Đề Xuất 12/2022 # Gợi Ý Cách Viết Một Bài Báo Khoa Học – Cổng Đào Tạo Sau Đại Học – Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự / 2023 # Top 14 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 12/2022 # Gợi Ý Cách Viết Một Bài Báo Khoa Học – Cổng Thông Tin Đào Tạo Sau Đại Học – Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Gợi Ý Cách Viết Một Bài Báo Khoa Học – Cổng Đào Tạo Sau Đại Học – Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự / 2023 mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Gợi ý cách viết một bài báo khoa học

Nghiên cứu khoa học là một hoạt động có tổ chức và logic, do vậy viết báo cáo cũng phải có tổ chức và logic.

Bài viết nầy cung cấp các tiến trình và kỹ thuật cơ bản để thực hiện một bài báo về kết quả nghiên cứu. Hy vọng rằng các nội dung được giải thích trong bài viết có thể giúp bạn cải thiện kỹ năng trong việc viết một bài báo khoa học.

1 Viết bài báo khoa học

2 Các câu hỏi đầu tiên

Trước khi viết bài báo khoa học bạn cần tự hỏi mình các câu hỏi sau:

– Nghiên cứu của bạn đã đủ sâu chưa để viết bài báo?

– Đây là bài báo cần xuất bản để thông tin kết quả nghiên cứu cho mọi người?

3 Các đặc điểm của một bài báo khoa học tốt

– Trình bày chính xác về kết quả nghiên cứu.

– Viết rõ ràng và dễ hiểu.

– Tuân theo kiểu trình bày chuyên biệt về kiến thức khoa học.

– Không sử dụng từ ngữ khó hiểu hay thông tục.

– Không sử dụng kết quả nghiên cứu (chưa xuất bản) của người khác khi chưa được sự đồng ý (đây là một lỗi lầm rất nghiêm trọng).

4 Các phần của một bài báo

Một bài báo khoa học mẫu bao gồm các thành phần sau đây, được liệt kê theo thứ tự xuất hiện trong bài viết:

– Tựa đề (Title): Đây là tên của bài báo, cần ngắn gọn và phù hợp để chú dẫn (indexing).

– Tác giả (Authors): Liệt kê tên người thực hiện nghiên cứu và viết bài báo.

– Địa chỉ thư tín (Postal address): Địa chỉ đầy đủ của tác giả để người đọc có thể liên hệ được.

– Tóm lược (Abstract): Mô tả vắn tắt vấn đề và kết quả.

– Giới thiệu (Introduction): Cho biết vấn đề nghiên cứu là vấn đề gì và giới thiệu các thông số nghiên cứu.

– Vật liệu và phương pháp (Materials and methods): Bạn đã nghiên cứu vấn đề như thế nào, phải trình bày như thế nào để người khác có khả năng lập lại nghiên cứu của bạn.

– Kết quả (Results): Bạn đã tìm được kết quả gì, trình bày số liệu.

– Tài liệu tham khảo (References): Liệt kê các tác giả, năm xuất bản và tên tài liệu,… mà bạn đã tham khảo để phát biểu trong bài báo.

5 Các hướng dẫn cho các phần của một bài báo

5.1 Tên đề tài (Title)

Tên đề tài là phần được đọc nhiều nhất vì các lý do: các nhà nghiên cứu khác đọc nó khi lướt qua nội dung của một tạp chí và thông qua việc tìm kiếm tài liệu từ các nguồn thông tin thứ cấp thường ghi tên đề tài và tên tác giả. Tên đề tài có thể được lưu trữ trong thư mục về cơ sở dữ liệu, chú dẫn và được trích dẫn trong các bài báo khác. Tên đề tài có thể giúp các nhà nghiên cứu tìm kiếm các thông tin quan trọng. Một tên đề tài tốt cần:

– Chứa ít từ ngữ nếu có thể được. Bỏ các từ không cần thiết, thí dụ: Một số chú ý trên…., Các quan sát trên…. để làm tên đề tài được cô đọng. Nhiều tạp chí yêu cầu tối đa 25 từ.

– Tên đề tài phản ánh chính xác về nội dung bài viết và dễ hiểu, tránh dùng chữ viết tắt, công thức và từ ngữ khó hiểu. Sử dụng những từ ngữ quan trọng nhất, đặt chúng trước tiên trong tên đề tài.

– Hạn chế sử dụng động từ (verb).

– Bao gồm các từ khóa (keywords) quan trọng nếu có thể được vì chúng sẽ được sử dụng cho chú dẫn và tìm kiếm qua mạng.

– Tuân theo kiểu định dạng bài báo của nơi bạn định xuất bản.

5.2 Tác giả (Authors)

– Tên tác giả cần ghi đầy đủ, không sử dụng tên viết tắt.

– Chỉ ghi tên người thật sự là tác giả có tham gia viết bài.

– Ghi theo thứ tự tên tác giả đóng góp quan trọng trong bài báo.

– Ghi chú địa chỉ của tác giả theo định dạng của nhà xuất bản.

– Tên tác giả ghi đầu tiên là tác giả chính (senior author), thứ tự các tên tác giả tiếp theo được ghi tùy theo mức độ đóng góp quan trọng cho nghiên cứu. Người hướng dẫn, cố vấn cho nghiên cứu, và đôi khi một trưởng phòng thí nghiệm hay trưởng cơ quan nghiên cứu muốn được ghi vào nhóm tên tác giả thì vị trí thích hợp nhất là tên tác giả cuối cùng.

