Đề Xuất 12/2022 # – Khí Công Y Đạo Việt Nam / 2023 # Top 15 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 12/2022 # – Khí Công Y Đạo Việt Nam / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về – Khí Công Y Đạo Việt Nam / 2023 mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Khoa học nói chung và y học nói riêng luôn phát triển không ngừng. Tuy nhiên không bao giờ có cái gì hoàn thiện tuyệt đối, vì thế con người luôn tìm mọi cách để hoàn thiện những khiếm khuyết của các thành quả do mình đã sáng tạo ra để đưa xã hội loài người tiến lên không ngừng.

Đông y càng cổ càng giỏi vì ngày xưa chẳng có máy móc, thiết bị gì nhưng các vị danh y chẩn bệnh và chữa bệnh như thần. Tây y càng mới càng tinh, những thiết bị máy móc hiện đại của Tây y đã giúp khâu chẩn đoán bệnh được chính xác hơn và do đó việc chữa bệnh có hiệu quả hơn.

Ngày nay Đông Y và Tây Y phát triển ở đỉnh cao, tuy vậy không phải là không có những nhược điểm trong chẩn bệnh và chữa bệnh. Một ngành Y học bổ sung ra đời để bổ sung các khiếm khuyết cho Đông y và Tây Y – đó là môn Khí Công Y Đạo Việt Nam do thầy Đỗ Đức Ngọc sáng lập (KCYD).

Năm 1980: KCYD được Thầy Đỗ Đức Ngọc sáng lập ra và đã dạy môn này ở Sài Gòn.

Năm 1993 Thầy sang định cư tại Canada và đã giảng dạy ở đó môn KCYD từ đó đến nay.

Khí Công Y Đạo: Là một phương pháp tổng hợp của Đông y học cổ truyền bao gồm cách điều chỉnh bệnh bằng ăn uống thuộc tinh, cách điều chỉnh bệnh bằng tập luyện cơ thể để chuyển tinh lực ra khí lực thuộc khí, và cách điều chỉnh bệnh bằng phương pháp tập thở thiền là điều dưỡng tinh thần an vui hòa hợp thuộc thần. Vì tất cả nguyên nhân gây bệnh đều do xáo trộn chức năng thần kinh do ăn uống sai lầm làm tinh sai, kém tập luyện cơ thể làm khí thiếu, hoặc xáo trộn tâm lý bất thường như giận hờn, ghen ghét, lo âu, sợ hãi, buồn chán, làm việc căng thẳng qúa độ khiến thần kinh suy nhược gọi là thần suy.

Tinh sai, khí thiếu, thần suy là do tự mình làm ra. Tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh do sai lầm ăn ngủ nghỉ không điều độ và không tập luyện thân thể làm rối loạn chức năng thần kinh thì mình phải biết cách tự điều chỉnh lại những sai lầm ấy. Vì thế tập luyện Khí Công Y Đạo để tự chữa bệnh chính là cách điều chỉnh lại tinh- khí- thần theo phương pháp tự nhiên của Y học cổ truyền phương Đông.

Định nghĩa từng chữ Khí Công Y Đạo:

– Khí là hơi thở, là sự khí hoá, sinh hóa và chuyển hóa tinh thành khí, chuyển khí hóa thần.

– Công là công phu luyện tập hơi thở, công phu học hỏi để hiểu lý thuyết, biết thực hành cách chuyển tinh hoá khí, chuyển khí hóa thần.

– Y là tìm hiểu y lý nguyên nhân gây bệnh và cách điều chỉnh cho khỏi bệnh.

– Đạo là con đường hướng dẫn y lý Đông phương và là con đường tu tâm dưỡng tánh nhu hòa để bảo tồn nội lực của tinh khí thần, nội lực của tinh là tinh lực, nội lực của khí là khí lực và nội lực của thần là thần lực. Ngoài ra chữ Đạo còn có nghĩa là Vương Đạo tức là khi chữa bệnh luôn luôn phải tìm gốc bệnh và chữa gốc bệnh thì bệnh sẽ khỏi lâu dài.

Cho đến ngày nay khí công trên thế giới đã phát triển lên đến hàng ngàn loại khác nhau, nhưng tạm chia thành bốn loại như sau:

1.Khí công Yoga hoặc thiền.

2.Khí công võ thuật

3.Khí công dưỡng sinh phòng bệnh

4.Khí công chữa bệnh

Riêng khí công chữa bệnh có hai loại:

a) Khí công nội lực truyền khí từ thầy thuốc sang bệnh nhân giúp bệnh nhân khỏe mạnh hết bệnh tật

b) Khí công bệnh nhân được thầy Khí công hướng dẫn phải tự tập lấy các bài tập riêng cho phù hợp với bệnh của mình để giúp cơ thể tự tạo ra thuốc từ hệ nội dược.

Khí công loại b) chính là KCYD.

Khí công bắt đầu được nghiên cứu ở nhiều quốc gia do các bác sĩ vừa am hiểu phương pháp Tây y, vừa nghiên cứu học hỏi Đông y châm cứu, vừa luyện tập khí công qua cách thở và kiểm chứng theo tiêu chuẩn Tây y về những thay đổi của cơ thể bằng những thông số cân đong đo đếm được như thành phần máu qua những kiểm nghiệm bằng máy móc.

Ở Pháp có giáo sư bác sĩ châm cứu Nguyễn Văn Nghi đã viết, dịch và giảng dạy châm cứu theo kinh điển Hoàng đế nội kinh và viết về khí công theo cách nhìn của một nhà khoa học thực nghiệm; Bác sĩ Nguyễn tối Thiện thuộc nhóm Nghiên cứu và thực hành thiền quán ở Pháp cũng đã nghiên cứu những lợi ích cho sức khỏe khi tập thở thiền. Ở Việt Nam có giáo sư bác sĩ Ngô gia Hy người đã tập luyện khí công để tự chữa bệnh cao áp huyết cho mình khỏi bệnh và sau đó vừa tập vừa thực nghiệm những kết qủa khi tập khí công qua những cách thở khác nhau. Từ đó giáo sư đã viết các công trình nghiên cứu để chỉ ra lợi ích của tập khí công đối với hệ hô hấp, hệ tuần hoàn , hệ tiêu hóa, hệ thần kinh, hệ nội tiết, các tuyến hạch và đối với giấc ngủ .

