Đề Xuất 1/2023 # Kim Lân Và Từng Trang Sách Đong Đầy Bóng Dáng Đồng Bằng Bắc Bộ # Top 3 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 1/2023 # Kim Lân Và Từng Trang Sách Đong Đầy Bóng Dáng Đồng Bằng Bắc Bộ # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Kim Lân Và Từng Trang Sách Đong Đầy Bóng Dáng Đồng Bằng Bắc Bộ mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Là một nhà văn trải qua nhiều biến cố lịch sử và cả hai giai đoạn lớn trong nền văn học nước nhà, Kim Lân là một trong số ít những cây bút truyện ngắn dù để lại một số lượng tác phẩm không nhiều so với các nhà văn cùng thời nhưng sáng tác nào của ông cũng rất hay và sâu sắc.

Bằng giọng văn chân thực, giản dị, Kim Lân đưa cả làng quê và con người Việt Nam vào những câu chuyện của mình cùng một tâm hồn đầy tình cảm gắn bó với quê hương đất nước.

Vài nét về cuộc đời của nhà văn Kim Lân

Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, ông sinh năm 1920 tại thôn Phù Lưu hay còn gọi là làng chợ Dầu, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Tuổi thơ của Kim Lân trải qua khá nhiều gian truân, cha đẻ của ông từng có hai đời vợ, người vợ cả mất sớm, người cha đi thêm bước nữa nhưng vì người này không sinh được con nên cha ông lại lấy thêm người vợ ba.

Người vợ ba sinh được hai đứa con trong đó có Kim Lân, không chỉ mang mặc cảm con vợ lẽ nhà văn còn mang nỗi niềm con của người dân ngụ cư vì mẹ ông là dân Hải Phòng.

Họa sĩ Nguyễn Thị Hiền con gái đầu trong bảy người con của nhà văn Kim Lân sau này có kể lại:

“Sinh thời thầy tôi thường mang nhiều mặc cảm.”

Nhà văn Kim Lân cho biết, thời trẻ ông là con nhà nghèo ở trong một cái làng giàu, người lại gầy gò xấu xí nên dù mê nhiều cô gái nhưng ông không dám tỏ bày.

Say mê người đẹp nhưng vì mặc cảm ông thường lánh họ, càng mê càng lánh, càng ít dám trò chuyện, thậm chí không dám nhìn vào mắt họ.

Kim Lân hay đến chơi nhà người bạn thân là Nguyễn Văn Bảy, một người cũng có máu văn nghệ ở làng Chợ Dầu sau này trở thành người tham gia sáng lập xưởng phim truyện Việt Nam đầu tiên được phong Nghệ sĩ nhân dân.

Bấy giờ, ông Nguyễn Văn Bảy có người em gái ruột khá xinh xắn, Kim Lân thấy thích mà không dám nói nhưng nhờ có người bạn ở giữa mối cho, thế là hai người nên duyên vợ chồng dù ông theo đuổi bà phải tới gần bốn năm trời.

Vợ ông nhà cũng nghèo lắm, đồng cảnh ngộ nên hai người dễ đồng cảm với nhau rồi càng trở nên thắm thiết.

“Tôi đi kháng chiến, viết văn, còn chuyện gia đình thì phó thác cho bà. Bà làm đủ thứ nghề, từ buôn bán hàng rong với từng quả mận quả cau quả bí quả bầu tới may vá, mở hàng bán nước kiếm từng đồng từng cắc để nuôi chồng nuôi con.”

Kim Lân được đánh giá sống rất nghĩa khí với bạn bè, con gái nhà văn kể:

“Khoảng sau 1980, một lần thầy tôi từ Hà Nội vào chúng tôi gặp tôi mà không hề báo trước. Thầy nói: “Con cho thầy ít tiền và ra chợ mua cho thầy ít quần áo”. Sau đó thầy tất tả quay ra Hà Nội dù tôi cố nài nỉ thầy ở lại chơi. Cuối cùng thầy mới kể: “Thầy cần tiền và quần áo không phải cho thầy mà để giúp một người bạn đang gặp khó khăn.”

Nhà văn Kim Lân luôn nhắc tới với mọi người về thế hệ nhà văn tinh hoa đồng thời cũng là những người bạn tốt của ông như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân mà theo ông là những người từng viết hay nhất.

