Đề Xuất 2/2023 # Đề Tài Hướng Dẫn Học Sinh Lớp 4, 5 Tự Học Thông Qua Mạng Internet # Top 10 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 2/2023 # Đề Tài Hướng Dẫn Học Sinh Lớp 4, 5 Tự Học Thông Qua Mạng Internet # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đề Tài Hướng Dẫn Học Sinh Lớp 4, 5 Tự Học Thông Qua Mạng Internet mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trả lời câu hỏi này, ngay từ khi nhận nhiệm vụ chủ nhiệm lớp 4A trường tiểu học Đray Sáp năm học 2014 – 2015. Tôi đã cố gắng dùng mọi khả năng và kinh nghiệm của mình để khơi dậy tinh thần ham học hỏi trong mỗi học sinh nhằm từng bước nâng cao chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao, học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động, tự học, tự tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện bản thân mình. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi mạnh dạn trình bày một vài kinh nghiệm “Hướng dẫn học sinh lớp 4,5 tự học thông qua mạng Internet”. I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Mục tiêu của SKKN này là hướng dẫn học sinh tự học, tự tìm tòi kiến thức thông qua mạng Internet nhằm tích cực hóa các hoạt động học tập của học sinh, làm cho các em có thể chủ động tiếp thu kiến thức, sôi nổi trong học tập nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học hiện nay. I.3. Đối tượng nghiên cứu – Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 4, 5 tự học thông qua mạng Internet. I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu. – Đội ngũ giáo viên và học sinh trường Tiểu học Dây Sáp, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk năm học 2014- 2015 – Nghiên cứu một số ứng dụng của công nghệ thông tin hữu ích trong việc tự học ở nhà của học sinh lớp 4,5. – Nghiên cứu thực trạng hướng dẫn kỹ năng tự học ở nhà cho học sinh của giáo viên, thực trạng tự học ở nhà của học sinh trường Tiểu học Drây Sáp. – Nghiên cứu để tìm ra hình thức tự học phù hợp với học sinh lớp 4,5 ở tất các môn học như: Tiếng Việt, Toán học, Khoa học, Lịch sử, Địa lý, Tiếng Anh I.5. Phương pháp nghiên cứu – Phương pháp điều tra – Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục – Phương pháp thực nghiệm: Áp dụng các giải pháp của đề tài để kiểm chứng kết quả. – Phương pháp phân tích – xử lý số liệu. II. Phần nội dung II.1. Cơ sở lý luận Việc sử dụng CNTT ở nước ta đã trở nên phổ biến và mang tính thường nhật. Trong học tập, Mạng internet có tác dụng mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp dạy và học. Nhờ đó mà học sinh hứng thú học tập hơn, kết quả là học sinh tiếp thu bài tốt hơn. Nâng cao quá trình tự học tự tìm hiểu kiến thức hướng đến sự học tập suốt đời. Chương trình ở bậc tiểu học có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản, phổ thông và thói quen làm việc khoa học. Góp phần hình thành ở học sinh các năng lực nhận thức và các phẩm chất, nhân cách mà mục tiêu giáo dục đã đề ra. Đặc biệt trong giai đoạn đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục như nghị quyết trung ương Đảng đề ra. Ứng dụng CNTT có thể đưa vào tất cả các môn học, đặc biệt là các môn có sử dụng nhiều tranh ảnh cho bài giảng. Trong 5 năm gần đây tôi đã mạnh dạn đưa ứng dụng CNTT vào dạy học ở lớp 4, 5. Tôi đã thiết kế được nhiều giáo án điện tử để đưa vào giảng dạy. Là giáo viên chủ nhiệm, trực tiếp giảng dạy, bồi dưỡng học sinh tham gia các hội thi ở trường tiểu học Đray Sáp. Qua nghiên cứu nội dung chương trình và quá trình học tập các môn học của học sinh tôi nhận thấy: Học sinh tiếp thu các môn học chưa đồng đều, chậm.. Vì thế mà bản thân tôi không thể thờ ơ với mức độ nhận thức của các em. Từ chỗ khó tiếp thu ngay ban đầu sẽ dẫn đến sự hời hợt của học sinh đối với các môn học về những năm học sau. Đổi mới phương pháp giáo dục nhằm tích cực hoá quá trình học tập của học sinh; để thực hiện được điều này, ngoài sự nghiên cứu về phương pháp truyền giảng, phương pháp tổ chức lớp học thì giáo viên còn phải nghiên cứu sử dụng các thiết bị công nghệ, các phần mềm hỗ trợ dạy học để ứng dụng và các cách tìm hiểu thông tin, kiến thức nhằm nâng cao kiến thức. Đồng thời phải hướng dẫn học sinh tự học, tự tìm tòi kiến thức thông qua mạng Internet. Giúp các em tăng khả năng tư duy, khả năng tự học thông qua đó tự hoàn thiện cách học hình thành nhân cách theo hướng học tập suốt đời. II.2. Thực trạng a. Thuận lợi – khó khăn * Thuận lợi – Người học dễ hiểu bài, dễ nhớ và dễ làm bài tập hơn, cả trong kiểm tra tự luận cũng như kiểm tra trắc nghiệm; bên cạnh đó giúp học sinh dễ phát hiện ra những vấn đề, những quy luật mang tính trừu tượng cao, từ đó tạo nên sự hứng thú, say mê, yêu thích hơn trong môn học. – Giải quyết nhiều nội dung trong một bài học, cung cấp kiến thức; tích lũy được nhiều kinh nghiệm, tiện lợi trong việc tự học. – Nhiều gia đình học sinh đã có máy tính, điện thoại kết nối mạng Internet. * Khó khăn – Một số giáo viên chỉ quan tâm đến cách dạy mà “quên” đi cách học, phương pháp tự học của học sinh, chưa chú trọng việc hình thành năng lực tự học cho học sinh thì không thể giúp học sinh tự học, tự “làm giàu” kiến thức, có thêm ý thức học tập thường xuyên và cả đời dẫn đến ý thức, thói quen và phương pháp tự học của học sinh còn rất hạn chế. – Nhiều giáo viên, học sinh chưa biết cách sử dụng máy tính, mạng internet hiệu quả cho việc dạy và học. – Phải có máy vi tính hoặc điện thoại được kết nối mạng – Trên mạng có rất nhiều thông tin nếu không được sự kiểm chứng sẽ gây nhiễu, không chính xác. – Gây mất tập trung dễ tham gia vào các trò chơi, các trang mạng có hại b. Thành công – hạn chế * Thành công: – Nhiều giáo viên bước đầu đã tích cực học tập nâng cao trình độ tin học để vận dụng không chỉ vào soạn giảng mà còn áp dụng vào dạy học. – Giáo viên đã chú trọng hơn đến công tác rèn kỹ năng tự học cho học sinh ở nhà. – Học sinh biết sử dụng tương đối thành thạo máy tính để vào mạng tìm kiếm thức thông qua các trang website đã được hướng dẫn . – Kỹ năng tự học ở nhà thông qua máy tính, mạng internet được nâng lên. Góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng đại trà cũng như chất lượng mũi nhọn của nhà trường. * Hạn chế: – Một số giáo viên chưa tích cực học tập để sử hiệu quả máy tính, mạng internet để tự học và áp dụng vào dạy và học. – Nhiều gia đình còn khó khăn chưa trang bị được máy tính, mạng internet để phục vụ việc học cho con em. – Một số học sinh chưa tích cực rèn luyện kỹ năng tự học. c. Mặt mạnh- mặt yếu * Mặt mạnh: – Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh sử dụng tối đa phòng máy trong việc dạy và học. – Nhiều phụ huynh đã quan tâm tới việc tự học của con em ở nhà hơn. – Đội ngũ giáo viên trẻ có trình độ tin học, tích cực tìm tòi học hỏi, nhiệt tình hướng dẫn học sinh. – Nhiều học sinh có ý thức tự giác học tập tốt. * Mặt yếu: – Ý thức trách nhiệm của một số giáo viên chưa cao. Chưa ý thức được việc tự bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề. Trình độ chuyên môn không đồng đều; trình độ tin học còn rất hạn chế ở một số giáo viên đã lớn tuổi. – Trình độ dân trí thấp, không quan tâm đến con cái, còn khoán trắng cho nhà trường. – Kỹ năng sống, tự học và việc tiếp thu kiến thức hạn chế. d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động – Tự học là hoạt động phức tạp đối với học sinh tiểu học, cần sự hỗ trợ, hướng dẫn tận tình từ giáo viên, giám sát của phụ huynh. Hiệu quả của tự học trước hết là do tính tích cực tự học của học sinh quyết định. Tính tích cực tự học của học sinh bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm các yếu tố từ chính bản thân học sinh đến các yếu tố tác động bên ngoài. – Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động tự học của học sinh ở nhà. e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra – Trường TH Dray Sáp nằm trên địa bàn xã Dray Sáp, có hai điểm trường, điểm chính đặt tại thôn An Na, điểm lẻ đặt tại Buôn Kuôp cách trường chính hơn 8 cây số, nằm trên địa bàn vô cùng khó khăn, phức tạp. Điểm lẻ đặt tại Buôn Kuôp nhà trường chưa trang bị được phòng máy, học sinh chưa được học môn tin học, chưa tiếp cận được với CNTT. – Trình độ dân trí thấp, đời sống còn rất nhiều khó khăn. Nhiều bậc cha, mẹ chưa hiểu được tầm quan trọng của việc học, chưa làm tròn trách nhiệm, thiếu sự quan tâm đến con em trong việc học ở trường cũng như ở nhà, còn khoán trắng cho nhà trường. – Qua điều tra trình độ tin học của nhiều giáo viên còn rất hạn chế. – Kỹ năng sử dụng máy tính, mạng internet của học sinh để học tập vô cùng hạn hẹp. – Qua khảo sát học sinh lớp 4, 5 về việc sử dụng máy tính, điện thoại kết nối mạng internet ở nhà của trường tiểu học Dray Sáp đầu năm học 2014-2015 Kết quả thu được như sau: STT Lớp Tổng số học sinh Học tập Chơi game Hoạt động khác Không sử dụng 1 4A 32 15,6% 43,8% 12,5% 28,1% 2 5A 32 18,7% 40,7% 15,6% 25% – Nhìn vào bảng thống kê trên ta thấy đại đa số các em học sinh khi vào mạng internet chỉ thích chơi game, xem phim, ca nhạc II.3. Giải pháp, biện pháp a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp – Nhìn rõ được thực trạng về kỹ năng hướng dẫn học sinh tự học của giáo viên, khả năng tự học thông qua mạng internet ở nhà của học sinh để phát huy