B.Những nội dung cơ bản của Khí công Y Đạo Đỗ Đức Ngọc

Trên cơ sở mấy chục năm nghiên cứu khí công chữa bệnh, Thầy Đỗ Đức Ngọc đã đúc rút được 3 vấn đề cốt lõi và đã trực tiếp chữa cho hàng vạn người trên thế giới cả người ngoại quốc và người Việt từ các bệnh thông thường đến các bệnh nan y. Những nội dung cốt lõi của KCYD Việt Nam đó là: Điều chỉnh Tinh, điều chỉnh khí, điều chỉnh thần để luôn luôn duy trì sự cân bằng trong cơ thể con người.

Để thực hiện được những điều đó, KCYD sử dụng:

1.Điều chỉnh tinh

Điều chỉnh bằng ăn uống hoặc dùng thuốc để tăng cường thêm tinh lực cho cơ thể và luôn luôn chú ý đến vấn đề ăn uống đúng để cân bằng âm dương.

Ví dụ người huyết áp thấp thì không được ăn uống những thức ăn, đồ uống làm giảm áp huyết, ngược lại người huyết áp cao thì không được ăn thức ăn, đồ uống làm tăng huyết áp.

2.Điều chỉnh Khí

Để điều chỉnh khí sử dụng phương pháp động công.

Mục đích của động công là tập luyện cơ thể bền bỉ dẻo dai, khai thông được khí huyết ở chỗ bị bế tắc, khai mở các huyệt của Kỳ kinh Bát mạch và các luân xa theo một nhịp độ sinh học đồng bộ giữa động tác và hơi thở thuận với nhịp sinh học trao đổi chất của âm dương, khí huyết để tự nó có thể khai mở được vòng Tiểu Chu Thiên và Đại Chu Thiên trong cơ thể, nhằm tăng cường khả năng tự chữa bệnh và phòng chống bệnh cho chính bản thân và có khí lực và thần lực để chữa bệnh cho người khác mà không sợ mệt và mất khí như những thầy chữa bệnh khác.

Những bài tập động công cũng có thể áp dụng hướng dẫn cho người bệnh tập luyện nhằm tăng cường dương khí, những động tác tay chân đều theo quy luật trong âm có dương, trong dương có âm và các động tác phải phù hợp với hơi thở tùy theo mỗi trường hợp bệnh cần chữa trị.

Các thế khí công căn bản để trị bệnh thuộc phần động công, chú trọng vào sự điều chỉnh khí hóa của hệ thống Tam Tiêu, điều chỉnh thần kinh ( thần ), thông khí huyết cho lục phủ ngũ tạng, chuyển khí chạy theo vòng Nhâm-Đốc và tăng cường khí hoạt động cho Tam tiêu là Tông khí , Ngũ hành khí, Nguyên khí.

a)Khí của vùng thượng tiêu

Do Đan điền Khí vận hành bởi hơi thở của phế khí được tăng cường do hít thở sâu cho dưỡng khí vào đầy phổi được tích lũy dư thưà hơn người bình thường, chỉ những người tập thể dục thể thao hoặc tập khí công mới có được, gọi là TÔNG KHÍ, nhờ nó tích lũy được nhiều oxy trong phổi mới làm tăng được hồng cầu và tăng áp lực kích thích sự tuần hoàn của tim mạch được mạnh hơn bình thường.

b)Khí của vùng trung tiêu

Do Đan điền Thần vận hành bởi khí của lục phủ, ngũ tạng được tăng cường sự sinh hóa chủ động có kiểm soát để có thể tăng cường chức năng hoạt động của lục phủ, ngũ tạng giúp cho sự hấp thụ và chuyển hóa khí huyết lưu thông khắp các kinh mạch, gọi là NGŨ TẠNG KHÍ .

c)Khí của vùng hạ tiêu

Do Đan điền Tinh vận hành bởi Nguyên khí Tiên thiên bẩm sinh tích lũy tại Thận, được bảo vệ, duy trì và tiếp nạp tồn trữ thêm khí Hậu thiên do ăn uống. Khi tập Khí công đưa hơi thở vào

Đan điền tinh để tăng cường chức năng hoạt động của Thận làm cho Nguyên khí Tiên thiên hoạt động mạnh hơn, giúp cho sự sinh hóa, chuyển hóa tinh chất của thức ăn hóa khí, chuyển khí hóa thần giúp Thận có khả năng hoạt động khỏe và lâu bền, kéo dài tuổi thọ hơn, gọi là Nguyên khí hậu thiên do tập luyện khí công mà có được, gọi chung cả hai loại khí của thận là NGUYÊN KHÍ.

Khi ba loại Tông khí, Ngũ tạng khí và Nguyên khí cùng hòa hợp đúng và đủ mới có thể chọn lọc được cốc khí (chất bổ của thức ăn) để sinh hóa và chuyển hóa trọn vẹn cốc khí thành hai loại khí quan trọng và cần thiết cho cơ thể là khí dinh dưỡng gọi là VINH KHÍ (là cốc khí chuyển hóa thành máu nuôi dưỡng cơ thể phát triển) và khí bảo vệ gọi là VỆ KHÍ (là cốc khí chuyển hóa thành khí lực giúp máu tuần hoàn, và điều chỉnh số lượng hồng cầu, bạch cầu, huyết thanh, huyết bản, các loại hocmon các loại kháng thể cần thiết để bảo vệ cơ thể tăng cường sức đề kháng khi có bệnh).

Khí Vinh và Vệ mạnh hay yếu, lệ thuộc vào Tông khí từ Đan điền khí, tuần hoàn luân phiên qua huyệt Chiên Trung.

3.Điều chỉnh thần

Để điều chỉnh thần thực hiện tập tĩnh công.

Theo quy luật âm dương hòa hợp, tập động công là tập tăng cường dương khí và tập tĩnh công là phần âm chuyển hóa khí làm mạnh chức năng thần kinh, nhưng trong cách luyện và theo dõi hơi thở cũng thể hiện quy luật trong âm có dương, mục đích điều khiển hơi thở nhằm khai thông các đại huyệt trên mạch Nhâm-Đốc , giúp cho tinh-khí-thần hòa hợp, cùng vận hành liên tục theo vòng Tiểu chu thiên để tạo ra một hệ thống phòng chống bệnh tự động trong cơ thể. Tĩnh công phải hội đủ ba điều kiện là điều thân, điều ý, điều tức.

a)Điều thân :

Có nhiều cách tập thở ở tư thế đứng, nằm, ngồi; cách ngồi để nạp khí và cách nằm để dưỡng thần.

b)Điều ý:

Với khẩu quyết của khí công ý ở đâu khí ở đó, khí đến đâu huyết đến đó cho nên tùy theo mục đích chữa bệnh hợp với nhu cầu cơ thể cần, như muốn tăng cường sự khí hóa, cần tăng huyết, cần an thần.. ý sẽ được tập trung vào các vị trí khác nhau ở Đan điền khí, Đan điền thần, Đan điền tinh hoặc ở huyệt Mệnh môn..

c)Điều tức :

Là tập điều hòa hơi thở được tự nhiên: nhẹ, chậm, sâu, lâu, đều, tự nhiên cho thành một thói quen, nhằm khai thông các huyệt đạo trên Nhâm-Đốc mạch giúp cho tinh-khí-thần hòa hợp, cùng vận hành liên tục theo vòng Tiểu chu thiên để tạo ra một hệ thống phòng chống bệnh tự động trong cơ thể.

