Đề Xuất 2/2023 # Đề Tài Áp Dụng Bản Đồ Tư Duy Trong Dạy Và Học Môn Tiếng Anh # Top 4 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 2/2023 # Đề Tài Áp Dụng Bản Đồ Tư Duy Trong Dạy Và Học Môn Tiếng Anh # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đề Tài Áp Dụng Bản Đồ Tư Duy Trong Dạy Và Học Môn Tiếng Anh mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHẦN I: SƠ YẾU LÝ LỊCH Họ và tên: Bùi Thị Thu Sinh ngày: 13 / 01 /1978 Năm vào ngày: 2001 Chức vụ và đơn vị công tác : Giáo viên Trường THCS Thanh Mai- Thanh Oai- TP Hà Nội Trình độ chuyên môn: Chuyên ngành Tiếng Anh Hệ đào tạo: Từ xa Nhiệm vụ được phân công: Dạy Tiếng Anh các lớp: 9A, 9B, 9C, 7B. Trình độ chính trị: Sơ cấp Khen thưởng: Chiến sĩ thi đua cơ sở năm học: 2008 - 2009; 2009 - 2010. PHẦN II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI Tên đề tài: "ÁP DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC MÔN TIẾNG ANH." Phần A: MỞ ĐẦU I. Đặt vấn đề: 1. Thực trạng của vấn đề: Học ngoại ngữ thật không dễ chút nào. Như chúng ta đã thấy, tiếng mẹ đẻ đôi lúc các em còn chưa nắm vững ngữ pháp cũng như chưa biết chọn lọc, trau chuốt lời văn, câu chữ vì vậy nhiều học sinh rất chán nản, lơ là trong giờ Ngữ văn huống chi là học tiếng nước ngoài. Là giáo viên giảng dạy bộ môn tiếng Anh ở bậc THCS trong 10 năm qua, tôi thấy lượng học sinh học yếu ở bộ môn tiếng Anh còn nhiều, chỉ một số ít các em hiểu biết và nói viết lưu loát. Và tôi đã nhận ra một số vấn đề khó khăn chính như sau: 1.1. Thực trạng học của học sinh: a. Không có cơ hội thực hành Tiếng Anh. Mục tiêu chính của một lớp học tiếng Anh theo đường hướng giao tiếp là giúp học sinh có thể giao tiếp bằng ngoại ngữ ngày một tự tin và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, đây cũng chính là điều khiến nhiều giáo viên ngoại ngữ đau đầu vì làm thế nào để đạt được mục tiêu ấy lại là một câu hỏi không dễ trả lời. Thực ra trong chương trình sách giáo khoa đã được soạn theo bốn kĩ năng riêng và cũng có băng đĩa để luyện nghe - nói, tuy nhiên có thể do thời lượng bố trí các tiết học, do điều kiện vật chất của các trường, hoặc cũng có thể do thói quen của giáo viên mà việc sử dụng băng đĩa gần như là không được áp dụng thường xuyên trong các tiết học, kể cả ở thành thị, chứ không nói gì đến nông thôn. Học sinh chủ yếu chỉ được nghe cô hướng dẫn đọc, nhưng ngay cả cô giáo thì không phải lúc nào cũng đúng. Như vậy khó khăn lớn nhất của học sinh chúng ta khi học tiếng Anh có lẽ là do không có môi trường tiếng thực tế. Vì vậy điều then chốt là tạo ra một môi trường tiếng trong lớp học nơi khiến học sinh cảm thấy tự tin khi sử dụng tiếng Anh. Tuy nhiên để làm được điều này thật là không dễ đặc biệt đối với tâm lí chung của học sinh chúng ta là rất ngại nói Tiếng Anh vì sợ sai. Điều này có lẽ do bản tính người Việt dễ xấu hổ, nên sợ nếu nói sai thì bị mọi người cười chê, và tốt nhất là giấu dốt. b. Đa dạng về trình độ học sinh trong lớp. Thật là thách thức cho giáo viên tiếng Anh khi phải giảng dạy ở một lớp học mà trình độ học sinh quá chênh lệch nhau, vì giáo viên sẽ cảm thấy rất khó để có thể tìm được một hoạt động chung cho cả lớp. Điều này đôi khi bất khả thi vì một trò chơi hay bài tập có thể là quá khó nhóm này nhưng lại là quá nhàm chán đối với nhóm khác. Do đó, làm cách nào để có thể giúp cho học sinh dễ dàng nắm bắt kiến thức, nhất là đối với học sinh yếu. Ở các em có sự khác biệt về: khả năng tiếp thu bài, phong cách nhận thức, sức khoẻ so với những học sinh khác. Có lẽ đây là vấn đề không chỉ của riêng ngành giáo dục mà hiện nay cả xã hội cũng đang quan tâm và tìm giải pháp để khắc phục tình trạng này. Để đưa nền giáo dục nước nhà phát triển toàn diện thì người giáo viên không những chỉ biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, giúp giảm dần khoảng cách về trình độ trong lớp học. Vấn đề nêu trên là khó khăn với không ít giáo viên nhưng ngược lại, giải quyết được điều này là góp phần xây dựng trong bản thân mỗi giáo viên một phong cách và phương pháp dạy học hiện đại, giúp cho học sinh có hướng tư duy mới trong việc lĩnh hội kiến thức. d. Học sinh không hứng thú với việc học tiếng Anh. Không chỉ riêng học sinh mà tất cả những người học tiếng Anh đều muốn nói được tiếng Anh một cách trôi chảy. Họ sẽ cảm thấy rất sung sướng khi nghĩ rằng mình có thể làm được điều đó. Thế nhưng họ thường không quan tâm đến chính bản thân quá trình học tiếng Anh. Đối với phần lớn học sinh thì việc học tiếng Anh là một điều gì đó các em bị bắt buộc phải làm chứ các em không hề muốn. Học tiếng Anh lúc này đối với học sinh là một nghĩa vụ, và chính điều đó khiến cho các em cảm thấy không thoải mái khi học tiếng Anh. Chính vì vậy trách nhiệm của người giáo viên dạy tiếng Anh là phải tìm ra những phương pháp dạy học thích hợp nhằm khơi gợi niềm đam mê học tiếng Anh của học sinh, để các em nhận ra rằng: Nếu muốn trở thành một người học tiếng Anh thành công, thì cần phải quan tâm đến bản thân chính quá trình học tiếng Anh của mình. e. Học sinh lười tư duy, tìm tòi mở rộng kiến thức. Mọi người đều có kỹ năng tư duy, nhưng không phải ai cũng dùng nó một cách có hiệu quả. Kỹ năng tư duy có hiệu quả khó đạt được ngay nhưng có thể phát triển dần dần. Người có tư duy tốt sẽ thấy được lối ra trong khi người tư duy kém chỉ thấy toàn ngõ cụt. Hiện nay tình trạng học sinh chúng ta thụ động trong việc lĩnh hội kiến thức ở các nhà trường vẫn còn phổ biến. Các em lười tìm tòi, tư duy, mở rộng kiến thức mặc dù các em đang sống trong xã hội hiện đại biến đổi rất nhanh, với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão. Chính vì vậy đã có rất nhiều phương pháp dạy học tích cực ra đời, trong đó người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. f. Học sinh không thích phát biểu trong giờ học. Theo quan điểm của một nhà giáo cho rằng: Không có trò dốt mà chỉ có trò chưa giỏi và nhiệm vụ là của người thầy. Đối với những người thầy giỏi luôn biết cách tạo ra sự sôi nổi cho lớp học, còn những thầy mà yếu kém và kiến thức chưa sâu thì dạy sẽ nhàm chán ngay. Giảng dạy giống như hoạt động nghệ thuật của một nghệ sĩ đòi hỏi người thầy phải tìm tòi và sáng tạo. Đặc biệt với thời đại Internet, nghĩa là kiến thức toàn cầu cho nên giáo viên đừng có nghĩ chỉ cần một số quyển sách là đáp ứng được giảng dạy. Người thầy cần phải luôn tìm hiểu cập nhật những kiến thức mới để tạo ra sự hứng thú đối với học sinh. Chính vì vậy để một tiết học sôi nổi thì phương pháp và khả năng xây dựng bài giảng của giáo viên đóng vai trò rất quan trọng, một môn học không làm các em hứng thú thì đương nhiên là các em sẽ không muốn phát biểu. 1.2. Thực trạng dạy của giáo viên: a. Trình độ, năng lực chuyên môn và nghiệp vụ còn yếu: Theo Xukhomlinxki thì người giáo viên cần phải có kiến thức, có hiểu biết sư phạm, có khả năng dùng lời nói để tác động đến tâm hồn học sinh, có kỹ năng đặc sắc nhìn nhận con người và cảm thấy những rung động tinh tế nhất của trái tim con người. Rõ ràng những tiêu chí trên dành cho giáo viên là luôn luôn cần trong mọi thời đại. Tuy nhiên hiện nay năng lực giáo viên ngoại ngữ còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy thì làm sao học sinh chúng ta có thể học tốt được. Có lẽ xuất phát từ thực tế đó mà Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển đã từng chia sẻ rằng: khó khăn lớn nhất của đề án ngoại ngữ quốc gia là thiếu giáo viên có chất lượng và mỗi giáo viên phải nhận thức được rằng yếu về năng lực là còn nợ với học sinh. b. Chưa có phương pháp dạy học phù hợp: Xét trên một phương diện nào đó có thể thấy rằng mọi phương pháp dạy học đều có chung mục đích là làm sao cho người thầy và người học thấy được ngôi trường mình đang học và giảng dạy chính là ngôi nhà thứ hai của mình, thấy được sự ấm áp trong quan hệ thầy trò, không có sự áp đặt và là nơi để học sinh phát huy được khả năng sáng tạo, tư duy