” luôn phơi trải, luôn mở ra trước cuộc đời, là một tâm hồn khao khát tìm gặp những tâm hồn. Với Xuân Diệu, dù vui hay buồn, sung sướng hay đau khổ, hi vọng hay thất vọng… nghĩa là tất cả những rung động tinh vi của đời sống tâm hồn đều được Xuân Diệu thành thật bày tỏ. Sự chân thực của tình cảm là một phẩm chất tiêu biểu của thơ trữ tình nói chung, đến trào lưu Thơ mới được chú trọng khai thác và mở thêm nhiều ngóc ngách, phức tạp, tinh vi hơn để làm phong phú thêm khả năng tự biểu hiện và sức mạnh hướng nội của thơ. Dù ở phương diện nào, ta đều thấy ở hồn thơ Xuân Diệu những phẩm chất nổi bật tiêu biểu cho khát vọng được khẳng định cái “tôi” như một tâm điểm nghệ thuật của thơ lãng mạn 1932-1945.

III. Kết luận:

          Sinh thời, Xuân Diệu vẫn tìm đến sự giao cảm với cuộc đời bằng thơ, bằng tâm hồn của một nhà thơ thiết tha yêu sự sống. Sự nghiệp mà ông để lại là một di sản thơ vô giá mà từng ý thơ, từng lời thơ vẫn tiếp tục nảy sinh, đánh thức dậy niềm vui, nỗi buồn và bao xôn xao trong lòng tuổi trẻ hôm nay. Ở giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu được coi là gương mặt tiêu biểu nhất của trào lưu thơ ca lãng mạn; là nhà thơ “mới nhất” trong các nhà Thơ mới. Ông đã mang đến cho thi đàn Việt Nam một nguồn cảm hứng yêu đời dào dạt, một luồng rung động mới mẻ trước tình yêu, một nhịp sống hoàn toàn mới lạ và một cái tôi giàu bản sắc. Ông cũng là người tìm ra nhiều kiểu cấu trúc hiện đại cho câu thơ Việt Nam và làm phong phú thêm hình thức thơ bằng những hình ảnh độc đáo và những nét nhạc điệu tân kì. Có thể nói, sự cộng hưởng giữa khát vọng sống và khát vọng đổi mới thơ ca là nguồn động lực thúc đẩy mọi sự tìm tòi sáng tạo và tạo ra sức mạnh cảm hóa đặc biệt của thơ Xuân Diệu trước Cách mạng Tháng Tám.

          Với nửa thế kỉ hành trình sáng tạo, Xuân Diệu đã để lại cho các thế hệ độc giả và nhất là những người cầm bút bài học thấm thía về tài năng và bản lĩnh thi sĩ. Con đường đi của Xuân Diệu từ một nhà thơ lãng mạn thành một nhà thơ Cách mạng là con đường tiêu biểu cho thế hệ Thơ mới 1932-1945. Ở cả hai chặng đường ấy, Xuân Diệu đều có những cống hiến hết sức to lớn. Vị trí của ông trên văn đàn dân tộc là một vị trí không ai có thể thay thế được. Cùng với khát vọng sống thiết tha sôi nổi, thơ Xuân Diệu sẽ tiếp tục hành trình trong cuộc sống hôm nay và mai sau.

     

                                       

       

                            

                  

ĐẶC SẮC  NGHỆ THUẬT VÀ CÁ TÍNH SÁNG TẠO CỦA THƠ XUÂN DIỆU TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

I. Xuân Diệu – Cây đời mãi xanh tươi:

          “Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong”, Xuân Diệu đã từng sống ở cả ba miền đất nước. Từ khi còn là một học sinh trung học hay là một viên chức, Xuân Diệu luôn lao động sáng tạo say mê, bền bỉ. Với hơn nửa thế kỉ cầm bút, ông đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ: khoảng 50 tác phẩm thuộc nhiều thể loại: thơ, văn, phê bình, nghiên cứu phê bình văn học và dịch thuật… Ở lĩnh vực nào tài năng Xuân Diệu cũng được ghi nhận, nhưng thơ vẫn là bộ phận sáng tác có giá trị nhất của ông. Xuân Diệu là một trong những nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại.

          Cả cuộc đời sáng tạo nghệ thuật, Xuân Diệu đã nêu một tấm gương cho các thế hệ cầm bút về sự cần cù, say mê, không mệt mỏi, đã để lại sự ngưỡng mộ, khâm phục với bao thế hệ độc giả.

          Khi Thơ mới bắt đầu thắng thế, nếu Thế Lữ được coi là ngôi sao sáng nhất của bầu trời Thơ mới buổi đầu, thì chỉ vài năm sau, ở giai đoạn thứ hai, Thế Lữ phải nhường ngôi “đệ nhất thi sĩ” cho Xuân Diệu. Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh khi nhận xét (và có ý so sánh) một số phong cách các nhà Thơ mới đã tinh tường khái quát: “Hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu…”. “Thiết tha, rạo rực, băn khoăn”, phải là ba tính từ (chứ không phải một) đã thâu tóm đúng thần thái thơ và đời Xuân Diệu. Các nhà phê bình, các nhà thơ, bạn đọc trong và ngoài nước đã không tiếc lời ngợi ca thơ ông, Với Thế Lữ thì Xuân Diệu là “một tâm hồn đằm thắm và rất dễ cảm xúc”, là “nhà thi sĩ của tuổi xuân, của lòng yêu, và của ánh sáng”, còn thơ Xuân Diệu “không phải là văn chương nữa; đó là lời nói, là tiếng reo vui hay tiếng năn nỉ, là sự chân thành cảm xúc, hoặc là những tình ý rạo rực biến lẩn trong những thanh âm”. “Xuân Diệu là người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”. Cả Hoài Thanh và Vũ Ngọc Phan đều có chung một đánh giá: “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà Thơ mới” và “Xuân Diệu đã đem đến cho thơ ca Việt Nam nhiều cái mới nhất”. Hoài Thanh – tác giả của “Thi nhân Việt Nam” dường như đã giành những tình cảm đặc biệt của mình cho thi sĩ của tình yêu thương bằng những lời có cánh: “Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết. Nhưng sự sống muôn hình thức mà trong những hình thức nhỏ nhặt thường lại ẩn náu một nguồn sống dồi dào. Không cần phải là con hổ ngự trị trên rừng xanh, không cần phải là con chim đại bàng bay một lần chín vạn dặm mới là sống. Sự bồng bột của Xuân Diệu có lẽ đã phát biểu ra một cách đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi”.

