Đề Xuất 2/2023 # Cấu Trúc Một Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học # Top 11 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 2/2023 # Cấu Trúc Một Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cấu Trúc Một Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Góc NCKH

Cấu trúc một đề tài nghiên cứu khoa học

CẤU TRÚC MỘT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

A.  GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1. KHÁI NIỆM VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (NCKH)

NCKH là quá trình tìm hiểu, điều tra cẩn thận dựa trên mối quan hệ logic về thông tin hay sự kiện để tìm ra thông tin mới, nâng cao hiểu biết của con người về các sự vật, hiện tượng.

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU KHOA HỌC:

Xem xét tổng hợp kiến thức về sự vật, hiện tượng;

Điều tra về một sự vật, hiện tượng đang diễn ra;

Cung cấp giải pháp cho những vấn đề đang tồn tại;

Khám phá và phân tích những vấn đề mới;

Tìm ra những cách tiếp cận mới;

Giải thích sự vật, hiện tượng mới;

Tạo ra kiến thức mới;

Dự báo về những vấn đề có thể xảy ra trong tương lai;

Tổng hợp tất cả những điều trên.

B.   GIỚI THIỆU CẤU TRÚC BÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1. Cấu trúc bài nghiên cứu chung:

Tên đề tài

Tóm tắt

Nội dung (có thể theo kết cấu 3 chương hoặc 5 chương)

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

2.  KẾT CẤU 3 CHƯƠNG VÀ 5 CHƯƠNG TRONG PHẦN NỘI DUNG:

Giới thiệu và so sánh tổng quát 2 kiểu kết cấu:

Kết cấu 3 chương

Kết cấu 5 chương

·   Lời nói đầu

·   C1: Cơ sở lí luận về vấn đề nghiên cứu

·   C2: Phân tích thực trạng của vấn đề được nghiên cứu

·   C3: Nêu quan điểm, phương hướng, đề xuất giải pháp…

·   Kết luận

·   C1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu (Khái quát nội dung nghiên cứu, thực trạng vấn đề)

·   C2: Tổng quan tình hình nghiên cứu (Các kết quả nghiên cứu đã đạt được, mô hình lý thuyết và mô hình thực nghiệm đã được áp dụng)

·   C3: Phương pháp nghiên cứu (thu thập số liệu, xây dựng mô hình…)

·   C4: Báo cáo kết quả; nhận xét đánh giá

·   C5: Kết luận, khuyến nghị, định hướng nghiên cứu trong tương lai

Nhận xét: Tùy vào mục tiêu nghiên cứu mà người viết lựa chọn bố cục kết cấu phù hợp. Có thể thay đổi bố cục bài nghiên cứu, nhưng phải có các nội dung cần thiết sau:

• Mở đầu: Tính cấp thiết của đề tài; Tổng quan nghiên cứu; Mục tiêu nghiên cứu; Đối tượng, phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu. • Nội dung: Cơ sở lý luận; Thực trạng và giải pháp của vấn đề; Kết quả nghiên cứu; Đề xuất giải pháp, khuyến nghị.

C. XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU CHI TIẾT

1. CÁCH VIẾT CÁC NỘI DUNG CHÍNH TRONG KẾT CẤU ĐỀ TÀI 3 CHƯƠNG

TÊN ĐỀ TÀI A. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài – Câu hỏi: Vì sao lại nghiên cứu đề tài đó? + Lí do khách quan: Ý nghĩa trên lý luận và thực tiễn chung + Lí do chủ quan: Thực trạng nơi tác giả nghiên cứu, nhu cầu, trách nhiệm, sự hứng thú của người nghiên cứu đối với vấn đề – Các nghiên cứu đã được thực hiện trước đó từ đó chỉ ra điểm mới của đề tài, vấn đề mà nhóm lựa chọn. • Trọng số trong bài nghiên cứu: Luận giải rõ ràng tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu: 10%

2. Tổng quan nghiên cứu

• Những hướng nghiên cứu chính về vấn đề của đề tài đã được thực hiện • Những trường phái lý thuyết đã được sử dụng để nghiên cứu vấn đề này • Những phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng • Những kết quả nghiên cứu chính • Hạn chế của các nghiên cứu trước – những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

3. Mục tiêu nghiên cứu – Mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể: Trả lời câu hỏi “Bạn muốn làm được gì khi thực hiện đề tài?” • Trọng số:

+ Mục tiêu nghiên cứu rõ ràng, bám sát tên đề tài: 10%

+ Sự phù hợp giữa tên đề tài, mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nội dung công trình: 5%

4. Đối tượng nghiên cứu – Là vấn đề được đặt ra nghiên cứu. • Lưu ý: phân biệt đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu: + Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu cái gì? – Những hiện tượng thuộc phạm vi NC + Khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu ai? – Cá nhân/ nhóm xã hội chứa đựng vấn đề NC

5. Phạm vi nghiên cứu – Không gian, thời gian, lĩnh vực thực hiện nghiên cứu. • Lưu ý: tránh trường hợp đề tài thực hiện trên phạm vi quá rộng hoặc quá hẹp.

6. Phương pháp nghiên cứu – Trình bày các PPNC được sử dụng (Chỉ rõ PP chủ đạo, PP bổ trợ) + Phương pháp thu thập thông tin: khảo sát, lập bảng hỏi, đọc tài liệu,… + Phương pháp xử lí thông tin: định lượng, định tính, … • Trọng số: Phần này thường được quan tâm vì là hướng đi chính của đề tài. + PPNC khoa học, hợp lí, đáng tin cậy, phù hợp đề tài: 5% + Sự phù hợp giữa tên đề tài, mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nội dung công trình: 5%

7. Cấu trúc đề tài: Trình bày vắn tắt các chương của đề tài (có thể không trình bày)

Chương 1:

Chương 2:

Chương 3:

B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Chương 1: Cơ sở lý luận

– Vị trí, vai trò, ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu • Lỗi thường gặp: SV viết y nguyên các lý thuyết, khái niệm… trong giáo trình, tài liệu mà không có sự điều chỉnh phù hợp với đề tài và sử dụng lời văn của mình • Trọng số: Phần Lý luận có logic, phù hợp với tên đề tài đã chọn: 10%

Chương 2: Thực trạng, nguyên nhân của vấn đề nghiên cứu – Phân tích mô hình, đánh giá số liệu: Bao gồm mẫu nghiên cứu, phương pháp thu thập, đặc điểm, dữ liệu, phần mềm sử dụng, đối chiếu cơ sở lý thuyết • Trọng số: Số liệu minh chứng có cơ sở khoa học và đảm bảo tính cập nhật: 5% – Giải thích: Chỉ ra nguyên nhân của vấn đề • Trọng số: Nội dung phần thực trạng có gắn kết với phần lý luận, mô tả rõ thực trạng của vấn đề nghiên cứu, những đánh giá thực trạng bao quát và có tính khoa học: 10%

