Đề Xuất 3/2023 # Hướng Dẫn Soạn Bài Từ Ấy # Top 4 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 3/2023 # Hướng Dẫn Soạn Bài Từ Ấy # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hướng Dẫn Soạn Bài Từ Ấy mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Kiến Guru mới các em tham khảo tài liệu hướng dẫn soạn bài Từ Ấy của nhà thơ Tố Hữu để có thể trả lời các câu hỏi trong SGK một cách tốt nhất, đồng thời giúp các em hiểu sâu sắc hơn về nội dung tác phẩm và tác giả muốn truyền tải.

I. Soạn bài Từ ấy: Những nội dung cần ghi nhớ

1. Tác giả Tố Hữu:

Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, ông sinh năm 1920 và mất năm 2002. Ông là một người con của vùng cố đô Thừa Thiên – Huế. 

Khác với những nhà thơ cùng thời, phong cách thơ của ông không đi theo đặc điểm của phong trào thơ mới mà thơ văn của ông gắn liền với cách mạng, thể hiện từng chặng đường của cách mạng từ những thời điểm đầy gian khổ đến lúc cách mạng thành công vang dội.

Ông là một trong số rất ít nhà thơ có những tác phẩm miêu tả một cách chân thực công cuộc đấu tranh giành độc lập của lực lượng cách mạng

2. Tác phẩm Từ ấy

Từ ấy ra đời là một mốc son quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu. Đánh dấu thời điểm Tố Hữu giác ngộ cách mạng và mở đầu con đường cách mạng của ông

Bài thơ Từ ấy nằm trong phần “Máu lửa” của tập thơ cùng tên “Từ ấy”

II. Hướng dẫn soạn bài Từ ấy

Câu 1: Phân tích khổ thơ đầu bài Từ ấy

Khổ thơ đầu thể hiện niềm vui sướng của Tố Hữu khi được đứng vào hàng ngữ chiến sĩ cách mạng

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim”

Bằng hình ảnh ẩn dụ nắng hạ, mặt trời chân lý, tác giả muốn nói lên rằng việc giác ngộ lý tưởng cách mạng khiến tâm hồn tác giả trở nên tươi sáng, còn Đảng cộng sản như một nguồn năng lượng đem lại ánh nắng rực rỡ ấy. Ánh nắng ấy không phải là ánh nắng nhẹ nhàng của một ngày mùa thu hay ấm áp của trời mùa đông mà là ánh nắng của mùa hạ: vô cùng rực rỡ rọi vào tâm hồn tác giả khiến ông như bừng tỉnh.

Nguồn: Internet

Hai câu sau Tố Hữu tiếp tục sử dụng phép so sánh để miêu tả niềm vui của mình:

“Lòng tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim”

Chính vì có mặt trời – ánh sáng của Đảng chiếu vào mà lòng của ông đã trở nên sống động, căng tràn sức sống nhứ một vườn hoa đang đua nhau đơm hoa tươi tốt nên ong bướm chim chóc đua nhau đến

2. Phân tích khổ thơ thứ hai bài Từ ấy

Nội dung trong khổ 2 này là những nhận thức mới về lẽ sống;

– Dưới sự ảnh hưởng của chế độ xâm lược, giai cấp tư sản và tiểu tư sản có xu hướng đề cao cái tôi và chủ nghĩa cá nhân, tách biệt bản thân ra khỏi xã hội. Nhưng khi giác ngộ cách mạng, Tố Hữu lại nhận ra lẽ sống mới chính là sự gắn bó giữa cái tôi cá nhân với mọi người.

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải ở trăm nơi”

Từ buộc ở đây không mang nghĩa bắt buộc mà là sự tự nguyện gắn lòng của tác giả với mọi người xung quanh, sống chan hòa với tất cả mọi người, không phân biệt giai cấp, đồng cảm thấu hiểu nhau

“Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

“Hồn khổ” chỉ giai cấp vô sản, những người dân lao động nghèo khổ. Tố Hữu muốn gắn bó bản thân mình với những con người lao động khốn khó trong xã hội. Chính tầng lớp đông đảo này mới tạo nên sức mạnh, “thêm mạnh khối đời” cho Đảng để chống lại bọn xâm lược

Lẽ sống mà Tố Hữu nhận ra cũng chính là lý tưởng của Đảng: chỉ có sự đoàn kết toàn dân phấn đấu vì một mục tiêu chung là chiến thắng kẻ thù thì mới đem lại chiến thắng cho cách mạng.