          Không thể kể hết những ý kiến, những đánh giá của độc giả giành cho “thi sĩ rất giàu lòng yêu dấu” ấy. Tất cả nói lên rằng Xuân Diệu đã có một vị trí khó thay thế trên thi đàn Việt Nam hiện đại. Khi ông xuất hiện, Thế Lữ đã từng reo mừng: “Thế là từ nay, chúng ta đã có Xuân Diệu”. Và khi nhà thơ qua đời, “thế là từ nay chúng ta không còn Xuân Diệu nữa”, “Một cây lớn đổ xuống làm cho cả một khoảng trời trống vắng” (Hà Xuân Trường). Tuy nhiên, sự nghiệp mà Xuân Diệu để lại sẽ còn sống mãi trong lòng người yêu thơ, trong lòng dân tộc, bởi “sự sống còn của một nhà văn là ở tác phẩm”.

II. Phong cách nghệ thuật Xuân Diệu trước CMT8 1945:

          Trong “Bài thơ tuổi nhỏ” sáng tác năm 1933 – khi Xuân Diệu mười bảy tuổi, thi sĩ đã dõng dạc bày tỏ tuyên ngôn sống của mình:

                                         Giơ tay muốn ôm cả Trái đất

                                         Ghì trước trái tim, ghì trước ngực

                                         Cho đầy trước mắt khoảng cô đơn

                                         Bao la muôn trời, sâu vạn vực…

          Đây chính là nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật của ông: niềm khát khao giao cảm với đời, cuộc đời hiểu theoo nghĩa chân thật và trần thế nhất. Khát khao giao cảm – có thể hiểu là những mong ước, mong muốn, hi vọng một cách thiết tha, cháy bỏng được hòa nhập, được tiếp cận, được tâm sự, giãi bày, được cảm thông, chia sẻ. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định: “Có thể nói trên đời này có bao nhiêu cách để tiếp xúc với đời, để tâm sự giao cảm với đời, Xuân Diệu đều không bỏ qua và khai thác triệt để… Đây là một trái tim nóng bỏng, trái tim của một con người sinh ra để yêu thương, để ca ngợi sự giao cảm tràn đầy tính nhân bản kia, để bày tỏ tình yêu thiết tha của mình đối với cuộc sống và kêu gọi tình yêu của cuộc sống đối với mình” (Tư tưởng và phong cách một nhà thơ lớn).

1. Xuân Diệu sáng tác nhiều và khỏe:

          Đây là một cách để được giao hòa, gặp gỡ, tâm sự, giãi bày. Suốt cuộc đời lao động bền bỉ của người nghệ sĩ, Xuân Diệu đã để lại một sự nghiệp sáng tác lớn lao với nhiều thể loại. Ở cả hai chặng sáng tác, Xuân Diệu đều có những cống hiến đáng kể đối với nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã viết gần năm mươi cuốn sách, bình thơ trên bốn trăm cuộc, ngoài ra còn làm biên tập sách báo, viết báo, làm báo,… thì không kể hết. Quả thực là “một khối lượng khổng lồ” (Mai Quốc Liên). “Bài học lớn nhất, tấm gương sáng nhất mà Xuân Diệu để lại cho các thế hệ cầm bút về sau là tấm gương lao động nghệ thuật cần cù, nhẫn nại, tỉ mỉ, say mê và liên tục” (Hà Xuân Trường).

          Trước Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Với hai tập “Thơ thơ” (1938) và “Gửi hương cho gió” (1945), Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ xuất sắc nhất và điển hình nhất của phong trào Thơ mới, có nhiều đóng góp vào việc cách tân các thể loại thi ca dân tộc và phát triển ngôn ngữ dân tộc. Nhà thơ Tế Hanh khi được hỏi nếu chọn năm nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới đã trả lời sau khi suy nghĩ: “Kể cũng khó, nhưng theo tôi thì phải kể đến Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử”. Lại hỏi tiếp: nếu chọn một người tiêu biểu nhất thì là ai? Tế Hanh đã trả lời ngay: Xuân Diệu. Như vậy, công lao của Xuân Diệu trong phong trào Thơ mới thật không nhỏ.

          Sau Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu thuộc số ít người ở hàng đầu của nền thơ ca cách mạng, trở thành một trong những người đầu tiên xây dựng nền móng cho thơ ca cách mạng Việt Nam.

2. Xuân Diệu – nhà thơ của tình yêu:

          Sinh thời, Xuân Diệu đã tự nhận mình là “kẻ uống tình yêu dập cả môi”, thơ viết về tình yêu là mảng đặc sắc nhất của thơ Xuân Diệu. Thơ tình của ông có tới vài trăm bài, có những bài về tình yêu hay nhất trong số những bài thơ tình hiện đại. Một danh hiệu cao quý mà Xuân Diệu được phong tặng ngay từ thời “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” và mãi sau này ông vẫn bền bỉ vun đắp bằng cả cuộc đời sáng tạo của mình; đó là danh hiệu “ông hoàng của thơ tình” hoặc thân thiết hơn là “thi sĩ của tình yêu”… Các nhà nghiên cứu đã đánh giá cao những đóng góp của Xuân Diệu trong địa hạt thơ tình: “nhà thơ tình bậc nhất” (Hà Minh Đức), “nhà thơ tình kiệt xuất” (Lê Đình Kị), “có ai vượt được Xuân Diệu trong lĩnh vực thơ tình” (Tố Hữu). Chính Xuân Diệu, những năm cuối đời nhìn lại suốt chặng đường dài sáng tạo của mình cũng tự hào rằng “đặc sản của tôi là thơ tình”, và nhấn mạnh: “Đã làm thơ tình là phải làm thơ tình nguyên chất”. Xuân Diệu là nhà thơ của niềm giao cảm hết mình với cuộc sống, nên cũng là nhà thơ thật sự của tình yêu; nói cách khác, Xuân Diệu mượn tình yêu để giao tiếp với đời vì tình yêu là một trong những niềm giao cảm mãnh liệt nhất, sâu sắc nhất, toàn vẹn nhất – niềm giao cảm tuyệt vời của tuổi trẻ. Đó là sự hòa hợp tuyệt diệu giữa hai tâm hồn, hai trái tim, hai thể xác, vừa rất mực trần thế, vừa hết sức cao thượng. Tình yêu là tình cảm người nhất. Có thể nói, khát vọng yêu đương nồng nàn và da diết thường thấy ở Xuân Diệu cũng chính là biểu hiện đầy đủ nhất của lòng say mê yêu đời. Đối với ông, tình yêu là biểu tượng tràn đầy rực rỡ nhất của tuổi thanh xuân và là hạt nhân của sự sống. Tư duy nghệ thuật của Xuân Diệu được hình thành và phát triển trên cơ sở nguồn cảm xúc yêu đương ấy.

