Đề Xuất 2/2023 # Hình Chiếu Trong Toán Học Là Gì? # Top 8 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 2/2023 # Hình Chiếu Trong Toán Học Là Gì? # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hình Chiếu Trong Toán Học Là Gì? mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Lời giải:Hình chiếu của M trên BC nghĩa là từ M kẻ đường thắng cắt vuông góc với BC

còn hình chiếu của một điểm là giao điểm của đường thẳng cho trước với đường thẳng kẻ từ điểm đó vuông góc với đường thẳng cho trước.

2. Tam giác hình chiếu là gì?

Trong hình học, tam giác hình chiếu hay còn gọi là tam giác bàn đạp của một điểm P đối với tam giác cho trước có ba đỉnh là hình chiếu của P lên ba cạnh tam giác đó.

Xét tam giác ABC, một điểm P trên mặt phẳng không trùng với ba đỉnh A, B, C. Gọi các giao điểm của ba đường thẳng qua P kẻ vuông góc với điểm ba cạnh tam giác BC,CA,AB là L, M, N khi đó LMN là tam giác bàn đạp ứng với điểm P của tam giác ABC. Ứng với mỗi điểm P ta có một tam giác bàn đạp khác nhau, một số ví dụ:

Nếu P = trực tâm, khi đó LMN = Tam giác orthic.

Nếu P = tâm nội tiếp, khi đó LMN = Tam giác tiếp xúc trong.

Nếu P = tâm ngoại tiếp, khi đó LMN = Tam giác trung bình.

P nằm trên đường tròn ngoại tiếp, tam giác bàn đạp sẽ suy biến thành một đường thẳng. Khi P nằm trên đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC thì tam giác bàn đạp của nó suy biến thành đường thẳng Simson, đường thẳng này đặt tên theo nhà toán học Robert Simson. Định lý Cartnot về ba đường thẳng vuông góc với ba cạnh tam giác đồng quy ta có hệ thức sau:

Đoạn thẳng AH : gọi là đoạn vuông góc hay đường vuông góc kẻ từ A đến đường thẳng d.

Điểm H : gọi là chân của đường vuông góc hay hình chiếu của điểm A trên đường thẳng d.

Đoạn thẳng AB : gọi là đường xiên kẻ từ điểm A đến đường thẳng d.

Đoạn thẳng HB : gọi là hình chiếu của đường xiên AB trên đường thẳng d.

Định lí 1 :

Trong các đường xiên và đường vuông góc kẻ từ một điểm nằm ngoài một đường thẳng đến đường thẳng đó, đường vuông góc là đường ngắn nhất.

Định lí 2 :

Trong hai đường xiên kẻ từ một điểm nằm ngoài một đường thẳng đến đường thẳng đó :

đường xiên nào có hình chiếu lớn hơn thì lớn hơn.

đường xiên nào lớn hơn thì có hình chiếu lớn hơn.

Hai đường xiên bằng nhau thì hai hình chiếu bằng nhau, ngược lại, Hai hình chiếu bằng nhau thì hai đường xiên bằng nhau.

Thuật Toán Là Gì? Học Thuật Toán Làm Quái Gì?

Tôi là một lập trình viên có trên 15 năm kinh nghiệm. Những năm đầu tiên (từ cấp 3), tôi học và làm nhiều về thuật toán. Cho đến cả khi ra trường, tôi cũng luôn nghiên cứu và có đam mê với nó. Đồ án tốt nghiệp của tôi mang tính học thuật khá nhiều: “Xây dựng mô hình ngôn ngữ cho tiếng Việt”. Ra trường, tôi nung nấu ý định đi du học và theo con đường nghiên cứu. Tuy nhiên, sau quãng thời gian đi làm 1 năm, tôi thấy thích làm sản phẩm/phần mềm hơn là nghiên cứu. Tôi chuyển hướng học về công nghệ, kĩ thuật hơn là thuật toán. Nói như vậy để bạn hiểu rằng, hiện tại tôi không còn là tín đồ hay thần thánh hoá thuật toán nữa. Tuy nhiên, cá nhân tôi cho rằng, thuật toán vẫn là thứ gì đó khá quan trọng vs đối lập trình viên. Sau này lúc đi dạy học hay định hướng chia sẻ với những lập trình viên trẻ, cũng có khá nhiều người hỏi tôi có cần học giải thuật/thuật toán hay không? Câu trả lời của tôi luôn luôn là có. Vì sao?

Thuật toán là gì?

Thuật toán hay giải thuật (tiếng anh là Algorithm) có khá nhiều định nghĩa phức tạp. Bạn có thể đọc ở nhiều nguồn để hiểu thêm về nó. Cá nhân tôi định nghĩa dễ hiểu rằng, thuật toán là “thuật” (phương pháp) để giải quyết 1 bài toán. Nói dễ hiểu hơn, mỗi một bài toán giống như một chiếc hòm chứa đựng kho báu (kết quả, đáp án), và chiếc chìa khoá để mở cái hòm đó chính là “giải thuật”. Nếu dùng sai chìa khoá, bạn vẫn có thể mở được hòm, nhưng mà sẽ mất nhiều thời gian, hoặc mở được hòm thì kho báu ở bên trong bị méo mó, không toàn vẹn. Sử dụng đúng chìa khoá, sẽ giúp bạn lấy được kho báu 1 cách dễ dàng, nhanh chóng. Tất nhiên mỗi chiếc hòm sẽ luôn cần loại chìa khoá khác nhau, giống như một bài toán luôn có những giải thuật xác định. Không có chiếc chìa khoá nào mở được tất cả các hòm, cũng như không có giải thuật nào giải được toàn bộ các bài toán.

