Đề Xuất 2/2023 # Khái Quát Về Ngành Ngôn Ngữ Đức # Top 11 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 2/2023 # Khái Quát Về Ngành Ngôn Ngữ Đức # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Khái Quát Về Ngành Ngôn Ngữ Đức mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cập nhật: 06/06/2019

Ngôn ngữ Đức là ngôn ngữ được sử dụng khá nhiều ở các quốc gia ngoài Đức như: Hà Lan, Thụy Sỹ, Áo… Ngôn ngữ Đức đang thay đổi từng ngày và được bổ sung thêm nhiều từ ngôn ngữ tiếng Anh và Mỹ. Học ngành ngôn ngữ Đức sẽ giúp bạn tiếp cận với những cơ hội việc làm tại các công ty liên doanh, tập đoàn đa quốc gia Đức trong xu thế hội nhập.

1. Tìm hiểu ngành Ngôn ngữ Đức

Ngành Ngôn ngữ Đức là ngành đào tạo những cử nhân ngôn ngữ Đức có kiến thức tương đối rộng về ngữ pháp từ vựng tiếng Đức, có thể sử dụng tiếng Đức một cách thành thạo trong giao tiếp và trong công việc; có kiến thức chuyên sâu về ngôn ngữ văn hóa các nước nói tiếng Đức và các kỹ năng cần thiết để công tác trong các lĩnh vực như biên phiên dịch, kinh tế và du lịch.

Ngành Ngôn ngữ Đức là một ngành học có nhiều cơ hội việc làm với mức lương hấp dẫn

Chương trình đào tạo ngành Ngôn ngữ Đức tại các trường đại học trang bị cho sinh viên kiến thức và nền tảng cơ bản về tiếng Đức và các kỹ năng cơ bản sử dụng trong giao tiếp đó là: kỹ năng nghe – nói – đọc và viết. Ngành học này đào tạo nên những cá nhân có trình độ nghiệp vụ vững vàng, và hình thành năng lực nghiên cứu khoa học về: lý thuyết ngôn ngữ, lý thuyết dịch ngôn ngữ, về văn hoá – văn học. Đồng thời, còn tìm hiểu thêm các nền văn hóa, văn minh của các nước nói tiếng Đức.

Bên cạnh đó, ngành học này còn trang bị thêm kỹ năng chuyên sâu chuẩn bị cho các sinh viên sau khi ra trường đó là tiếng Đức thương mại: gồm các hệ thống vốn từ về kinh tế, chính trị, thương mại, tài chính, kinh doanh, du lịch, ngoại giao, hợp tác, đàm phán… Sinh viên học ngành Ngôn ngữ Đức sau khi ra trường đã nắm vững tất cả các kỹ năng mềm, kỹ năng cứng cần có để bắt đầu cho một công việc hứa hẹn thành công.

2. Chương trình đào tạo ngành Ngôn ngữ Đức

Theo Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội

3. Các khối thi vào ngành Ngôn ngữ Đức

Ngành Ngôn ngữ Đức có mã ngành 7220205, xét tuyển các tổ hợp môn sau:

D01 (Ngữ Văn, Toán, Tiếng Anh)

D05 (Ngữ văn, Toán, Tiếng Đức)

D78 (Ngữ văn, Khoa học xã hội, Tiếng Anh)

D90 (Toán, Khoa học tự nhiên, Tiếng Anh)

Điểm chuẩn ngành Ngôn ngữ Đức tại các trường đại học từ 27 – 29 điểm, theo kết quả thi tốt nghiệp THPT Quốc gia năm 2018. Trong đó, một số trường sẽ áp dụng xét điểm môn ngoại ngữ nhân hệ số 2.

5. Các trường đào tạo ngành Ngôn ngữ Đức

Ngành Ngôn ngữ Đức ở nước ta hiện nay chỉ có 2 trường đại học đang đào tạo, đó là:

6. Cơ hội việc làm ngành Ngôn ngữ Đức

Sau khi tốt nghiệp cử nhân ngành Ngôn ngữ Đức, các bạn có thể đảm nhận những vị trí công tác đầy hấp dẫn với mức lương ổn định sau đây:

Phiên dịch viên: Biên dịch, phiên dịch viên có khả năng làm việc độc lập tại các cơ quan xuất bản có xuất bản phẩm là tiếng Đức, soạn thảo văn bản tiếng Đức, phiên dịch tiếng Đức sang tiếng Việt và ngược lại giúp đáp ứng được nhu cầu về giao tiếp quốc tế tại các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức.

Thư ký, trợ lý giám đốc: Làm nhân viên dự án, thư ký, nhân viên đối ngoại tại các công ty liên doanh. Trực tiếp tham gia đàm phán, kí kết hợp đồng kinh doanh, kinh tế, hay nhân viên điều phối dự án.

Hướng dẫn viên du lịch: Nếu có vốn bạn có thể mở công ty du lịch chuyên phục vụ du khách nước Đức hay có thể làm hướng dẫn viên tại các khu du lịch có nhiều du khách nước Đức. Bên cạnh đó, có thể tổ chức các tour du lịch đón tiếp du khách nước ngoài và khai thác, xây dựng các sản phẩm du lịch…

Nhân viên Marketing: Cập nhật những thông tin chính trị, kinh tế, văn hóa của thị trường Đức để áp dụng với các chiến dịch marketing của công ty, doanh nghiệp một cách hiệu quả. Trực tiếp quản lý và viết bài lên website, blog, fanpage của công ty bằng tiếng Đức.

Làm việc tại nước Đức nếu như bạn muốn du lịch nước ngoài hay muốn định lâu dài cùng gia đình tại nước Đức.

Giáo viên dạy tiếng Đức: Giảng dạy tiếng Đức tại các trường cao đẳng, trung cấp nghề, trung tâm ngoại ngữ dạy tiếng Đức… hoặc làm nghiên cứu sinh tại các viện nghiên cứu ngôn ngữ Đức.

Ngành ngôn ngữ Đức đang được nhiều bạn trẻ quan tâm

7. Mức lương của ngành Ngôn ngữ Đức

Ngành Ngôn ngữ Đức tương đối khó học, đầu ra ít nên cơ hội việc làm ngành này rất cao với mức lương hấp dẫn.

Đối với sinh viên mới ra trường bạn đã có thể kiếm từ 400 – 800 USD/tháng (tương đương 9 – 16 triệu VNĐ) tại các công ty, doanh nghiệp nước ngoài.