          Đi sâu vào thế giới tình yêu của Xuân Diệu, ta bắt gặp ở đây mọi cung bậc tình cảm yêu đương muôn thuở của con người. Từ những tâm trạng nhớ nhung bâng quơ, những hẹn hò xa xôi đến những thứ tình như mây đưa gió thoảng, từ những tình cảm vu vơ đến thứ tình cho không như “Gửi hương cho gió”, như “Phấn thông vàng”, từ những phút say nồng cực lạc đến những khoảng trống vắng lạnh lùng… nghĩa là có đủ mọi trạng thái bâng khuâng, hồi hộp, đắm say, giận dỗi, hờn ghen, hi vọng, tuyệt vọng… của tình yêu. Nhiều nhà thơ chọn tình yêu làm tiền đề cho cảm hứng sáng tạo nhưng có lẽ chỉ Xuân Diệu là đạt đến độ si mê đắm đuối nhất của cảm xúc yêu đương, là người phát ngôn đầy đủ nhất cho tình yêu của thời đại.

          Đến với tình yêu, Xuân Diệu muốn khám phá thực chất ý nghĩa của nó và đồng thời qua đó, bộc lộ quan niệm sống của mình. Có thể coi Xuân Diệu là người đầu tiên đã đưa vào thơ Việt Nam tình yêu thật sự là tình yêu, nghĩa là sự giao cảm tuyệt đối, tuyệt đỉnh, sự hòa nhịp giữa linh hồn và thể xác. Tình yêu phải thực sự là tình yêu của con người trần tục chứ không phải thứ tình Biêlinxki từng chế giễu “chỉ làm đẹp lòng các vị bảo hộ hậu cung vua chúa phương Đông” mà thôi. Tuy nhiên cái đích mà tình yêu nhằm đạt tới phải là sự hòa hợp cao độ của tâm hồn, là trái tim đỏ thắm của em, tâm hồn xanh thẳm của em, là phút giây giao cảm tuyệt vời của những con người “Trời ơi, anh muốn uống hồn em!”.

Với tình yêu, con người sinh ra để mà yêu ấy luôn sôi nổi cuồng nhiệt:

                                         Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ,

                                         Phải nói yêu, trăm bận đến nghìn lần,

                                         Phải mặn nồng cho mãi mãi đem xuân,

                                         Đem chim bướm thả trong vườn tình ái

                                                                                  (Phải nói)

Xuân Diệu ý thức được ý nghĩa cuộc đời nằm trong vòng tuổi trẻ, ý nghĩa tình yêu nằm trong vòng khoảnh khắc, thơ Xuân Diệu ghi lại rất nhiều những khoảnh khắc ngưng đọng của tâm hồn với một cường độ cảm xúc mạnh mẽ: khoảnh khắc gặp gỡ:

                                         Ấy là hồn giăng rộng khắp không gian

                                         Để đánh lưới những duyên hờ mới mẻ

                                         Ấy những cánh chuyển trong lòng nhẹ nhẹ

                                          Nghe xôn xao rờn rợn đến hay hay

                                                                                  (Xuân không mùa)

                                         Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!

                                         Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

                                         Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,

                                         Bằng mây nhẹ nhẹ, gió hiu hiu

                                                                                  (Vì sao)

Khoảnh khắc chợt bùng lên nỗi nhớ:

                                         Anh nhớ tiếng! Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh

                                         Anh nhớ em, anh nhớ lắm! em ơi

                                                                                  (Tương tư chiều)

                                           

                                         Uống xong lại khát là tình

                                         Gặp rồi lại nhớ là mình của ta

Rồi khoảnh khắc vội vàng, giục giã, được giao cảm chiếm lĩnh và khao khát vươn tới cái vô biên, tuyệt đích:

                                         Mau lên chứ, vội vàng lên với chứ

                                         Em, em ơi, tình non sắp già rồi

                                                                                  (Giục giã)

                                         Em vui đi, răng nở ánh trăng rằm

                                         Anh hút nhụy của mỗi giờ tình tự

Vì luôn khát khao vô biên, tuyệt đích, nên:

                                         Biển đắng không nguôi nỗi khát thèm

                                         Nên lúc môi ta kề miệng thắm,

                                         Trời ơi, ta muốn uống hồn em

                                                                                  (Vô biên)

Với Xuân Diệu, tất cả đều là tình yêu thứ nhất, là mùa xuân đầu:

                                         Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng

                                         Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;

                                         Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,

                                         Chim trên cành há mỏ hát ra thơ

                                         Xuân là lúc gió về không định trước

                                                                                  (Xuân không mùa)

                                         Mặt trời vừa mới cưới trời xanh

                                         Duyên đẹp hôm nay sẽ tốt lành

                                         Son sẻ trời như mười sáu tuổi

                                         Má hồng phơn phớt, mắt long lanh

                                                                                  (Rạo rực)

Sau này, khi đã chiều tà bóng xế, tình yêu trong thơ ông vẫn luôn nồng nàn:

                                         Tôi đã yêu từ khi chưa có tuổi

                                         Lúc chưa sinh, vơ vẩn giữa dòng đời

                                         Tôi sẽ yêu khi đã hết tuổi rồi

                                          Không xương vóc, chỉ huyền hồ bóng dáng

                                                                                  (Đa tình)

Cho đến lúc sắp giã biệt cuộc đời, nhà thơ vẫn khao khát:

                                         Hãy để cho tôi được giã từ

                                         Vẫy chào cõi thực để vào hư

                                         Trong hơi thở chót dâng trời đất

                                         Cũng vẫn si tình đến ngất ngư

           Thơ tình Xuân Diệu thực sự là thơ tình, tình yêu của những người yêu. Trong “Thơ thơ” có cái rạo rực thiết tha, nồng cháy, “Gửi hương cho gió” có cái da diết, đằm thắm xen lẫn vị đắng cay. Vì hướng tới sự giao cảm về phương diện tinh thần và tâm hồn nên tình yêu trong thơ Xuân Diệu rất mãnh liệt và cũng rất trong sáng, lành mạnh. Xuân Diệu yêu đời tha thiết và khao khát được đáp lại:

                                         Và hãy yêu tôi một giờ cũng đủ

                                         Một giây cũng cam, một chút cũng đành

          Nhưng do không gặp gỡ những tâm hồn đồng điệu, chân thật, nên hầu hết những bài thơ tình của Xuân Diệu là nỗi đau của một trái tim đắm say, nồng nhiệt mà không được đến đáp xứng đáng và thường thấm đãm nỗi buồn cùng mặc cảm cô đơn. Có lúc sự thờ ơ, hờ hững của người đời khiến trái tim thi sĩ không tránh khỏi sự tủi hổ:

                                         Lòng ta là một cơn mưa lũ

                                         Đã gặp lòng em là lá khoai

                                         Mưa biếc tha hồ rơi giọt ngọc

                                         Lá xanh không ướt đến da ngoài

                                                                                  (Nước đổ lá khoai)

Thậm chí, “chết ở trong lòng một ít” bởi:

                                         Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu

                                         Cho rất nhiều song chẳng nhận bao nhiêu

                                         Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết

                                                                                  (Yêu)

Càng yêu, càng thấy “dại khờ”:

                                         Người ta khổ vì thương không phải cách

                                         Yêu sai duyên, và mến chẳng nhằm người

                                          Có kho vàng, nhưng chẳng tặng tùy nơi

                                          Người ta khổ vì xin không phải chỗ

Ta hiểu vì sao trong thế giơi nghệ thuật của Xuân Diệu, mùa xuân và bình minh đi liền với những chiều thu và những đêm trăng lạnh, sự nồng nàn đi liền với cảm giác bơ vơ…

          Trong tình yêu, Xuân Diệu đã đi đến tận cùng của sự thành thực: thành thực nói lên nỗi khát tình dằng dặc của đời mình; thành thực can đảm nói lên những mặt trái của tình yêu. Nếu như trong văn chương truyền thống, nguyên nhân của những mối lương duyên trắc trở là do khách quan, thì Xuân Diệu thấy nguyên nhân sự phản bội là ở phía chủ quan, đó chính là những góc khuất trong tâm hồn những đôi tình nhân đang say sưa kia:

                                         Linh hồn ta còn u uẩn hơn đêm,

                                         Ta chưa thấu, nữa là ai thấu rõ

                                          Kiếm mãi, nghi hoài, hay ghen bóng gió

                                          Anh muốn vào dò xét giấc em mơ

                                          Nhưng anh giấu em những mộng không ngờ

                                          Cũng như em giấu những điều quá thực

                                                                                  (Xa cách)

Khoảng cách về tâm hồn mới là điều đáng sợ nhất, bởi:

                                          Em là em, anh vẫn cứ là anh

                                          Có thể nào qua Vạn lý trường thành

                                          Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật

          Nhưng dù tình yêu có được đền đáp hay không, trái tim yêu của Xuân Diệu vẫn nồng nàn say đắm, vẫn khát khao gặp gỡ, tâm hồn vẫn “giăng rộng khắp không gian – Để đánh lưới những duyên hờ mới mẻ”, bởi với thi sĩ của tình yêu, “Tình yêu không tuổi, và xuân không ngày tháng”.

3.Quan niệm thẩm mỹ:

Trong các nhà thơ hiện đại, Xuân Diệu đã đem lại cho thơ một quan niệm thẩm mỹ hết sức mới mẻ, góp phần tạo nên một cuộc cách mạng trong thi ca: cuộc đời trần thế là đẹp nhất, con người – đặc biệt là người thiếu nữ – là tuyệt diệu nhất, là chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp trên đời.

          Xuân Diệu chịu ảnh hưởng của trường thơ tượng trưng Pháp. Trường thơ này quan niệm vũ trụ là một thế giới huyền bí mà mắt thường không nhìn thấy được, cái mà con người nhìn thấy chỉ là dấu hiệu tượng trưng của bản thể ấy. Vì vậy, các nhà thơ theo trường phái này không chủ trương miêu tả thế giới rõ rệt, hữu hình mà cố gắng miêu tả những biến thái tinh vi, mong manh, huyền diệu của vũ trụ, lòng người. Trường thơ tượng trưng đề xướng thuyết tương giao và coi trọng tính nhạc. Điều này dẫn tới đặc điểm cơ bản của thơ Xuân Diệu: đấy là một thế giới tràn đầy xuân sắc, xuân tình, mà chuẩn mực của cái đẹp là con người giữa tình yêu tuổi trẻ. Quan điểm mĩ học mới mẻ này đã khiến thi sĩ sáng tạo được nhiều hình ảnh mới mẻ, độc đáo, đẹp một cách khỏe khoắn đầy sức sống.

          Bài thơ “Vội vàng” được coi là tuyên ngôn về quan niệm sống của Xuân Diệu, một triết lí nhân sinh được thể hiện bằng hình tượng thơ thấm đẫm cảm xúc. Với Xuân Diệu, cuộc sống trần thế đầy hấp dẫn, đó là một thiên đường trên mặt đất, một khu vườn tràn đầy xuân sắc, một không gian tươi thắm tràn ngập lá nõn, hoa thơm, trái ngọt… mà vạn vật ở độ lên hương rực rỡ nhất, đều say đắm xuân tình: ong bướm như trong tuần tháng mật; hoa phải là hoa của đồng nội xanh rì; lá phải là lá của cành tơ, chồi biếc; yến oanh rộn rã khúc tình si… Vì vậy, không việc gì phải tìm kiếm thiên đường ở tận đâu, mà hãy yêu mến, gắn bó tận hưởng hết mình ngay trong cuộc đời này.

          Từ quan niệm coi con người là chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp, nhà thơ nhìn trời đất, cỏ cây, hoa lá, núi sông… đầy vẻ tình tứ:

                                         Hơi gió thở như mặt người yêu mến

                                         Mây đa tình như thi sĩ đời xưa

Thời tiết bốn mùa thì: “Xuân: người ta vì ấm mà cần tình, Thu: người ta vì lạnh sắp đến mà cũng rất cần đôi; Nắng hạ đốt người một cách cực lạc và tiết đông khỏa vào da thịt làm dây cả máu xương”. Mùa xuân được thi sĩ hình dung, liên tưởng như làn môi căng mọng của người thiếu nữ “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” – một câu thơ hay vào loại hiếm thấy trong lịch sử văn học dân tộc. Xuân Diệu đã khái quát lên thành toàn bộ thế giới xuân tình. Nhìn phấn thông bay, thi sĩ như thấy ái tình tản mạn, ôm ấp không gian, hoa thì không phân biệt được là hoa hay là những thiếu nữ đa tình. Biển thì như một người tình say đắm, một trái tim yêu không bao giờ mệt mỏi… Có thể nói, làm nên những câu thơ đầy cảm xúc, cảm giác ấy, một phần quan trọng là nhờ cách dùng từ ngữ của Xuân Diệu: độc đáo, táo bạo, có giá trị gợi cảm mạnh mẽ. Tuy nhiên, thơ Xuân Diệu, về bản chất vẫn kế thừa phát huy cái nhạc điệu riêng, linh hồn riêng của thơ ca truyền thống. Chính vì vậy, kinh nghiệm Đông và Tây, truyền thống và hiện đại, kết tinh ở một tâm hồn nghệ sĩ khát khao giao cảm với đời đã giúp Xuân Diệu khám phá được những biến thái tinh vi của thiên nhiên cũng như của nội tâm con người và thể hiện được trong những vần thơ “ít lời, nhiều ý, súc tích như đọng lại baoo nhiêu tinh hoa” (Thế Lữ).