Tại sao cần dùng thuật toán?

Tiếp theo, một thuật toán khá nổi tiếng khác là thuật toán tìm kiếm. Bạn có thể nhìn thấy nó ở khá nhiều sản phẩm phần mềm hiện tại, điển hình như Google. Bạn có thể nghĩ rằng, tìm kiếm khá là đơn giản, khi bạn lần lượt soi vào từng ô, từng dòng dữ liệu xem có thứ mà mình tìm kiếm hay không? Nhưng hãy đặt địa vị, bạn có hàng tỷ tỷ món đồ dùng được vứt lộn xộn trong 1 căn nhà, bạn sẽ mất bao nhiêu lâu để tìm được món đồ mà bạn mong muốn. Hãy biết chắc chắn rằng, việc Google trả ra được kết quả mà bạn yêu cầu tìm kiếm trong vòng 1 vài giây là vô cùng khó. Điều ấy yêu cầu 1 thuật toán cực mạnh, và vẫn liên tục cần cải tiến cho đến ngày hôm nay.

Các thuật toán mã hoá được sử dụng để mã hoá thông tin, được sử dụng nhiều trong việc truyền nhận và lưu trữ giữ liệu, giúp bảo vệ thông tin cá nhân và tổ chức khỏi các cuộc tấn công hay khai thác.

Bỏ qua những thuật toán cao siêu như bên trên vì bạn ít có cơ hội làm những sản phẩm như vậy, trong quá trình làm phần mềm, bạn cũng có thể sẽ gặp các bài toán hay vấn đề nhỏ yêu cầu bạn phải chọn đúng giải thuật để giải, ví dụ như:

Hãy đưa ra các bài viết hoặc sản phẩm mà người dùng quan tâm dựa trên lịch sử truy cập của họ

Khi bạn lập trình đủ lâu và đủ nhiều, tôi nghĩ chắc chắn bạn sẽ gặp nhiều bài toán khó hơn tôi. Trong quá trình phát triển sản phẩm CodeLearn, tôi và những đồng đội cũng đôi lúc phải giải quyết những bài toán kiểu như thế này:

Hãy tính toán và sắp xếp thứ hạng của người dùng dựa trên lịch sử học và làm bài

Đếm số lượng truy cập của người dùng trong 1 khoảng thời gian để dự đoán tấn công

Đưa ra gợi ý các bài tập mà người dùng nên làm dựa vào lịch sử truy cập và thao tác của họ trên hệ thống

Tất nhiên những bài toán trên là không khó với tập dữ liệu và người dùng nhỏ. Nhưng hãy thử tưởng tượng, khi hệ thống có hàng nghìn hàng vạn người cùng truy cập và bạn phải trả về kết quả là cực kì nhanh, bạn sẽ làm như thế nào để đảm bảo điều đó? Thực tế đã trả lời chúng tôi rằng, khi chọn đúng giải thuật, tốc độ xử lí có thể tăng lên từ hàng chục tới hàng trăm lần. Và tôi nghĩ rằng, một ngày nào đó, chúng tôi vẫn sẽ phải nâng cấp thuật toán để giải quyết bài toán với lượng dữ liệu và người dùng lớn hơn.

Và không học thuật toán được không?

Không phải là 1 tín đồ của thuật toán, không thần thánh hoá thuật toán, nên tôi nghĩ rằng không học thuật toán vẫn làm được thậm chí làm tốt phần mềm. Nếu các bạn không làm những bài toán có độ phức tạp cao, có dữ liệu người dùng lớn, cần phải ra đáp án nhanh với độ chính xác cao, tôi nghĩ bạn vẫn có thể giải quyết được vấn đề với vốn thuật toán hạn chế. Hay ví dụ nếu bạn làm 1 website chủ yếu là nội dung, nếu bạn làm 1 ứng dụng điện thoại chỉ xử lí các logic thông thường, thuật toán không giúp ích nhiều cho bạn trong trường hợp ấy. Kể cả khi bạn làm những sản phẩm rất lớn, sử dụng những công nghệ rất mới và hot như AI, BigData hay Blockchain, dù không thành thạo thuật toán nào cả, bạn vẫn xây dựng đc hệ thống. Trong trường hợp này, bạn chỉ cần hiểu rõ cách sử dụng và ứng dụng của công nghệ, chứ không cần nằm hay hiểu rõ thuật toán bên trong công nghệ ấy.

Đặc biệt là, với 1 số phần mềm đơn giản có yêu cầu hay thay đổi, dẫn đến việc thay đổi code thường xuyên. Lúc này, thuật toán hay, code chạy nhanh không quan trọng bằng việc hiểu đúng yêu, tổ chức dữ liệu, thiết kế cấu trúc code, viết code sao cho dễ đọc, dễ hiểu và dễ bảo trì.

Rốt cuộc thì thuật toán quan trọng hay không?

