Đề Xuất 12/2022 # Những Bài Học Kinh Nghiệm Rút Ra Từ Các Mô Hình Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế, Ứng Dụng Khoa Học Công Nghệ Đạt Hiệu Quả Kinh Tế Cao / 2023 # Top 21 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 12/2022 # Những Bài Học Kinh Nghiệm Rút Ra Từ Các Mô Hình Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế, Ứng Dụng Khoa Học Công Nghệ Đạt Hiệu Quả Kinh Tế Cao / 2023 # Top 21 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Những Bài Học Kinh Nghiệm Rút Ra Từ Các Mô Hình Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế, Ứng Dụng Khoa Học Công Nghệ Đạt Hiệu Quả Kinh Tế Cao / 2023 mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Xã Liên Khê (huyện Thủy Nguyên) đã chuyển đổi diện tích trước đây cấy lúa và trồng các cây ăn quả hiệu quả thấp sang trồng Na bở – một giống na năng suất cao, chất lượng tốt của địa phương. Tới nay đã quy vùng được trên 100 ha, ứng dụng kỹ thuật mới kết hợp với kinh nghiệm cổ truyền, nhờ thế năng suất na đạt 12 – 13 tấn/ha, sản phẩm được thị trường ưa chuộng, đem lại thu nhập gấp 7 – 10 lần cấy lúa và gấp 3 – 4 lần trồng cây ăn quả khác.

Xã An Thọ (huyện An Lão) chuyển 28 ha cấy 2 vụ lúa/năm sang quy vùng trông rau chuyên canh, áp dụng công thức liên hoàn rau chính vụ và trái vụ, theo quy trình sản xuất rau sạch mỗi năm thu lợi nhuận 2,5 tỷ đồng.

Xã Quang Hưng, An Tiến (huyện An Lão) chuyển diện tích ruộng trũng cấy 2 vụ lúa năng suất bấp bênh sang trồng sen kết hợp với du lịch sinh thái, đem lại lợi nhuận 150 – 200 triệu đồng/ha năm.

Một số xã thuộc huyện An Lão, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Kiến Thụy chuyển ruộng ngoài để nuôi cá kém hiệu quả sang quy vùng áp dụng công thức lúa – rươi, dùng giống lúa J02 theo quy trình sản xuất hữu cơ. Kết quả: Giá bán 13.500 đồng/1kg thóc gấp gần 2 lần giá thóc thường (7.000 đồng/kg) thu lợi nhuận vụ mùa 2,2 triệu đồng/ha, vụ xuân 3,6 triệu đồng/ha.

Xã Đại Thắng (huyện Tiên Lãng) ứng dụng đề tài khoa học “Nghiên cứu sản xuất lúa nếp cái hoa vàng thương phẩm theo quy trình VietGAP”, chuyển cấy lúa tẻ sang cấy lúa nếp Cái hoa vàng (95% diện tích), tăng thu nhập gấp 1,3 – 1,5 lần.

 Các xã Đông Hưng, Tây Hưng, Nam Hưng, Bắc Hưng, Tiên Hưng (huyện Tiên Lãng) nuôi vịt đẻ theo quy trình an toàn thực phẩm, được cấp giấy chứng nhận thương hiệu “Đặc sản trứng vịt Chấn Hưng”, sản phẩm đã bán tại 20 cửa hàng, siêu thị tại Hà Nội với giá 4.500 đồng/quả gấp gần 2 lần giá trứng vịt thông thường.

Gần 30 hộ thuộc xã Dũng Tiến, Vĩnh An (huyện Vĩnh Bảo), Lê Lợi, Hồng Phong (huyện An Dương) nuôi gà lông màu (giống Lương Phượng, Ri lai, Mía lai) theo quy trình VietGaps quy mô 20.000 con, mỗi năm 2 – 3 lúa, thu lợi nhuận 15 – 20 triệu đồng/lứa…

Xã Tân Hưng (huyện Tiên Lãng) chuyển ruộng trồng độc canh lúa sang nuôi trồng thủy sản (tôm, cá). Hiện có 400 ha (trong đó có 140 ha quy hoạch thành vùng), sản lượng mỗi năm đạt 3.000 – 3.200 tấn. Riêng năm 2018 doanh thu đạt 63,2 tỷ đồng.