4. Xuân Diệu rất ý thức về sự chảy trôi của thời gian:

          “Trong các nhà thơ hiện đại, Xuân Diệu là người có năng lực cảm nhận tinh tế bước đi của thời gian. Có lẽ cũng do lòng yêu tuổi trẻ, muốn ngăn sự già nua tàn tạ, nên nhà thơ luôn cảnh giác với thời gian và kịp thời báo động với chính mình” (Vũ Quần Phương). Với Xuân Diệu, thời gian trở thành “nỗi ám ảnh”, thành “kẻ thù đáng gờm”, là “đại lượng tiêu cực, thù địch với hạnh phúc và tuổi xuân”. Xuân Diệu quan niệm thời gian mang trong lòng nó sự trôi chảy mà mỗi khoảnh khắc qua đi là mất đi vĩnh viễn:

                                         Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua

                                          Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già

                                                                                  (Vội vàng)

Đây là một quan niệm hết sức mới mẻ, tiến bộ về thời gian – thời gian tuyến tính. Thời trung đại, với quan niệm thời gian tuần hoàn với chu kì bốn mùa, nên con người rất ung dung, bình thản trước thời gian:                             

                                         Sen tàn, cúc lại nở hoa

                                 Sầu dài, ngày ngắn, đông đà sang xuân

                                                                   (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Thời gian trung đại tính theo chiều vĩ mô: ngàn đời, vạn năm, thiên thu… nên chết chưa phải là hết, còn có kiếp sau. Còn ở thời hiện đại, người ta không yên tâm với điều đó. Đời người hữu hạn, ngắn ngủi vô cùng, cho nên con người không thể thờ ơ với cuộc sống, không nên lãng phí thời gian, phải sống năng suất hơn gấp nhiều lần trong cùng một thời gian được sống, hãy tìm cách đốt cuộc đời mình lên để nói trôi qua thì không phải luyến tiếc. Cho nên, ta bắt gặp những khoảnh khắc thi sĩ “cảnh giác với thời gian và kịp thời báo động với chính mình”:

                                        – Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới

                                          Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa

                                       …Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết

                                          Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt

                                                                                  (Giục giã)

                                        – Sự thật ngày nay, không thật đến ngày mai

                                                                                  (Phải nói)

                                        – Cái trôi không đợi cái bay

                                          Từ tôi phút ấy, sang tôi phút này.

Ý thức về sự trôi chảy của thời gian cũng là cách không chấp nhận cuộc sống mù tối, vô danh vô nghĩa, tẻ nhạt, và cội nguồn sâu xa của nó chính là niềm khát khao giao cảm với đời.

          Vô cùng nhạy cảm trước sự đổi thay “nổi nênh, xiêu đổ, tan tác” của cuộc đời, Xuân Diệu luôn nhìn thấy sự đối lập nghiệt ngã giữa thời gian vô tận của vũ trụ và thời gian quá ngắn ngủi của kiếp người. Càng tha thiết với cuộc đời, ông càng nhìn thấy thời gian trôi với nhịp độ chóng mặt: “rồi đi”, “cứ thế mà bay” những ngày những tháng.

                                         Thong thả chiều vàng thong thả lại

                                          Rồi đi…đêm xám tới dần dần

                                          Cứ thế mà bay cho đến hết

                                          Những ngày, những tháng, những mùa xuân

                                                                                  (Giờ tàn)        

Chưa có nhà thơ nào luyến tiếc thời gian đến xót xa như Xuân Diệu, bởi ông ý thức được rằng thời gian trôi là tuổi trẻ mất và tuổi già đang chờ đón. Do vậy, cảm nhận về sự vận động của thời gian trong thơ Xuân Diệu xuất phát từ ý thức về sự mất mát. Cùng với ngày tháng trôi qua, Xuân Diệu chỉ nhìn thấy sự vật đang bị bào mòn, tàn tạ:

                                         Hoa nở để mà tàn

                                         Trăng tròn để mà khuyết

                                         Bèo hợp để chia tan

                                         Người gần để li biệt

                                         Hoa kia không nắng cũng phai màu

                                         Trên mặt người kia in nỗi đau

                                                                                  (Hoa nở để mà tàn)

Đằng sau một loạt những “vội vàng”, “giục giã”, “mau với chứ”, “gấp đi em”… ta hình dung ra điệu bộ cuống cuồng của thi nhân cùng nỗi ám ảnh lo sợ: muộn màng, không kịp, lỡ làng, lỡ thì… Nhưng vốn là người ham sống, Xuân Diệu không cam lòng chịu để cho ngày tháng trôi qua trong mòn mỏi, vô vị, ông tìm cách chống đỡ, ngăn cản không cho thời gian cướp đi những lạc thú của tuổi trẻ, tình yêu.

          Có thể nói rằng, với Xuân Diệu, thời gian là một chất xúc tác đặc biệt tạo nên những luồng rung động đặc biệt trong cảm hứng sáng tạo, thôi thúc thi sĩ viết nên những câu thơ vừa có sức khái quát, vừa sinh động gợi cảm.

5. Xuân Diệu là nhà thơ rất có ý thức khẳng định cái “tôi” cá nhân.

          Thơ ca muôn đời vẫn là sự bộc lộ cảm xúc của chủ thể sáng tạo trước con người và tạo vật. Song nếu như trong thơ ca trung đại, quan niệm “thi dĩ ngôn chí”, “văn dĩ tải đạo” đã lấn át cái bản ngã thì Thơ mới ra đời đồng nghĩa với sự khẳng định cái “tôi” cá nhân. “Ngày thứ nhất, ai biết đích ngày nào, chữ “tôi” xuất hiện trong thi đàn Việt Nam. Nó thực sự bỡ ngỡ như lạc long nơi đất khách bởi nó mang theo một quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân” (Hoài Thanh).