Có 1 sự thật rằng, đa phần các sản phẩm phần mềm ngày nay thành công mà không cần hay sử dụng rất ít thuật toán bên trong nó. Tuy nhiên những sản phẩm có hàm lượng thuật toán cao, trí tuệ lớn, thật sự tạo ra sự khác biệt và thành công lớn hơn những sản phẩm bình thường. Sản phẩm như Google thành công vì có thuật toán tìm kiếm mạnh mẽ bậc nhất thế giới. Sản phẩm như Facebook hay Youtube cũng phải sử dụng nhiều thuật toán như tìm kiếm, gợi ý người dùng, gợi ý nội dung, … Nhưng thuật toán lại không phải yếu tố cốt lõi quyết định thành công của sản phẩm này. Do đó, việc học thuật toán, sự quan trọng của thuật toán phụ thuộc vào sản phẩm, ứng dụng mà bạn làm. Dù có giỏi hay không giỏi thuật toán, bạn vẫn có thể thành công nếu vận dụng đúng kỹ năng, hiểu biết của mình vào lĩnh vực mà bạn làm. Cá nhân tôi luôn khuyên và nhắn nhủ các bạn lập trình viên hãy luôn học và rèn luyện thuật toán. Với tôi, thuật toán giúp bạn rèn luyện tư duy giải quyết vấn đề, cùng với suy nghĩ về việc luôn tối ưu và làm sản phẩm một cách tối ưu và tổng quát. Có những lúc, thực sự bế tắc trong công việc (không chỉ là lập trình), tôi vẫn thường vào làm 1 số bài tập thuật toán để khai thông và thúc đẩy sự suy nghĩ. Sau đó tôi thấy mình minh mẫn và giải quyết công việc cũ 1 cách thuận lợi hơn.

Học thuật toán từ đâu? Như thế nào?

Nếu bạn học CNTT ở trong trường đại học, tôi nghĩ bạn nên học tốt môn học này từ các thầy giáo và các bạn đồng trang lứa. Nếu không có điều kiện ấy, tôi nghĩ rằng bạn nên tìm kiếm 1 cuốn sách dạy về giải thuật như là cuốn “Cấu trúc dữ liệu và giải thuật” của thầy Đinh Mạnh Tường.

Nếu bạn giỏi tiếng Anh, hãy tìm kiếm những khoá học cơ bản trên mạng giống như là trang:

https://codelearn.io/Learning/Detail/3477hay https://codelearn.io/Learning/Detail/133067.

Bằng tất cả tâm trí cùng đam mê của tôi và cộng sự, sẽ cố gắng giúp các bạn học tốt thuật toán nếu các bạn cần và hứng thú với nó.

Sơ Đồ Venn Là Gì? Phương Pháp Sơ Đồ Venn Trong Toán Học

1. Bạn hiểu thế nào về sơ đồ Venn?

Sơ đồ Venn được gọi dưới tên khác là biểu đồ Venn hay sơ đồ tập hợp nó là một biểu đồ cho thấy được những mối quan hệ logic có thể tồn tại ở một số lượng hữu hạn của tập hợp nào đó. Lý do sơ đồ Venn được ra đời chính là do ông John Venn xây dựng và thực hiện vào năm 1880.

2. Những phương pháp sơ đồ Venn bạn nên nhớ

Có hai phương pháp được sử dụng trong sơ đồ venn đó là :

– Dùng những hình tròn giao nhau để miêu tả được mối quan hệ của các đại lượng

– Sơ đồ Venn sẽ chỉ cho chúng ta nhìn được trực quan bằng mắt thường được mối quan hệ giữa các đại lượng trong bài toán đã cho và tìm được những yếu tố chưa biết một cách dễ dàng.

3. Những ví dụ về sơ đồ Venn

Bài 1: Trong năm vừa qua trường Khánh Hà có 50 bạn học sinh xuất sắc cả hai môn Toán và Tiếng Việt. Trong đó có 33 bạn thi môn Toán, 25 bạn thi môn Tiếng Việt. Hỏi trường Khánh Hà có bao nhiêu bạn đi thi cả hai môn?

Giải bài toán:

Cách 1: Chúng ta có thể biểu diễn được bạn thi môn Toán và bạn thi môn Tiếng Việt bằng hình tròn, phần giao nhau giữa hai hình tròn chính là số lượng bạn đi thi cả hai môn Toán và Tiếng Việt. Các bạn có thể tự vẽ trên giấy sẽ dễ hiểu hơn rất nhiều.

Số bạn chỉ thi môn Tiếng Việt mà không thi môn Toán sẽ là:

Số bạn đi thi cả hai môn sẽ là 33 – 25 = 8 (bạn)

Cách 2: Nếu lấy các bạn thi môn Tiếng Việt cộng với số bạn thi môn Toán sẽ là: 33 + 25 = 58 (bạn)

Phần lớn hơn là do có một số lượng bạn dự thi cả hai môn trên, khi cộng lại thì số lượng học sinh này được tính hai lần.

Vậy có số bạn đi thi cả hai môn là: (33 + 25) – 50 = 8(bạn)

Ví dụ 2: Lớp 6A có 30 bạn ưa thích môn Ngữ Văn, 35 bạn yêu thích môn Toán học. Trong đó có các bạn thích cả môn Ngữ Văn và môn Toán là 9 bạn. Trong lớp vẫn còn có 12 bạn không yêu thích môn nào cả (trong đó có cả hai môn Toán và Ngữ Văn). Hỏi lớp 6A có bao nhiêu học sinh tất cả?