của mình. Ở đó học sinh thấy được sự hứng khởi để tìm tòi cái mới. Trong giai đoạn hiện nay, mỗi trường đều có những phương pháp dạy học riêng để đạt được hiệu quả trong công tác giảng dạy. c. Lương cho giáo viên hợp đồng chưa đáp ứng được với mức sống hiện tại: Mấy năm gần đây ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng để từng bước triển khai nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Từ "Nói không với tiêu cực trong thi cử" và "Nói không với việc chạy theo thành tích" mà ngành giáo dục thường gọi "hai không" tiếp sau đó là "nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo; nói không với ngồi nhầm lớp; nói không với đào tạo không theo nhu cầu xã hội... Và đến bây giờ là cải tiến phương pháp giảng dạy của giáo viên... Tuy nhiên một vấn đề quan trọng nữa gắn liền với chất lượng giáo dục cũng đã được nhắc nhiều lần nhưng chưa giải quyết được bao nhiêu, đó là: lương cho giáo viên. Thật vậy, lương cho giáo viên quá thấp, chưa đáp ứng được với mức sống hiện tại. Giáo viên ngoài giờ dạy ở trường phải làm những công việc khác nhau để tăng thu nhập và phổ biến nhất là mở các lớp dạy thêm ở nhà. Do vậy việc đầu tư vào giảng dạy, nâng cao kiến thức sẽ giảm dần hiệu quả và cứ thế những kiến thức của thầy giáo truyền từ năm này qua năm khác vẫn thế, không có gì thay đổi hoặc thay đổi rất ít. Đây là những vấn đề trọng tâm mà tôi muốn đề cập trong phần nội dung của giải pháp mới. 2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới: 2.1. Ý nghĩa: Việc học và sử dụng tiếng Anh đòi hỏi cả một quá trình luyện tập cần cù sáng tạo của cả người học lẫn người dạy, đặc biệt trong tình hình cải cách giáo dục như hiện nay. Việc dạy theo phương pháp đổi mới chú trọng nhiều đến tính tự tin, sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện để các em tư duy, chủ động thực hành tiếng Anh, nắm bắt nhanh và khắc sâu được lượng kiến thức đã học. Dĩ nhiên để cho ra đời những " sản phẩm" hoàn mĩ như vậy thì người giáo viên đóng vai trò hết sức quan trọng. Có người đã từng nói rằng: Người thầy đứng trên bục giảng giống như một diễn viên trên sân khấu. Chính vì vậy phương pháp giảng dạy của giáo viên có tác dụng rất lớn đến quá trình học của học sinh. Xuất phát từ quan điểm đó, tôi cho rằng phương pháp dạy học tích cực sử dụng " BẢN ĐỒ TƯ DUY" là một trong những phương pháp hữu hiệu nhất đáp ứng được yêu cầu của việc giảng dạy tiếng Anh trong thời đại mới. 2.2. Tác dụng: Phương pháp dạy học tích cực sử dụng "bản đồ tư duy" có tác dụng tối ưu trong việc thu hút mọi đối tượng học sinh vào bài học, kích thích khả năng tư duy, sáng tạo, sự tự tin của học sinh và giúp họ dễ dàng nắm bắt cũng như khắc sâu được lượng kiến thức đã học. Hơn thế nữa bản đồ tư duy có thể được áp dụng hiệu quả ở bất kì giai đoạn nào trong một bài học hay bất kì dạng bài tập nào. 3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Phương pháp dạy học tích cực sử dụng " bản đồ tư duy" là phương pháp mới, chỉ vừa được Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cũng như Sở Giáo Dục và Đào Tạo triển khai, áp dụng trong đầu năm học 2011 - 2012. Chính vì thời gian ngắn như vậy nên trong đề tài này tôi chỉ nghiên cứu, cập nhật và áp dụng bản đồ tư duy trong một số dạng bài của môn tiếng Anh cho học sinh khối trung học cơ sở trong phạm vi trường. II. Phương pháp tiến hành: 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn: 1.1. Cơ sở lý luận: Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã và đang thực hiện chính sách mở cửa nhằm hội nhập với cộng đồng thế giới trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, thương mại, du lịch, giáo dục, v.v Trong đó Giáo dục trong thế kỷ XXI phải thực hiện được sứ mệnh nhân văn hóa tiến trình toàn cầu hóa, biến toàn cầu hóa thành điều có ý nghĩa đối với từng con người với tất cả các quốc gia. Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng của mỗi đất nước và tạo cơ hội học tập cho mỗi người dân. Với cơ chế mở cửa đó ở nước ta thì ngoại ngữ đã trở thành phương tiện vô cùng quan trọng vì một triết gia đã từng nói rằng " Biết thông thạo một ngoại ngữ giống như bạn có thêm một con người mới". Chỉ có ngoại ngữ mới có thể giúp chúng ta tiếp cận với thể giới văn minh, trao đổi văn hóa và nối vòng tay hữu nghị toàn cầu. Xuất phát từ mục tiêu đó tiếng Anh đã trở thành ngoại ngữ số một được dạy ở nước ta và việc dạy cũng như học tiếng Anh ở các trường THCS cũng đã có những chuyển biến rõ rệt. Thậm chí hiện nay hầu hết các trường tiểu học đã đưa môn này vào để các em làm quen và tạo thuận lợi để các em học tốt hơn sau này. 1.2. Cơ sở thực tiễn: Song song với những thay đổi đó là các trường học ở Việt Nam đứng trước nhiều thách thức trong việc trang bị kỹ năng ngoại ngữ cho người học để đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của thị trường lao động trong thời kì mới. Nếu trước đây mục tiêu chủ yếu của việc dạy và học ngoại ngữ là đọc hiểu để phục vụ nghiên cứu văn học và khoa học kĩ thuật thì ngày nay thực tế xã hội đã đòi hỏi đội ngũ giáo viên dạy ngoại ngữ ở Việt Nam phải đổi mới phương pháp giảng dạy, áp dụng việc dạy ngôn ngữ theo đường hướng giao tiếp nhằm tăng cường năng lực giao tiếp cho người học. Trong tiến trình chung này, những năm qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa theo đường hướng giao tiếp dành cho bậc học phổ thông chú trọng vào việc rèn bốn kỹ năng nghe, nói, đọc và viết cho học sinh. Trước tình hình đó, là giáo viên tiếng Anh tôi luôn suy nghĩ làm thế nào để mang lại cho học trò những bài học thật thú vị, mới mẻ, kích thích sự ham học, tính chủ động của các em từ khá giỏi đến yếu kém, làm sao sau mỗi bài học không chỉ học sinh khắc sâu kiến thức, ấn tượng, nhớ mãi mà còn giúp các em tự tin, chủ động dần lên. Có nhiều phương pháp dạy học được triển khai hàng năm nhằm nâng cao chất lượng bộ môn nhưng có lẽ phương pháp dạy học tích cực bằng cách sử dụng " BẢN ĐỒ TƯ DUY" làm tôi tâm đắc nhất. Với bản đồ tư duy, tôi có thể vận dụng trong bất cứ giai đoạn nào của một bài học, lôi cuốn được mọi đối tượng học sinh tham gia, làm cho các em mất dần cảm giác sợ cũng như chán nản với môn học này và đặc biệt còn kích thích được sự tư duy, tính tò mò, khả năng tìm tòi mở rộng kiến thức của các em. Điều này là rất quan trọng bởi vì theo Margaret Mead "Không nên dạy cho trẻ em những gì chúng phải suy nghĩ, mà dạy cho chúng cách suy nghĩ". 2. Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp: 2.1. Biện pháp tiến hành: Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng một số biện pháp như sau: - Nghiên cứu tài liệu bồi dưỡng thường xuyên của ngành trong các dịp bồi dưỡng chuyên môn và phương pháp dạy học sử dụng "bản đồ tư duy" năm 2011- 2012. - Tham khảo các bài viết trên mạng về việc sử dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy. - Tham khảo ý kiến của đồng nghiệp. - Thông qua thực tế áp dụng sau gần một năm của bản thân. - Điều tra, phân tích, tổng hợp tình hình học tập của học sinh.Trước tình hình học tiếng Anh ở nhà trường như vậy, tôi đã thống kê kết quả của học sinh khối lớp 9 sau đợt khảo sát chất lượng đầu năm 2012- 2013 ở trường tôi như sau: Kết quả khảo sát: Lớp Ss Giỏi Khá Tb Yếu Kém SL % SL % SL % SL % SL % 9A 26 1 3,85 6 23,1 15 57,7 3 11,5 1 3,85 9B 37 5 13,5 18 48,7 12 32,4 2 5,40 0 0 9C 24 2 8,33 7 29,2 11 45,8 3 12,5 1 4,17 Từ kết quả trên cho thấy khả năng học tiếng Anh của các em không đồng đều: Học sinh giỏi, khá chưa nhiều, số lượng trung bình yếu vẫn còn chiếm tỉ lệ khá cao. Vì vậy tôi đã tích cực áp dụng một số kinh nghiệm về việc áp dụng Bản Đồ Tư Duy trong việc dạy và học môn Tiếng Anh . 