Điều hòa hơi thở đúng sẽ làm thay đổi chức năng co bóp của tim và nhịp tim được cải thiện ngay sau khi tập, đã được kiểm chứng đo điện tâm đồ.

Tập thở chú ý đến điều chỉnh hơi thở nhẹ, chậm, sâu, lâu, đều, tự nhiên, không gò bó không ép hơi, tạo thành nhịp thở sinh học đều đặn theo chu kỳ khoảng 6 đến 12 hơi thở ra thở vào trong một phút, sẽ giúp cho hệ thống miễn nhiễm được mạnh gấp nhiều lần hơn những người khác. Bình thường một người khỏe mạnh không bệnh tật, thở trung bình một phút được 18 hơi, nếu đến tuổi già vẫn giữ được 18 hơi thì tuổi thọ có thể sống lâu 100 tuổi. Nếu hơi thở trên 18 hơi là cơ thể đã có bệnh (thí dụ như bị thở gấp, ngắn hơi, hụt hơi trong bệnh tim mạch, suyễn, đau đớn..) thì tuổi thọ sẽ giảm.

Ngoài ra có 3 bài tập thở tĩnh công để dưỡng tâm an thần, tăng cường hệ thống thần kinh, hệ miễn nhiễm và nội tiết giúp bệnh mau hồi phục.

Đã có nhiều người tập đều đặn một thời gian, sức khỏe được cải thiện, những bệnh tật kinh niên tự biến mất dần, ít phải dùng thuốc hơn, nhất là các bệnh đau nhức chân tay, lưng gối, cảm cúm, nhức đầu, chóng mặt, dị ứng, ho hen, suyễn, áp huyết, tiểu đường. Các thế tập trong bài không có gì đặc biệt, cầu kỳ và khó nhớ, khó tập như các môn khí công khác, nhưng kết qủa thật kỳ diệu, như một phép lạ.

4.Cách khám bệnh bằng KCYD

Đông y có Bát cương (8 Cương lĩnh) để qui loại bệnh: Âm- Dương, Biểu –Lý, Hàn- Nhiệt, Hư- Thực, Bát Pháp( 8 Phương pháp) để trị bệnh: Hãn, Hòa, Hạ, Tiêu, Thổ, Thanh, Ôn, Bổ.

Khi chẩn bệnh Đông Y dùng Tứ chẩn: Vọng, văn, vắn Thiết.

Khí Công Y Đạo cũng sử dụng Bát cương , Bát pháp và Tứ chẩn nhưng theo cách riêng: Đó là sử dụng những thành tựu của Tây Y để vận dụng vào khám bệnh thay cho bắt mạch của Đ.Y và cho kết quả chính xác cao hơn và thậm chí rất ngạc nhiên mà cả Đông Y và Tây Y cũng chưa ngờ tới.

KCYD dùng 4 thiết bị sau:

1.Máy đo huyết áp

2.Máy đo đường huyết

3.Máy đo nhiệt độ cơ thể

4.Máy đo oximeter

– Xin trình bày rõ hơn về sử dụng máy đo HA để chẩn đoán bệnh

Bảng tiêu chuẩn áp huyết của người khỏe mạnh theo KCYD:

Áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi) 100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65

Áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi) 110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70

Áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi) 120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75

Áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên) 130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80

Khác với Tây Y, KCYD luôn đo huyết áp cả 2 tay để từ đó tìm ra bệnh thuộc Âm- Dương, Biểu – Lý, Hàn- Nhiệt, Hư – Thực.

KCYD đã chứng minh được bằng thực nghiệm HA trong cơ thể con người phụ thuộc vào yếu tố, trong đó có khí của Lục phủ, Ngũ tạng.

– Dùng súng bắn nhiệt độ có thể biết được các vùng của cơ thể cũng như các đường kinh lạc bị hàn, nhiệt, nhiều khi còn tìm ra được các bệnh nan y mà Đông Y cũng như Tây Y không tìm ra.

– Dùng máy thử tiểu đường để biết lượng đường huyết trong cơ thể cũng như trên các đường kinh có nằm trong tiêu chuẩn hay không để từ đó điều chỉnh bằng ăn uống hoặc dùng thuốc cho phù hợp. Khi cơ thể bị bệnh, đường trong huyết sẽ phân bố không đều, khi thử đường ở tay thì có thể nằm trong tiêu chuẩn, nhưng ở chỗ khác thì lượng đường có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với tiêu chuẩn, từ đó các thầy khí công có thể biết được nguyên nhân gây bệnh. Lượng đường tiêu chẩn trong máu khi đói phải từ 6 đến 8 mmol/l sau khi ăn đo được 10- 12 mmol/l mới là người khỏe mạnh.

– Dùng máy oximeter để đo lượng oxy trong cơ thể cũng như trên các đường kinh lạc để biết kinh nào thiếu khí để điều chỉnh bằng tập các bài khí công cho phù hợp.

Khi khám bệnh bằng oximeter ở các ngón chân, ngón tay, sẽ phát hiện dấu hiệu bệnh ở ngọn, thuộc cục bộ ở đầu ngón chân tay, sẽ phát hiện bệnh ở đường kinh, sẽ phát hiện bệnh trong nội tạng.

Vì Tây y đã không nghiên cứu kỹ về kinh mạch như đông y, nên đã có sai lầm cứ tưởng khi đo oxy, ở ngón tay hay ngón chân hay bất kỳ nơi nào trong cơ thể cũng đều giống nhau, nên việc đo ở những ngón tay khác hay ở ngón chân không cần thiết, nhưng thật ra nó rất quan trọng để khám định bệnh.