Từ những trang viết mộc mạc trước Cách mạng tới cây bút truyện ngắn xuất sắc 

Mang trong lòng một nỗi niềm nặng nề với cuộc sống, Kim Lân tìm tới viết lách để tự giải thoát cho chính mình và từ đó ông bắt đầu dấn thân vào sự nghiệp văn chương. Trong một lần trả lời báo chí về lý do dẫn đến nghề cầm bút, nhà văn chia sẻ:

“Tôi ở trong gia đình bị khinh rẻ, ngoài xã hội cũng coi thường vì tôi là con vợ ba, một người ngụ cư. Chính vì muốn đòi cho mình sự công bằng với bè bạn, với làng xóm tôi chọn cách viết. Đây là cách để chứng tỏ mình không thua gì anh em, không thua gì ai. Các anh con nhà giàu, làm việc này việc kia, được học hành đến nơi đến chốn, còn tôi thì tôi viết.”

Quê hương ông là một làng quê nổi tiếng bởi truyền thống văn hóa yêu nước, nhiệt thành với cách mạng và có nhiều người thành danh. Nhà nghèo nên thuở ấu thơ Kim Lân chỉ học đến lớp nhất rồi phải đi phụ việc cho các thợ đàn anh như đi sơn quốc, khắc bình phong để giúp gia đình kiếm sống.

Có tính hiếu kì và luôn tìm cách quan sát suy ngẫm về mọi thứ xung quanh nên ngay từ khi còn nhỏ, Kim Lân đã có vốn hiểu biết tương đối phong phú về quê hương mình.

Kim Lân bắt đầu viết văn và có tác phẩm đăng báo từ những năm 1941 tới 1944, ông được coi là nhà văn thành công về đề tài nông thôn với những con người bé nhỏ và cam phận đi cùng vẻ đẹp chân quê bình dị với những phong tục tập quán độc đáo của làng quê Bắc Bộ.

Từng trang viết của người con sinh ra từ đồng ruộng này đều thấm đượm mùi hương của lúa mới, ngai ngái mùi rơm rạ, cay xè khói bếp và nhẹ nhàng cánh cò chao nhịp.

Đặc biệt, cũng với chất liệu của đề tài làng quê Việt Nam nơi những tên tuổi lớn như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan tưởng chừng đã khai thác trọn vẹn nơi này song cũng trên mảnh đất xưa cũ ấy nhà văn Kim Lân cũng đã xây cho mình ngôi nhà rất riêng, rất vững giữa lòng người và thách thức với thời gian.

 “Chỉ với ba truyện Vợ Nhặt, Làng, Con chó xấu xí Kim Lân đã có thể đàng hoàng ngồi vào chiếu trên trong làng văn Việt Nam.”

Tuy học vấn theo kiểu trường lớp của ông không nhiều nhưng tài năng văn học thiên phú của ông đã được khẳng định. Trên nửa thế kỷ đã trôi qua, truyện ngắn Kim Lân vẫn được giảng dạy trong nhà trường và chọn làm đề thi văn của nhiều trường Đại học trong cả nước.

Kim Lân là mẫu nhà văn nâng niu từng con chữ, ông viết kỹ lưỡng, viết từ gan ruột và không chấp nhận sự nhạt nhẽo cũng như sự giả tạo trong văn học.

Mặc dù cùng một đề tài chung với nhiều nhà văn khác, làng quê trong văn Kim Lân với các nhân vật dù nghèo hay chỉ là dân lao động thô sơ vẫn không bao giờ bị lam lũ, thô mộc, tuềnh toàng vây bủa.

Có lẽ ảnh hưởng từ nét hào hoa phong nhã với những thú chơi phong tục như chơi chọi gà, đánh vật hay chơi pháo của làng chợ Dầu, Phù Lưu mà hình ảnh làng quê và người nông dân trong văn học Kim Lân không u tối, bần hàn mà vẫn toát lên những nét yêu đời, trong sáng, tài hoa.

Từ tư tưởng này, ông được dư luận chú ý khi đi vào những đề tài độc đáo như tái hiện sinh hoạt văn hóa phong phú ở thôn quê Kinh Bắc, các truyện Đôi chim thành, Con mã mái, Chó săn kể lại một cách sinh động những thú chơi kể trên, qua đó biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám.

Chính vì thế mà giá trị lớn nhất và cao nhất trong các tác phẩm của ông không phải giá trị hiện thực mà là giá trị nhân đạo.