          Xuân Diệu là một nhà Thơ mới tiêu biểu nhất, vì thế rất có ý thức khẳng định cái “tôi” của mình. Không phải ngẫu nhiên ông được coi là người phát ngôn đầy đủ nhất cho tư tưởng cá nhân của phong trào Thơ mới. Với Xuân Diệu, cái “tôi” cá nhân được ý thức sâu sắc khi lần đầu tiên trên thi đàn, cái “tôi” tiểu tư sản mạnh dạn bày tỏ những tâm tư thầm kín, những xúc cảm yêu đương tuôn trào, những khát vọng được hưởng thụ không dứt, không nguôi hoa thơm trái ngọt của cuộc đời trần thế. Vì thế, Xuân Diệu không chỉ hoàn toàn mới lạ so với các thế hệ trước mà còn mới lạ so với các nhà thơ cùng thời. Chỉ có Xuân Diệu mới có đủ độ nồng nàn say đắm nhất của chủ nghĩa lãng mạn phương Tây, với một cách cảm nghĩ nói năng rất phương Tây và một triết lí hưởng thụ cũng rất phương Tây:

                                         Hái một mùa hoa lá thuở măng tơ

                                         Đốt muôn nến sánh mặt trời chói lọi

                                         Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt

                                         Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm

                                                                                  (Giục giã) 

Thơ mới là thơ của cái “tôi”, viết về cái “tôi”, nhưng chỉ với Xuân Diệu, sự tồn tại của cái “tôi” mới được đẩy lên với ý nghĩa tuyệt đối của nó. Thơ ông tràn ngập chữ “tôi”, nó được khai thác và biểu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau. Nó có thể là sự phô diễn bức chân dung tự họa của nhà thơ, nhiều khi nhỏ bé, yếu đuối:

                                         Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ

                                         Mà vạn vật là muôn đá nam châm

                                                                                  (Cảm xúc)                                     

                                         Tôi là con chim đến từ núi lạ

                                                                         (Lời thơ vào tập “Gửi hương”)

                                         Tôi là con nai bị chiều đánh lưới

                                         Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối

                                                                                  (Khi chiều giăng lưới)

                                         Tôi là kẻ qua sa mạc

Nhưng cũng có lúc cái “tôi” ấy trở nên mạnh mẽ, quyết liệt:

                                         Tôi là một kẻ điên cuồng

                                         Yêu những ái tình ngây dại

                                                                                  (Thở than)            

                                         Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời

                                                                                  (Hư vô)

          Cũng có thể là sự bộc lộ đến tận cùng khát vọng khi thi nhân xoáy vào bên trong chiều sâu tâm hồn mình. Đằng sau cái “tôi” trữ tình đứng ở ngôi thứ nhất là một hệ thống những động từ chỉ hành động và tư thế cảm xúc rất Xuân Diệu : Đó là ý thức chiếm lĩnh hương sắc cuộc đời (nắng, gió, không chờ nắng hạ mới hoài xuân…), hoặc lúc không còn tự chủ được nữa: “Tất cả tôi run rẩy tựa dây đàn”, “tôi run như lá, tái như đông”. Rồi tôi nhớ; tôi buồn; tôi đã yêu; tôi sung sướng; tôi sẽ chết… Tuy nhiên, khẳng định cái “tôi” tích cực, cái “tôi” thấm đẫm màu sắc cá thể trong thơ Xuân Diệu không chỉ căn cứ vào tần số xuất hiện của chữ “tôi” hoặc vào sự đề cao quá đáng của bản ngã cá nhân thành đỉnh Hi Mã Lạp Sơn ngất ngưởng, mà cơ sở chính của nó là sự thành thật của xúc cảm. Thơ Xuân Diệu là niềm khát sống, khát yêu đến cuồng nhiệt. Con người ấy muốn uống cạn, một cách vồ vập “cái li tràn đầy sự sống”. Trong thơ Xuân Diệu, toát lên một nhu cầu mãnh liệt: được cảm thông. Con người rất có ý thức về bản ngã ấy không phải là cái “tôi” khép kín mà là cái “tôi” luôn phơi trải, luôn mở ra trước cuộc đời, là một tâm hồn khao khát tìm gặp những tâm hồn. Với Xuân Diệu, dù vui hay buồn, sung sướng hay đau khổ, hi vọng hay thất vọng… nghĩa là tất cả những rung động tinh vi của đời sống tâm hồn đều được Xuân Diệu thành thật bày tỏ. Sự chân thực của tình cảm là một phẩm chất tiêu biểu của thơ trữ tình nói chung, đến trào lưu Thơ mới được chú trọng khai thác và mở thêm nhiều ngóc ngách, phức tạp, tinh vi hơn để làm phong phú thêm khả năng tự biểu hiện và sức mạnh hướng nội của thơ. Dù ở phương diện nào, ta đều thấy ở hồn thơ Xuân Diệu những phẩm chất nổi bật tiêu biểu cho khát vọng được khẳng định cái “tôi” như một tâm điểm nghệ thuật của thơ lãng mạn 1932-1945.

III. Kết luận:

          Sinh thời, Xuân Diệu vẫn tìm đến sự giao cảm với cuộc đời bằng thơ, bằng tâm hồn của một nhà thơ thiết tha yêu sự sống. Sự nghiệp mà ông để lại là một di sản thơ vô giá mà từng ý thơ, từng lời thơ vẫn tiếp tục nảy sinh, đánh thức dậy niềm vui, nỗi buồn và bao xôn xao trong lòng tuổi trẻ hôm nay. Ở giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu được coi là gương mặt tiêu biểu nhất của trào lưu thơ ca lãng mạn; là nhà thơ “mới nhất” trong các nhà Thơ mới. Ông đã mang đến cho thi đàn Việt Nam một nguồn cảm hứng yêu đời dào dạt, một luồng rung động mới mẻ trước tình yêu, một nhịp sống hoàn toàn mới lạ và một cái tôi giàu bản sắc. Ông cũng là người tìm ra nhiều kiểu cấu trúc hiện đại cho câu thơ Việt Nam và làm phong phú thêm hình thức thơ bằng những hình ảnh độc đáo và những nét nhạc điệu tân kì. Có thể nói, sự cộng hưởng giữa khát vọng sống và khát vọng đổi mới thơ ca là nguồn động lực thúc đẩy mọi sự tìm tòi sáng tạo và tạo ra sức mạnh cảm hóa đặc biệt của thơ Xuân Diệu trước Cách mạng Tháng Tám.

          Với nửa thế kỉ hành trình sáng tạo, Xuân Diệu đã để lại cho các thế hệ độc giả và nhất là những người cầm bút bài học thấm thía về tài năng và bản lĩnh thi sĩ. Con đường đi của Xuân Diệu từ một nhà thơ lãng mạn thành một nhà thơ Cách mạng là con đường tiêu biểu cho thế hệ Thơ mới 1932-1945. Ở cả hai chặng đường ấy, Xuân Diệu đều có những cống hiến hết sức to lớn. Vị trí của ông trên văn đàn dân tộc là một vị trí không ai có thể thay thế được. Cùng với khát vọng sống thiết tha sôi nổi, thơ Xuân Diệu sẽ tiếp tục hành trình trong cuộc sống hôm nay và mai sau.