C.Một trường hợp thoát mổ tim nhờ Khí công y đạo

May mắn thoát khỏi mổ tim

Nữ bệnh nhân trên 60 tuổi còn đang độ tuổi đi làm, thường bị mệt, bác sĩ đo áp huyết thấy cao

thường xuyên ở mức 160mmHg nên bà phải dùng thuốc điếu trị áp huyết suốt đời. Sau một năm điều trị, bác sĩ gia đình vẫn kiểm tra áp huyết định kỳ, áp huyết của bà đã xuống 120-130 rất tốt, nên dặn bà cứ uống thuốc đều đặn. Bệnh nhân yên chí tuân theo lời bác sĩ, và cứ đi khám định kỳ, áp huyết xuống thấp hơn 110mmHg, theo tây y là qúa tốt nhờ có uống thuốc đều đặn.

Sau này, thỉnh thoảng bệnh nhân hay bị mệt, khó thở, đầu óc choáng váng, chân đi không vững, khi đi thân người muốn chúi nhủi về phía trước, bác sĩ gia đình gửi bệnh nhân đi chuyên khoa tim mạch.

Chuyên khoa tim mạch xét nghiệm xong, yêu cầu bà tạm nghỉ làm, cho bà uống thuốc đặc biệt và chờ ngày nhập viện để mổ tim. Kể từ ngày đó bà hay chóng mặt, đi đứng lảo đảo, mệt tim, khó thở, ăn uống không được, tâm trạng nửa lo sợ phải mổ tim, vì ý của bà không muốn mổ, nhưng một mặt mừng vì bà được may mắn bác sĩ đã tìm ra bệnh của bà, vì tình trạng bệnh của bà cảm thấy càng ngày càng nặng không biết sẽ chết bất đắc kỳ tử lúc nào.

Bà có người thân trong gia đình cũng trong ngành y khoa, trước kia là bệnh nhân của tôi, có ý muốn giúp bà. Cô ấy đã đến gặp tôi, nhờ tôi đến nhà bà để xem bệnh tình ra sao, có cần phải mổ hay không.

Khám Bệnh :

Tôi đo áp huyết bên tay trái 104/64mmHg mạch 65, tay phải 101/62mmHg mạch 65, mỗi bên khi, máy đo nhồi 2 lần mới cho ra kết qủa. Đo lại nhiều lần máy cũng nhồi 2 lần.

Định Bệnh :

Nếu ai đã từng học cách khám bệnh và định bệnh bằng máy đo áp huyết, cũng đều biết bệnh nhân bị bệnh gì.

a-Tôi cho bà biết bà bị khó thở vì cholesterol đóng hẹp ống mạch vào tim nên máy bị nhồi 2 lần.

b-Con số thứ nhất của máy chỉ áp huyết qúa thấp do thiếu khí huyết, nghĩa là thiếu máu tuần hoàn trong cơ thể do uống thuốc hạ áp huyết xuống thấp bằng áp huyết của một đứa trẻ.

c-Số đo thứ hai nhỏ hơn tiêu chuẩn 70-90 cho biết van tim bị hẹp, do đó tây y cần phải mổ để nong rộng ống mạch, nếu không tim bị tắc nghẽn mạch không trao đổi oxy được, làm khó thở nhưng nó sẽ ngừng đập bất tử.

d-Số thứ ba chỉ nhịp mạch tim đập yếu, theo đông y là mạch trì, người hàn lạnh. Bà cho biết đầu ngón tay lạnh tê, chân lúc nào cũng phải đi vớ mà vẫn cảm thấy lạnh.

Cách điều chỉnh theo Tinh-Khí-Thần:

Tinh:

Người nhà cho bà uống 1 ống Acti-B12 và 1 ly nước gừng mật ong, cho tăng khí huyết, tăng áp huyết trước khi tập khí công.

Chân của bà đi vớ, sờ cổ chân vừa lạnh vừa phù, do chức năng thận dương hư, tôi đề nghị bà mua Bát Vị Quế Phụ, mỗi lần ngậm 20 viên trong miệng cho tan dần, mỗi ngày 3 lần để làm ấm cơ thể, mạnh thận dương, tăng áp huyết.

Khí và Thần:

a-Hướng dẫn cho bà tập bài Nạp Khí Trung Tiêu 3 lần sau đó tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 50 lần, tập xong cuốn lưỡi ngậm miệng, nằm thở thiền ở Đan Điền Thần 5 phút, tập trung ý ở mỏm xương ức dưới lòng bàn tay phải, tay trái đặt chồng lên trên. Rồi đo thử áp huyết, tay trái lên được 110/68mmHg mạch 70, tay phải 112/68mmHg mạch 71.

Theo kết qủa của máy đo, khí huyết có tăng nhưng chưa đủ theo tiêu chuẩn từ 130-140mmHg. Số thứ hai van tim đã hoạt động mạnh hơn từ 65 đã lên 68, số thứ ba chỉ thân nhiệt đã tăng từ 65 lên 70- 71, nhưng máy đo không bị nhồi hai lần là tim mạch đã thông.

Tôi cho bà biết là bà đã biết cách tập khí công để tự cứu bà, khi nào áp huyết của bà lọt vào tiêu chuẩn của khí công, thì bà khỏi cần phải mổ .

Tôi cũng cho bà biết sự lợi ích của 2 bài tập : Nạp Khí Trung Tiêu 5 lần làm tăng áp huyết, tăng thân nhiệt, kích thích tiêu hóa, mạnh chức năng hoạt động của tim, phổi. Bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng tối đa 200 lần để thông khí huyết toàn thân, giúp máu chạy đều khắp cơ thể và tống độc tố ra bằng đường mồ hôi, loại bỏ cặn bã trong cơ thể thoát ra bằng đường tiêu tiểu, nhưng muốn áp huyết hạ, sau khi tập xong thì thở bằng miệng, nếu áp huyết thấp thì ngậm miệng, cuốn lưỡi, thở bằng mũi để giữ áp huyết tăng lên, như vậy bài tập này có công dụng điều chỉnh áp huyết.

Tôi yêu cầu bà thử tập lại một lần nữa một mình để tự biết cách điều chỉnh tim mạch áp huyết.

Sau khi bà tập xong, trán của bà xuất mồ hôi, hơi thở mạnh, bà cảm thấy khỏe, đo lại áp huyết, tay trái 125/75mmHg mạch 73, tay phải 128/78mmHg mạch 75. Tôi nói, bà tập thế nào mà con số thứ hai ở trong khoảng 70-90 là van tim và ống mạch được thông, thì không cần phải mổ, còn nhịp tim đập từ 70-80 thì cơ thể nóng ấm, không sợ bị lạnh, số đầu tiên muốn tăng lên đúng tiêu chuẩn 130-140, cần phải uống Acti-B12.

Sau khi tập bà cảm thấy khỏe hoàn toàn, đi đứng vững chắc, hơi thở thông, bà muốn ngày mai đi làm trở lại.

