Đề Xuất 12/2022 # Cảm Nhận 2 Câu Đầu Bài Thương Vợ / 2023 # Top 12 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 12/2022 # Cảm Nhận 2 Câu Đầu Bài Thương Vợ / 2023 # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cảm Nhận 2 Câu Đầu Bài Thương Vợ / 2023 mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cảm nhận 2 câu đầu bài Thương vợ – Đọc tài liệu tổng hợp dàn ý chi tiết và một số bài văn hay cảm nhận về hai câu đầu bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương.

1. Mở bài

– Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương: một tác giả mang tư tưởng li tâm Nho giáo, tuy cuộc đời nhiều ngắn ngủi

– Thương vợ là một trong số những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú.

– Hai câu thơ đầu đặc biệt khắc họa hình ảnh của bà Tú đầy tần tảo

2. Thân bài “Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng”

– Hoàn cảnh bà Tú: mang gánh nặng gia đình, quanh năm lặn lội “mom sông”

+ Thời gian “quanh năm”: làm việc liên tục, không trừ ngày nào, hết năm này qua năm khác

+ Địa điểm “mom sông”: phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định.

⇒ Công việc và hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổn định

– Lí do:

+ “nuôi”: chăm sóc hoàn toàn

+ “đủ năm con với một chồng”: một mình bà Tú phải nuôi cả gia đình, không thiếu cũng không dư.

⇒ Bản thân việc nuôi con là người bình thường, nhưng ngoài ra người phụ nữ còn nuôi chồng ⇒ hoàn cảnh éo le trái ngang

+ Cách dùng số đếm độc đáo để người đọc cảm thấy “một chồng” bằng cả “năm con”, ông Tú nhận mình cũng là đứa con đặc biệt. Kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 thể hiện nỗi cực nhọc của vợ.

⇒ Bà Tú là người đảm đang, chu đáo với chồng con.

3. Kết bài

– Khẳng định lại những nét đặc sắc tiêu biểu về nghệ thuật làm nên thành công khắc họa sự vất vả của người phụ nữ xưa.

– Liên hệ, bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của bản thân về người phụ nữ trong xã hội hôm nay.

Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng

Nhà thơ Tú Xương (Trần Tế Xương, 1870 – 1907) là một trong những đại diện xuất sắc nhất trong văn học trung đại Việt Nam. Dù chỉ để lại trên dưới 100 tác phẩm nhưng tên tuổi và sự nghiệp thơ ca của Tú Xương đã trở thành bất tử. Thơ của ông gồm 2 mảng chính là: trào phúng và trữ tình, nhưng trữ tình mới là cái rễ, cái gốc, còn trào phúng chỉ là cành, là lá. Tiêu biểu cho vẻ đẹp trữ tình cho tài thơ Nôm độc đáo của Tú Xương phải kể đến bài thơ ” Thương Vợ “. Đây là một trong những áng thơ hay và cảm động nhất mà Tú Xương viết tặng cho người bạn đời của mình – người mà ông hết lòng yêu thương, trân trọng. Qua tấm lòng yêu thương của mình, nỗi vất vả, nhọc nhằn cùng sự đảm đang của bà Tú đã hiện lên xúc động ngay từ những nét phác họa đầu tiên:

“Trọng nam khinh nữ, văn dĩ tài đạo, thơ dĩ ngôn chí” đó là quan niệm đã ăn sâu và đời sống văn hóa Văn học Việt Nam đặc biệt là giai đoạn văn học trung đại. Vì thế thơ trung đại có rất ít nhà thơ, nhà văn viết về người vợ. Nhưng với Trần Tế Xương lại khác. Trong sáng tác của ông có hẳn một đề tài về bà Tú rất phong phú vể thể loại gồm thơ, văn câu đối. “Thương vợ” là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về người vợ của mình.