Nguồn: Internet

Câu 3: Phân tích khổ thơ thứ 3 bài Từ ấy

Sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của Tố Hữu: tác giả khẳng định mình đã là một thành viên mới của đại gia đình nhân dân cần lao

Cụm từ ” Tôi đã là” đã khẳng định vị trí của ông trong đại gia đình

Tố Hữu cũng sử dụng những từ mà chỉ trong gia đình dùng với nhau để thể hiện sự thân thiết gắn bó với tầng lớp nhân dân lao động : con của vạn nhà, em của vạn kiếp, anh của vạn đầu em nhỏ.

Nguồn: Internet

Không chỉ thể hiện niềm gắn bó như anh em một nhà với hàng vạn mảnh đời lao khổ mà ông còn thể hiện sự tình cảm sâu sắc và sự xót với số phận của tầng lớp khổ lao: vạn kiếp phôi pha, vạn em nhỏ không áo cơm cù bất cù bơ.

Câu 4: Nghệ thuật

– Sử dụng nhuyễn nhuyễn linh hoạt các biện pháp tu từ: ẩn dụ, so sánh, nhân hóa và điệp từ

– Sử dụng hình ảnh đơn giản, quen thuộc dễ đi vào lòng người

– Giàu nhịp điệu, giọng thơ vô cùng sảng khoái  thể hiện niềm vui của tác giả

Tóm lại, Từ ấy là cột mốc đánh dấu cuộc đời của Tố Hữu từ đây bước sang một trang mới, lấy lý tưởng cách mạng làm lý tưởng sống của mình. Từ ấy thể hiện niềm vui tột độ và những nhận thức mới mẻ của tác giả khi ông được kết nạp vào Đảng cộng sản.

Soạn Bài Từ Ấy (Tố Hữu)

Soạn bài Từ ấy (Tố Hữu)

* Bố cục

– Đoạn 1: niềm vui sướng, say mê khi bắt gặp lí tưởng cộng sản

– Đoạn 2: nhận thức mới về lẽ sống

– Đoạn 3: sự chyển biến sâu sắc trong tình cảm

Câu 1 (trang 44 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Hình ảnh thể hiện lý tưởng, biểu hiện niềm vui sướng, say mê khi bắt gặp lí tưởng:

– Câu thơ mở đầu đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời nhà thơ

+ Nắng hạ: ánh nắng đẹp và chói chang nhất, mạnh mẽ nhất → lý tưởng cách mạng sức mạnh soi sáng đối với nhà thơ

+ Động từ “bừng” như một nguồn sáng mang lại sự sống mãnh liệt

– Mặt trời chân lý: biện pháp nghệ thuật ẩn dụ lý tưởng cách mạng như ánh mặt trời kết hợp với động từ “chói” thể hiện sức mạnh chiếu sáng thức tỉnh

– Niềm vui được đứng trong hàng ngũ Đảng khiến tâm hồn nhà thơ “rộn tiếng chim”, ngập tràn sự sống “một vườn hoa lá”.

→ Khổ thơ đầu thể hiện niềm hân hoan, tự hào khi được đứng trong hàng ngũ Đảng. Sự kiện đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc đời nhà thơ

Câu 2 (Trang 44 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Những nhận thức mới về lẽ sống:

– Gắn cái tôi chặt chẽ với “cái ta” chung của muôn người: đây là quan niệm sống mới thể hiện sự hòa hợp

– Động từ “buộc” thể hiện sự gắn bó tự nguyện với mọi người

– Để tình trang trải với trăm nơi biểu hiện cho một tâm hồn trải rộng với cộng đồng, tạo ra khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh từng con người cụ thể

– Hồn tôi gắn với bao hồn khổ: tình hữu ái giai cấp, đặc biệt quan tâm tới quần chúng lao khổ