Ông Đào Quang Trịnh ở thôn 1 xã Đông Sơn (Thủy Nguyên) đầu tư xây dựng 4000m2 nhà kính và các trang thiết bị, trồng dưa lưới theo công nghệ, Israel – Nhật Bản kết hợp mỗi năm 3 vụ, mỗi vụ thu 1,5 tỷ đồng. Ông còn trồng các loại hoa lan Hồ điệp, hoa Ly, hoa Cẩm tú cầu bán vào dịp tết thu thêm hàng tỷ đồng nữa.

Bà Đỗ Thị Duyên xã Hùng Tiến (huyện Vĩnh Bảo) thuê đất của các hộ nông dân, quy hoạch vùng 15 ha, trồng rau xuất khẩu theo công thức luân canh 1 năm 4 vụ: Bắp cải – đỗ tương – dưa lê – súp lơ, đồng thời tiếp thu các giống cây mới nhập ngoại như Măng tây, Cà tím… Sau khi trừ chi phí thu lãi 130 – 150 triệu đồng/vụ.

Ông Hoàng Văn Khiêm thôn Đại Công, xã Tiên Cường (Tiên Lãng) sau khi đi dự lớp tập huấn kỹ thuật và tham quan học tập kinh nghiệm từ các hộ làm kinh tế giỏi về, chuyển diện tích cấy lúa 2 vụ/năm sang trồng mẫu chuyên canh: Theo công thức: 3 vụ dưa + 1 vụ khoai tây/năm, thu lãi trên 200 triệu đồng/ha.

Ông Phạm Xuân Dương thôn Phúc Xá, xã Đoàn Xá (Kiến Thụy) thuê 2ha ruộng, cải tạo, lập vùng nuôi tôm 1 năm 2 vụ theo mô hình ứng dụng công nghệ cao đạt sản lượng 20 tấn/năm, trừ chi phí còn lãi 1,5 tỷ đồng.

Anh Nguyễn Khắc Thăng phường Minh Đức (quận Đồ Sơn), ứng dụng đề tài nghiên cứu khoa học “Nuôi cá sông trong ao”, xây dựng 2 hệ thống bể trong ao (kích thước 5m x 2,5m) nuôi cá trắm cỏ và cá chép theo quy trình công nghệ mới đạt năng suất gấp 10 lần cách nuôi truyền thống.

Anh Vũ Văn Tăng thôn Lang Thượng, xã Mỹ Đức (An Lão) thuê đất bỏ hoang, đi học kỹ thuật ở các trang trại về xây dựng mô hình nuôi cá cảnh, gà Ri, trồng cây ăn quả. Hiện anh có 38 loại cá cảnh, có con bán hàng triệu đồng, đàn gà 3.500 con và một khu vườn trồng các loại bưởi, na, nhãn toàn giống mới. Mỗi năm trang trại của anh thu lợi nhuận 600 – 700 triệu đồng.

Trang trại tổng hợp của anh Nguyễn Xuân Bốn ở xã Hưng Nhân (Vĩnh Bảo) hiện có 1 vùng 4 ao nuôi cá rộng 2 ha, 1 đàn vịt gần 1.000 con và 200 đôi chim bồ câu. Tất cả đều nuôi theo kỹ thuật mới đạt, doanh thu 1,5 tỷ, lợi nhuận 350 – 400 triệu/năm.

Không thể kể hết những mô hình nông dân chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ, cải tiến kỹ thuật đạt hiệu quả kinh tế cao đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều ở các địa phương trên địa bàn thành phố.

Từ những mô hình trên, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm sau đây:1. Cần dựa vào tiềm năng lợi thế (về điều kiện đất đai, nguồn nước, tập quán sản xuất, nghề truyền thống của gia đình và địa phương) để quyết định chọn mô hình phù hợp;2. Quy hoạch vùng và đầu tư cơ sở hạ tầng đồng bộ là yếu tố quan trọng tạo thuận lợi cho quản lý, thực hiện quy trình công nghệ để đạt hiệu quả cao;3. Thực hiện sản xuất gắn với yêu cầu thị trường, tiến hành liên kết với các hợp tác xã, các doanh nghiệp để tiêu thụ sản phẩm là yếu tố quyết định thành công của mô hình;4. Thường xuyên vừa sản xuất vừa tổng kết rút kinh nghiệm và tham quan học hỏi các mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao, từ đó cải tiến quy trình theo hướng nâng cao tranh năng suất chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí hạ giá thành nâng cao sức cạnh;5. Tranh thủ sự giúp đỡ về khoa học công nghệ của các cơ quan chuyên môn như: Sở Khoa học và Công nghệ, các viện nghiên cứu, các trường đại học, trung tâm Khuyến nông; tiếp cận với các cơ chế chính sách đã ban hành để hỗ trợ về vốn, về quy trình công nghệ…;6. Thường xuyên cập nhật thông tin về khoa học công nghệ mới, về diễn biến của thị trường, từ đó xây dựng kế hoạch sản xuất hằng năm;7. Sự quan tâm khuyến khích, động viên, tạo điều kiện thuận lợi của chính quyền và các tổ chức đoàn thể ở địa phương sẽ giúp cho mô hình phát triển bền vững./.