Với những người có thâm niên trong nghề và được làm cấp quản lý mức lương được trả cho bạn thấp nhất là 1000USD/tháng (tương đương 23 triệu VNĐ), thậm chí là 1.500USD – 2000USD nếu bạn có năng lực.

8. Những tố chất cần có để theo học ngành Ngôn ngữ Đức

Niềm đam mê với ngôn ngữ nước ngoài đặc biệt là tiếng Đức;

Mong muốn tìm hiểu về lịch sử văn hóa, con người nước Đức và những nước nói tiếng Đức;

Muốn một công việc có thu nhập tính bằng USD sau khi ra trường;

Có khả năng nhẫn nại, nghiêm túc trong công việc;

Người có tính tỉ mỉ, cần cù chịu khó;

Muốn giao tiếp thông thạo với người nước ngoài;

Muốn làm việc trong môi trường hiện đại, công nghiệp hóa, đồng nghiệp người nước ngoài;

Muốn đi du lịch nhiều nơi trên thế giới và nói được nhiều ngôn ngữ nước ngoài.

Hy vọng những thông tin trong bài viết đã giúp các bạn hiểu thêm về ngành Ngôn ngữ Đức và nếu bạn còn đang băn khoăn tìm một ngành học phù hợp thì ngành học này đáng để bạn thử sức đó.

Khái Quát Về Học Tiếng Đức A2: Giáo Trình, Tài Liệu, Phần Mềm…

Còn chần chừ gì nữa mà không đến với nội dung cụ thể của trình độ A2 nhỉ?

Khái quát về học tiếng Đức A2 với giáo trình Studio D A2

Ngôn ngữ và con người

Gia đình

Du lịch

Hoạt động trong thời gian rảnh

Phương tiện truyền thông

Giải trí

Ở nhà

Tiếp cận với văn hóa

Thế giới việc làm

Lễ hội và quà tặng

Cảm nhận với tất cả giác quan

Những phát minh và nhà phát minh

Các dạng so sánh với tính từ ( Komparativ und Superlativ )

Câu chỉ nguyên nhân với denn và weil

Cấu trúc câu trần thuật với dass

Cấu trúc câu hỏi gián tiếp với ob và W – Fragen

Câu ghép trong tiếng Đức ( Relativsätze )

Genitiv

Thể bị động ( Passiv )

Câu chỉ mục đích với um … zu và damit

Câu điều kiện với wenn

Thì quá khứ Präteritum: Động từ có quy tắc và khuyết thiếu ( Modalverben )

Giới từ đi với Dativ hoặc Akkusativ

Một số động từ đi với Dativ và Akkusativ

Thể giả định II ( Konjunktiv II )

Động từ phản thân và giới từ

Tài liệu học tiếng Đức A2

Sách bài tập

Nhìn chung, các kiến thức ngữ pháp của sách được thiết kế giống với lộ trình học A2 mà mình nêu ra ở trên. Ở phần đầu của mỗi bài cũng sẽ có những giải thích ngữ pháp, giúp cho người đọc ôn lại trước khi thực hành. Tuy nhiên, điểm bất lợi của cuốn sách này là không có đáp án.

Trang học tiếng Đức online

Đây là một trang mà mình rất hay dùng khi muốn tra cứu kiến thức hay làm thêm bài tập. Trang này giải thích ngữ pháp khá dễ hiểu, nội dung phong phú, và có sẵn đáp án cho các bạn tra cứu.

Trang này có nguồn bài tập khá phong phú. Ngoài ra còn có thêm những file nghe để các bạn luyện tập hay những bài tập từ vựng giúp bạn mở rộng kiến thức ngữ pháp và từ vựng.

Phần mềm học tiếng

Tất nhiên, sau khi học xong mọi người luôn muốn biết liệu trình độ của mình đã đến đâu? Bản thân mình cũng rất hay sử dụng cách này để ôn lại ngữ pháp và kiến thức. Nhân bài viết này, mình muốn giới thiệu đến các bạn một ứng dụng học tiếng Đức của BLA.

Đây là một ứng dụng có kết hợp cả lý thuyết và thực hành. Chủ đề ngữ pháp được phân chia rõ ràng theo từng đề mục: Động từ, Danh từ, Giới từ ….. Nội dung kiến thức được trải dài theo nhiều cấp độ tiếng khác nhau.

Điểm đặc biệt của ứng dụng còn nằm ở những bài kiểm tra trình độ ngữ pháp bám sát với những kiến thức đã học. Bài làm sẽ được chấm điểm ngay và kết quả cũng được lưu lại, để lần sau nếu có làm lại chúng mình biết lại mình có tiến bộ hay không?

Nếu các bạn có một chiếc smartphone và muốn học tiếng Đức thật hiệu quả, sao không thử tải ứng dụng về nhỉ? Lúc nào rảnh có thể mở ứng dụng và làm một vài bài tập nho nhỏ để nâng cao khả năng tiếng. Cũng không phải là ý kiến tồi nhỉ?

Ứng dụng tiếng Đức của tổ chức BLA

Tự học A2

Có lẽ sau khi biết qua về chương trình A2, nhiều bạn có câu hỏi: Liệu mình có thể tự học được không? Câu trả lời có lẽ vẫn tùy thuộc vào mỗi bạn. Nhưng theo quan điểm của mình, các bạn vẫn nên học đến trình B1 ở lớp trước khi tự học. Bởi trên lớp học ngoài giáo viên ra thì còn có các bạn học viên học cùng. Học ở trên lớp các bạn mới có cơ hội để thực hành tiếng nhiều hơn. Chứ học mỗi ngữ pháp không làm sao mà đủ được?

Nếu bạn học tiếng Đức cho tương lai của bản thân, hãy chịu khó đầu tư thời gian và tiền bạc một chút. Còn với những bạn muốn học trước tiếng Đức mà chưa có cơ hội hay thời gian, hãy tìm thử một số trang học tiếng Đức trên youtube. Tất nhiên, ưu điểm những video trên miễn phí. Nhưng theo mình, hiệu quả của nó cũng không được nhiều, bởi, các bạn không nhận được sự tương tác từ người giảng.

Trang youtube mình vừa nêu trên khá hay, bởi, ngoài một số kiến thức ngữ pháp, họ cũng có những video về đời sống, con người Đức nữa. Tuy nhiên, do video được dịch song ngữ: Đức – Anh, nên sẽ hơi khó học một chút.