– Hình ảnh gần gũi nhau thêm mạnh khối đời mang tính ẩn dụ chỉ đông đảo người cùng chung cảnh ngộ đoàn kết vì mục tiêu chung

→ Tố Hữu tìm thấy niềm vui, sức mạnh không chỉ bằng nhận thức còn bằng tình cảm mến yêu, sự giao cảm của những trái tim

– Quan niệm về lẽ sống gắn bó cái tôi cá nhân với cái ta chung của mọi người

Câu 3 (trang 44 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm nhà thơ thể hiện qua khổ thơ cuối

+ Nhà thơ tự dùng những từ thân mật “anh, em, con” thể hiện sự thân thiết gần gũi trong một gia đình

+ Từ “trang trải” gợi liên tưởng nhà thơ trải rộng với cuộc đời, tạo ra khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh của con người cụ thể

– Hai câu thơ sau cho thấy tình yêu thương của con người Tố Hữu là tình thương hữu ái giai cấp

+ Khẳng định mối liên hệ với mọi người nói chung, nhà thơ đặc biệt quan tâm tới quần chúng lao khổ

+ Khối đời là ẩn dụ chỉ khối người đông đảo cùng chung cảnh ngộ trong cuộc đời, đoàn kết chặt chẽ

→ Sự thức tỉnh của nhà thơ hướng tới cái chung, niềm vui lớn. lí tưởng, lẽ sống lớn

Câu 4 (Trang 44 sgk ngữ văn 11 tập 2):

– Một bài thơ giàu nhạc điệu (cách ngắt nhịp thay đổi liên tục theo cảm xúc, có sức ngân vang

– Biện pháp tu từ sử dụng hiệu quả: ẩn dụ, so sánh, điệp ngữ

– Hình ảnh có nhiều gam màu rực rỡ, tươi sáng

LUYỆN TẬP

Bài 1 (trang 44 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Khổ thơ đặc sắc nhất là khổ thơ cuối bài Từ ấy: diễn tả sự chuyển biến sâu sắc

– Trước khi được giác ngộ Tố Hữu vẫn là một thanh niên tiểu tư sản. Lí tưởng cộng sản giúp nhà thơ có được lẽ sống mới, vượt ra ngoài sự ích kỉ, hẹp hỏi của bản thân để có được tình hữu ái giai cấp. Tác giả tự nguyện gắn bó và biết liên hệ mình với mọi người bằng mối quan hệ của tình thân, ruột thịt. Đó chính là mối quan hệ tình cảm ruột thịt giữa những người cùng trong một đất nước, những người lao động thống khổ cùng đoàn kết đứng lên đấu tranh.

Tấm lòng đồng cảm của nhà thơ còn thể hiện xúc động, chân thành khi nói tới những kiếp phôi pha, những em nhỏ “cù bất cù bơ”. Qua lời thơ ấy thấy được niềm hăng say hoạt động cách mạng của tác giả

Bài 2 (trang 44 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Bài thơ Từ ấy mở đầu, định hướng cho toàn bộ sáng tác của Tố Hữu. Đó là hai yếu tố làm ra: thi pháp và tuyên ngôn

Thi pháp: dùng thể thơ truyền thống với ngôn từ bình dị, dễ nhớ, dễ thuộc, đây cũng là đặc trưng trong thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu

+ Làm thơ chính trị những kg nặng nề khuôn mẫu mà dễ nhớ, dễ thuộc

– Tuyên ngôn: “mặt trời chân lí chói qua tim”, tác giả đặt chân lí, ánh sáng mà Đảng mang lại chính là chân lí chạm tới trái tim, làm thay đổi con người của nhà thơ

– Khổ thơ cuối với cấu trúc “là anh, là em, là con”: nhà thơ tự gắn cuộc đời mình với quần chúng lao khổ với mối quan hệ ruột thịt, gần gũi

– Nhà thơ tự “buộc” mình với những cảnh ngộ nghèo khó, cù bất cù bơ của vạn nhà, vạn em nhỏ…

→ Thơ chính trị của Tố Hữu không khô khan, ngược lại dễ nhớ, gần gũi, dễ thuộc, dễ đi vào lòng người bởi chính sự chân thật trong cách diễn đạt tình cảm khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng

Bài giảng: Từ ấy – Cô Thúy Nhàn (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k4: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Soạn Bài Từ Ấy Của Tố Hữu

2. Tóm tắt nội dung bài học

Thể hiện niềm vui sướng, say sưa mãnh liệt của Tố Hữu trong buổi đầu gặp gỡ lí tưởng cộng sản và tác dụng kì diệu ấy của lí tưởng ấy đối với nhà thơ.