Bài Tập Trắc Nghiệm Kinh Tế Vĩ Mô / 2023

Bài tập trắc nghiệm Kinh tế vĩ mô là bộ tài liệu bao gồm các câu hỏi trắc nghiệm môn Kinh tế vĩ mô. Môn kinh tế vĩ mô là một phân ngành của kinh tế học chuyên nghiên cứu về đặc điểm, cấu trúc và hành vi của cả một nền kinh tế nói chung. Các bài tập trắc nghiệm kinh tế vĩ mô có đáp án này là tài liệu hữu ích với các bạn sinh viện trong quá trình học tập cũng như ôn tập thi cuối kì.

Bài tập tự luận kinh tế vĩ mô có đáp án

A – Câu hỏi trắc nghiệm

1.1. Chọn câu trả lời 1. Lý do nào sau đây không phải là lý do tại sao lại nghiên cứu kinh tế học?

a. Để biết cách thức người ta phân bổ các tài nguyên khan hiếm để sản xuất ra các hàng hoá.

b. Để biết cách đánh đổi số lượng hàng hoá lấy chất lượng cuộc sống.

c. Để biết một mô hình có hệ thống về các nguyên lý kinh tế về hiểu biết toàn diện thực tế.

d. Để tránh những nhầm lẫn trong phân tích các chính sách công cộng.

e. Tất cả các lý do trên đều là những lý do tại sao lại nghiên cứu kinh tế học.

2. Kinh tế học có thể định nghĩa là:

a. Nghiên cứu những hoạt động gắn với tiền và những giao dịch trao đổi giữa mọi người

b. Nghiên cứu sự phân bổ các tài nguyên khan hiếm cho sản xuất và việc phân phối các hàng hoá dịch vụ.

c. Nghiên cứu của cải.

d. Nghiên cứu con người trong cuộc sống kinh doanh thường ngày, kiếm tiền và hưởng thụ cuộc sống.

e. Tất cả các lý do trên.

3. Lý thuyết trong kinh tế:

a. Hữu ích vì nó kết hợp được tất cả những sự phức tạp của thực tế.

b. Hữu ích ngay cả khi nó đơn giản hoá thực tế.

c. Không có giá trị vì nó là trừu tượng trong khi đó thực tế kinh tế lại là cụ thể.

d. “Đúng trong lý thuyết nhưng không đúng trong thực tế”.

e. Tất cả đều sai.

4. Kinh tế học có thể định nghĩa là:

a. Cách làm tăng lượng tiền của gia đình.

b. Cách kiếm tiền ở thị trường chứng khoán.

c. Giải thích các số liệu khan hiếm.

d. Cách sử dụng các tài nguyên khan hiếm để sản xuất ra các hàng hoá dịch vụ và phân bổ các hàng hoá dịch vụ này cho các cá nhân trong xã hội.

e. Tại sao tài nguyên lại khan hiếm như thế.

5. Lý thuyết trong kinh tế học:

a. Có một số đơn giản hoá hoặc bóp méo thực tế.

b. Có mối quan hệ với thực tế mà không được chứng minh.

c. Không thể có vì không thể thực hiện được thí nghiệm.

d. Nếu là lý thuyết tốt thì không có sự đơn giản hoá thực tế.

e. Có sự bóp méo quá nhiều nên không có giá trị.

b. Tâm lý học.

c. Xã hội học.

d. Khoa học chính trị.

e. Tất cả các khoa học trên.

Vĩ Mô Là Gì? Phân Biệt Kinh Tế Vi Mô Và Kinh Tế Vĩ Mô / 2023

Vĩ mô là gì? Phân biệt kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô? Phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, các trường phái nghiên cứu về kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô? Vai trò của pháp luật kinh doanh bất động sản với việc thực hiện các công cụ vĩ mô?