– Những người chỉ tiếp thu thập số liệu hoặc giúp đỡ thực hiện thí nghiệm thì ghi trong phần cảm tạ.

5.3  Tóm tắt (Abstract)

Tóm tắt cần được viết theo kiểu khẳng định hơn là kiểu mô tả, do vậy nó trình bày sự thật hơn là viết chung chung.  Một tóm lược tốt cần phải:

– Ngắn gọn, khoảng 200-250 từ (tiếng Anh), khoảng 350-400 từ (tiếng Việt, khoảng 1/2 trang A4), thông thường là một đoạn văn (paragraph).

– Tóm tắt mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp sử dụng, các kết quả chính bao gồm bất kỳ phát hiện mới nào, các kết luận chủ yếu và ý nghĩa của chúng.

– Không ghi lược khảo theo tên bảng, hình vì bảng và hình chỉ xuất hiện trong nội dung bài viết mà thôi.

– Không sử dụng các chữ viết tắt ngoại trừ chúng là những thuật ngữ tiêu chuẩn hoặc đã được giải thích.

– Không ghi tên tác giả và tài liệu tham khảo.

– Không ghi bất kỳ thông tin hoặc kết luận nào nằm ngoài nội dung bài viết.

– Không ghi các phát biểu tổng quát hoặc tóm tắt, phải ghi các kết quả tìm được một cách rõ ràng.

– Từ khóa (keywords): Các từ khóa được liệt kê độc lập bên dưới tóm tắt, khoảng 3-5 từ. Tất cả các từ khóa phải hiện diện trong phần tóm tắt.

5.4  Giới thiệu (Introduction)

Một giới thiệu tốt cần tương đối ngắn gọn, để nói tại sao người đọc cần chú ý đến bài báo, tại sao tác giả thực hiện nghiên cứu và cung cấp kiến thức cần thiết cho người đọc để hiểu và nhận xét bài báo.

– Trình bày các tính chất và phạm vi của các vấn đề đã được nghiên cứu.

– Giải thích các mục tiêu và các phương pháp nghiên cứu, khảo sát được bao gồm.

– Định nghĩa bất kỳ các thuật ngữ chuyên biệt hoặc chữ viết tắt sẽ được sử dụng sau đó trong bài viết.

– Cần phát biểu một cách logic và rõ ràng về giả thiết hoặc nguyên lý nghiên cứu.

– Phần giới thiệu không nên viết quá hai trang đánh máy.

5.5  Vật liệu và phương pháp (Materials and Methods)

Cách đơn giản nhất để viết phần nầy là trình bày theo trình tự. Bạn cần cung cấp tất cả thông tin cần thiết để những người nghiên cứu khác nhận xét được nghiên cứu của bạn hoặc có thể lập lại thí nghiệm của bạn. Các nội dung gồm có:

– Thời gian và địa điểm thực hiện nghiên cứu.

– Mô tả đầy đủ chi tiết bố trí thí nghiệm (kiểu bố trí, nghiệm thức, lập lại,…).

– Mô tả chính xác các đối tượng đã được sử dụng trong nghiên cứu (thí dụ: giống, dòng, tuổi cây,…).

– Nêu chi tiết kỹ thuật, khối lượng, nguồn gốc và phương pháp chuẩn bị các vật liệu đã được sử dụng. Nên sử dụng tên Latin, tên hóa học, khô;.

Chú ý:

– Không được mơ hồ về tên, chữ viết tắt.

– Tất cả khối lượng sử dụng phải ghi theo đơn vị tiêu chuẩn.

– Tất cả hóa chất phải được nhận biết rõ ràng để những người nghiên cứu khác có thể sử dụng lập lại thí nghiệm của bạn.

– Mỗi bước thí nghiệm phải được nêu rõ, cho biết số lần lập lại.

– Không được đưa vào bất kỳ điều gì không liên hệ đến kết quả nghiên cứu.

– Không trình bày các chi tiết không cần thiết vì có thể làm người đọc nhầm lẫn.

5.6  Kết quả (Results)

Đây là phần cốt lỏi của bài báo. Cách dễ nhất là trình bày các kết quả tương ứng theo trình tự của các mục tiêu đã được nêu trong phần giới thiệu (Introduction).

– Phát biểu đơn giản và rõ ràng.

– Báo cáo số liệu trung bình cùng với sai số chuẩn (standard error) hoặc độ lệch chuẩn (standard deviation) hay kết quả từ phân tích thống kê.

– Trình bày số liệu trong bảng hoặc hình, không trình bày lập lại số liệu trong phần viết. Chỉ nhắc lại số liệu đã được trình bày trong bảng hoặc hình đối với các số liệu quan trọng nhất. Cùng một nội dung số liệu thì chọn trình bày bằng hình hoặc bảng, không trình bày cả hai.

– Có thể trình bày số liệu không có ý nghĩa thống kê nếu như chúng có ảnh hưởng đến việc giải thích kết quả.

– Đánh số tất cả bảng và hình theo thứ tự.

– Chỉ nên trình bày những bảng và hình cần thiết, rõ ràng và có giá trị.