Là “con gái nhà dòng” lấy chồng nho sinh, bà Tú những tưởng được sống cảnh thanh nhàn “bên chàng đọc sách, bên nàng quay tơ” và sớm được hưởng hiển vinh: võng anh đi trước, võng nàng theo sau”. Đằng này, giữa buổi Tây Tàu nhố nhăng, mua chữ bán danh, ông Tú tài hoa nhưng đi thi chín lần đều bị đánh trượt, chỉ đỗ Tú Tài, công danh dang dở, sự nghiệp không thành. Bởi thế gánh nặng đè lên vai bà Tú. Nói là buôn bán cho sang chứ thực ra bà Tú nào có phải là thương nhân buôn to, bán lớn. Mỏng lưng ngắn vốn, bà Tú chấp nhận cảnh buôn thúng bán mẹt nơi đầu sông cuối bãi, chỗ mom sông. Mom sông là dải đất nhô ra bờ, ba bề là nước chênh vênh, cheo leo, rất dễ sụt lở, vô cùng nguy hiểm. Buôn bán ở chốn ấy là phải đánh cược cả tính mạng của mình với thần sông, hà bá. Vất vả nhọc nhằn là thế mà bà Tú đâu chỉ phải đối mặt ngày một ngày hai, trái lại, kéo dài quanh năm suốt tháng, không ngừng nghỉ.

Bà Tú không chỉ bươn chải nhất thời, chờ chồng hiển đạt. Bà phải chấp nhận bươn chải cả đời, dường như nó đã trở thành định mệnh của bà Tú. Có thể thấy, thơ trước là sự, sau là tình. Ẩn sau câu thơ tái hiện cuộc sống buôn bán nhọc nhằn vất vả của bà Tú là ánh mắt dõi theo, ánh mắt lo lắng đầy xót thương của ông Tú. Niềm thương vợ dâng lên xúc động từ những vần thơ đầu tiên,

Nuôi đủ năm con với một chồng

Vì sao bà Tú phải lăn xả vào nơi thương trường – nơi vốn được coi là chiến trường, bất chấp cả gian nguy? Chỉ có thể lí giải điều này bằng trách nghiệm tình yêu thương với chồng với con của bà Tú:

Thế là bà Tú phải chạy chợ kiếm ăn cho bảy người cả thảy. Một bên là năm đứa con thơ dại, một bên là đức ông chồng dài lưng tốn vải, gánh nặng đè hết lên vai bà Tú. Hai chữ “nuôi đủ” chứa nhiều hàm nghĩa ý vị mà sâu xa. “Nuôi đủ” là vừa đủ không dư giả, bà Tú phải chắt chiu, bòn mót, dành dụm từng đồng, từng hào mới vừa đủ chi tiêu. Hai chữ “nuôi đủ” cũng chất chứa bao nỗi vất vả, cực nhọc, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú. Cách nói “năm con với một chồng” giản dị ẩn chứa ý vị, sâu sa.

Trong cách nói này, Tú Xương đã hạ mình xuống hàng con, nhân lên nhiều lần công ơn to lớn của bà Tú. Từng câu từng chữ như chan chứa nỗi niềm biết ơn của bà Tú

Với đề bài Cảm nhận 2 câu đầu bài thơ Thương vợ bao gồm đầy đủ dàn ý chung và bài văn tham khảo, các em học sinh cần tìm hiểu kĩ càng để từ đó có thể xây dựng cho mình một bài văn cảm nhận chi tiết, độc đáo và ấn tượng.

Cảm Nhận 4 Câu Thơ Đầu Bài Tự Tình 2 / 2023

Cảm nhận 4 câu đầu bài Tự tình 2 – Tổng hợp dàn ý chi tiết cảm nhận về 4 câu thơ đầu bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương, một số bài văn mẫu hay cho các em tham khảo.

Dàn ý cảm nhận về 4 câu đầu bài Tự tình 2

1. Mở bài

– Giới thiệu tác phẩm ” Tự tình II ” và bốn câu thơ đầu trong bài thơ:

Ví dụ: Bài thơ “” nằm trong chùm thơ bao gồm ba bài là tác phẩm thể hiện rõ tiếng nói, cá tính độc đáo của tác giả Hồ Xuân Hương. Bốn câu thơ đầu trong bài thơ đã làm nổi bật hoàn cảnh cũng như tâm trạng vừa buồn tủi, vừa phẫn uất muốn vượt lên trên số phận của nữ sĩ.

2. Thân bài

– Hai câu thơ đầu mở ra cảm thức về thời gian và tâm trạng của nữ sĩ

+ Cảm thức về thời gian: Thời gian: đêm khuya. Âm hưởng của tiếng trống canh được đặt trong sự dồn dập, gấp gáp “trống canh dồn” cho thấy nữ sĩ cảm nhận sâu sắc bước đi không ngừng và vội vã của thời gian.