2.2. Thời gian tạo ra giải pháp: - Chọn đề tài và tiến hành khảo sát đầu năm của khối 9 để lấy số liệu làm minh chứng trong quá trình dạy học áp dụng "bản đồ tư duy". - Tìm hiểu thực tế việc giảng dạy của giáo viên trong và ngoài trường về dạy học áp dụng " bản đồ tư duy". - Trao đổi chất vấn giáo viên và học sinh về tính hiệu quả của dạy và học sử dụng "bản đồ tư duy". Phần B: NỘI DUNG I. Mục tiêu: Ý thức được tầm quan trọng của tiếng Anh - một ngôn ngữ quốc tế - hầu hết các bậc phụ huynh hiện nay đều cho con mình học tiếng Anh ngay từ nhỏ. Tuy nhiên không phải học sinh nào cũng có điều kiện học tốt như nhau và đặc biệt là môi trường để sử dụng tiếng Anh. Vì vậy để đạt được mục tiêu cuối cùng: dạy ngoại ngữ để giao tiếp ngoài xã hội, thì trong mỗi lớp học phải là một "xã hội thu nhỏ", giúp học sinh có được những kiến thức ngôn ngữ, tư duy nhạy bén, khả năng xử lý tình huống linh hoạt và đặc biệt là sự tự tin trước mọi người. Vì vậy, trong đề tài này tôi tiến hành nghiên cứu tính hiệu quả của việc sử dụng bản đồ tư duy nhằm đạt được những mục đích sau: - Phân tích so sánh về thực trạng trong quá trình dạy và học chưa áp dụng bản đồ tư duy với việc dạy và học áp dụng bản đồ tư duy. - Phân tích và chứng minh những điểm mới, điểm sáng của giải pháp mới nhằm mục đích thay thế những phương pháp cũ đã áp dụng. - Nêu cụ thể khả năng áp dụng của giải pháp mới nhằm đem lại hiệu quả trong quá trình dạy và học Tiếng Anh ở trường. II. Mô tả giải pháp của đề tài: 1. Thuyết minh tính mới: 1.1/ Sơ đồ tư duy là gì? Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy, là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não. Nó là phương tiện ghi chép sáng tạo và hiệu quả, trong đó nó mở rộng, đào sâu, kết nối các ý tưởng và bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng. 1.2/ Cách tiến hành vẽ bản đồ tư duy: 1.3 Vận dụng" bản đồ tư duy" trong các dạng bài cụ thể: a/ Áp dụng " bản đồ tư duy" vào phần kiểm tra bài cũ học sinh: *Ví dụ: Dùng sơ đồ tư duy kiểm tra từ vựng: Sau khi học xong English 8 UNIT 3: AT HOME phần "Speak", thay vì yêu cầu học sinh viết một cách tự do, tôi bảo các em viết từ vựng về các đồ dùng trong nhà theo từng nhóm chủ điểm. Các em sẽ phải trình bày như sau: . Nội dung chính: Furniture . Nhánh cấp 1: In the kitchen . Nhánh cấp 2: In the living-room. - Sau đó các em tiếp tục vẽ các nhánh nhỏ tiếp theo liệt kê các từ vựng mà mình đã học - Sau khi các em trình bày xong nội dung trên, tôi yêu cầu các em hãy tưởng tượng về một phòng khách và nhà bếp, rồi dùng các từ vựng vừa viết ra để mô tả lại. Ví dụ: - The rug is under the coffee table. - The dish rack is next to the fridge. Mô tả sơ đồ hoàn chỉnh b/ Áp dụng " bản đồ tư duy" trong phần Lead -in: "Lead-in" là một hoạt động mở đầu trước khi giáo viên giới thiệu bài học mới, giúp học sinh phần nào hình dung được những gì mà họ sắp được học. Như vậy mới thấy hết được tầm quan trọng của hoạt động này. Lead-in càng hiệu quả thì càng dễ dàng đưa học sinh vào nội dung chính. Một giáo viên thành công là giáo viên đó có thể làm mọi đối tượng học sinh trong lớp bị thu hút, lôi cuốn vào phần " Lead-in" của mình và " bản đồ tư duy" có thể giúp bạn làm được điều đó. Ví dụ: " Lead-in" cho phần "Getting started - Listen and Read" Khi dạy English 8 Unit 8: COUNTRY LIFE AND CITY LIFE phần "Getting started - Listen and Read", tôi yêu cầu học sinh vẽ bản đồ tư duy liệt kê những điều thích và không thích về thành thị và nông thôn. Tôi chia lớp ra thành bốn đội, trong thời gian 4 phút nếu đội nào hoàn thành tốt nhất đội đó sẽ chiến thắng. Như vậy các em sẽ phải trình bày như sau: Nội dung chính: Country life and city life Nhánh cấp 1: in the country Nhánh cấp 2: in the city Nhánh cấp 1.1: like Nhánh cấp 1.2: dislike Nhánh cấp 2.1: like Nhánh cấp 2.2: dislike - Sau đó các em tiếp tục vẽ các nhánh nhỏ tiếp theo để hoàn chỉnh nội dung sơ đồ. - Giáo viên yêu cầu học sinh treo sản phẩm của đội mình lên bảng và cử một đại diện lên thuyết trình. - Đội nào vẽ chính xác, đẹp và thuyết trình hay sẽ chiến thắng. Mô tả sơ đồ hoàn chỉnh c/ Áp dụng " bản đồ tư duy" trong phần " Pre .." : Trường hợp 1: "Pre-Practice" cho phần "Speak" - Ví dụ khi dạy English 8 Unit4: OUR PAST phần " Speạk", trước khi để học sinh nhìn vào tranh và nói về tình trạng các sự việc trước đây và hiện nay, tôi yêu cầu học sinh dùng bản đồ tư duy để liệt kê tất cả sự khác nhau của hai bức tranh ở quá khứ và hiện tại cũng như đặc điểm cơ bản của chúng. Học sinh sẽ làm việc theo bốn nhóm trong thời gian 5 phút trình bày sơ đồ tư duy như sau: - Nội dung chính: Different things in the past and at present. Nhánh cấp 1: in the past. .Nhánh cấp 2: at present. - Sau đó các em tiếp tục vẽ các nhánh nhỏ tiếp theo để hoàn chỉnh nội dung sơ đồ. - Giáo viên yêu cầu học sinh treo sản phẩm của đội mình lên bảng và cử một đại diện lên thuyết trình. - Giáo viên đưa ra nhận xét và chỉnh sửa sơ đồ của học sinh. Sau đó các em sẽ nhìn vào sơ đồ và bắt đầu thực hành nói ở phần tiếp theo. Mô tả sơ đồ hoàn chỉnh - Nhìn vào bản đồ tư duy ở trên chắc chắn học sinh sẽ thực hành nói dễ dàng hơn rất nhiều so với việc nhìn vào hai bức tranh ở sách giáo khoa. Đặc biệt đối với những học sinh yếu kém hoặc nhút nhát, các em vừa sợ vừa nghèo về vốn từ, nếu giáo viên không tạo ra sự gợi mở như thế này thì có lẽ sẽ chẳng bao giờ các em nói được một câu trong tiết học "Speak". Trường hợp 2: "Pre- listening" cho phần "Listen" -Nội dung chính: Preparations for Tet. Nhánh cấp 1: Flowers Nhánh cấp 2: Food - Tôi yêu cầu học sinh về nhà cũng học lại từ vựng theo bản đồ tư duy như vậy . Mô tả sơ đồ hoàn chỉnh d/ Áp dụng " bản đồ tư duy" trong phần " While-.." Trường hợp 1: "While -reading" cho phần "Read" Khi dạy English 8 Unit 13: FESTIVALS phần " Read", thay vì làm theo nội dung của bài tập 1 là hoàn thành thông tin của bảng, tôi yêu cầu học sinh tìm và viết các thông tin đó dưới dạng bản đồ tư duy. Học sinh sẽ làm việc theo 4 nhóm trong khoảng thời gian 5 phút. Các em sẽ vẽ theo nội dung như sau: - Nội dung chính: Christmas. Nhánh cấp 1: The christmas tree Nhánh cấp 2: The christmas card Nhánh cấp 3: Christmas Carols Nhánh cấp 4: Santa Claus - Sau đó các em tiếp tục vẽ các nhánh nhỏ tiếp theo để hoàn chỉnh nội dung sơ đồ. - Giáo viên yêu cầu học sinh treo sản phẩm của đội mình lên bảng và cử một đại diện lên thuyết trình. - Giáo viên đưa ra nhận xét và chỉnh sửa sơ đồ của học sinh. Sau đó các em có thể nhìn vào sơ đồ để trả lời các câu hỏi cho bài tập 2 dễ dàng hơn. Mô tả sơ đồ hoàn chỉnh Trường hợp 2: "While -listening" cho phần "listen" Khi dạy English 7 Unit 10: B1, 4 phần A bad toothache, tôi yêu cầu học sinh nhìn vào bản đồ tư duy sau để nói về việc đau răng thì nên làm gì và đau răng là do nguyên nhân nào. Học sinh sẽ làm việc theo sáu nhóm trong khoảng thời gian 7 phút. Các em sẽ trình bày theo bản đồ tư duy sau: e/ Áp dụng " bản đồ tư duy" trong phần " Post-.." hay " Free- practice": Trường hợp 1: English 9- Unit 5: Write :Benefits of the internet Trước tiên chia học sinh ra thành 3 nhóm và các em sẽ phải trình bày bản đồ tư duy theo hướng sau: - Chủ đề chính: Benefits of the internet . Nhánh cấp 1: a source of information . Nhánh cấp 2: a source of entertainments . Nhánh cấp 3: a means of education - Sau đó các em tiếp tục vẽ các nhánh nhỏ tiếp theo. - Giáo viên yêu cầu học sinh treo sản phẩm của đội mình lên bảng. - Giáo viên đưa ra nhận xét và chỉnh sửa sơ đồ của học sinh. Mô tả sơ đồ hoàn chỉnh Trường hợp 2: English 6- Unit 5: A1,2:Things I do Trước tiên chia học sinh ra thành 3 nhóm và các em sẽ phải trình bày bản đồ tư duy theo hướng sau: - Chủ đề chính: Things I do. . Nhánh cấp 1: in the morning . Nhánh cấp 2: in the afternoon . Nhánh cấp 3: in the evening - Sau đó các em tiếp tục vẽ các nhánh nhỏ tiếp theo. - Giáo viên yêu cầu học sinh treo sản phẩm của đội mình lên bảng. - Giáo viên đưa ra nhận xét và chỉnh sửa sơ đồ của học sinh. Mô tả sơ đồ hoàn chỉnh f/ Áp dụng " bản đồ tư duy" trong phần ' CONSOLIDATION": Ví dụ : Unit 3: AT HOME phần "Read" Sau khi học sinh đã học xong bài đọc, tôi yêu cầu các em tóm tắt lạ