Từ bóng tối hoàn cảnh, Kim Lân muốn làm toả sáng một chất thơ của hồn người, ánh sáng của nhân tâm toả ra hào quang đặc biệt của chủ nghĩa nhân văn tha thiết và cảm động.

Tư tưởng này xuyên suốt trong các sáng tác của Kim Lân và có thể nhận thấy rõ nhất trong Vợ nhặt, một trong những tác phẩm kinh điển của văn học Việt Nam.

Chính nhà văn Kim Lân khi nói về tác phẩm này đã cho biết:

“Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm. Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người.”

Sau này vẫn viết về nông thôn, Kim Lân đề cập đến sự đổi mới mặt tình cảm của người nông dân trong cách mạng và kháng chiến, sự đổi đời của họ trong cải cách ruộng đất nhưng hoạt động phục vụ cách mạng tuy thầm lặng, bình thường nhưng thật đáng quý trọng.

Về phương diện này, nhà thơ Trần Ninh Hồ viết:

“Tất cả, tất cả dường như đã được ghi lại bằng những thân phận, những tâm trạng sắc sảo đến cốt, đến lõi. Nếu như cho rằng văn chương là lịch sử tâm trạng con người thì Kim Lân quả là nhà văn đích thực trên cái ý nghĩa ấy.”

Nhìn một cách hệ thống từ những nhân vật xuất hiện trong các tác phẩm Kim Lân viết trước Cách mạng tháng Tám đến sau này, người đọc dễ dàng nhận ra nét riêng của ông là một ngòi bút sâu lắng, tỉ mẩn cũng như luôn cố gắng để đi tới tận cùng những nỗi niềm tâm trạng của từng con người, từng số phận riêng.

Tất cả những điều đó góp một tiếng nói riêng vào trang sử chung về tâm tư, tình cảm con người Việt Nam của văn học hiện đại.

Hai truyện Làng và Vợ nhặt đã được Nhà xuất bản giáo dục tuyển chọn đưa vào bộ sách Nhà văn và tác phẩm dùng cho phần giảng văn của học sinh trong các trường phổ thông trong cả nước.

Đối với nhà văn Kim Lân cách mạng không chỉ mang lại sự thay đổi cuộc sống của bản thân và gia đình mà còn giúp đổi thay sự nghiệp cầm bút của ông.

Khi tham gia hoạt động văn hóa cứu quốc Kim Lân được gặp và trao đổi nghề nghiệp với các nhà văn lớn như Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài.

Từ đó, cách viết của nhà văn Kim Lân bắt đầu đổi khác, như lời ông nói: Trình độ một anh nhà quê viết theo bản năng, cảm tính mới dần dần thấy được công việc thực sự của người viết văn chuyên nghiệp.

“Theo kinh nghiệm của tôi, những chuyện thật mà tôi ghi lại được thì đều nhạt nhẽo và khô cứng. Nhưng sự thật cũng có giá trị của sự thật, rất giá trị, rất cần thiết nữa. Tất cả những truyện Vợ nhặt, Ông lão hàng xóm, Con chó xấu xí đều dựa trên cái nền là sự thật. Còn những truyện khác, kể cả Làng, hầu hết là tôi bịa. Bịa cả nhân vật lẫn tình tiết. Bởi không có sự thật nào như thế cả. Nhưng cái bịa ấy là cái điều mà chính tác giả muốn nói. Và chính tác giả muốn nói nên mới sinh ra cái bịa. Gọi là bịa chứ kỳ thực chính là sáng tạo.”

Cái bịa hay sáng tạo trong tác phẩm văn học đôi khi lại trở nên thực, thậm chí rất thực hơn đời thường, đó cũng chính là một điểm mấu chốt thể hiện tài năng của nhà văn.

Hiện thực chỉ là chất liệu thô, qua lăng kính nhà văn thì hiện thực được thăng hoa như Kim Lân lý giải:

“Vì sao phải bịa? Người viết muốn nói một việc gì, một ý nghĩ gì thì chuyện đời thường hằng ngày tự thân đã có tiếng nói riêng của nó, còn tiếng nói của chính tâm linh người viết chỉ có bịa mới ra được. Nhưng như vậy không có nghĩa là nó tách rời hoàn cảnh xã hội, tách rời đời sống, mà hình như nó thực hơn. Chính vì vậy mà tôi cũng thường nói bịa lại thực hơn. Vì nó thực với chính mình trước tiên. Và kỳ lạ khi mình bịa ấy, mình viết say mê hơn nhiều. Không biết khi mình say sưa bịa ấy có phải là những giây phút thăng hoa nhất của người viết không?”