     

                                       

       

                            

                  

                                         

                                        

                                         

                                        

Tweet

Họ tên

Email

Tiêu đề

Nội dung

Mã kiểm tra

Tin khác

CHI TIẾT NGHỆ THUẬT TRONG TÁC PHẨM TỰ SỰ

Chuyên đề: Rèn luyện nâng cao kĩ năng kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội cho học sinh giỏi (Nguyễn Thị Hạnh)

Rèn kĩ năng lựa chọn ngữ liệu phân tích trong kiểu bài lí luận văn học không giới hạn ngữ liệu chứng minh cho học sinh chuyên văn (Lê Thị La)

Kiểu nhân vật tự ý thức trong trang văn của Nam Cao và Nguyễn Minh Châu (Lê Thị La)

Tiếng nói tri âm trong Độc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du), Kính gửi cụ Nguyễn Du (Tố Hữu) và Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo) – Bùi Thị Phương Thúy –

Chữa lỗi trong bài văn nghị luận xã hội cho học sinh (Bùi thị Phương Thúy)

Chuyên đề: Kĩ năng bồi dưỡng học sinh giỏi với kiểu bài lí luận văn học (Nguyễn Thị Hạnh)

Văn xuôi lãng mạn 1930 – 1945 với hai tác giả tiêu biểu trong chương trình THPT: Thạch Lam và Nguyễn Tuân (Nguyễn Thị Vân)

Đặc sắc truyện ngắn Nam Cao qua tác phẩm Chí Phèo (Trương Văn Quỳnh)

Văn học hiện thực 1930 – 1945 (Trương Văn Quỳnh)

1

 2 3 4 5 

Phân Tích Và Soạn Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu / 2023

Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diêu, sinh năm 1916 và mất năm 1985. Ông sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống Nho học

Ông lớn lên tại Quy Nhơn, sau đó học hết Thành Chung tại Hà Nội và học tiếp tại Huế. Sau khi tốt nghiệp tú tài, Xuân Diệu đi dạy học đồng thời làm viên chức Sở Đoan một thời gian.

Xuân Diệu tham gia Việt Minh từ trước Cách mạng tháng Tám, cống hiến hết mình cho nghệ thuật và cách mạng.

Với ông, rèn luyện, học tập và lao động là quá trình sáng tạo khắc khổ, là sự quyết tâm và niềm say mê lớn.

Tư tưởng của ông chịu ảnh hưởng của cả truyền thống lẫn hiện đại. Lớn lên trong gia đình nhà Nho, sau đó hấp thu ảnh hưởng văn hóa Pháp một cách có hệ thống.

Khẳng định cái tôi và sự khát khao giao cảm với đời là tư tưởng xuyên suốt trong các tác phẩm của Xuân Diệu. Cùng với tâm hồn đa cảm đầy yêu đời, sự xuất hiện của ông trong phong trào Thơ Mới đã thổi một luồng giớ mới mẻ vào văn học và nghệ thuật thời bấy giờ.

Được mệnh danh là “nhà thơ của tình yêu”, Xuân Diệu mang trong mình nỗi ám ảnh, nỗi đau của một trái tim đắm say tha thiết một tình yêu cá nhân nhưng không được thời cuộc đáp ứng.

Một thế giới nghệ thuật đầy tình tứ và màu sắc với chuẩn mực cái đẹp của phương Tây. Với quan điểm mỹ học này cùng với tài năng của mình, ông đã tạo nên những tác phẩm bất hủ với những hình ảnh độc đáo mới mẻ.

“Thơ Xuân Diệu Tây quá” bởi ông chịu ảnh hưởng từ thơ tượng trưng Pháp thế kỉ XIX. Ông khám phá ra những biến đổi tinh vi của thiên nhiên tạo hóa, của tâm trạng con người.

Một số tác phẩm tiêu biểu và nổi bật trước Cách mạng như: Trước Cách mạng có Vội vàng của Xuân Diệu, Phấn thông vàng (sáng tác 1939), Trường Ca (sáng tác 1945).

Giai đoạn sau cách mạng, thơ của Xuân Diệu đã hòa nhập hơn với cuộc sống và thời đại, đi tìm tiếng nói chung, với cái ta chung trong cuộc sống sôi động của nhân dân. Thời điểm này ông say mê ca ngợi tổ quốc, nhân dân.

Nhìn chung, có thể thấy rằng Xuân Diệu là nhà thơ của tuổi trẻ, của mùa xuân, của những dạt dào tình yêu.

Vội vàng của Xuân Diệu được in trong tập “Thơ thơ“, là một trong những tác phẩm tiêu biểu và điển hình cho tư tưởng và phong cách nghệ thuật của tác giả trước Cách mạng tháng Tám.

Vội vàng của Xuân Diệu chính là sức sống mạnh mẽ của một hồn thơ yêu đời, yêu người. Đồng thời nó cũng là tiếng thơ giục giã hãy sống hết mình, trân trọng từng giây phút, đặc biệt những năm tháng của tuổi trẻ.

Vội vàng của Xuân Diệu thể hiện sự say mê và gắn bó với cái đẹp, đồng thời thể hiện niềm tin yêu vào cuộc sống. Tác phẩm cũng là sự kết tinh trong tâm hồn người thi nhân khát khao giao hòa với đời và người. Để nắm được nội dung và tư tưởng bài thơ, chúng ta cần nắm được kiến thức cơ bản về tác giả Xuân Diệu cũng như bài thơ Vội vàng.

Vội vàng của Xuân Diệu khẳng định tài năng trong ngòi bút của thi nhân, đồng thời khắc họa quan niệm sống mới mẻ đầy táo bạo mà trước đó chưa từng có. Với Xuân Diêu, chúng ta cần ghi nhớ các thông tin như sau:

Phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

“Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi”

Cảm nhận và phân tích Vội vàng của Xuân Diệu sẽ cho thấy một hồn thơ rộng mở đầy yêu đời của thi nhân phong trào Thơ Mới.

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa Tháng giêng ngon như một cặp môi gần“

Trong Vội vàng của Xuân Diệu, tình yêu thiên nhiên say đắm của nhân vật trữ tình “tôi” được bộc lộ mãnh liệt qua 11 câu thơ đầu tiên. Người đọc có thể cảm nhận được bức tranh thiên nhiên hữu hình, nên thơ, có hồn có đôi lứa, bên cạnh đó cũng là cảm giác ngự trị thiên nhiên với khát khao níu giữ thời gian và không gian.