Bài thơ là tuyên ngôn về lẽ sống của một người chiến sĩ cách mạng, con đường thi ca của Tố Hữu, nó là tuyên ngôn về lẽ sống của một người chiến sĩ cách mạng, cũng là tuyên ngôn về nghệ thuật của một nhà thơ. Từ đó, Tố Hữu đã sống và sáng tác theo đúng định hướng ấy của nhà thơ.

2.2. Nghệ thuật

Sự vận động của tâm trạng nhà thơ được thể hiện sinh động bằng những hình ảnh tươi sáng, giàu ý nghĩa tượng trưng, ngôn ngữ gợi cảm, giọng thơ sản khoái, nhịp điệu thơ hăm hở

Bài thơ giàu nhịp điệu, cách ngắt nhịp liên tục thay đổi

Hệ thống vần cuối các câu thơ phong phú, có sức ngân vang, chủ yếu là âm mở.

3. Soạn bài Từ ấy chương trình chuẩn

Câu 1: Tố Hữu đã dùng những hình ảnh nào để chỉ lí tưởng và biểu hiện niềm vui sướng, say mê khi bắt gặp lí tưởng?

Tố Hữu đã dùng những hình ảnh để chỉ lí tưởng và biểu hiện niềm vui sướng, say mê khi bắt gặp lí tưởng:

Hình ảnh để chỉ lí tưởng

Nắng hạ → ánh nắng chói chang, rực rỡ, mạnh mẽ

Mặt trời chân lí → chân lí cách mạng soi sáng mọi nơi, mang lại nguồn sống.

Động từ mạnh: bừng, chói.

⇒ Lí tưởng cộng sản là nguồn sáng, làm bừng sáng tâm hồn, trí tuệ nhà thơ

Niềm vui khi bắt gặp lí tưởng :

So sánh: Hồn tôi – vườn hoa lá →Tràn đầy sức sống, hương sắc

Các từ ngữ: rất đậm, rộn → tâm hồn tác giả căng tràn nhựa sống.

⇒ cảm xúc của chủ thể trữ tình : hưng phấn, reo vui, hạnh phúc, say mê nồng nhiệt khi giác ngộ lí tưởng cách mạng.

Câu 2: Khi nhận được ánh sáng của lí tưởng soi rọi, nhà thơ đã có những nhận thức mới về lẽ sống như thế nào?

Khi nhận được ánh sáng của lí tưởng soi rọi, nhà thơ đã có những nhận thức mới về lẽ sống:

Suy nghĩ: “Tôi buộc lòng tôi với mọi người” → biểu hiện cho sự tự nguyện gắn “cái tôi” cá nhân vào “cái ta” chung của mọi người. Đề “Để tình trang trải với trăm nơi” → biểu hiện cho một tâm hồn trải rộng với cộng đồng, tạo khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh của từng con người cụ thể.

Tác giả tự nguyện để cho “Hồn tôi” gắn với “bao hồn khổ”: tình hữu ái giai cấp, ông đặc biệt quan tâm đến quần chúng lao khổ.

Hình ảnh: “Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời” mang tính ẩn dụ để chỉ đông đảo người cùng chung cảnh ngộ đoàn kết với nhau vì mục tiêu chung.

⇒ Tố Hữu đã tìm thấy niềm vui và sức mạnh mới không chỉ bằng nhận thức mà còn bằng tình cảm mến yêu, bằng sự giao cảm của những trái tim. Quan niệm về lẽ sống của ông là sự gắn bó hài hoà giữa “cái tôi” cá nhân và “cái ta” chung của mọi người.