+ Cảm thức về tâm trạng: cảm nhận rõ ràng sự bẽ bàng của phận mình. Tác giả đã sử dụng biện pháp đảo ngữ, từ “trơ” được đưa lên đầu câu có tác dụng nhấn mạnh. “trơ” có nghĩa là tủi hổ, là bẽ bàng, cho thấy “bà Chúa thơ Nôm” đã ý thức sâu sắc bi kịch tình duyên của bản thân. Hai chữ “hồng nhan” được đặt cạnh danh từ chỉ đơn vị “cái” gợi lên sự bạc bẽo, bất hạnh của kiếp phụ nữ.

– Bức tranh tâm trạng đã được phóng chiếu rõ ràng hơn thông qua hai câu thơ tiếp theo

+ Cụm từ “say lại tỉnh” gợi lên sự tuần hoàn, luẩn quẩn, bế tắc đầy éo le của kiếp người đầy chua chát.

+ Hình tượng “vầng trăng” xuất hiện chính là ý niệm ẩn dụ cho cuộc đời của nữ sĩ: trạng thái “bóng xế”, sắp tàn nhưng vẫn “khuyết chưa tròn” nhấn mạnh bi kịch của cảm thức về thân phận: tuổi xuân đã trôi qua nhưng nhân duyên mãi mãi là sự dang dở, lỡ dở không trọn vẹn.

→ Bức tranh ngoại cảnh đồng nhất với bức tranh tâm trạng.

3. Kết bài

– Khái quát lại nội dung ý nghĩa của bốn câu thơ: thông qua cách sử dụng ngôn ngữ giàu giá trị biểu đạt kết hợp với những biện pháp tu từ như đảo ngữ, cùng những sáng tạo trong việc xây dựng hình tượng, bốn câu thơ đầu của bài thơ “Tự tình II” đã làm nổi bật cảm thức về thời gian, cho thấy tâm trạng buồn tủi cũng như ý thức sâu sắc về bi kịch duyên phận đầy éo le, ngang trái của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

“Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

Văn mẫu cảm nhận về 4 câu thơ đầu bài Tự tình 2

(Ca dao)

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”.

Trong xã hội phong kiến xưa, số phận người phụ nữ luôn là tấm gương oan khổ của những éo le, bất công. Sống trong xã hội với quan điểm “trọng nam khinh nữ”, có những người trầm lặng cam chịu, nhưng cũng có những người ý thức sâu sắc được bi kịch bản thân, cất lên tiếng nói phản kháng mạnh mẽ. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương là một trong những người phụ nữ làm được điều đó. Bài thơ “Tự tình II” nằm trong chùm thơ bao gồm ba bài là tác phẩm thể hiện rõ điều này. Bốn câu thơ đầu trong bài thơ đã làm nổi bật hoàn cảnh cũng như tâm trạng vừa buồn tủi, vừa phẫn uất muốn vượt lên trên số phận của nữ sĩ:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non”

Tâm trạng của tác giả đã được gợi lên trong đêm khuya, và cảm thức về thời gian đã được tô đậm, nhấn mạnh để làm nền cho cảm thức tâm trạng:

Âm hưởng của tiếng trống canh được đặt trong sự dồn dập, gấp gáp “trống canh dồn” cho thấy nữ sĩ cảm nhận sâu sắc bước đi không ngừng và vội vã của thời gian. Ở bài thơ “Tự tình I“, chúng ta cũng đã bắt gặp cảm thức về thời gian: “Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom”. Từ “văng vẳng” được sử dụng để diễn tả rõ sự não nề, lo lắng trong tâm trạng. Đối với Hồ Xuân Hương, cảm nhận về bước đi của thời gian chính là sự rối bời trong tâm trạng.

Trong thời gian nghệ thuật đó, nữ sĩ cảm nhận rõ ràng sự bẽ bàng của phận mình: “Trơ cái hồng nhan với nước non”. Trong câu thơ, tác giả đã sử dụng biện pháp đảo ngữ, từ “trơ” được đưa lên đầu câu có tác dụng nhấn mạnh. Xét về sắc thái ngữ nghĩa, “trơ” có nghĩa là tủi hổ, là bẽ bàng, cho thấy “bà Chúa thơ Nôm” đã ý thức sâu sắc bi kịch tình duyên của bản thân. Chúng ta cũng đã từng bắt gặp từ “trơ” với sắc thái tương tự khi Nguyễn Du viết về nàng Kiều: “Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ” (“Truyện Kiều” – Nguyễn Du). Nhưng với Hồ Xuân Hương, bà không chỉ ý thức về duyên phận mà còn trực diện mỉa mai một cách thâm thúy và cay đắng. Hai chữ “hồng nhan” được đặt cạnh danh từ chỉ đơn vị “cái” gợi lên sự bạc bẽo, bất hạnh của kiếp phụ nữ.