Tự Học Hán Văn Trực Tuyến – Khái Quát Về Chữ Hán

Khái quát về chữ Hán

Nguyễn Đức Hùng 阮德雄 (ruǎn dé xióng)

Tóm tắtBài viết giới thiệu về chữ Hán, nêu mối quan hệ giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ viết bằng chữ Hán, giới thiệu tóm tắt chữ Hán dùng ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và  Việt Nam, sự tạo thành chữ Hán (lục thư), cấu tạo chữ Hán, cách viết chữ Hán và 214 bộ thủ.

1. Giới thiệu

Chữ Hán có nguồn gốc từ Trung Quốc (cả Đài Loan), sau đó được du nhập vào các nước khác trong vùng bao gồm Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Ở Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, chữ Hán được mượn để tạo nên chữ viết cho ngôn ngữ của từng nước.  Chữ Hán còn được sử dụng trong cộng đồng người Hoa ở nước nước ngoài, ví dụ Singapore, Mỹ, các nước Châu Âu.

Bài viết này sẽ giới thiệu khái quát về lịch sử hình thành chữ Hán, quan hệ chữ Hán và tiếng Việt, tiếng Trung Quốc, tiếng Triều Tiên và tiếng Nhật, sự du nhập và phát triển của chữ Hán ở các nước lân cận Trung Quốc gồm Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Bài viết này cũng giới thiệu sơ lược về cấu tạo của chữ Hán và cách viết chữ Hán nhằm giúp cho người bắt đầu học chữ Hán sẽ tiếp cận tới chữ Hán dễ dàng hơn.

Tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Nhật, và tiếng Triều Tiên vốn từng được coi là nhóm ngôn ngữ “đồng văn” (cùng chữ viết) sử dụng chữ Hán. Do vậy muốn hiểu được ngôn ngữ đồng văn này, đặc biệt là tiếng Trung, người Việt Nam cần học một số lượng chữ Hán nhất định. Chữ Hán là hệ thống chữ viết tiếng Trung Quốc, và là một bộ phận quan trọng cấu thành nên tiếng Nhật, cũng có mối quan hệ chặt chẽ với tiếng Hàn (cũng đã từng được viết bằng chữ Hán trước khi chữ viết tiếng Hàn (Ngạn Văn) được phát minh) cũng như tiếng Việt. Các tiếng Đông Á cùng sử dụng chữ Hán nên trong từ vựng có nhiều từ có cách phát âm rất gần nhau và có nghĩa (gốc) giống nhau. Ví dụ (có kèm theo từ tiếng Việt nếu có):

Hán Tự – Chữ Hán (Kanji, 漢字) (âm tiếng Trung hàn zì)Hán ngữ – tiếng Hán (Kango 漢語) (âm tiếng Trung hàn yǔ)Quốc gia – nước (kokka, こっか 国家) (âm tiếng Trung guó jiā)Ý kiến (iken, いけん 意見) (âm tiếng Trung yì jiàn)Tiểu thuyết (shousetsu, しょうせつ 小説) (âm tiếng Trung xiǎo shuō)Âm nhạc (ongaku, おんがく 音楽) (âm tiếng Trung yīn lè)

Tuy ngày nay chúng ta không dùng chữ Hán để viết tiếng Việt nữa nhưng tiếng Việt vẫn có một khối lượng lớn từ gốc Hán và đã được Việt hóa trải qua cả ngàn năm. Chính vì thế, nếu chúng ta có chút hiểu biết về chữ Hán chúng ta sẽ thấy tiếng Việt có quan hệ rất gần gũi với tiếng Trung và những thứ tiếng dùng chữ Hán khác như tiếng Nhật và tiếng Hàn, đồng thời giúp cho chúng ta hiểu rõ nhiều từ tiếng Việt có gốc từ Hán ngữ (Hán Việt).

Quy ước: để phân biệt từ gốc Hán trong tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Hàn và tiếng Việt chúng ta thống nhất dùng các từ sau:

a. từ Hán Trung: chỉ các từ trong tiếng Trungb. từ Hán Nhật chỉ các từ gốc Hán trong tiếng Nhật (nếu sử dụng)c. từ Hán Hàn chỉ các từ gốc Hán trong tiếng Hàn (nếu sử dụng)d. từ Hán Việt chỉ các từ gốc Hán trong tiếng Việt

2. Tiếng Việt và mối quan hệ với Hán Ngữ

Hải dương học 海洋学 hǎi yáng xuéĐiều khiển học 調遣学 diào qiǎn xuéKhoa học ứng dụng 科学应用 kē xué yìng yòngKhoa học công nghệ 科学工艺 kē xué gōng yìNghiên cứu 研究 yán jiūToán học 算学 suàn xué (数学 shù xué)Đông Hải 東海 dōng hǎi (Biển Đông)Việt Nam 越南 yuè nánCộng Hòa 共和 gòng héXã Hội 社会 shè huìChủ Nghĩa 主義 zhǔ yìĐộc lập 独立 dú lìTự do 自由 zì yóu Hạnh phúc 幸福 xìng fúThiên nhiên 天然 tiān ránPhát triển 発展 fā zhǎn

3. Chữ Hán Ở Trung Quốc

Theo nhiều tài liệu viết về chữ Hán thì chữ Hán bắt nguồn từ Trung Quốc từ thời xa xưa dựa trên việc quan sát đồ vật xung quanh và viết thành dạng chữ tượng hình, chữ mang ý nghĩa. Chữ Hán đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển. Cho tới hiện nay, chữ Hán cổ nhất được cho là loại Chữ Giáp Cốt (Giáp Cốt Tự – 甲骨字 jiǎ gǔ zì), chữ viết xuất hiện vào đời nhà Ân (殷 yīn) vào khoảng thời 1600-1020 trước Công Nguyên. Chữ Giáp Cốt là chữ Hán cổ viết trên các mảnh xương thú vật, và có hình dạng rất gần với những vật thật quan sát được. Một ví dụ về chữ Giáp Cốt được cho trong Hình 1 [2].