những điểm mạnh, khắc phục và hạn chế những điểm yếu. Đồng thời đưa ra được những giải pháp phù hợp để nâng cao kỹ năng tự học ở nhà thông qua mang internet cho học sinh, từng bước nâng cao chất lượng dạy- học và các phong trào mũi nhọn. – Học sinh hiểu được vai trò của việc tự học, có ý thức rèn luyện kỹ năng tự học. b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp * Những điểm cần lưu ý trong việc tự học của học sinh tiểu học Khác với việc tự học của học sinh cấp II, III, đại học.. việc tự học của học sinh tiểu học bao giờ cũng phải có sự hướng dẫn của thầy cô giáo, có thể kết hợp với sự hỗ trợ của cha mẹ các em. Bởi các em đang ở lứa tuổi ham chơi hơn ham học, ý thức học tập ở các em chưa cao. Hướng dẫn học sinh tiểu học tự học cần lưu ý đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi các em, không được thoát ly trình độ hiểu biết, sự suy nghĩ của các em. Thường xuyên động viên khuyến khích học sinh tự giác học tập, không áp đặt gò ép trẻ. Kết hợp với gia đình yêu cầu bố trí giờ tự học cho học sinh học ở nhà, góc học tập của trẻ cần cách biệt với không gian sinh hoạt ồn ào của gia đình. Các ngày nghỉ như chủ nhật, ngày lễ không buộc trẻ phải tự học, kết hợp cho trẻ vui chơi. Quản lý thời gian tự học trên mạng của trẻ tránh tình trạng trẻ vào những trang mạng có hại, vừa học vừa chơi trò chơiKhơi gợi giúp học sinh tự tìm nguồn động viên cho mình như: Hãy nghĩ đến thành quả. Nguồn động viên chủ yếu đối với học sinh chính là sự công nhận từ thầy cô, bạn bè và gia đình trước sự tiến bộ hàng ngày của các em qua lời nhận xét khen ngợi, tuyên dương, hay điểm số cuối mỗi kì thi. Mỗi cá nhân có thể tìm thấy cho mình những nguồn động viên khác nhau. * Tìm kiếm kiến thức trên mạng – Trong các môn học lớp 4,5 trên mạng có rất nhiều thông tin kiến thức, tư liệu, bài tập vô cùng hữu ích cho giáo viên, học sinh có thể sử dụng. Đối với giáo viên để nâng cao kiến thức, trong quá trình tự học, tự tìm hiểu. Đối với học sinh nâng cao quá trình tự học, tự tìm hiểu để có những kĩ năng cơ bản nhất phục vụ quá trình tự học suốt đời. Tuy nhiên để có được kĩ năng cơ bản đó cần có sự hướng dẫn của giáo viên trước vô số thông tin mà không hề có sự kiểm định. * Các trang web phục vụ tốt cho việc học tập các môn học lớp 4, 5 – http//google.com. Trang web giúp các em học sinh tìm bài tập, tư liệu – chúng tôi Trang web giúp các em học sinh tìm các video – chúng tôi Nhiều tư liệu, đề kiểm tra thường xuyên, học kì, bài tập nâng cao, đề thi học sinh giỏi * Cách tìm kiếm thông tin trên mạng Internet: Các mẹo cơ bản để tìm kiếm hiệu quả trên Google Qua kết quả khảo sát các em hoc sinh khối 4,5 trường TH Dray Sáp ở trên có thể thấy rằng: Số lượng học sinh sử dụng Internet tương đối đông trên 70% qua điện thoại, qua máy tính tuy nhiên phần lớn các em lại tập trung vào việc chơi game, xem phim Còn số em tìm hiểu thông tin cho các môn học thì tương đối ít. Mặt khác trong các em sử dụng cho học tập thì kĩ năng tìm kiếm thông tin sử dụng cũng chưa tốt Vì vậy trước tiên cần cho các em biết cách sử dụng một số thao tác cơ bản nhất về công cụ tìm kiếm google: “Dân ta phải biết sử ta. Nếu mà không biết thì tra Google” là câu thơ đã khá quen thuộc với nhiều người sử dụng Internet ở Việt Nam, tuy nhiên, không ít người vẫn chỉ tra cứu với các câu lệnh đơn giản mà chưa khai thác hiệu quả công cụ này. Chuyên viên Joyce Hau của Google châu Á – Thái Bình Dương cho hay chỉ cần thêm một số ký tự hoặc từ khóa đơn giản, người sử dụng có thể nhanh chóng có được thông tin họ cần. Khi không dùng dấu kép sẽ có rất nhiều kết quả không chính xác Dùng dấu ngoặc kép “…” để có được kết quả chính xác với cụm từ cần tìm. bài văn tả cảnh hay lớp 5 ngay lập tức trên màn hình sẽ hiển thị hàng loạt những chuyên mục để các em lựa chọn tham khảo để tích luỹ thêm kiến thức cho mình rất bổ ích. Hay để nâng cao chất lượng đại trà, mũi nhọn đối với môn toán lớp 4, 5 thì giáo viên phát động phong trào thi giải toán qua mạng violympic sâu rộng để các em tham gia. Để các em tự tin tham gia cần hướng dẫn các em một số thao tác căn bản như: Vào youtube nhập “hướng dẫn đăng ký thành viên violympic” vào ô tìm kiếm, trên màn hình sẽ hiển thị hướng dẫn cập nhật thông tin rất cụ thể đầy đủ bằng video để các em đăng ký tham gia giải toán. Để rèn luyện kỹ năng giải, cách giải các dạng toán violympic vào yuotube nhập “ Hướng dẫn giải toán violympic toán 4 vòng 2 năm 2014” rồi vào các video để giải rồi xem cách giải so sánh với kết quả mình vừa giải. Từ đó các em sẽ trau dồi kỹ năng giải toán của mình rất hiệu quả. Bên cạnh đó để học được, học tốt môn toán lớp 4,5 không phải dễ vì vậy ngoài việc học trên lớp các em có thể tự tìm hiểu thêm trên mạng để củng cố kiến thức đã học cũng như tích luỹ thêm kiến thức cho bản thân bằng việc tham gia trực tiếp giải toán qua các video hướng dẫn rất cụ thể uy tín có nhiều giáo viên, học sinh, phụ huynh đang theo dõi như: website 360do.vn Để truy cập website 360do chỉ cần truy cập vào youtube nhập vào ô tìm kiếm “ Hướng dẫn giải toán 4. 360do.vn”. Ở trang này các em có thể tìm kiếm các bài giảng hay về thủ thuật giải toán hay như: Thủ thuật xác định thương số phép chia cho số có hai chữ số ở lớp 4 qua video hướng dẫn rất cụ thể. Hay ở môn toán lớp 5 thủ thật chuyển đổi đo chiều dài hoặc khối lượng sẽ giúp ích không nhỏ trong việc làm bài tập dạng quy đổi đơn vị đo. Để tham gia tự học thông qua bài giảng E-learning các em chỉ cần vào trang Violet và chọn mục Bài giảng điện tử E-learning hiển thị như trên màn hình. Các em có thể tìm kiếm bất kì môn học nào mình cảm thấy cần thiết chỉ cần nhấp chuột vào trang Tiểu học rồi chọn lớp, chọn môn, bài học để tham gia tương tác học tập.Ví dụ các em muốn học bài “Động từ”- Phân môn Luyện từ và câu lớp 4. Các em chỉ cần chọn lớp 4 luyện từ và câu, bài: Động từ Nhưng để tham gia học tập các em cần đăng kí làm thành viên, chỉ cần nhấp chuột vào ô dăng ký thành viên ngay dưới ô đăng nhập rồi điền đầy đủ thông tin trong bảng hướng dẫn thì các em sẽ ngay lập tức được trở thành viên tham gia học tập tương tác để lĩnh hội kiến thức. Tra cứu thời tiết bất cứ đâu theo thời gian thực. Để tìm định nghĩa một từ hay cụm từ, gõ lệnh define: và từ cần tìm. Để tra cứu thông tin trong một giai đoạn cụ thể, bạn gõ lệnh “thời gian..thời gian”, ví dụ World Cup 1960..1980 để tìm các đường link chứa dữ liệu về World Cup từ năm 1960 đến 1980. * Tìm kiếm đề thi Khi trải qua một giai đoạn học tập các em cần tự ôn tập và kiểm tra khối lượng Kiến thức đã học cơ bản theo chuẩn kiến thức kĩ năng bằng cánh tự làm các bài kiểm tra để kiểm chứng xem mình đã nắm chắc kiến thức đã học hay còn hạn chế ở chỗ nào để kịp thời ôn tập bổ sung kiến thức cho mình bằng cách vào trang Violet, chọn mục “Thư viện đề thi” chọn Tiểu học, môn để tải về làm bài thi. Cách thức tải đề thi như tải bài giảng E-learning. c. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp – Giáo viên cần nhận thức được tầm quan trọng của việc hướng dẫn kỹ năng tự học cho học sinh. Tạo điều kiện, khuyến khích học sinh tự học. – Cách tìm kiếm thông tin trên mạng tương đối đơn giản dễ thực hiện dễ thao tác, chỉ cần học sinh chịu khó tập trung vào vấn đề cần giải quyết – Các trang Web được giới thiệu có độ chuẩn xác cao đã được nhiều giáo viên và học sinh kiểm chứng – Các phần mềm giới thiệu trong đề tài đơn giản, dễ thao tác độ chính xác đã được kiểm chứng. không cần máy tính có cấu hình mạnh. – Hình thức tự học có thể dùng cho cả các môn học khác như: Toán , Tiếng Việt, Khoa học, Lịch sử, Địa lý, Tiếng Anh d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp Các giải pháp nêu trên có mối liên hệ chặt chẽ, khăng khít với nhau điều đó được thể hiện trong quá trình hướng dẫn kỹ năng tự học ban đầu, cơ bản cho học sinh. Thực tế cho thấy giải pháp này hỗ trợ cho giải pháp khác, thành công của việc làm này góp phần dẫn đến thành công của việc làm khác. Vì vậy học sinh cần nắm chắc kỹ năng cơ bản để tự học qua mạng, tự tích lũy, đào sâu kiến thức.. e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu. – Qua quá trình hướng dẫn các em học sinh cách sử dụng máy tính kết nối mạng internet vào quá trình tự học như trên kết quả khảo sát của các em học sinh lớp 4, 5 cuối năm học 2014 – 2015 như sau: STT Lớp Tổng số học sinh Học tập Chơi game Hoạt động khác 1 4A 32 53% 21% 26% 2 5A 32 56% 18% 26% – Các em đã dành nhiều thời gian lên mạng để tìm hiểu thông tin cho việc học nhiều hơn – Hầu hết các em học sinh dễ hiểu bài và hứng thú trong học tập (đây là yếu tố quan trọng tạo sự thành công của tiết dạy) – Giải quyết tốt khối lượng kiến thức, rèn luyện kỹ năng giải bài tập cũng như giải quyết nhiều thắc mắc của học sinh. – Bên cạnh sự nhiệt tình của các thầy giáo cô giáo trực tiếp giảng dạy, cũng như thầy cô ôn luyện các hội thi thì chính bản thân các em đã không ngừng rèn luyện, tích cực học tập ở trên lớp cũng như tự học ở nhà đã góp phần vào việc nâng cao chất lượng đại trà của nhà trường và chất lượng các phong trào mũi nhọn trong năm học 2014 – 2015. – Cụ thể lớp 4A, lớp 5A năm học 2014 – 2015 các em đều hoàn thành chương trình, không có học sinh lưu ban. – Kết quả các phong trào mũi nhọn cũng rất đáng được bi