Vào năm 1958 nhà văn Kim Lân viết truyện ngắn Ông lão hàng xóm để nói về những sai lầm trong cải cách ruộng đất, vốn là người trong cuộc và hiểu được những khuất tất, sai trái đằng sau vấn đề này nên ông đã quyết tâm thể hiện bằng văn học.

“Tôi viết về cái sự thật ấy nhưng khác mọi người. Người ta viết như hằn học, thù ghét cái sai lầm, còn tôi thì thể hiện sự đau lòng! Vì cái sai ấy là cái sai của Đảng mình. Tôi viết với tinh thần sửa sai chứ không hằn thù. Lúc tôi mới cho ra mắt Ông lão hàng xóm, dĩ nhiên có không ít cái nhìn giận ghét, coi mình như là một người không vững vàng, thậm chí như một kẻ bôi đen chế độ.”

Nhân dịp nói đến giới phê bình văn học, nhà văn Kim Lân còn nhìn nhận:

“Các nhà phê bình gần đây đỡ hơn các nhà phê bình thời bao cấp. Nhưng đỡ thôi, chứ thật tình mà nói, tôi thấy không phải chính các nhà phê bình, mà là các nhà văn thưởng thức được cái hay cái đẹp của văn chương một cách sâu sắc… Nhà phê bình ngày xưa quá thiên về quan điểm giai cấp, tư tưởng, lập trường phục vụ chính sách khô cứng. Nhà phê bình bây giờ hơn trước, là dám nói thẳng, nói theo lòng mình…”

Rồi ông ra vẻ trầm tư:

Mặc dù số lượng các tác phẩm của Kim Lân không đồ sộ như bao tác giả khác nhưng dường như tất cả tâm huyết và tinh hoa ngôn từ của ông đều dồn hết vào đó. Chẳng vậy mà hai trong ba tác phẩm tiêu biểu của Kim Lân đã được đưa vào giảng dạy và tất cả các truyện ngắn khác đều được độc giả đón nhận một cách say mê.

Sự nghiệp điện ảnh đầy vinh quang

Không chỉ là nhà văn sâu sắc và đa tài mà Kim Lân còn để lại trong lòng khán giả những vai diễn ấn tượng nơi làng điện ảnh, một văn nghệ sĩ được nhiều thế hệ nhớ tới.

Ông có vị trí và gây được nỗi nhớ khán giả nhiều đến mức các diễn viên chuyên nghiệp, có tiếng cũng khát khao. Cũng như viết văn, Kim Lân đóng phim rất ít nhưng vai nào cũng tạo được cảm hứng nghệ thuật tốt cho người xem.

Ngoại hình và gương mặt khắc khổ cùng diễn xuất chân thực của nhà văn Kim Lân đem đến nhiều xúc động cho khán giả trước số phận nghiệt ngã của người nông dân dưới chế độ thực dân phong kiến.

Từ Lý Cựu trong Chị Dậu dựa theo tiểu thuyết Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố ông đã đóng rất đạt vai chức dịch trong làng, vai diễn của ông cùng nhà văn Nguyễn Tuân ở trường đoạn “việc làng ngày đất thuế” đã gây ấn tượng mạnh đối với người xem.

Nhân vật Pụ Pạng trong Vợ chồng A Phủ một nhân vật vừa hèn vừa ma quái và gây ấn tượng trong phim khiến các diễn viên chuyên nghiệp được đào tạo ở trường ra cũng nể phục rồi tới lão Hạc trong Làng Vũ Đại ngày ấy đều thành vai diễn để đời.

Không ai hợp hơn và thay thế được Kim Lân, một nhân vật ốm yếu vẻ gầy gò khắc khổ, thương xót vật nuôi. Vai diễn ấy đã được Kim Lân thể hiện một cách trọn vẹn nhất là cảnh Lão Hạc dỗ con chó vàng để nó chịu bán đi, vỗ về nó ăn bữa cuối khiến triệu người rơi nước mắt.

Có lẽ sự sâu lắng, tỉ mẩn, luôn cố gắng để đi tới tận cùng những nỗi niềm tâm trạng của từng con người và số phận của một Kim Lân trong văn học đã góp phần làm nên một vị thế riêng của một Kim Lân trong điện ảnh.