Kinh tế vĩ mô trong tiếng Anh là Macroeconomics. Đó là môn khoa học quan tâm đến việc nghiên cứu, phân tích, lựa chọn các vấn đề kinh tế tổng thể của toàn bộ nền kinh tế.

Nội dung của khái niệm kinh tế đã mở rộng cùng với sự phát triển xã hội và nhận thức của con người. Kinh tế được xem là một lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người trong việc tạo ra giá trị đồng thời với sự tác động của con người vào thiên nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội.

Căn cứ vào góc độ, phạm vi và sự tương tác giữa các hoạt động kinh tế, kinh tế học phân chia thành hai bộ phận quan trọng: Kinh tế học vi mô và Kinh tế học vĩ mô.

Kinh tế học vi mô nghiên cứu những hành vi của các chủ thể kinh tế, như doanh nghiệp, hộ gia đình…trên một thị trường cụ thể.

* Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích cơ chế thị trường thiết lập ra giá cả tương đối giữa các mặt hàng và dịch vụ và sự phân phối các nguồn tài nguyên giới hạn giữa nhiều cách sử dụng khác nhau. Kinh tế vi mô phân tích thất bại của thị trường, khi thị trường không vận hành hiệu quả, cũng như miêu tả những điều kiện cần có trong lý thuyết cho việc cạnh tranh hoàn hảo.

* Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp mô hình hoá; Phương pháp so sánh tĩnh; Phương pháp phân tích cận biên;….

* Ví dụ: Kinh tế vĩ mô nghiên cứu sự lựa chọn của người tiêu dùng: Với ngân sách hạn chế, người tiêu dùng lưa chọn hàng hoá và dịch vụ như thế nào để tối đa hoá độ thoả dụng; Hộ gia đình mua bao nhiêu hàng hoá, cung cấp bao nhiêu giờ lao động; Hoặc nghiên cứu hành vi của doanh nghiệp, tập trung xem xét quyết định của doanh nghiệp trong việc lựa chọn yếu tố đầu vào, sản lượng để tối đa hoá lợi nhuận; doanh nghiệp thuê bao nhiêu lao động và bán bao nhiêu hàng hoá; Hoặc nghiên cứu các thị trường cụ thể: thị trường lao động, đất đai, vốn; nghiên cứu các mô hình thị trường: cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo, độc quyền…

Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu những vấn đề bao trùm toàn bộ nền kinh tế như sản lượng quốc gia, tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp, lạm phát, tổng cung, tổng cầu, các chính sách kinh tế quốc gia, thương mại quốc tế v.v. Nó nghiên cứu nền kinh tế như một tổng thể thống nhất.

* Mục tiêu nghiên cứu: Nhằm giải thích mối quan hệ giữa các yếu tố như thu nhập quốc gia, sản lượng, tiêu dùng, thất nghiệp, lạm phát, tiết kiệm, đầu tư, buôn bán đa quốc gia và tài chính đa quốc gia. Các mô hình này và các dự báo do chúng đưa ra được cả chính phủ lẫn các tập đoàn lớn sử dụng để giúp họ phát triển và đánh giá các chính sách kinh tế và các chiến lược quản trị.

* Phạm vi nghiên cứu: tổng sản phẩm, việc làm, lạm phát, tăng trưởng, chu kỳ kinh tế, vai trò ổn định kinh tế vĩ mô của chính phủ, v.v.

* Phương pháp nghiên cứu: Kinh tế học vĩ mô sử dụng tích cực phương pháp mô hình hóa. Gần như mỗi một hiện tượng kinh tế vĩ mô lại được mô tả bằng một mô hình riêng với những giả thiết riêng

* Các trường phái kinh tế học vĩ mô: Chủ nghĩa Keynes; Trường phái tổng hợp; Trường phái tân cổ điển; Chủ nghĩa kinh tế tự do mới; Trường phái cơ cấu;….

* Ví dụ: Kinh tế vĩ mô nghiên cứu sự ảnh hưởng của các khoản chi tiêu đến tổng cầu. Sự tác động của chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ đến tổng cầu, sự tương tác giữa tổng cung và tổng cầu tạo nên các cán cân bằng kinh tế vĩ mô như thế nào?….

Kinh tế học vi mô đi sâu nghiên cứu, phân tích những tế bào kinh tế cụ thể, còn kinh tế học vĩ mô nghiên cứu tổng thể nền kinh tế, tức là nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa các tế bào kinh tế có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của nền kinh tế.