Chương 3: Giải pháp – Dự báo tình hình – Đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề • Trọng số: + Kết quả của đề tài thể hiện rõ tính sáng tạo và có đóng góp mới của tác giả: 10% + Khả năng ứng dụng của kết quả nghiên cứu: 10% (các đề tài đạt giải thường được đánh giá cao ở tính ứng dụng)

C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận – Tóm tắt nội dung, tổng hợp các kết quả nghiên cứu – Biện pháp triển khai áp dụng vào thực tiễn

2. Đề nghị – Đề nghị ứng dụng trong thực tiễn và đề nghị với tổ chức, cơ quan, cá nhân riêng. – Khuyến nghị, đề xuất hướng phát triển đề tài, nêu rõ vấn đề nào đã được giải quyết, chưa được giải quyết, vấn đề mới nảy sinh cần được NC

D. TÀI LIỆU THAM KHẢO – Sắp xếp tài liệu tham khảo tiếng Việt riêng, tiếng nước ngoài riêng; – Yêu cầu trong Giải thưởng SVNCKH: trích dẫn theo quy định của Tạp chí Phát triển KH&CN.

E. PHỤ LỤC – Vị trí của phụ lục có thể ở đầu hoặc cuối công trình nghiên cứu.

2. CÁCH VIẾT CÁC NỘI DUNG CHÍNH TRONG ĐỀ CƯƠNG KẾT CẤU ĐỀ TÀI 5 CHƯƠNG:

TÊN ĐỀ TÀI TÓM TẮTCHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU – Vấn đề được nghiên cứu là gì? – Đối tượng, phạm vi nghiên cứu; sơ lược lịch sử nghiên cứu – Vị trí, vai trò, tầm quan trọng của vấn đề được nghiên cứu (Lí do nghiên cứu)

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận: Các khái niệm, định nghĩa, kiến thức nền tảng về vấn đề được nghiên cứu 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu: Khái quát các kết quả nghiên cứu đã đạt được – Mô hình lí thuyết của các nhà khoa học trên thế giới – Mô hình thực nghiệm đã được áp dụng (trên thế giới và Việt Nam) 3. Phát triển giả thuyết nghiên cứu (có thể chuyển xuống chương 3)

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU – Mô tả bạn đã nghiên cứu như thế nào, trình bày các phương pháp nghiên cứu – Bối cảnh nghiên cứu – Tổng thể nghiên cứu và chọn mẫu – Phương pháp thu thập số liệu (báo cáo, khảo sát, bảng hỏi, phỏng vấn…) – Phương pháp xử lí thông tin – Xây dựng mô hình (dựa trên phân tích Kinh tế lượng, hay dựa trên việc phân tích case study,…)

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ ĐÁNH GIÁ – Báo cáo kết quả: sau khi phân tích, xử lí dữ liệu thu được kết quả gì? (có thể được trình bày bằng các bảng biểu, số liệu, …) – Đánh giá, nhận xét: Kết quả có phù hợp với giả thuyết, dự kiến không? Giải thích vì sao lại có kết quả như vậy, …

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận: – Đưa ra tóm tắt tổng hợp nội dung và kết quả nghiên cứu 2. Khuyến nghị: – Đề xuất biện pháp áp dụng – Nghiên cứu đã giải quyết vấn đề gì, chưa giải quyết vấn đề gì (hoặc có vấn đề mới nào nảy sinh)? Từ đó đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

www.sciencedirect.com www.ssrn.com

Trích Nguồn : http://yrc-ftu.com

Đi Vào Nghiên Cứu Khoa Học

Đi Vào Nghiên Cứu Khoa Học – GS. Nguyễn Văn Tuấn

Ở kỷ nguyên tin học này, một em học sinh phổ thông ở nước ta cũng có thể nói được rằng khoa học là nền tảng của sự phát triển xã hội và nghiên cứu khoa học, do vậy, là hoạt động vô cùng quan trọng. Nhưng, thế nào là “nghiên cứu khoa học”, và đâu là “thước đo” trong nghiên cứu khoa học, hoặc thế nào là “văn hóa khoa học”… thì ngay cả nhiều người có học vị cao ở bậc đại học cũng không trả lời ổn thỏa.

Không chỉ đối với những vấn đề mang tính khái quát như vậy mà cả với những câu hỏi cụ thể như: làm sao để viết một bài báo khoa học, trích dẫn tài liệu phải theo cách thức nào, vì sao phải công bố rộng rãi một công trình nghiên cứu, hoặc thế nào là đạo văn, “đạo số liệu”… cũng khó tìm được câu trả lời rành mạch, đúng đắn.

Trong khi đó, thực tế lại đang diễn ra tình trạng rất đáng buồn, đáng lo trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, từ chuyện “làm khoa học” bằng cách… đạo văn, điều tra cẩu thả, không đúng phương pháp, thậm chí có nhưng cơ quan quản lý đưa ra nhiều quy định hành chính gọi là dựa trên “cơ sở khoa học” mà thật ra chẳng khoa học tí nào!

Có lẽ nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là văn hóa khoa học nước ta chưa được như các nước tiên tiến, trong đó có phần do lâu nay chúng ta thiếu các chương trình giảng dạy, sách báo, tài liệu hướng dẫn, giải thích về bản chất cũng như cách thức tiến hành nghiên cứu khoa học. Như vậy, để có thể nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học, gia tăng sự hiện diện của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế, rõ ràng cần phải nâng cao nhận thức về ý nghĩa của hoạt động nghiên cứu khoa học, mở rộng tầm hiểu biết chung về phương pháp nghiên cứu khoa học.

Cuốn sách này ra đời trên cơ sở tập hợp những bài viết về hai nội dung chính: nghiên cứu khoa học và việc công bố kết quả nghiên cứu khoa học. Trong phần đầu, tác giả cố gắng làm rõ các khái niệm cốt yếu như “hoạt động nghiên cứu khoa học”, “cơ sở khoa học”, cách xác định đề tài nghiên cứu, vấn đề đạo đức khoa học, văn hóa khoa học… Về phương diện công bố kết quả nghiên cứu khoa học, tác giả chủ yếu tập trung vào hình thức bài báo khoa học đăng trên tập san quốc tế. Do khuôn khổ có giới hạn của bài viết đăng trên báo đại chúng cho nên tác giả thường đề cập đến các vấn đề một cách tổng quát, căn bản, và mặt khác, vốn là nhà nghiên cứu trong lĩnh vực y sinh học cho nên khi khai triển vấn đề cũng như khi đưa ra dẫn chứng, tác giả thường dựa nhiều vào các nghiên cứu ngành y sinh học. Tuy vậy, những yêu cầu cơ bản, những nội dung thiết yếu trong nghiên cứu khoa học nói chung và cách thức công bố kết quả nghiên cứu khoa học đều được tác giả trình bày một cách rõ ràng, có hệ thống theo các chuẩn mực quốc tế bằng một văn phong sáng sủa, dễ hiểu, lập luận chặt chẽ, dẫn liệu phong phú, đáng tin cậy. Xét về phương diện phổ biến kiến thức thì đó chính là những ưu điểm của tác giả và rất phù hợp với mục đích xuất bản của Tủ sách Kiến thức này.