Cách 1: Chúng ta cũng biểu diễn vẽ 2 hình tròn ra để biểu diễn số bạn thích môn Ngữ Văn và bạn thích môn Toán. Bạn vẽ hai hình tròn Ngữ Văn và hình tròn Toán học có phần chung là 9 bạn.

Trên hình vẽ đó bạn hãy tính những phần sau đây:

+ Số lượng bạn thích môn học Ngữ Văn nhưng không thích môn Toán học sẽ là: 30 – 9 = 21 (bạn)

+ Số lượng bạn thích học môn Toán học nhưng không thích học môn Ngữ văn là: 35 – 9 = 26 (bạn)

Kết luận: Số bạn học sinh của lớp 6A sẽ bằng tổng số phần không giao là:

21 + 26 + 9 + 12 = 68(bạn)

Lớp 7A có 40 bạn học sinh làm bài kiểm tra một tiết môn Toán học. Đề bài gồm có 5 loại đề khác nhau. Sau khi kiểm tra thì thầy giáo đã tổng hợp được những kết quả như sau: Có 20 em làm được bài toán thứ nhất, 14 em làm được bài toán thứ hai và có 10 giải được bài toán số 3. Trong đó có 5 em làm được cả bài toán thứ 2 và bài toán thứ 3, có 2 em giải được bài toán thứ nhất và thứ 2, 6 em làm được bài toán thứ nhất và bài toán thứ 3. Chỉ có 1 học sinh giải được 3 bài toán và đạt được điểm số tuyệt đối là 10. Hỏi lớp 7A có bao nhiêu em không làm được bài toán nào?

Chúng ta sẽ biểu diễn số học sinh làm được bài toán 1, bài toán 2, bài toán 3 theo sơ đồ Venn theo hình tròn cho dễ hiểu.

– Số bạn học sinh chỉ giải được bài toán số 1 là

20 – 1 – 1- 5 = 13 (bạn học sinh)

– Số bạn học sinh làm được bài toán số 2 là: 14 – 1- 1 – 4 = 8 (bạn học sinh)

– Số bạn học sinh chỉ làm được bài toán số 3 sẽ là: 10 – 5 – 1 – 4 = 0 (bạn học sinh)

Vậy số học sinh làm được ít nhất 1 bài sẽ là (Chúng ta cộng hết các phần không giao nhau vào):

13 + 1 + 8 + 5 + 1+ 4+ 0 = 32 (bạn học sinh)

Vậy số học sinh không làm được bài toán nào sẽ là:

35 – 32 = 3 (bạn học sinh)

Đáp số 3 bạn học sinh

Kế Toán Giá Thành Là Gì?

CÂU HỎI: Khi các bạn được tuyển vào vị trí kế toán tính giá thành tại 1 công ty thì các bạn tuần tự phải tìm hiểu những công việc gì để làm tốt Công việc của 1 người làm Kế toán giá thành.

TRẢ LỜI: Có rất nhiều cách tiếp cận, nhưng đây là quan điểm cá nhân tôi, tôi thường làm như sau: ⏩⏩ BƯỚC 1: Các bạn phải nắm được Quy trình làm ra sản phẩm thì trải qua những công đoạn nào? Ví dụ: Công ty bạn là công ty sản xuất Bánh bông lan trứng muối loại 20 cm thì sẽ làm như thế nào, trải qua những công đoạn nào để làm ra được cái bánh bông lan trứng muốiA. CHUẨN BỊNguyên liệu– 150g bột mì – 6 lòng đỏ trứng muối – 3 trứng gà tươi – 120g bơ – 80g đường cát trắng – 80ml sữa tươi không đường – 1 muỗng cà phê bột vani – 1/2 muỗng cà phê bột nở – 1/3 muỗng cà phê muối – Chà bông thịt heo, gà, lạp xưởng, xúc xích Máy móc– Máy đánh trứng, lò nướng bánh và bếpCon người

Ví dụ: Với Quy trình làm ra bánh bông lan trứng muối như trên thì các bạn có thể chia ra các loại chi phí như sau:

* CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP (TK 621): Chi phí mua trứng, chi phí mua bột, đường sữa.. . gọi là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp làm ra sản phẩm (TK 621). Phần này chúng ta đã được học trong chương kế toán hàng tồn kho . Luôn luôn hạch toán Nợ 621 có 152 (XUẤT NGUYÊN LIỆU RA ĐỂ SẢN XUẤT BÁNH BÔNG LAN. BỞI VÌ KHI MUA NGUYÊN LIỆU đã ghi vào Nợ 152 Nợ 1331 Có 331 (Chi tiết cho từng đối tượng).

* CHI PHÍ NHÂN CÔNG TRỰC TIẾP (TK 622):Khi có chi phí nguyên liệu trực tiếp thì phải có con người để làm ra cái bánh bông lan. Con người thì Phài thuê và trả lương. Người ta gọi là chi phí NHÂN CÔNG TRỰC TIẾP (TK 622). VÀ PHẦN NÀY CHÚNG TA ĐÃ ĐƯỢC HỌC TRONG CHƯƠNG KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG. Nợ 622 Có 334 (1;8) Và Nợ 622 Có 3383;3384;3386;3382. Vậy chi phí nhân công trực tiếp tức là những người trực tiếp làm ra sản phẩm (Cụ thể trường hợp này là người trực tiếp làm ra bánh bông lan).

* CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG (TK627): Khi có con người và có nguyên vật liệu rồi thì chúng ta cũng chưa thể sản xuất ra được bánh. Muốn có bánh thì phải có khuôn bánh có dây chuyền sản xuất bánh…có chi phí tiền điện, tiền nước, tiền thuê phân xưởng và phần này chúng ta đã được học trong phần KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH, KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN. Nợ 627 (Chi phí sản xuất chung, chi tiết cho từng tài khoản 627 ) Có 214 Có 242 Có 111;112… Vậy chi phi sản xuất chung nói ngắn gọn lại là những khoản chi phi mà nó sẽ góp phần tạo nên sản phẩm đó. Muốn làm ra sản phẩm đó thì bắt buộc phải có chi phí này (Ngoài 621;622). Nói ngắn gọn lại nếu Cty các bạn là Cty sản xuất thì sẽ có phân xưởng sản xuất thì chi phí cho phân xưởng chính là chi phí sản xuất chung (TK 627).

* Nếu Công ty trước đó đã có quy trình tính giá thành sản phẩm thì các bạn nghiên cứu lại xem quy trình đó thiết kế có phù hợp với hiện trạng thực tế để nghiên cứu và học hỏi và chỉnh sửa cho nó phù hợp. Nếu chúng ta không thấy phù hợp thì chúng ta có thể bỏ quy trình tính giá thành trước đó và xây dựng mới lại 100%.

* Nhưng trước khi viết về quy trình tính giá tại công ty chúng ta, CHÚNG TA CẦN PHẢI HIỂU CÁC BƯỚC TÍNH GIÁ THÀNH THEO NGUYÊN LÝ TRƯỚC khi áp dụng thực tế về quy trình tính giá thành tại Công ty chúng ta.

A.Quy trình tính giá thành về mặt nguyên lý như sau:

❎B1: Tập hợp các chi phí sản xuất ra sản phẩm (621;622;627) vào TỪNG ĐỐI TƯỢNG TẬP HỢP CHI PHÍ TK 154 (Đối tượng Tập hợp chi phí theo từng sản phẩm; Đối tượng Tập hợp chi phí theo từng công trình; Đối tượng Tập hợp chi phí theo từng đơn đặt hàng; Đối tượng Tập hợp chi phí theo từng phân xưởng…) theo 3 khoản mục: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (CPNVLTT TK 621), Chi phí nhân công trực tiếp (CPNCTT TK 622), Chi phí SX chung (CP SXC TK 627). Nếu là công ty xây lắp thì sẽ có thêm chi phí sử dụng máy thi công TK 623.

* Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành là giống nhau khi công ty sản xuất 1 sản phẩm HOẶC cty sản xuất 2 sản phẩm khác nhau hoàn toàn và sử dụng nguyên liệu cho mỗi loại sản phẩm là khác nhau nhưng dùng chung phân xưởng hoặc dùng chung công nhân * Đối tượng tập hợp chi phí sẽ khác đối tượng tính giá thành khi công ty sử dụng 1 loại nguyên vật liệu nhưng cùng sản xuất ra nhiều loại sản phẩm với kích thước khác nhau (Ví dụ Giày thể thao Size 39, Size 40 HOẶC Áo Sơ Mi Nam XL; Áo sơ Mi Nam M…). Trong trường hợp này ĐỐI TƯỢNG TẬP HỢP CHI PHÍ LÀ DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT ÁO HOẶC DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT GIÀY THỀ THAO. ĐỐI TƯỢNG TÍNH GIÁ THÀNH là Giày thể thao Size 39, Size 40; ĐỐI TƯỢNG TÍNH GIÁ THÀNH LÀ Giày thể thảo Size 39, Size 4Áo Sơ Mi Nam XL; Áo Sơ Mi Nam M;

❎ B2: Phân bổ chi phí dùng chung cho từng đối tượng tập hợp chi phí thành những chi phí dùng riêng cho từng đối tượng tập hợp chi phí bằng 1 tiêu thức hợp lý (Trường hợp này nếu đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành là trùng nhau). Hoặc nếu mà đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành là khác nhau thì lúc này chúng ta sử dụng các phương pháp tính giá thành (Hệ số, tỷ lệ…) để tính ra được giá thành cho từng sản phẩm.

Trường hợp 1: Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành là giống nhau (Ví dụ như Công ty sản xuất 1 sản phẩm A tại phân xưởng B thì đối tượng tập hợp chi phí trong trường hợp này là phân xưởng B và do có 1 sản phẩm A mà sản phẩm A nằm trong phân xưởng B nên toàn bộ chi phí phát sinh tại phân xưởng B chính là của sản phẩm A). Hoặc công ty làm theo đơn đặt hàng hoặc Công ty làm theo hợp đồng; Hoặc công ty làm theo công trình

Trường hợp 2: Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành là giống nhau tiếp theo, nhưng trường hợp 2 này là sản xuất 2 sản phẩm khác nhau {Cty có 2 dây chuyền sản xuất sản phẩm A và sản phẩm B nhưng cùng 1 phân xưởng (dùng chung) thì lúc này đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành cũng giống nhau} nhưng những khoản chi phí dùng chung thì sẽ phân bổ cho những đối tượng tính giá thành theo 1 tiêu thức phù hợp.