Ngày hôm sau, bà đến sở làm, mọi người ngạc nhiên thấy bà đã khỏe bình thường, riêng bà cảm thấy mừng, gọi điện thoại cho bạn bè chia sẻ niềm vui với mình, chiều tan sở, bà đến phòng mạch của tôi để nhờ tôi xem lại, kết qủa áp huyết ổn định, tay trái 129/78mmHg mạch 74, tay phải 130/81mmHg mạch 75

Đến ngày hẹn mổ, tôi thường dặn bệnh nhân là bệnh viện đã sắp xếp lên kế hoạch có sẵn ê kíp mổ, nvì căn cứ trong hồ sơ, kết qủa tim mạch qúa suy nhược, bắt buộc phải mổ. Nếu mình không yêu cầu khám lại, thì mình phải bị mổ oan. Còn bệnh nhân cho bác sĩ biết là tôi đã cảm thấy khỏe mạnh bình thường, không còn cảm thấy bệnh nữa, xin yêu cầu cho tôi kiểm tra lại tim mạch trước khi mổ, thì sau khi kiểm tra lại, bác sĩ sẽ cho về nhà, vì theo kết qủa mới, không cần mổ nữa.

Đa số những bệnh nhân người Việt cũng như người ngoại quốc tập khí công, rồi cũng đến ngày hẹn mổ đều đề nghị bác sĩ khám tim mạch lại trước khi mổ, cuối cùng khỏi bị mổ oan, đã có người cách đây 5-10 năm, các bác sĩ điều trị tim mạch cho họ vẫn không thấy dấu hiệu nào để phải mổ.

D.Video quan trọng:

Hướng dẫn tập Động Công & Tĩnh Công:

Ung thư, nguyên nhân và cách chữa:

Thầy Đỗ Đức Ngọc giảng về Khí Công Y Đạo 2017 (~5h30p)

Bài tập Khí công tịnh độ:

Tầm quan trọng của đường – Thầy Ngọc giảng tại Làng Mai 2015

Nhìn mặt bắt bệnh:

Các video khác có thể xem ở đây: https://www.youtube.com/user/KhiCongYDao/videos

Tài liệu xem ở đây: https://khicongydaovietnam.wordpress.com/

Email thầy Ngọc: doducngoc@gmail.com

5 Cách Để Học Khí Công Y Đạo Việt Nam Hiệu Quả / 2023

Làm thế nào học khí công y đạo của Thầy Đỗ Đức Ngọc để tiết kiệm thời gian và hiệu quả nhất? Học để hiểu đã là vấn đề lớn còn học mà thực hành thì còn phải nhọc lòng hơn. Nhưng việc học nó cũng như mọi việc khác, phải thích nó, say sưa với nó thì mới có hưng phấn vượt qua các trở ngại.

Học Khí Công Y Đạo phải nắm được ngũ hành trong lục phủ ngũ tạng

Khi học Khí Công Y Đạo cần tìm hiểu về Ngũ hành và lục phủ ngũ tạng. Đó bao gồm Tim -tâm bào (vỏ trái tim) là âm hỏa. Ruột non, tam tiêu (hệ thống tuần hoàn máu) là hỏa dương, Lá tỳ (tụy) là thổ âm, dạ dày (vị) thổ dương. Ruột già (đại trường) kim dương, phổi (phế – là kim âm) Thận -thủy âm, bàng quang là thủy dương, gan là mộc âm, túi mật (đởm) là mộc dương.

Để học vòng tương sinh ngũ hành ta nhớ : nước (thủy) tưới cây tươi tốt cây dễ sinh hỏa hoạn, sau hỏa hoạn còn đống tro (thổ), trong đống tro đó có kim, khi đun nóng kim thì nóng chảy thành nước chu kỳ cứ thế tương sinh. Còn tương khắc : thủy dập tắt lửa,, lửa đun chảy kim, kim làm chết cây, cây làm bạc màu đất, đất chặn được nước

Học Khí Công Y Đạo cần hiểu sự vận hành trong 14 kinh

Học Khí Công Y Đạo cũng cần nắm được một số khái niệm cơ bản

Quy tắc học như thế nào là thực-hư -suy, như thế nào là hư : thấp hơn tiêu chuẩn khí công là hư (mãn tính), cao hơn là thực là cấp tính còn cả thực cả hư là suy. Con hư bổ mẹ là bổ kinh liền kề phía trước kinh đó : ví dụ kinh hỏa âm hư bổ mẹ nó là mộc dương tức túi mật Mẹ thực tả con : tức tả kinh kế sau nó : ví dụ kinh hỏa dương thực thì tả kinh thổ âm tức tỳ Chữa bệnh thực : vuốt từ huyệt bản bệnh sang sinh bệnh, xả tại tĩnh huyệt cơ sở sinh bệnh BB-SB-XẢ KINH SB Chữa bệnh hư chứng : vuốt từ khắc bệnh sang bản bệnh rồi xả tại tĩnh huyệt cơ sở bản bệnh KB-BB- xả kinh BB Chữa bệnh suy chứng : vuốt từ khắc bệnh sang bản bệnh, vuốt từ huyệt bản bệnh sang sinh bệnh, xả tại tĩnh huyệt cơ sở sinh bệnh KB-BB-SB-XẢ KINH SB XEM CHI TIẾT TẠI :khicongydaotailieu.blogsport.com/Tài Liệu về Huyệt/Thực tập vuốt huyệt chữa bệnh tổng quáthttp://khicongydaotailieu.blogspot.c…a-12-kinh.htmlhttp://khicongydaotailieu.blogspot.c…a-12-kinh.htmlhttp://khicongydaotailieu.blogspot.c…-kinh-ngu.htmlhttp://khicongydaotailieu.blogspot.c…yen-huyet.htmlhttp://khicongydaotailieu.blogspot.c…a-12-kinh.htmlhttp://khicongydaotailieu.blogspot.c…yet-ong-y.html

Học cách đoán bệnh trong khi học Khí Công Y Đạo

Học cách đoán bệnh : nhìn bề ngoài : màu sắc da bình thường, tái, xám, sạm xỉn màu, đỏ nghe tiếng nói : bình thường – hụt hơi – to tiếng – nói dai… quan sát mắt -tai -lưỡi khai bệnh đau vùng nào Nắn xoa trên 14 kinh xem đau huyệt của kinh nào, vùng nội tạng nào Xúc chạm xem nóng lạnh như thế nào