Những người yêu văn học vẫn thường xuyên nhớ tới ông không chỉ vì những di sản tinh thần của Kim Lân để lại mà có lẽ còn bởi chúng ta luôn có thể tìm thấy ẩn chứa trong tác phẩm, trong tư tưởng sống của ông những điều còn thiết thực, gần gũi và giá trị với chính chúng ta trong cuộc sống hôm nay.

Thùy Lam

Soạn Bài: Vợ Nhặt (Kim Lân)

I. Tác giả & tác phẩm

1. Tác giả

Kim Lân (1920 – 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện TừSơn, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội Văn hóa cứu quốc, sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng.

Tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962).

Kim Lân là cây bút chuyên viết về truyện ngắn.Ông thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông viết chân thật, xúc động về cuộc sống và người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của họ – những con người gắn bó tha thiết với quê hương và cách mạng.

2. Tác phẩm

Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân in trong tập Con chó xấu xí (1962).Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư – được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám, nhưng dang dở và thất lạc bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại (1954),ông dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Có thể chia tác phẩm thành bốn đoạn:

– Đoạn 1: (từ đầu đến “Thị vẫn ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần”): cảnh Tràng dẫn vợ về nhà.

– Đoạn 2: (tiếp theo đến “cùng đẩy xe bò về”): lí giải về việc Tràng nhặt được vợ.

– Đoạn 3: (tiếp theo đến “nước mắt cứ chảy xuống dòng dòng”): cuộc gặp gỡ giữa bà cụ Tứ và nàng dâu mới.

– Đoạn 4 (phần còn lại): buổi sáng hôm sau ở nhà Tràng.

Mạch truyện được dẫn dắt tự nhiên, khéo léo. Các cảnh được miêu tả trong truyện đều được xuất phát từ tình huống anh Tràng lấy được vợ giữa những ngày đói kém khủng khiếp.

Câu 2 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Người dân xóm ngụ cư ngạc nhiên khi thấy anh Tràng đi cùng với một người đàn bà lạ về nhà, bởi:

– Một người nghèo túng, xấu xí, dân ngụ cư lại bỗng dưng lấy được vợ.

– Giữa lúc đói kém, người như Tràng đến thân mình còn không lo nổi lại đèo bòng vợ với con.

Sự ngạc nhiên của dân làng, của bà cụ Tứ, và của chính Tràng, tác giả đã sáng tạo được một tình huống truyện độc đáo: Đây là một tình huống oái oăm không biết nên vui hay nên buồn, không biết nên mừng hay nên lo. Mọi người đều có chung tâm trạng ấy, nhất là bà cụ Tứ: “Lòng ngưởi mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự. Bà mừng vì dù sao con mình cũng đã có vợ, một mặt lại tủi vì gặp phải đói khổ này người ta mới lấy đến con mình…”.

Tình huống éo le trên đã mở đầu cho sự phát triển của truyện và tác động đến diễn biến tâm trạng và hành động của các nhân vật trong tác phẩm.

Câu 3 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Nhan đề Vợ nhặt thâu tóm giá trị nội dung và tư tưởng của tác phẩm: “Nhặt” đi liền với những thứ không ra gì, có thể “nhặt” ở bất kì đâu, hoàn cảnh nào. Nhưng “vợ” lại là sự trân trọng, người vợ có vị trí quan trọng trong gia đình. Người ta hỏi vợ, cưới vợ, còn Tràng do nhặt nhạnh mà thành.

→ Qua hiện tượng “nhặt được vợ” của Tràng, tác giả làm nổi bật tình cảnh và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Đồng thời qua đó, cũng bộc lộ sự yêu thương, đùm bọc, sức mạnh hướng tới cuộc sống, tổ ấm, niềm tin của con người trong hoàn cảnh khốn cùng.

Câu 4 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Niềm khát khao hạnh phúc gia đình được thể hiện hết sức chân thực và sâu sắc qua nhân vật Tràng.

– Lúc đầu khi có ý định đưa người đàn bà xa lạ về nhà, Tràng có chút phân vân, do dự: “Mới đầu chàng cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình còn chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”. Nhưng sau đó, chàng đã “tặc lưỡi một cái: Chậc, kệ!” rồi quyết định đưa người đàn bà về nhà.

→ Quyết định của Tràng thể hiện niềm khao khát hạnh phúc gia đình của người nông dân nghèo khổ đồng thời thể hiện giá trị nghệ thuật của tác phẩm: “Dù trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng vào tương lai”.