Đối với những khoản chi phí dùng chung như: chi phí sản xuất chung TK 627, Chi phí nhân công trực tiếp TK 622 mà không tập hợp riêng được cho từng đối tượng tập hợp chi phí thì phân bổ CÁI DÙNG CHUNG đó cho những đối tượng tập hợp chi phí riêng theo một trong các tiêu thức như sau:(Phân bổ chi phí dùng chung cho từng đối tượng tính giá thành hoặc cho những đối tượng tập hợp chi phí theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp…) CÁC BẠN CÓ THỂ XEM LẠI VÍ DỤ BÊN DƯỚI.

Ví dụ:Công ty sản xuất máy lạnh và máy quạt. Chi phí 621 của máy lạnh là 10.000.000 và chi phí 621 của máy quạt là 15.000.000. Nhưng chi phí dùng chung để làm ra máy lạnh và máy quạt như sau: 622 dùng chung là 5.000.000 và 627 dùng chung là: 7.000.000 ❎Vậy nhiệm vụ của chúng ta là tách 622: 5.000.000 này cho 622 máy lạnh và cho 622 máy quạt. Cũng như chúng ta tách 627: 7.000.000 cho 627 máy lạnh và cho 627 máy quạt ❎ Chúng ta sử dụng tiêu thức phân bổ là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho từng loại sản phẩm để phân bổ cho 622 và 627.

Một: Chi phí nhân công trực tiếp cho máy lạnh (TK 622 máy lạnh) bằng=(Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho sản phẩm máy lạnh TK 621 máy lạnh/ Tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của máy lạnh và máy quạt Tức là Cộng 621 máy lạnh và 621 máy quạt lại)*5.000.000=(10.000.000/10.000.000+15.000.000)*5.000.000=2.000.000

Hai: Chi phí nhân công trực tiếp cho máy quạt (TK 622 máy quạt) bằng=(Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho sản phẩm máy lạnh TK 621 máy quạt/ Tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của máy lạnh và máy quạt Tức là Cộng 621 máy lạnh và 621 máy quạt lại)*5.000.000=(15.000.000/10.000.000+15.000.000)*5.000.000=3.000.000 (Hoặc có thể lấy 5.000.000-2.000.000=3.000.000)

Ba: Chi phí nhân sản xuất chung cho máy lạnh (TK 627 máy lạnh) bằng=(Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho sản phẩm máy lạnh TK 621 máy lạnh/ Tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của máy lạnh và máy quạt Tức là Cộng 621 máy lạnh và 621 máy quạt lại)*7.000.000=(10.000.000/10.000.000+15.000.000)*7.000.000=2.800.000

Bốn: Chi phí nhân công trực tiếp cho máy quạt (TK 627 máy quạt) bằng=(Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho sản phẩm máy lạnh TK 621 máy quạt/ Tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của máy lạnh và máy quạt Tức là Cộng 621 máy lạnh và 621 máy quạt lại)*5.000.000=(15.000.000/10.000.000+15.000.000)*7.000.000=4.200.000 (Hoặc có thể lấy 7.000.000-2.800.000=4.200.000)

Kết luận: Đối với Cty mà sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau hoàn toàn 100% thì những khoản chi phí nào tách riêng được thì tách riêng. Những khoản chi phí nào mà dùng chung thì sẽ sử dụng tiêu thức phân bổ hợp lý để tách riêng chi phí dùng chung thành những chi phí riêng cho từng đối tượng tập hợp chi phí. Phải thuộc nguyên tắc này để vận dụng tại Công ty của các bạn khi tính giá thành

Trường hợp 3: Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành là khác nhau. Trường hợp này xảy ra khi Công ty sản xuất ra nhiều loại sản phẩm sử dụng cùng 1 loại nguyên vật liệu

Ví dụ: Công ty ABC cùng sử dụng 1 loại nguyên vật liệu là bột; trứng; muối; lạp xưởng, đường… sản xuất ra được bánh trung thu 1 trứng và bánh trung thu 2 trứng trên cùng 1 DÂY CHUYỀN LÀ SẢN XUẤT BÁNH.

+Vậy trong trường hợp này chúng ta tập hợp hết toàn bộ chi phí (621;622;627) VÀO DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT BÁNH. Tức là CHÚNG TA ĐÃ CÓ toàn bộ chi phí để tạo ra 2 sản phẩm là Bánh trung thu 1 trứng và bánh trung thu 2 trứng.

+ Sau khi tính ra được giá thành sản phẩm chuẩn rồi thì giá thành của sản phẩm còn lại bằng giá thành sản phẩm chuẩn nhân với hệ số là ra GIÁ THÀNH sản phẩm còn lại.

❎ B5: Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo một trong các phương pháp phù hợp (Theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hoặc theo Phương pháp ước lượng sản phẩm hoàn thành tương đương.).