– Cần tránh: Số liệu lập đi lập lại; số liệu không có ý nghĩa thống kê không cần thiết; các bảng và hình không cần thiết; các từ ngữ không cần thiết.

– Không lập lại những gì đã đề cập trong phần lược khảo tài liệu.

– Liên hệ các kết quả với các câu hỏi được đặt ra trong phần giới thiệu.

– Cho thấy kết quả và giải thích phù hợp với nhau như thế nào hoặc không đồng ý như thế nào với kết quả trong các tài liệu đã công bố trước đó.

– Chỉ ra ý nghĩa của kết quả nghiên cứu.

Chú ý:

– Bám sát các mục tiêu nghiên cứu.

– Tuân theo trình tự của các mục tiêu nghiên cứu.

– Tránh các chi tiết không cần thiết hoặc lập lại thông tin từ những phần trước đó.

– Giải thích kết quả và đề nghị hàm ý hoặc ý nghĩa của chúng.

5.8  Kết luận và đề nghị (Conclusions and recommendation)

– Chọn phát biểu các kết luận quan trọng nhất với các luận cứ rõ ràng cho từng kết luận.

– Không trình bày lập lại các số liệu của kết quả.

– Đề xuất nghiên cứu trong tương lai tiếp theo kết quả đã đạt được hoặc đề nghị áp dụng kết quả nếu nghiên cứu có kết quả thật thuyết phục.

5.9  Cảm tạ (Acknowledgements)

Trong bài báo có thể có hay không có phần cảm tạ. Nếu có, trong phần nầy bạn có thể ghi lời cám ơn cơ quan hoặc cá nhân đã giúp bạn một cách có ý nghĩa trong việc thực hiện thí nghiệm. Đó có thể là nơi cung cấp kinh phí, phòng thí nghiệm cung cấp vật liệu, phương tiện nghiên cứu; có thể là người cho các lời khuyên khi thực hiện thí nghiệm, người giúp đọc và góp ý cho bài báo.

5.10 Tài liệu tham khảo (References)

Liệt kê đầy đủ các tài liệu tham khảo mà các nội dung của chúng đã được trích dẫn trong bài viết. Không ghi dư các tài liệu không được trích dẫn.

Nguồn: www.agu.edu.vn

Học Viện Quân Y, Biên Phòng, Kỹ Thuật Quân Sự Chỉ Xét Tuyển Nguyện Vọng 1 / 2023

Năm nay, duy nhất Trường Sĩ quan Không quân tuyển sinh trình độ cao đẳng với 70 chỉ tiêu.

Ảnh ĐH

Học viên Quân y nhiều tiêu chí phụ

Năm 2021, Học viện Quân y xét tuyển trên cơ sở kết quả của kỳ thi tốt nghiệp THPT. Thí sinh đăng ký và dự kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021 theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT).

Thí sinh đăng ký xét tuyển vào hệ đại học quân sự phải qua sơ tuyển, có đủ tiêu chuẩn quy định của Bộ Quốc phòng (thanh niên ngoài quân đội sơ tuyển tại Ban Tuyển sinh quân sự cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; quân nhân tại ngũ sơ tuyển tại Ban Tuyển sinh quân sự cấp trung đoàn và tương đương).

Trong xét tuyển đợt 1, học viện chỉ xét tuyển đối với các thí sinh đăng ký nguyện vọng 1 (nguyện vọng cao nhất) vào trường theo đúng tổ hợp xét tuyển của trường.

Về điểm chuẩn, Học viện Quân y thực hiện một điểm chuẩn chung giữa tổ hợp xét tuyển A00 và tổ hợp xét tuyển B00. Điểm trúng tuyển tính theo chỉ tiêu cho các đối tượng nam, nữ và khu vực phía Nam, phía Bắc.

Trường hợp xét tuyển đến một mức điểm nhất định vẫn còn chỉ tiêu, nhưng số thí sinh cùng bằng điểm cao hơn số lượng chỉ tiêu còn lại, thực hiện xét tuyển theo các tiêu chí phụ.

Năm 2021, trường cũng thông báo sẽ tuyển 12 chỉ tiêu đi đào tạo ở nước ngoài.

Học viện Kỹ thuật quân sự tuyển 430 chỉ tiêu khu vực phía Bắc, 231 chỉ tiêu cho khu vực phía Nam.

Theo Ban tuyển sinh Bộ Quốc phòng, năm 2021, Học viện Kỹ thuật quân sự xét tuyển trên cơ sở kết quả của Kỳ thi tốt nghiệp THPT. Thí sinh đăng ký và dự kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021 theo quy định của Bộ GD&ĐT.

Thí sinh đăng ký xét tuyển vào hệ đại học quân sự phải qua sơ tuyển, có đủ tiêu chuẩn quy định của Bộ Quốc phòng (thanh niên ngoài quân đội sơ tuyển tại Ban Tuyển sinh quân sự cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; quân nhân tại ngũ sơ tuyển tại Ban Tuyển quân sự cấp trung đoàn và tương đương).

Học viện tuyển thí sinh nam, nữ trong cả nước (63 tỉnh, thành phố).

Sau khi có kết quả Kỳ thi tốt nghiệp THPT, thí sinh đã nộp hồ sơ sơ tuyển vào học viện được điều chỉnh nguyện vọng đăng ký xét tuyển (nguyện vọng 1) trong nhóm các trường gồm: Học viện Quân y, Học viện Khoa học quân sự, Học viện Phòng Không – Không quân (hệ Kỹ sư hàng không) theo đúng vùng miền và đối tượng tuyển sinh.