Hình 1: Chữ Giáp Cốt (trích từ Hayashi et al. 1997)

Chữ Giáp Cốt viết bằng chữ Hán hiện đại:

丁 未 卜 賓Đinh Vị Bốc Tân丁 未 卜 賓 貞 今Đinh Vị Bốc Tân Trinh Kim辛 亥 卜 争 貞 登 人Tân Hợi Bốc Tranh Trinh Đăng Nhân

Chữ Giáp Cốt tiếp tục được phát triển qua các thời: thời nhà Chu 周 (zhōu) (1021-256 tr. CN) có Chữ Kim (Kim Văn – 金文 jīn wén) – chữ viết trên các chuông (chung) bằng đồng và kim loại, thời Chiến Quốc 戦国 (zhàn guó) (403-221 tr. CN) và thời nhà Tần 泰朝 (qín cháo) (221-206 tr. CN) có Chữ Triện 篆書 (zhuàn shū)(大篆 Đại Triện dà zhuàn và 小篆 Tiểu Triện xiǎo zhuàn) và có Chữ Lệ (Lệ Thư – 隶書 lì shū), và thời nhà Hán 漢朝 hàn cháo (前漢 qián hàn Tiền Hán 206 tr. CN – 8 sau CN, 後漢 hòu hàn Hậu Hán 25-220) có Chữ Khải (Khải Thư – 楷書 kǎi shū), Chữ Khải còn có thể được chia thành Chữ Hành (Hành Thư – 行書 xíng shū) và Chữ Thảo (Thảo Thư – 草書 cǎo shū). Chữ Khải là loại chữ được dùng bút lông chấm mực tàu viết trên giấy và rất gần với hình dáng chữ Hán ngày nay vẫn còn được dùng ở Nhật, Đài Loan hay Hồng Kông. Sự phát triển chữ Hán trải qua các thời kỳ có thể được minh họa bằng một số chữ sau:

Hình 2: Sự phát triển chữ Hán

Ngày nay chữ Hán ở Trung Quốc đã có xu thế được giản lược đơn giản hơn và ở Trung Quốc còn sử dụng hai loại chữ: Chữ Phồn Thể (繁体字

fǎn tǐ zì

) và Chữ Giản Thể (簡体字

jiǎn tǐ zì

) như sau:

Chữ Quốc dạng Chữ Phồn Thể 國 guó được đơn giản thành Chữ Giản Thể 国 guó

Chữ Mã dạng Chữ Phồn Thể 嗎 ma được đơn giản thành Chữ Giản Thể 吗 ma 

Chữ Thể dạng Chữ Phồn Thể 體 tǐ được đơn giản thành Chữ Giản Thể 体 tǐ

4. Chữ Hán ở Triều Tiên

Theo tác giả Lê Anh Minh và các nguồn tham khảo khác, Hán ngữ được du nhập vào bán đảo Triều Tiên khá lâu, khoảng thời kỳ đồ sắt. Đến thế kỷ thứ 4 trước công nguyên xuất hiện các văn bản viết tay của người Hàn. Các bản viết tay này được sử dụng chữ Hán. Hán ngữ là thứ ngôn ngữ khó, dùng chữ Hán để viết tiếng Triều Tiên trở nên phức tạp, cho nên các học giả người Hàn đã tìm cách cải biên chữ Hán để phù hợp với âm đọc của tiếng Hàn. Vào khoảng thế kỷ thứ 15, ở Triều Tiên xuất hiện chữ Hàn, được gọi là Hangul (한글, Ngạn Văn 諺文 yàn wén), chữ này trải qua nhiều thế kỷ phát triển thăng trầm, cuối cùng chính thức được dùng thay thế cho chữ Hán cho tới ngày nay. Chữ Hàn ra đời, lúc ban đầu gồm 28 ký tự, sau đó còn 24 ký tự giống như bảng chữ cái hệ chữ La Tinh dùng để ký âm tiếng Hàn. Chữ Hàn ra đời nhưng chữ Hán vẫn còn được giảng dạy trong trường học. Năm 1972, Bộ Giáo dục Hàn Quốc đã quy định phải dạy 1800 chữ Hán cơ bản cho học sinh.

5. Chữ Hán ở Nhật Bản  日本 rì běn

Theo tác giả Lê Anh Minh thì chữ Hán du nhập vào Nhật Bản thông qua con đường Triều Tiên. Chữ Hán ở Nhật được gọi là Kanji, Hán Tự (漢字 hàn zì), và được du nhập vào Nhật theo con đường giao lưu buôn bán giữa Nhật và Triều Tiên vào khoảng thế kỷ thứ 4, 5. Tiếng Nhật cổ đại vốn không có chữ viết, nên khi chữ Hán du nhập vào Nhật, người Nhật dùng chữ Hán để viết tiếng nói của họ. Dạng chữ đầu tiên người Nhật sáng tạo từ chữ Hán để viết tiếng Nhật là chữ Man’yogana – Vạn Diệp Giả Danh 万葉仮名. Hệ thống chữ viết này dựa trên chữ Hán và khá phức tạp. Chữ Vạn Diệp Giả Danh được đơn giản hóa thành Hiragana ひらがな, Bình Giả Danh 平仮名, và Kagakana カタカナ, Phiến Giả Danh 片仮名. Cả hai loại chữ này trải qua nhiều lần chỉnh lý và hoàn thiện mới trở thành chữ viết ngày nay ở Nhật.

Tiếng Nhật hiện đại được viết bằng bốn loại ký tự 1) Chữ Hán (Kanji, 漢字), 2) Hiragana (ひらがな), 3) Katakana (カタカナ), và 4) chữ La Tinh (Romaji, ローマ字). Chữ La Tinh dùng trong tiếng Nhật là bảng chữ cái tiếng Anh được phiên âm hóa theo tiếng Nhật và được dùng như là loại ký tự thứ tư để viết các công thức và các từ có gốc từ các tiếng dùng chữ viết La Tinh.

Chữ Hán trong tiếng Nhật thường có ít nhất hai cách đọc, cách đọc theo âm Hán cổ, được gọi là On-yomi (Âm Độc, 音読), và cách đọc theo âm tiếng Nhật được gọi là Kun-yomi (Huấn Độc, 訓読). Trong quá trình phát triển chữ viết cho tiếng Nhật, người Nhật còn sáng tạo ra một số chữ Hán (khoảng vài trăm chữ) của người Nhật chỉ có một cách đọc theo âm tiếng Nhật, và được gọi là chữ Hán Nhật, tiếng Nhật gọi là Quốc Tự Quốc Huấn (国字国訓 guó zì guó wén), tạm hiểu là “chữ quốc ngữ âm quốc ngữ”.