Cách Tự Học Đàn Organ Tại Nhà Qua Mạng Internet

Bạn là người bận rộn và không có thời gian để trực tiếp đến lớp? Hay gần khu vực nhà bạn không có một trung tâm dạy đàn organ nào cả. Nếu như bạn đam mê học đàn organ nhưng lại không thể đến lớp học được, bạn cũng đừng nên lo lắng gì cả bởi chúng tôi sẽ mang đến cho bạn khóa học organ qua mạng tại nhà để bạn có thể theo đuổi được sở thích, đam mê của mình rồi.

Ai được tham gia khóa học ORGAN qua mạng tại nhà?

Khóa học đàn organ tại nhà sẽ dành cho mọi đối tượng – những học viên không thể đến trung tâm học nhưng vẫn muốn được học đàn organ: – Nhà ở xa trung tâm và ngại đi xa để đến những trung tâm học. – Không có nhiều thời gian để học mà chỉ tranh thủ những lúc rảnh rỗi trong ngày. – Đã lớn tuổi và ngại học cùng với những người ít tuổi hơn mình…

Học đàn organ qua mạng – linh động thời gian học: Vì đây là khóa học organ qua mạng tại nhà vì thế sẽ giúp bạn có thể linh động được thời gian học đàn. Bạn có thể tùy ý sắp xếp thời gian công việc của mình mỗi ngày để lên một lịch học cụ thể.

Việc học organ tại nhà sẽ giúp bạn có thể chủ động thời gian của mình đồng thời lên biểu thời gian học tập, giải trí và công việc được chu toàn hơn, thậm chí bạn có thể thư giãn ngay tại nhà mình trước khi bắt đầu học đàn. Nếu như tinh thần thoải mái và không gượng ép chắc chắn sẽ giúp ích rất nhiều cho tâm trạng học đàn của bạn đấy, từ đó sẽ giúp cho bạn tạo được những giai điệu hay và chắc chắn bạn sẽ học đàn organ nhanh hơn và tiến bộ hơn rất nhiều. Tham khảo Khoá học đánh đàn Organ tại Trường dạy nhạc Việt Thương

Có thể nói học đàn organ bằng máy tính tại nhà cũng như học tại trung tâm, chúng tôi sẽ cam kết với học viên để đảm bảo cho khóa học đàn của họ.Sau khóa học này, chắc chắn các học viên sẽ có thể nắm chắc trong tay những kiến thức về nhạc lý, những kiến thức về đàn organ, và từ đó, học viên có thể tự mình chơi đàn organ với những bản nhạc hay trong những dịp đặc biệt hoặc đơn giản là thỏa mãn niềm đam mê của mình ngay tại ngôi nhà mình.

Thời gian của khóa học là như nào? Vì đây là khóa học đánh đàn organ trên máy tính tại nhà vì thế bạn có thể chủ động về thời gian học của mình. Bất kỳ khi nào bạn rảnh rỗi, bạn có thể tự mình học cùng với sự giảng dạy tốt nhất của những giảng viên chuyên nghiệp và có nhiều kinh nghiệm tại trung tâm của chúng tôi. Tuy nhiên, bạn cần phải cân bằng thời gian học tập, làm việc và thời gian học đàn organ để đảm bảo việc học đàn sẽ không làm đảo lộn cuộc sống bình thường của bạn. Chúng tôi khuyên rằng bạn chỉ nên học đàn organ 1 giờ/ngày.

Đăng ký Khóa học đàn ORGAN Online học tại nhà qua mạng Internet

Các khóa học organ tiêu biểu tại Việt Thương music school

​​​​​​​Tận Dụng Internet Với 4 Cách Học Tiếng Anh Qua Mạng Hiệu Quả Này!

Cách 1: Tận dụng nguồn báo online phong phú

Lợi ích của việc đọc báo tiếng Anh là vô cùng to lớn và không thể phủ nhận. Ngoài việc thường xuyên cập nhật được những tin tức mới nhất và những kiến thức cần thiết cho cuộc sống, đọc báo tiếng Anh còn giúp người đọc cải thiện được vốn từ vựng và nâng cao kỹ năng reading. Một số nguồn báo hữu ích với nhiều lĩnh vực khác nhau:

VOA Learning English: đây là nguồn báo dễ đọc dành cho những người mới bắt đầu, trang báo đưa tin về những vấn đề chính trị, kinh tế trên thế giới

BBC News: liên tục cập nhật những tin tức về tình hình kinh tế, chính trị và xã hội mới nhất trên thế giới

The Everygirl: cung cấp cho bạn những thông tin về thời trang, cuộc sống, du lịch

Elle: một trang báo nổi tiếng sẽ cập nhật cho bạn những thông tin về xu hướng thời trang mới nhất

Tiếp theo hãy tham khảo 4 bước đọc báo tiếng Anh hiệu quả sẽ giúp bạn đạt được kiến thức tối đa sau đây:

Bước 1: chọn bài viết bạn cảm thấy hứng thú, lôi cuốn, phù hợp với trình độ reading và vốn từ vựng của bạn

Bước 2: đọc lần lượt để nắm được nội dung của bài báo

Bước 3: đọc lại để hiểu sâu hơn, chuẩn bị một quyển từ điển để tra nghĩa của từ, cụm từ

Bước 4: đọc thành tiếng toàn bộ bài viết, chú ý nhấn nhá, ngắt câu. Đây là bước quan trọng giúp bạn nâng cao kỹ nói và nghe của bạn

>> Cách học tiếng Anh hiệu quả tại nhà qua 4 website nổi tiếng

Đọc báo là một cách học tiếng Anh hiệu quả (Nguồn: dkn)

Cách 2: Học qua mạng xã hội

Funny English Errors (1,5 triệu followers): học tiếng Anh thông qua việc tìm và sửa lỗi sai, Funny English Errors sẽ giúp việc học tiếng Anh của bạn không còn nhàm chán

English Is Fun (3 triệu lượt Like): Page sẽ mang đến cho bạn những bài đọc hay, thú vị

Motivational Quotes (2,57 triệu lượt Like): trang sẽ chia sẻ nhiều trích dẫn hay, ý nghĩa, truyền cảm hứng và tạo động lực sống.

English Idioms (1,6 triệu lượt Like): việc học tiếng Anh sẽ hiệu quả hơn nếu bạn theo dõi English Idioms, page sẽ cung cấp cho bạn những câu thành ngữ tiếng Anh và cách sử dụng.

Cách 3: Sử dụng nguồn phim Anh, Mỹ đa dạng

Xem phim tiếng Anh có phải là cách luyện tiếng Anh hiệu quả? Nó chỉ thật sự hiệu quả khi bạn luyện đúng cách!

Bước 1: chọn một bộ phim với thể loại bạn thật sự yêu thích

Bước 2: xem toàn bộ phim không cần phụ đề

Bước 3: xem lại phim, với những chỗ không hiểu bạn có thể bật phụ đề lên và tham khảo

Bước 4: từ lần 3 trở đi không cần phụ đề

Xem phim giúp bạn cải thiện được kỹ năng nghe (Nguồn: trungtamanhnguhanoi)

Cách 4: Đừng bỏ lỡ nguồn từ điển online hữu ích

Oxford Dictionary: một nguồn tra từ điển cực kỳ chính xác được xây dựng bởi Đại học Oxford. Đây là từ điển online được tin dùng nhất trên thế giới

Cambridge Dictionary: Cambridge được tin dùng bởi việc giải nghĩa hay, cụ thể và cung cấp rất nhiều ví dụ cho người dùng. Đây là một nguồn từ điển Anh – Anh được rất nhiều người tin dùng

Từ điển TFlat: một trong những trang từ điển Anh – Việt được đa số người học tiếng Anh tin dùng. Thông qua việc giải thích nghĩa bằng tiếng Việt và ví dụ, từ điển sẽ là một nguồn học tiếng Anh hữu dụng dành cho những người mới bắt đầu.

Hãy tận dụng Internet để học tiếng Anh một cách hiệu quả (Nguồn: english4u)

Cùng với sự phát triển của Internet, các nguồn học tiếng Anh qua mạng cũng phát triển không kém. Các trang báo nước ngoài, bộ phim Anh Mỹ, nguồn từ điển sẽ là những công cụ hiệu quả giúp bạn chinh phục con đường học tiếng Anh của mình.

Ngọc Dung (Tổng hợp)

Luận Văn: Tài Liệu Hướng Dẫn Học Sinh Tự Học Hóa Hữu Cơ Lớp 11

Published on

Download luận văn thạc sĩ ngành phương pháp dạy môn hóa học với đề tài: Thiết kế tài liệu hướng dẫn học sinh khá giỏi tự học phần hóa hữu cơ lớp 11, cho các bạn làm luận văn tham khảo

1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Võ Sỹ Hiện THIẾT KẾ TÀI LIỆU TỰ HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ LỚP 11 DÙNG CHO HỌC SINH KHÁ GIỎI LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Võ Sỹ Hiện THIẾT KẾ TÀI LIỆU TỰ HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ LỚP 11 DÙNG CHO HỌC SINH KHÁ GIỎI Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học Mã số : 60 14 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. LÊ HUY HẢI Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

3. LỜI CẢM ƠN Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa Hóa cùng các thầy cô trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức và thực hiện thành công khóa đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học hóa học, tạo cơ hội học tập và nâng cao trình độ chuyên môn về lĩnh vực mà tôi tâm huyết. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu cùng các thầy cô giáo và các em học sinh các trường THPT Quốc tế Á Châu, Lê Quý Đôn, Chuyên Lê Hồng Phong, Nguyễn Du – TP Hồ Chí Minh, THPT Vũng Tàu – TP Vũng Tàu đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực nghiệm sư phạm. Xin gửi lời cảm ơn đến Phòng Sau Đại học, trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo điều kiện thuận lợi để luận văn được hoàn thành đúng tiến độ. Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Lê Huy Hải và chúng tôi Trịnh Văn Biều đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương và hoàn thành luận văn. Và điều quan trọng nữa là luận văn được hoàn thành với sự nỗ lực của bản thân và sự động viên, giúp đỡ của những người thân trong gia đình. Võ Sỹ Hiện

6. DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT BTHH: bài tập hóa học CTPT: công thức phân tử CTCT: công thức cấu tạo Dd (dd): dung dịch ĐC: đối chứng ĐHSP: Đại học Sư phạm đktc: điều kiện tiêu chuẩn G: giỏi GV: giáo viên hh: hỗn hợp HS: học sinh HCM: Hồ Chí Minh K: khá NXB: nhà xuất bản PTHH (pthh): phương trình hóa học PTN: phòng thí nghiệm SGK (sgk): sách giáo khoa SGV (sgv): sách giáo viên SL: số lượng TB: trung bình THPT: trung học phổ thông TLTH tài liệu tự học TN: thực nghiệm Y: yếu YK: yếu kém

7. DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1. Mức độ cần thiết của việc HS tự học……………………………………………………27 Bảng 1.2. Lý do HS cần phải tự học qua tài liệu ………………………………………………….27 Bảng 1.3. Quan điểm của HS về tự học………………………………………………………………28 Bảng 1.4. Công việc HS thực hiện trong tự học …………………………………………………..29 Bảng 1.5. Phần trăm HS trong lớp biết cách tự học môn hóa…………………………………29 Bảng 1.6. Những khó khăn học sinh gặp phải khi tự học………………………………………30 Bảng 1.7. Nguồn tài liệu GV thường sử dụng ……………………………………………………..31 Bảng 1.8. Các yêu cầu đối với tài liệu tự học ………………………………………………………31 Bảng 1.9. Những nội dung cần thiết trong tài liệu tự học………………………………………32 Bảng 2.1. Cấu trúc phần hóa học hữu cơ lớp 11 THPT…………………………………………35 Bảng 3.1. Danh sách các lớp thực nghiệm và đối chứng……………………………………..123 Bảng 3.2. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra số 1 …………….127 Bảng 3.3. Tổng hợp phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 1…………………………..128 Bảng 3.4. Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra số 1……………………………….129 Bảng 3.5. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra số 2 …………….129 Bảng 3.6. Tổng hợp phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 2…………………………..130 Bảng 3.7. Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra số 2……………………………….131 Bảng 3.8. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích tổng hợp 2 bài kiểm tra……131 Bảng 3.9. Tổng hợp phân loại kết quả học tập 2 bài kiểm tra ………………………………132 Bảng 3.10. Tổng hợp các tham số đặc trưng 2 bài kiểm tra …………………………………133 Bảng 3.11. Kết quả đánh giá TLTH………………………………………………………………….135

8. DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 1.1. Chu trình tự học của học sinh ……………………………………………………………..11 Hình 2.1. Quy trình thiết kế tài liệu tự học dùng cho HS khá giỏi ………………………….43 Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 1 ………………………………………………128 Hình 3.2. Biểu đồ phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 1 ……………………………..128 Hình 3.3. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2 ………………………………………………130 Hình 3.4. Biểu đồ phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 2 ……………………………..130 Hình 3.5. Đồ thị đường lũy tích tổng hợp 2 bài kiểm tra……………………………………..132 Hình 3.6. Biểu đồ phân loại kết quả học tập tổng hợp 2 bài kiểm tra…………………….132

9. 1 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức đã đặt ngành giáo dục đứng trước nhiều cơ hội thuận lợi, đồng thời cũng phải đối mặt với những thử thách lớn trong vấn đề đào tạo nguồn nhân lực theo những yêu cầu mới. Trước tình hình đó, toàn ngành giáo dục đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng tích cực, phát huy tối đa khả năng tự học của học sinh; từng bước rèn luyện tư duy độc lập nhằm tạo ra những lớp người mới năng động sáng tạo, giàu tính nhân văn. Trong thời đại ngày nay, để khẳng định giá trị của bản thân, mỗi người cần phải không ngừng học tập. Vấn đề là ở chỗ không phải lúc nào cũng có thầy dạy và không thể lúc nào cũng đến trường. Chúng ta phải biết tự học, tự đánh giá năng lực thông qua đó hoàn thiện và nâng cao tri thức, kỹ năng của bản thân, có như vậy mới đáp ứng được với yêu cầu của xã hội ngày càng phát triển. Đối với học sinh – những tri thức tương lai, thì việc tự học phải được đặt lên hàng đầu. Học sinh nào biết tự học, tự đánh giá chính xác năng lực của bản thân thì sẽ có kết quả học tập tốt hơn và thành công hơn trong cuộc sống. Điều đó được minh chứng bằng kết quả thi đại học hàng năm đã có không ít các em học ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn đạt kết quả rất cao. Kết quả đó phần lớn là do năng lực tự học, tự nghiên cứu của các em rất tốt. Sau một thời gian đổi mới phương pháp dạy và học, các em học sinh đã biết đầu tư cho việc tự học nhiều hơn. Trong thực tế, đã có một số tài liệu đề cập đến các phương pháp, biện pháp giúp học sinh tự học môn hóa học nhưng chưa có tài liệu hướng dẫn tự học một cách cụ thể và thực sự hiệu quả cho đa số HS (nhất là HS có sức học khá giỏi). Nên chúng tôi mong rằng phần nghiên cứu này có thể làm tốt được nhiệm vụ đặt ra nhằm giúp HS tự học hiệu quả môn hóa học. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “THIẾT KẾ TÀI LIỆU TỰ HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ LỚP 11 DÙNG CHO HỌC SINH KHÁ GIỎI” để nghiên cứu.

10. 2 2. Mục đích nghiên cứu Thiết kế tài liệu hướng dẫn học sinh khá giỏi tự học phần hóa hữu cơ lớp 11; nhằm phát huy năng lực vận dụng kiến thức, khả năng tư duy hóa học, … đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy và học hóa học ở các trường THPT hiện nay. 3. Nhiệm vụ của đề tài – Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề tự học của học sinh phổ thông + Tìm hiểu quá trình tự học và phương pháp dạy học hóa học ở THPT. + Tìm hiểu thực trạng về khả năng tự học, tự kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng hóa học của học sinh hiện nay. – Thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT bao gồm các vấn đề lý thuyết, bài tập, các đề tự kiểm tra,… giúp học sinh khá giỏi tự học có hiệu quả. – Thử nghiệm đánh giá tính khả thi và hiệu quả việc sử dụng tài liệu tự học cho học sinh lớp 11. + Tổ chức thực nghiệm sư phạm. + Tổng kết và rút ra bài học kinh nghiệm. 4. Khách thể nghiên cứu Quá trình dạy học hóa học phần hữu cơ ở trường THPT. 5. Đối tượng nghiên cứu Việc thiết kế tài liệu tự học phần hóa hữu cơ cho HS khá giỏi lớp 11 THPT. 6. Phạm vi nghiên cứu – Giới hạn nội dung vấn đề nghiên cứu: một số chương Hiđrocacbon, Ancol – phenol, Anđehit – axit cacboxylic, chương trình hóa học lớp 11. – Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: một số trường THPT tại TP. HCM và Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. – Giới hạn về thời gian nghiên cứu: năm học 2011-2012. 7. Giả thuyết khoa học Nếu tài liệu được thiết kế một cách khoa học, phù hợp đối tượng và sử dụng một cách hiệu quả thì sẽ phát huy tính tích cực, chủ động của HS, tạo hứng thú học

12. 4 Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Việc nghiên cứu, bồi dưỡng phương pháp tự học cho học sinh THPT thông qua các môn học nói chung và môn Hóa học nói riêng là một vấn đề rất cần thiết. Với quan điểm đó, trong những năm gần đây, đã có một số đề tài nghiên cứu bồi dưỡng năng lực tự học hóa học cho học sinh bằng những nội dung và biện pháp khác nhau. Theo đó, có thể kể ra một số đề tài nghiên cứu của các tác giả theo hai hướng chủ yếu sau: 1.1.1. Các đề tài về thiết kế website, e-book tự học hóa học 1. “Thiết kế sách giáo khoa điện tử lớp 10 – nâng cao chương nhóm halogen”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Hà năm 2008, ĐHSP TP. HCM. 2. “Thiết kế sách giáo khoa điện tử chương “Dung dịch – Sự điện li” lớp 10 chuyên hóa học”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tuyết Nhung năm 2009, ĐHSP TP. HCM. 3. “Xây dựng website nhằm tăng cường năng lực tự học cho học sinh giỏi hóa lớp 11”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tuyết Hoa năm 2010, ĐHSP TP HCM. 4. “Xây dựng học liệu điện tử hỗ trợ dạy và học phần cấu tạo nguyên tử và hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học – chương trình THPT chuyên”, Luận văn thạc sĩ của Trịnh Lê Hồng Phương năm 2011, ĐHSP TP HCM. 1.1.2. Các đề tài nghiên cứu về thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn 1. “Nâng cao chất lượng dạy học phần Hoá vô cơ (chuyên môn I) ở Trường CĐSP bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Thị Kiều Trang năm 2004, ĐHSP Hà Nội. 2. “Nâng cao năng lực tự học cho HS giỏi hoá học bằng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun (Chương Ancol-phenol và chương Anđehit-xeton)”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Thị Tuyết Mai năm 2008, ĐHSP Hà Nội.

13. 5 3. “Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun nhằm tăng cường năng lực tự học cho học sinh giỏi hóa học lớp 11 THPT”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Nguyên năm 2010, ĐHSP TP HCM. 4. “Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo mođun nhằm nâng cao năng lực tự học cho Học sinh giỏi hóa lớp 12 THPT”, Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Thanh Hà năm 2010, ĐHSP TP HCM. 5. “Biên soạn tài liệu hướng dẫn tự học môn hóa học lớp 11 THPT”, Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Hiền năm 2011, ĐHSP TP HCM. Theo quan điểm của các tác giả trên thì việc thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn môn hóa học là một biện pháp hữu hiệu giúp cho học sinh có thể dễ dàng trong việc tự học, tự kiểm tra đánh giá kiến thức đồng thời cung cấp cho các em một phương pháp học tập mới mẻ. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một trong nhiều hướng tiếp cận vấn đề “hướng dẫn HS tự học”. Bên cạnh đó nội dung của các công trình vẫn còn nhiều chỗ cần được tiếp tục nghiên cứu và bổ sung. Thật vậy, những công trình nghiên cứu kể trên đều có điểm chung là giúp HS có một công cụ tự học hiệu quả. Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa quan tâm nhiều đến một số vấn đề sau: – Đa số các công trình trên chỉ chú trọng đến đối tượng là sinh viên đại học, cao đẳng; HS lớp chuyên hoặc HS giỏi hóa học chứ chưa thật sự chú ý đến đa số HS THPT (nhất là HS có sức học khá giỏi trở xuống). – Ở mỗi bài học chưa có phần hướng dẫn cụ thể để HS nắm vững kiến thức trọng tâm. – Chưa cung cấp đầy đủ đa dạng các câu hỏi lí thuyết, bài tập bám sát SGK hoặc mở rộng, nâng cao đáp ứng cho các kì thi quan trọng. – Chưa đi sâu hướng dẫn HS các phương pháp giải nhanh bài tập trắc nghiệm hóa hữu cơ lớp 11 THPT. – Ngoài ra, các công trình trên vẫn chưa đề xuất được các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài liệu vào công việc giảng dạy. Là những người đang công tác trong ngành giáo dục, chúng tôi hiểu rằng