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”.

Bức tranh tâm trạng đã được phóng chiếu rõ ràng hơn thông qua hai câu thơ tiếp theo:

Cụm từ “say lại tỉnh” gợi lên sự tuần hoàn, luẩn quẩn, bế tắc đầy éo le của kiếp người đầy chua chát: càng cuốn mình trong men say càng tỉnh táo nhận ra bi kịch của bản thân. Hình tượng “vầng trăng” xuất hiện chính là ý niệm ẩn dụ cho cuộc đời của nữ sĩ. Người xưa từng nói về mối quan hệ biện chứng giữa bức tranh ngoại cảnh và bức tranh tâm trạng: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Còn với nữ sĩ, lúc này đây, ngoại cảnh và tâm cảnh đã hòa làm một. Hình ảnh “vầng trăng” ở trạng thái “bóng xế”, sắp tàn nhưng vẫn “khuyết chưa tròn” nhấn mạnh bi kịch của cảm thức về thân phận: tuổi xuân đã trôi qua nhưng nhân duyên mãi mãi là sự dang dở, lỡ dở không trọn vẹn. Điều này xuất phát từ bi kịch tình duyên của nữ sĩ: tình yêu tuổi thanh xuân không có kết quả, phải chấp nhận hai lần làm lẽ và cả hai lần đều góa bụa.

Như vậy, thông qua cách sử dụng ngôn ngữ giàu giá trị biểu đạt kết hợp với những biện pháp tu từ như đảo ngữ, cùng những sáng tạo trong việc xây dựng hình tượng, bốn câu thơ đầu của bài thơ ” Tự tình II ” đã làm nổi bật cảm thức về thời gian, cho thấy tâm trạng buồn tủi cũng như ý thức sâu sắc về bi kịch duyên phận đầy éo le, ngang trái của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.Chính những yếu tố trên đã giúp bà trở thành “Bà Chúa thơ Nôm”, đồng thời cũng là nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ với tiếng nói cảm thương và tiếng nói tự ý thức đầy bản lĩnh.

Với đề bài cảm nhận về 4 câu thơ đầu bài Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương bao gồm mẫu dàn ý chi tiết cùng bài văn tham khảo cảm nhận về 4 câu thơ đầu bài hay nhất. Hi vọng các em đã có lượng kiến thức, hiểu biết nhất định về tác phẩm để từ đó có thể xây dựng cho mình một bài văn cảm nhận chân thực và giàu ý nghĩa dựa trên những gợi ý ở trên.

Cảm Nhận 2 Khổ Thơ Đầu Bài Sóng Của Xuân Quỳnh / 2023

Những nét chính về tác giả và tác phẩm

Khi cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Sóng cũng như tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ, người đọc cần nắm được đôi nét về tác giả cũng như tác phẩm.

Xuân Quỳnh thuộc thế hệ các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Bà tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 6 tháng 10 vào năm 1942. Xuân Quỳnh sinh tại làng La Khê xã Văn Khê, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là thuộc Hà Nội). Bà xuất thân trong một gia đình công chức. Xuân Quỳnh mồ côi mẹ từ sớm, còn bố lại thường xuyên công tác xa gia đình. Xuân Quỳnh chủ yếu sống với bà và được bà nuôi dạy.

Xuân Quỳnh bén mảng với nghệ thuật từ năm 1955 với vai trò diễn viên múa. Xuân Quỳnh được tuyển vào Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và được đào tạo thành diễn viên múa. Bà đã nhiều lần đi biểu diễn ở nước ngoài và dự Đại hội thanh niên sinh viên thế giới. Khoảng thời gian từ năm 1962 đến 1964, bà học Trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ (khoá I). Sau khi học xong, làm việc tại báo Văn nghệ, báo Phụ nữ Việt nam.

Xuân Quỳnh bắt đầu sự nghiệp sáng tác từ đó. Cuộc sống gia đình êm ấm đã đến với bà sau lần đổ vỡ thứ nhất khi bà quyết định lấy nhà thơ kiếm nhà soạn kịch Lưu Quang Vũ, Nhưng cuộc sống ấy không kéo dài được bao lâu thì một tai nạn giao thông đã cướp mất sinh mạng của gia đình bà.

Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của người phụ nữ luôn da diết trong tình yêu và khát vọng hạnh phúc đời thường. Đó cũng là tiếng lòng của biết bao người con gái khát trong tình yêu. Các sáng tác của Xuân Quỳnh phải kể đến các tập thơ nổi tiếng Tơ tằm – Chồi biếc (1963), Hoa dọc chiến hào (1968), Gió Lào, cát trắng (1974), Lời ru trên mặt đất (1978), Cây trong phố – Chờ trăng (1981), Sân ga chiều em đi (1984), Tự hát (1984), Hoa cỏ may (1989)…

Sóng được sáng tác vào năm 1967 trong chuyến đi vùng biển Diêm Điền, là bài thơ xuất sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh được in trong tập “Hoa dọc chiến hào”.

Cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh

Ý nghĩa hình tượng “Sóng” khi cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài sóng được thể hiện qua cảm thức của nữ sĩ – qua tâm trạng của người con gái đang yêu. Khi cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài sóng, ta sẽ thấy rất rõ điều này.

Từ xa xưa, người con trai đã mượn “sóng” để nói lên lời vàng đá:

Trong phong trào Thơ mới, thi sĩ Xuân Diệu cũng đã từng mượn chuyện của sóng, biển và bờ để giãi bày tình yêu của mình:

Trước Xuân Quỳnh, hình ảnh “sóng” thường tượng trưng cho tình yêu của người con trai mạnh mẽ, nồng nàn, quyết liệt… Trong bài thơ “Sóng”, hình tượng bao trùm, xuyên suốt bài thơ chính là “sóng”. Ở lớp nghĩa thực, sóng được miêu tả cụ thế, sinh động là những con sóng ngoài biển khơi bao la với nhiều trạng thái mâu thuẫn, trái ngược nhau. Ở lớp nghĩa biểu tượng, sóng là tình cảm trong tâm hồn người con gái với trái tim rạo rực khao khát yêu thương.

Hai hình tượng “sóng” và “em” sánh đôi với nhau như hai nhân vật trữ tình, tuy hai mà một, hỗ trợ, bổ sung cho nhau, cùng khắc họa những trạng thái xúc cảm, những khao khát mãnh liệt của tác giả. Đây chính là cái nhìn mới mẻ của Xuân Quỳnh: người con gái trực tiếp giãi bày khát vọng tình yêu của mình một cách tự nhiên, táo bạo mà cũng rất chân tình và thiết tha.

Khổ thơ đầu diễn tả trạng thái tâm lý đặc biệt của tâm hồn người con gái đang yêu:

Bằng hình thức đối lập và cách ngắt nhịp 2/1/2 đều đặn tả nhịp điệu con sóng khi trào lên lúc lắng xuống nhịp nhàng. Xuân Quỳnh đã phát hiện ra những đặc tính đối cực của sóng trên biển lúc phong ba cả. Hai từ “dữ dội”, “ồn ào” miêu tả cảnh “sóng” lúc phong ba bão tố: “sóng” dữ dằn không ngừng uốn lượn, phóng lên cao và liên tục gầm gào tạo ra những bọt tung trắng xóa.

Hai hình ảnh “dịu êm”, “lặng lẽ” là cảnh “sóng” lúc trời trong, gió thoảng: “sóng” nhấp nhô dịu dàng, nhẹ nhàng, êm ả vỗ vào bờ cát như thầm lặng một nỗi niềm. Khi cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài sóng, ta thấy khi ngồi trước biển khơi rộng lớn bao la, Xuân Quỳnh có những phát hiện thật tinh tế, sắc về sóng cũng là về vẻ đẹp của biển cả, của thiên nhiên mênh mông, dào dạt.

Cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài sóng, ta thấy sóng là ẩn dụ cho tâm hồn người con gái đang yêu nên khi nhà thơ phát hiện những đặc điểm đối cực của sóng thì đó cũng chính là phát hiện về bản tính thất thường đầy mâu thuẫn trong tâm hồn người con gái đang yêu. Khi yêu người con gái cũng có lúc khát khao cháy bỏng không kìm nén được cảm xúc của mình nên bộc lộ ra bên ngoài bằng sự cuồng nhiệt, sôi nổi, “dữ dội” đến “ồn ào”. Nhưng cũng có lúc cảm xúc ấy lắng sâu vào bên trong bằng sự “dịu êm”, “lặng lẽ”, nồng nàn của nhớ thương.