– Trên đường về xóm ngụ cư, Tràng không cúi xuống lầm lũi như mọi ngày mà “phởn phơ”, “vênh vênh ra điều”. Trong phút chốc, Tràng quên đi tất cả tăm tối, “trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy”.

– Buổi sáng đầu tiên có vợ, Tràng biến đổi hẳn: “Hắn thấy bây giờ hắn nên người”. Tràng thấy có trách nhiệm và gắn bó với tổ ấm của mình: “Bỗng nhiên hắn cảm thấy yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”.

→ Con người trở nên trưởng thành hơn với những yêu thương, ước mong gắn bó, xây đắp hạnh phúc gia đình.

Câu 5 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

– Tâm trạng tinh tế, phức tạp của bà cụ Tứ được sau khi Tràng có vợ được miêu tả hết sức sinh động, tinh tế. Từ chỗ ngạc nhiên đến lo lắng, day dứt, băn khoăn rồi xót thương và cuối cùng vui vẻ chấp nhận… tất cả thể hiện tấm lòng bao dung, nhân hậu của người mẹ nghèo.

– Bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới, bà cụ Tứ đã nhen nhóm cho các con niềm tin, niềm hi vọng: “tao tính khi nào có tiền thì mua lấy con gà về nuôi, chả mấy có đàn gà cho xem”. Bà là hiện thân của nỗi khổ con người. Người mẹ ấy đã nhìn cuộc hôn nhân éo le của người con thông qua toàn bộ nỗi khổ của cuộc đời bà.

→ Hình ảnh, tâm trạng của bà cụ Tứ thể hiện chiều sâu tư tưởng của Kim Lân, là nhân vật điển hình của bà mẹ Việt Nam khốn khó, bất hạnh nhưng giàu tình yêu thương, nhân ái.

Câu 6 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn của Kim Lân:

– Cách tạo tình huống truyện độc đáo, tự nhiên, kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố hiện thực và nhân đạo.

– Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.

– Nghệ thuật đối thoại, độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lí của từng nhân vật.

– Ngôn ngữ kể chuyện phong phú, cách kể chuyện tự nhiên, gần gũi.

– Kết cấu truyện đặc sắc.

Luyện tập

Câu 1 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Tác phẩm có nhiều chi tiết rất thật, hiện lên dưới nhiều góc độ phong phú, nhiều sắc độ tình cảm. Chọn chi tiết gây xúc động và để lại ấn tượng nhất để phân tích.

Câu 2 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

– Hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc của Nhật và hình ảnh lá cờ đỏ của Việt Minh phấp phới bay trong đầu óc của Tràng đã khép lại câu chuyện.

– Tác phẩm không chỉ gợi ra hình ảnh nạn đói năm 1945 mà còn mở ra hình ảnh của cách mạng Việt Nam trong năm ấy.

→ Đó là con đường tất yếu của người nông dân đi theo cách mạng. Hình ảnh lá cờ đỏ đã gây một ám ảnh lớn trong đầu Tràng, thôi thúc, giục giã, gieo niềm tin cho con người để sống, chiến đấu nỗi vất vả, khốn khó của mình.

→ Vợ nhặt không chỉ vẽ nên bức tranh cụ thể, sinh động về thảm cảnh của con người trong nạn đói năm 1945 mà còn là bài ca về niềm tin yêu vào cuộc sống. Tác phẩm không chỉ có giá trị tố cáo mạnh mẽ mà còn là tiếng lòng sẻ chia chân thành, cảm thông của nhà văn với số phận con người.

Comments

Soạn Văn Bài: Vợ Nhặt (Kim Lân)

Soạn văn bài: Vợ Nhặt (Kim Lân)

Câu 1: Bố cục: 4 phần

– Phần 1 (từ đầu đến tự đắc với mình): Tràng đưa người vợ nhặt về nhà.

– Phần 2 (tiếp đến đẩy xe bò về): kể lại chuyện hai người gặp nhau và nên vợ nên chồng.

– Phần 3 (tiếp đến nước mắt chảy ròng ròng): Tình thương của người mẹ nghèo khó.

– Phần 4 (phần còn lại): niềm tin vào tương lai tươi sáng.

Mạch truyện sẽ được dẫn dắt hợp lý. Có thể nói tất cả các cảnh huống được thể hiện trong truyện đều khởi đầu từ việc anh Tràng nhặt được vợ giữa những ngày đói khủng khiếp ấy.