Trong xét tuyển đợt 1, học viện chỉ xét tuyển đối với các thí sinh đăng ký nguyện vọng 1 (nguyện vọng cao nhất) vào trường theo đúng tổ hợp xét tuyển của trường. Thực hiện một điểm chuẩn chung giữa tổ hợp xét tuyển A00 và tổ hợp xét tuyển A01.

Điểm trúng tuyển xét theo chỉ tiêu cho các đối tượng nam, nữ và khu vực phía Nam, phía Bắc. Trường hợp xét tuyển đến một mức điểm nhất định vẫn còn chỉ tiêu, nhưng số thí sinh cùng bằng điểm cao hơn số lượng chỉ tiêu còn lại, thực hiện xét tuyển theo các tiêu chí phụ,

Khi có hướng dẫn về tuyển thẳng và ưu tiên xét tuyển của Ban Tuyển sinh quân sự Bộ Quốc phòng, học viện sẽ công bố các tiêu chí tuyển thẳng và ưu tiên xét tuyển.

Năm nay, Học viện Kỹ thuật quân sự tuyển 105 chỉ tiêu đi đào tạo ở nước ngoài và 6 chỉ tiêu đi đào tạo các trường ngoài quân đội.

Học viện Biên phòng chỉ tuyển thí sinh nam

Năm 2021, Học viện Biên phòng tuyển 202 chỉ tiêu dành cho thí sinh nam trong cả nước. Đặc biệt, năm nay nhà trường tuyển 2 chỉ tiêu đi đào tạo ở nước ngoài.

Phương thức tuyển sinh năm 2021 của Học viện Biên phòng là xét tuyển trên cơ sở kết quả của Kỳ thi tốt nghiệp THPT. Thí sinh đăng ký và dự Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021 theo quy định của Bộ GD&ĐT.

Thí sinh đăng ký xét tuyển vào hệ đại học quân sự của Học viện Biên phòng phải qua sơ tuyển, có đủ tiêu chuẩn quy định của Bộ Quốc phòng (thanh niên ngoài Quân đội sơ tuyển tại Ban Tuyển sinh quân sự cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; quân nhân tại ngũ sơ tuyển tại Ban Tuyển sinh quân sự cấp trung đoàn và tương đương).

Sau khi có kết quả Kỳ thi tốt nghiệp THPT, thí sinh đã nộp hồ sơ sơ tuyển vào học viện được điều chỉnh nguyện vọng đăng ký xét tuyển (nguyện vọng 1) trong nhóm các trường gồm: Học viện Hậu cần, Học viện Hải quân, Học viện phòng không – không quân (hệ Chỉ huy tham mưu) và các trường sĩ quan: Lục quân 1, Lục quân 2, Chính trị, Đặc công, Pháo binh, Tăng Thiết giáp, Phòng hóa, Thông tin, Công binh theo đúng vùng miền và đối tượng tuyển sinh.

Trong xét tuyển đợt 1, Học viện Biên phòng chỉ xét tuyển đối với các thí sinh đăng ký nguyện vọng 1 (nguyện vọng cao nhất) vào trường theo đúng tổ hợp xét tuyển của trường.

Điểm trúng tuyển theo chỉ tiêu của tổ hợp xét tuyển và theo khu vực, cụ thể: Phía Bắc từ tỉnh Quảng Bình trở ra; phía Nam từ tỉnh Quảng Trị trở vào, xác định đến từng quân khu.

Trường hợp xét tuyển đến một mức điểm nhất định vẫn còn chỉ tiêu, nhưng số thí sinh cùng bằng điểm cao hơn số lượng chỉ tiêu còn lại, thực hiện xét tuyển theo các tiêu chí phụ.

Chỉ tiêu tuyển thẳng học sinh giỏi, ưu tiên xét tuyển không quá 05% và chỉ tiêu tuyển thẳng thí sinh diện 30a không quá 0,3% tổng chỉ tiêu của từng miền hoặc từng quân khu.

Khi có hướng dẫn về tuyển thẳng và ưu tiên xét tuyển của Ban Tuyển sinh quân sự Bộ Quốc phòng, học viện sẽ công bố chỉ tiêu và các tiêu chí tuyển thẳng, ưu tiên xét tuyển; chỉ tiêu tuyển thẳng và ưu tiên xét tuyển sẽ trừ vào chỉ tiêu tuyển sinh.

Cách Viết Một Bài Báo Khoa Học (Phần 2) / 2023

Đây là loạt bài hướng dẫn viết một bài báo khoa học (Cơ bản nhất) được copy từ trang web của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn. BTC Giải thưởng Khoa học Euréka xin giới thiệu để các bạn tham khảo. Xin gửi lời xin phép tới giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, chúc GS mạnh khoẻ và công tác tốt.

Tuần qua tôi đã bàn về cách đặt tựa đề bài báo và các viết một abstract; tuần này, tôi sẽ chỉ cách viết phần dẫn nhập (introduction hay background).  Phần dẫn nhập là phần tương đối quan trọng, vì nó nói lên kiến thức của tác giả đến đâu trong chuyên ngành.  Người kinh nghiệm chỉ cần đọc qua phần dẫn nhập có thể đánh giá sơ qua về khả năng của tác giả đến đâu, có cập nhật hóa kiến thức như thế nào, và kĩ năng viết lách ra sao (chỉ nhìn qua cách dùng thuật ngữ là có thể đoán được).