Trong thực tế, hoạt động nghiên cứu khoa học vốn đa dạng, phức tạp, và có sự khác biệt nhất định giữa nghiên cứu trong khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Việc công bố kết quả nghiên cứu khoa học cũng được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: luận văn, sách biên khảo, công trình điền dã, điều tra xã hội học… Nói chung, còn nhiều nội dung cần được đề cập cặn kẽ, đầy đủ hơn nữa, và để có thể chuyển đạt đầy đủ những nội dung đó hẳn sẽ cần đến nhiều cuốn sách, tài liệu hướng dẫn khác trong tương lai. Thiết nghĩ, đó là công việc chung của giới khoa học nước ta.

Riêng với cuốn sách này, hy vọng nó sẽ giúp ích cho những người mới bước vào nghiên cứu khoa học, đặc biệt là với các bạn sinh viên, qua việc cung cấp những thông tin, những kiến thức phổ thông cần phải có để làm hành trang trên con đường nghiên cứu khoa học – con đường vốn không ít cam go, thử thách mà cũng rất đáng tự hào.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách này cùng quý độc giả!

SÁCH CÙNG TÁC GIẢ

Từ Nghiên Cứu Đến Công Bố: Kỹ Năng Mềm Cho Nhà Khoa Học – GS. Nguyễn Văn Tuấn

Cuốn sách này xuất phát từ một thực trạng: sự hiện diện của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn. Số bài báo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế là một trong những chỉ tiêu chính để đánh giá mức độ hoạt động của một nền khoa học. Tính từ 1970 đến 2011, tổng số ấn phẩm khoa học từ Việt Nam được công bố trên các tập san khoa học quốc tế là 10745 bài. Con số này chỉ bằng 22% của Thái Lan, 27% của Malaysia, và 11% của Singapore. Thật ra, so với các nước lớn trong vùng, số bài báo khoa học của Việt Nam là thấp nhất. Đối chiếu với con số hơn 9000 giáo sư và 24000 tiến sĩ, con số ấn phẩm khoa học của Việt Nam cho thấy năng suất khoa học của giới học thuật Việt Nam còn rất thấp. Trước tình hình trên, Bộ Khoa học và Công nghệ đã đi đến quyết định lấy số ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế (sẽ gọi tắt là “công bố quốc tế”) là một chỉ tiêu để đánh giá thành quả của nghiên cứu khoa học.

Sự hiện hiện khiêm tốn của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế có thể giải thích bằng nhiều nguyên nhân, kể cả vấn đề ý tưởng và phương pháp nghiên cứu. Ngày nay, khoảng 90% tập san quốc tế dùng tiếng Anh như là một ngôn ngữ chính. Ngay cả những tập san xuất phát từ những nước như Thuỵ Điển, Na Uy, Hà Lan, Phần Lan, China, Nhật, Hàn Quốc, v.v. cũng dùng tiếng Anh. Có thể nói rằng tiếng Anh đã trở thành một ngôn ngữ khoa học. Nhưng đối với người Việt chúng ta, tiếng Anh là một rào cản rất lớn, bởi vì nhiều nhà khoa học Việt Nam chưa thạo tiếng Anh. Rất nhiều nhà khoa học Việt Nam biết tiếng Anh, có thể đọc, nghe, và viết, nhưng phần lớn chưa quen với cách viết một bài báo khoa học hoàn chỉnh. Ngay cả những nghiên cứu sinh đã theo học các đại học nói tiếng Anh ở nước ngoài cũng chưa đủ khả năng để soạn một bài báo khoa học mà không cần đến sự hỗ trợ về ngôn ngữ. Nghiên cứu ở Đài Loan cho thấy khoảng 1/4 bài báo từ nước này bị từ chối là do có vấn đề trong tiếng Anh. Do đó, cách soạn bài báo khoa học bằng tiếng Anh tuy mới nghe qua có vẻ là một việc tương đối nhỏ, nhưng trong thực tế lại là một yếu tố rất quan trọng cho “số phận” của một bài báo khoa học. Có thể nói không ngoa rằng chính tiếng Anh là một rào cản làm cho sự hiện diện của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn. Cuốn sách bạn đang cầm trên tay được soạn ra để giúp bạn cách viết một bài báo khoa học bằng tiếng Anh.

Đã có rất nhiều sách hướng dẫn về cách viết bài báo khoa học bằng tiếng Anh, nhưng tôi muốn nghĩ rằng cuốn sách này khác với những cuốn đã xuất bản. Đại đa số sách về đề tài xuất bản khoa học viết cho độc giả nói tiếng Anh hay người Âu Mĩ, nhưng cuốn sách bạn đang cầm trên tay là viết cho người Việt, đặc biệt là giới nghiên cứu sinh và khoa học Việt Nam. Là người Việt từng mài mò học tiếng Anh, trực tiếp làm nghiên cứu khoa học, đã và đang phục vụ trong các ban biên tập tập san khoa học quốc tế, tôi có thể chia sẻ với các đồng nghiệp Việt Nam những điều mà các tác giả Âu Mĩ không thể chia sẻ. Bạn đọc sẽ tìm thấy trong sách những kinh nghiệm về cách soạn bài báo khoa học và cách trình bày báo cáo, cũng như những sai lầm phổ biến ở người Việt Nam mà tôi muốn chia sẻ.