Học Khí Công Y Đạo cũng cần chú ý đến bát pháp, huyệt

Chú trọng các huyệt bát pháp, phép chữa bệnh chỉ bằng một huyệt http://khicongydaotailieu.blogspot.c…et.html/Thực tập chữa bệnh bằng 1 huyệt https://docs.google.com/fileview?id=…MjE3ZTEz&hl=en

Nói chung kiến thức của Thầy đúng là rừng y, nhưng biết cách tiếp cận có hệ thống thì việc học đỡ vất vả, nhanh tiến bộ có hiệu quả

Cứ đau nhức xương thì xả cặn thận và bổ thận : ngò tây,câu kỳ tử,táo đen,đỗ trọng,địa cốt bì…

Đau nhức gân cơ thì chăm sóc gan tỳ : : phan tả diệp, phụ tử lý trung hoàn, bổ trung ích khí hoàn

Da : chú ý gan phổi : phan tả diệp, bách hợp cổ kim hoàn

Ung thư : tăng khí huyết…

Khi những kiến thức của Thầy Ngọc được phân bổ nhỏ từng phân đoạn đem vào chương trình học khí công y đạo tại học đường từ cấp tiểu học lên cấp đại học sau đại học thì mọi người có cuộc sống hoàn thiện hơn, dễ dàng thông minh hơn

(http://thegioivohinh.com/)

Cách Học Khí Công Y Đạo Hiệu Quả? / 2023

1-Giai đoạn học các bài tập thể dục khí công từ đầu đến cuối, giúp cơ thể có đủ khí lực thúc đẩy máu tuần hoàn. Dùng máy đo áp huyết, đo ở hai tay, vào mỗi sáng và mỗi tối. Thời gian sẽ trả lời kết qủa, là trước khi tập khí công và sau khi tập một tuần, hai tuần, ba tuần hay 1 tháng…rồi so sánh với áp huyết tiêu chuẩn, xem trước khi tập và sau khi tập, khác nhau như thế nào, tốt hay xấu..

Tốt có nghĩa là người có bệnh cao áp huyết hay bệnh tiểu đường, cholesterol cao, sau khi tập thì đi thử nghiệm thất hết bệnh, hay đo áp huyết đã lọt vào tiêu chuẩn:

Đây là bảng tiêu chuẩn áp huyết theo loại tuổi theo kinh nghiệm của khí công y đạo :

95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)

100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)

110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Còn khi áp dụng khí công để đi chữa bệnh cho người khác, thì phải kiểm chứng từng mỗi bài tập riêng bằng máy đo áp huyết trước khi tập và sau khi tập, để mình biết chắc bài tập nào làm tăng áp huyết, thì dùng bài đó hướng dẫn cho những người có áp huyết thấp. Bài nào sau khi tập làm hạ thấp áp huyết thì đem áp dụng để chữa cho những người bị bệnh cap áp huyết. Bài nào làm tăng hay giảm số thứ hai tâm trương để chữa bệnh hẹp hay hở van tim. Bài nào sau khi tập làm tănh nhanh nhịp tim hay làm chậm nhịp tim. Bài nào chữa cầm được mồ hôi, bài nào tập cho ra mồ hôi, bài nào tập chữa được táo bón, bài nào chữa được bệnh tiêu chảy, bài nào chữa được nhức đầu, bài nào chữa được chóng mặt, bài nào chữa được bệnh ăn không tiêu, kém hấp thụ, bài nào chữa được bệnh dư mỡ, dư đường trong máu, bài nào chữa được bệnh suyễn, bệnh sạn thận, tuyến tiền liêt, tiểu đêm, mất ngủ, ngủ nhiều, đau lưng, tay, vai, chân, lưng. gối….

Như vậy chúng ta đã có cả một kho thuốc chữa bệnh bằng các bài tập khì công, nên gọi là khí công chữa bệnh, chứ không giống các loại khí công khác gọi là phòng bệnh, nhưng khi có bệnh lại không áp dụng nó để chữa bệnh được.

Thời gian học, tập luyện và đúc kết kinh nghiệm để đem ra chữa bệnh cho mọi người được kết qủa, ít nhất mất 3-6 tháng trở lên, chuyên dùng các bài tập khí công để chữa bệnh.

2-Giai đoạn học Khí Công Y Đạo kế tiếp, khi một người có đủ khí như các nhà thể dục thể thao, những người học võ, học khí công…họ cũng vẫn bị bệnh, không phải do thiếu khí, mà khí bị tắc không thông, lúc đó cần học day bấm, vuốt huyệt để làm cho khí huyết lưu thông, thường châm nặn máu đầu tay chân, vuốt các đoạn huyệt vòng chân khí tay, chân, du huyệt trên lưng, khích-du huyệt trên kinh tay, chân, day các đầu ngón tay chân, vuốt khí chữa bệnh, hư, thực, lão suy, học chuyên môn về huyệt và lý luận ngũ hành tạng phủ tìm nguyên nhân gốc bệnh, và học dấu hiệu triệu chứng lâm sàng học, Quy Kinh Chẩn Pháp……

3-Giai đoạn học Khí Công Y Đạo điều chỉnh tinh, chữa bệnh bằng điều chỉnh ăn uống.

Có những trường hợp thông huyệt hay tập khí công không có kết qủa, vì cơ thể thiếu máu, thiếu những chất bổ dưỡng tạo máu, lúc đó cần phải đo áp huyết để biết khí huyết thiếu như thế nào, nhiều hay ít, do đường kinh nào…nên cần phải học đến ngũ hành để chữa vào nguyên nhân gốc bệnh, biết về thuốc như tính-khí-vị của thuốc, cách học giai đoạn này là nghiên cứu về những chất bổ máu, phá máu, phá đàm. Bổ máu cho người thiếu máu áp huyết thấp. Phá máu cho những người dư thừa máu, cao áp huyết..

4-Cách chữa Tâm Bệnh qua việc học Khí Công Y Đạo:

Ba giai đoạn trên là học Khí Công và Y thuật. Giai đoạn hoàn tất là học Đạo, là học những nguyên lý nhân qủa của bệnh về ba yếu tố Tinh-Khí-Thần.

Thí dụ về Tinh, là ăn uống thuốc men, những chất này thiếu thì hậu qủa của bệnh sẽ là bệnh gì, những chất này dư thì hậu qủa của bệnh là những bệnh gì, phải trình bầy giảng giải cho bệnh nhân hiểu để tránh không phạm phải. Ăn những chất này làm mất khí, ăn những chất này làm dư khí, thiếu qúa hay dư qúa đều bệnh

Như về Khí, thì hậu qủa của bệnh này do thiếu tập bài này, hay tập dư bài này.., nên thấy chữa bệnh bằng khí công cần phải biết kỹ thuật và công dụng của mỗi bài tập do mình tự nghiên cứu chứng nghiệm được mặt bổ, mặt tả của bài tập, mới đem cho bệnh nhân ứng dụng các bài tập trong việc bổ tả của bệnh mình cần chữa.