Kinh tế học vi mô và vĩ mô tuy nghiên cứ kinh tế trên những giác độ khác nhau nhưng đều là những bộ phận quan trọng cấu thành nên kinh tế học, không thể chia cắt mà bổ sung cho nhau. Trong thực tiễn kinh tế và quản lý kinh tế, nếu chỉ giải quyết những vấn đề kinh tế vi mô, quản lý kinh tế vi mô hay quản lý sản xuất kinh doanh mà không có điều chỉnh cần thiết của kinh tế vĩ mô, quản lý nhà nước về kinh tế thì nền kinh tế sẽ bất ổn định và không thể phát triển được.

4. Vai trò của pháp luật kinh doanh bất động sản với việc thực hiện các công cụ vĩ mô

Bất động sản là loại tài sản có giá trị lớn, do đó, việc quản lý của Nhà nước đối với chúng bằng pháp luật là cơ sở để bảo đảm an toàn cho các giao dịch bất động sản. Mọi bất động sản đều được Nhà nước quản lý như đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng, cũng như các biến động của chúng. Mọi giao dịch bất động sản phải có sự giám sát của Nhà nước, đặc biệt trong khâu đăng ký pháp lý.

Sự tham gia của Nhà nước vào thị trường bất động sản thông qua yếu tố pháp luật sẽ làm cho thị trường bất động sản ổn định hơn và an toàn hơn. Bất động sản được đăng ký pháp lý theo đúng pháp luật sẽ có giá trị hơn, chúng được tham gia vào tất cả các giao dịch, mua bán, chuyển nhượng, trao đổi, cho thuê, thế chấp, góp vốn liên doanh, cổ phần…Hơn nữa, thông qua kiểm soát thị trường bất động sản, Nhà nước tăng được nguồn thu ngân sách từ thuế đối với các giao dịch bất động sản.

Thứ nhất, quản lý tốt thị trường bất động sản sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển, tăng nguồn thu cho Ngân sách nhà nước.

Phát triển và điều hành tốt thị trường bất động sản sẽ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua các biện pháp kích thích vào đất đai, tạo lập các công trình, nhà xưởng, vật kiến trúc…để từ đó tạo nên chuyển dịch đáng kể và quan trọng về cơ cấu trong các ngành, các vùng lãnh thổ và trên phạm vi cả nước.

Thứ hai, quản lý có hiệu quả thị trường bất động sản sẽ đáp ứng nhu cầu bức xúc ngày càng gia tăng về nhà ở cho nhân dân.

Thị trường nhà ở là bộ phận quan trọng chiếm tỷ trọng lớn trong thị trường bất động sản. Thị trường nhà ở là thị trường sôi động nhất trong thị trường bất động sản, những cơn “sốt” nhà đất hầu hết đều bắt đầu từ “sốt” nhà ở và lan toả sang các thị trường bất động sản khác và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân. Vì vậy, phát triển và quản lý có hiệu quả thị trường bất động sản nhà ở, bình ổn thị trường nhà ở, bảo đảm cho giá nhà ở phù hợp với thu nhập của người dân là một trong những vai trò quan trọng của quản lý nhà nước về thị trường bất động sản nhà ở.

Kinh Tế Học (P8: Mô Hình Tổng Cung – Tổng Cầu) / 2023

4.8

/

5

(

10

votes

)

Kinh tế vi mô và vĩ mô đều có mô hình tổng cung tổng cầu. Khác biệt là kinh tế vi mô nghiên cứu một mặt hàng, một ngành hàng; còn kinh tế vĩ mô nghiên cứu cho cả nền kinh tế. Vì vậy trục hoành của kinh tế vi mô là sản lượng của hàng hóa đó còn trục hoành của kinh tế vĩ mô là tổng sản lượng của cả nền kinh tế. Trục tung của kinh tế vi mô là mức giá của mặt hàng đó; trục tung của kinh tế vĩ mô là mức giá cơ sở chung.

Mô hình cung cầu trong kinh tế vi mô giúp ta có các dự đoán về kết quả của các cú sốc hay các điều chỉnh về giá và sản lượng của một mặt hàng, ngành hàng từ đó có các điều chỉnh thích hợp. Mô hình tổng cung tổng cầu trong kinh tế vĩ mô cho ta cái nhìn của cả nền kinh tế.