Cuốn sách là một công trình tâm huyết của tác giả với mong mỏi góp phần vào việc nâng cao số ấn phẩm khoa học Việt Nam trong các diễn đàn khoa học quốc tế. Trong thời gian trên dưới 10 năm qua, tôi đã có dịp thực trên 20 lớp học ngắn hạn (workshop) về phương pháp nghiên cứu khoa học tại rất nhiều đại học, bệnh viện, và trung tâm nghiên cứu khoa học. Qua những lớp học đó tôi nhận ra những khó khăn trong cách viết bài báo khoa học. Vì thế, sau những lớp học về phương pháp là một loạt lớp học về cách viết bài báo khoa học, khởi đầu ở Đại học Y Hà Nội vào năm 2009, và sau này được thực hiện tại nhiều bệnh viện và đại học khác.   Cuốn sách còn là một “sản phẩm” của những khoá học vừa đề cập. Tôi cám ơn Bs Hồ Phạm Thục Lan đã cho phép tôi dùng 2 bản thảo bài báo khoa học như là một minh hoạ. Tôi muốn nhân dịp này bày tỏ lòng cảm ơn các đồng nghiệp và học viên thuộc Bộ môn Nội tiết (Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh), Đại học Y Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Y Dược Cần Thơ, Đại học Y Dược Huế, Đại học Y Hải Phòng, Đại học Y Thái Nguyên, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Nhân dân 115, Bệnh viện Nhân dân Gia Định, Học viện Quân Y 175, Bệnh viện Hoàn Mỹ, Bệnh viện Bạch Mai, v.v. đã tạo điều kiện cho tôi chia sẻ những kinh nghiệm cùng các bạn. Tôi cũng cám ơn các công ti dược, đặc biệt là sanofi aventis và Novartis đã hỗ trợ một cách bất vụ lợi những lớp học về cách viết bài báo khoa học.

Rất nhiều bạn đọc xa gần mà tôi chưa bao giờ gặp mặt ngoài đời cũng đã có những đóng góp và động viên có ý nghĩa. Xin chân thành cám ơn các bạn. Cuốn sách là một nỗ lực cá nhân, và “nhân vô thập toàn” là lời giải thích tại sao cuốn sách khó có thể tránh khỏi những nhầm lẫn và thiếu sót. Trong trường hợp bạn đọc tìm thấy thiếu sót và nhầm lẫn, xin cứ thẳng thắn góp ý để lần tái bản sau sẽ hoản hảo hơn. Các bạn có thể liên lạc tôi qua địa chỉ website cá nhân www.nguyenvantuan.net.

Kiên Giang 24/12/2012

-  Cuốn sách nhỏ này giới thiệu các phương pháp truy tìm, thẩm định, xử lí và ứng dụng thông tin cho các mục đích lâm sàng. Bạn đọc sẽ tìm thấy khá nhiều khái niệm dịch tễ học và một số phương pháp phân tích số liệu thường thấy trong các bài báo y khoa trên các tạp san y học  quốc tế.

-  Tôi cố gắng trình bày các khái niệm bằng một ngôn ngữ “phổ thông”, tức là hạn chế sử dụng các thuật ngữ khó hiểu” (Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn)

Bắt đầu nghiên cứu như thế nào?

Giả dụ như bạn đã có một ý tưởng để làm nghiên cứu, bước kế tiếp là phải suy nghĩ làm sao để thực hiện ý tưởng. Nhưng để cho việc suy nghĩ cách thực hiện tốt, bạn cần phải rất cụ thể về chi tiết, và phải bắt đầu với câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu. Cách tiếp cận vấn đề sẽ được xây dựng trên cơ sở của mục tiêu nghiên cứu.

Nếu là nghiên cứu trên người, cách tiếp cận một câu hỏi nghiên cứu phải dựa trên nhiều yếu tố. Nhưng tựu trung lại là:

Mô hình nghiên cứu là gì?

Đối tượng nghiên cứu là ai?

Đo lường những gì, tức là dữ liệu cần thu thập là gì?

Phân tích dữ liệu ra sao?

1.  Mô hình nghiên cứu

Trong nghiên cứu lâm sàng, hay nghiên cứu y học nói chung, việc chọn mô hình nghiên cứu là rất quan trọng, vì nó quyết định giá trị khoa học của nghiên cứu. Cùng là một câu hỏi nghiên cứu, các bạn có nhiều mô hình để tiếp cận. Chẳng hạn như nếu các bạn muốn biết ăn chay có lợi hay hại đến sức khỏe, cụ thể là bệnh loãng xương, các bạn có thể chọn nghiên cứu so sánh hai nhóm người ăn chay và ăn mặn. Nhưng trong thực tế thì có nhiều mô hình so sánh. Nhìn chung, nghiên cứu y học / lâm sàng trên người có thể chia thành 5 mô hình, giá trị cao nhất đến thấp nhất:

Phân tích tổng hợp các nghiên cứu RCT (randomized controlled trials);

Nghiên cứu RCT: chia bệnh nhân một cách ngẫu nhiên thành hai nhóm, nhóm can thiệp và nhóm chứng;

Nghiên cứu đoàn hệ (prospective cohort study): đây là nghiên cứu quan sát (không can thiệp), theo dõi một nhóm người theo thời gian;

Nghiên cứu bệnh chứng (case – control study): đây cũng là nghiên cứu quan sát, nhà nghiên cứu chọn một nhóm bệnh và một nhóm chứng, rồi so sánh các yếu tố lâm sàng giữa hai nhóm;

Nghiên cứu thiết diện (hay cắt ngang, hay cross-sectional study): cũng là nghiên cứu không can thiệp, nói đúng ra nó là một dạng survey hay điều tra xã hội. 

Mỗi mô hình nghiên cứu có những điểm mạnh và điểm yếu. Chẳng hạn như mô hình RCT thì rất đắt tiền, vì phải theo dõi bệnh nhân một thời gian, và phải can thiệp nữa, nên cần hẳn một ban bệ để thực hiện nghiên cứu. Đối với những nghiên cứu qui mô trên vài ngàn bệnh nhân, người ta phải chọn nhà nghiên cứu cẩn thận (với lí lịch khoa học “xem được” và thành tích khoa học xứng đáng để được làm nghiên cứu RCT). Nghiên cứu đoàn hệ tuy không can thiệp, nhưng cũng khó thực hiện, vì phải theo dõi bệnh nhân theo thời gian, có khi 5 hay 10 năm, mới có dữ liệu để phân tích. Nghiên cứu bệnh chứng tuy rất dễ làm nhưng giá trị khoa học thì không cao như các mô hình khác. Còn nghiên cứu thiết diện thì chỉ là một dạng điều tra xã hội, tuy dễ thực hiện, nhưng nếu thu thập dữ liệu không tốt thì cũng chẳng có giá trị gì. Do đó, cần phải cân nhắc cẩn thận việc chọn mô hình nghiên cứu để giải quyết câu hỏi nghiên cứu.

Tất cả các mô hình nghiên cứu có giá trị phải có cái gọi là nhóm chứng (control). Một nghiên cứu không có nhóm chứng thì rất khó diễn giải. Để biết hiệu quả của một phẫu thuật mới, mà chỉ có một nhóm bệnh nhân được mổ bằng phương pháp mới là chưa đủ, mà cần phải so sánh với một nhóm bệnh nhân được mổ bằng phương pháp hiện hành. Dĩ nhiên, có khi rất khó tìm nhóm chứng, nhưng nhà nghiên cứu cần phải “sáng tạo” nghĩ ra cách làm sao cho có nhóm chứng.