Về Thần là tâm lý tính tình như vui, lo, buổn, sợ, giận, đối với bệnh nào hợp, bệnh nào không hợp. Như buồn qúa thở dài hại phổi, phụ nữ sẽ bị ung thư vú, trầm cảm. Vui qúa hóa điên dại. Lo qúa hại tỳ vị, ăn mất ngon mất tính hấp thụ và chuyển hóa. Sợ qúa vãi đái hại thận. Giận qúa làm bầm gan hại gan, tăng cao áp huyết, rối loạn tim mạch.

5-Cao hơn một bậc nữa về Đạo học trong Khí Công Y Đạo là biết ngưyên nhân hậu qủa của thân bệnh, còn biết nguyên nhân hậu qủa của tâm bệnh, của nghiệp bệnh.

Nguyên nhân hậu qủa của thân bệnh chữa bằng khí công, y thuật.

Nguyên nhân hậu qủa của Tâm Bệnh, giảng giảng lý thuyết khí huyết, liên hệ ngũ hành lục phủ ngũ tạng và đo kiểm chứng có kết qủa rõ ràng bằng con số nào tốt số nào xấu, do thuốc tây, thuốc ta, do ăn, do tập đúng sai, lúc đó bệnh nhân sẽ không còn cố chấp vào đông y tây y khí công, miễn sao cách nào thuốc nào làm cho mình khỏi bệnh qua kiểm chứng bằng máy đo áp huyết là được. Do đó, môn Khí Công Y Đạo mới gọi máy đo áp huyết là bác sĩ giỏi nhất trong gia đình của mình, cho mình biết cách tự điều chỉnh Tinh-Khí-Thần được khỏi bệnh hay hơn các ông thầy thuốc nào khác..

Nguyên nhân hậu qủa của Nghiệp Bệnh thì cần phải tham thiền học luật nhân quả trong đạo Phật, và tu học đến trình độ cấp 5 của Khí Công Y Đạo trở lên, hay học từ chư vị trong bài Cầu Ơn Trên Giải Nghiệp Bệnh, lúc đó mình có thể biết một bệnh do nghiệp và cách giải nghiệp bệnh. Muốn có đ ược khả năng này, cần phải dấn thân phục vụ chúng sinh theo đại nguyện hành bồ tát đạo, lánh dữ làm lành, ăn chay, tu tâm dưỡng tánh mới mở mang được trí tuệ và tâm đạo cứu độ người.

Thân

doducngoc

Giải Mã Huyền Thoại Về Khí Công Trong Võ Thuật Việt Nam / 2023

“…Chỉ thấy cụ Lưu Văn Khanh cất bàn tay trái lên, một luồn hào quang màu hồng như tia sáng mặt trời từ tay cụ phóng ra. Đó chính là công phu nổi tiếng “Võ Đang long môn thất ất kim thích chưởng”. Tiếp đó, cụ lại biểu diễn “Hắc phong chưởng”: Một luồng khí sắc đen lại từ huyệt Lao Cung của bàn tay trái phóng ra tựa như một luồng khói đen, khiến mọi người chứng kiến sửng sốt kinh ngạc và thán phục. “Mai hoa chưởng” của cụ lại càng tinh diệu hơn nữa. Một luồng khí sắc trắng như khói từ tay cụ phóng ra kèm theo âm thanh “vù vù”, khiến hơn 200 con người hâm mộ đứng xem lặng người kinh ngạc và sau đó hoan hô vang dậy…Cụ Lưu cười ha hả nói : “Các vị vất vả quá và đã có vẻ mệt nhọc lắm rồi, để tôi giúp các vị bổ khí một chút”. Nói rồi cụ cất bàn tay lên lần lượt hướng tới mồm của ba người phóng ba lần “Dược vương chưởng”. Ba người điều cảm thấy một luồng khí có khí vị rất đậm của Trung dược từ khoang miệng lan tỏa khắp thân thể. Sau đó liền cảm thấy toàn thân thư giãn nhẹ nhàng, tinh thần thư thái sảng khoái vô cùng…”(Khí công-các kỳ nhân đương đại, Thiên Tùng biên dịch, Nhà xuất bản Thể dục thể thao, Hà Nội, 1990, trang 6-7) là một trong nhiều câu chuyện kể về khả năng siêu việt của khí công gần như là huyền thoại ! Bởi trong thực tế vẫn chưa có những luận cứ khoa học nào giải thích một cách minh bạch và tường tận về các khả năng sử dụng Khí công như vậy. Thái độ của những con người đang chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ XXI không nên vội phê phán về các huyền thoại khí công như vừa kể, mà hãy gác nó qua một bên, chờ đợi kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học.

Thực chất về công năng của Khí công trong việc giữ gìn và tăng cường sức khỏe đã được khoa học chứng minh. Thật vậy, ngày nay, khoa học cho ta biết rõ cơ thể, và đặc biệt là các bắp thịt, trong lúc hoạt động rất cần khí Oxy và tiêu khử khí Carbonic. Oxy tiềm tàng trong không khí được hít vào phổi, rồi hòa tan vào huyết để được tải khắp cơ thể. Huyết cũng tải về phổi khí thán do các bộ phận khác tiết ra, để được thải ra ngoài lúc thở ra. Như vậy khí và huyết là hai yếu tố gắn bó mật thiết với nhau, do đó hai quá trình vận khí và vận huyết cũng gắn chặt với nhau. Lưu thông khí huyết là điều kiện cơ bản trong việc bảo vệ sức khỏe và rèn luyện cơ thể.

Tùy theo ý muốn, chúng ta có thể vận dụng bộ máy hô hấp, vận dụng các bắp thịt để thở. Bắp thịt thở chủ yếu là hoành cách mạc. Vận động của nó bảo đảm 2/5 dung tích không khí ra vào. Hoành cách mạc nằm thành một cái vòm giữa ngực và bụng, phía trên là phổi và tim phía dưới là gan, dạ dày và ruột. Lúc hoành cách mạc co thắt để hạ xuống 2 đến 3cm, nếu tập nhiều có thể hạ xuống đến 10 hay 15cm. Lúc ấy, lồng ngực và phổi dãn ra, bụng phình lên vì gan, ruột bị đẩy xuống, không khí được hít vào. Hoành cách mạc trở về chỗ cũ, phổi bị ép lại, không khí được đẩy ra ngoài, lúc ấy ruột gan bị kéo lên và bụng thót lại. Như vậy, lúc hít vào thì bụng phình lên, và lúc thở ra, bụng thót lại. Bắp thịt bụng cũng giúp vào việc thở, đặt biệt là lúc thở ra, khi ấy hoành cách mạc đi lên, cơ bụng thắt lại, đẩy gan ruột lên, do đó thở ra được sâu hơn. Tóm lại, cần nhớ nguyên tắc : thót bụng thở ra, phình bụng hít vào.