Đề Tài Sử Dụng Sơ Đồ Tư Duy Trong Dạy Học Môn Vật Lí

– Để thành công trong dạy học phần củng cố giáo viên phải nỗ lực, vượt khó , nắm vững kiến thức trọng tâm để có đủ năng lực xây dựng hệ thống sơ đồ tư duy cho bản thân và nhận xét được sơ đồ tư duy của học sinh.

– Giúp hệ thống hoá cho các em những kiến thức cơ bản một cách có hệ thống, sâu rộng, phát triển ngôn ngữ lẫn tư duy vật lý.

– Tuỳ theo từng vùng, miền từng đối tượng học sinh mà người giáo viên có thể áp dụng khác nhau: cho phù hợp.

– Đề tài rất mong được sự quan tâm giúp đỡ và đóng góp xây dựng của lãnh đạo và đồng nghiệp để vận dụng đạt kết quả cao hơn.

ư duy nhanh nhẹn, nhạy bén với những hiện tượng trong cuộc sống, từ đó có nhiều tư liệu hữu ích trong công tác giảng dạy của tôi. Qua nhiều năm thực hiện, tôi đã hệ thống thành kinh nghiệm "Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học môn vật lí - Lớp 6". 2. Mục tiêu, nhiệm vụ. Tạo cho học sinh sự hứng thú tích cực trong học tập, suy nghĩ độc lập, sử dụng câu văn xúc tích ngắn gọn đầy hình tượng trong việc trình bày lại kiến thức vừa học xong một bài vật lí. Đồng thời cũng tạo cơ hội đồng nghiệp trao đổi kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau. 3. Đối tượng nghiên cứu. - Sách giáo khoa, sách giáo viên, sách thiết kế bài giảng môn Vật lí lớp 6. - Chuẩn kiến thức kĩ năng môn vật lí THCS. - Phần mềm Imindmap. 4. Giới hạn (phạm vi) nghiên cứu. - Sáng kiến kinh nghiệm được tiến hành nghiên cứu trong năm học 2013 - 2014. 5. Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu tài liệu. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm. Phương pháp điều tra. Phần II: Phần nội dung 1. Cơ sở lí luận Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó. Sơ đồ tư duy là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào não bộ rồi đưa thông tin ra ngoài não bộ. Là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó "sắp xếp" ý nghĩ của chính chủ thể. Một sơ đồ tư duy gồm một vấn đề lớn đặt ở trung tâm và các nhánh ý tưởng tỏa ra xung quanh. Một sơ đồ như vậy giúp người sử dụng nó thỏa sức vạch ra các ý tưởng suy nghĩ đầy đủ trước khi đi đến một quyết định. Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học nói chung và trong môn vật lí nói riêng là một trong những phương pháp dạy học phát triển tư duy theo hướng tích cực. 2. Thực trạng Trong quá trình giảng dạy Vật lí 6, tôi thấy giáo viên nhiệt tình trong việc truyền tải kiến thức, song việc học thụ động của học sinh vẫn tiếp diễn. Có học sinh học tập cần cù chịu khó học thuộc từng câu từng chữ, có em chưa tưởng tượng bài học dẫn đến học vẹt. Bên cạnh đó là học sinh rất lười học bài, giáo viên đã nhiều lần gọi lên bảng có biện pháp giáo dục kịp thời nhưng tình hình vẫn không có tiến triển nhiều. Tỉ lệ học sinh điểm dưới trung bình còn cao, học sinh điểm khá và giỏi chiếm tỉ lệ thấp. Thuận lợi - khó khăn * Thuận lợi : Ban lãnh đạo Nhà trường luôn khuyến khích động viên, chỉ đạo kịp thời, tạo điều kiện cho giáo viên trong công việc giảng dạy cũng như công tác chủ nhiệm. Có nhiều đợt tập huấn về chuyên môn về đổi mới Phương pháp dạy học. Là giáo viên trẻ tuy kinh nghiệm còn hạn chế, song tôi luôn học hỏi đồng nghiệp, tự trao dồi kiến thức làm sao cho học sinh dễ hiểu bài để các em có kiến thức tốt. Bên cạnh đó, các em học sinh cũng là một phần quan trọng giúp tôi hoàn thành tốt các tiết dạy có áp dụng Sơ đồ tư duy. * Khó khăn : Trường nằm trên địa bàn xã có học sinh người dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ cao trên 50%, trình độ học vấn còn thấp so với bề mặt chung, tâm lí các em muốn nghỉ học ở nhà chơi hoặc giúp đỡ bố mẹ công việc đồng áng, một số thôn buôn cách xa trường. Đa số các em thuộc diện nghèo, bố mẹ chưa có nhiều thời gian quan tâm tới con cái, dẫn đến nhiều em hay nghỉ học nhiều buổi trong tuần cũng làm ảnh hưởng chất lượng giảng dạy chung. Quan sát các hiện tượng đời thường của học sinh còn hạn hẹp. Thành công - hạn chế : * Thành công : Giúp học sinh vẽ và đưa ra các liên hệ thực tế của bản thân với bài học, làm cho tiết học sôi nổi không nhàm chán, phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, học sinh có được một tư duy logic trong bài học và lĩnh hội kiến thức chắc hơn. Ngoài ra Sơ đồ tư duy còn phát huy khả năng hoạt động theo nhóm của học sinh, phát triển ngôn ngữ và tư duy của học sinh. Đối với môn vật lí vốn dĩ khô khan trở nên dễ học dễ lôi cuốn hơn, thực sự học sinh trở thành trung tâm lĩnh hội kiến thức, còn giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn các em hoạt động lĩnh hội kiến thức. * Hạn chế : Khả năng hoạt động nhóm của một số học sinh yếu- kém còn chậm, bài vẽ theo ý tưởng của các em còn sơ sài, nên giáo viên mất thời gian hướng dẫn các em làm quen cách học này. Mặt mạnh - mặt yếu * Mặt mạnh : Học sinh hứng thú tích cực trong tiết học. Rèn luyện cho học sinh kĩ năng vẽ, quan sát thực tế, dùng từ đúng đặc trưng của bộ môn. Phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy có thể học bất kì trong trường hợp nào miễn là có ý tưởng. * Mặt yếu : Học sinh chậm tiến còn lơ là, ỷ lại các bạn khác. 2.4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động Về phía học sinh : Việc học của học sinh còn ảnh hưởng rất nhiều bởi điều kiện sống. Do đó, giáo viên cần tạo mối thân thiện đối với học sinh giúp các em không cảm thấy e dè trong quá trình giao tiếp với thầy cô và bạn bè, đây cũng chính là cơ hội các em được hòa nhập với cộng đồng. Bởi đặc điểm của trường THCS Tô Hiệu thuộc vùng khó khăn, số lượng học sinh là dân tộc thiểu số chiếm trên 50% tổng số học sinh toàn trường. Ngoài ra việc học Tiếng Việt đối với các em vốn dĩ đã xem như là khó, một số em viết chưa thông đọc chưa thạo, lên đầu cấp các em phải học một số môn khoa học thuật ngữ mới làm các em gặp khó khăn hơn trong việc lĩnh hội kiến thức. Hơn nữa do là thuộc vùng khó khăn nên trong công tác tuyển sinh lớp đầu cấp nhà trường cũng gặp nhiều khó khăn. Các học sinh khá giỏi thường đăng ký vào các trường có điều kiện tốt hơn. Kết quả là số lượng học sinh nhà trường tuyển được đa số là học sinh có học lực trung bình và yếu nhiều. Về phía giáo viên : Cần có cách nhìn tích cực hơn đối với học sinh, thấy khó khăn và giúp đỡ các em. Thay đổi cách dạy học sao cho phù hợp đối tượng học sinh. Trong đợt tập huấn về sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học tại trường THCS Tô Hiệu năm học 2011 - 2012, bản thân thấy phương pháp mới này tương đối giống với cách học mà tôi từng được làm quen khi học Đại học. Với khối lượng kiến thức tương đối lớn của bậc học này không thể học từng câu từng chữ, phải vạch ra một sơ đồ liên kết các bài học với nhau. Bây giờ tôi hiểu thuật ngữ Sơ đồ tư duy là vì vậy. Chứng tỏ phương pháp này giúp các em tập làm quen với phương pháp học mới giảm được ghi nhớ máy móc. Nếu tổ chức học tập theo nhóm, các em sẽ gom được nhiều ý tưởng nhanh hơn, lấy được nhiều ví dụ hơn và lớp học trở nên sôi động trong phần tô màu cho các nhánh. Phương tiện dạy học : Có thể dùng phần mềm, phấn hoặc giấy. Giáo viên và học sinh có thể vẽ Sơ đồ tư duy ở bất kì đâu khi có một trong những công cụ trên. 2.5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trang mà đề tài đã đặt ra Cũng do các nguyên nhân nêu trên nên dẫn đến chất lượng học tập thống kê qua các kì kiểm tra vẫn còn thấp. Số lượng học sinh yếu còn cao. 3 Giải pháp, biện pháp 3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp Để khắc phục những thực trạng khó khăn như đã nêu trên. Tôi thấy ở " Sơ đồ tư duy" phương pháp giảng dạy mới phát huy tính tích cực, gây hứng thú cho học sinh và vai trò chỉ đạo của giáo viên. Đồng thời cũng là cơ hội đồng nghiệp trao đổi kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau. 3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp * Nội dung : Các bài được chọn trong Vật lí 6 gồm 09 bài chương I và 01 bài tổng kết chương I. Có hai cách giáo viên đưa sơ đồ tư duy vào dạy học : + Giáo viên vẽ Sơ đồ tư duy, học sinh thuyết minh; + Học sinh tự vẽ Sơ đồ tư duy, giáo viên nhận xét, bổ sung, hoàn thiện Sơ đồ tư duy. * Cách thức thực hiện như sau : Tôi vận dụng phương pháp truyền thống đối với các lớp 6A2, 6A4, 6A6 và phương pháp sử dụng Sơ đồ tư duy đối với các lớp 6A1, 6A3, 6A5. Trong bài 4 : Tiết 3 : Đo thể tích vật rắn không thấm nước, phần tìm hiểu cách đo (thời gian 15 phút), học sinh biết các dụng cụ đo để xác định thể tích của vật rắn có hình dạng bất kì không thấm nước. Phương pháp truyền thống : Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh 1. Tương ứng với mỗi hình hòn đá như thế nào so với bình chia độ? 2. Nêu cách đo thể tích của hòn đá trong mỗi hình? - Gọi 2 nhóm bất kì cử đại diện trong các nhóm lên bảng trình bày trên 2 hình vẽ mà tôi đã vẽ sẵn. - Học sinh quan sát. - Lắng nghe câu hỏi và trả lời. - Hình 4.2 trường hợp vật lọt bình chia độ, hình 4.3 trường hợp vật không lọt bình chia độ. - Người ta đo thể tích của hòn đá lọt bình chia độ bằng cách thả hòn đá vào bình chia độ, phần nước dâng lên 50cm3 chính là thể tích của hòn đá. - Người ta đo thể tích của hòn đá không lọt bình chia độ bằng cách cho hòn đá thả vào bình tràn, đồng thời hứng nước tràn ra vào bình chứa. Thể tích nước tràn ra bằng thể tích của hòn đá. Phương pháp sử dụng Sơ đồ tư duy : Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh 1. Tương ứng với mỗi hình hòn đá như thế nào so với bình chia độ? 2. Nêu cách đo thể tích của hòn đá trong mỗi hình? - Dựa vào câu hỏi, yêu cầu học sinh tự thiết kế Sơ đồ tư duy mà đã được học một số bài, nên mô tả lại cách đo thể tích của hòn đá. - Trong quá trình học sinh vẽ, tôi sẽ đi một vòng quan sát tiến độ làm việc của các nhóm, nhóm nào gặp khó khăn thì gợi ý để các em vẽ theo kiến thức cần đạt của bài học. - Các nhóm làm xong, cử đại diện 2 nhóm lên bảng trình bày bằng Sơ đồ tư duy trước lớp. Sau khi học sinh trình bày, tới phần thực hành yêu cầu các em hãy dựa