Quay lại ví dụ về ăn chay, sau khi xem xét qua y văn, tôi thấy các nghiên cứu trước đây toàn là nghiên cứu quan sát hay nghiên cứu bệnh chứng. Do đó, để có cái mới trong nghiên cứu, tôi quyết định chọn mô hình RCT. Theo mô hình này, tôi sẽ chọn một số người (không hẳn là bệnh nhân, mà là người bình thường), sau đó tôi sẽ dùng phương pháp thống kê để chia thành hai nhóm ngẫu nhiên. Nhóm 1 sẽ được ăn chay suốt 3 năm liền, và nhóm hai là ăn mặn cũng 3 năm.  Trong thời gian 3 năm tôi sẽ theo dõi xem có bao nhiêu người bị gãy xương trong mỗi nhóm, và so sánh nguy cơ gãy xương giữa hai nhóm để đánh giá hiệu quả của ăn chay.

2.  Đối tượng nghiên cứu

Một trong những nghiên cứu “favorite” mà tôi hay nói với các bạn học viên là nghiên cứu để đánh giá sự ảnh hưởng của môi trường không trọng lực đến xương. Dân trong nghề ai cũng biết xương là một mô động (chứ không phải tĩnh như người ta nghĩ). Khi chúng ta luyện tập thể dục thì xương cũng sẽ đáp ứng theo. Đó chính là lí do tại sao người ta khuyến cáo nên tập thể dục để giảm nguy cơ gãy xương. Nhưng làm sao để “chứng minh” được ý tưởng này? Các nhà nghiên cứu Mĩ nghĩ ra một cách làm rất hay. Họ chọn đối tượng là những phi hành gia. Phi hành gia khi bay lên vũ trụ, họ phải sống trong môi trường không có trọng lực, và nếu giả thuyết kia đúng thì khi họ đáp xuống mặt đất, mật độ xương phải giảm. Thế là các nhà nghiên cứu đo mật độ xương của những phi hành gia trước khi bay và sau khi đáp xuống mặt đất. Kết quả cho thấy chỉ trong vòng 1 tháng hay ngắn hơn, mật độ xương của họ suy giảm đến 3-5%, có người giảm đến 10%. Ngoài ra, họ còn bị suy giảm về lượng cơ và trở nên yếu đuối. (Đó chính là lí do tại sao khi đáp xuống mặt đất họ phải được khiêng, chứ không cho bước đi, vì rất dễ bị gãy xương)

Một nghiên cứu khác cũng thú vị không kém, là họ chọn các nữ sinh chơi vợt, họ đo mật độ xương ở tay phải và tay trái. Giả thuyết là nếu người thuận tay phải thì mật độ xương tay phải sẽ cao hơn tay trái, và quả thật như thế. Đó là một cách thiết kế nghiên cứu vừa đơn giản nhưng lại vừa thuyết phục (vì so sánh cùng một cá nhân). Nói chung, có rất nhiều cách tiếp cận câu hỏi nghiên cứu qua cách chọn đối tượng. Nhưng tất cả đều cần phải suy nghĩ và bàn bạc với người có kinh nghiệm.

3.  Đo lường cái gì?

Dữ liệu là trái tim của một nghiên cứu. Điều này có nghĩa là đo lường đóng vai trò hết sức quan trọng trong một nghiên cứu. Khi nói đo lường, chúng ta nói đến hai yếu tố sau đây: số liệu nào cần thu thập, và phương pháp đo lường là gì.

Sách Khai Minh trân trọng giới thiệu bạn đọc !

Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì

Việc làm Giáo dục – Đào tạo

1. Đặc điểm của nghiên cứu khoa học

1.1. Nghiên cứu khoa học là gì?

Nghiên cứu khoa học là gì?

Nghiên cứu khoa học hay tiếng Anh gọi là Scientific Research là quá trình áp dụng các phương pháp nghiên cứu từ những người nghiên cứu có trình độ chuyên môn nhằm tìm ra kiến thức mới, những ứng dụng kỹ thuật có hiệu quả và những mô hình mới có ý nghĩa với thực tiễn. Hoạt động trong nghiên cứu khoa học là đi tìm hiểu, quan sát, thí nghiệm và đôi khi phải trải nghiệm thử,… dựa trên cơ sở những già đã thu thập được về số liệu, tài liệu,…

Từ đó có thể rút ra khái niệm cụ thể của nghiên cứu khoa học chính là việc thực hiện tổng hợp hợp một chuỗi các phương pháp để nghiên cứu tìm ra quy luật mới, khái niệm mới, hiện tượng mới,… đã được chứng minh trong quá trình nghiên cứu thông qua khảo sát thực tế hay qua những số liệu, tài liệu đã được thu thập.

Việc tiến hành nghiên cứu những công trình khoa học lớn cần nhiều thời gian công sức về cả người và của nhưng một khi đã thành công, kết quả từ quá trình nghiên cứu này rất có ý nghĩa trong thực tiễn phục vụ nhu cầu cho chính con người hay còn là yếu tố tác động chính tới sự phát triển của xã hội.

1.2. Nghiên cứu khoa học cần tới con người sở hữu tố chất nào?

Nằm trong vấn đề cần nghiên cứu – công việc cần tới sự sáng tạo và có hệ thống được thực hiện để tăng kho kiến thức, bao gồm kiến thức về con người, văn hóa – xã hội và việc sử dụng kho kiến thức này để đưa ra ứng dụng mới. Vì vậy những người đạt trình độ nghiên cứu cần có:

– Kiến thức về lĩnh vực nghiên cứu: Đây sẽ là yêu cầu trước tiên để có đạt điều kiện tham gia nghiên cứu khoa học. Chỉ khi am hiểu về lĩnh vực trong đề tài nghiên cứu các hoạt động đem tới kết quả mới đi đúng hướng.

– Có tình thần đam mê, nhiệt huyết, thích khám phá tìm kiếm cái mới trong cuộc sống

– Nhận định về khoa học khách quan và trung thực nhất

– Có kỹ năng làm việc tập thể hoặc độc lập có phương pháp cụ thể: Nghiên cứu khoa học cần nghiên cứu rất nhiều vấn đề xung quanh một đề tài chính vì vậy hoạt động này thường sẽ được triển khai theo nhóm hoặc nếu có năng lực cao vẫn có thể làm việc cá nhân. Tuy nhiên dù là làm cá nhân hay làm theo nhóm thì công việc nghiên cứu vẫn cần được triển khai theo đúng phương pháp.