Cách Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ và tính trị giá sản phẩm hoàn thành: Các bạn đã làm được từ B1 đến B4 thì trước khi tính trị giá sản phẩm hoàn thành các bạn phải làm công đoạn đánh giá trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ tại B5. B5 này được chi tiết như sau:

❎ Đầu tiên Định nghĩa sản phẩm dở dang: là những những sản phẩm, công trình, đơn đặt hàng mà chưa hoàn thành, chưa hoàn thiện đang còn nằm trên quy trình sản xuất. Phải trải qua vài công đoạn nữa mới hoàn thành sản phẩm. Và kế toán cần biết mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang

❎ Các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang

💢 Cách 1: Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí NVL chính trực tiếp (TK 621) hoặc theo chi phí NVL trực tiếp gồm nguyên vật liệu chính và nguyên vật liệu phụ (TK 621) (Theo phương pháp này thì các bạn không cần quan tâm mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang)

💢 Cách 2: Đánh giá SP DD theo phương pháp ước lượng sản phẩm hoàn thành tương đương.

* Được áp dụng trong trường hợp tỷ lệ các khoản mục chi phí trong giá thành (621;622;627) là tương đương nhau. (Muốn làm theo cách này phải quan tâm đến mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang). Làm theo phương pháp này độ chính xác cao nhưng hơi phức tạp

* Chi phí Sản phẩm dở dang cuối kỳ: gồm chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp (TK 621) cộng với chi phí nhân công trực tiếp (TK 622)và cộng với chi phí sản xuất chung khác (TK 627).Số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ được quy đổi thành số lượngsản phẩm hoàn thành tương ứng với mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang.

+ Lệnh sản xuất gồm 03 loại: lệnh sản xuất xe, lệnh sản xuất thùng xe, lệnh gia công chi tiết nội địa hoá.

+ Lệnh sản xuất được đánh số thứ tự liên tục và nội dung thể hiện định mức vật tư cho đơn vị sản phẩm sản xuất và tổng mức vật tư dự kiến theo lệnh sản xuất để tiện theo dõi xuất vật tư sản xuất chính xác tránh lãng phí hoặc sản xuất không đồng bộ.

+ Lệnh sản xuất đính kèm định mức vật tư cho 3 bộ phận chính : bộ phận vật tư chính thì số lệnh sản xuất đính kèm là a, bộ phận vật tư phụ ở xưởng đóng thùng và xưởng hàn số lệnh sản xuất đính kèm là b và ở xưởng sơn là c.

📍 Chi phí nhân công (TK622): không tập hợp riêng được mà phải phân bổ theo tiêu thức số lượng sản phẩm xe hoàn thành hoặc phân bổ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