14. 6 nhiệm vụ cấp bách của GV hiện nay là dạy cho HS cách học, một trong các cách học hiệu quả đó là tự học. Không phải sinh viên cao đẳng, đại học hay HS giỏi THPT mới phải tự học, mà HS nào cũng có thể tự học, vì tự học giúp HS học tập tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Để hiểu rõ hơn tầm quan trọng của việc tự học, sau đây chúng ta nghiên cứu thêm về xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. 1.2. Đổi mới phương pháp dạy học 1.2.1. Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học Theo PGS. TS. Trịnh Văn Biều [3], một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới và ở nước ta hiện nay là: 1. Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học. Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang sáng tạo, tìm tòi, khám phá. 2. Cá thể hóa việc dạy học. 3. Sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy học. 4. Tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống. Chuyển từ lối học nặng về tiêu hóa kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức. 5. Cải tiến việc kiểm tra và đánh giá kiến thức. 6. Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời. 7. Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của HS, theo cấp học, bậc học). Như vậy, để đáp ứng được những xu hướng đổi mới trên thì người giáo viên ngoài việc truyền đạt kiến thức, còn phải khơi dậy và phát triển tối đa năng lực tự học, tự sáng tạo của HS. 1.2.2. Phương pháp dạy học tích cực [3] 1.2.2.1. Tính tích cực Tính tích cực là một trong những thuộc tính quan trọng của nhân cách, được biểu hiện qua hành động năng nổ, hăng hái của chủ thể và có ảnh hưởng lớn đến kết

15. 7 quả của công việc. Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người mới năng động, góp phần phát triển xã hội. Tính tích cực trong hoạt động học tập là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Trong học tập, HS phải tự “khám phá” ra những hiểu biết mới đối với bản thân dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên. 1.2.2.2. Phương pháp học tập tích cực Hiện nay việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học đến cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập. Mục đích của việc đổi mới phương pháp là chuyển đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo phương pháp tích cực nhằm giúp HS phát huy tính tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống mới trong thực tiễn; tạo niềm tin và hứng thú trong học tập. Dạy học tích cực đồng nghĩa với việc học sinh là chủ thể hoạt động (HS tìm tòi, khám phá, phát hiện, khai thác và xử lý thông tin,… tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất), GV là người thiết kế, tổ chức hoạt động nhận thức cho HS, dạy HS cách học, chú trọng hình thành cho các em năng lực tự học, sáng tạo, hợp tác…. Như vậy, phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, nghĩa là hướng vào phát huy năng lực giải quyết vấn đề, khả năng tự học của người học đồng thời tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học.

16. 8 1.3. Tự học 1.3.1. Khái niệm về tự học Theo GS. Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, …) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí, biết biến khó khăn thành thuận lợi, …) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [34]. Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triển lãm, giao tiếp với các chuyên gia và những người hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau, … Người tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện… Đối với HS, tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, tham gia các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác. Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao. Từ những quan điểm trên cho thấy tự học là một hình thức học có tính cá nhân do bản thân người học nỗ lực thực hiện. Tự học có ý nghĩa to lớn đối với bản thân người học và để tiến hành được công việc này đòi hỏi cá nhân phải tự giác, huy động các năng lực trí tuệ, phẩm chất tâm lý trong quá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học. 1.3.2. Các hình thức tự học [27] 1.3.2.1. Tự học hoàn toàn (không có GV hướng dẫn) Là sự học tập thông qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác. HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tự học của mình…

17. 9 1.3.2.2. Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa) HS được nghe GV giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn. Với hình thức tự học này, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình. 1.3.2.3. Tự học qua tài liệu hướng dẫn (e-book) HS tự học qua e-book. Trong tài liệu e-book trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềm trên máy tính). Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn vì không có sự trợ giúp của GV. 1.3.2.4. Tự học có hướng dẫn trực tiếp HS có tài liệu và gặp trực tiếp GV một số tiết trong tuần, được GV chỉ dẫn, giảng giải, sau đó về nhà tự học. Đây là hình thức cần được đưa vào phổ biến trong nhà trường phổ thông vì mức độ của nó phù hợp với khả năng của HS. Tự thực hiện một số hoạt động học tập ở lớp dưới sự hướng dẫn của GV: thí dụ như khi dạy học GV nêu tình huống hay nêu vấn đề rồi hướng dẫn HS tự giải quyết; hoặc GV giao bài tập rồi hướng dẫn HS tự làm… Hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định nếu được tiến hành hợp lý. Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông. Để giúp HS có thể tự học ở nhà một cách dễ dàng, GV thiết kế tài liệu hướng dẫn tự học phù hợp, sau đó GV cần tăng cường kiểm tra – đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của HS, cuối cùng là giải đáp những thắc mắc của HS. 1.3.3. Tự học có hướng dẫn Mối quan hệ giữa dạy và tự học là quan hệ giữa tác động bên ngoài và hoạt động bên trong. Tác động dạy của GV là bên ngoài hỗ trợ cho HS tự phát triển, còn tự học của HS mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân HS. Hình thức tự học có hướng dẫn là hướng dẫn để HS tự học. Trong tự học có hướng dẫn, HS nhận được sự hướng dẫn từ hai nguồn: từ tài liệu hướng dẫn và trực tiếp từ GV.

18. 10 Nguồn hướng dẫn qua tài liệu: Tài liệu SGK Hóa học thường chỉ trình bày kiến thức mà không có những chỉ dẫn về phương pháp hoạt động để dẫn đến kiến thức, để hình thành kĩ năng. Bởi vậy HS rất bị động, không hiểu phương hướng, bước đi, kế hoạch như thế nào và sau khi học xong cũng không thể tự rút ra được điều gì về phương pháp làm việc để vận dụng cho các bài sau. Để khắc phục tình trạng đó tài liệu tự học ngoài việc trình bày nội dung kiến thức, còn hướng dẫn cả cách thức hoạt động để phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí thông tin, rút ra kết luận, kiểm tra và đánh giá kết quả … Nguồn hướng dẫn trực tiếp của GV qua các giờ lên lớp: Hiện nay theo quy đinh của Bộ Giáo dục & Đào tạo, môn Hoá học trong các trường THPT có thời gian từ 2-3 tiết/ tuần, thời gian đó nếu để giảng giải kiến thức và luyện tập cho HS thì không đủ; nhưng nếu để HS hoàn toàn tự học thì cũng không được. Chúng tôi cho rằng có thể tận dụng thời gian tiếp xúc giữa GV và HS để GV tổ chức, hướng dẫn và rèn luyện cho HS những kĩ năng tự học cụ thể. Rất nhiều HS từ trước đến nay vẫn học tập một cách thụ động, ghi chép học thuộc, áp dụng máy móc, chỉ dựa vào lời giảng của GV, hầu như không có thói quen tự học, thậm chí đọc xong một đoạn trong SGK, không thể tự tóm tắt được nội dung chính, đặc biệt là không thể rút ra phương pháp chung để thực hiện một loại hoạt động nào đó. Rèn luyện kĩ năng tự học cho HS là một quá trình lâu dài phức tạp và luôn luôn được củng cố, nâng cao và bổ sung thêm, do đó tốt nhất là nên dành một phần thời gian tiếp xúc giữa GV và HS ở trên lớp để thực hiện công việc đó. Hoạt động tự học của HS có nhiều khâu, nhiều bước, được tiến hành thông qua các hoạt động học tập của chính bản thân họ. Đây là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình hướng tới những mục đích nhất định. Vì vậy, quá trình tổ chức dạy học phải làm cho hoạt động học của HS chuyển từ trạng thái bị động sang chủ động. HS biết tự sắp xếp, bố trí các công việc sẽ tiến hành trong thời gian tự học, biết huy động các điều kiện, phương tiện cần thiết để hoàn thành từng công việc, biết tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả hoạt động tự học của chính mình.

19. 11 Như vậy khái niệm tự học ở đây được hiểu là hoạt động tự lực của HS để chiếm lĩnh tri thức khoa học đã được qui định thành kiến thức học tập trong chương trình và SGK với sự hướng dẫn của GV thông qua các phương tiện học tập như tài liệu tự học, tài liệu tra cứu, giáo án điện tử,…HS sử dụng tài liệu tự học kết hợp với SGK; TLTH sẽ cung cấp cho HS nội dung kiến thức, phương pháp học nội dung kiến thức đó và tự làm bài tập vận dụng. 1.3.4. Chu trình tự học của học sinh Trong quá trình học tập của HS, chúng tôi định hướng cho các em áp dụng chu trình gồm 4 bước như sau: Hình 1.1. Chu trình tự học của học sinh Bước (1): Xây dựng kế hoạch tự học Khi xây dựng kế hoạch tự học và nhất là thời gian biểu tự học, HS cần chú ý một số yêu cầu sau: – Đảm bảo thời gian tự học phù hợp cho từng môn. – Đảm bảo luân phiên hợp lí trong việc tự học các bộ môn khác nhau. – Phải phân bố thời gian một cách hợp lí giữa tự học và nghỉ ngơi. – Đảm bảo tính mềm dẻo và tính thực tế của kế hoạch và thời gian biểu tự học. Bước (2): Tự nghiên cứu, tự thể hiện HS tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (mới – đối với người học). HS tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức của mình; tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với bạn bè và GV, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội (1) Xây dựng kế hoạch tự học (2) Tự nghiên cứu Tự thể hiện (3) Tự kiểm tra đánh giá Tự học (4) Tự điều chỉnh bổ sung

20. 12 của cộng đồng lớp học. Bước (3): Tự kiểm tra, đánh giá Trong quá trình tự học, việc tự kiểm tra đánh giá của học sinh phải được thực hiện có hệ thống bằng nhiều hình thức như: – Tái hiện những điều đã học theo bố cục, đề cương nhất định và tập trình bày cho bản thân hay cho người khác. – Trả lời những câu hỏi trong sách giáo khoa hoặc tài liệu tự học. – Làm bài tập hoặc các đề tự kiểm tra (nếu có) và tự đánh giá bằng đáp án sẵn có. Bước (4): Tự điều chỉnh, bổ sung – Tìm điểm yếu, lỗ hổng kiến thức. – Học lại phần chưa nắm vững, bổ sung kiến thức còn yếu. – Hệ thống, tổng kết lại kiến thức và đề ra biện pháp phòng ngừa sai sót, cải tiến phương pháp học. 1.3.5. Năng lực tự học 1.3.5.1. Khái niệm năng lực tự học [22] Năng lực tự học hết sức quan trọng vì tự học là chìa khoá tiến vào thế giới hiện đại và văn minh – thế giới của trí thức. Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao. Để bồi dưỡng cho HS năng lực tự học, tự nghiên cứu, GV cần hướng dẫn và tạo các cơ hội, điều kiện thuận lợi cho HS hoạt động nhằm phát triển các năng lực đó. 1.3.5.2. Các năng lực tự học cần bồi dưỡng và phát triển cho HS [32] – Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề Năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề hết sức quan trọng đối với mọi người, đặc biệt là HS khá-giỏi. Nhờ năng lực này HS vừa tự làm giàu kiến thức của mình, vừa rèn luyện tư duy và thói quen phát hiện, tìm tòi,…Năng lực này đòi hỏi HS phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những lí luận và hiểu biết đã có