– Liên tục rèn luyện năng lực nghiên cứu từ lúc là sinh viên: Nhằm tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với nghiên cứu khoa học nhiều trường đại học đã phát động cuộc thi nghiên cứu khoa học với đề tài chuyên môn tự chọn thu hút sự tham gia của không ít nhóm sinh viên. Họ đều là những người có niềm đam mê nghiên cứu, tinh thần ham học hỏi, thích khám phá những điều mới mẻ. Đặc biệt với nhiệt huyết của tuổi trẻ, đối tượng nghiên cứu này luôn hy vọng đem đến những điều mới mẻ chứng minh năng lực sau quá trình nghiên cứu với nhà trường tạo tiền đề cho nhiều công trình nghiên cứu lớn sau này cống hiến cho nền khoa học nước nhà.

1.3. Ai là người nghiên cứu khoa học?

Một nhóm người nghiên cứu khoa học

– Các chuyên gia nghiên cứu ở mọi lĩnh vực làm việc trong Viện, Trung tâm nghiên cứu

– Các giáo sư, giảng viên ở các trường Đại học – Cao đẳng, Trung học Chuyên nghiệp

– Các chuyên gia trong cơ quan quản lý Nhà nước

– Các Công ty, Viện nghiên cứu tư nhân

– Sinh viên đam mê nghiên cứu khoa học trong các trường Đại học có tổ chức nghiên cứu hoặc tham gia nhóm nghiên cứu bên ngoài trường được tổ chức bởi một trung tâm,…

1.4. Các hình thức tổ chức nghiên cứu

– Đề tài nghiên cứu: Là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học chứa đựng nhiệm vụ nghiên cứu cho một cá nhân hay một nhóm người thực hiện. Đây mà một nghiên cứu có mục tiêu cụ thể, phương pháp rõ ràng nội dung hướng tới đáp ứng yêu cầu của thực tiễn sản xuất hoặc dùng kết quả để xây dựng chính sách, là cơ sở nghiên cứu cho các đề tài tiếp theo.

– Dự án khoa học nghiên cứu: Thường có vấn đề nghiên cứu thuộc lĩnh vực kinh tế, nhằm mục đích ứng dụng tăng hiệu quả kinh tế – xã hội. Trước tiên kết quả sẽ được sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất với quy mô lớn và đời sống

– Chương trình khoa học nghiên cứu: Là tập hợp các đề tài/ dự án có cùng mục đích nghiên cứu cho ra kết quả áp dụng cùng cho một vấn đề. Các dự án/ đề tài được quản lý một các phối hợp nhằm hướng tới một số mục tiêu chung đã định ra từ trước.

Việc làm Công chức – Viên chức

2. Môn phương pháp nghiên cứu khoa học là gì?

2.1. Khái niệm phương pháp nghiên cứu khoa học

Phương pháp nghiên cứu khoa học là gì?

Phương pháp nghiên cứu khoa học là những công cụ hỗ trợ quá trình nghiên cứu khoa học giúp thu thập số liệu, dữ liệu, thông tin, kiến thức để phục vụ cho việc tìm ra điều mới mẻ,… Các phương pháp nghiên cứu khoa học mang tính hệ thống tức là phương pháp này phải đi liền với phương pháp khác theo một chuỗi nhất định đảm bảo tính thống nhất và khá dễ sử dụng.

2.2. Các phương pháp nghiên cứu khoa học là gì?

Các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu khoa học

Một đề tài, dự án, chương trình hay một đề án được hoàn thành với rất nhiều các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau được phân thành:

– Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Là các phương pháp áp dụng trực tiếp vào vấn đề nghiên cứu trong thực tế để hiểu rõ bản chất và các quy luật của những vấn đề đó.

+ Phương pháp quan sát khoa học: Có hai loại quan sát khoa học là quan sát trực tiếp và gián tiếp hoặc phân thành quan sát theo thời gian và không gian. Đối với những nghiên cứu quy mô lớn nên chia thời gian nghiên cứu theo từng giai đoạn để thu thập được nguồn thông tin chính xác nhất, xác thực nhất với vấn đề nghiên cứu.

+ Phương pháp thực nghiệm khoa học: Áp dụng đối với một số vấn đề nghiên cứu cần tác động vào đối tượng để điều hướng chúng phát triển hay hoạt động theo mục tiêu dự kiến đã đặt ra

+ Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: Là phương pháp nghiên cứu và xem xét lại những thành quả thực tiễn trong quá khứ để rút ra kết luận bổ ích cho thực tiễn và khoa học.

+ Phương pháp chuyên gia: Là phương pháp sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia có trình độ phù hợp với chuyên môn nghiên cứu sâu rộng nhằm thu thập thông tin khoa học, ghi chép các nhận định đánh giá một sản phẩm khoa học làm cơ sở để bổ sung, chỉnh sửa cho vấn đề nghiên cứu. Với mỗi lĩnh vực cần nghiên cứu bạn phải chọn đúng chuyên gia có năng lực chuyên môn đó, có phẩm chất của người nghiên cứu khoa học.

– Các phương nghiên cứu lý thuyết: Trên cơ sở dữ liệu, thông tin có sẵn tại các văn bản, tài liệu bằng các thao tác tư duy logic để rút ra kết luận khoa học cần thiết cho vấn đề nghiên cứu thông qua các phương pháp sau:

+ Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phân tích thành từng bộ phận các tài liệu đề tìm hiểu sâu sắc về đối tượng rồi tổng hợp những thông tin đã được phân tích thành một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và bám sát hơn vào đối tượng nghiên cứu.

+ Phương pháp giả thuyết: Trước tiên nghiên cứu hay đưa ra quan điểm, giả thuyết về đặc điểm định nghĩa của vấn đề rồi sau đó đi chứng minh điều mình đưa ra là đúng, có cơ sở khoa học để minh chứng

+ Phương pháp lịch sử: Là phương pháp áp dụng để đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển, hình thành đối tượng nghiên cứu dựa trên tài liệu đã được ghi chép rồi từ đó rút ra mấu chốt

Nghiên Cứu Khoa Học Sư Phạm Ứng Dụng

Sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để tóm tắt và gợi ý cách giải một bài toán là một trong các giải pháp rèn luyện kỹ năng giải toán, đặc biệt ở Tiểu học, trong đó mối quan hệ giữa các đại lượng đã cho và và đại lượng phải tìm trong bài toán được biểu diễn bởi các đoạn thẳng. Nhờ dùng sơ đồ đoạn thẳng một cách hợp lý, các khái niệm và quan hệ trừu tượng được biểu thị trực quan hơn.