Tháng 11 năm 1946, Bộ Giáo dục Nhật đề nghị đưa vào giảng dạy 1850 chữ Hán cơ bản trong trường học, và được Quốc hội Nhật thông qua năm 1947. Đến năm 1981 thì lượng chữ Hán thông dụng được điều chỉnh lại gồm khoảng 1945 chữ thường dùng, khoảng 300 chữ thông dụng khác dùng để viết tên người. Đến năm 2000, các chữ Hán dùng để viết tên người được điều chỉnh thêm, số lượng tăng lên trên 400 chữ. Các chữ Hán này được lập thành bảng gọi là Bảng chữ Hán thường dùng (Jyoyo Kanji Hyo – Thường Dụng Hán Tự Biểu 常用漢字表 cháng yòng hàn zì biǎo), và Bảng chữ Hán dùng viết tên người (Jinmeiyo Kanji Hyo – Nhân Danh Dụng Hán Tự Biểu 人名用漢字表 rén míng yòng hàn zì biǎo).

6. Chữ Hán ở Việt Nam 越南 yuè nánTheo nhiều nguồn tư liệu thì trước khi chữ Hán du nhập vào Việt Nam, chúng ta chưa có chữ viết, mà chúng ta chỉ có tiếng nói, tiếng Việt cổ đại, là thứ ngôn ngữ thuộc họ Mường-Khmer, khác hẳn họ ngôn ngữ với tiếng Hán. Gần đây những dấu vết khảo cổ học chúng ta khai quật được có dấu hiệu cho biết có thể tiếng Việt đã có chữ viết dạng nguyên thủy trước khi chữ Hán du nhập vào Việt Nam. Một số tài liệu cổ của Trung Quốc có nói về sự tồn tại của một loại ngôn ngữ và chữ viết ở phía nam Trung Quốc, có thể đó là tiếng Việt. Tuy nhiên giả thiết này chưa đứng vững vì thiếu cơ sở, hoặc giả nếu tồn tại chữ viết như vậy ở Việt Nam, chữ viết đó đã không có đều kiện phát triển dưới thời bắc thuộc [11].

Nhiều tác giả cho rằng chữ Hán du nhập vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ 1 trước công nguyên, ngay sau khi quân Hán phương bắc chiếm xong Việt Nam. Trong suốt một nghìn năm, từ thế kỳ 1 tr.C.N. tới năm 938, tiếng Việt bị ảnh hưởng mạnh mẽ của tiếng Hán. Trong suốt thời gian bắc thuộc với chính sách Hán hóa của nhà Hán, tiếng Hán đã được giảng dạy ở Việt Nam, và người Việt Nam đã chấp nhận thứ ngôn ngữ mới đó song song với tiếng Việt, tiếng nói truyền miệng. Người Việt Nam tiếp thu tiếng Hán và chữ Hán, đồng thời đã Việt hóa nhiều từ của Hán ngữ thành từ tiếng Việt, và chúng ta có rất nhiều từ Hán Việt đã đi vào trong từ vựng của tiếng Việt. Sự phát triển của tiếng Hán ở Việt Nam trong thời kỳ bắc thuộc song song với sự phát triển của tiếng Hán ở chính Trung Quốc thời đó. Tuy nhiên, năm 938, bằng chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, Việt Nam đã độc lập và không còn lệ thuộc vào phương bắc nữa, nhưng ngôn ngữ vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề của tiếng Hán. Sau ngày dành được độc lập, mặc dù tiếng Hán là ngôn ngữ được sử dụng chính thức, nhưng đã phát triển theo hướng khác với sự phát triển tiếng Hán ở Trung Quốc. Tiếng Hán vẫn tiếp tục được dùng và phát triển theo sự phát triển của xã hội, nhưng do nhu cầu phát triển của tiếng Việt, người Việt Nam đã sử dụng chữ Hán để tạo ra chữ viết cho chính mình, và chữ viết của người Việt dựa trên chữ Hán đã ra đời. Đó là chữ Nôm (字喃) (chữ “Chữ” được viết ghép bằng hai chữ Tự 字)(*). Nhiều học giả đã gắng đi tìm bằng chứng thời điểm ra đời chính xác của chữ Nôm, nhưng cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng thống nhất thời điểm ra đời của chữ Nôm. Một số tác giả cho rằng chữ Nôm bắt đầu hình thành từ thời dành được độc lập và được sử dụng lần đầu vào đời nhà Lý (vào khoảng thế kỷ thứ 11-12).

Chữ Nôm là chữ viết cổ của tiếng Việt được hình thành từ việc mượn chữ Hán. Sự ra đời của chữ Nôm ở Việt Nam cũng tương tự như sự ra đời của chữ viết ở Triều Tiên và Nhật Bản. Người Việt mượn chữ Hán để ghi âm thanh tiếng Việt. Chữ Nôm 字喃 là dạng chữ biểu ý được hình thành dựa trên chữ Hán bằng cách mượn một chữ Hán hoặc hai ba chữ Hán kết hợp với nhau. Có thể tóm tắt chữ Nôm được tạo ra từ chữ Hán theo một số nguyên tắc sau:

1) dùng chữ Hán có âm và nghĩa giống tiếng Việt, ví dụ: chữ Chè 茶 dùng chữ Hán “Trà” 茶, chữ Là 羅 viết từ chữ Hán “La” 羅  v.v…

2) ghép hai hay 3 chữ Hán với nhau, ví dụ: Tháng 躺 = Thân 身 (hoặc Nguyệt 月) + Thượng 尚; Mắt 眜 = Mục 目 + Mạt 末, v.v…

3) dùng một chữ Hán có âm giống như âm tiếng Việt, loại này người viết chữ chỉ trú trọng về âm, không chú trọng về nghĩa, ví dụ, chữ 我 có âm đọc là “ngã”, nghĩa là “tôi”, đối chiếu với tiếng Việt thì có chữ “ngã” trong từ “ngã nhào” là thích hợp. Do đó chữ 我 trong tiếng Nôm được đọc là “ngã” (theo Tống Phước Khải) [4].