vào sơ đồ tự vẽ xác định thể tích của vật mà tôi đã chuẩn bị sẵn dụng cụ. Nhánh 1 : Đo thể tích của hòn đá lọt bình chia độ, đầu tiên ta cho nước vào bình chia độ, thả hòn đá vào bình chia độ, phần nước dâng lên chính là thể tích của hòn đá. Nhánh 2 : Đo thể tích của hòn đá không lọt bình chia độ. Cần sử dụng thêm dụng cụ bình tràn và bình chứa. Cho nước đầy bình tràn, thả hòn đá vào bình tràn, đồng thời hứng nước tràn ra vào bình chứa. Thể tích nước tràn ra bằng thể tích của hòn đá. Hình 1 : Sơ đồ tư duy "Đo thể tích vật rắn không thấm nước" Nhận xét : Khi sử dụng bằng phương pháp truyền thống thì học sinh còn bỡ ngỡ trước hình vẽ, phải cầm tờ giấy nên vừa đọc vừa chỉ dẫn đến hai động tác chưa phối hợp được nhịp nhàng. Bài 10: Tiết 10 : Lực kế - Phép đo lực - Trọng lượng và khối lượng, phần củng cố (thời gian 5 phút), học sinh cần nhận biết được cấu tạo của một lực kế, GHĐ và ĐCNN, sử dụng được công thức liên hệ trọng lượng và khối lượng. Phương pháp truyền thống : Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh - Tôi cho cho 2 học sinh đứng dậy đọc nội dung cần ghi nhớ SGK trang 35. - Sau khi học sinh đọc xong, yêu cầu cả lớp gấp sách lại. - Đặt câu hỏi chung cho cả lớp : Lực kế dùng để làm gì? Mối liên hệ giữa trọng lượng và khối lượng được xác định bởi công thức nào? - Sau khi đặt xong câu hỏi, tôi chỉ đại diện 1 học sinh trung bình và 1 học sinh khá đại diện phát biểu và trả lời. - Hai học sinh đứng dậy đọc, cả lớp lắng nghe và đọc nhẩm theo. Cả lớp lắng nghe câu hỏi. - Học sinh trung bình : Lực kế dùng để đo lực. Mối liên hệ giữa trọng lượng và khối lượng được xác định bởi công thức P bằng 10 mét. - Học sinh khá : Lực kế dùng để đo lực. Mối liên hệ giữa trọng lượng và khối lượng được xác định bởi công thức P bằng 10 m. Phương pháp sử dụng Sơ đồ tư duy : Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Vẽ sơ đồ tư duy (Thiết kế bằng tay hoặc sử dụng phần mềm đã được chuẩn bị trước, trong bài này tôi sử dụng phần mềm vẽ Sơ đồ tư duy). Cả lớp quan sát Sơ đồ. Hình 2 : Sơ đồ tư duy " Lực kế" - Chỉ cho Sơ đồ hiển thị theo từng nhánh, tới nhánh nào kết hợp đặt câu hỏi cho nhánh đó cho đến khi sơ đồ được chiếu ra hết. Tôi đặt câu hỏi tổng hợp : Lực kế dùng để làm gì? Mối liên hệ giữa trọng lượng và khối lượng được xác định bởi công thức nào? - Sau khi đặt xong câu hỏi, tôi chỉ đại diện 1 học sinh trung bình và 1 học sinh khá đại diện phát biểu và trả lời. Lắng nghe và trả lời câu hỏi theo sơ đồ. Lực kế dùng để đo lực. Mối liên hệ giữa trọng lượng và khối lượng được xác định bởi công thức P bằng 10 m. * Nhận xét : Khi sử dụng bằng phương pháp truyền thống thì học sinh chỉ đọc nội dung ghi nhớ, tỉ lệ học sinh nắm được bài chưa cao, chưa phát huy tính tích cực của học sinh trong bài học, học sinh phát biểu vẫn còn thụ động và có sự nhầm lẫn trong công thức (P = 10m và P = 10 mét). Khi sử dụng phương pháp sử dụng Sơ đồ tư duy, học sinh giơ tay xây dựng bài nhiều hơn, nhất là những học sinh yếu kém các em mạnh dạn phát biểu bài. Các câu trả lời không bị nhầm lẫn như đối với phương pháp truyền thống. Bài 17: Tiết 19 : Tổng kết chương I : Cơ học, phần ôn tập (thời gian 15 phút), học sinh ôn lại những kiến thức cơ bản về cơ học đã học trong chương, củng cố và đánh giá sự nắm vững kiến thức. Phương pháp truyền thống : Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Tôi đưa ra nội dung câu hỏi ôn tập. Yêu cầu học sinh trả lời và ghi vào vở. 1. Hãy điền các dụng cụ đo thích hợp vào bảng : Phép đo Dụng cụ Độ dài Thể tích chất lỏng Lực Khối lượng 2. Thế nào là lực? Hai lực cân bằng là hai lực như thế nào? 3. Trọng lực là gì? Lực đàn hồi xuất hiện khi nào? 4. Viết công thức liên hệ giữa trọng lượng và khối lượng của cùng một vật? 5. Viết công thức tính khối lượng theo khối lượng riêng và thể tích? 6. Viết công thức tính trọng lượng theo trọng lượng riêng và thể tích? 7. Viết công thức liên hệ giữa trọng lượng riêng và khối lượng riêng? 8. Có mấy loại máy cơ đơn giản? gồm những loại nào? Học sinh lắng nghe câu hỏi và trả lời. 1. Học sinh điền vào bảng phụ Phép đo Dụng cụ Độ dài Thước Thể tích chất lỏng Bình chia độ Lực Lực kế Khối lượng Cân 2. Lực là tác dụng đẩy kéo của vật này lên vật khác. Hai lực cân bằng là hai lực mạnh như nhau, cùng tác dụng vào một vật, cùng phương nhưng ngược chiều. 3. Trọng lực là lực hút của Trái đất tác dụng lên vật. Lực đàn hồi là xuất hiện khi vật bị biến dạng đàn hồi tác dụng lên vật. 4. P = 10m 5. m = DV 6. P = dV 7. d = 10D 8. Có 3 loại máy cơ đơn giản : Mặt phẳng nghiêng, đòn bẩy, ròng rọc. Phương pháp sử dụng Sơ đồ tư duy : Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Hướng dẫn học sinh vẽ sườn bài theo Sơ đồ tư duy như hình đã vẽ sẵn ở đây tôi sử dụng vẽ phần mềm (có thể vẽ trực tiếp trên bảng). Học sinh vẽ Sơ đồ tư duy. Cả lớp lắng nghe. Hình 3 : Sơ đồ tư duy "Tổng kết chương I Cơ học". Yêu cầu học sinh vẽ vào vở và điền vào chỗ trống : Nhánh 1 Thể hiện học pháp đo nào bằng dụng cụ gì? Nhánh 2 Liệt kê khái niệm cần ghi nhớ Nhánh 3 Thể hiện các công thức đã học Nhánh 4 Liệt kê các máy cơ đơn giản. Yêu cầu mỗi học sinh ôn theo mẫu sơ đồ trên. Sau khi học sinh vẽ xong sẽ tiến hành trao đổi bài của nhau, tôi sẽ đưa ra sơ đồ tư duy được thiết kế sẵn, học sinh dựa vào đó chấm điểm cho nhau từ đó sẽ đánh giá được việc nắm kiến thức của học sinh trong lớp. Học sinh tự vẽ vào vở. thực hiện nhiệm vụ được giao. Hình 4 : Sơ đồ tư duy "Tổng kết chương I Cơ học". * Nhận xét : Phương pháp truyền thống : Khi GV đặt câu hỏi, đa số học sinh còn lúng túng trong phát biểu, số lượng học sinh xây dựng bài còn tương đối ít. Tinh thần học còn uể oải. Phương pháp sử dụng Sơ đồ tư duy : Nhờ đã áp dụng sơ đồ tư duy các bài học trước nên HS hệ thống kiến thức bằng chính sơ đồ của HS. Hoạt động dạy học trở nên nhẹ nhàng hơn, thích thú việc tự vạch ra kiến thức, chấm điểm cho bạn và bản thân được mấy điểm. Bài 1&2 : Tiết 1: Đo độ dài Hình 5 : Sơ đồ tư duy "Đo độ dài". Bài 5 : Tiết 4 : Khối lượng - Đo khối lượng Hình 6 : Sơ đồ tư duy "Khối lượng - Đo khối lượng". Bài 6 : Tiết 5 : Lực - Hai lực cân bằng Hình 7 : Sơ đồ tư duy "Lực - Hai lực cân bằng". Bài 8 : Tiết 7: Trọng lực - Đơn vị lực Hình 8 : Sơ đồ tư duy "Trọng lực - Đơn vị lực". Bài 3 : Tiết 2 : Đo thể tích chất lỏng Hình 9 : Sơ đồ tư duy "Đo thể tích chất lỏng". Bài 13 : Tiết 15 : Mặt phẳng nghiêng Hình 10 : Sơ đồ tư duy "Mặt phẳng nghiêng". Bài 14 : Tiết 16 : Đòn bẩy Hình 11 : Sơ đồ tư duy "Đòn bẩy" Lợi thế của việc sử dụng phần mềm học sinh sẽ được quan sát một số hình ảnh mà trong cuộc sống các em chưa nhìn thấy. Có thể thiết kế Sơ đồ tư duy bằng phần mềm, dùng bút màu vẽ trên giấy hoặc trên bảng bằng phấn nên rất tiện. 3.3 Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp * Việc lựa chọn Sơ đồ tư duy phải được xác định trên căn cứ là nội dung của tiết dạy, hình thức của hình vẽ phù hợp và năng lực của từng lớp. * Cần chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học như: bài vẽ mẫu, bút màu, bút chì * Cần phải lên một giáo án hợp lý, khoa học. Trong giáo án phải hoạch định rõ hoạt động của thầy và trò, thời gian của các hoạt động 3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp Học sinh phải tập trung chú ý, giáo viên phải bao quát lớp. Khi về nhà các em phải thực hành nhiều lầ để luyện cách vẽ sao cho vừa vặn khổ giấy, biết phối màu, tự luyện để vẽ theo ý tưởng. Luôn động viên các em bài vẽ hoàn chỉnh có hình ảnh, màu sắc, đường nét, sử dụng từ ngắn gọnhãy luyện vẽ đi vẽ lại thật nhiều lần để khắc sâu kiến thức.Thời gian học trên lớp có hạn đa số các em vẽ dạng đưa ra nhánh và chữ viết. 3.5 Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu Sau khi các em học xong. Tôi dặn dò các em về nhà học bài và tôi đã lấy kết quả bài kiểm tra miệng, 15 phút, 45 phút, học kì của các em để so sánh. Tôi đã nhận thấy kết quả đã có sự khác biệt rõ ràng. Điểm kiểm tra của các lớp được áp dụng Sơ đồ tư duy năm nay cao hơn so với năm trước. 4. KẾT QUẢ THU ĐƯỢC * Khi áp dụng phương pháp truyền thống: Lớp Sĩ số Kém Yếu Trung bình Khá Giỏi Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ 6A2 34 0 0 3 8.83 12 35.29 17 50 2 5.88 6A4 34 4 11.77 13 38.24 11 32.35 6 17.65 0 0 6A6 35 6 17.14 15 42.86 10 28.57 4 11.43 0 0 * Khi áp dụng phương pháp sử dụng Sơ đồ tư duy (imindmap) Lớp Sĩ số Kém Yếu Trung bình Khá Giỏi Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ 6A1 37 0 0 0 0 2 5.41 27 72.97 8 21.62 6A3 35 2 5.71 8 22.86 11 31.43 12 34.29 2 5.714 6A5 36 2 5.55 10 27.78 15 41.67 9 25 0 0 Biểu đồ 1: Biểu đồ phương pháp truyền thống Biểu đồ 2 : Biểu đồ phương pháp sơ đồ tư duy Trường tôi chia thành 2 nhóm lớp : 6A1, 6A2 là những lớp chọn có lực học và số lượng học sinh gần như nhau; các lớp 6A3, 6A4, 6A5, 6A6 là những lớp thường có học lực và số lượng học sinh gần như nhau. Qua bảng tổng hợp trên, chúng ta thấy đối với dạy học truyền thống lớp chọn 6A2 học sinh khá - giỏi chiếm tỉ lệ còn thấp, đối lớp thường 6A4, 6A6 tỉ lệ học sinh yếu - kém còn cao, trên trung bình còn thấp. Khi dạy học Sử dụng sơ đồ tư duy lớp chọn 6A1 học sinh khá - giỏi chiếm tỉ lệ cao, đối lớp thường 6A3, 6A5 đã hạn chế tỉ lệ học sinh yếu - kém, tỉ lệ trên trung bình cao hơn so với sử dụng phương pháp truyền thống. Trong quá trình dạy học: lớp học sôi nổi, nhẹ nhàng. Học sinh có cơ hội khẳng định mình, không còn lúng túng, hoặc nghĩ cách học đối phó. Theo kết quả điều tra thấy rằng học sinh rất thích thú khi chính các em tự vẽ được bức họa trước lớp, rất tự hào khi được giáo viên khen và đó chính là động lực làm các em mạnh dạn hơn, tự tin hơn, và có sự đam mê đối với môn học được xem là khó học này. Như vậy không quan trọng các em thuộc bài mà quan trọng học xong các em cần nắm những gì, hiểu được gì, hiểu được bao nhiêu trong thực tiễn. Chính điều đó làm các em giảm đi việc học thuộc lòng. Phần III : Phần kết luận, kiến nghị 1. Kết luận - Để thành công trong dạy học phần củng cố gi