Do đó, tác giả cần phải nhân cơ hội viết phần dẫn nhập để thuyết phục người đọc và chứng minh cho họ thấy rằng mình cũng “biết câu chuyện”.  Tôi sẽ lấy vài ví dụ để minh họa cho phần này, và để giữ khách quan, tôi sẽ không nêu tên tác giả.

Dẫn nhập (introduction)

Trong phần này, tác giả cẩn phải trả lời câu hỏi “Tại sao làm nghiên cứu này?” (Why did you do this study?)  Phần dẫn nhập phải cung cấp những thông tin sau đây: (a) định nghĩa vấn đề; (b) những gì đã được làm để giải quyết vấn đề; (c) tóm lược những kết quả trước đã được công bố trong y văn; (d) và mục đích của nghiên cứu này là gì.

Đối với các tập san y khoa lớn và tổng quát (như New England Journal of Medicine, JAMA, Annals of Internal Medicine,v.v…) thì định nghĩa vấn đề rất quan trọng, bởi vì độc giả khác ngành có thể nắm được vấn đề và biết được tác giả đứng trên góc độ nào.  Chẳng hạn như một nghiên cứu về gene và loãng xương, thì đoạn đầu tiên có thể nên (a) định nghĩa loãng xương là gì (vì nhiều người vẫn chưa rành), (b) tầm quan trọng của loãng xương ra sao (câu này để nhấn mạnh đây là vấn đề lớn, và vì lớn nên phải công bố trên các tập san lớn!)  Chẳng hạn như, tác giả có thể viết “Osteoporosis is a disease characterized by low bone mass and deteriorated bone architecture which ultimately lead to increased susceptibility of fragility fracture.”  Câu kế tiếp sẽ nói tầm quan trọng của gãy xương như thế nào, như tăng nguy cơ tử vong, tái gãy xương, giảm chất lượng cuộc sống, v.v… Nhưng đối với các tập san chuyên ngành loãng xương và nội tiết, thì câu định nghĩa trên có khi … khôi hài.  Khôi hài là vì đại đa số độc giả các tập san đó đều biết loãng xương là gì, và họ sẽ thấy khó chịu nếu tác giả “lên lớp” họ về một định nghĩa sơ đẳng!  Thông thường, những tác giả viết câu định nghĩa trong các tập san chuyên ngành là nghiên cứu sinh, chứ chuyên gia cấp cao hơn không ai viết như thế.

Trong phần dẫn nhập, tác giả cần phải nêu cho được tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu.  Để nêu tầm quan trọng, tác giả có thể trình bày những thông tin như tần số của bệnh (prevalence) trong cộng đồng, hệ quả của bệnh đến nguy cơ tử vong, tăng nguy cơ mắc các bệnh khác (biến chứng), ảnh hưởng của bệnh đến nền kinh tế nước nhà, giảm chất lượng cuộc sống.  Chẳng hạn như câu “In postmenopausal women, one in three women will sustain a fragility fracture during their remaining lifetime” là một cách nêu lên qui mô của vấn đề gãy xương; nhưng để nêu hệ quả thì có thể viết một câu khác như “Fragility fracture is associated with increased risk of pre-mature mortality” (câu này nhấn mạnh “pre-mature mortality”, tức là chết sớm!) nên sẽ gây chú ý.

Phần lớn những ý tưởng trong phần dẫn nhập xuất phát từ y văn, tức những công trình đã công bố trước đây.  Khi điểm qua y văn, nên giới hạn trong những nghiên cứu đã công bố trong vòng 5 năm trở lại đây, tránh những nghiên cứu đã trên 20 năm hay tránh những thông tin trong sách giáo khoa vì có thể những thông tin như thế không còn hợp thời nữa. Tuy trình bày thông tin quá khứ, nhưng phải là những câu chữ của chính tác giả, chứ không phải trích dẫn quá nhiều hay lặp lại câu chữ của người đi trước.  Tất cả những thông tin trong phần dẫn nhập phải ăn khớp với tài liệu tham khảo.  Tác giả nên có những tài liệu tham khảo đó, chứ không nên trích dẫn theo những những bài báo trong y văn (secondary citation).

Cách viết

Về mặt cấu trúc, phần dẫn nhập bao gồm một số đoạn văn không cần tiêu đề (heading).  Tuy nhiên, để viết tốt phần dẫn nhập, kinh nghiệm của tôi cho thấy cần phải chú ý đến một số điểm căn bản sau đây: 

(a) Không nên viết quá dài.  Viết quá dài rất dễ làm cho người đọc sao lãng vấn đề chính, và có khi làm mất thì giờ người đọc phải đọc những thông tin không cần thiết.

(c) Phần dẫn nhập phải phát biểu mục đích nghiên cứu.  Đoạn văn cuối của phần dẫn nhập là nơi để tác giả, sau khi điểm qua vấn đề và y văn, phát biểu mục đích của công trình nghiên cứu.  Cố gắng duy trì nguyên tắc “từ tổng quan đến cụ thể”, tức là trong phần phát biểu vấn đề thì câu văn mang tính chung chung, nhưng phần mục đích thì phải cụ thể.  Trong nhiều trường hợp, trước phần mục đích, tác giả nên phát biểu giả thuyết nghiên cứu.  Chẳng hạn như “We hypothesize that blah blah blah”, rồi một câu kế tiếp “This study was designed to test the hypothesis by addressing the following specific aims: blah blah blah”.