Và đôi khi tình cảm ấy ở người con gái cũng có sự đảo ngược. “Dịu êm”, “lặng lẽ” bình tĩnh đến phớt lờ ở bên ngoài và cháy bùng ngọn lửa yêu thương đang khao khát “dữ dội” đến “ồn ào” ở bên trong. Những cung bậc tình cảm đó của người con gái đã được Puskin – nhà thơ Nga thế kỉ XIX đề cập đến trong bài thơ “Sao mà anh ngốc thế”:

Bản chất người con gái khi yêu là vậy, luôn mâu thuẫn, đối lập với chính mình Hai câu thơ là lời tự thú táo bạo mà êm đềm của Xuân Quỳnh khi phát hiện trong trạng thái phong phú, phức tạp đầy biến động trong trái tim người phụ nữ đang yêu.

Khi cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài sóng, ta thấy những hình ảnh “sông”, “sóng”, “bể” miêu tả hành trình, quy luật của sóng đi từ sông ra biển cả. Biện pháp nhân hóa “sông không hiểu” và “sóng tìm ra” cho thấy sóng khát khao mạnh mẽ được vẫy vùng trong một không gian dào dạt, mênh mông. “Sông” tượng trưng cho sự bé nhỏ, chật chội, “bể” là hình ảnh của sự rộng lớn, không cùng. “Sông” dẫu dài, rộng đến đâu cũng chưa thể là nơi để “sóng” thỏa sức vẫy vùng. Với đặc tính “dữ dội”, “ồn ào” vừa “dịu êm”, “lặng lẽ” thì “sóng” chỉ có “tìm ra tận bể” bao la để hiểu rõ mình hơn.

Cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài sóng, người đọc cũng nhận ra bằng những hình ảnh ấy, tác giả đã gắn vào sóng những mạnh mẽ, chín chắn của người phụ nữ trong tình yêu. Như sóng, người con gái không dễ dàng chấp nhận tình yêu trong giới hạn của sự bình thường hay tầm thường mà khao khát vươn tới những cái rộng lớn bao la để tự khám phá và nhận thức.

Trong xã hội phong kiến, với những định kiến của Nho giáo như “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, cùng với đạo tam tòng: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, mà phụ nữ phải cất lên lời than thân trách phận cho cuộc đời mình:

Nhưng Xuân Quỳnh đã đại diện cho tiếng nói của người phụ nữ hiện đại. Người con gái trong tình yêu không còn cam chịu, nhẫn nhục nữa mà đã minh bạch, quyết liệt rời xa tình yêu vị kỷ, bé nhỏ để đến với tình yêu cao thượng, vị tha, bao dung, Pascal năm xưa và Xuân Quỳnh ngày nay đều cảm nhận: ” Tình yêu nâng cao con người thoát khỏi sự tầm thường”.

Khổ thứ hai, nhà thơ đã phát hiện ra quy luật của sóng cũng là quy luật của tình yêu con người

Ngồi trước biển khơi rộng lớn bao la, nữ sĩ phát hiện mối tình bất tử giữa sóng và bờ. Thán từ “ôi” cùng những từ chỉ thời gian như “ngày xưa”, “ngày sau”, “vẫn thế” đã thể hiện niềm sung sướng của nữ sĩ khi phát hiện quy luật của “sóng” là quy luật của sự vĩnh hằng: Con song ngày xưa, ngày nay, sau vẫn thế – nghĩa là sóng ngàn năm vẫn vỗ mãi vào bờ thể hiện niềm khát khao bờ trong mối tình thủy chung, bất diệt.

Sóng muôn đời không thay đổi thì tình yêu sẽ mãi mãi song hành cùng với con người và khát vọng tình yêu cũng sẽ là khát vọng muôn đời mà thể hiện rõ nhất là tuổi trẻ. Những từ “khát vọng”, “bồi hồi” và hình ảnh “trong ngực trẻ” đã diễn tả thật mãnh liệt một trái tim với những nhịp đập dồn dập vì khát khao, một tâm hồn đang rạo rực niềm đam mê tình yêu của tuổi trẻ. Khi cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài sóng của Xuân Quỳnh, ta thấy thật ra, con người có thể yêu ở bất kỳ độ tuổi nào, nhưng tuổi trẻ là độ tuổi khát khao tình yêu cháy bỏng nhất. Với Xuân Quỳnh, còn tuổi trẻ là còn khát vọng của tình yêu bồi hồi…

Trong văn học trung đại, nhân vật Thúy Kiều của Nguyễn Du cũng vì tiếng sét ái tình mà đã vượt lên lễ giáo phong kiến, dù đêm hôm nhưng vẫn ” Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình ” để đến tình tự cùng Kim Trọng. Còn ông hoàng tình yêu Xuân Diệu – đại diện cho tiếng nói của Phong trào Thơ mới – cũng đã từng da diết cháy bỏng trong tình yêu: ” Làm sao sống được mà không yêu; Không nhớ, không thương một kẻ nào” . Bốn câu thơ cho thấy nữ sĩ Xuân Quỳnh đã diễn tả đúng tâm trạng của những người khi bắt gặp vầng sáng chói lóa của tình yêu.