Thời xưa chữ Nôm có lẽ không được tiêu chuẩn hóa cho nên tự ai nấy diễn đạt chữ viết theo riêng mình, làm cho một chữ Nôm có thể được viết theo một vài cách khác nhau. Và điều này gây ra sự phức tạp trong chữ Nôm [4]. Do đó chữ Nôm đã không được truyền bá rộng rãi trong dân chúng. Mặc dù chữ Nôm ra đời, nhưng thực tế không được coi trọng và không trở thành chữ viết chính thức cho Việt Nam. Trong lịch sử phát triển của chữ Nôm, chỉ trừ hai thời đại ngắn ngủi: Hồ Quý Ly (1400-1407) và Quang Trung Nguyễn Huệ (1788-1792), chữ Nôm hoàn toàn bị “thả lỏng” [10], tức là không được trú trọng và tiếp tục phát triển thành chữ quốc ngữ. Tuy không được truyền bá rộng rãi trong dân chúng, nhưng chữ Nôm đã được nhiều học giả và các nhà văn nhà thơ sử dụng trong việc ghi tên địa danh Việt Nam và trong sáng tác các tác phẩm văn học…

Chữ Nôm được dùng song song với chữ Hán cho đến thế kỷ thứ 16, khi các nhà truyền đạo phương tây vào Việt Nam, họ đã dùng chữ La Tinh để phiên âm tiếng Việt, và chữ Quốc ngữ bắt đầu ra đời. Sự kết hợp “đông tây” đã hình thành nên chữ Quốc ngữ ngày nay thay cho Hán Nôm đã được dùng chừng 2000 năm. Chữ Quốc ngữ bằng chữ La Tinh ra đời dần dần thay thế chữ Hán Nôm do sự đơn giản dể nhớ dễ học, và đặc biệt chữ Quốc ngữ có thể phiên âm được các âm thanh có trong tiếng Việt. Và cho đến đầu thế kỷ 20, chữ Quốc ngữ chính thức thay thế chữ Hán Nôm, và chữ Hán Nôm đã không được giảng dạy và học trong trường học nữa. Đến nay đã gần thế kỷ, nhiều thế hệ người Việt Nam không còn được học chữ Hán Nôm nữa. Do vậy sợi dây liên hệ giữa chữ Quốc ngữ với chữ Hán Nôm đã bị gián đoạn. Chữ Quốc ngữ ra đời tuy đơn giản, dể nhớ dễ học nhưng lại có nhược điểm chỉ là chữ biểu âm khó diễn đạt hết các từ cùng âm khác nghĩa vốn rất nhiều trong tiếng Hán và tiếng Việt. Và vì lý do này, chúng ta thấy rằng có nhiều từ chúng ta dùng sai, nhưng do dùng lâu quen và do đó từ sai trở thành từ đúng. Và cũng chính vì việc từ khi sử dụng chữ Quốc ngữ không tiếp tục giảng dạy và học chữ Hán Nôm đã làm cho những thế hệ ngày nay không còn biết đến chữ Hán Nôm nữa, và không thể đọc được những tư liệu sách vở trong kho di sản Hán Nôm hang ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Chính vì điều đó mà chúng ta thấy rằng nếu chúng ta sử dụng chữ Quốc ngữ và biết thêm chữ Hán Nôm, nghĩa là khi chúng ta đã chính thức dùng chữ Quốc ngữ chúng ta cũng vẫn duy trì việc dạy và học chữ Hán Nôm trong trường với một số lượng nhất định những chữ Hán Nôm thong dụng (giống trường hợp của Triều Tiên và Nhật Bản) thì chúng ta đã có thể hiểu rõ và dung đúng tiếng Việt hơn. Ngày nay, tuy đã muộn, nhưng nếu chúng ta kịp thời phục hưng được chữ Hán Nôm, kịp thời đưa chương trình giảng dạy chữ Hán Nôm trong trường học, chúng ta sẽ có thể làm cho tiếng Việt phong phú đa dạng hơn, và cũng là tạo cho những thế hệ sau có thể nối tiếp công việc nghiên cứu kho di sản Hán Nôm của dân tộc, và cũng là tạo cơ hội tốt trong quan hệ thương mại và trao đổi giao lưu với các nước sử dụng Hán ngữ trong khu vực.

7. Sự tạo thành chữ Hán – Lục thư 六書 lìu shū

Chữ Hán được hình thành theo các (6) cách sau [2]:

7.1 Chữ Tượng Hình (Shokei Moji 象形文字 xiàng xíng wén zì): Chữ Hán “Xuyên” (Kawa 川  chuān, nghĩa là sông) được viết bằng ba đoạn thẳng như trong hình vẽ. Đoạn thẳng ở giữa biểu diễn ý nghĩa là dòng nước chảy, và hai đoạn thẳng ở mép là bờ sông.

Chữ “Xuyên” này nguyên gốc được hình thành như hình vẽ con sông, và được gọi là Chữ Tượng Hình (Tượng Hình Văn Tự, Shokei Moji 象形文字). “Tượng hình” có nghĩa là tạo nên hình cho chữ viết.

7.2 Chữ Chỉ Sự (Shiji Moji 指事文字 zhǐ shì wén zì) hay Chữ Biểu Ý (Hyôi Moji 表意文字 biǎo yì wén zì) : Trong quá trình phát triển của loài người, sự sinh hoạt và cách suy nghĩ của con người ngày càng cao, những chữ tượng hình không còn đủ để diễn tả những sự việc nữa nên người ta đã nghĩ ra thêm những Chữ Chỉ Sự. Ví dụ, để tạo nên chữ Bản (Moto 本 běn), diễn đạt nghĩa “gốc rễ của cây” (Ki no ne 木の根), thì người ta dùng chữ Mộc (Moku 木 mù) và thêm gạch ngang diễn tả ý nghĩa “ở đây là gốc rễ” và chữ Bản (本 běn) được hình thành như hình vẽ dưới.

Chữ Thượng (上 shàng), chữ Hạ (下 xià) và chữ Thiên (天 tiān) cũng là những Chữ Chỉ Sự được hình thành theo cách tương tự. “Chỉ Sự” có nghĩa là chỉ định một sự vật và biểu diễn bằng chữ.

7.3 Chữ Hội Ý (Hội Ý Văn Tự, Kaii Moji 会意文字 huì yì wén zì): Để làm tăng thêm Chữ Hán, cho đến nay người ta có nhiều phương pháp tạo nhiều chữ mới có ý nghĩa mới. Ví dụ, chữ Lâm (Hayashi 林 lín, rừng nơi có nhiều cây) có hai chữ Mộc (木 mù ) xếp hàng đứng cạnh nhau được làm bằng cách ghép hai chữ Mộc với nhau và được gọi là chữ Lâm. Chữ Sâm (森 sēn, rừng rậm nơi có rất nhiều cây) được tạo thành bằng cách ghép ba chữ Mộc, còn chữ Minh (鳴 míng, nghĩa là kêu, hót) được hình thành bằng cách ghép chữ Điểu (鳥 niǎo, nghĩa là con chim) bên cạnh chữ Khẩu (口 kǒu, nghĩa là mồm), chữ Thủ (取 qǔ, nghĩa là cầm, nắm) được hình thành bằng cách ghép tai (chữ Nhĩ 耳 ěr, nghĩa là tai) của động vật với tay (chữ Thủ 手 shǒu, chữ Hựu又 yòu). Những chữ được tạo thành theo phương pháp ghép như trên gọi là Chữ Hội Ý (Kaii Moji 会意文字). “Hội Ý” có nghĩa là ghép ý nghĩa với nhau.