📍 Chi phí sản xuất chung (TK 627): (gồm tiền vật tư, tiền điện, tiền khấu hao dây chuyền) thì không tập hợp riêng được mà phải phân bổ theo tiêu thức số liệu sản phẩm xe hoàn thành hoặc phân bổ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Lưu ý:Nhưng trong chi phí sản xuất chung thì có chi phí sản xuất chung cố định là không thay đổi khi sản lượng sản xuất ra thay đổi (Ví dụ như chi phí khấu hao) và chi phí sản xuất chung biến đổi tức là sản xuất nhiều thì chi phí nhiều và sản xuất ít thì chi phí ít. Và theo quy định của kế toán thì khi tính giá thành đối với 2 loại chi phí này được quy định như sau: – Đối với chi phí sản xuất chung mà biến đổi thì tính hết vào giá thành của sản phẩm – Đối với Chi phí sản xuất chung cố định:thì phải phân bổ vào giá thành theo mức sản xuất công xuất bình thường. Nếu trong kỳ, Cty sản xuất thấp hơn mức sản xuất công xuất bình thường thì phân bổ vào giá thành theo mức sản xuất công xuất bình thường, phần còn lại thì tính vào 632 (Giá vốn hàng bán). Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ:Sản phẩm dở dang cuối kỳ được đánh giá là theo phương pháp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vì sản phẩm xe ô tô cấu tạo giá thành xe chủ yếu là Bộ Linh Kiện chiếm tỷ trọng cao trong giá thành của xe (Hoặc nếu không các bạn có thể đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp ước lượng sản phẩm hoàn thành tương đương để sản phẩm dở dang cuối kỳ còn 3 khoản mục chi phí NVL trực tiếp; Chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung).Ví dụ: tháng 1/2014, Cty ABC chuyên về sản xuất xe hơi. Có 2 dây chuyền sản xuất xe là Kia Morning AT và Kia Morning MT xuất ra 519 bộ linh kiện KIA NEW MORNING AT với trị giá xuất là 45.912.312.956 và 208 Bộ Linh kiện của KIA NEW MORNING MT với trị giá là 16.402.683.568. +Chi phí nhân công sản xuất xe cho cả 2 dòng xe trên là 1.448.652.269 +Chi phí sản xuất chung phần vật tư biến động theo số lượng sản phẩm sản xuất là 7.240.760.070 +Chi phí sản xuất chung cố định không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất ra là (Chi phí khấu hao dây chuyền xe) 3.750.981.133. Biết rằng trong kỳ đơn vị sản xuất vượt mức công suất sản xuất bình thường. Mức sản suất công xuất bình thường của xe AT là 500 chiếc/tháng và của xe MT là 200 chiếc/tháng Trong tháng 1/2014 Công ty sản xuất được 515 sản phẩm Kia Morning AT. Số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ của Kia Morning AT là 4 chiếc. Số lượng sản phẩm hoàn thành xe MT là 206 chiếc, số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ của MT là 2 chiếc Đây là năm đầu tiên nên không có chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ. Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ được đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Giải: Vậy với bài toán này là tính giá thành theo phương pháp giản đơnBước 1 : Tập hợp chi phí nguyên vật liệu vào 154 của từng loại xe (Bỏ qua các nghiệp vụ hạch toán bên nợ của 621;622;627) Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu Nợ 154 Xe AT: 45.912.312.956 Nợ 154 Xe MT: 16.402.683.568 Có 621 (AT): 45.912.312.956 Có 621 (MT): 16.402.683.568Bước 2:Phân bổ 622 theo số lượng sản phẩm hoàn thành để biết được chi phí nhân công cho từng loại xe Chi phí nhân công cho xe AT =(Số lượng sản phẩm AT/Tổng sổ lượng sản phẩm hoàn thành AT+MT)*Chi phí nhân công trực tiếp=(515)/(721=515+206)*1.448.652.269=1.034.751.621 ✔ Chi phí nhân công cho xe MT=1.448.652.269-1.034.751.621=413.900.648 Bước 3:Phân bổ chi phí sản xuất chung (Gồm biến phí và định phí) cho xe AT và xe MTTheo số lượng sản phẩm hoàn thành để biết chi phí sản xuất chung cho từng loại xe. Do số lượng sản phẩm xe sản xuất ra trong tháng nhiều hơn mức sản xuất công xuất bình thường nên toàn bộ chi phí phát sinh phần biến phí và định phí tính hết vào giá thành của sản phẩm xe. BIẾN PHÍ ✔ Chi phí sản xuất chung phân bổ cho AT của phần biến phí =(Số lượng sản phẩm AT/Tổng sổ lượng sản phẩm hoàn thành At+MT)*Chi phí sản xuất chung=(515)/(721)*7.240.760.070=5.171.971.479 ✔ Chi phí sản xuất chung phân bổ cho MT của phần biến phí =7.240.760.070-5.171.971.479=2.068.788.591 ĐỊNH PHÍ ✔ Chi phí sản xuất chung phân bổ cho AT của phần Định Phí =(Số lượng sản phẩm AT/Tổng sổ lượng sản phẩm hoàn thành)*Chi phí sản xuất chung=(515)/(721)*3.750.981.133=2.679.272.238 ✔ Chi phí sản xuất chung phân bổ cho MT của phần Định Phí =3.750.981.133-2.679.272.238=1.071.708.895 Lưu ý:Nếu số lượng sản phẩm sản xuất ra trong tháng ví dụ AT là 400 và MT là 150thì nhỏ hơn công suất sản xuất bình thường thì trong trường hợp này chúng ta phải phải tính chi phí sản xuất chung cố định 3.750.981.133cho sản phẩm AT và MT là theo mức công suất bình thường là 500 và 200 (Còn phần biến phí thì chúng ta vẫn phân bổ theo sản lượng thực tế). Biến phí thì vẫn làm phân bổ bình thường ✔ Chi phí sản xuất chung phân bổ cho AT của phần biến phí =(Số lượng sản phẩm AT/Tổng sổ lượng sản phẩm hoàn thành At+MT)*Chi phí sản xuất chung=(400)/(550)*7.240.760.070=5.266.007.324 ✔ Chi phí sản xuất chung phân bổ cho MT của phần biến phí =7.240.760.070-5.266.007.324=1.974.752.746 Định phí sẽ phân bổ như sau: Chi phí sản xuất chung cố định được tính vào giá thành theo mức sản xuất công suất bình thường =550/700*3.750.981.133=2.947.199.461.Vậy chi phí tính vào giá vốn hàng bán mà không phải tính vào giá thành là : 3.750.981.133-2.947.199.461=803.781.361 ✔ Chi phí sản xuất chung phân bổ cho AT của phần Định Phí tính vào giá thành =(Số lượng sản phẩm AT/Tổng sổ lượng sản phẩm hoàn thành)*Chi phí sản xuất chung=(400)/(550)*2.947.199.461=2.143.417.790 ✔ Chi phí sản xuất chung phân bổ cho MT của phần Định Phí tính vào giá thành =2.947.199.461-2.143.417.790=803.781.671Bước 4: Đánh giá sản phẩm dở dang cuối tháng theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. +Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ của AT theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp =(Chi phí nguyên vật liệu đầu kỳ+Chi phí nguyên vật liệu phát sinh trong kỳ)/(Số lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ+Số lượng sản phẩm dở dang cuối)*Số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ kỳ)=(0+45.912.312.956)/(515+4)*4=(45.912.312.956)/(519)*4=353.852.124 +Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ của MT theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp =(Chi phí nguyên vật liệu đầu kỳ+Chi phí nguyên vật liệu phát sinh trong kỳ)/(Số lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ+Số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ)*Số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ. =(0+16.402.683.568)/(206+2)*2=157.718.112Bước 5: Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp vào từng sản phẩm Nợ 154 Xe AT: 1.034.751.621 Nợ 154 Xe MT: 413.900.648 Có 622 AT: 1.034.751.621 Có 622 MT: 413.900.648Bước 6: Tập hợp chi phí sản xuất chung vào từng sản phẩmBiến phí Nợ 154 Xe AT: 5.171.971.479 Nợ 154 Xe MT: 2.068.788.591 Có 627 (Vật tư phụ, chi phí điện, nước….) AT: 5.171.971.479 Có 627 (Vật tư phụ,chi phí điện, nước….) MT: 2.068.788.591

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hình Chiếu Trong Toán Học Là Gì? trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!