Nhận xét tác phẩm khi cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Sóng

Cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh, ta thấy hai hình tượng “sóng” và “em” vừa tương đồng vừa bổ sung soi chiếu vào nhau để làm rõ tình cảm, khát vọng của nhân vật trữ tình. Sóng hiển hiện không chỉ bởi hình ảnh mà còn hiển hiện qua âm điệu. Âm điệu của bài thơ “Sóng” là âm điệu của những con sóng trên biển cả, là nhịp của những con sóng lòng trong trái tim thi sĩ. Âm điệu đó được tạo nên bởi hai yếu tố chính: thể thơ năm chữ và cách tổ chức ngôn từ, hình ảnh thể hiện tâm trạng bùng cháy ngọn lửa mãnh liệt của người con gái trong tình yêu.Giọng điệu ấy cũng chính là giọng điệu tâm hồn của thi nhân.

Qua hình tượng sóng và trên cơ sở khám phá sự tương đồng giữa “sóng” và “em”, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, một nhà thơ nữ đã lấy sóng để bộc lộ thẳng thắn, mạnh mẽ tình yêu của người con gái và chủ động bày tỏ những rung động, rạo rực trong tâm hồn, trực tiếp nói lên niềm thương nỗi nhớ. Tâm hồn đó luôn khát vọng được sống trọn vẹn cho tình yêu. Đây cũng chính là vẻ đẹp thủy chung, thuần hậu trong tình yêu của người phụ nữ Việt Nam.

Dàn ý cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh

Những nét chính về bài thơ Sóng cũng như nữ sĩ Xuân Quỳnh.

Tóm tắt những nét chính về giá trị nội dung và ý nghĩa của tác phẩm Sóng.

Những cảm thức của nhà thơ về hình tượng Sóng.

Tâm trạng người con gái trong tình yêu trong bài thơ.

Ước vọng lý giải trong tình yêu qua hình tượng Sóng.

Tóm tắt lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

Nêu cảm nghĩ của bản thân về hình tượng sóng, về khát vọng của nhân vật trữ tình.

cảm nhận khổ 5 6 bài sóng

bình giảng 2 khổ đầu bài sóng

cảm nhận khổ 3 và 4 bài sóng

phân tích 2 khổ thơ đầu bài sóng

cảm nhận khổ thơ đầu bài sóng

cảm nhận 2 khổ thơ cuối bài sóng

cảm nhận hai khổ thơ đầu bài sóng

dàn ý cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài sóng

Please follow and like us:

Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Của Tú Xương (Bài 2). / 2023

Bài thơ ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người vợ, của người phụ nữ đảm đang, chịu thương chịu khó vì hạnh phúc chồng con.

Thương vợ

(Tú Xương)

        Quanh năm buôn bán ở mom sông,

   Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

 Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

  Một duyên hai nợ âu đành phận,

          Năm nắng mười mưa dám quản công.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

      Có chồng hờ hững cũng như không.

I. Tác giả.

   Tú Xương là bút danh của Trần Tế Xương. Học vị tú tài, lận đận mãi trên con đường khoa cử: “Tám khoa chửa khỏi phạm trường quy”. Chỉ sống 37 năm, nhưng sự nghiệp thơ ca của ông thì bất tử. Quê ở làng Vị Xuyên, thành phố Nam Định. “Ăn chuối ngự, đọc thơ Xương” là câu nói tự hào của đồng bào quê ông.

   Tú Xương để lại khoảng 150 bài thơ Nam, vài bài phú và văn tế. Có bài trào phúng. Có bài trữ tình. Có bài vừa trào phúng vừa trữ tình. Giọng thơ trào phúng của Tú Xương vô cùng cay độc, dữ dội mà xót xa. Ông là nhà thơ trào phúng bậc thầy trong nền văn học cận đại của dân tộc.

II. Chủ đề.

   Bài thơ ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người vợ, của người phụ nữ đảm đang, chịu thương chịu khó vì hạnh phúc chồng con.

III. Hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo.

   Câu 1, 2 giới thiệu bà Tú là người giỏi buôn bán, tần tảo “quanh năm” buôn bán kiếm sống ở “mom sông” cảnh đầu chợ bến đò, buôn thúng bán mẹt. Chẳng có cửa hàng cửa hiệu. Vốn liếng chẳng có là bao. Thế mà vẫn “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Chồng đậu tú tài, chẳng là quan chẳng là cùng đinh “Ăn lương vợ”. Một gia cảnh “Vợ quen dạ đẻ cách năm đôi”. Các số từ “năm” (con), “một” (chồng) quả là đông đủ. Bà Tú vẫn cứ ”nuôi đủ”, nghĩa là ông Tú vẫn có “Giày giôn anh dận, ô Tây anh cầm”. Câu thứ hai rất hóm hỉnh.

   Câu 3, 4 mượn hình ảnh con cò trong ca dao, tạo thành “thân cò” – thân phận lam lũ, vất vả “lặn lội”. Cò thì kiếm ăn nơi đầu ghềnh, cuối bãi, bà tú thì lặn lội… khi quãng vắng, nơi mom sông. Cảnh lên đò xuống bến, cảnh cãi vã giành giật bán mua “eo sèo mặt nước buổi đò đông” để kiếm bát cơm manh áo cho chồng, con. Hình ảnh “thân cò” rất sáng tạo, vần thơ trở nên dân dã, bình dị. Hai cặp từ láy “lặn lội” và “eo sèo” hô ứng, gợi tả một cuộc đời nhiều mồ hôi và nước mắt.

   Câu 5, 6 tác giả vận dụng rất hay thành ngữ: ”một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa”. Ba tiếng đối ứng thượng, hạ: “âu đành phận”, “dám quản công” như một tiếng thở dài. Có đức hi sinh. Có sự cam chịu số phận, có cả tấm lòng chịu đựng, lo toan vì nghĩa vụ người vợ, người mẹ trong gia đình. Tú Xương có tài dùng số từ tăng cấp (1-2-5-10) để nói lên đức hi sinh thầm lặng cao quý của bà Tú:

“Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công “.

   Tóm lại, bà Tú hiện thân của cuộc đời vất vả lận đận, là hội tụ của bao đức tính tốt đẹp: tần tảo, gánh vác, đảm đang, nhẫn nại,… tất cả lo toan cho hạnh phúc chồng còn. Nhà thơ bộc lộ lòng cảm ơn, nể trọng.

IV. Nỗi niềm nhà thơ.

   Câu 7 là một tiếng chửi, đúng là cách nói của Tú Xương vừa cay đắng vừa phẫn nộ “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc”. “Cái thói đời” đó là xã hội dở tây dở ta, nửa phong kiến, nửa thực dân: khi mà đạo lí suy đồi, lòng người đảo điên. Tú Xương tự trách mình là kẻ “ăn ở bạc” vì thi mãi chẳng đỗ, chẳng giúp ích gì cho vợ con. Suốt đời vợ con phải khổ, như có bài thơ ông tự mỉa: “Vợ lăm le ở vú – Con tấp tểnh đi bồi – Khách hỏi nhà ông đến – Nhà ông đã bán rồi”.

   Câu 8 thầm thía một nỗi đau chua xót. Chỉ có Tú Xương mới nói được rung động và xót xa thế: “Có chồng hờ hững cũng như không?”. “Như không” gì? Một cách nói buông thõng, ngao ngán. Nỗi buồn tâm sự gắn liền với nỗi đau thế sự. Một nhà nho bất đắc chí!

V. Kết luận:

   Bài thơ có cái hay riêng. Hay từ nhan đề. Hay ở cách vận dụng ca dao, thành ngữ và cả tiếng chửi. Chất thơ mộc mạc, bình dị mà trữ tình đằm thắm. Trong khuôn phép một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật, từ thanh điệu niêm và vần đến phép đối được thể hiện một cách chuẩn mực, tự nhiên, thanh thoát. Tác giả vừa tự trách mình, vừa biểu lộ tình thương vợ, biết ơn vợ. Bà Tú là một hình ảnh đẹp đẽ của người phụ nữ Việt Nam trong một gia đình đông con, nhiều khó khăn về kinh tế. Vì thế nhiều người cho rằng câu thơ “Nuôi đủ năm con với một chồng” là câu thơ hay nhất trong bài “Thương vợ”.

chúng tôi

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cảm Nhận 2 Câu Đầu Bài Thương Vợ / 2023 trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!