Đề Tài Vai Trò Của Bản Đồ Tư Duy Trong Môn Mĩ Thuật Trung Học Cơ Sở

HƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI A. CƠ SỞ PHÁP LÍ: Nghị quyết TW4 ( khoá VII) của Đảng Cộng Sản Việt Nam về " Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo"( 14.01.1993) và gần đây nhất là nghị quyết TW2 (khoá VIII) khẳng định " trong thời gian qua, mặt dù có nhiều khó khăn, sự nghiệp giáo dục có nhiều tiến bộ và phát triển nhưng cũng có một số mặt quan trọng bị giảm sút so với trước ". Con người được đào tạo thường thiếu năng động , chậm thích nghi với nền kinh tế - xã hội đang đổi mới. Nghị quyết đang đề ra nhằm xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng học sinh năng lực tư duy, sáng tạo, năng động khi giải quyết vấn đề. Theo Nghị quyết TW khóa VIII khẳng định, đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện, thành lập nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học. Và thông qua việc đưa bản đồ tư duy vào vào dạy học ở trường THCS và trường phổ thông, người giáo viên phải có kĩ năng vận dụng tốt thì chất lượng tiết dạy mới có hiệu quả cao. Mỹ thuật là bộ môn rất cần thiết đối với học sinh bậc THCS , nó cung cấp cho các em hiểu những hiểu biết cơ bản về cái đẹp trong cuộc sống mà con người có thể tác động đến và điều khiển chúng phục vụ lợi ích cho mình. Ngoài ra các em còn trang bị những kiến thức cơ bản nhất về nghệ thuật tạo hình. Trên cơ sở đó biết vận dụng vào cuộc sống hàng ngày, góp phần vào mục tiêu đào tạo con người trong thời đại mới. B. CƠ SỞ LÍ LUẬN : *.Tính giáo dục: Giáo dục và rèn luyện cho trẻ yêu thích học môn Mỹ thuật nhằm cho trẻ phát triển hoàn thiện các kiến thức về tài, đức, mĩ, dục. Trong đó "Mỹ" là môn học trừu tượng không phải ai cũng cảm nhận đúng cái đẹp. Cho nên việc trang bị cho các em hiểu đúng nghĩa về môn Mỹ thuật là phải rèn luyện cho mình một kiến thức thẩm mỹ. *. Vai trò: Vai trò của môn mỹ thuật trong đời sống hết sức quan trọng thế hệ trẻ phải nắm bắt mục đích ý nghĩa của nó, thì biết sử dụng nó để phục vụ cho bản thân cho xã hội. Nếu một đất nước văn minh thì cái đẹp là cái nhìn đầu tiên đòi hỏi là cái đẹp đưa vào mọi lĩnh vực kiến trúc, hội họa, điêu khắc và ngay cả cách ăn mặc trang trí mọi phương diện từ ngoài xã hội đến trong gia đình cũng phải thật sự thẫm mỹ. Muốn cho xã hội ta giàu mạnh vươn lên ngang tầm với thế giới là người đầu tiên chúng ta cần quan tâm đó là các học sinh ở bậc tiểu học và bậc THCS. Trau dồi cho các em kiến thức Mỹ thuật là làm cho tâm hồn trong sáng của các em đón nhận tinh hoa của nhân loại. Người giáo viên giúp vẽ vào tâm hồn chúng bằng nhiều hình ảnh lâu dài, bông hoa muôn màu muôn sắc, các em sẽ nhận ra trên thế giới loài người này cái đẹp đã thâm nhập trong mỗi lĩnh vực từng giờ từng phút. Công nghiệp, nông, lâm, ngư, thủ công, mỹ nghệ từ thời xưa người nguyên thủy đã biết khắc vào đá những biểu tượng sống động bằng hình ảnh để ghi lại kết quả trong quá trình lao động. Xã hội loài người càng phát triển con người biết làm đồ trang sức làm thủ công gốm sứ hình chim, hình thú trên dụng cụ của mình để giải trí trong những giờ làm việc mệt nhọc.Tập cho các em làm quen và tiếp nhận môn Mỹ thuật xuất sắc vào bộ óc các em hiện nay là vấn đề quan trọng. Nhưng làm thế nào để các em hiểu đúng và có cách nhìn cụ thể về môn học đó là vấn đề càng quan trọng hơn. *. Nhu cầu thị hiếu: Thị hiếu thẩm mỹ cũng là một trong những yếu tố hợp thành tính đa dạng hóa, giúp trẻ có cách nhìn chính xác nhận biết một sự vật, hiện tượng khách quan chủ thể bằng nhiều tác động kép thông qua đó tạo chất xám cho não bộ hình thành phát triển rèn cho mình tính tỉ mỉ, cần cù, sáng tạo nhận xét đánh giá màu sắc thiên nhiên qua không gian thời gian phù hợp với chức năng thẩm mỹ. Nhu cầu thị hiếu còn giúp các em nhìn sâu trạng thái của mọi vật thường xuyên và hướng chúng theo ý riêng của mình. C. CƠ SỞ THỰC TIỄN Xuất phát từ sự say mê cái đẹp trong hội họa cái đẹp trong tâm hồn của mỗi con người, trong tự nhiên ngoài xã hội. Như từng vị ngọt của quả, vị thơm của hoa, vị men nồng say của muôn vàng cái đẹp. Của những nghệ thuật độc đáo của các nước có nền văn minh sớm từ lâu đời trên thế giới đã trở thành thần tượng ăn sâu vào tiềm thức của tôi như các bức tượng được truyền từ đời này sang đời khác về tên tuổi của các nhà Mỹ thuật lừng danh "chân dung nàng Mô-na li - da"của LêôNađơVanh -xi từ năm 1452-1520". Và chưa kể đến một số nhà điêu khắc vĩ đại tên tuổi sáng chói muôn đời " tượng đá Đa-vít của Mi-ken-lăng-giơ"và nền văn minh của nền văn minh Đại Việt thời Lý,Trần. Chùa Một cột thời Lý đánh dấu một bước lớn về nền hội họa của dân tộc ta sau trống đồng Đồng Sơn. Để tiếp bước và phát huy những gì đã có tôi ước mơ học trò mình sẽ là những nhà Mỹ thuật. Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài này. Nhằm định hướng sâu hơn giúp các em đam mê với nghệ thuật để có kiến thức song song với các môn khoa học khác trong nhà trường. Việt Nam ta từ các đồ cổ đã cho ta thấy được bề dày của Mỹ thuật nước ta thời ông cha ta từ khi nước Âu Lạc tiếp nối nền văn minh Văn Lang cộng đồng người Việt đã để lại đồ đá, đồ đồng và nét điêu khắc trên chúng. Trống đồng Đông Sơn đánh giá một dấu ấn nền văn minh của nước ta trong lịch sử. Dưới thời Lý kiến trúc chùa " Một Cột"là tiêu biểu nghệ thuật độc đáo của nước ta thời bấy giờ. Thời Trần phát huy và nối tiếp thời Lý phát triển Mỹ thuật tạo hình trên phật Adi đà khoáng đạt về phong cách khỏe khoắn về đường nét. Yếu tố tạo nên nét đặt trưng là sự giao lưu văn hóa rộng rãi. Phát huy nền Mỹ thuật nước nhà và tìm hiểu tinh hoa thế giới mục đích đưa nền Mỹ thuật nước ta ngày càng lớn mạnh đáp ứng được sự quan tâm và mong muốn của Đảng nhà nước và nguyện vọng của Bác Hồ kính yêu. Như chúng ta đã biết, cùng với xu thế phát triển của thời đại như hiện nay, đòi hỏi mỗi người phải có trình độ trí thức. Do vậy, việc học tập là một trong những vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta đặt lên hàng đầu. Qua đó trách nhiệm của người giáo viên càng được nâng cao. Và ta cũng thường nghe nói "Dạy học là một nghệ thuật", đã nói là "nghệ thuật" thì bằng mọi cách người giáo viên phải có kĩ năng vận dụng các phương pháp để truyền đạt kiến thức cho học sinh, tùy theo nội dung của từng tiết học mà giáo viên viên lựa chọn phương pháp phù hợp với đặc trưng của bộ môn và từng đối tượng học sinh. Không những thế giáo viên còn rèn luyện cho học sinh kĩ năng quan sát, nghiên cứu, phân tích, so sánh, tổng hợp Để đánh giá một tiết dạy có hiệu quả hay không đều do kĩ năng vận dụng tốt các phương pháp giúp học sinh hiểu bài, nắm bài. Chính vì vậy mà kĩ năng vận dụng bản đồ tư duy vào dạy học Mỹ thuật có ý nghĩa rất lớn. CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Hiện nay môn Mỹ thuật trong các nhà trường phổ thông chỉ dạy một tiết trên tuần đó là phần thời gian qúa ít không đủ cho các em tìm tòi tiếp thu và phát huy được khả năng vẽ sáng tạo của mình. Trong chương trình Mỹ thuật THCS đặt biệt là phân môn thường thức Mỹ thuật. kiến thức cung cấp cho học sinh theo từng mạch. VD: Mỹ thuật Việt Nam từ Cổ Đại đến các triều đại: Lý - Trần - Lê - Nguyễn Và mỗi đơn vị kiến thức đó có nhiều điểm tương đồng. Kiến thức rất rộng nếu dạy và học theo cách cũ học sinh sẽ khó ghi nhớ, nhưng khi sơ đồ hóa kiến thức sẽ giúp rất nhiều trong việc ghi nhớ kiến thức. Đặt biệt bộ môn Mỹ thuật chỉ dạy 1 tiết trên tuần/1 lớp. a.1/ Thuận lợi: - Hiện nay cơ sở vật chất trang thiết bị của trường tương đối đầy đủ rất thuận lợi cho giáo viên khi lựa chọn và vận dụng các phương pháp giảng dạy tích cực. - Nhà trường đã tạo điều kiện cho tất cả các giáo viên tiếp cận và nghe báo cáo chuyên đề soạn giảng bằng bản đồ tư duy, nên phần nào giáo viên cũng nắm được sơ bộ quá tình xây dựng tiết dạy theo phương pháp mới là đưa bản đồ tư duy vào giảng dạy ở trường.Việc vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học. Sử dụng bản đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình, có tính khả thi cao góp phần đổi mới Phương pháp dạy học, đặc biệt là đối với các lớp ở cấp THCS.Với những ưu việt đó tôi đã chọn phương pháp bản đồ tư duy trong dạy học phân môn Mỹ thuật bậc THCS đồng thời nghiên cứu các phần mềm chuyên dùng nhằn mục đích hệ thống hóa kiến thức theo chuẩn kiến thức, kĩ năng. a.2/ Khó khăn: - Qua nhiều năm giảng dạy nhận thấy, nhiều học sinh còn xem nhẹ bộ môn, cho rằng môn phụ nên không mấy hứng thú với môn học, chưa đầu tư nhiều thời gian, rất khó khăn cho việc truyền đạt kiến thức. - Với đặc thù môn học, có nhiều nội dung kiến thức học sinh không nhớ nổi tòan bộ kiến thức, phần lớn các em chỉ học thuộc lòng hay nhớ máy móc. Chính vì vậy để học sinh nắm vững nội dung bài học, giáo viên phải có kĩ năng vận dụng tốt bản đồ tư duy vào dạy học Mỹ thuật, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn. Qua thăm dò ý kiến của một số giáo viên thì nhiều giáo viên chưa chú trọng dạy Mỹ thuật vì môn học này chưa được đưa vào nội dung các đề kiểm tra, đánh giá. Những nguyên nhân trên đã ảnh hưởng tới chất lượng giờ Mĩ thuật ở học sinh THCS, không kích thích được hứng thú học tập của học sinh. - Ý tưởng thể hiện bài dạy còn it nhiều khó khăn trở ngại vì kiến thức nội dung bài học tương đối nhiều khó thể hiện hết trên bản đồ tư duy. - Học sinh lớp 6 kĩ năng vẽ hình còn hạn chế nên việc vẽ bản đồ tư còn gặp những khó khăn nhất định. - Lối tư duy