Trong dạy học giải toán ở tiểu học, phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng được dùng để giải các bài toán đơn, các bài toán hợp và các bài toán có lời văn điển hình. Để giải được các bài toán học sinh cần phải thực hiện theo bốn bước sau:

Bước 1: Tìm hiểu kỹ đề toán

Bước 2: Tóm tắt bài toán.

Bước 3: Phân tích bài toán để tìm ra cách giải

Bước 4: Trình bày bài giải.

Bước 5: Kiểm tra cách giải và tìm cách giải khác (nếu có).

i toán hợp và các bài toán có lời văn điển hình. Để giải được các bài toán học sinh cần phải thực hiện theo bốn bước sau: Bước 1: Tìm hiểu kỹ đề toán Bước 2: Tóm tắt bài toán. Bước 3: Phân tích bài toán để tìm ra cách giải Bước 4: Trình bày bài giải. Bước 5: Kiểm tra cách giải và tìm cách giải khác (nếu có). Việc tìm ra kết quả của bài toán là một nhiệm vụ rất quan trong trong việc học Toán nói chung, giải bài toán nói riêng. Vấn đề là rèn luyện cho học sinh kỹ năng giải bài toán, trong đó việc gợi ý bằng sơ đồ đoạn thẳng rất phù hợp với việc hình thành và rèn luyện tư duy, từ cụ thể sang trừu tượng và trở về với cụ thể. GIỚI THIỆU Tìm hiểu hiện trạng: Thời gian qua, việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng giải bài toán thông qua việc gợi ý bằng sơ đồ đoạn thẳng chưa được quan tâm đúng mức. Phương pháp hướng dẫn của giáo viên chưa phù hợp, nặng về lí luận, không tạo đều kiện để học sinh phát triển tư duy trừu tượng cho học sinh. Nhiều nhà nghiên cứu đã chú trọng đến vấn đến này nhưng việc vận dụng vẫn ở mức độ hạn chế. Đó là một trong những nguyên nhân khiến cho việc giải toán của học sinh gặp những khó khăn nhất định. Giải pháp thay thế: Vì vậy, việc nghiên cứu sử dụng sơ đồ đoạn thẳng trong giải toán là cần thiết, là giải pháp giúp nâng cao kỹ năng giải bài toán có lời văn. Vấn đề nghiên cứu: Sử dụng sơ đồ, hình vẽ, đoạn thẳng trong việc tóm tắt bài toán có làm tăng thêm sự gợi ý cách giải bài toán toán của học sinh lớp 3 không? Sử dụng sơ đồ, hình vẽ, đoạn thẳng trong việc tóm tắt bài toán có làm tăng thêm kỹ năng giải bài toán của học sinh lớp 3 không? Giả thuyết nghiên cứu: Sử dụng sơ đồ, hình vẽ, đoạn thẳng trong việc tóm tắt bài toán có làm tăng thêm sự gợi ý và nâng cao kỹ năng giải bài toán của học sinh lớp 3. PHƯƠNG PHÁP Khách thể nghiên cứu Chọn 2 lớp: Ba 1 (N1 - Nhóm thực nghiệm) gồm 23 học sinh và Ba 2 (N2 - Nhóm đối chứng) gồm 19 học sinh. Hai lớp này tương đương về kết quả kiểm tra học kì I môn Toán. Hai lớp được chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng nhau về tỉ lệ giới tính, tỉ lệ xếp loại môn học cuối HK. Về ý thức học tập, tất cả các em ở hai lớp này đều tích cực, chủ động. Thiết kế nghiên cứu: Chọn thiết kế 2: Nhóm Kiểm tra trước TĐ Tác động KT sau TĐ Thực nghiệm O1 Sử dụng sơ đồ, hình vẽ, đoạn thẳng để tóm tắt bài toán có lời văn O3 Đối chứng O2 Không sử dụng sơ đồ, hình vẽ, đoạn thẳng để tóm tắt bài toán có lời văn O4 ở thiết kế này, chứng tôi sử dụng phép kiểm chứng T-Test độc lập. Kết quả: Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương Nhóm Thực nghiệm Nhóm Đối chứng Trước TĐ Sau TĐ Trước TĐ Sau TĐ Mode 5 7 5 6 Trung vị 6.5 7 6 6 GT trung bình 6.36 7.19 5.94 5.74 Độ lệch chuẩn 1.61 1.46 1.65 1.71 p = 0.22 0.0045 p = 0,0045 < 0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm TN và ĐC sau tác động là có ý nghĩa, chênh lệch không có khả năng xảy ra ngẫu nhiên. Tác động có kết quả. Quy trình nghiên cứu: Xây dựng bài kiểm tra (Bài KT SỐ 1 và KT SỐ 2). Tiến hành kiểm tra bằng bài KT SỐ 1 cho cả hai nhóm. Sau khi kiểm chứng hai nhóm tương đương, tiến hành tác động vào nhóm thực nghiệm theo các hướng dẫn: Quy trình giải bài toán. Các tóm tắt cơ bản về tổng, hiệu của hai số; gấp một số lên nhiều lần bằng dấu ngoặc nhọn và các đoạn thẳng biểu thị. Cho học sinh thực hành vẽ sơ đồ tóm tắt và tìm cách giải dựa trên sơ đồ. Sau khi tác động khoảng 3 tháng (tháng 01 - 03), tiến hành kiểm tra cả hai nhóm TN và ĐC bằng KT SỐ 2. Tiến hành chấm bài, thu thập dữ liệu và xử lí dự liệu Đo lường và thu thập dữ liệu: Bài KT SỐ 1 là bài KT sau khi KT Học kì 1 (Sau KT HKI chúng ta đã có xếp loại học lực môn của học sinh, nhờ đó ta có cơ sở để chỉ ra sự tương đượng của hai nhóm). Bài KT SỐ 2 là bài KT sau tác động 3 tháng. Mục tiêu của cả bài KT đều KT khả năng sử dụng kí hiện, các đoạn thẳng để tóm tắt bài toán. Nội dung hai bài KT có mức độ tương đương, thang điểm 10. Bài KT SỐ 1 gồm 6 câu, được thiết kế từ dễ đến khó, mang tính gợi ý; bài KT SỐ 2 gồm 4 câu, cũng được thiết kế từ đơn giản đến phức tạp. Tuy nhiên, so với bài KT SỐ 1, bài KT SỐ 2 KHÔNG CÓ KIỂM TRA CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN (về sử dụng dấu ngoạc và đoạn thẳng như hướng dẫn ở trên). Việc tiến hành coi KT, chấm bài bảo đảm tích khách quan, theo quy định hiện hành. Độ giá trị của dữ liệu được kiểm chứng bằng phương pháp: Kiểm chứng độ giá trị nội dung: Đảm đảo đúng chuẩn kiến thức kĩ năng; có tham khảo ý kiến nhận xét của các đồng nghiệp có kinh nghiệm. Kiểm chứng độ giá trị đồng quy: Tính hệ số tương quan của hai tập hợp điểm số. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động: Ta dùng phép kiểm chứng T-Test phụ thuộc để kiểm chứng sự khác biệt giữa giá trị trung bình của cùng một nhóm TN và ĐC. Sử dụng độ chênh lệch giá trị trung bình chuẩn để đo mức độ ảnh hưởng của tác động. Sử dụng hệ số tương quan Pearson (r) để đo mức độ tương quan trước tác động và sau tác động của 2 nhóm. Nhóm Thực nghiệm Nhóm Đối chứng Trước TĐ Sau TĐ Trước TĐ Sau TĐ GT trung bình 6.36 7.19 5.94 5.74 Độ lệch chuẩn 1.61 1.46 1.65 1.71 p = 0.04 0.36 SMD (của 2 nhóm) Trước TĐ: 0.25 Sau TĐ: 0.85 SMD (của nhóm TN) 0.57 SMD (của nhóm ĐC) -0.12 Hệ số TQ (r) 0.94 0.78 Như trên đã chứng minh rằng kết quả 2 nhóm trước tác động là tương đương. Bên cạnh đó, trong phép kiểm chứng T-Test độc lập, ta thấy: Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra trước tác động là SMD = 0,25; sau tác động là SMD = 0.85. Điều này có nghĩa là mức độ ảnh hưởng của hai bài kiểm tra trước tác động là nhỏ; mức độ ảnh hưởng của hai bài kiểm tra sau tác động là lớn. Chứng tỏ tác động là có hiệu quả. Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn sau tác động và trước tác động của nhóm thực nghiệm là SMD = 0,57 là trung bình, của nhóm đối chứng là SMD = -0.12 là không đáng kể. Điêu này tiếp tục minh chứng tác động là có hiệu quả. Cuối cùng, hệ số tương quan r giữa kết quả kiểm tra trước tác động và sau tác động của cả hai nhóm thực nghiệm và đối chứng lần lượt là 0.94 và 0.78. Giá trị này cho chúng ta thấy, đối với cả hai nhóm, kiểm tra trước tác động có độ tương quan gần như hoàn toàn và rất lớn với kết quả kiểm tra sau tác động. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ * Kết luận: Sử dụng sơ đồ, hình vẽ, đoạn thẳng trong việc tóm tắt bài toán đã nâng cao kỹ năng giải bài toán có lời văn của học sinh lớp 3. * Khuyến nghị: Đối với các cấp lãnh đạo: cần quan tâm bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ sư phạm, mở các chuyên đề về rèn kỹ năng giải bài toán có lời văn nói chung, rèn kỹ năng sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để giải bài toán, ở mức độ cao hơn là rèn luyện cho học sinh khả năng tư duy, bồi dưỡng học sinh giỏi. Đối với giáo viên: không ngừng tự học, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực, nhiệp vụ, tăng cường hướng dẫn học sinh vận dụng sử dụng sơ đồ, hình vẽ, đoạn thẳng để giải toán. Với kết quả của đề tài này, chúng tôi mong rằng các bạn đồng nghiệp quan tâm, chia sẻ và đặc biệt là đối với giáo viên tiểu học có thể ứng dụng đề tài này vào việc dạy học môn Toán để tạo hứng thú và nâng cao kết quả học tập cho học sinh. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Toán và phương pháp dạy học toán ở tiểu học. NXB Giáo dục, 2006. 2. Trần Diên Hiển: 10 chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi toán 4 - 5. NXB Giáo dục, 2008. 3. Nguyễn Bá Kim - Vũ Dương Thụy: Phương pháp dạy học môn toán. NXB Giáo dục, 2003. 4. Vũ Dương Thụy - Đỗ Trung Hiệu: Các phương pháp giải toán ở tiểu học. NXB Giáo dục, 2002. 5. Nhiều tác giả: Sách giáo khoa, sách giáo viên Toán lớp 1 - 5. NXB Giáo dục PHỤ LỤC BÀI KIỂM TRA KIẾN THỨC TRƯƠC TÁC ĐỘNG Bài 1: (1 điểm) Vẽ đoạn thẳng AB. Vẽ đoạn thẳng CD dài gấp 3 lần đoạn thẳng AB. Bài 2: (1 điểm) üýþ Dùng kí hiệu để biểu thị tổng độ dài của hai đoạn thẳng. Bài 3: (1 điểm) üýþ Dùng kí hiệu để biểu thị hiệu độ dài của hai đoạn thẳng. Bài 4: (2 điểm) Hãy tóm tắt bài toán sau bằng sơ đồ đoạn thẳng: Thùng thứ nhất đựng được 12 lít dầu. Thùng thứ hai đựng được gấp 3 lần thùng thứ nhất. Hỏi cả hai thùng đựng được bao nhiêu lít dầu? Bài 5: (2 điểm) Viết lại (bằng chữ) bài toán có sơ đồ tóm tắt như sau: 5 kg 678 üýþ Bao thứ nhất ? kg Bao thứ hai Bài 6: (2 điểm) Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng và giải bài toán sau: Một cửa hàng bán lẻ, ngày thứ nhất bán được 50kg gạo; ngày thứ hai bán được nhiều hơn ngày thứ nhất 20 kg gạo. Hỏi cả hai ngày bán được bao nhiêu ki-lôgam gạo? SAU TÁC ĐỘNG Bài 1: (2 điểm) Hãy tóm tắt bài toán sau bằng sơ đồ đoạn thẳng: Thùng thứ nhất đựng được 34 lít dầu. Thùng thứ hai đựng được ít hơn thùng thứ nhất 12 lít dầu. Hỏi cả hai thùng đựng được bao nhiêu lít dầu? Bài 2: (2 điểm) Viết lại (bằng chữ) bài toán có sơ đồ tóm tắt như sau: üýþ Bao thứ nhất ? kg 14444244443 Bao thứ hai 15 kg Bài 3: (2 điểm) Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng và giải bài toán sau: Đoạn thẳng AB dài 12cm; Đoạn thẳng CD dài gấp 3 lần đoạn thẳng AB. Hỏi đoạn thẳng CD dài hơn đoạn thẳng CD bao nhiêu xăng-ti-mét? Bài 4: (4 điểm) Giải bài toán sau: Ba thùng đựng được 21 lít mật ong. Hỏi 1 thùng đựng được bao nhiêu lít mật ong? Hỏi 7 thùng đựng được bao nhiêu lít mật ong? SỐ LIỆU THỐNG KÊ CHI TIẾT (Xem tập tin ketquatinhtoan.xls)

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cấu Trúc Một Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!