Cung cầu trong kinh tế vi mô ký hiệu là D và S. Cung cầu trong kinh tế vĩ mô là AD và AS

1. Tổng cầu (AD)

Là  tổng lượng hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trong một quốc gia mà các tác nhân kinh tế muốn và có khả năng mua tại mỗi mức giá.

Các tác nhân kinh tế là chính phủ (với chi tiêu G), doanh nghiệp ( I), hộ gia đình (C) và xuất khẩu ròng NX

AD có độ dốc âm, dốc  xuống vì:

– Hiệu ứng của cải (Pigou) : mối quan hệ giữa tiêu dùng C và mức giá P:

Khi giá tăng trong khi tiền người dân nắm giữ vẫn vậy, họ cảm thấy nghèo đi vì vậy giảm chi tiêu. Khi giá giảm đi người dân cảm thấy giàu hơn vì vậy họ tăng chi tiêu. Tăng chi tiêu làm tăng tổng cầu và ngược lại.

– Hiệu ứng lãi suất (Keynes): mối quan hệ giữa đầu tư I và giá cả P:

Khi giá hàng hóa giảm người dân có nhiều tiền tiết kiệm hơn vì vậy họ gửi ngân hàng làm cho số tiền cho vay tăng. Ngân hàng thừa vốn sẽ giảm lãi suất. Doanh nghiệp thấy lãi suất ngân hàng giảm sẽ vay tiền để tăng đầu tư. Vì vậy khi P giảm thì I tăng mà P tăng thì I giảm

– Hiệu ứng tỷ giá (Mundell – Fleming): mối quan hệ giữa mức giá P và xuất khẩu ròng NX

Ngoài ra khi giá tăng thì người dân có ít tiền tiết kiệm hơn vì vậy để huy động được tiền ngân hàng sẽ tăng lãi suất. Tăng lãi suất khiến cho vốn chảy vào nền kinh tế tăng làm cho đồng nội tệ lên giá và đồng ngoại tệ xuống giá. (ví dụ như nếu tiền USD gửi ở nước ngoài có lãi suất 0,5% trong khi trong nước là 4% thì vốn sẽ dịch chuyển từ nước ngoài vào thông qua đầu tư trực tiếp và gián tiếp).

Cách nhớ

Chúng ta nhớ các hiệu ứng trên thông qua công thức tính tổng cầu AD= C + I + G + NX.

AD thay đổi khi mà có bất kỳ yếu tố nào trong công thức thay đổi. Hiệu ứng của cải ảnh hưởng tới tiêu dùng C. Hiệu ứng lãi suất ảnh hưởng tới I. Hiệu ứng tỷ giá hối đoái ảnh hưởng tới NX. Tất cả ảnh hưởng đều bắt đầu từ việc mức giá giảm hoặc tăng làm cho tổng cầu giảm hoặc tăng.

Những yếu tố làm dịch chuyển tổng cầu AD:

Nếu giá làm cho lượng cầu di chuyển trên đường tổng cầu thì những yếu tố khác sẽ làm dịch chuyển tổng cầu AD khi nó tác động lên C, I, G, NX:

– Chi tiêu người dân C thay đổi do:  + Thu nhập khả dụng thay đổi vì  Yd= C + Sp; nên khi thu nhập khả dụng Yd thay đổi thì cả C và tiết kiệm Sp đều thay đổi

+ Của cải thay đổi; thị hiếu thay đổi

+ Kỳ vọng về thu nhập và việc làm: kỳ vọng là thu nhập sẽ tăng trong tương lai thì chi tiêu sẽ tăng. Đại loại là nếu bạn kỳ vọng năm tới lương mình sẽ tăng gấp đôi; bạn không đợi tới lúc đó mới tăng chi tiêu mà tăng chi tiêu ngay ngày hôm nay.

– Đầu tư của doanh nghiệp I thay đổi do:

+ Chính sách tiền tệ: cung tiền MS tăng làm lãi suất giảm khiến cho I tăng và ngược lại.

+ Kỳ vọng về sự phát triển kinh tế: doanh nghiệp kỳ vọng sắp tới kinh tế sẽ hồi phục và tăng trưởng thì họ sẽ tăng đầu tư để đón đầu.

+ Chính sách tài khóa: thay đổi về thuế, trợ cấp. giảm thuế thì doanh nghiệp thấy lãi hơn vì vậy tăng đầu tư.

– Chi tiêu của chính phủ G: G tăng thì AD tăng và ngược lại

– Xuất khẩu ròng NX = X – IM.