口(Khẩu) + 鳥 (Điểu) = 鳴 (Minh)

7.4 Chữ Hình Thanh (Keise Moji 形声文字 xíng shēng wén zì )

Cùng với những Chữ Tượng Hình, Chỉ Sự và Hội Ý, có nhiều phương pháp tạo nên Chữ Hán, nhưng có thể nói là đa số các Chữ Hán được hình thành bằng phương pháp hình thanh, gọi là Chữ Hình Thanh (Keise Moji 形声文字). Chữ Hình Thanh chiếm tới 80% toàn bộ Chữ Hán. Chữ Hình Thanh là những chữ bao gồm hai phần: phần hình (形) là phần biễu diễn ý nghĩa chính mà đã được dùng từ lâu đời, và phần thanh (声) là phần biểu diễn cách phát âm chính xác của từ đó. Ví dụ, chữ Khẩu (口) có hình biểu diễn việc ăn hoặc nói, và chữ Vị (未) có các phát âm là Mi biểu diễn ý nghĩa Mùi, khi ghép hai chữ với nhau tạo nên chữ Vị (味). Bộ Thủy (氵) biểu diễn nghĩa dòng sông hoặc dòng chảy của nước, khi ghép cùng với chữ Thanh (青) tạo thành chữ Thanh (清) có nghĩa là “trong suốt”.

7.5 Chữ Chuyển Chú (Tenchu Moji 転注文字 zhuǎn zhù wén zì): Các Chữ Hán được hình thành bằng bốn phương pháp kể trên, nhưng trong số các Chữ Hán thì còn có những chữ có thêm những ý nghĩa khác biệt, và được sử dụng trong những nghĩa hoàn toàn khác biệt đó. Ví dụ, chữ Dược (薬), có nguồn gốc biểu diễn “âm nhạc” (từ chữ Lạc hay Nhạc 楽), âm nhạc làm cho lòng người cảm thấy sung sướng phấn khởi nên. Chữ Lạc (楽) có cách phát âm là “Raku” có nghĩa là “sung sương phấn khởi” (Tanoshii). Chữ được hình thành theo phương pháp này được gọi là Chữ Chuyển Chú (Tenchu Moji 転注文字).

7.6 Chữ Giả Tá (Kashaku 仮借文字 fǎn jiè wén zì): Ví dụ chữ Lai (Rai 来) có nguồn gốc biểu diễn nghĩa là “mạch” (Mugi, từ chữ Mạch 麦 麥), nhưng được sử dụng có nghĩa là “Kuru” (đến, tới) có cùng cách phát âm là “Rai”. Những chữ được hình thành theo phương pháp bằng cách mượn chữ có cùng cách phát âm được gọi là Chữ Giả Tá (Kashaku Moji 仮借文字).

Ở trên giải thích về bốn cách tạo chữ và hai cách sử dụng chữ Hán. Bốn cách tạo chữ và hai cách sử dụng được gọi chung là Lục Thư (六書 liù shū).

8. Cấu tạo chữ Hán

Xin lỗi quý vị độc giả phần này có nhiều hình vẽ quá nên cho phép tôi không đăng lên đây, quý vị download bản pdf ở đây để đọc tiếp.

9. Nguyên tắc viết chữ Hán

Phần này cũng nhiều hình vẽ, quý vị download bản pdf ở đây để đọc tiếp.

Một số ví dụ về nguyên tắc viết chữ Hán:

Chữ Đông 東 dōng

Chữ Hải 海 hǎi

oOo

Chữ Ngã 我 wǒ

Chữ Ái 愛 ài

Chữ Việt 越 yuè

Chữ Nam 南 nán

10. Bộ thủ (214 bộ thủ)

214 bộ thủ được sắp xếp theo thứ tự số nét, và được phiên âm sang Hán Việt, Nhật, Bắc Kinh và giải thích nghĩa nên không thể đăng trực tiếp, xin quý vị độc giả thông cảm và download bản pdf ở đây để đọc tiếp.

Nguyễn Đức Hùng

Viết lần đầu 1/2005, sửa lần cuối 7/2010

oOo

Tài liệu tham khảo (một số links có thể không còn vì phần này được hoàn thành vào khoảng tháng 1 năm 2005)

[1]. Lê Anh Minh (2001), Sự du nhập Chữ Hán vào Nhật Bản và Hàn Quốc, nguồn Internet:http://cc.1asphost.com/hoctap/CJKV/nhathan.htm

[2]. Hayashi, Shiro và Hama Omura (1997), Từ Điển Giải Thích Nghĩa Chữ Hán Cho Bậc Tiểu Học (Liệt Giải Tiểu Học Hán Tự Từ Điển – 例解小学漢字辞典), Nhà xuất bản Sanseido, Tokyo, Nhật Bản.

[3]. Lê Anh Minh (2004), 214 Bộ Thủ, nguồn Internet: http://www.freewebs.com/hanosoft/

[4]. Tống Phước Khải (2004), nguồn Internet: http://www.freewebs.com/hanosoft/

[5]. Đỗ Thông Minh (không rõ năm), Bảng Thường Dụng Hán Tự, NXB Tân Văn, Mekong Center, Tokyo, Nhật Bản.

[6]. Kamata, T, và T Yoneyama (1999),  Từ Điển Chữ Hán (Hán Ngữ Lâm – 漢語林), Lần XB thứ 6, Tokyo, Nhật Bản.

[7]. Nhiều tác giả (2002), Phần mềm: Từ Điển Quốc Ngữ Tiếng Nhật (Quảng Từ Uyển – 広辞苑), Từ Điển Anh Nhật (リーダーズ英和辞典) và Từ Điển Gốc Chữ Hán (Hán Tự Nguồn – 漢字源), NXB Fujitsu, Tokyo, Nhật Bản.

[8]. Nhiều tác giả (2001), Phần mềm: Đại Từ Điển Nhật-Anh Mới (Tân Hòa Anh Đại Từ Điển – 新和英大辞典), Phiên bản 4, NXB SystemSoft, Tokyo, Nhật Bản.

[9]. Nguồn Internet: Hán Nôm – http://www.ctu.edu.vn/coursewares/supham/hannom/I#I cập nhật ngày 28/12/2004.

[10]. Nguyên Nguyên (2004), Từ chữ Nôm đến quốc ngữ (1) – Tài tử phim kung-fu VươngVũ, nguồn Internet.