21. 13 của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các bế tắc, nghịch lí cần phải khai thông, khám phá, làm sáng tỏ,… Ngoài ra, để phát hiện đúng vấn đề, đòi hỏi người học phải thâm nhập, hiểu biết khá sâu sắc đối tượng, đồng thời biết liên tưởng, vận dụng những hiểu biết và tri thức khoa học của mình đã có tương ứng. Trên cơ sở đó, dường như xuất hiện “linh cảm”, và từ đó mạch suy luận được hình thành. Phải sau nhiều lần suy xét thêm trong óc, vấn đề phát hiện được nói lên thành lời, hiện lên rõ ràng, thúc bách việc tìm kiếm con đường và hướng đi để giải quyết. – Năng lực giải quyết vấn đề Trong cuộc sống của mỗi người bao gồm một chuỗi các vấn đề khác nhau được giải quyết. Nhờ vào việc đối mặt và giải quyết các vấn đề, mỗi người ngày càng trưởng thành và thích nghi hơn với cuộc sống, xây dựng cho mình cuộc sống có chất lượng ngày càng phát triển. Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lí thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị và kết luận. Kinh nghiệm thực tế cho thấy nhiều HS thu thập được một khối lượng thông tin phong phú nhưng không biết cách xử lí để tìm ra con đường đạt được mục tiêu. Điều này đòi hỏi sự hướng dẫn cẩn thận và kiên trì của các GV ngay từ những hoạt động đầu của giải quyết vấn đề. Nếu nói rằng trong dạy học, quan trọng nhất là dạy cho HS cách học, thì trong đó cần coi trọng dạy cho HS kĩ thuật giải quyết vấn đề. Với kĩ thuật này, HS có thể áp dụng vào rất nhiều trường hợp trong học tập cũng như trong cuộc sống để lĩnh hội các tri thức cần thiết cho mình. Nên xem kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụ nhận thức, nhưng đồng thời là mục tiêu của việc dạy học cho HS phương pháp tự học. – Năng lực xác định những kết luận đúng Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận

22. 14 đúng của quá trình giải quyết vấn đề, hay nói cách khác, các tri thức cần lĩnh hội sau khi giải quyết vấn đề sẽ có được một khi chính bản thân HS có năng lực này. Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết). Trên thực tế có rất nhiều trường hợp được đề cập đến trong lúc giải quyết vấn đề, nên HS có thể đi chệch ra khỏi vấn đề chính đang giải quyết hoặc lạc với mục tiêu đề ra ban đầu. Vì vậy hướng dẫn cho HS kĩ thuật xác định kết luận đúng không kém phần quan trọng so với các kĩ thuật phát hiện và giải quyết vấn đề. Các quyết định phải được dựa trên logic của quá trình giải quyết vấn đề và nhắm đúng mục tiêu. – Năng lực vận dụng kiến thức (hoặc tự thu nhận thức kiến thức mới) Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở chính ngay trong thực tiễn cuộc sống, hoặc là HS vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có nghiên cứu, khám phá, thu nhận thêm kiến thức mới. Cả hai đều đòi hỏi người học phải có năng lực vận dụng kiến thức. Việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đặc biệt trong các trường hợp mới, lại làm xuất hiện các vấn đề đòi hỏi phải giải quyết. Như vậy kĩ năng giải quyết vấn đề lại có cơ hội để rèn luyện và kết quả của việc giải quyết vấn đề giúp cho người học thâm nhập sâu hơn vào thực tiễn. Từ đó hứng thú học tập, niềm say mê và khao khát được tìm tòi, khám phá, áp dụng kiến thức và kinh nghiệm tăng lên, các động cơ học tập đúng đắn càng được bồi dưỡng vững chắc. Giải quyết các vấn đề thực tiễn mới làm nảy sinh nhu cầu nghiên cứu tài liệu, trao đổi, hợp tác với bạn bè, đồng nghiệp. Các kĩ năng về giao tiếp, cộng tác, huy động nguồn lực được rèn luyện. Kết quả của hoạt động thực tiễn vừa làm giàu thêm tri thức, vừa soi sáng, giải thích, làm rõ thêm các kiến thức được học từ SGK, tài liệu. HS thấy tự tin, chủ động hơn, đồng thời họ lại phải có thái độ dám chịu trách nhiệm về các quyết định mình đã lựa chọn và có kĩ năng lập luận, bảo vệ các quyết định của mình. – Năng lực đánh giá và tự đánh giá Dạy học đề cao vai trò tự chủ của HS, đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và

23. 15 khuyến khích (thậm chí bắt buộc) HS đánh giá và tự đánh giá mình. Chỉ có như vậy, họ mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn luôn tìm tòi sáng tạo, tìm ra cái mới, cái hợp lí, cái có kết quả tốt hơn. Mặt khác, kết quả tất yếu của việc rèn luyện các kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kết luận và áp dụng kết quả của quy trình giải quyết vấn đề đòi hỏi HS phải luôn đánh giá và tự đánh giá. HS phải biết được mặt mạnh mặt hạn chế của mình, cái đúng- sai trong việc mình làm mới có thể tiếp tục vững bước tiếp trên con đường học tập chủ động của mình. Không có khả năng đánh giá, HS khó có thể tự tin trong phát hiện, giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã học. Năm năng lực trên vừa đan xen nhưng vừa tiếp nối nhau, tạo nên năng lực tự học ở HS. Các năng lực trên cũng chính là năng lực của người nghiên cứu khoa học. Vì vậy, rèn luyện được các năng lực đó, chính là HS đặt mình vào vị trí của người nghiên cứu khoa học, hay nói cách khác, đó là sự rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu. Cũng chính việc học như vậy, đòi hỏi việc dạy học không phải là truyền thụ kiến thức làm sẵn cho HS mà người GV phải đặt mình vào vị trí người hướng dẫn HS nghiên cứu. 1.3.6. Các kỹ năng tự học [32] Tuỳ theo môn học mà HS có những kĩ năng tự học phù hợp. Một cách chung nhất, HS cần phải được rèn luyện các kĩ năng tự học cơ bản sau: – Biết đọc, nghiên cứu giáo trình và tài liệu học tập, chọn ra những tri thức cơ bản chủ yếu, sắp xếp hệ thống hoá theo trình tự hợp lí, khoa học. – Biết và phát huy được những thuận lợi, hạn chế những mặt non yếu của bản thân trong quá trình học ở lớp, ở nhà, ở thư viện, ở phòng thí nghiệm, … – Biết vận dụng các lợi thế và khắc phục các khó khăn, thích nghi với điều kiện học tập (cơ sở vật chất, phương tiện học tập, thời gian học tập…). – Biết sử dụng linh hoạt các hình thức và phương pháp học tập cho phép để đạt hiệu quả học tập cao. – Biết xây dựng kế hoạch học tập trong tuần, tháng, học kì, cả năm, … – Biết và sử dụng có hiệu quả các kĩ thuật đọc sách, nghe giảng, trao đổi, thảo

25. 17 – Bầu không khí tâm lý trong tập thể HS góp phần lôi cuốn HS vào hoạt động tự học. Tập thể lớp có tinh thần đoàn kết, thi đua phấn đấu học tập sẽ kích thích HS tự học có hiệu quả. – Cách tổ chức, quản lý HS tự học: mặc dù việc tự học của HS ở các trường THPT là tự quản song việc thực hiện nghiêm túc quy chế thi cử và kiểm tra sẽ tác động tích cực đến nhận thức và thái độ tự học của HS. – Truyền thống và điều kiện gia đình cũng ảnh hưởng đến tự học của HS: Nếu gia đình có truyền thống học tập, có sự quan tâm tạo điều kiện thuận lợi thì HS sẽ nỗ lực tự học. Trong hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế sẽ khiến HS gặp khó khăn trong tự học. Tuy vậy, vẫn có trường hợp HS có quyết tâm tự học để vượt lên hoàn cảnh riêng. Điều này phụ thuộc vào nhận thức, ý chí cũng như kỹ năng tự học của mỗi HS. – Các điều kiện tự học: Các yếu tố về điều kiện sống, điều kiện sinh hoạt, các phương tiện học tập, tài liệu tham khảo,…Tất cả những yếu tố này, dù trong hoàn cảnh thuận lợi hay khó khăn, nếu người học có ý chí, quyết tâm thì hoạt động tự học vẫn đạt kết quả cao. – Thời gian dành cho tự học: Tự học không những đòi hỏi phải có quỹ thời gian hợp lý mà còn phải được xếp vào những thời điểm thích hợp cho cá nhân. Như vậy, việc tổ chức học tập trên lớp của GV cũng phải bố trí thật khoa học, tạo thời gian và điều kiện cho HS tự học ở nhà một cách phù hợp. Như vậy, những nhân tố khách quan có ảnh hưởng đến tự học của HS ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, trong các yếu tố trên thì việc giảng dạy của GV nhất là phương pháp giảng dạy sẽ có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tự học của HS. 1.3.7.2. Yếu tố chủ quan Tự học là hoạt động đặc trưng của con người vì thế nó chịu ảnh hưởng trực tiếp của những yếu tố thuộc bản thân người học. Đó là những yếu tố bên trong quyết định trực tiếp hiệu quả hoạt động tự học môn hóa của HS. Những yếu tố chủ quan của tự học ở HS theo chúng tôi có thể do những yếu tố sau:

27. 19 học tập). Chung quy tài liệu được hiểu như một vật mang tin có chứa thông tin và các thông tin có trong tài liệu được mã hoá dưới dạng vật chất nhất định. Hai yếu tố vật mang tin và thông tin trong tài liệu có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó nội dung của thông tin có trong tài liệu đó đóng vai trò quyết định tới giá trị của tài liệu. Theo TS. Nguyễn Lệ Nhung thì khi phân tích sự phát triển của khái niệm “tài liệu” có thể khẳng định tính không tách rời của vật mang tin và của thông tin ghi trên nó [51]. Nhưng những định nghĩa sớm hơn lại nhấn mạnh sự chú ý vào đối tượng vật chất – vật mang thông tin, còn những định nghĩa muộn hơn lại dành sự chú ý nhiều hơn tới thành tố thông tin của tài liệu. Ngày nay, khái niệm “tài liệu” được định nghĩa như sau: “Tài liệu – là thông tin được gắn trên vật mang tin với những tiêu chí cho phép nhận dạng nó” [51]. Ngoài ra, theo cách hiểu của nhiều người thì tài liệu hiện nay không chỉ dừng ở dạng văn bản mà còn có thể lưu giữ trên băng, đĩa, các phần mềm máy tính, mạng internet,… 1.4.1.2. Tài liệu dạy học Tài liệu dạy học là những tài liệu phục vụ cho việc dạy học (bao gồm việc dạy của giáo viên; việc học, tự học của học sinh, sinh viên,…). Tài liệu dạy học (tài liệu hỗ trợ dạy và học) có thể được thiết kế, lưu trữ dưới nhiều hình thức khác nhau như e-book, website, các tài liệu dạng văn bản,… 1.4.1.3. Tài liệu tự học Theo ý kiến của chúng tôi, tài liệu tự học (TLTH) là tư liệu học tập chứa đựng những thông tin, tri thức để HS tự học, tự nghiên cứu khi tiếp cận và lĩnh hội kiến thức. TLTH được biên soạn theo những đặc trưng và cấu trúc của từng môn học, theo trình độ đối tượng. Tài liệu có thể được phân thành nhiều loại: theo nội dung lý thuyết hoặc theo nội dung bài tập hoặc tổng hợp của cả hai. Hoạt động hướng dẫn HS tự học có thể được thực hiện trực tiếp giữa GV và HS trong bài lên lớp; thực hiện bằng hình thức giao nhiệm vụ (ví dụ ra bài tập về nhà, hoặc các phiếu giao việc), cũng có thể thực hiện gián tiếp thông qua “TLTH”.