+ Nhập khẩu IM thay đổi do thu nhập khả dụng của người tiêu dùng, thuế, thị hiếu đối với hàng nước ngoài

 2. Tổng cung

Là lượng hàng hóa và dịch vụ được cung ứng trên thị trường; nó thể hiện quan hệ giữa mức giá chung và lượng hàng hóa được cung ứng

Công thức của tổng cung là Y= Y* + α (P – Pe)

Pe là mức giá kỳ vọng và P là mức giá thực tế.

Y là sản lượng thực tế và Y* là sản lượng tiềm năng

α là hệ số đo lường giữa sản lượng và giá thực tế:

Ví dụ : Khi nhà sản xuất kỳ vọng rằng sẽ bán được hàng hóa là Pe; họ sẽ tăng sản lượng lên tương ứng với mức này. Tăng như thế nào phụ thuộc vào hệ số α. Tuy nhiên thực tế giá bán không phải là Pe mà là P. Nguyên nhân là thị trường thông tin là không hoàn hảo, người sản xuất chỉ dự đoán Pe chứ không phải là con số thực tế P.

Về ngắn hạn thì thông tin là không hoàn hảo nhưng về dài hạn thì nó là hoàn hảo nên P = Pe. Khi đó ta có Y=Y* chính là tổng cung trong dài hạn. Nó là đường thẳng đứng.

Mặt khác trong bài Kinh tế vĩ mô trong dài hạn ta biết là Tổng cung dài hạn không phụ thuộc vào giá (là biến danh nghĩa) mà nó có công thức  Y*= f(K,L,R,T); phụ thuộc vào tư bản K, lao động L, tài nguyên R và công nghệ T. vì vậy các yếu tố này là dịch chuyển tổng cung trong dài hạn. Cụ thể:

(1)Lao động (Labour)

Tất các nguyên nhân khách quan, chủ quan ảnh hưởng tới lực lượng lao động thì đều làm dịch chuyển tổng cung dài hạn. Ví dụ như sự nhập cư ồ ạt từ các nước khác làm tổng cung dịch sang phải hay lao động trong nước bỏ ra ngoài làm tổng cung dịch sang trái. Chính phủ tăng lương tối thiểu làm số người thất nghiệp tăng lên khiến cho tổng cung dịch sang trái.

(2)Tư bản K

Tư bản bao gồm tư bản hiện vật (số lượng máy móc) và tư bản nguồn nhân lực (trình độ người lao động). Thay đổi tăng tư bản làm tăng năng suất lao động vì vậy làm tăng lượng cung hàng hóa và dịch vụ; làm tổng cung dài hạn dịch sang phải và ngược lại

(3)Tài nguyên thiên nhiên R

Tài nguyên bao gồm tài nguyên tái tạo được (rừng, đất, nước,…) và tài nguyên không thể tái tạo (than đá, dầu mỏ,..). Đột nhiên phát hiện là mỏ than đã hết 😛 hoặc phát hiện ra mỏ than mới đều làm giảm hoặc tăng cung đường tổng cung.

Giá dầu tăng giảm trên thị trường dầu cũng là nguyên nhân của tăng giảm của tổng cung

(4)Công nghệ T

Cải tiến công nghệ làm gia tăng năng suất khiến cho tổng cung dịch phải. Đây là yếu tố càng ngày càng trở nên quan trọng với sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,…

(tìm hiểu thêm Kinh tế học (P28: Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế) )

Chú ý là vì tổng cung dài hạn không phụ thuộc vào biến danh nghĩa là giá nên đây chính là GDP thực tế.

Biến danh nghĩa và Biến thực tế:

Lãi suất danh nghĩa là lãi suất tiết kiệm ngân hàng niêm yết; lãi suất thực tế là lãi xuất danh nghĩa loại bỏ lạm phát. Nếu năm gốc là năm 2010 thì giá năm 2010 là giá thực tế; giá năm 2012 là giá danh nghĩa.

Trong dài hạn thị trường tài chính, thị trường hàng hóa, thị trường nhân tố sản xuất đều cân bằng vì vậy nó không phụ thuộc vào mức giá chung. Đường tổng cung trong dài hạn chỉ phụ thuộc vào K,L,R,T trong khi trục tung là mức giá vì vậy đường tổng cung thẳng đứng.