Thế nhưng tác phẩm lại được mở ra từ cảnh Tràng đưa “vợ nhặt” về nhà gặp mẹ. Nếu tác giả đưa đoạn thứ hai lên trước theo trình tự thời gian thì truyện sẽ kém phần hấp dẫn hơn.

Câu 2: Tình huống truyện

– Tình huống truyện được gói gọn trong nhan đề của tác phẩm: Vợ nhặt. Ấy là việc Tràng – một thanh niên nông dân nghèo, xấu xí, ế vợ bỗng nhiên nhặt được vợ dễ dàng trong nạn đói. Vợ là lại đi nhặt như đồ dùng là điều lạ lùng chưa từng thấy.

– Trong cảnh đói kém, cái chết cận kề mà còn nghĩ đến chuyện lấy vợ, còn vui vẻ lo xây đắp tổ ấm gia đình là chuyện lạ thứ hai. Nhưng cũng chính nhờ cái lạ, cái độc đáo đó mới tạo ra sự hấp dẫn của truyện.

Câu 3:

Nhan đề “Vợ nhặt” thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng tác phẩm “Nhặt” đi với những thứ không ra gì. Thân phận con người bị rẻ rúng như cái rơm, cái rác, có thể “nhặt” ở bất kì đâu, bất kì lúc nào. Người ta hỏi vợ, cưới vợ, còn ở đây Tràng “nhặt” vợ. Đó thực chất là sự khốn cùng của hoàn cảnh.

Câu 4:

Khi thể hiện niềm khao khát tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng lúc quyết định lấy vợ, khi dẫn vợ về qua xóm ngụ cơ và nhất là trong buổi sáng đầu tiên khi có vợ, Kim Lân đã có những phát hiện tinh tế và sâu sắc:

– Lúc quyết định lấy vợ: Thoạt đầu Tràng có chút phân vân, do dự: Mới đầu anh chàng cũng chọn, nghĩ thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng. Nhưng rồi sau đó anh chàng đã tặc lưỡi “Chậc, kệ”. Điều này đúng như ý đồ của tác giả: Khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù ở trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng vào tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người (nhà văn Kim Lân nói về truyện Vợ nhặt).

– Khi dẫn vợ về qua xóm ngụ cư. Phút này, Tràng như đã thành một con người khác, phớn phở lạ thường, môi cười tùm tỉm, mắt sáng hẳn lên, mặt vênh vênh tự đắc, nhưng cũng có lúc cứ “lúng ta lúng túng” đi bên vợ. Nhưng chủ yếu vẫn xúc cảm giác mới mẻ khác lạ mơn man như một bàn tay vuốt nhẹ.

– Buổi sáng đầu tiên khi có vợ Tràng cảm thấy êm ả, lửng lơ, như người vừa trong giấc mơ đi ra xung quanh mình có cái gì thay đổi mới mẻ khác lạ. Từ cảm giác sung sướng hạnh phúc Tràng ý thức trách nhiệm, bổn phận của mình “bỗng nhiên hắn thấy thương yêu gắn bó với căn nhà của hắn lạ lùng”. Một nguồn vui sướng phấn trấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ cho con sau này.

Câu 5: Bà cụ Tứ

– Tâm trạng: mừng, vui, xót, tủi “vừa ai oán vừa xót thương cho số phận đứa con mình”. Đối với người đàn bà thì “lòng bà đầy xót thương” nén vào lòng tất cả bà dang tay đón người đàn bà xa lạ làm con dâu mình: “Ừ, thôi thì các con cũng phải duyên phải số với nhau, u cũng mừng lòng”.

– Bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới, bà cụ Tứ đã nhen nhóm cho các con niềm tin, niềm hy vọng: “Tao tính khi nào có tiền mua lấy con gà về nuôi, chả mấy mà có đàn gà cho xem”.

Câu 6: Đặc sắc nghệ thuật của truyện

– Nghệ thuật tạo hình huống độc đáo.

– Cách sử dụng ngôn ngữ bình dân tinh tế và có duyên.

– Nghệ thuật tả tâm lí đặc sắc.

Giải Địa Lí 8 Bài 41: Miền Bắc Và Đông Bắc Bắc Bộ

Trả lời:

Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ bao gồm khu vực đồi núi tả ngạn sông Hồng và khu vực đồng bằng Bắc Bộ, nằm sát chí tuyến Bắc, tiếp liền với khu vực á nhiệt đới Hoa Nam (Trung Quốc), tiếp nhận nhiều đợt gió mùa đông bắc khô và lạnh.