(d) Về văn phạm, phần dẫn nhập nên viết bằng thì quá khứ, nhất là khi mô tả những kết quả trong quá khứ.  Tuy nhiên, khi đề cập đến những thông tin mang tính cổ điển mà được cộng đồng chuyên ngành chấp nhận, tác giả có thể dùng thì hiện tại.

Một vài ví dụ

Trong bài báo sau đây, tác giả viết phần dẫn nhập một cách ngắn gọn, chỉ 1 đoạn văn, nhưng cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết để bạn đọc biết vấn đề.

Fragility fracture is a serious public health problem, because it is prevalent in the elderly and is associated with increased risk of mortality [1]. Measurement of bone mineral density predicts subsequent risk of fractures among the elderly [2-4]. However, bone mineral density in later decades of life is a dynamic function of peak bone mass achieved during growth and its subsequent age-related rate of loss [5]. It has been estimated that over a lifetime, a typical woman loses about half of her trabecular bone and one third of her cortical bone [6], although some women experience greater loss than others.

It is not clear whether the rate of bone loss is an independent risk factor for osteoporotic fractures. We hypothesized that patients with excessive bone loss are at increased risk of fracture. The present study was designed to test the hypothesis by assessing the contribution of bone loss to the risk of osteoporotic fractures in elderly women

Câu đầu (Fragility fracture is a serious public health problem, because it is prevalent in the elderly and is associated with increased risk of mortality) tác giả định nghĩa vấn đề và cố gắng thuyết phục rằng gãy xương là vấn đề nghiêm trọng vì làm tăng nguy cơ tử vong.

Trong câu thứ hai (Measurement of bone mineral density predicts subsequent risk of fractures among the elderly) tác giả cho biết mật độ xương là một yếu tố tiên lượng gãy xương.

Hai câu kế tiếp (However, bone mineral density in later decades of life is a dynamic function of peak bone mass achieved during growth and its subsequent age-related rate of loss. It has been estimated that over a lifetime, a typical woman loses about half of her trabecular bone and one third of her cortical bone [4], although some women experience greater loss than others) tác giả cho biết mật độ xương thay đổi thay độ tuổi, và tùy thuộc vào hai thông số: mật độ xương tối đa trong thời “xuân thì”, và tỉ lệ mất xương sau thời kì mãn kinh.

Sau khi đặt vấn đề, tác giả phát biểu giả thuyết nghiên cứu (We hypothesized that patients with excessive bone loss are at increased risk of fracture), và mục đích nghiên cứu (The present study was designed to assess the contribution of bone loss to the risk of osteoporotic fractures in elderly women.)

Đây là một dẫn nhập có thể nói là rất logic, vì ý tưởng nối kết nhau.  Câu văn đầu cho đến câu văn cuối là một vòng tròn khép kín.  Có lẽ cái hay của tác giả là chỉ tóm gọn phần dẫn nhập trong một đoạn văn duy nhất với 114 từ!  Viết dẫn nhập ngắn gọn và súc tích như thế đòi hỏi kinh nghiệm chuyên môn tốt và cách dùng chữ một cách chiến lược.

Nhưng nếu chúng ta xem xét phần dẫn nhập sau đây:

It is well recognised that nonsocomial infection is associated with an increase in morbidity and mortality together with a significant economic cost [1]. Patients in Intensive Care units develops nonsocomial infections more frequently than other hospitalised patients [2]. This is a result of severity of illness, multiple exposure to invasive procedures and multiple therapies [3]. Patients in surgical and orthopaedic wards are also at a high risk of developing nonsocomial infections. These patients are exposed to various invasive procedures (including surgical wounds) which may be similar to those in ICU. Because of the expected differences in the nature of risk factors, patients’ illnesses in the therapeutic and infection control measures in the above wards, it was necessary to conduct a study to assess the nonsocomial infection rates.

In the development of contemporary mathematics in Vietnam complex analysis occupies a special place. In this note we give a brief survey of the development of complex analysis in Vietnam. We describe how complex analysis in Vietnam developed under very special conditions: the anti-French resistance, the struggle for the reunification of the country, the American war, the economic crisis, and the change toward a market economy.

Đứng trên quan điểm viết báo khoa học, phần dẫn nhập này chưa đạt.  Tạm bỏ qua những sai sót về tiếng Anh và văn phạm tiếng Anh (khá hiển nhiên), có thể thấy rằng các câu văn không mang tính nối tiếp và khúc chiếc.  Trong câu văn đầu, tác giả không nêu vấn đề là gì, mà đi thẳng vào vị trí đặc biệt của complex analysis ở Việt Nam.  Nhưng câu thứ hai thì không thấy tac giả nói “đặc biệt” như thế nào; thay vào đó, tác giả giới thiệu nội dung bài viết!  Đến câu thứ 3 thì chúng ta mới biết “đặc biệt” là gì (là phát triển trong bối cảnh chiến tranh).  Nói cách khác, phần dẫn nhập này chưa đạt, vì chưa nói lên được vấn đề, chưa trả lời câu hỏi tại sao phải có bài báo này.  Cách trình bày ý tưởng cũng chưa mạch lạc.  Nên tránh cách viết này.