Vội vàng của Xuân Diệu bắt đầu với những câu thơ ngũ ngôn thể hiện khát vọng không tưởng của nhân vật trữ tình:

Với tình yêu cuộc sống và thiên nhiên mãnh liệt “toàn tâm, toàn trí, toàn hồn”, trong Vội vàng của Xuân Diệu là cả một thiên đường trên mặt đất với biết bao màu sắc, ánh sáng và âm thanh. Một bữa tiệc trần gian đầy hấp dẫn như đang hiện lên trước mắt người đọc. Có yến anh tình từ, ong bướm dập dìu, có những khúc ca tình si, có ánh sáng hòa nhịp đôi mi… Tất cả là một bức tranh thiên nhiên dạt dào sắc xuân và tràn trề nhựa sống.

“Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già, Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.”

Trong Vội vàng của Xuân Diêu, người đọc nhận thấy thi nhân như muốn “xây lầu thơ trên một tấm lòng trần gian”. Nếu Thế Lữ như muốn thoát lên tiên, Lưu Trọng Lư lại phiêu lưu trường tình, Chế Lan Viên lại đắm say tha thiết thì trong con mắt của Xuân Diệu- thế giới trần thế đẹp và sức sống biết bao.

Tháng giếng là sự khởi đầu của một năm, khởi đầu của sự sống mơn mởn, của mùa xuân xanh miên man. Vẻ đẹp của cuộc sống được diễn tả qua hình ảnh nhân hóa tháng giếng với cặp môi gần căng mọng của người thiếu nữ. Thiên nhiên và con người chính là chuẩn mực của cái đẹp.

Trong Vội vàng của Xuân Diệu, nhân vật trữ tình đã cảm nhận cuộc sống bằng tâm hồn nhạy cảm và tinh vi. Vì thế, sự sống cũng bắt đầu bằng xuân của tình. Được mệnh danh là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân, của tuổi trẻ – Xuân Diệu đặc biệt nhạy cảm trước những bước đi của thời gian.

Thi sĩ đã khẳng định không xuân qua hạ đến mới hoài niệm tiếc nuối, mà phải nắm bắt để sống trọn vẹn từng khoảnh khắc của thời gian, để tuổi trẻ không bị phí hoài.

Trong vội vàng của Xuân Diệu, nhà thơ đã nhận thức được bước đi của thời gian. Mùa xuân đại diện cho tuổi trẻ, cho sự sống mãnh liệt. Ấy vậy mà, ” xuân đang qua” có nghĩa là tuổi trẻ cũng ngày một qua đi. Điệp từ “xuân” lặp đi lặp lại 5 lần ngầm khẳng định bước đi tàn khốc của thời gian – sự trôi qua lặng lẽ không đợi một ai. Nhà thơ cũng nhấn mạnh, xuân đi tuổi trẻ qua thì tâm hồn cũng sẽ tàn phai “tôi cũng mất”

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn Ta muốn riết mây đưa và gió lượn Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều”

Tuổi trẻ cũng sẽ qua theo bước đi của thời gian, xuân có thể tuần hoàn nhưng tuổi trẻ chẳng thể hai lần thắm lại. Sự tinh tế của nhân vật trữ tình trong vội vàng của xuân diệu chính là cảm nhận được sự tàn phai ngay khi sự sống đang bắt đầu mơn mởn nhất. Trong cảm nhận của nhà thơ, thời gian cũng có mùi vị, mà là mùi vị chia phôi, là sự ngậm ngùi than thở của đất trời, của sông núi.

Vội vàng của Xuân Diệu đã khẳng định thiên nhiên cuộc sống đẹp như vậy, nhưng vẫn không thể tắt năng, buộc gió, cũng không thể cầm giữ níu kéo thời gian. Thực tế chỉ có duy nhất một cách là tranh thủ sống, chạy đua cùng thời gian, để từng khoảnh khắc trôi qua, nhất là khi tuổi trẻ đang ngày một dần trôi sẽ không bị phí hoài.

Có thể nói, mười tám câu thơ tiếp theo này trong Vội vàng của Xuân Diệu nhà thơ đã cảm nhận được sự trôi mau của thời gian. Đi cùng với nó là sự hối hả, sự hoài niệm, sự lưu luyến mùa xuân, sự tiếc nuối tuổi trẻ cùng với sự say đắm thiên nhiên. Khổ thơ cuối, thi sĩ lại bày tỏ quan điểm mới mẻ về thời gian.

Đến đây, sự biến chuyển từ đại từ nhân xưng “tôi” thành “ta”để tâm sự và bộc bạch đã cho thấy sự tự đối diện với chính mình của nhà thơ về bước đi của thời gian. Sự cuống quit, gấp gáp, vồ vập cùng với nhịp thơ nhanh cho thấy khát khao sống cuồng nhiệt và mong ước níu giữ những vẻ đẹp tươi non của thiên nhiên.

Đoạn 1: 11 câu thơ đầu – Tình yêu cuộc sống mãnh liệt nơi trần thế

Đoạn 2: 18 câu thơ tiếp – Sự băn khoăn của nhà thơ trước bước đi của thời gian

Đoạn 3: Các câu còn lại – Sự cuồng nhiệt, hối hả, vội vã với cuộc sống của nhân vật trữ tình

Mùa xuân và thời gian

Tuổi trẻ và thời gian

Trân trọng tuổi trẻ

Quan niệm hạnh phúc

Dù là ôm, là riết, là say, là thâu nhưng vẫn không thể trọn vẹn. Trái tim rộng mở ấy tha thiết yêu cuộc sống, thiết tha gắn bó giao hòa với thiên nhiên, khát khao níu giữ thời gian, níu giữ xuân xanh nhưng đều không thắng được tạo hóa. Có thể nói, vội vàng của Xuân Diệu là tiếng nói của một tâm hồn gắn bó và yêu sống đến cuồng nhiệt.

“Thanh sắc trần gian” không thể tồn tại mãi, thời gian đã được tạo hóa ban cho vòng quay không dừng, và vì thế tuổi trẻ cũng sẽ một đi không trở lại. Bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu cũng thể hiện khát vọng giao hòa, sự trân trọng thời gian, mùa xuân và tuổi trẻ.

Soạn bài Vội vàng của Xuân Diệu

Để hiểu hơn về nội dung, ý nghĩa giá trị cũng như nghệ thuật của bài thơ, chúng ta cùng đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi trong chương trình qua việc soạn bài Vội vàng của Xuân Diệu.

Tác giả: Việt Phương

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phong Cách Nghệ Thuật Thơ Xuân Diệu / 2023 trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!