logic và khoa học của học sinh lớp 6 còn nhiều hạn chế khi làm quen với kĩ thuật dạy học bản đồ tư duy. b.1 Thành công: Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động, cấu trúc và chức năng của bộ não, Bản đồ tư duy sẽ giúp bạn: Giúp bạn giải quyết vấn đề. Giúp bạn trở nên Sáng tạo hơn. Tiết kiệm thời gian cho bạn . Ghi nhớ tốt hơn và lâu hơn. Làm sáng tỏ một tính huống. Nhìn thấy bức tranh tổng thể, sẽ hướng bạn đến trọng tâm của vấn đề. Phát triển các ý tưởng của mình. Sắp xếp kế hoạch cho bản thân. Giúp bạn tổ chức và quản lý lớp học tốt hơn. b.2 Hạn chế: Trước hết chúng ta cần phải xác định việc sử dụng không đúng hay nói cách khác là vẽ sẵn Bản đồ tư duy vào phần kết bài theo ý tưởng của giáo viên thì học sinh vẫn chỉ tiếp nhận kiến thức một cách thụ động. Khi đó học sinh chỉ cố nhớ những gì quan sát thấy trên Bản đồ tư duy có sẵn của giáo viên mà không hề tư duy. c.1 Mặt mạnh: Bản đồ tư duy (BĐTD) là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Bản đồ tư duy một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não. Cơ chế hoạt động của Bản đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh). Bản đồ tư duy là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với nhau vì vậy có thể vận dụng Bản đồ tư duy vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống kiến thức sau mỗi chương,... Bản đồ tư duy giúp học sinh học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học. Thực tế cho thấy một số học sinh học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém, các em này thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Phần lớn số học sinh này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình. Sử dụng thành thạo Bản đồ tư duy trong dạy học, học sinh sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. Bản đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực. Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử dụng Bản đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não. Việc học sinh tự vẽ Bản đồ tư duy có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của học sinh, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của học sinh, các em tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong), các em tự "sáng tác" nên trên mỗi Bản đồ tư duy thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinh và Bản đồ tư duy do các em tự thiết kế nên các em yêu quý, trân trọng "tác phẩm" của mình. Bản đồ tư duy giúp học sinh ghi chép có hiệu quả. Do đặc điểm của Bản đồ tư duy nên người thiết kế Bản đồ tư duy phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp, bố cục để "ghi" thông tin cần thiết nhất và lôgic, vì vậy, sử dụng Bản đồ tư duy sẽ giúp học sinh dần dần hình thành cách ghi chép có hiệu quả. Chẳng hạn, học sinh lớp 8 học về bài tranh dân gian Việt Nam thì học sinh cần nắm bắt được tòan bộ kiến thức về các dạng tranh dân gian, các giá trị giống và khác nhau của các dạng tranh đó mà chủ đạo là hai dạng tranh Đông Hồ và Hàng Trống . Ta có thể hệ thống kiến thức bằng Bản đồ tư duy. Với cách làm này rèn luyện cho bộ óc các em hướng dần tới cách suy nghĩ lôgic, mạch lạc và cũng là cách giúp các em hiểu bài, ghi nhớ kiến thức vào não chứ không phải là học thuộc lòng, học vẹt. Minh hoạ được những kiến thức, mô phỏng những hoạt động, quá trình hình thành, phát triển và tạo thành của các đối tượng (Hình học, sinh học, địa lý, vật lý , văn học .) nếu không có Bản đồ tư duy thì học sinh rất khó tưởng tượng, ghi nhớ và giáo viên cũng rất khó truyền đạt và giải thích lại cho học sinh. Tôi thấy rằng việc sử dụng Bản đồ tư duy đã thay thế cho rất nhiều lời giảng giải và giúp cho HS tư duy dễ ràng hơn. Để vẽ được một Bản đồ tư duy ứng ý có thể sẽ mất rất nhiều thời gian nhưng càng làm học sinh sẽ càng thấy cuốn hút, hứng thú và nảy sinh thêm được những ý tưởng mới. Điều đó đã giúp cho học sinh hiểu bài sâu hơn, ghi nhớ tốt hơn, càng phát triển tư duy cho bản thân học sinh, từ đó học sinh càng có hứng thú học tập, tích cực hơn. Như vậy việc sử dụng Bản đồ tư duy được sử dụng trong việc củng cố bài học cho học sinh, lập kế hoạch học tập tốt nhất, giúp học sinh ghi nhớ bài sâu sắc hơn ... đồng thời phát triển tư duy cho học sinh tạo hứng thú cho học sinh trong học tập. d. Nguyên nhân, các yếu tố tác động: - Kĩ thuât dạy học bản đồ tư duy mới nên học sinh rất hứng thú với kĩ thuật dạy này kiến thức lĩnh hội được học sinh tiếp thu tương đối trọn vẹn bên cạnh đó việc ghi chép nội dung bài học chưa được đầy đủ vì học sinh bước đầu mới làm quen với cách ghi chép thông tin thông qua bản đồ tư duy. CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp: Để giúp học sinh có hứng thú học tập trong Mỹ thuật , góp phần nâng cao chất lượng giờ học ở Mỹ thuật THCS, tôi xin đề xuất một số giải pháp biện pháp sau: Người giáo viên cần xác định vị trí, nhiệm vụ của môn Mỹ thuật cũng như tác dụng của việc dạy học Mỹ thuật. Như trên đã nói: Dạy Mỹ thuật góp phần thoả mãn nhu cầu thị hiếu thẩm mĩ cho trẻ em, đồng thời là một phương tiện giáo dục hữu ích. Dạy Mỹ thuật góp phần giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng, mở rộng tầm hiểu biết, rèn luyện khả năng tư duy, phát triển trí tưởng tượng ... Giờ Mỹ thuật đem đến cho các em học sinh những xúc cảm thẩm mỹ lành mạnh, giáo dục cho các em những tình cảm, phẩm chất đạo đức cao đẹp, giúp các em có một nhân cách phát triển toàn diện. Thông qua môn học có thể rút ra ý nghĩa gì cho cuộc sống hiện tại? Trước thực trạng trên, để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, tôi xin trao đổi một số kĩ năng sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Mỹ thuật. b. Nội dung và cách thực hiện giải pháp, biện pháp: - Giáo viên phải chủ động tự bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học của mình. Trong tiết học giáo viên không nên đưa Bản đồ tư duy có sẵn mà phải yêu cầu học sinh tư duy và vẽ được một Bản đồ tư duy hoàn chỉnh sau đó giáo viên chốt lại bằng Bản đồ tư duy của mình nếu cảm thấy cần thiết. - Khi yêu cầu học sinh vẽ Bản đồ tư duy, giáo viên yêu cầu học sinh gấp sách vở lại vì khi đó học sinh mới tư duy có hiệu quả nhất. - Chuẩn bị kĩ nội dung kiến thức tiết học thông qua bài soạn. - Lựa chọn đồ dùng dạy học phù hợp với nội dung từng bài. - Chuẩn bị hệ thống câu hỏi sao cho phát huy được tính tích cực của học sinh. - Lựa chọn nội dung để giao cho nhóm hay cá nhân . - Xây dựng bản đồ tư duy, tùy theo nội dung của từng bài mà lựa chọn cho phù hợp (sử dụng bản đồ tư duy để khai thác kiến thức mới hay để củng cố bài). Để giảng dạy bản đồ tư duy đạt hiệu quả, tơi xin thực hiện các bước theo cụ thể như sau: * Kĩ năng sử dụng bản đồ tư duy trong việc củng cố kiến thức bài vừa học. Củng cố kiến thức: Sau khi học xong bài, GV đưa bản đồ tư duy để hệ thống kiến thức. Đây là biện pháp cấp bách cần làm ngay trong nhà trường hiện nay để chúng ta kịp có cơ hội mở mang những bộ óc vàng theo kịp sự phát triển hiện đại hóa, hiện đại hóa của nền công nghiệp kĩ thuật trong thời đại mới. Bên cạnh phát triển kinh tế xã hội khoa học đi lên thì nền nghệ thuật phải phát triển theo xu hướng chung đáp ứng được nhu cầu trong nước và toàn cầu. Nội dung cải tiến các môn học là tình hình chung hiện nay và đặc biệt môn " Mỹ thuật" nói riêng.Thể hiện được tính đặc trưng của môn học. c/ Điều kiện thực hiên giải pháp: Năm học 2011-2012 là năm đầu tiên ngành Giáo dục và Đào tạo triển khai giảng dạy theo sơ đồ tư duy ở bậc học. Qua thực tế cho thấy việc giảng dạy này đã tạo hứng thú cho học sinh. Mỗi học sinh có thể tự lập sơ đồ tư duy cho mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên để bài học trở nên dễ thuộc, dễ hiểu, dễ nhớ hơn. Cùng một nội dung nhưng các em có thể thêm nhánh, thêm chú thích dưới dạng hình vẽ nhiều màu sắc tùy vào cách hiểu, cách lĩnh hội kiến thức trong bài học của mình. Ngay từ đầu năm học 2012 - 2013, sau khi đăng kí đề tài SKKN tôi đã tìm hiểu, áp dung dạy học lịch sử bằng sơ đồ tư duy. Từ đó tôi tự lập kế hoạch giảng dạy cho từng tiết học. Nếu không sử dụng phần mềm, giáo viên có thể linh động sử dụng hình vẽ tay với những màu sắc, hình ảnh, từ ngữ diễn đạt khác nhau nhằm giúp học sinh có thể nắm bắt và nhớ được phần cốt lõi của bài giảng ngay tại lớp học. Sơ đồ tư duy đặc biệt chú trọng về màu sắc, hình ảnh với từ ngữ ngắn gọn thể hiện qua mạng liên tưởng (các nhánh trong bài giảng). Từ phần nội dung chính, giáo viên vẽ ra từng nhánh nhỏ theo từng tiểu mục chính của bài giảng và chú thích, giảng giải theo một ngôn ngữ dễ hiểu và gần gũi với học sinh. Như vậy, thay vì phải học thuộc lòng các khái niệm, định nghĩa hay cả bài giảng đọc chép như lúc trước, giờ đây học sinh có thể hiểu và nắm được khái niệm qua hình vẽ. Chính sự liên tưởng theo hướng dẫn của giáo viên cũng giúp các em nhớ được phần trọng tâm của bài giảng. Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ, vẽ, viết gì trên sơ đồ tư duy, hệ thống hóa kiến thức chọn lọc những phần nào trong bài để ghi, thể hiện dưới hình thức kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc, vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống. Để giảng dạy theo sơ đồ tư duy, giáo viên có thể chủ động vẽ hình trên bảng rồi cho học sinh tiếp tục lên phân nhánh sơ đồ hay để học sinh chia thành từng nhóm nhỏ rồi tự vẽ sơ đồ theo cách hiểu của mình sau đó giáo viên định hướng lại từng nội dung cho học sinh. Sơ đồ tư duy thực chất là m