Có người nghĩ rằng chỉ cần viết ngắn gọn, nhưng đối với “văn chương khoa học” thì tôi nghĩ quan điểm đó không đúng.  Viết phần dẫn nhập quá ngắn làm cho người đọc cảm nhận rằng tác giả thiếu suy nghĩ sâu, thiếu ý tưởng, hay thiếu thông tin (nên chẳng biết viết/nói gì thêm).  Viết dài quá thì độc giả lại nghĩ tác giả có lẽ do thiếu ý tưởng nên cố tình kéo dài câu chuyện!  Do đó, cách viết dẫn nhập tốt nhất là vừa đủ, không qúa dài và cũng không quá ngắn.  Theo kinh nghiệm của tôi, phần dẫn nhập của một bài báo y khoa chỉ nên giới hạn trong vòng 1 trang A4.  Điều quan trọng nhất là sau khi đọc xong phần dẫn nhập, người đọc biết được tầm quan trọng của nghiên cứu, và tại sao tác giả làm nghiên cứu.  Được như thế thì có thể xem như tác giả đã “đạt” được một mục tiêu của mình: đó là làm cho người đọc phải đọc phần kế tiếp (phần Phương pháp).

Học Viện Quân Y – Hệ Quân Sự Tuyển Sinh 2022 / 2023

Học Viện Quân Y – Hệ Quân sự là một trường đại học trọng điểm ngành y tế quân sự. Đây là trường đại học nghiên cứu,  đào tạo dược sĩ, bác sĩ, y sĩ chất lượng cho quân đội, dân sự Việt Nam.

1. Chi tiết điểm chuẩn học viện quân Y năm 2021

Bạn mơ ước được làm quân y mặc chiếc áo blouse, đó là ngành nghề thật cao quý. Vậy bạn đã tìm hiểu xem làm sao để học được ở ngôi trường danh giá chưa? Chính sách của Học Viện quân y hệ quân sự như thế nào? Bạn có đủ tiêu chuẩn không? Qua bài viết dưới sẽ giúp bạn trả lời mọi thắc mắc.

1.1 TÌM HIỂU VỀ HỌC VIỆN QUÂN Y.

Học viện Quân y là một trường đại học trọng điểm ngành y tế quân sự quốc gia Việt Nam trực thuộc Bộ Quốc phòng. Trường nghiên cứu và đào tạo bác sĩ, dược sĩ, y sĩ trình độ từ trung cấp, đại học, sau đại học cho quân đội và dân sự của nước Việt Nam.

1.2 CÁC LOẠI HÌNH ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG.

Hệ 6 năm bác sĩ đa khoa dài hạn.                   

Hệ 4 năm bác sĩ đa khoa ngắn hạn.

Hệ 4 năm bác sĩ Y học cổ truyền .

Hệ 5 năm dược sĩ Đại học dài hạn.

Hệ 3 năm Cao đẳng điều dưỡng.

Hệ 3 năm Cao đẳng kỹ thuật y học .

Dự bị đại học 1 năm.

1.3 CHỈ TIÊU XÉT TUYỂN.

Tổng chỉ tiêu tuyển sinh khoảng 330, vẫn tuyển sinh hai tổ hợp xét tuyển là A00; B00.

Tổ hợp thi tuyển:

Toán, Hóa, Sinh

Toán, Lý, Hóa

Tuyển thí sinh nam, nữ ở 63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Điểm trúng tuyển theo chỉ tiêu cho các đối tượng nam, nữ thuộc khu vực phía Nam, phía Bắc.

1.4 ĐIỂM CHUẨN NĂM 2021

Nếu điểm thi của bạn 30 điểm bạn sẽ đỗ tất cả các ngành trong Học viện quân y. Điểm trung bình để đỗ vào Học viện quân sự từ 23- 27 điểm.

2. HÌNH THỨC XÉT TUYỂN HỌC VIỆN QUÂN Y.

Có 2 hình thức xét tuyển là hệ quân sự và hệ dân sự.

2.1 HỌC VIỆN QUÂN Y HỆ DÂN SỰ:

Hệ dân sự sinh viên đóng học phí bình thường như các trường dân sự khác. Ra trường làm việc ở các bệnh viện dân sự.

Chỉ tiêu xét tuyển thẳng của hệ dân sự ít hơn hệ quân sự.

2.2 HỌC VIỆN QUÂN Y HỆ QUÂN SỰ:

Bạn được ăn ở học tập và rèn luyện theo chế độ quân đội khi trúng tuyển. Hệ quân sự sinh viên không phải đóng bất kỳ tiền gì.

Ra trường được phân công công tác đến các đơn vị quân đội trong toàn quân và được phong hàm sĩ quan.

2.3 TIÊU CHUẨN XÉT TUYỂN.

Theo quy định của Bộ Quốc phòng, thí sinh dự thi tầm độ tuổi từ 17-23 tuổi. Yêu cầu về sức khỏe:

Đạt loại 1 đủ 5 chỉ tiêu: Nội, ngoại, tâm thần kinh, da liễu-hoa liễu, tai-mũi-họng.

Tiêu chuẩn nữ giới cao 1,54m trở lên; nặng 48kg trở lên.