Câu 3: Sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của nhà thơ được thể hiện ra sao?

Sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của nhà thơ được thể hiện:

Cấu trúc: “tôi đã là…” → nhận thức rõ ràng về vị trí của mình trong gia đình lớn.

Điệp từ là: mang tính khẳng định. Số từ ước lệ: vạn

Cách xưng hô ruột thịt: con, em, anh → tình cảm đầm ấm, thân thiết, ruột thịt.

Hình ảnh: kiếp phôi pha, cù bất cù bơ → tấm lòng quan tâm, đồng cảm đến những con người đau khổ, bất hạnh.

⇒ Tình cảm mới mẻ và cao đẹp của một chiến sĩ – nhà thơ cách mạng.

Câu 4: Nhận xét về các biện pháp tu từ dùng trong bài thơ. Có gì đáng chú ý trong nhịp điệu của các câu thơ.

Nhận xét về các biện pháp tu từ:

Sử dụng nhiều hình ảnh tươi sáng, giàu ý nghĩa tượng trưng.

Dùng hình ảnh ẩn dụ đầy sáng tạo.

Vần, phối âm có sức ngân vang, ngôn ngữ giàu nhạc điệu.

Điều đáng chú ý trong nhịp điệu của các câu thơ:

Nhịp điệu sôi nổi, hào hứng, hăm hở và càng về sau càng dồn dập

Cách ngắt nhịp liên tục thay đổi qua các câu thơ

Hệ thống vần cuối các câu thơ giàu sức vang

4. Soạn bài Từ ấy chương trình Nâng cao

Câu 1: Tìm hiểu tâm trạng của Tố Hữu trong giây phút bắt gặp lí tưởng cộng sản. Qua hình ảnh “Mặt rời chân lí chói qua tim”, có thể hiểu quan niệm của nhà thơ về lí tưởng cộng sản như thế nào?

Các hình ảnh trong khổ đầu của bài thơ đều là những hình ảnh được tô đậm thể hiện tính đột ngột, mạnh mẽ, chói lọi, tưng bừng : “bừng nắng hạ”, “mặt trời chân lí chói qua tim”, “vườn hoa lá”, “rất đậm hương”, “rộn tiếng chim”.

Những hình ảnh ấy nói rằng, lí tưởng cộng sản lần đầu đến với Tố Hữu như một luồng ánh sáng quá đột ngột và vô cùng mãnh liệt khiến nhà thơ trẻ tuổi cơ hồ như bị choáng váng. Lí tưởng ấy đem đến cho nhà thơ, cùng với luồng ánh sáng chói lọi, một niềm vui lớn: tác giả cảm thấy tâm hồn mình như một khu vườn đầy hoa và rộn rã tiếng chim. Tâm trạng này chứng tỏ Tố Hữu rất say mê lí tưởng cộng sản.

Câu 2: Nhận xét đặc điểm chung về giá trị biểu cảm của các từ ngữ: Bừng (nắng hạ), chói (qua tim), rất đậm (hương), rộn (tiếng chim).

Những hình ảnh ẩn dụ – so sánh này có sức biểu cảm cao gợi nên những hình ảnh tươi sáng, tràn đầy sức sống và tuổi trẻ.

Câu 3: Lí tưởng cộng sản đã đem đến cho Tố Hữu sự thức tỉnh về mối quan hệ tình cảm mới như thế nào? Vì sao sự thức tỉnh về quan hệ tình cảm ấy lại đem đến cho Tố Hữu sức mạnh và niềm vui?

Giác ngộ lí tưởng cộng sản là giác ngộ về lập trường giai cấp vô sản, nghĩa là đứng vào hàng ngũ của các giai cấp cần lao. Trong xã hội cũ, đó là những giai cấp nghèo khổ nhất. Cho nên, giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu tự nguyện “buộc lòng” mình với “bao hồn khổ”, với “những kiếp phôi pha”, với những em “không áo cơm cù bất cù bơ”.

Lí tưởng cộng sản đã mang tới niềm vui sống cho cuộc đời và sức sống mới cho thơ của Tố Hữu.