[11] Lê, Anh Minh và Tống Phước Khải (2004), http://www.freewebs.com/hanosoft/

oOo

Mẫu luyện viết chữ Hán(+)

Chữ Hán thường được viết theo hai kiểu: 1. viết hàng ngang đọc từ trái qua phải và từ trên xuống dưới và 2. viết hàng dọc đọc từ trên xuống dưới và sang phải. Một chữ Hán được viết gọn trong một ô vuông. Dù nhiều nét hay ít nét các chữ Hán được viết trong ô vuông có kích thước đại khái trông giống nhau! Chữ Hán Nôm ở Việt Nam trước thường được viết hàng dọc, và được viết không dùng dấu chấm câu hoặc ngắt đoạn (dấu phẩy).

1. Mẫu viết hàng ngang(*): Hán Văn truyền thống được viết theo hàng dọc, nhưng thời hiện đại, người ta ưa lối viết hàng ngang hơn, đặc biệt là các tài liệu đánh máy và soạn bằng máy tính, do vậy Hán Văn được chuyển thành viết hàng ngang, khi viết lưu ý: 1. dấu chấm, dấu phảy được viết vào góc trái phía dưới; 2. khi dấu chấm hoặc dấu phẩy rơi vào đầu hàng thì thường được viết ghép ô ở cuối hàng ở dòng trước (xem mẫu).

2. Mẫu viết hàng dọc (*): Đây là cách viết của Hán Văn truyền thống. Khi viết cũng lưu ý về dấu chấm câu và dấu phẩy như khi viết hàng ngang, điểm khác là dấu chấm, dấu phảy được viết vào góc phải phía trên (xem mẫu).

3. Mẫu ô vuông để luyện viết bạn hãy download và in ra giấy để luyện tập viết chữ Hán.

oOo

Một số links hữu ích

Phần Mềm Tư Học Chữ Hán (tiếng Việt)

Phần Mềm Học Viết Chữ Hán

Chuyển Đổi Chữ Hán Sang Âm La Tinh (Pinjin)

Tự Học Hán Ngữ Cơ Bản – Lê Anh Minh

Cách Tra Từ Điển Hán Việt

Cách Tra Từ Điển Theo Bốn Góc

Từ Điển Hán Việt Thiều Chửu

Tập Viết Chữ Hán Trực Tuyến (in English)

oOo

Luyện tập

1. Các bạn hãy download mẫu ô vuông ở trên, in ra giấy và luyện viết 214 bộ thủ. Bạn nào muốn trở thành ông đồ viết chữ Nho thì cần sắm bút lông, ống đựng bút, khiên mực và mực mài (mực Tầu)!

2. Mời các bạn tập viết các chữ sau:

為東南亞 海中的公平與和平 (wéi dōng nán yà hǎi zhōng de gōng píng yǔ hé píng )

3. Các bạn hãy tập viết bài thơ sau theo hàng ngang và theo hàng dọc.

南國山河

南 國 山 河 南 帝 居

截 然 定 分 在 天 書

如 何 逆 虜 來 侵 犯

汝 等 行 看 取 敗 虛

Pinyin:

Nán Guó Shān Hé

Nán guó shān hé nán dì jū

Jié rán dìng fèn zài tiān shū

Rú hé nì lǔ lái qīn fàn

Rǔ děng háng kàn qǔ bài xū

oOo

Download tài liệu học chữ Hán (214 Bộ Thủ) của nhóm Hanosoft (Tống Phước Khải). Lưu ý tài liệu này chỉ sử dụng cho mục đích học chữ Hán và phi thương mại. Password: qncbd2010.

oOo

(còn tiếp)(Đón đọc: Phát âm tiếng Trung Quốc)

Soạn Bài Cấp Độ Khái Quát Của Nghĩa Từ Ngữ (Siêu Ngắn)

Soạn bài Cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ

I. Từ ngữ nghĩa rộng từ ngữ nghĩa hẹp

a. Nghĩa của từ động vật rộng hơn nghĩa của các từ thú, chim, cá

Vì : Nghĩa của từ động vật bao hàm nghĩa của các từ thú, chim, cá

b. Nghĩa của từ thú rộng hơn nghĩa của các từ voi, hươu. Nghĩa của từ chim rộng hơn nghĩa của từ tu hú, sáo. Nghĩa của từ cá rộng hơn nghĩa của các từ cá rô, cá thu.

c. Nghĩa của từ thú rộng hơn nghĩa của từ voi, hươu, hẹp hơn nghĩa của từ động vật. Nghĩa của từ chim rộng hơn nghĩa của từ tu hú, sáo, hẹp hơn nghĩa của từ động vật. Nghĩa của từ cá rộng hơn nghĩa của từ cá rô, cá thu, hẹp hơn nghĩa của từ động vật.

Luyện tập

Câu 1 (trang 11 Ngữ Văn lớp 8 Tập 1):

Sơ đồ :

Câu 2 (trang 11 Ngữ Văn lớp 8 Tập 1):

a. Khí đốt / nhiên liệu : xăng, dầu hỏa, khí ga, ma dút, củi, than

b. Nghệ thuật : Hội họa, âm nhạc, văn học, điêu khắc

c. Ẩm thực : canh, nem, rau, thịt, tôm rang, cá rán

d. Nhìn : Liếc, ngắm, nhòm, ngó

e. Đánh đập : Đấm, đá, tát

Câu 3 (trang 11 Ngữ Văn lớp 8 Tập 1):

a. Xe cộ : xe máy, ô tô, xe đạp, xe bus…

b. Kim loại : sắt, nhôm, đồng, chì…

c. Hoa quả : cam, táo, ổi, mít, vải…

d. Họ hàng : cô, dì, chú, bác…

e. Mang : vác, xách, khiêng, gánh…

Câu 4 (trang 11 Ngữ Văn lớp 8 Tập 1):

a. Thuốc lào

b. Thủ quỹ

c. Bút điện

d. Hoa tay

Câu 5 (trang 11 Ngữ Văn lớp 8 Tập 1):

Ba động từ cùng thuộc phạm vi nghĩa : khóc, nức nở, sụt sùi

+ Từ có nghĩa rộng : khóc

+ Từ có nghĩa hẹp hơn : nức nở, sụt sùi

Bài giảng: Cấp độ khái quát nghĩa của từ – Cô Phạm Lan Anh (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Các bài Soạn văn lớp 8 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 8 hơn.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Khái Quát Về Ngành Ngôn Ngữ Đức trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!