29. 21 thức SGK (các dạng bài tập cơ bản để củng cố, khắc sâu kiến thức). Đồng thời, trong tài liệu chúng tôi sẽ cung cấp thêm bài tập TNKQ ở mức độ khó hơn để HS (đặc biệt là HS khá giỏi) tiếp tục trau dồi, nâng cao kiến thức và giúp HS tự học hiệu quả hơn. Thực tiễn ở trường phổ thông, để việc học tập của HS hứng thú và hiệu quả thì bài tập hoá học giữ vai trò rất quan trọng. Bài tập cung cấp cho HS cả kiến thức, con đường dành lấy kiến thức và cả niềm vui sướng của sự phát hiện – tìm ra đáp số – một trạng thái hưng phấn – hứng thú nhận thức – một yếu tố tâm lý góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao tính hiệu quả của hoạt động thực tiễn của con người. Điều này đặc biệt được chú ý trong nhà trường của các nước phát triển. 1.4.4. Bài tập hóa học [4], [40], [41] 1.4.4.1. Khái niệm bài tập hóa học Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, thì bài tập là những bài ra cho HS để vận dụng những điều đã học. Theo lý luận dạy học thì BTHH là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi thuộc về hóa học mà sau khi hoàn thành HS nắm được một tri thức hay một kĩ năng nhất định hoặc hoàn thiện chúng. Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: bài toán hoá học để chỉ bài toán định lượng và cả những bài toán nhận thức (chứa cả yếu tố lý thuyết và thực nghiệm). Về mặt lý luận dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của bài tập hóa học trong quá trình dạy học, người GV phải sử dụng và hiểu nó theo quan điểm hệ thống và lý thuyết hoạt động. Bài tập chỉ có thể là “bài tập” khi nó trở thành đối tượng hoạt động của chủ thể, khi có một người nào đó có nhu cầu chọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó, tức là khi có một “người giải”. Vì vậy, bài tập và người học có mối liên hệ mật thiết tạo thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất. Phương pháp luyện tập thông qua việc sử dụng bài tập – giúp người học vận dụng kiến thức, là một trong các phương pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.

31. 23 có cách giải độc đáo nếu HS có tầm nhìn sắc sảo. Thông thường nên yêu cầu HS giải bằng nhiều cách, có thể tìm cách giải ngắn nhất, hay nhất, đó là cách rèn tư duy thông minh cho HS. Khi giải bài toán bằng nhiều cách dưới góc độ khác nhau, khả năng tư duy của HS tăng lên gấp nhiều lần so với HS giải nhiều bài toán nhưng không phân tích đến nơi đến chốn. – Bài tập hóa học còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới (hình thành khái niệm, định luật) khi trang bị kiến thức mới, giúp HS tích cực, tự lực, lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững. Điều này thể hiện rõ khi HS làm bài tập thực nghiệm định lượng. – Bài tập hóa học phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp học tập hợp lý. – Bài tập hóa học có tác dụng giáo dục cho HS đạo đức, tác phong, rèn luyện tính kiên nhẫn, trung thực chính xác khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học. Thông qua việc giải bài tập, còn rèn luyện cho HS phẩm chất độc lập suy nghĩ, tính kiên trì, tính chính xác khoa học, nâng cao hứng thú học tập bộ môn nói riêng và học tập nói chung. Điều này thể hiện rõ khi giải bài tập thực nghiệm. – Bài tập hóa học còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của HS một cách chính xác. HS có thể kiểm tra sự hiểu biết của mình qua việc làm các bài tập vận dụng nội dung khái niệm, từ đó có thể điều chỉnh kịp thời những sai lệch. 1.4.5. Ý nghĩa của tài liệu tự học đối với việc học tập của học sinh Với tài liệu tự học, người học qua quá trình học tập nghiên cứu tự trang bị cho mình không những tri thức mà còn cả con đường dẫn đến tri thức, cách tiếp cận để chiếm lĩnh tri thức của nhân loại. Tri thức của loài người là vô tận vì vậy để việc học tập có hiệu quả cao thì người học cần phải biết mình cần học những gì, học như thế nào khi tiếp nhận một yêu cầu học tập. Người học muốn học có hiệu quả thì tự bản thân họ phải biết cách đánh giá năng lực của mình. Như vậy trong suốt quá trình tự học, bản thân người học sẽ chủ động thực hiện hoạt động nhận thức và hoạt động kiểm tra đánh giá quá trình học tập của mình.

32. 24 1.5. Học sinh khá giỏi hóa học 1.5.1. Khái niệm học sinh khá giỏi Theo chúng tôi, HS khá giỏi trong nhà trường phổ thông có thể được phân thành hai đối tượng như sau: – Thứ nhất: HS khá giỏi là đối tượng học sinh đủ điều kiện xếp loại học lực khá, giỏi theo quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo. – Thứ hai: HS khá giỏi là đối tượng học sinh có năng lực nổi trội ở một môn học; có khả năng vận dụng khá tốt các kiến thức cơ bản đã được học để giải quyết một hay nhiều vấn đề mới; có khả năng sáng tạo, thể hiện một động cơ học tập mãnh liệt và đạt được thành tích khá tốt trong môn học đó. 1.5.2. Những phẩm chất và năng lực của HS khá giỏi hóa học Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm. Vì vậy, một học sinh khá giỏi hóa học thường có những phẩm chất và năng lực quan trọng sau: – Có kiến thức hóa học cơ bản vững vàng, sâu sắc, hệ thống (nắm vững bản chất của các hiện tượng hóa học). – Có năng lực tư duy tốt và sáng tạo (biết phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, có khả năng sử dụng phương pháp phán đoán mới: qui nạp, diễn dịch, loại suy…). – Có kỹ năng thực nghiệm tốt, có năng lực về phương pháp nghiên cứu khoa học (biết nêu ra những dự đoán, lí luận cho những hiện tượng xảy ra trong thực tế; biết dùng thực nghiệm để kiểm chứng lại lí luận trên;…). – Biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo những kiến thức cơ bản và hướng nhận thức đó vào tình huống mới, không theo đường mòn. Có năng lực áp dụng kiến thức vào thực tế. Ngoài ra, theo chúng tôi học sinh khá giỏi hóa học cần bổ sung những phẩm chất sau: – Khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng. – Có phương pháp học tập tốt, chuyên cần, có quyết tâm cao. – Luôn chủ động trong việc học, có ý thức vươn lên trong học tập.

33. 25 – Có khả năng diễn đạt những ý tưởng của bản thân một cách khá tốt. – Luôn hứng thú, tích cực trong các giờ học,… 1.5.3. Hình thành và phát triển tư duy cho HS khá giỏi hóa học Việc phát triển tư duy cho học sinh trước hết là giúp học sinh nắm vững kiến thức hóa học, biết vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập và thực hành. Qua đó kiến thức học sinh thu nhận được trở nên vững chắc và sinh động hơn. Học sinh chỉ thực sự lĩnh hội được tri thức khi tư duy của họ được phát triển và nhờ sự hướng dẫn của giáo viên mà học sinh biết phân tích, khái quát tài liệu có nội dung, sự kiện cụ thể và rút ra những kết luận cần thiết. Tư duy càng phát triển thì khả năng lĩnh hội tri thức ngày càng nhanh và sâu sắc, khả năng vận dụng tri thức nhanh, hiệu quả hơn. Như vậy sự phát triển tư duy học sinh diễn ra trong quá trình tiếp thu và vận dụng tri thức, khi tư duy phát triển sẽ tạo ra kĩ năng và thói quen làm việc có suy nghĩ, có phương pháp, chuẩn bị tiềm lực lâu dài cho học sinh trong hoạt động sáng tạo sau này. Dấu hiệu đánh giá tư duy phát triển: – Trong quá trình học tập, học sinh đều phải giải quyết nhiều vấn đề đòi hỏi liên tưởng đến những kiến thức đã học trước đó. Nếu học sinh độc lập chuyển tải tri thức vào tình huống mới thì chứng tỏ đã có biểu hiện tư duy phát triển. – Tái hiện nhanh chóng kiến thức, các mối quan hệ cần thiết để giải quyết bài toán nào đó; thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ bản chất của các sự vật hiện tượng (giống, khác nhau). – Có năng lực áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Đây là kết quả phát triển tổng hợp của sự phát triển tư duy. Để có thể giải quyết tốt bài toán thực tế, đòi hỏi học sinh phải có sự định hướng tốt, biết phân tích, suy đoán và vận dụng các thao tác tư duy để tìm cách áp dụng thích hợp, cuối cùng là tổ chức thực hiện có hiệu quả. Sau khi nghiên cứu toàn bộ cơ sở lý luận về xu hướng đổi mới giáo dục, về tự học, về bài tập hóa học,… chúng tôi hiểu rằng để nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng với yêu cầu xã hội thì GV phải dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của người học, giúp cho HS hình thành và phát triển khả năng tự

38. 30 Rõ ràng, việc tự học là rất quan trọng và cần thiết thế nhưng hiện nay GV cho rằng đa số HS vẫn chưa biết cách tự học môn hoá học. Vì vậy, trong quá trình dạy học GV cần giúp HS hình thành và phát huy năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề; và để thực hiện được điều này đòi hỏi phải bắt đầu từ việc thay đổi cách dạy của GV. 1.6.1.4. Hiệu quả của việc tự học Hơn 90% GV cho rằng hoạt động tự học của HS chưa đạt hiệu quả cao, chưa đạt chuẩn kiến thức kĩ năng của Bộ GD & ĐT đề ra. Thật vậy, theo kết quả khảo sát của chúng tôi, các em HS cho biết nguyên nhân hoạt động tự học của họ chưa đạt chuẩn là do HS chưa biết cách tự học, nguyên nhân tiếp theo là do chưa có tài liệu giúp HS tự học hiệu quả… (bảng 1.6). Bảng 1.6. Những khó khăn học sinh gặp phải khi tự học Ý kiến Lựa chọn Số lượng % 1. HS chưa biết cách tự học hiệu quả 167 65,7 2. Chưa có tài liệu phù hợp giúp tự học 121 47,6 3. HS không có thời gian tự học 78 30,7 4. Quen lối học thụ động, không thích tự học 91 35,8 Như vậy, để giúp HS khắc phục những khó khăn trong tự học thì GV cần giúp cho các em tìm ra phương pháp tự học thích hợp và cung cấp cho HS những phương tiện tự học có hiệu quả. Dạy cho HS biết cách tự học chính là một trong những cách giúp HS tìm ra chiếc chìa khóa vàng để mở kho tàng kiến thức vô tận của nhân loại. 1.6.2. Về vấn đề thiết kế tài liệu tự học Theo khảo sát của chúng tôi, trong giảng dạy hiện nay các thầy cô giáo thường sử dụng những nguồn tài liệu sau: SGK và SBT; tài liệu tham khảo trên thị trường hoặc từ internet;…(bảng 1.7).