Tố Hữu coi mình là “con của vạn nhà”, “em của vạn kiếp phôi pha”, “anh của vạn đầu em nhỏ”. Những từ “con”, “em”, “anh” là những từ chỉ quan hệ gia đình, quan hệ ruột thịt. Nhà thơ cộng sản muốn gắn mình với những lớp người nghèo khổ bằng quan hệ tình cảm thân thiết như thế.

Câu 4: Nhận xét về giọng điệu chung của bài thơ.

Giọng thơ hào hứng sôi nổi. Chú ý những hình ảnh rực rỡ, tươi vui, rộn ràng và việc sử dụng điệp từ với tần số cao và ngày càng dồn dập.

Câu 5: Qua những từ lặp lại ở đầu câu: Để (câu 6-7), Là (câu 10-11), anh (chị) hãy nêu cảm nhận của mình về nhịp thơ và tác dụng biểu cảm của nó.

5. Hướng dẫn luyện tập

Câu 1: Viết một đoạn văn nói lên cảm nghĩ của anh (chị) về khổ thơ mà mình cho là hay nhất trong bài Từ ấy.

Câu 2*: Giải thích vì sao Chế Lan Viên viết: “Tất cả Tố Hữu, thi pháp, tuyên ngôn, những yếu tố làm ra anh có thể tìm thấy trong tế bào này, anh là nhà thơ của vạn nhà, buộc lòng mình cùng nhân loại…” (Lời tựa tập Trăm bài thơ của Tố Hữu, NXB Văn học, Hà Nội, 1987)

Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ

Bốn câu thơ thực ra chỉ là một câu được diễn đạt theo hình thức những câu thơ bắc cầu để nói lên điều tâm niệm, cũng là nhận thức mới về lẽ sống của nhà thơ: Nguyện gắn bó với những người lao khổ để đồng cảm, chia sẻ với nhau, hiểu nhau, gần gũi nhau làm cho “khối đời” ngày càng thêm mạnh. Gắn bó với những người lao động khổ là một lẽ sống đẹp nhưng không phải là ai cũng có được và nhất là dám sống như thế. Phải có ánh sáng của lí tưởng cách mạng soi rõ thì Tố Hữu mới nhận thức được lẽ sống đó và tự nguyện gắn bó với cuộc sống đó. Tiếp nối khổ đầu (bừng sáng lí tưởng cách mạng), khổ thơ này tuôn chảy ào ạt thành một dòng (một câu) đã nói lên sự tự nguyện của nhà thơ. Chữ “buộc” ở đây không mang nghĩa “bắt buộc”, mà là “buộc chặt”, gắn bó với mọi người. Nhà thơ “buộc lòng với mọi người”

Sự gắn bó là ở những mặt quan trọng nhất của con người: tình người, hồn người. Các từ “để”, “với” được láy lại tạo ra nhịp thơ dồn dập nói lên sự gắn bó đó. Lòng buộc chặt với mọi người, tình trang trải với trăm nơi, hồn chia sẻ với bao hồn khổ, sự gắn bó ở đây thật sâu sắc, toàn diện, nhà thơ đã thực sự đến với những người lao khổ, để cùng với họ làm nên sức mạnh quần chúng cách mạng ( “mạnh khối đời”).

Chế Lan Viên viết: Câu 2: “Tất cả Tố Hữu, thi pháp, tuyên ngôn, những yếu tố làm ra anh có thể tìm thấy trong tế bào này, anh là nhà thơ của vạn nhà, buộc lòng mình cùng nhân loại…” là vì:

Tố Hữu không chỉ là nhà thơ của một người, của chính mình, mà Tố Hữu là nhà thơ của nhà, buộc lòng mình cùng nhân loại

Chính vì Tố Hữu là nhà thơ của vạn nhà, cho nên, khi tác giả trang trải lòng mình với cuộc sống, với cộng đồng thì tác giả mới thấu hiểu, viết những vần thơ sâu sắc về cuộc sống, sự nghiệp cách mạng bấy giờ.