Trong ngắn hạn thì đường tổng cung dốc dương, dốc lên trên. Nguyên nhân:

– Lý thuyết nhận thức sai lầm: Khi mức giá chung tăng và cả các yếu tố đầu vào tăng nhưng nhà sản xuất chỉ nhận thấy việc tăng mức giá chung mà không nhìn thấy hết sự tăng giá của yếu tố đầu vào nên họ tăng sản lượng để có lợi nhuận cao hơn. Hoặc ngược lại khi giá giảm nhà sản xuất nhận thức là họ đang bị kém lãi đi trước khi nhận thức được là giá các yếu tố đầu vào cũng giảm nên họ giảm sản lượng

– Lý thuyết giá cả cứng nhắc: tương tự như tiền lương cứng nhắc; giá cả không phải là thay ngay lập tức do chi phí trong việc điều chỉnh hoặc là nhà sản xuất kỳ vọng rằng giá sẽ lại điều chỉnh trở về mức cũ trong tương lai gần. Các siêu thị lớn không thể thay đổi giá hàng ngày; họ thay đổi rất ít vì chi phí cho việc in lại, nhập liệu lại, thời gian thay đổi.. Khi giá đáng nhẽ phải giảm thì lại giữ nguyên sẽ khiến cho doanh số giảm từ đó sản lượng giảm. Ngược lại khi giá đáng nhẽ phải tăng thì lại giữ nguyên khiến cho doanh số tăng làm sản lượng tăng.

Như vậy đưởng AS trong dài hạn thì thẳng đứng mà AS trong ngắn hạn thì lại dốc lên bởi các nhận thức sai lầm và giá cả, tiền lương cứng nhắc.

Công thức Y= Y* + α (P – Pe)

Như vậy các yếu tố làm dịch chuyển ASLR thì cũng làm dịch chuyển đường ASSR. Ngoài ra tổng cung trong ngắn hạn còn phụ thuộc vào mức giá kỳ vọng Pe do giá cả cứng nhắc, tiền lương cứng nhắc.

Cụ thể khi khi kỳ vọng mức giá tăng hơn so với thực tế thì nhà sản xuất sẽ tăng lương làm tăng chi phí đầu vào; làm cho nhà sản xuất giảm sản lượng do kém lãi hơn. Ngược lại khi mức giá kỳ vọng Pe giảm hơn so với giá P; tiền lương sẽ giảm, nhà sx cảm thấy có lãi hơn họ sẽ tăng sản lượng.

Cân bằng Tổng cung Tổng cầu

Ảnh hưởng khi giá dầu giảm 26/12/2014

Giá dầu hiện nay đã giảm tới mức 50 usd một thùng. Nguyên nhân chủ yếu khi Mỹ tách được dầu từ đá phiến khiến cho cung dầu tăng. Lẽ bình thường thì các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC sẽ họp để giảm sản lượng khai thác nhằm tăng giá.

Tuy nhiên hiện nay OPEC vẫn giữ nguyên sản lượng. Nhiều người cho rằng do có sự tác động của Mỹ với mong muốn trừng phạt Nga là nước phụ thuộc rất lớn vào dầu mỏ. Mong muốn của Mỹ không chỉ dừng lại ở sự kiện Ukraira mà còn là mong muốn làm suy yếu nước Nga.

Xuất khầu dầu chiếm 10% tổng thu ngân sách vì vậy đương nhiên làm giảm thu. Việt nam vẫn có thể giữ nguyên giá dầu trong nước thông qua việc tăng thuế lên dầu mỏ nhập khẩu nhờ vậy có khoản thu bù đắp thậm chí lợi hơn. Nếu xăng dầu trong nước không giảm thì đương nhiên không ảnh hưởng gì tới sản xuất trong nước mà chỉ làm cho chúng kém cạnh tranh hơn các sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài.

Giả sử giá dầu trong nước cũng giảm tương ứng với giảm của thế giới thì sẽ kích thích sx trong nước. Đầu tiên phải kể tới là vận tải. Vận tải hàng hóa của VN rất đắt đỏ do hệ thống cơ sở hạ tầng kém. Khi vận tải giảm thì lợi nhuận của DNSX sẽ tăng; kích thích họ tiếp tục sản xuất hàng hóa, làm tăng tổng cung kéo theo tăng GDP.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Những Bài Học Kinh Nghiệm Rút Ra Từ Các Mô Hình Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế, Ứng Dụng Khoa Học Công Nghệ Đạt Hiệu Quả Kinh Tế Cao / 2023 trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!