Cụ thể:

Bắc : Giáp Trung Quốc

Tây : Giáp Tây Bắc

Đông : Giáp Biển Đông

Nam : Giáp Bắc Trung Bộ

Quan sát hình 41.1 (SGK trang 141) xác định các hệ thống sông lớn và cho biết hướng chảy của chúng?

Trả lời:

Hệ thống sông Hồng: hướng chảy tây bắc – đông nam.

Hệ thống sông Thái Bình: hướng chảy vòng cung và tây bắc – đông nam.

Hệ thống sông Kì cùng – Bằng Giang: hướng chảy tây bắc – đông nam.

Hệ thống sông duyên hải Quảng Ninh: hướng chảy vòng cung.

Để phòng chống lũ lụt ở đồng bằng sông Hồng, nhân dân ra đã làm gì? Việc đó đã làm biến đổi địa hình ở đây như thế nào?

Trả lời:

Các việc làm để phòng chống lũ lụt ở đồng bằng sông Hồng.

Đắp đê dọc theo hai bờ các sông.

Phân lũ vào các sông nhánh (quy sông Đáy), các vùng trũng đã được chuẩn bị trước.

Xây dựng các hồ chứa nước ở thượng lưu sông (hồ Hòa Bình, hồ Thác Bà …)

Trồng rừng ở đầu nguồn nước.

Nạo vét lòng sông.

Việc đắp đê lớn dọc các bờ sông ở đồng bằng Bắc Bộ đã phân chia thành bằng nhiều ô trũng, thâp hơn bề mặt đê và nước sông mùa lũ rất nhiều.

Trả lời:

Tính chất nhiệt đới của miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ bị giảm sút mạnh mẽ vì:

Miền chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhiều đợt gió mùa đông bắc lạnh từ phía bắc và trung tâm châu Á tràn xuống.

Miền ở vị trí tiếp giáp với vùng ngoại chí tuyến, á nhiệt đới Hoa Nam.

Miền không có địa hình che chắn. Các dãy núi ở đây mở rộng về phía bắc, tạo điều kiện cho các luồng gió đông bắc lạnh dễ dàng lấn sâu vào Bắc Bộ.

Chứng minh rằng miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ có tài nguyên phong phú, đa dạng. Nêu một số việc cần làm để bảo vệ môi trường tự nhiên trong miền.

Trả lời:

Chứng minh:

Là miền giàu khoáng sản nhất so với cả nước, nổi bật là than đá (Quảng Ninh, Thái Nguyên), apatit (Lào Cai), quặng sắt (Thái Nguyên), quặng thiếc và vonfram (Cao Bằng), thủy ngân (Hà Giang); đá vôi, đất sét… có ở nhiều nơi.

Nguồn năng lượng thủy điện giàu nhất nước ta, tập trung chủ yếu ở hệ thống sông Hồng.

Có nhiều cảnh quan đẹp nổi tiếng: vịnh Hạ Long, bãi lắm Trà cổ, núi Mẫu Sơn, hồ Ba Bể; các vườn quốc gia Cúc Phương, Tam Đảo, Ba Vì…

Một số việc cần làm để bảo vệ môi trường tự nhiên trong miền:

Trồng và bảo vệ rừng, chống xói mòn đất.

Bảo vệ môi trường biển trong lành.

Khai thác tài nguyên phải đi đôi với việc bảo vệ môi trường.

Vẽ biểu đồ khí hậu ba trạm Hà Giang, Hà Nội, Lạng Sơn theo số liệu. Tính nhiệt độ trung bình năm và tổng lượng mưa năm của các trạm đã cho?

Trả lời:

Vẽ biểu đồ:

Tính nhiệt độ trung bình năm và tổng lượng mưa của các trạm đã cho:

Trạm Hà Giang: nhiệt độ trung bình năm là 22,5oC; tổng lượng mưa năm của trạm là 2362mm.

Trạm Lạng Sơn: nhiệt độ trung bình năm là 21,3oC; tổng lượng mưa năm của trạm là 1400mm.

Trạm Hà Nội: nhiệt độ trung bình năm là 23,5oC, tổng lượng mưa năm của trạm là 1676mm.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Kim Lân Và Từng Trang Sách Đong Đầy Bóng Dáng Đồng Bằng Bắc Bộ trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!