Tiêu chuẩn nam giới cân nặng từ 50 kg trở lên, chiều cao từ 1m63 trở lên.

Tối đa học viên đạt sức khoẻ loại 2 về răng.

Học viên có tật khúc xạ cận thị hoặc viễn thị phải dưới 3 điốp; thị lực qua kính đạt 10/10; tổng thị lực hai mắt 19/10.

Ta thấy để được xét tuyển hệ quân sự phải trải qua các tiêu chí khắt khe về ngoại hình, sức khỏe hay học lực. Nếu bạn thực sự giỏi và đủ tiêu chí bạn sẽ dễ dàng vào được Học viện quân y hệ quân sự.

2.4 THỦ TỤC ĐĂNG KÝ DỰ THI.

Tất cả thí sinh muốn dự thi vào các hệ quân đội đều phải qua sơ tuyển tại Ban chỉ huy quân sự địa phương:

– Đối với thanh niên ngoài quân đội ở: quận, huyện, thị xã, nơi bạn đăng ký hộ khẩu thường trú.

– Đối với quân nhân tại đơn vị.

Hồ sơ đăng ký dự tuyển theo quy định, hướng dẫn của Ban tuyển sinh Quân sự quận, huyện, thị, đơn vị.

3. XÉT TUYỂN HỌC VIỆN QUÂN Y HỆ QUÂN SỰ VÀ DÂN SỰ:

3.1 ĐỐI TƯỢNG XÉT TUYỂN THẲNG:

– Với các Anh hùng – Chiến sĩ thi đua được Nhà nước ban tặng danh hiệu toàn quốc đã tốt nghiệp THPT.

– Thí sinh tham dự kỳ thi chọn đội tuyển cấp quốc gia đã tốt nghiệp THPT thì được xét tuyển thẳng. Vào trường theo ngành phù hợp với nội dung đề tài dự thi của mình. Thí sinh trong đội tuyển quốc gia dự các cuộc thi quốc tế nếu chưa tốt nghiệp sẽ được bảo lưu kết quả đến hết năm tốt nghiệp THPT.

– Đối với cấp Quốc gia thí sinh đoạt giải Nhất, Nhì, Ba được xét tuyển thẳng hệ quân sự và hệ dân sự . Vào trường theo ngành phù hợp với môn thi hoặc nội dung đề tài dự thi mà thí sinh đã đoạt giải.

3.2 ĐỐI TƯỢNG XÉT TUYỂN ƯU TIÊN:

– Đối với thí sinh đoạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia đã tốt nghiệp trung học và dựa vào kết quả thi THPT quốc gia. Nếu đủ điểm và còn chỉ tiêu Giám đốc Học viện sẽ xem xét ưu tiên xét tuyển.

– Với thí sinh đoạt giải Nhất, Nhì, Ba môn Toán, Lý, Hóa thi học sinh giỏi quốc gia THPT. Thí sinh được xét tuyển ưu tiên vào học ngành Y đa khoa Hệ quân đội và Dân sự .

– Còn đoạt giải Nhất, Nhì, Ba môn Toán, Lý trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia được ưu tiên xét tuyển vào học ngành Dược Hệ Dân sự.

Bảo lưu chế độ tuyển thẳng và ưu tiên xét tuyển theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Qua đây, ta thấy để được trong Học viện quân y hệ quân sự bạn phải thật giỏi. Còn với những bạn học lực kém hơn đó là điều khá khó khăn. Vậy các bạn nên có những phương án dự phòng an toàn hơn.

4.TRƯỜNG ĐÀO TẠO CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG – DƯỢC:

Nếu học lực của bạn không giỏi và cũng không đủ tiêu chí về thể lực để vào Học viện quân y. Bạn có thể lựa chọn Khoa Y Dược Hà Nội là cơ sở đào tạo:

Đại học điều dưỡng hệ đại học chính quy 4 năm.

Cao đẳng dược Hà Nội hệ cao đẳng chính quy 3 năm.

Với xét tuyển đầu vào thấp giúp các thí sinh có thể theo đuổi ngành y tế mình mơ ước. Mức học phí phù hợp với các bạn có gia đình khó khăn, theo quy định chung của Bộ.

Khoa Y Dược Hà Nội nằm ở trung tâm Hà Nội có bề dầy gần 20 năm kinh nghiệm đào tạo giảng dạy. Nhiều khóa sinh viên ra trường làm việc tại các bệnh viện, công ty ở Hà Nội.

Khoa luôn đặt tiêu chí hàng đầu đảm bảo đầu ra cho sinh viên có công việc với mức lương ổn định, hấp dẫn. Môi trường học tập được đánh giá tốt và nhận được nhiều sự ưu ái từ sinh viên và phụ huynh.

5. KHOA Y DƯỢC HÀ NỘI

Nếu bạn quân tâm đến ngành điều dưỡng hay dược có thể đăng ký nộp hồ sơ trực tiếp tại Khoa Y Dược Hà Nội :

Phòng tuyển sinh: Tôn Thất Tùng, Đống Đa, Hà Nội

Mọi thông tin liên hệ: Hotline: 024.85856989 – 19004773

Bạn đang đọc nội dung bài viết Gợi Ý Cách Viết Một Bài Báo Khoa Học – Cổng Đào Tạo Sau Đại Học – Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự / 2023 trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!