Ngoài hoành cách và cơ bụng, giữa các xương sườn cũng có những cơ nối liền hai xương với nhau, phía trong và phía ngoài. Lúc các cơ liên sườn bên ngoài co thắt lại, xương sườn bị kéo ra, lồng ngực phồng lên, giúp cho không khí vào, và ngược lại, khi các cơ liên sườn bên trong kéo sườn vào thì lồng ngực thắt lại, không khí bị đẩy ra. Vì phía dưới của phổi rộng hơn phía chóp phổi, do các xương sườn trên rất cứng, gồm toàn xương từ trước ra sau, không như các xương sườn phía dưới, gồm một phần sụn ở phía trước, nên lồng nhực phía trên không co giãn được bao nhiêu. Những bắp thịt níu vào các xương sườn phía trên và xương đòn gánh, đóng góp vào việc đưa không khí ra vào không đáng kể. Thông thường khá nhiều người cứ lầm tưởng bắp thịt ngực, tức bắp thịt kéo từ cánh tay đến giữa ngực, là bắp thịt để thở, nên lúc tập thường đưa vai lên, kéo căn phần trên của ngực, trái với sinh lý tự nhiên.

Thở bụng, tức là vận dụng hoành cách mạc, cơ bụng, cơ liên sườn phía dưới, là cách thở có hiệu quả cao nhất. Rèn luyện các bắp thịt ấy cho thật nhuần nhuyễn, trong lúc thở nắm cho được mình đang vận dụng bắp thịt nào là công tác cơ bản của khí công. Nói một cách tổng quát, cần nắm vững những động tác sau đây :

Lúc thở ra, hoành cách mạc đưa lên, bụng thót lại, cơ liên sườn và các cơ bụng kéo sườn vào.

Lúc hít vào, hoành cách mạc hạ xuống, bụng phình lên cơ liên sườn kéo sườn ra.

Thở ra dài hơn hít vào và càng sâu càng tốt. Lúc hít vào xong, có thể giữ hơi lại một chút. Sách xưa thường nói rằng lúc hít vào, khí xuống đan điền, tức bụng dưới, thực ra vì hoành cách mạc đẩy ruột xuống nên bụng phình ra.

Bình thường lúc ngồi yên hay làm việc nhẹ, dung tích không khí ra vào chừng 0,5 lít, và người ta thở chừng 12 đến 16 lần trong một phút. Khi vận động, nhất là vận động nhanh như chạy đua, đấu võ, lưu lượng không khí ra vào có thể gấp 15 hay 20 lần. Lúc ấy dung tích không khí ra vào có thể lên tới từ 4 lít đến 6 lít, tần số thở cũng tăng lên gấp đôi hoặc hơn. Muốn tăng lưu lượng phải tăng chủ yếu khả năng hoạt động của hoành cách mạc lên, xuống thật nhiều và nhanh, nếu cần có thể cho không khí ra vào qua miệng, vì con đường này rộng hơn và ít khúc khủy hơn con đường qua mũi. Nhưng nếu ta không vận động nhiều, không cần lưu lượng không khí ra vào, thì cũng không nên đưa quá nhiều Oxy vào cơ thể, khử quá nhiều khí thán ra ngoài, vì như thế sẽ bị choáng váng. Lúc ngồi yên điều hòa nhịp thở cho thật đều đặn, nhẹ nhàng, dài và sâu, chủ yếu để điều hòa hoạt động của nội tạng và làm cho thần khinh thoải mái. Nhịp thở lúc ấy là một cho đến bốn lần trong một phút.

Tóm lại, có hai phương pháp luyện khí công :

Lúc vận động nhiều, thở sâu và nhanh, có thể cho không khí qua miệng để tăng cường lưu lượng không khí ra vào, cung cấp nhiều oxy và khử nhiều khí carbonic

Lúc vận động ít và không vận động, thì thở nhẹ, dài, sâu, rất chậm và toàn thể con người yên tĩnh điều hòa lại. Nếu hoàn cảnh cho phép, nhắm mắt lại tập trung ý nghĩ vào từng nhịp thở.

Có thể tập khí công trong tư thế nằm cũng được, đứng, nằm hay ngồi, miễn sao vận dụng được hoành cách mạc một cách dễ dàng. Kết hợp với động tác chân tay trong khi tập khí công cũng được. Khi rèn luyện xong rồi thì lúc vận động, nhịp thở và động tác chân tay sẽ tự nhiên phối hợp nhịp nhàng với nhau. Kỹ thuật của khí công đơn giản, tập vài lần sẽ quen, chủ yếu là đừng đưa vai lên xuống lúc thở, đừng cho vận động của lồng ngực tréo với vận động của hoành cách mạc, vì có khi ta cho lồng ngực căng lên để hút không khí vào, đồng thời lại thót bụng lại đẩy hoành cách mạc lên, tức đẩy không khí ra. Động tác của hoành cách mạc, cơ bụng và cơ liên sườn cần được phối hợp chặc chẽ. Trong lúc tập khí công điều hòa, cần chú ý làm chủ nhịp thở : thở thật đều là chủ yếu, không để nhịp thở rối loạn.

Nói một cách tổng quát, tập luyện khí công cần dựa vào những thành tựu khoa học thực tế để việc tập luyện phù hợp với vận động sinh lý tự nhiên của cơ thể, hầu tránh được những tật bệnh có thể phát sinh, đồng thời tạo điều kiện tốt cho khí oxy vào cơ thể giúp các tế bào hoạt động tốt hơn cũng như đưa khí carbonic ra khỏi cơ thể tạo môi trường tốt đẹp cho toàn cơ thể. Được như vậy, sức khỏe chắc chắn tăng tiến, từ đó khả năng dụng võ cũng tiến bộ là lẽ đương nhiên, đúng như Hải Thượng Lãn Ông đã từng viết :

Tập cho khí huyết lưu thông

Tay chân lanh lợi, tinh thần thảnh thơi

Bạn đang đọc nội dung bài viết – Khí Công Y Đạo Việt Nam / 2023 trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!