39. 31 Bảng 1.7. Nguồn tài liệu GV thường sử dụng Ý kiến Lựa chọn Số lượng % 1. Sách giáo khoa và sách bài tập 55 70,5 2. Tài liệu tham khảo trên thị trường/ từ internet 59 75,6 3. Tạp chí khoa học chuyên môn 38 48,7 4. Tài liệu do GV thiết kế giúp HS tự học 32 41,0 Đa số ý kiến đều cho rằng tài liệu do GV thiết kế phù hợp sẽ giúp HS tự học tốt hơn, nhưng số lượng GV có tham gia thiết kế tài liệu không nhiều; lí do là vì GV hoặc không có nhiều thời gian hoặc chưa đủ kinh nghiệm thiết kế tài liệu,… Nhưng tất cả GV đều có một ý kiến chung nhất là mong muốn có tài liệu phù hợp để hướng dẫn HS THPT hình thành và phát triển năng lực tự học. Để có tài liệu tự học phù hợp, theo các GV, những yêu cầu cần có đối với tài liệu tự học môn hóa học là phải thật sự hữu ích giúp HS tự học dễ dàng, phải bám sát nội dung, cấu trúc chương trình, đúng trọng tâm,… Bảng 1.8. Các yêu cầu đối với tài liệu tự học Ý kiến Lựa chọn Số lượng % 1. Bám sát nội dung, cấu trúc chương trình 58 74,4 2. Xác định đúng trọng tâm các nội dung kiến thức 53 67,9 3. Tạo điều kiện cho HS tham gia vào quá trình đánh giá 44 56,4 4. Phân loại được trình độ HS 35 44,9 Bên cạnh đó, chúng tôi còn lấy ý kiến của các em HS về những nội dung cần thiết và thích hợp cho HS tự học đó là phải có phần hướng dẫn HS nắm lý thuyết trọng tâm, từ đó HS tự làm được bài tập (từ cơ bản đến nâng cao), tiếp theo là HS tự làm bài kiểm tra và tự đánh giá rút kinh nghiệm,… (bảng 1.9).

41. 33 TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài, bao gồm các nội dung: – Tổng quan vấn đề nghiên cứu. – Các xu hướng đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay và tìm hiểu về phương pháp dạy học tích cực (dạy HS phương pháp tự học,…) để đáp ứng được các xu hướng đổi mới trên. – Cơ sở lý luận về tự học: khái niệm, các hình thức tự học, năng lực tự học, … đặc biệt chúng tôi định hướng cho HS áp dụng chu trình gồm 4 bước trong quá trình tự học – đây là một giải pháp giúp HS thực hiện thành công phương pháp tự học. – Nghiên cứu các khái niệm: tài liệu, tài liệu tự học, tài liệu tự học lý thuyết, tài liệu tự học về bài tập, bài tập hóa học (khái niệm; vai trò, vị trí của bài tập hóa học trong dạy học); tìm hiểu về ý nghĩa của tài liệu tự học đối với việc học tập của học sinh. – Những yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tự học hóa học của HS THPT. – Những phẩm chất và năng lực của học sinh khá giỏi hóa học; việc hình thành và phát triển tư duy cho học sinh khá giỏi. – Điều tra thực trạng về việc tự học môn hóa học của HS THPT, phân tích kết quả điều tra. Các số liệu cho thấy HS cần thiết phải tích cực học tập, phải có khả năng tự học ở bậc THPT, nhưng hiện nay GV cho rằng đa số HS hoạt động tự học chưa đạt hiệu quả. Tất cả GV đều mong muốn có tài liệu phù hợp để hướng dẫn HS tự học. Những nội dung trên là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu với mục đích là thiết kế TLTH cho HS khá giỏi lớp 11.

43. 35 Bảng 2.1. Cấu trúc phần hóa học hữu cơ lớp 11 THPT NỘI DUNG Số tiết Chương 4: Đại cương về hóa học hữu cơ Bài 25 Hóa học hữu cơ và hợp chất hữu cơ 1 Bài 26 Phân loại và gọi tên hợp chất hữu cơ 1 Bài 27 Phân tích nguyên tố 1 Bài 28 Công thức phân tử hợp chất hữu cơ 1 Bài 29 Luyện tập: Chất hữu cơ, công thức phân tử 1 Bài 30 Cấu trúc phân tử hợp chất hữu cơ 2 Bài 31 Phản ứng hữu cơ 1 Bài 32 Luyện tập: Cấu trúc phân tử hợp chất hữu cơ 1 Chương 5: Hiđrocacbon no Bài 33 Ankan: Đồng đẳng, đồng phân và danh pháp 1 Bài 34 Ankan: Cấu trúc phân tử và tính chất vật lí 1 Bài 35 Ankan: Tính chất hóa học, điều chế và ứng dụng 2 Bài 36 Xicloankan 1 Bài 37 Luyện tập: Ankan và xicloankan 1 Bài 38 Thực hành: Phân tích định tính. Điều chế và tính chất của metan 1 Chương 6: Hiđrocacbon không no Bài 39 Anken: Danh pháp, cấu trúc và đồng phân 1 Bài 40 Anken: Tính chất, điều chế và ứng dụng 2 Bài 41 Ankađien 1 Bài 42 Khái niệm về tecpen 1 Bài 43 Ankin 2 Bài 44 Luyện tập: Hiđrocacbon không no 1 Bài 45 Thực hành: Tính chất của hiđrocacbon không no 1 Chương 7: Hiđrocacbon thơm – Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên Bài 46 Benzen và ankylbenzen 2 Bài 47 Stiren và naphtalen 1

44. 36 Bài 48 Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên 1 Bài 49 Luyện tập: So sánh đặc điểm cấu trúc và tính chất của hiđrocacbon thơm với hiđrocacbon no và không no 2 Bài 50 Thực hành: Tính chất của một số hiđrocacbon thơm 1 Chương 8: Dẫn xuất halogen. Ancol – phenol Bài 51 Dẫn xuất halogen của hiđrocacbon 2 Bài 52 Luyện tập: Dẫn xuất halogen 1 Bài 53 Ancol: Cấu tạo, danh pháp, tính chất vật lí 1 Bài 54 Ancol: Tính chất hóa học, điều chế và ứng dụng 2 Bài 55 Phenol 1 Bài 56 Luyện tập: Ancol – phenol 1 Bài 57 Thực hành: Tính chất của một vài dẫn xuất halogen, ancol và phenol 1 Chương 9: Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic Bài 58 Anđehit và xeton 2 Bài 59 Luyện tập: Anđehit và xeton 1 Bài 60 Axit cacboxylic: Cấu trúc, danh pháp và tính chất vật lí 2 Bài 61 Axit cacboxylic: Tính chất hóa học, điều chế và ứng dụng 1 Bài 62 Luyện tập: Axit cacboxylic 1 Bài 63 Thực hành: Tính chất của anđehit và axit cacboxylic 1 2.2. Những định hướng khi thiết kế tài liệu tự học Trước khi thiết kế TLTH, chúng tôi đã nghiên cứu các nguyên tắc chung về việc xây dựng nội dung, cấu trúc chương trình, đồng thời xây dựng các định hướng cho việc thiết kế như sau: 1- Thực hiện theo đúng nội dung chương trình, chú ý kiến thức trọng tâm Thiết kế TLTH phải dựa trên cơ sở là thực hiện theo đúng nội dung, cấu trúc chương trình hóa học lớp 11 THPT. Để đạt đến mục tiêu này thì người viết tài liệu phải sáng suốt, biết chọn lọc những nội dung chính, trọng tâm để hướng dẫn HS tự học. Tài liệu cũng là một trong những phương tiện để tổ chức các hoạt động của HS, nhằm khắc sâu, vận dụng và phát triển hệ thống kiến thức lí thuyết đã học, hình

45. 37 thành và rèn luyện các kĩ năng cơ bản, nhằm đạt được mục tiêu dạy học. 2- Đảm bảo tính chính xác, khoa học, cơ bản, hiện đại Đảm bảo tính chính xác, khoa học là định hướng chủ yếu của việc lựa chọn nội dung. Mặt khác cũng cần phải đảm bảo tính cơ bản và tính hiện đại của hệ thống kiến thức. Đảm bảo tính cơ bản là phải đưa vào tài liệu những kiến thức cơ bản, nền tảng về hoá học, còn đảm bảo tính hiện đại là tài liệu phải cập nhật những kiến thức, dạng bài tập mới và cách giải mới phù hợp xu hướng chung của thế giới. Lưu ý khi thiết kế, nội dung tài liệu phải có sự chính xác về kiến thức hóa học và về mặt ngôn ngữ hóa học. 3- Đảm bảo tính logic, tính hệ thống của kiến thức Trong tài liệu, các nội dung lý thuyết và các bài tập phải được chọn lọc, phân bố, sắp xếp một cách hợp lý, đúng trình tự đảm bảo logic của mạch kiến thức; có sự thiết lập các mối liên hệ giữa chúng; nhằm tạo nên một hệ thống kiến thức có bố cục chặt chẽ, thống nhất được trình bày một cách rõ ràng, khoa học nhất. 4- Đảm bảo tính vừa sức, tính phân hóa Đảm bảo tính vừa sức là tài liệu phải thật sự phù hợp với khả năng HS và có hiệu quả với hầu hết người sử dụng. Bên cạnh đó, tài liệu phải đảm bảo tính phân hóa, đặc biệt là có chú ý đến đối tượng HS khá giỏi. Vì thế trong tài liệu ngoài nội dung kiến thức cơ bản còn có nội dung nâng cao; bài tập thì được xây dựng từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, cuối cùng là những bài tập đòi hỏi tư duy sáng tạo. Các bài tập phải có đủ loại điển hình và thể hiện tính mục đích rõ ràng, có bài tập chung cho cả lớp nhưng cũng có bài tập nâng cao hơn, khó hơn nhằm gây hứng thú đối với HS khá giỏi. Với tài liệu được xây dựng theo định hướng trên sẽ giúp cho HS học tập tích cực hơn dẫn đến kết quả học tập tốt hơn. 5- Tạo điều kiện cho người học tham gia vào quá trình kiểm tra đánh giá Quá trình tự học sẽ không hoàn thiện nếu HS không có kỹ năng tự kiểm tra đánh giá. Do đó trong tài liệu cần có các bài tập và đề kiểm tra kèm theo đáp án. HS tham gia vào quá trình kiểm tra- đánh giá bằng cách tự trả lời các câu hỏi, tự làm

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đề Tài Hướng Dẫn Học Sinh Lớp 4, 5 Tự Học Thông Qua Mạng Internet trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!