Và chỉ khi nào, tác giả hòa nhập, gắn mình và là một với những gì xung quanh mình (vạn nhà) thì tác giả mới thấu hiểu sâu sắc, gắn bó thật sự và thể hiện điều đó một cách chân thực nhất qua thơ văn của mình. Tấm lòng của tác giả, cũng như nội dung, thi tháp, và cả những yếu tố làm nên tác giả chạm tới trái tim biết bao bạn đọc bằng sự gần gũi thân thương nhất, bằng hình ảnh của một người con của vạn nhà, buộc lòng mình cùng nhân loại

6. Một số bài văn mẫu về bài thơ Từ ấy

7. Hỏi đáp về bài thơ Từ ấy

Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em.

Phân tích mạch vận động cảm xúc và tư tưởng của Tố Hữu trong bài Từ ấy

cho em hỏi :phân tích mạch vận động trong cảm xúc và tư tưởng của tố hữu trong bài thơ từ ấy ạ

Phân tích tác dụng của phép tu từ trong Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ..

hãy phân tích tác dụng của phép tu từ:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạMặt trời chân lí chói qua timHồn tôi là một vườn hoa láRất đậm hương và rộn tiếng chim…​Bạn nào rảnh viết thành đoạn ho mkai nhanh mk tick

Phân tích 4 câu thơ đầu trong bài Từ ấy

phân tích 4 câu thơ đầu trong bài thơ ” Từ ấy”

giúp Thi nhá cảm ơn <3

Hướng dẫn soạn bài Từ ấy

Hướng dẫn soạn bài thơ ” Từ ấy ” của nhà thơ Tố Hữu

Hướng Dẫn Soạn Bài Danh Từ

Vua sai ban cho làng ấy ba thúng gạo nếp với ba con trâu đực, ra lệnh phải nuôi làm sao cho ba con trâu ấy đẻ thành chín con …

– Danh từ trong cụm từ in đậm là: Con trâu.

b) Xung quanh danh từ trong cụm danh từ nói trên có những từ nào?

– Trong cụm danh từ đã nêu, đứng trước danh từ trung tâm là từ “ba” (một số từ, có tác dụng chỉ số lượng), đứng sau danh từ trung tâm là từ “ấy” (phụ từ chỉ định, có tác dụng giúp xác định rõ sự vật, hiện tượng được gọi tên).

c) Tìm các danh từ khác trong câu đã dẫn.

Gợi ý: có thể tìm và sắp xếp các danh từ theo nhóm chỉ người và chỉ vật.

– Danh từ chỉ người như: vua.

– Danh từ chỉ vật như: làng, thúng, con, gạo, trâu.

d) Từ những ví dụ trên, có thể rút ra kết luận, danh từ là những từ thường dùng để chỉ người, chỉ vật, hiện tượng, khái niệm,…

e) Đặt câu với các danh từ vừa tìm được.

Ví dụ: + Nhà vua trực tiếp ban thưởng cho những tướng lĩnh có công.

+ Ngôi làng nằm sát mép bờ sông.

Xem xét ví dụ sau để nắm được đặc điểm của danh từ chỉ đơn vị và danh từ chỉ sự vật:

a) Có thể chia các danh từ đứng cạnh nhau thành hai nhóm: nhóm danh từ đứng trước chỉ đơn vị và nhóm danh từ đứng sau chỉ sự vật.

b) Hãy thay các từ con, viên, thúng, tạ trong ví dụ trên bằng các từ khác tương tự, rồi nhận xét về ý nghĩa tính đếm, đo lường của các cụm danh từ. Trường hợp nào ý nghĩa tính đếm, đo lường thay đổi, trường hợp nào không?

– Thay con bằng chú, thay viên bằng ông, thay thúng bằng bơ, thay tạ bằng yến.

– Thay ba thúng gạo bằng ba bơ gạo, sáu tạ thóc bằng sáu yến thóc thì ý nghĩa về số lượng thay đổi.

– Các danh từ kiểu con, viên, chú, ông – không làm thay đổi ý nghĩa về tính đếm, đo lường của cụm danh từ – được gọi là danh từ chỉ đơn vị tự nhiên. Các danh từ kiểu thúng,bơ, tạ, yến – có làm thay đổi ý nghĩa về tính đếm, đo lường – được gọi là danh từ chỉ đơn vị quy ước.

c) Hai câu sau đây, câu nào đúng, câu nào sai? Vì sao?