Dạy Học Theo Sơ Đồ Tư Duy

Tiết dạy của cô Thùy Linh tại lớp 12A1 Trung tâm GDTX Gia Định

Ngoài các phương tiện dạy học hiện đại còn có một cách dạy đơn giản nhưng khoa học và hiệu quả, đó là dạy học theo sơ đồ tư duy. Tùy theo từng đối tượng học sinh mà giáo viên (GV) có thể thiết lập sơ đồ tư duy đơn giản hay phức tạp.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là bài đầu tiên của chương Địa lý kinh tế lớp 12. Nếu ở hai chương Địa lý tự nhiên và Địa lý dân cư trước đó có nhiều khái niệm cụ thể dễ hiểu thì ở chương này học sinh (HS) mới bắt đầu làm quen với những khái niệm trừu tượng, các thuật ngữ mang tính chuyên ngành. Điều này yêu cầu GV bộ môn phải đưa ra một phương pháp giảng dạy phù hợp để các em có thể nắm bài ngay tại lớp. Chính vì thế khi thực hiện tiết dạy tại lớp, cô Lê Thị Thùy Linh – GV Trung tâm GDTX Gia Định – đã chọn cách truyền tải tri thức cho HS gọn nhẹ và phù hợp nhất. Trong phần đầu tiên của bài học ( Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế) sách giáo khoa đã trình bày rõ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ từng ngành và từng khu vực. HS còn gặp thuận lợi hơn khi nhìn thấy bảng số liệu về cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tế và cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp. Nhưng đây lại là một khó khăn và thử thách cho người dạy khi tìm cho tiết học cách truyền thụ tri thức khoa học và dễ hiểu nhất. Rõ ràng nếu trình bày theo ý gạch đầu dòng hay đưa ra các mục a, b, c… thì cũng không có gì khác với nội dung mà sách giáo khoa đã sử dụng. Cho đến khi GV vẽ lên bảng sơ đồ cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp theo 3 mũi tên tượng trưng cho 3 ngành (trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp) thì những kiến thức mà sách giáo khoa trình bày được hiện ra một cách cụ thể và cô đọng nhất. Với lời giảng rõ ràng và chậm rãi, cô đã giúp các em tạo được một ấn tượng đặc biệt về bài học để khắc ghi kiến thức dễ dàng.

Khi sang tới nội dung thứ 2 của bài học ( Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế), cô Thùy Linh lại tiếp tục sử dụng sơ đồ tư duy để biểu diễn bảng Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế. Ba nhánh cây được vẽ trên bảng chính là 3 thành phần kinh tế: Kinh tế Nhà nước, kinh tế ngoài Nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ngay kinh tế ngoài Nhà nước cũng có 3 thành phần được biểu hiện bằng các nhánh rẽ chi tiết: Kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể.

Trong chương trình môn ngữ văn, trước khi đọc – hiểu văn bản, sách giáo khoa có đưa ra phần Tiểu dẫn nhằm giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp văn học của tác giả. Nếu trình bày lại giống như trong sách thì HS sẽ nhàm chán và khó nhớ được mọi thông tin. Chính vì thế khi dạy bài Tây Tiến cho HS lớp 12, cô Lê Kim Mai – GV Trường THPT Võ Thị Sáu – cho các em khắc sâu kiến thức phần Tiểu dẫn ngay tại lớp bằng sơ đồ tư duy theo hình nhánh cây về tiểu sử, gia đình, phong cách, tác phẩm chính… Đây cũng là hướng chung của GV ngữ văn khi thực hiện phần này ở trên lớp.

Chính nhờ các hình vẽ trực quan này mà HS biết chọn lọc thông tin quan trọng, những kiến thức cần nhớ kỹ. “Hiện nay các em học rất nhiều bài, nhiều môn nên khó có thể nhớ hết tất cả mọi kiến thức trong sách giáo khoa hay lời giảng của cô. Chính vì thế GV phải có cách “nhấn nhá” để các em nhớ lâu những kiến thức căn bản mà không cần học thuộc lòng” – cô Thùy Linh trao đổi.

Bài, ảnh: Phan Ngọc Quang

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đề Tài Áp Dụng Bản Đồ Tư Duy Trong Dạy Và Học Môn Tiếng Anh trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!