(1) Nhà có ba thúng gạo rất đầy.

(2) Nhà có sáu tạ thóc rất nặng.

– Câu (1) đúng, câu (2) sai.

– Câu (2) sai, vì: “tạ” là đơn vị cân đong quy ước, chính xác nên không thể dùng với ý nghĩa đánh giá (rất nặng) được. Còn “thúng” là từ chỉ đơn vị tính đếm ước chừng thì có thể dùng với ý nghĩa đánh giá (đầy) được.

d) Danh từ tiếng Việt được chia thành hai loại lớn: danh từ chỉ đơn vị và danh từ chỉ sự vật. Khi sử dụng danh từ chỉ đơn vị cần lưu ý điều gì?

– Danh từ chỉ đơn vị gồm hai nhóm: danh chỉ đơn vị tự nhiên và danh từ chỉ đơn vị quy ước.

– Khi sử dụng danh từ chỉ đơn vị quy ước cần chú ý phân biệt danh từ chỉ đơn vị chính xác và danh từ chỉ đơn vị ước chừng. Danh từ chỉ đơn vị tính đếm, đo lường chính xác thì không dùng với ý nghĩa đánh giá.

1. Hãy liệt kê một số danh từ chỉ sự vật mà em biết. Đặt câu với một trong các danh từ ấy. Ví dụ: xe máy, sách, bút, bàn, bảng,…

(Quyển sách này rất hay.)

2. Liệt kê các danh từ chỉ đơn vị tự nhiên và đặt câu với một trong các danh từ ấy:

a) Chuyên đứng trước danh từ chỉ người, ví dụ: ông, vị, cô, …

b) Chuyên đứng trước danh từ chỉ đồ vật, ví dụ: cái, bức, tấm, …

– Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên chuyên đứng trước danh từ chỉ người: viên, ngài, cu, bé,… (Năm nay bé An nhà tôi lên ba tuổi.)

– Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên chuyên đứng trước danh từ chỉ đồ vật: chiếc, quyển, quả,… (Chiếc bút máy của em viết rất tốt.)

3. Liệt kê các danh từ theo yêu cầu sau và đặt câu với một trong các danh từ ấy:

a) Chỉ đơn vị quy ước chính xác, ví dụ: mét, lít, ki-lô-gam, …

b) Chỉ đơn vị quy ước ước chừng, ví dụ: nắm, mớ, đàn, …

– Danh từ chỉ đơn vị quy ước chính xác: ki-lô-mét, yến, lạng,… (Nhà tôi cách trường hai ki-lô-mét.)

– Danh từ chỉ đơn vị quy ước ước chừng: vốc, nhúm, khoảnh,… (Bà tôi trồng rau cải ở khoảnh vườn sau nhà.)

4. Tìm các danh từ và phân loại thành nhóm danh từ chỉ đơn vị và danh từ chỉ sự vật trong đoạn văn sau: Người ta kể lại rằng, ngày xưa có một em bé rất thông minh tên là Mã Lương. Em thích học vẽ từ nhỏ. Cha mẹ em đều mất sớm. Em chặt củi, cắt cỏ, kiếm ăn qua ngày, nhưng vẫn nghèo đến nỗi không có tiền mua bút. […] Em dốc lòng học vẽ, hằng ngày chăm chỉ luyện tập. Khi kiếm củi trên núi, em lấy que củi vạch xuống đất, vẽ những con chim đang bay trên đỉnh đầu. Lúc cắt cỏ ven sông, em nhúng tay xuống nước rồi vẽ tôm cá trên đá. Khi về nhà, em vẽ các đồ đạc trong nhà lên tường, bốn bức tường dày đặc các hình vẽ.

– Các danh từ chỉ đơn vị: em, que, con, bức,…

– Các danh từ chỉ sự vật: Mã Lương, cha mẹ, bút, núi, củi, đất, cỏ, sông,..

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hướng Dẫn Soạn Bài Từ Ấy trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!